Saturday, November 15, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (05)

THỜI KỲ CỦA NETANYAHU

Netanyahu, Thủ tướng Israel

Netanyahu lên nắm quyền lực

Tháng 2 năm 1996 người kế nhiệm Rabin, Shimon Peres, kêu gọi tổ chức bầu cử sớm. Cuộc bầu cử được tổ chức tháng 5 năm 1996 và là lần đầu tiên chức vụ thủ tướng được bầu trực tiếp, dẫn tới một thắng lợi sít sao cho lãnh đạo Đảng Likud là Binyamin (Bibi) Netanyahu cùng Liên minh Quốc gia trung hữu (Likud) của ông ta và đánh bại Peres cùng chính phủ Lao động/Meretz trung tả. Trước khi cuộc bầu cử diễn ra, các cuộc khảo sát đều cho thấy Peres sẽ chiến thắng với một tỷ lệ an toàn, nhưng một loạt các vụ đánh bom tự sát diễn ra ở thời điểm đó khiến lập trưởng của Likud về an ninh được người dân ủng hộ hơn. Hamas tuyên bố nhận trách nhiệm về đa số các vụ đánh bom này.

Dù có những quan điểm khác biệt với Hiệp ước Oslo, Thủ tướng Netanyahu tuyên bố tiếp tục tôn trọng việc áp dụng nó, nhưng thời kỳ cầm quyền của ông đã cho thấy một thời kỳ chậm lại trong Tiến trình Hòa bình. (Những người ủng hộ Netanyahu cho rằng sự chậm lại này có nguyên nhân từ chủ nghĩa khủng bố Palestin.)

Thỏa thuận Hebron và Sông Wye

Thủ tướng Netanyahu đã ký kết Nghị định thư Hebron với Chính quyền Palestin ngày 15 tháng 1 năm 1997. Nghị định thư này dẫn tới việc tái triển khai các lực lượng Israel tại Hebron và việc chuyển giao chính quyền dân sự tại đa số diện tích thuộc vùng này cho Chính quyền Palestin. Từ thỏa thuận này, đã có ba tiến trình đàm phán nhỏ giữa Israel-Palestin. Một cuộc khủng hoảng lòng tin đã xảy ra giữa các bên khi họ không thể đáp ứng những yêu cầu của nhau cũng như giải quyết những vấn đề lo ngại của phía bên kia. Tuy nhiên, Israel và Palestin đã đồng thuận, vào tháng 9 năm 1997, về một lịch trình đàm phán bốn bên tiếp theo: hợp tác an ninh trong cuộc chiến chống khủng bố; những chiến dịch tái triển khai thêm nữa của các lực lượng Israel; một "hạn chót" cho những hành động đơn phương có thể dẫn tới những dự đoán trước về các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng; và việc đẩy nhanh những cuộc đàm phán đó. Mỹ tìm cách thúc đẩy các bên tiếp tục áp dụng Thỏa thuận tạm thời 1995 cùng với việc đẩy nhanh các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng. Để vượt qua cuộc khủng hoảng lòng tin cũng như tạo bước đột phá những rào cản, Tổng thống Clinton đã đưa những sáng kiến của Mỹ nhằm khôi phục tiến trình hòa bình ra trước Thủ tướng Netanyahu và Chủ tịch Arafat tại Washington vào tháng 1 năm 1998. Những ý tưởng này bao gồm mọi lĩnh vực của lịch trình đàm phán bốn bên tháng 9 năm 1997 và sẽ cho phép việc thúc đẩy các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng. Người Palestin đã đồng ý với những nguyên tắc trong ý tưởng đó.

Mỹ tiếp tục thúc giục các bên liên quan đạt tới một thỏa thuận dựa trên các đề xuất của họ. Sau cuộc họp chín ngày tại Trung tâm Hội nghị Sông Wye ở Maryland, một thỏa thuận đã đạt được ngày 23 tháng 10 năm 1998. Thỏa thuận Wye dựa trên nguyên tắc nhân nhượng lẫn nhau và đáp ứng các yêu cầu chủ chốt của cả hai phía, gồm cả những biện pháp an ninh chưa từng có từ phía Palestin cũng như việc tiếp tục tái triển khai quân đội Israel tại Bờ Tây. Thỏa thuận này cũng cho phép các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng diễn ra vào ngày 4 tháng 5, 1999 ngày kết thúc của Thỏa thuận Tạm thời.

Rút quân khỏi Liban

Năm 2000, Israel đơn phương rút nốt các lực lượng của họ tại "vùng an ninh" ở nam Liban. Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã kết luận rằng: tới ngày 16 tháng 6 năm 2000, Israel đã rút các lực lượng của họ ở Liban theo Nghị quyết 425 của Hội đồng bảo an. Liban tuyên bố rằng: Israel tiếp tục chiếm vùng lãnh thổ Liban được gọi là "Sheeba Farms"; nhưng Liên hiệp quốc nhấn mạnh rằng Sheeba Farms thuộc Syrian, chứ không phải là lãnh thổ của Liban. 

Phong trào Intifada lần thứ hai

Lãnh đạo đối lập Israel Ariel Sharon đã tới thăm Temple Mount ngày 28 tháng 9, 2000, gây ra những vụ bạo loạn của người Palestin. Chuyến thăm này đánh dấu sự khởi đầu của al-Aqsa Intifada. Israel tuyên bố rằng: người Palestin đã xếp đặt các kế hoạch nổi dậy từ trước chuyến thăm của Sharon, và rằng chuyến thăm của ông ta được sử dụng làm cái cớ cho những kế hoạch nổi dậy đó. Trong cuốn sách Giá đắt của Hòa bình The High Cost of Peace) của mình, Yossef Bodansky đã miêu tả sự kiện: "Khi Sharon thể hiện ý muốn viếng thăm Temple Mount, Barak đã ra lệnh cho giám đốc GSS là Ami Ayalon tiếp cận Jibril Rajoub với một yêu cầu đặc biệt nhằm bảo đảm cuộc viếng thăm diễn ra suôn sẻ trong tình hữu nghị... Rajoub đã hứa rằng nó sẽ diễn ra trong hòa bình nếu Sharon không vào bất kỳ một thánh đường Hồi giáo nào hay cầu nguyện trước công chúng... Để cẩn thận hơn nữa, Barak đã đích thân yêu cầu Arafat và một lần nữa được bảo đảm rằng chuyến thăm của Sharon sẽ diễn ra suôn sẻ..." (trang 354)

Tháng 10 năm 2000, người Palestin đã phá hủy một lăng mộ Do Thái tại Nablus, Mộ Joseph. Họ cũng ném đá vào những người cầu nguyện tại Bức tường phía Tây và tấn công những lăng mộ Do Thái khác, Mộ Rachel. 

Những cuộc bầu cử và đàm phán đặc biệt của Barak

Khi tiến trình hòa bình dần đi chệch hướng, Thủ tướng Israel Ehud Barak đã kêu gọi một cuộc bầu cử Thủ tướng đặc biệt. Barak hy vọng rằng một chiến thắng sẽ trao cho ông quyền lực mới trong đàm phán với người Palestin. Nhưng những hy vọng của Barak không diễn ra, và vào năm 2001, lãnh đạo đối lập Ariel Sharon được bầu làm Thủ tướng Israel trong cuộc bầu cử thủ tướng đặc biệt 2001. 

Bức tường phía Tây/Western Wall

Hàng rào Bờ Tây của Israel 

Trong những năm gần đây, đa số giới chức lãnh đạo chính trị và công luận Israel đều mất lòng tin vào Chính quyền Palestin với tư cách là một đối tác hòa bình, cho rằng nhiều người Palestin coi hiệp ước hòa bình với Israel chỉ là một biện pháp tạm thời. Cùng với biểu hiện như vậy, một số nhóm cánh tả Israel đã khẳng định rằng: Israel chưa bao giờ được tôn trọng theo những thuật ngữ của bất kỳ một đề xuất nào họ từng đồng ý với người Palestin và gắng sức làm mất uy tin của tất cả những đề xuất hòa bình thật sự, không cần biết nguồn gốc của nó.

Sự rút lui khỏi Gaza

Ngày 18 tháng 12 năm 2003, Cựu thủ tướng Ariel Sharon đã thông báo rằng ông sẽ xem xét việc đơn phương rút quân khỏi nhiều khu vực lãnh thổ chiếm đóng để việc đối phó trong thời hạn lâu dài với phong trào intifada đang diễn ra được dễ dàng hơn. Điều này bị chỉ trích là một kế hoạch nhằm rút toàn bộ khỏi Dải Gaza, trong khi vẫn giữ đa số khu định cư ở Bờ Tây. Chính phủ Mỹ đã thông báo sự ủng hộ của họ cho kế hoạch này ngày 14 tháng 4 năm 2004. Giai đoạn đầu của kế hoạch liên quan tới công việc của những ủy ban kỹ thuật nhằm đưa ra những chi tiết hậu cần được nội các Israel thông qua ngày 6 tháng 6 năm 2004.

Ngày 26 tháng 10 năm 2004, kế hoạch rút quân của Sharon được nghị viện Israel phê chuẩn. Trước đó nó đã bị bác bỏ trong một cuộc bỏ phiếu bên trong đảng Likud của Sharon và chỉ được nghị viện thông qua với sự hỗ trợ của phe Công đảng đối lập. Nhiều cuộc bỏ phiếu khác đã được tổ chức về các kế hoạch sẽ diễn ra trong năm sau trước khi kế hoạch này được triển khai.

Ngày 12 tháng 4 năm 2005, Sharon tới trang trại của Tổng thống Bush tại Crawford, Texas, Hoa Kỳ. Những người phản đối kế hoạch rút quân đã đốt lốp xe tại Tel Aviv. Một ngày trước đó một cuộc náo loạn đã diễn ra tại Temple Mount, địa điểm linh thiêng nhất của Do Thái giáo, nơi các cuộc xung đột giữa những người Israel theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan và người Ả rập đã khiến hơn 3.000 cảnh sát phải can thiệp.

Temple Mount

(còn nữa)

2 comments:

  1. Hiện nay, chính phủ cực hữu mạnh nhất trong lịch sử Israel đang nắm quyền, về căn bản, sau những gì đã xảy ra, chính phủ này bác bỏ giải pháp hai nhà nước; thậm chí, vấn đề sáp nhập Dải Gaza và Bờ Tây lại được nêu ra một lần nữa. Về phía Palestin, Israel không chấp nhận Hamas là đối tác đàm phán, trong khi Chính quyền Palestin lại cực kỳ yếu kém.

    Cho đến nay, Israel đã giành chiến thắng trong tất cả các cuộc chiến của mình, nhưng – những câu hỏi lớn trong khu vực chưa bao giờ nhận được giải pháp chấp nhận được cho cả hai bên. Đó là những vấn đề về biên giới. Biên giới Israel sẽ nằm ở đâu? Biên giới Nhà nước Palestin hình thành sẽ ở đâu? Liệu có tồn tại giải pháp hai nhà nước, và nếu có, khi nào? Nếu được thiết lập, những vùng nào hiện đang bị Israel chiếm đóng sẽ thuộc về Palestin? Trong trường hợp Bờ Tây, số phận của cộng đồng thiểu số DT hiện đang sinh sống ở đó sẽ ra sao?

    ReplyDelete
  2. Từ khi Israel được thành lập năm 1948, nhà nước này đã phải đối mặt với nhiều vấn đề trong chính sách đối ngoại. Năm 1948, Israel bị cô lập ngoại giao, hậu của việc họ bị các nước Ả rập láng giềng tẩy chay. Để đối phó, chính phủ Israel bắt đầu phát triển quan hệ với các nước ở xa. Chính phủ Israel đã tìm cách thiết lập các mối quan hệ hữu hảo, đặc biệt vbới chính phủ Hoa Kỳ, và các nước mới thành lập tại Châu Phi và Châu Á. Ngày 9 tháng 1 năm 1950, chính phủ Israel đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng những quan hệ ngoại giao giữa hai nước chỉ được thiết lập từ năm 1992. Ngày 15 tháng 5 năm 1952, quan hệ ngoại giao giữa nước này và Nhật Bản đã được thiết lập.
    Cuộc chiến do Hamas thực hiện vào tháng 10 năm 2023 đặt ra những thách thức mới cho cả Israel lẫn cư dân Palestin trong khu vực. Thực tế là, cuộc chiến này đã đưa “vấn đề Palestin” trở lại chương trình nghị sự của chính trị thế giới; song cũng là thực tế khi mọi khả năng đạt được thỏa thuận càng trở nên khó khăn hơn. Một lần nữa, câu hỏi đã được đặt ra — câu hỏi vốn nằm trong chương trình nghị sự suốt nhiều năm qua — rằng liệu giải pháp “hai nhà nước” có còn khả thi trong khu vực này hay không. Đề xuất này lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1937, khi chính quyền thực dân Anh cử một ủy ban đến Palestin và đề nghị rằng 85% lãnh thổ sẽ thuộc về người Ả Rập, phần còn lại cho người Do Thái.
    Hiện tại, Mỹ nhận thức rõ sự cô lập quốc tế ngày càng gia tăng của Israel, và cố gắng tránh để khu vực Hồi giáo và phần lớn thế giới thứ ba coi Mỹ và Israel như một thực thể đồng nhất. Washington vẫn xem Israel là đồng minh quan trọng nhất trong khu vực, nhưng không muốn mạo hiểm làm suy yếu ảnh hưởng toàn cầu của mình.

    ReplyDelete