Showing posts with label Hội họa - Festmény & Rajz. Show all posts
Showing posts with label Hội họa - Festmény & Rajz. Show all posts

Wednesday, March 5, 2025

Tác giả & tác phẩm

 Hôm nay là sinh nhật lần thứ 550 của một trong những nhân vật vĩ đại nhất của nghệ thuật thế giới, Michelangelo Buonarotti (1475-1564), một người Ý. Ông là một hoạ sĩ, kiến trúc sư và nhà điêu khắc vĩ đại của thời Phục hưng. Trong post này, mình sẽ nói về "Thượng đế tạo ra Adam", 1 trong 9 bức tranh vẽ trên trần nhà nguyện Sistine, Vatican. Nhà nguyện này là nơi diễn ra các mật nghị Hồng y để bầu Giáo hoàng và luôn nằm ở cuối của các hành trình thăm bảo tàng Vatican. 9 bức tranh đó thể hiện 9 cảnh quan trọng trong sách Sáng thế kí của Kinh thánh Cựu ước.

Bức tranh này mô tả một câu vô cùng quan trọng trong Kinh Cựu ước, "Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật" (Gen 2:7) . Nhưng Michelangelo đã không dựa vào câu này trong cách thể hiện việc Thượng đế tạo ra Adam như những nghệ sĩ khác đương thời (Adam, trong tiếng Do thái cổ, có nghĩa là "bụi đất"). 

Ông thể hiện Thượng đế đang bay và giơ ngón tay về phía Adam, lúc ấy vừa được tạo ra từ bụi đất và rất yếu ớt, không có tâm hồn. Thượng đế muốn truyền năng lượng sống cho Adam qua ngón tay, khi ngài đang cố gắng vươn người ra cho Adam và hai ngón tay họ chưa chạm nhau. Điều đó có thể thể hiện một hành động đang trong quá trình được thực hiện, và Adam, con người đầu tiên, đã có da thịt, có cơ thể, có sức sống, nhưng chưa có tâm hồn. Adam đang nhìn Thượng đế và chờ đợi ngài truyền sức mạnh tâm hồn cho mình.

Nhưng việc hai ngón tay ấy chưa chạm nhau cũng có thể dẫn đến những cách suy diễn khác. Tại sao hai ngón ấy chưa chạm nhau? Bức tranh này thể hiện việc Thượng đế đang truyền sức sống tâm hồn cho con người hay hành động ấy đã diễn ra rồi, và họ vừa tách rời nhau ra? Nhưng hầu hết các học giả đều thống nhất rằng, Michelangelo đã diễn tả lại khoảnh khắc kì diệu mà Thượng đế tạo ra con người theo cách hiểu của Giáo hội Công giáo. 

Ông đã mô tả Thượng đế và con người thực ra chính ra hình ảnh hoàn hảo của nhau, rằng, thật khó có thể tưởng tượng ra một con người tồn tại mà không có Chúa. Đấy cũng là một mối liên hệ không thể thiếu giữa phần xác và phần hồn. Nhưng ta cũng có thể thấy một khía cạnh khác: đó là sự kết nối, là sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa 2 thực thể không thể thiếu ở con người chúng ta, phần xác luôn gắn với phần hồn. Sẽ không có cuộc sống nếu không có tâm hồn.

Một số giả thiết cho rằng, cánh tay trái của Thượng đế đang bảo vệ và che chở cho Eva, chính là người mà Thượng đế đã tạo ra từ xương sườn của Adam. Những nhân vật xung quanh Eva được cho là những đứa con sau này sẽ được Adam và Eva đẻ ra, tượng trưng cho loài người. Một số ý kiến khác nhận xét rằng, Thượng đế đang bay trong một đám mây nhìn như não của con người. Đấy là tri thức, là sức mạnh tâm hồn, là ý nguyện tôn giáo, là ý chí của Đấng tối cao đối với loài người, đại diện của Tạo hoá trên Trái đất. Nhưng một số ý kiến khác lại cho rằng, đó không phải là não người, mà là bụng mẹ. Con người đã được sinh ra và dải vải xanh phía dưới chân Thượng đế tượng trưng cho dây rốn đã bị cắt. Đấy chính là khoảnh khắc con người ra đời, và giờ được hoàn thiện bằng việc có thêm tâm hồn, có thêm sức mạnh của Chúa.

Cùng với bức "Bữa tiệc cuối cùng" của Leonardo da Vinci, thì "Thượng đế tạo ra Adam" là những bức tranh được sao chép nhiều nhất và cũng đã đi vào văn hóa đại chúng. Bức của Michelangelo cho chúng ta một ví dụ tiêu biểu về hội họa Phục hưng, đồng thời cho thấy sức mạnh của sự tưởng tượng của một nghệ sĩ dựa trên Kinh Thánh. Nghệ thuật đã kết hợp với tôn giáo theo cách ấy và cùng tồn tại một cách trường tồn. Chỉ có điều, ít ai biết được một chi tiết: các ngón tay này đã được vẽ lại một chút vào năm 1565, một năm sau khi Michelangelo qua đời. Một họa sĩ có tên Domenico Carnevale đã vẽ lại những ngón tay này, sau khi nhà nguyện Sistine bị rung lắc trong một trận động đất trước đó, làm hư hại "ngón tay gốc" của Michelangelo.

Mình đã xem rất nhiều bức tranh liên quan đến KInh Thánh của nhiều nghệ sĩ khác, nhưng chưa ai để lại ấn tượng sâu sắc với mình như Michelangelo (mình đã thăm mộ ông ở nhà thờ Santa Croce, Firenze, Italia). Chính ông cũng là một hiện thân của Thượng đế, người tạo ra những kiệt tác để đời cho nhân loại...

Trương Anh Ngọc

Monday, July 22, 2024

Ghi nhận từ kiệt tác của Leonardo da Vinci

Đây là cảm giác khi đến thăm Mona Lisa. Nhưng tại sao nó lại nổi tiếng đến vậy và điều gì khiến nó trở thành một kiệt tác như vậy? 


1. Đó là sản phẩm của nhiều năm lặp đi lặp lại một cách tỉ mỉ. Đó là kiệt tác của Leonardo da Vinci - ông đã mang nó theo mình trong 16 năm và cải tiến nó, thêm lớp này đến lớp khác. Ông yêu thích nó đến nỗi không bao giờ giao nó cho người đã đặt hàng nó. 

2. Nó sống động đến kinh ngạc - kết quả trực tiếp từ những quan sát khoa học của Leonardo. Bạn không thể đến đủ gần bức tranh trong bảo tàng Louvre để có thể chiêm ngưỡng hết nó, nhưng nó giống như bạn đang nhìn chằm chằm vào con người thật bằng xương bằng thịt (nữ quý tộc Ý Lisa del Giocondo). Điều đó một phần là do sự hiểu biết của Leonardo về quang học. Ông đã đi tiên phong trong "sfumato", một kỹ thuật làm mờ các cạnh của hình để bắt chước những gì mắt người nhìn thấy (tức là độ mờ trong tầm nhìn ngoại vi của chúng ta). 

3. Hiệu ứng nổi tiếng nhất mà bức ảnh này mang lại là nụ cười lấp lánh của cô ấy. Nhìn thẳng vào môi cô ấy và thấy cô ấy không cười; tập trung vào nơi khác và một nụ cười xuất hiện ở ngoại vi tầm nhìn của bạn. Leonardo đã dành vô số thời gian để mổ xẻ và tìm hiểu về giải phẫu cơ thể con người và hiểu được chuyển động của từng cơ nhỏ trên khuôn mặt. Ở khóe miệng Lisa có một vết lõm nhẹ - mờ nhạt đến mức trừ khi bạn nhìn thẳng vào nó, nó sẽ biến mất trong tầm nhìn mờ của bạn. Cái nhếch mép ở khóe miệng của cô ấy làm nổi bật điều này một cách hoàn hảo. 

4. Bạn có thể thấy ánh mắt kiên định của cô ấy dõi theo bạn quanh phòng. Cô ấy dường như nhìn thẳng vào bạn (hoặc chỉ qua vai phải của bạn như đã được kết luận gần đây), cho dù bạn ở ngay trước mặt cô ấy hay ở một bên. Có nhiều cách giải thích khoa học cạnh tranh nhau cho điều này, một trong số đó là ánh sáng, bóng tối và phối cảnh của hình ảnh 2D là cố định nên chúng không thay đổi tùy theo góc nhìn của người xem. 

5. Sự chú ý đến từng chi tiết là hoàn hảo. Một ví dụ là đồng tử mắt phải của cô ấy rộng hơn đáng kể so với mắt trái. Từ các nghiên cứu quang học của mình, Leonardo là một trong những người đầu tiên biết rằng đồng tử giãn ra và co lại để phản ứng với sự thay đổi của ánh sáng. Có thể anh ta đã phát hiện ra trường hợp dị tật dị tật ở đối tượng của mình, một tình trạng xảy ra ở 20% số người và khiến đồng tử của mỗi mắt giãn ra riêng biệt.

6. Leonardo bị mê hoặc bởi cách ánh sáng chiếu vào các bề mặt cong và đã triển khai một thủ thuật thông minh để làm cho đường nét trên má cô ấy bừng sáng một cách thanh tao. Ông sử dụng những lớp màu trong suốt cực kỳ mỏng bên trên lớp lông tơ dày màu trắng. Ánh sáng chạm tới lớp lông tơ sẽ phản xạ ngược lại, tương tác với ánh sáng chiếu vào bề mặt. Khi ánh sáng trong phòng thay đổi hoặc góc nhìn của bạn thay đổi, cô ấy sẽ phát sáng khác - làm tăng thêm sự phát quang giống như thật của cô ấy.

7. Tính biểu tượng rất nổi bật. Một khái niệm xác định của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng là mối quan hệ giữa "thế giới vi mô của con người" và "thế giới vĩ mô của Trái đất". Leonardo đã nắm bắt điều này trong nghệ thuật của mình và mã hóa nó thành Mona Lisa - phông nền là một thực thể sống, có hơi thở chảy vào cô ấy. Dòng sông xa xa len lỏi vào chiếc khăn quàng cổ của Lisa, và làn vải váy của cô ấy chảy như thác nước. Do đó, Mona Lisa là đỉnh cao của sự thông thạo nhiều lĩnh vực của Leonardo trong suốt cuộc đời ông. Ông là một trong những người có tài năng đa dạng nhất từng sống và bức tranh này phản ánh những thành tựu của ông với tư cách là một nghệ sĩ, nhà khoa học và triết gia. Nhà sử học người Anh Kenneth Clark đã tóm tắt nó hay nhất: “Sự tò mò vô độ, sự nhảy vọt không ngừng nghỉ của ông ấy từ chủ đề này sang chủ đề khác, đã được hòa hợp trong một tác phẩm duy nhất.”

(copy từ FB-Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần)

Saturday, December 9, 2023

MỸ NHÂN

 Dreams make us wonder. Dreams open possibilities. Dreams make us believe in a better future.

 Ước mơ khiến ta trăn trở. Ước mơ mở ra nhiều cơ hội. Và ước mơ khiến chúng ta tin vào một tương lai tốt đẹp hơn.  

   Tác phẩm: Dream - 160x160 cm

   Acrylic painting by Công Quốc Hà 

Saturday, May 4, 2019

Nghĩ từ tranh sơn mài VN

Lan man sau khi xem 1 bộ phim tài liệu trên TV: Tinh hoa là thế nào? Nếu có sự liên quan thì thăng hoa có ý nghĩa ra sao đối với những gì thuộc về "tinh hoa"?
----------
Khi TRANH SƠN MÀI theo phong cách/trường phái VN đang tàn lụi cùng với nguồn cây cung cấp chất liệu truyền thống của nó, thì những họa sĩ sống chết với sơn mài là những người cảm thấy nghệ thuật thật sự càng trở nên vô giá, lao động nghệ thuật là cảm xúc thăng hoa khi tạo được những thứ duy nhất mới là giá trị đáng quý ko dễ gì có được. Trớ trêu thay, di sản để lại của họ dù đáng giá đến đâu thì người đời cũng ko mấy ai màng đến vì họ còn phải lao vào kiếm sống và đua chen trong 1 thế giới khác, nơi chẳng có chút thăng hoa gì đáng kể trừ những cảm xúc thỏa mãn khi có được đồng tiền hay khoái lạc... Cuộc đời dư thừa như thế chỉ là phè phỡn, phủ phê chứ ko phải là cuộc sống.
Với tinh thần "tư tưởng ở trên tất cả" thì văn hóa phải ở đâu ? Nghệ thuật phải ở đâu? ...Ở VN chúng dường như ko có chỗ vì bị cho là xa xỉ, chẳng bổ béo/ích lợi gì... chứ ko phải là nằm sai chỗ. Thật đáng buồn.

Qua bên Tây để xem người ta thế nào...

Bức ảnh dưới đây của nữ thần Chiến Thắng (từ C'est Magnifique by ZsaZsa Bellagio) cho thấy: bức tượng tuyệt tác này được đặt tại 1 vị trí trang trọng trong bảo tàng Louvre chứng tỏ dân Tây vô cùng trân trọng với 1 trong những tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp thời cổ đại.


Quá rõ ràng: bản chất của 1 nền văn minh ko nằm trong chiếc xe hơi hay 1 người đàn bà đẹp. Nó nằm trng từng con người và hình thành bởi 1 quá trình phát triển, là kết tinh những gì là tinh hoa cao quý nhất, giá trị nhất, những thứ chỉ cảm nhận được chứ ko bao giờ mua được.
Vì thế, hiện trạng/thực tế của xứ tăm tối này còn xa lắm mới đến được những gì làm nên một xh đích thực dành cho con người, mà ngay cả ở châu Âu, nơi tư tưởng và những giá trị cao nhất vẫn là mục đích để con người nỗ lực KHÔNG NGỪNG vươn tới, từ thế hệ này tới thế hệ khác, từ thời xửa thời xưa chứ chẳng phải mới hôm qua...

Sunday, April 15, 2018

Các trường phái hội họa trên thế giới

Khi tìm hiểu về mỹ thuật, nhiều người có chung những câu hỏi: “Trường phái hội họa là gì ?” , “có tất cả bao nhiêu trường phái hội họa ?” , ” trường phái nào lớn nhất ?” và khi tìm hiểu thêm nữa thì ai cũng lại muốn biết thêm ” họa sỹ tiêu biểu nào đứng đầu một trường phái ?” , ” tác phẩm tiêu biểu ?”…

Trường phái hội họa là gì ?

Hội họa đã xuất hiện từ rất lâu, từ khi chữ viết của con người còn chưa xuất hiện, từ lịch sử mỹ thuật ta có thể đưa ra kết luận: hội họa là một ngôn ngữ để truyền đạt ý tưởng bằng các tác phẩm sử dụng kỹ thuật (nghệ) và phương pháp (thuật) của họa sỹ. Trong hội họa, thuật ngữ “trường phái” dùng để chỉ một phong cách, trong đó phân loại một nhóm các họa sỹ có chung những kỹ thuật phương pháp thể hiện.

Có tất cả bao nhiêu trường phái hội họa?

Các trường phái hội họa ở trên thế giới là vô cùng nhiều, các trường phái xuất hiện ở bất cứ quốc gia nào, và ở bất cứ khoảng thời gian nào. Vẫn đề chỉ là tính đại chúng – được nhiều người biết đến hay không mà thôi.

Các trường phái hội họa Châu Âu

Nhắc đến các trường phái hội họa, chúng ta hay nghĩ ngay đến những thuật ngữ : “Trừu tượng”, “Lập thể”, “Ấn tượng” … Đó là các trường phái lớn (bắt nguồn từ Châu Âu) có tầm ảnh hưởng quốc tế, và dần trở thành quy chuẩn cho mỹ thuật thế giới.

* Ấn tượng
* Baroc
* Cấu trúc
* Chấm họa
* Dã thú
* Graffiti
* Hard-edge
* Hậu ấn tượng
* Hậu hiện đại
* Hiện đại
* Hiện thực
* Hiện thực lãng mạn
* Hiện thực xã hội
* Lãng mạn
* Lập thể
* Mannerism
* Ngây thơ
* Pop-Art
* Siêu thực
* Tân cổ điển
* Thị giác (Op-Art)
* Trừu tượng

Như đã nêu, các trường phái trên là những trường phái nổi bật nhất, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Chứ không phải là toàn bộ các trường phái mỹ thuật trên thế giới. Các trường phái hội họa phương Tây đều có tính lịch sử, một trường phái ra đời do phản ứng lại những hạn chế của trường phái trước đó và đến lượt nó lại tạo cơ hội cho một trường phái mới phát triển.
# 1 Trường phái Tân cổ điển – NeoClassicism (cuốiTK XVIII – đầu TK XIX)
# 2 Trường phái lãng mạn - Romanticism (TK XIX)
# 3 Trường phái hiện thực – reality (1849 – 1874)
# 4 Trường phái ấn tượng – Impressionism (1874- 1886)
# 5 Trường phái hậu ấn tượng Post Impressionism (1886- 1910)
# 6 Trường phái Dã thú – Fauvism (1905-1909)
# 7 Trường phái biểu hiện - Expressionism (1906-1919)
# 8 Trường phái lập thể – Cubism (1909-1926)
# 9 Trường phái tương lai – Futurism (1909-1918)
# 10 Trường phái Dada (Dadaism) (1916-1922)
# 11Trường phái siêu thực – Surrealism (1924-1938)
# 12 Trường phái trừu tượng – Abstract (những năm 1940)
# 13 Trường phái Kinetic Art (1950′s-1960′s)
# 14 Trường phái Pop Art (1961-1968)
# 15 Trường phái Op Art (1964-1967)
# 16 Trường phái Minimalism (1966-1970)
# 17 Trường phái nghệ thuật nhận thức- Conceptual Art (1960′s and 70′s)
...

mythuatvietnam.info

Friday, January 19, 2018

Bức họa đắt nhất mọi thời đại

Trong phiên giao dịch vào ngày 15.11.2017 tại nhà bán đấu giá Christie's ở New York, bức tranh nổi tiếng Salvator Mundi (Đấng Cứu rỗi thế giới) của Leonardo da Vinci (1452-1519) đã được một khách hàng ẩn danh mua đứt với giá 450,3 triệu USD, được ghi nhận là "Tác phẩm hội họa đắt nhất mọi thời đại".

Đây là bức tranh sơn dầu trên gỗ (45,4cm x 65,6cm), do danh họa vẽ vào những năm cuối đời

Bức tranh mô tả Chúa Jesus một tay làm phước; trong khi tay còn lại cầm một quả cầu pha lê, cũng là kiệt tác hội họa duy nhất của Da Vinci đang thuộc sở hữu tư nhân. Theo thông tin từ nhà bán đấu giá Christie's thì bên bán là tỷ phú người Nga Dmitry Rybolovlev, người từng mua Salvator Mundi cách đây 4 năm trước với giá 127,5 triệu USD. Còn bên mua là một nhà sưu tập nghệ thuật gốc châu Á yêu cầu được giấu tên, đã đồng ý "chốt giá" qua điện thoại với  giá trên bao gồm phí bảo hiểm và phí môi giới.

Quang Long st (KTNN No.988)

Tuesday, January 2, 2018

Di sản: Az Utolsó vacsora (3)

Nói đến Leonardo Da Vinci, người ta thường nhớ đến bức tranh Mona Lisa, những bản phác thảo về những công nghệ mới, ý tưởng về những thiết bị chỉ có thể thấy ở thời hiện đại. Có thể nói, Leonardo Da Vinci là một thiên tài của những thiên tài, những tác phẩm của ông dù chỉ đơn thuần là hội họa hay những bức phác thảo khoa học đều để lại cho chúng ta nhiều điều để suy luận, tranh cãi suốt nhiều thế kỷ.
Tuyệt phẩm nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci, "Bữa tiệc cuối cùng – The Last Supper"  được coi là một bức họa tiềm ẩn nhiều thông điệp và gợi ý lạ lùng bên trong.

Theo các sách phúc âm, “The Last Super” là bữa ăn sau cùng Chúa Jesus chia sẻ với các môn đồ trước khi Ngài chết. 
Bữa ăn là dịp kỷ niệm Lễ Vượt qua, cử hành vào tối thứ Năm trước khi Chúa Jesus chịu đóng đinh trên thập tự giá vào thứ Sáu. Trong bữa tiệc, khi cầm bánh và rượu nho, Chúa Jesus bảo các môn đồ: "Hãy làm điều này để nhớ đến ta".
Theo truyền thuyết, bữa tiệc được tổ chức tại một nơi ngày nay gọi là Căn phòng“Bữa tiệc cuối cùng” trên núi Zion, ngay bên ngoài bức tường của Cổ thành Jerusalem.

Bức tranh "Bữa ăn cuối cùng" (Last supper) của Leonardo da Vinci là một trong những bức tranh được nghiên cứu kỹ càng nhất, cũng như được sao chép nhiều nhất trên thế giới. Nhưng vẫn có những chi tiết rất ít người biết về bức tranh nổi tiếng này.
Bức tranh có kích thước khá lớn
Có rất nhiều bản sao đã được thực hiện với đủ kích cỡ, tuy nhiên thực tế bản tranh gốc có kích cỡ khá lớn, khoảng 10x5m.

Bức tranh ghi lại một khoảnh khắc đỉnh cao
Mọi người đều biết bức tranh này mô tả bữa ăn cuối cùng của chúa Jesus cùng các môn đệ trước khi ông bị bắt và đóng đinh lên cây thập giá. Nhưng thực chất da Vinci muốn ghi lại khoảnh khắc ngay sau khi Jesus tuyên bố có một môn đệ đã phản bội ông, cùng với sự bất ngờ và giận dữ từ các môn đệ khác. Trong tranh, khoảnh khắc này cũng diễn ra trước khi tác phẩm Eucharist ra đời, với việc Jesus lấy bánh mì và một ly rượu.

Bức tranh này hiện không nằm trong bảo tàng
Nhà nguyện Santa Maria delle Grazie là nơi đang lưu giữ tác phẩm Last supper của Leonardo da Vinci

Dù là một trong những tác phẩm nổi bật nhất trong lịch sử, bức tranh này lại được đặt ở Milan (Italia). Việc di chuyển nó sẽ cực kỳ phức tạp. Leonard da Vinci đã vẽ bức tranh này thẳng lên tường nhà ăn ở nhà nguyện Santa Maria delle Grazie năm 1495.

Đây không phải một bức tranh tường


Các bức tranh tường (Fresco) đều được vẽ trên nền vữa còn ẩm. Nhưng da Vinci đã không sử dụng phương pháp truyền thống này. Đầu tiên, ông muốn đạt được mức độ sáng lớn hơn nhiều so với tranh vẽ theo phương pháp fresco. Tuy nhiên, còn một vấn đề lớn hơn, đó là các họa sỹ thường phải vội vàng hoàn thành tác phẩm trước khi vữa khô. Và đó là điều da Vinci không hề muốn.
Rất ít nét vẽ của da Vinci còn nguyên vẹn
Dù bức tranh của ông rất được yêu thích, thực tế phương pháp vẽ thử nghiệm ông áp dụng lên bức tranh đã thất bại. Tới đầu thế kỷ 16, bức tranh bắt đầu nứt và hỏng dần. Chỉ trong vòng 50 năm, nó đã mất hoàn toàn sự hoành tráng vốn có. Các nỗ lực phục chế càng làm tình hình trở nên tồi tệ hơn. Những chấn động từ các trận ném bom trong Chiến tranh thế giới thứ hai khiến bức tranh càng bị phá hủy nhanh hơn. Cuối cùng, tới năm 1980, một dự án phục chế kéo dài 19 năm mới được khởi động. Bức tranh được khôi phục hoàn toàn, nhưng đã mất đi hầu hết các nét vẽ và sơn màu ban đầu.

Việc phục chế tòa nhà đã phá hủy một phần của bức tranh

Năm 1652, một cánh cửa đã được thêm vào bức tường nền của tranh.  Việc làm cánh cửa này đồng nghĩa với việc một phần không nhỏ của tranh, bao gồm cả phần chân chúa Jesus, đã bị mất đi vĩnh viễn.

Judas được vẽ theo hình ảnh một tên tội phạm có thật
Nhiều người cho rằng mọi nhân vật môn đệ trong tranh đều được xây dựng từ hình mẫu người thật. Với khuôn mặt của tên phản bội Judas (thứ 5 từ trái qua), da Vinci đã tới các nhà ngục ở Milan để tìm kiếm được một tên tội phạm phù hợp với diện mạo của Judas. 

Câu chuyện trên được nghiên cứu và lưu truyền trong giới khoa học, chưa ai thực sự đánh giá được tính xác thực của nó, tuy nhiên, về mức độ thông minh, am hiểu và tài tình của Leonardo Da Vinci trong việc đưa bí ẩn vào trong tranh của mình thì không ai có thể phủ nhận được. Và thực sự, điều mà danh họa này làm được chính là đã vẽ nên cả một xã hội loài người thu nhỏ trong một bức tranh.

Đó là điều chúng ta phải đối diện trong cuộc sống. Là kẻ phản bội hay trung thành, là kẻ hèn nhát hay ngốc nghếch, đều rất khó để nhận ra. Bức tranh là một xã hội thu nhỏ, cho thấy rất nhiều mặt, nhưng cuối cùng điều gì ở lại trong bạn nhiều nhất? Đối với tôi, đó chính là gương mặt điềm tĩnh của Chúa Jesus, ngay cả khi người đang nói lên câu nói đau lòng nhất: “Có kẻ bán rẻ ta!”. Dù người khác có như thế nào cũng không phải là điều quan trọng. Thứ giúp cho bạn có thể đứng trên bậc cao nhất của cuộc sống, chính là thái độ của bản thân! Như cái cách mà Leonardo Da Vinci đã vẽ kẻ phản bội vẫn được ngồi cùng bàn với Chúa Jesus. Sống không phải là tìm cách loại bỏ, mà nó chính là sự can đảm đối mặt!

Bức tranh nổi tiếng không chỉ vì sự tinh xảo hay giá trị nghệ thuật trong bức tranh. Cũng không phải vì hình ảnh chúa Jesus và 12 vị tông đồ được thể hiện rõ nét cảm xúc rõ nét hay hệ tư tưởng thể hiện trong tranh. Bữa tối cuối cùng nổi tiếng vì những câu chuyện xung quanh bức tranh này.

Hãy cùng tìm hiểu những câu chuyện và sự thật về bức tranh này.

1. Sự ra đời của bức tranh
Theo những câu chuyện được kể lại, Leonardo Da Vinci đã phải mất 7 năm để hoàn thành bức tranh. Câu chuyện kể lại rằng, khi bắt đầu bức tranh, Da Vinci đã vẽ chúa Jesus đầu tiên. Giữa hàng trăm ngàn người, một người đã được chọn để làm hình tượng chúa Jesus. Trong khoảng thời gian sau đó, ông lần lượt hoàn thành hình ảnh của 11 vị tông đồ trong bức tranh. Tuy nhiên, còn 1 người cuối cùng vẫn chưa được vẽ. Đó chính là kẻ phản bội: Judas Iscariot.
Leonardo Da Vinci muốn tìm một mẫu người đê tiện, hèn hạ tận đáy của xã hội để vẽ Judas. Cuối cùng, sau hơn 6 năm tìm kiếm, ông đã tìm thấy hình mẫu của Judas tại nhà ngục của Roma. Được phép của nhà vua, tên tội phạm được hoãn ngày thi hành án để đến làm mẫu cho Da Vinci. Sau 6 tháng ròng rã để vẽ Judas, bức tranh đã được hoàn thành, tên tử tù phải bị đưa đi hành quyết. Lúc này, hắn khóc lóc lao đến Leonardo Da Vinci, hỏi ông rằng có còn nhớ hắn không.

Một sự thật trớ trêu là kẻ được chọn làm hình mẫu bỉ ổi, đê tiện cho Judas lại chính là người thanh niên đẹp đẽ mà 7 năm trước đây làm hình tượng cho Chúa Jesus. Một hình tượng hoàn hảo đã trở thành kẻ đồi bại.

2. Bức tranh
Bức tranh của Da Vinci mô tả lại bữa tối cuối cùng của Jesus và 12 vị tông đồ.
Câu chuyện kể lại: Judas - một trong số các môn đồ của Chúa Jesus – đã tố giác với nhà cầm quyền La Mã để bán đứng người thầy của mình đổi lấy 30 thỏi bạc. Ở bữa ăn tối cuối cùng, Chúa đã nói với các tông đồ của mình: "Trong các người có kẻ muốn bán rẻ ta".

Mười hai môn đồ ngồi trong bàn ăn, mỗi người có một vẻ mặt khác nhau: ba người thì thầm với nhau, ba người tỏ vẻ giận dữ trong đó có một người đập mạnh tay xuống bàn, một người lộ vẻ nghi ngờ, một người tỏ ra ngạc nhiên, một người ngồi ngay ngắn tỏ lòng trung thành, hai người nữa lộ vẻ xúc động. Chỉ có một môn đồ mặt tái nhợt, lưng hơi ngả về sau, tay nắm chặt túi tiền - đó chính là Judas. Sau lưng Judas là một khoảng tối, còn sau lưng chúa Jesus là hình ảnh cửa sổ đầy ánh sáng. Những tia sáng chiếu vào gương mặt Jesus làm ánh lên vẻ điềm tĩnh, hiền từ và cương nghị. Bản thân Chúa Jesus lộ rõ sự bình thản và nét thoáng buồn, như biết trước tội lỗi của Judas, cũng như những gì mình sắp phải trải qua. Ngài được đặt giữa bức tranh, là tâm điểm trong tranh, thu hút từ mọi góc nhìn thông qua bố cục điêu luyện của họa sĩ. Sự tương phản này được cho là biểu đạt được sự căm ghét của tác giả đối với sự gian ác, cũng như sự ngưỡng vọng đối với chính nghĩa.
Mỗi người trong tranh biểu hiện thái độ khác nhau với lời nói của Jesus, kẻ ngạc nhiên, người kinh hãi...

Ngoài ra, trong bức tranh, chúng ta còn thấy rằng tay phải của Chúa Jesus đang với tới một chiếc bánh mì, còn tay trái đang đặt mở trên bàn, cũng hướng tới chiếc bánh mì khác. Điều này cũng được nhắc đến trong Kinh Thánh, là do Chúa Jesus đã tiên tri rằng kẻ phản Chúa sẽ lấy bánh mì vào cùng thời điểm với ngài. Ngài diễn đạt lời tiên tri đó bằng tay trái, khiến cho Thomas và nhất là James kinh ngạc sửng sốt. Cùng lúc đó, vì bị phân tâm bởi cuộc nói chuyện giữa Peter và John, Judas đã đưa tay ra lấy một cái bánh, cũng chính là cái bánh mì mà tay phải của Chúa Jesus đang với tới. Từ đó, Judas chính là kẻ phản Chúa ứng nghiệm với lời tiên tri.

3. Những người trong bức tranh
Một phát hiện về những tài liệu vào khoảng thời gian Leonardo Da Vinci vẽ bức tranh vào năm 1800 đã để lộ cho chúng ta những cái tên của người trong tranh.
Trong bức tranh, Jesus ngồi giữa, những tông đồ của ông ngồi thành 4 nhóm:
          - Nhóm tỏ vẻ ngạc nhiên: Bartholomew, James “Nhỏ” và Andrew. 3 người này ở bên trái, ngoài cùng của bức tranh, tức là bên tay phải của Chúa. Tất cả bọn họ đều tỏ vẻ kinh sợ. Andrew giơ tay lên biểu thị cho:”Bình tĩnh! Bình tĩnh nào!”.
          - Nhóm gây nhiều tranh cãi nhất: Peter biểu lộ sự tức giận khó kìm chế được, trong tay cầm một con dao, nói chuyện với John. Hành động này biểu lộ cho sự kiện sau đó, khi Peter nổi nóng tấn công lính La Mã bằng một con dao lúc Chúa Jesus sắp bị bắt giữ. Judas biểu lộ nét sợ hãi khi nghe lời tiên tri, trong tay nắm chặt một túi tiền, có lẽ là tiền mà Judas đã nhận để phản Chúa. Ông ta là người duy nhất đặt khuỷu tay lên bàn, và đầu cũng được đặt ở vị trí thấp nhất so với những người khác. Người môn đồ trẻ tuổi là John thì có vẻ như đang bị sốc đến mức gần ngất đi.
          - Nhóm nghi ngờ: Thomas trông có vẻ rất buồn, và giơ một ngón tay lên, khuôn mặt tỏ rõ sự ngờ vực về kẻ phản bội. Hành động đó cũng biểu lộ cho sự kiện xảy ra sau này, khi Thomas nghi ngờ sự phục sinh của Chúa Jesus cho đến khi được tự mình cảm nhận quyền năng của Chúa. James dường như sững sờ đến mức không thể tin được, với hai tay giang ra. Trong khi đó, Philip có vẻ như muốn xin Chúa giải thích, bày tỏ lòng trung thành của mình.
          - Nhóm 3 người ở cuối dãy bàn: Matthew và Jude Thaddeus quay qua Simon với vẻ thắc mắc, hỏi xem liệu Simon có câu trả lời cho câu hỏi của họ về lời tiên tri của Chúa Jesus.

3. Những suy diễn của những nhà nghiên cứu
Trong cuốn tiểu thuyết Mật mã Da Vinci, bức tranh " Bữa tối cuối cùng" phải thể hiện 13 người đàn ông, 6 tông đồ ngồi bên phải và 6 tông đồ ngồi bên trái và Chúa Jesus. Thế nhưng, nếu nhìn kỹ thì không phải vậy, trong bức tranh có xuất hiện 1 người phụ nữ. Đó là người ngồi ở vị trí danh dự phía bên tay phải của chúa. Người này có mái tóc đỏ gợn sóng, gương mặt thanh tú, 2 tay chắp vào nhau nhỏ nhắn, e lệ và... thoáng nét vồng lên của bộ ngực. Những gì được xác nhận thì đó là tông đồ John nhưng Theo nhiều người, đó là Maria Magdalene- vợ của chúa Jesus.

Giáo hội thiên chúa giáo đã thuyết phục cả thế giới tin rằng Jesus là người thuộc thiên giới,và nếu như ngài là người của trời thì ngài sẽ ko được phép yêu đương và tình dục, nhưng thực chất Jesus là 1 nhà tiên tri trần tục và có vợ. Để che đậy sự thật to lớn này, giáo hội đã phỉ báng Maria Magdalene như 1 ả gái điếm để che giấu bí mật nguy hiểm của bà.
Người ta cho rằng Jesus và Magdalene mặc đồ như thể người này là hình ảnh phản chiếu của người kia trong gương, quần áo của họ có màu đảo nghịch nhau. Có vẻ như Leonardo Da Vinci đã rất điêu luyện khi cố tình để phơi bày sự thật này. Và hình như sự sủng ái của chúa Jesus với Mary đã khiến không ít các tông đồ nổi giận, nhất là thánh Peter luôn có ác cảm với Madgalene. 
Trong bức tranh, thánh Peter ngả người đầy đe dọa về phía Madgalene và dứ ngón tay như lưỡi dao ngang cổ bà, và nếu để ý kỹ trong đám tông đồ bên tay trái, ta sẽ thấy xuất hiện 1 bàn tay đang vung 1 con dao găm lên, nhưng bàn tay này ko rõ thuộc về ai có mặt trong bức tranh cả.
Còn 1 bí ẩn cuối cùng khiến " Bữa ăn tối cuối cùng " trở thành 1 tác phẩm nghệ thuật kinh điển đó là các chuyên gia tin học tin rằng đằng sau bức "Bữa tiệc cuối cùng" còn có hai hình ảnh khác.

Ngày 27/7, trang web kênh truyền hình Mỹ CNN đăng tải lập luận của chuyên gia tin học Slavisa Pesci, cho rằng đằng sau bức tranh nổi tiếng này của danh họa Leonardo Da Vinci này còn nhiều bí ẩn. Đã có gần 15 triệu lượt truy cập vào một số website có đăng tải hình ảnh bức họa Bữa tối cuối cùng. Đến ngày 29/7, những địa chỉ đó đã bị nghẽn mạng sau khi thông tin về lý thuyết mới về bức tranh được đăng tải.
Những chuyên gia về đồ họa chỉ ra rằng đằng sau bức Bữa tối cuối cùng còn có hai hình ảnh khác: Hình ảnh Chúa đang chúc phúc lành và hình ảnh một đứa trẻ nhờ hình phản chiếu của bức tranh trong gương.
Nếu quan sát kỹ ta có thể thấy dường như Da Vinci đã tính toán một cách tỉ mỉ trước khi cầm cọ vẽ bức tranh “để đời”. Những tranh cãi xung quanh vấn đề này lại được xuất hiện trong cuốn best-seller Mật mã Da Vinci của Dan Brown. Trong sách, Dan Brown đã chỉ ra mối quan hệ bí mật giữa Chúa Jesus và Marie Madeleine. Còn theo Slavisa Pesci, trong phiên bản được đối lập ta có thể thấy hình ảnh phía bên phải của Chúa hình như đang bế một đứa trẻ. Nhưng đến giờ nhiều chuyên gia, giáo sư vẫn chưa thể khẳng định lai lịch của đứa trẻ.

Bữa tối cuối cùng được dựng lại theo phương pháp hiện đại.


4. Âm nhạc trong tranh vẽ

Là một tuyệt phẩm nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci, “Bữa tiệc cuối cùng” cũng được coi là một bức họa tiềm ẩn nhiều thông điệp và gợi ý lạ lùng bên trong. Do thời gian tàn phá nên giờ đây chúng ta chỉ có thể thấy được một dị bản phục chế không hoàn chỉnh của “Bữa tiệc cuối cùng”. Tuy nhiên, điều đó cũng không thể làm vơi đi những bí ẩn của “Bữa tiệc cuối cùng” khi một nhạc sĩ kiêm chuyên viên máy tính người Ý công bố phát hiện mới cho thấy, trong bức tranh còn ẩn giấu âm nhạc…
Giovanni Maria Pala, tác giả của phát hiện trên cho biết ông bắt đầu nghiên cứu kỹ bức tranh Bữa tối cuối cùng từ năm 2003. Điều đầu tiên khiến ông chú ý là tấm khăn trải bàn với những đường kẻ ngang, dọc, bên trên là những lát bánh mỳ, trông giống như các nốt nhạc. Quan sát một cách tổng thể, Pala nhận thấy 12 tông đồ của Chúa được bố trí thành 4 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Cách bố trí này gợi sự liên tưởng đến các bản nhạc theo nhịp 3/4, vốn rất thịnh hành ở thế kỷ 15, khi Da Vinci thực hiện bức tranh. Cuối cùng, Pala phát hiện ra rằng nếu coi bàn tay của Chúa và các tông đồ cùng với các lát bánh mỳ là những nốt nhạc, rồi đọc chúng theo chiều từ phải sang trái như cách viết thường thấy của Leonardo Da Vinci thì người ta thu được một bản nhạc thực sự.
5. Kết
Quả thật, có những điều kỳ bí, rất khó lý giải đã từng xảy ra trong lịch sử. Tại sao một bức tranh được vẽ ở cuối thế kỷ 15 lại ẩn chứa những bí mật gây nhiều tranh cãi như vậy? Những lập luận của Pesci và Dan Brown có thật sự đáng tin?

Tham khảo: Howstuffworks, Khoahoc.tv, Dân Trí, Trí Thức VN, Phan Hạnh (Mentalfloss), Cảm xúc gốc

Saturday, December 30, 2017

Di sản: Az Utolsó vacsora (2)

Ngày nay, do đã quá quen với các hình thức nghệ thuật tả thực, ít ai còn ngạc nhiên khi đứng trước “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci nữa. Nhưng, hãy thử đặt mình vào vị trí người thưởng lãm ở cuối thế kỷ XV, lúc ấy, chắc hẳn chúng ta cũng sẽ vô cùng sửng sốt.

1. Sửng sốt, bởi trước “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci, chưa có một tác phẩm hội họa tả thực nào có được phong thái hiện thực tinh tường và sinh động đến thế. Nó vượt qua cung cách “kiểu thức hóa” của các tác phẩm cùng chủ đề có trước đó, đã đành. Nó còn vượt qua cái nhìn nghệ thuật “hướng đến cái đẹp lý tưởng” với các tiêu chuẩn toán học về sự hài hòa tiếp thu từ nghệ thuật Hy Lạp-La Mã cổ đại chi phối cảm quan nghệ thuật của các nghệ sĩ đương thời. Những gì được tác giả thể hiện trên tác phẩm đều mang tính “khách quan tuyệt đối”. Thêm nữa, do kích thước lớn (450 x 870cm), và do cách tạo phối cảnh, bức tranh đã nhập hẳn vào “thế giới khách quan” như một sự kiện độc đáo! Có lẽ, E.H. Gombrich, trong “Câu chuyện nghệ thuật” (“The story of art”-xuất bản lần đầu năm 1950) đã có lý khi mô tả:

“… Bức họa bao phủ một mặt tường của gian sảnh hình chữ nhật dùng làm phòng ăn cho các tu sĩ thuộc tu viện Đức Bà Đầy Ơn Phúc ở Milan. Người ta phải hình dung cái sự thể đã xảy ra khi bức họa được trưng bày lần đầu, và khi sát kề những dãy bàn ăn dài của các thầy dòng là bàn tiệc của Đức Kitô và các tông đồ. Trước nay chưa khi nào câu chuyện thánh này có vẻ gần gũi và giống thật đến thế. Như thể một gian sảnh khác được nối thêm vào với gian phòng của các thầy dòng, tại đó “Bữa tiệc ly” mặc lấy một dáng vẻ hiện thực. Cái luồng sáng đổ xuống trên bàn tiệc mới trong trẻo làm sao, và nhờ nó các nhân vật thêm đầy đặn và thuần khiết biết nhường nào. Có lẽ các thầy dòng là những người đầu tiên bị choáng váng vì lối diễn đạt vô cùng chính xác đã lột tả mọi chi tiết, từ các chén đĩa trên bàn và những đường lõm của y phục xếp nếp…”

Và dĩ nhiên không chỉ có vậy.

2. Mức độ trung thực của hình ảnh chỉ là một khía cạnh. Nếu chỉ nhìn ở khía cạnh này, nhiều tác phẩm cùng chủ đề sau đó, đã luôn vượt trội hơn, bởi sự ra đời của sơn dầu (oil painting) vốn rất thuận lợi cho việc mô tả. Điều quan trọng hơn, làm nên giá trị “không thể vượt qua” của tác phẩm, là ở cái cách trình bày câu chuyện Kinh Thánh của Leonardo da Vinci. Hình ảnh các nhân vật và bối cảnh được thể hiện hết sức tự nhiên, tuy nhiên, đó không phải là kết quả của một sự nắm bắt ngẫu nhiên của trí tưởng tượng, mà là sản phẩm được sáng tạo với sự nghiền ngẫm, quan sát và diễn tả tuyệt vời của một bậc thiên tài. Ngoài những vấn đề kỹ thuật như bố cục và phác họa, ta phải ngưỡng mộ sự hiểu biết sâu sắc của Leonardo da Vinci về thái độ và hành vi con người, và cái khả năng tưởng tượng nhờ nó ông có thể đặt cảnh tượng ấy trước mắt ta. Người ta đã có thể gọi tên từng nhân vật được thể hiện và, có thể cảm nhận về một sự vận động mạnh mẽ của tinh thần trong tác phẩm.

“Nơi tác phẩm này không có gì giống với những minh họa cùng chủ đề trước đó.

Trong những họa phẩm truyền thống ấy, các tông đồ ngồi yên lặng thành một dãy ở bàn tiệc – chỉ mình Giuđa bị cách ly khỏi cộng thể – trong khi Đức Kitô đang trầm lặng ban phát Bí tích Mình Thánh.

Bức tranh mới rất khác với bất kỳ bức họa nào trong số này. Nó hàm chứa một bi kịch và một nỗi kích động. Leonardo, giống như Giotto trước ông, cũng đã quay về với các bản văn Thánh Kinh, và đã cố hình dung cái sự thể hẳn đã xảy ra khi Đức Kitô nói: “Quả thật, Thầy bảo cho các con biết, một người trong các con sẽ phản Thầy”. Các môn đệ hết sức buồn bã và từng người bắt đầu hỏi Ngài: “Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?” (Mt 26, 21-22). Trong Phúc âm, Thánh Gioan thêm rằng: “Trong số các môn đệ, có một người được Đức Giêsu thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Đức Giêsu. Simon Phêrô làm hiệu cho ông ấy và bảo: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai?” (Ga 13, 23-24). Chính việc hỏi han và ra dấu này đã đưa chuyển động vào trong khung ảnh. Đức Kitô vừa nói ra những lời sầu thảm thì những kẻ bên cạnh Ngài lùi lại vì kinh khiếp khi nghe điều ấy. Vài môn đệ như khẳng định tình yêu và sự vô tội của mình. Một hai môn đệ khác hết sức nghiêm túc bàn luận xem ai có thể là kẻ Thầy muốn ám chỉ. Một số khác lại như nhìn vào Thầy để chờ giải thích. Thánh Phêrô, nóng nảy nhất trong cả nhóm, chúi vào Thánh Gioan. Ông ngẫu nhiên đẩy Giuđa về phía trước. Giuđa không bị tách khỏi nhóm, thế nhưng dường như ông ta rất trơ trọi. Chỉ mình ông ta ngồi yên và không thắc mắc. Ông ngã người về phía trước và nhìn lên trong ngờ vực hoặc giận dữ, một tương phản đầy ấn tượng so với hình ảnh Đức Kitô ngồi trầm lặng và chịu đựng giữa cảnh náo động đang trào dâng.

Người ta tự hỏi phải mất bao lâu những khán giả đầu tiên mới nhận ra cái nghệ thuật hoàn hảo đã chi phối tất cả những động tác đầy kịch tính này. Bất kể sự khích động gây ra do lời nói của Đức Kitô, không hề có rối loạn trong bức tranh. Mười hai tông đồ như rất tự nhiên phân thành bốn nhóm ba người, được liên kết với nhau bằng cử chỉ và chuyển động. Có biết bao trật tự trong sự đa dạng này, và quá nhiều kiểu mẫu khác nhau trong trật tự ấy, đến độ người ta chẳng khi nào có thể nghiên cứu tường tận cái tác dụng hỗ tương hài hòa giữa chuyển động và chuyển động hồi đáp…”  (E.H.Gombrich – sách đã dẫn)

3. Ở một khía cạnh khác nữa, cách trình bày câu chuyện Kinh Thánh của Leonardo da Vinci là sự dung hòa tuyệt vời giữa tính chất “thần thiêng” với tính chất “thế tục”. Một mặt, tính cách hiện thực của tác phẩm, đã khiến cho câu chuyện Kinh Thánh trở thành một mảnh của thực tại, rất gần với mọi người, biến câu chuyện Kinh Thánh trở thành một kinh nghiệm đời thường… Nhưng mặt khác, ngay trong cách bố cục tranh, với sự nổi bật trong tư thế vững chãi ở vị trí trung tâm của hình ảnh Chúa Giêsu, cùng sự cân xứng, hài hòa tự nhiên đã khiến cho tác phẩm toát lên vẻ nghiêm trang “thần thánh” và gợi mở vô số những liên tưởng sâu xa vượt ra ngoài các trải nghiệm thường tục. Cái cấu trúc tam giác cân trong cách thể hiện hình ảnh Chúa Giêsu được xem là một ẩn ngôn biểu hiện sự hợp nhất Ba Ngôi – nền tảng của Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh. Toàn bộ phối cảnh trong tranh đã hướng sự chú ý của người xem vào vị trí trung tâm này của hình ảnh Chúa Giêsu. Và cả cái khung cửa sổ ở ngay sau lưng Chúa Giêsu cũng đã gợi cho mọi người cảm tưởng không đơn thuần là một yếu tố không gian. Cái ánh sáng mà nó mang lại dường như có ý nghĩa thay thế cho vòng hào quang tượng trưng phổ biến trong các tranh thánh. Nó nhấn mạnh, hay khẳng định, cho ý nghĩa linh thiêng của sự hợp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa…

V.v… và v.v…

Chính khả năng gợi mở vô số những liên tưởng, những trừu xuất siêu hình vừa nói, đã khiến cho “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci có một sức hấp dẫn kỳ lạ và tác phẩm đã không ngừng được tái sinh cho đến ngày nay…

Còn nhiều điều có thể nói. Nhưng tôi sẽ quay lại vào một dịp khác. “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci, ngay cả trong tình trạng bị hư hại, vẫn là “một phép lạ vĩ đại” do tài năng con người tạo nên.

Nguyên Hưng

Wednesday, December 27, 2017

Di sản: Az Utolsó vacsora (1)

The Last Supper - tác phẩm của Leonardo da Vinci (New York Times file)

Là tác phẩm thể hiện bữa ăn tối cuối cùng của chúa Giêsu với các môn đồ trước giờ Người chịu khổ nạn, kiệt tác nổi tiếng của thời Phục Hưng này được tác giả thực hiện trên bức tường của Tu viện Santa Maria delle Grazie ở Milan, Italy (khoảng năm 1495 đến 1498theo yêu cầu của Công tước Ludovico Sforza.

Leonardo da Vinci phải quan sát thực tế rất nhiều để nắm bắt các sắc thái điển hình (về dung mạo, hành vi, trang phục) cho từng nhân vật, và đã thực hiện rất nhiều khảo họa cho tác phẩm của mình.

Tác phẩm ngay sau khi hoàn thành, đã làm những người am hiểu đương thời choáng váng vì cách thể hiện dáng vẻ hiện thực sống động, vô cùng tinh tế của các nhân vật, vì sự thông minh bác học trong cách tạo phối cảnh, và, vì sự hài họa tự nhiên trong cách bố cục, màu sắc…

Đáng tiếc là tác phẩm nhanh chóng bị hư hại, một phần do Leonardo da Vinci đã dùng kỹ thuật vẽ trực tiếp trên nền thạch cao khô (chứ không phải trên nền thạch cao ướt được dùng phổ biến lúc đó), và phần khác, nghiêm trọng hơn, là do sự phá hoại của con người trong các thời kỳ biến động của lịch sử sau đó. Tác phẩm cũng đã được phục chế nhiều lần, nhưng chính sự phục chế này, đã gây nên các tranh luận gay gắt về diện mạo chân thực của tác phẩm hiện tại.

Đã có nhiều bài viết xoay quanh các giai thoại/câu chuyện chung quanh tác phẩm. Từ các “thông điệp bí mật” được tác giả giấu kín trong tác phẩm đến các câu chuyện về các nguyên mẫu cho từng nhân vật trong tranh. Trong đó, được nhắc đến nhiều nhất, được nhiều người tin (là thật) nhất, là giai thoại về nguyên mẫu hình tượng Chúa Giêsu và hình tượng Giuđa (1).

"Leonardo đã thu gọn đề tài vào một thời điểm nhất định trong bữa tiệc, lúc Chúa vừa nói với 12 môn đồ: “Quả thật, Thầy bảo cho các con biết, một người trong các con sẽ phản Thầy”. Nét mặt Chúa buồn rầu, đôi mắt nhìn xuống như muốn tránh cái nhìn của kẻ Người vừa tố giác. Hai tay buông xuôi tựa xuống mặt bàn, cử chỉ của Người vừa tiết lộ một điều quan trọng và bây giờ lặng thinh không nói nữa: một giây phút thinh lặng bi tráng!

Bỗng chốc, như một dòng điện, lời tố giác của Chúa truyền đi mau chóng, gây phản ứng đột ngột trên nét mặt và cử chỉ dáng điệu của 12 môn đồ. Mỗi ông phản ứng một cách tùy theo tính tình, tâm lý từng người.

Sát bên tay phải Chúa là Gioan, người môn đệ yêu quý có tâm hồn dễ cảm, biểu lộ sự đau đớn trầm lặng sâu xa. Tiếp đến Phêrô tính bộc trực nóng nảy, ghé sát đầu Gioan hỏi nhỏ xem ai là thủ phạm. Con dao sắc nhọn chìa ra phía sau lưng chứng tỏ ông sẵn sàng nghiêm trị tức khắc đứa phản Thầy như lát nữa ông sẽ chém đứt tai tên đầy tớ của thầy thượng tế trong vườn Cây Dầu. Giuđa ngồi ngay trước Phêrô, có thái độ hốt hoảng như tên ăn trộm vừa bị lộ tẩy, tay phải ôm chặt túi bạc, tay trái giơ ra phía trước như muốn phân bua chối cãi. Kế đó là Anrê, xoè hai bàn tay ra, bỡ ngỡ kinh hoàng trước cái tin gở lạ không thể tưởng tượng được. Giacôbê hậu, tinh anh hơn, vươn cánh tay gọi Phêrô như để bảo ông: “Tôi đã đoán ra được ai rồi!” Cuối hàng là Bartôlômêô sửng sốt đứng dậy nghiêng mình về phía trước đểm xem và nghe cho rõ đầu đuôi câu chuyện.

Phía tay trái Chúa: Giacôbê tiền, nét mặt bỡ ngỡ kinh ngạc, hay tay giang rộng, lùi về phía sau như bị áp lực của lời Chúa vừa tung ra. Tôma, con người linh hoạt nhất trong nhóm, đã rời chỗ lại gần Chúa giơ ngón tay băn khoăn hỏi: “Thầy có nghi ngờ gì tôi không?”

Kế đến Philipphê, dáng điệu ôn hoà, chỉ tay vào ngực thề nguyện một niềm trung tín trọn vẹn. Mátthêu đang chuyển lại tin buồn cho hai ông bạn ngồi cuối bàn là Tađêô và Simôn. Hai ông có phần lớn tuổi, cử chỉ điềm tĩnh chậm chạp hơn, nhưng nét mặt không giấu được nỗi lo âu, phiền muộn.

Giữa khung cảnh ấy, một mình Chúa ngồi rất điềm tĩnh, nét mặt hiền dịu in trên nền trời xanh êm ả, coi như Ngài không lưu ý gì tới sự xôn xao náo động chung quanh. Tuy nhiên người ta đọc được nét thoáng buồn trên khuôn mặt và hai bàn tay của Chúa.

Cách bố cục rất tài tình. Tác giả dàn xếp các nhận vật thành từng nhóm 3 người, mỗi bên hai nhóm. Chúa ngự giữa trung tâm bức tranh. Tất cả các đường nét, các điệu bộ, cử chỉ đều hướng về trung tâm. Từ nhóm nọ sang nhóm kia, tác giả cũng hữu ý nối kết lại với nhau bằng những đường nét rất tự nhiên, tỉ dụ bàn tay Giacôbê vắt qua lưng Phê-rô để nối liền hai nhóm bên phải Chúa, và cánh tay Mátthêu giang ra làm gạch nối giữa 2 nhóm bên trái Chúa.” (2)

Tuy nhiên, chỉ mô tả bức tranh như vậy (1 & 2), có thể có ý nghĩa, trong một chừng mực nhất định, nhưng chưa đủ để có được nhận thức về nghệ thuật nói chung, về “Nghệ thuật Thánh Công giáo” và về bản thân tác phẩm nói riêng. Chỉ mới là sự “làm quen”; đơn giản chỉ là “mượn cớ” cho những câu chuyện khác; còn cách diễn giải vừa dẫn dài dòng ở trên, tuy giúp người xem hiểu được nội dung tác phẩm, nhưng rất dễ dẫn họ vào một ngộ nhận tai hại: không phân biệt được sự khác biệt của một tác phẩm nghệ thuật với một bức tranh minh họa đơn thuần!

Vì vậy, dưới đây là những phần nêu thêm về bức tranh.

Một, cần phải nhìn tác phẩm trong các tương quan lịch sử của nó. Mà, cụ thể, là trong xu hướng “canh tân” mọi mặt trong đời sống văn hóa và tôn giáo thời đại Phục hưng.

Hai, cần phải nhìn tác phẩm trong tương quan so sánh với các tác phẩm khác cùng chủ đề “Bữa tiệc ly” được sáng tác trước đó và sau đó.

Chỉ khi làm rõ hai vấn đề này, thì mới có được cái nền cơ bản, để thấy rõ hơn các đóng góp “thiên tài” của Leonardo da Vinci về ngôn ngữ nghệ thuật và về tư tưởng - hai yếu tố căn bản để có nhận thức đúng về nghệ thuật.

Dĩ nhiên, bổ khuyết cho những bất cập này là chuyện dài dòng, cần đến một chương trình phổ cập được thiết kế hệ thống. Ở đây, đặt tác phẩm giới hạn trong tương quan “Nghệ thuật Thánh Công giáo” và hướng đến đối tượng là cộng đồng giáo dân, tôi chỉ muốn lưu ý:

“Bữa tiệc ly” là một trong những chủ đề quan trọng của “Nghệ thuật Thánh Công giáo”.

Các tác phẩm “Bữa tiệc ly” trước thời Leonard da Vinci, đặc biệt trong thời Trung cổ (hoặc ở những nơi vẫn còn có tính chất trung cổ) chủ yếu, chỉ hướng đến mục tiêu phụng sự, và với mục tiêu phụng sự, chủ yếu chỉ nhắm đến ý nghĩa: qua đó Chúa Giêsu đã thiết lập hai bí tích quan trọng là Bí tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức Thánh. Hầu hết các tác phẩm này, với mục tiêu như vậy, xem “Bữa tiệc ly” là một sự kiện “thần thiêng” và do đó, chỉ được thể hiện một cách tượng trưng với sự uy nghiêm thuần khiết – một bảo đảm chắc chắn cho lòng tôn kính và thờ phượng. (Xem tranh)


Các tác phẩm “Bữa tiệc ly” sau thời Leonard da Vinci, gần như hầu hết, được thể hiện chủ yếu trong tầm nhìn “thế tục”. “Bữa tiệc ly” chỉ còn là một sự kiện lịch sử, hay thuần tuý chỉ là một ẩn dụ. Tính chất “thần thiêng” của chủ đề đã được thay thế hoàn toàn bởi tính chất “hiện thực”. Các tác phẩm, bởi vậy, mà có tính cách phóng túng và “đời thường” hơn. Dưới dây là một số tác phẩm tiêu biểu:

“Bữa tiệc ly” (1594) của Tintoretto


Bữa tiệc ly, 1630, Peter Paul Rubens

“Bữa tiệc ly” (1640) của Nicolas Poussin

“Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci là tác phẩm đầu tiênduy nhất dung hòa tính chất “thần thiêng” và tính chất “thế tục” một cách hoàn hảo với sự hoà trộn một cách tuyệt diệu ngôn ngữ tả thực và ngôn ngữ ẩn dụ vừa thể hiện được tính cách uy nghiêm của chủ đề vừa hết sức sinh động. Chẳng phải ngẫu nhiên tác phẩm này đã có một vị thế vô cùng vững chãi không chỉ trong lịch sử “Nghệ thuật Thánh Công giáo” mà còn trong lịch sử nghệ thuật nhân loại nói chung… (Xin xem lại tác phẩm)

Thứ hai, về vấn đề tiếp cận tác phẩm:

Điều cần nói ngay, quanh “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci, có rất nhiều dị bản được thực hiện bởi nhiều họa sĩ hữu danh và vô danh ở khắp mọi nơi sau này. Và, gần như hầu hết các phiên bản “Bữa tiệc ly” mà chúng ta nhìn thấy hiện nay, ở khắp mọi nơi, đều được nhân ra từ các dị bản này. Dưới đây là vài dị bản tiêu biểu:


Từ đây, rất cần một sự khẳng định, hầu hết các phiên bản mà chúng ta đang nhìn thấy, thực sự, không thể đại diện cho “Bữa tiệc ly” của Leonardo da Vinci.

Sự khẳng định này là hết sức cần thiết. Không chỉ nhằm tránh cách đánh giá sai về tầm vóc “thiên tài” của tác phẩm gốc, mà quan trọng hơn, còn tránh dẫn đến cách hiểu sai về nghệ thuật nói chung.

Để có một chút hình dung về sự tuyệt vời của tác phẩm gốc (đã bị biến đổi nhiều do bị hư hại và qua các lần phục chế) có lẽ, chúng ta nên xem qua một số khảo họa mà Leonardo da Vinci đã thực hiện mà hiện nay còn lưu giữ được:


Nguyên Hưng

(còn nữa)

trích lại từ trang/blog của Tuantudo (Tuantudo' Studio)