Showing posts with label Con đường của dân tộc. Show all posts
Showing posts with label Con đường của dân tộc. Show all posts

Tuesday, August 19, 2025

Thời kỳ mới

BA X TRỞ LẠI LỢI HẠI RA SAO?

Thấy ông ta được Huân chương cao nhất rồi thêm xuất hiện nhiều nơi nhiều lần bên cạnh ông tổng mới thì mọi người không thể không nghĩ rằng ông ta đã trở lại.

Dĩ nhiên bản thân ba X không thể trở lại, nhưng một số chủ trương đường lối của ông dường như đang trở lại ở tầm mức cao hơn.

Ba X đã bị đánh rơi về vườn vì bị cho rằng tham ô, thân Mỹ, bật đèn xanh cho quần chúng biểu tình chống Tàu và nơi lỏng hoạt động xã hội dân sự. 

Đúng là thời ba X, các đoàn thể xã hội dân sự như CLB Lê Hiếu Đằng, Văn Đoàn Độc Lập, hội Nhà Báo Độc Lập, hội Anh Em Dân Chủ, nhóm Con đường Việt Nam, hội phụ nữ nhân quyền … xuất hiện và hoạt động công khai. Thời đó biểu tình dễ dàng, có dẹp chút đỉnh cũng bắt lên xe buýt vài chục người tượng trưng mang về tập trung một chỗ rồi chiều tối vui vẻ cho về. 

Thời ba X tham ô khủng, đám dựa hơi ông ta quậy tung trời, nhóm lợi ích mọc lên như rươi. Mà tham ô là căn bệnh trầm kha không thể dẹp bỏ của thể chế độc đảng toàn trị, bằng chứng là qua thời ông đốt lò, đưa cả hệ thống chính trị vào cuộc quyết liệt đốt lò tiêu diệt tham ô, nhưng rồi kết quả chỉ thấy ngược lại. 

Ba X gần Mỹ xa Tàu lộ rõ. Làm sui với gia đình Mỹ gốc Việt là sĩ quan VNCH, con cái toàn cho đi học phương Tây. Có một câu tuyên bố đi vào sử sách “không đánh đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viễn vông”, rồi bật đèn xanh cho dân chúng và cả đoàn thể quốc doanh biểu tình chống Tàu rầm rộ. Thời ba X, Tàu quậy phá biển Đông liên tục, qua thời ông đốt lò tự dưng im hẳn, từ đó hiểu rằng tàu ủng hộ ai và chống ai. 

Rồi ba X bị cho về vườn, đường lối chủ trương của ông ta bị chặn đứng.

Bây giờ thấy ông tổng mới có những bước đi cởi mở hơn, tiến bộ hơn, khác hẳn với đường lối của người tiền nhiệm của ông, đã thắp lên ít nhiều hy vọng cho nhiều người dân. 

Ít tụng niệm kinh kệ Mã Khắc Tư, đẩy mạnh kinh tế tư nhân, ưu tiên phát triển khoa học công nghệ, tiến sát về phía Mỹ … là những chỉ dấu tốt.

Vấn đề xã hội dân sự khá nhạy cảm, nhưng cũng có cởi mở ít nhiều như trả tự do trước thời hạn và hủy lệnh quản thúc cho người tù chính trị nổi tiếng Trần Huỳnh Duy Thức, trả tự do trước thời hạn cho một người tù khá gai góc khác là nhà báo kỳ cựu Phạm Thành, cũng trả tự do trước thời hạn một số tù chính trị khác, và đặc biệt xử án khá nhẹ với Nguyễn Thúy Hạnh, một nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ kiên cường. Mức án 3 năm rưỡi cho người bị xử theo điều 117 là chưa có tiền lệ. 

Rồi bất ngờ cho tại ngoại hai tù nhân vụ án gà lôi trắng và mua hóa đơn 10 triệu theo mong muốn của dư luận cũng là điều hiếm thấy. 

Tất cả những chuyện trên tuy chưa lớn lắm nhưng dù sao cũng phát ra một tín hiệu đang mừng. 

Từ đó một câu hỏi được bật ra, liệu sự trở lại kia có tác động gì? Và tác động đó, nếu có, liệu có đưa đến những thay đổi tích cực hơn về sau không? 

Chờ xem vậy.

Huỳnh Ngọc Chênh 

Wednesday, January 17, 2024

Vì sao nghèo? Chiến tranh. Vì sao sau chiến tranh không tăng trưởng?

 Tác động của chiến tranh lên nền kinh tế

    1. Tôi thường nghe câu nói cửa miệng "Nước ta nghèo, khó khăn là do hậu quả chiến tranh". Nghe riết thành quen, tưởng thật. Đến nỗi, chiến tranh qua đến nửa thế kỷ, nhiều người vẫn tưởng là ta nghèo là do chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Lãnh đạo thì lấy đó làm lý do biện hộ: chúng ta lãnh đạo tốt, đúng hướng, nhưng do chiến tranh nên .... 

    2. Chúng ta hãy thử suy nghĩ một chút xem điều đó có đúng không. Trong lịch sử thế giới, sau chiến tranh, thường kinh tế phát triển phồn thịnh. Ở nước ta, sau khi bị đô hộ và chiến tranh 10 năm, đầu đời Hậu Lê, kinh tế phát triển 

                "Đời vua Thái Tổ, Thái Tông 

           Gạo trắng đầy đồng trẻ chẳng chịu ăn"

     Các nước Nhật, Mỹ, Nga, Đức,... sau chiến tranh đều có những phát triển thần kỳ về kinh tế, mặc dù trừ Mỹ, đều bị tàn phá nặng nề. Từ thời Chu, ngay sau chiến tranh là Thành Khang chi trị, tới thời Thanh, đều thấy sau thời chiến tranh, lập quốc là thời phát triển mạnh. Nước ta sau khi chống Nam Hán, Nguyên Mông,...phân tranh Tây Sơn-Nguyễn đều hưng thịnh ngay sau chiến tranh. 

   3. Thực ra, nền kinh tế chậm phát triển là do thiếu động lực, bị ngăn cản bởi cơ chế già nua, những con người trì trệ bảo thủ, các thể chế hết thời. Chiến tranh thay đổi thế hệ, tạo ra khát vọng, phá hủy cơ chế cũ, và có một thị trường lớn làm lực đẩy. Có thể nói chiến tranh là động lực đẩy bánh xe kinh tế quay, khi quay sẽ tạo ra của cải, sức mua, cơ chế mới. Nước Mỹ từ sau chiến tranh lạnh luôn phải có các cuộc chiến tranh nhỏ cục bộ để kích hoạt nền kinh tế.   

   4. Vậy tại sao Việt Nam lại không có tăng trưởng hậu chiến như vậy: Có thể là do một số ngành kinh tế bị đứt gãy về cả nhân lực và tri thức, không có tiếp nối, do đó khát vọng không có đất gieo. Điều quan trọng hơn là sự cô lập với thế giới và với sự tiến bộ. Cũng có thể lực lượng chủ lực của bộ máy chiến tranh quá mạnh, không thể tự thay đổi. Cho đến nay vẫn còn đơn vị kinh tế, KHCN, giáo dục đào tạo của quân đội, công an, đảng và ....

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, September 28, 2020

Vấn đề hàng đầu của 1 quốc gia

Nếu muốn Hưng thịnh và trở thành 1 đất nước văn minh, hạnh phúc.

CUỘC CHIẾN TÀN BẠO NHẤT- ĐÂU CẦN ĐẾN BOM ĐẠN...

Tuyên bố nổi tiếng của Nelson Mandela được viết tại cổng trường Đại học Nam Phi:

« Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. »

« Bệnh nhân chết dưới bàn tay của các bác sĩ của nền giáo dục đấy. »

« Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay của các kỹ sư của nền giáo dục đấy.. »

« Tiền bị mất trong tay của các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục đấy.. »

« Nhân loại chết dưới bàn tay của các học giả tôn giáo của nền giáo dục đấy. »

« Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục đấy. »

« Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia. »

Sưu tầm

Friday, September 11, 2020

Ý nghĩa chiến lược của hợp tác dầu khí Việt – Mỹ

 Là một nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh, nhu cầu năng lượng của Việt Nam dự kiến ​​sẽ tăng từ 8,5 đến 9,5% mỗi năm trong vòng 5 năm tới. Cùng với nhu cầu giảm phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện than, điều này đã khiến Việt Nam phải tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế. Ngoài đầu tư vào năng lượng tái tạo, Việt Nam cũng đang tìm cách hợp tác với các đối tác có trụ sở tại Hoa Kỳ để phát triển nguồn cung dầu khí và các nhà máy điện khí – một nỗ lực được thúc đẩy bởi các tính toán chiến lược lẫn kinh tế của Việt Nam.

Việt Nam hiện đang làm việc với ExxonMobil để phát triển mỏ khí Cá Voi Xanh ngoài khơi bờ biển miền Trung với trữ lượng ước tính khoảng 150 tỷ mét khối. Khí từ mỏ này sẽ được sử dụng để chạy 3 nhà máy điện khí dự kiến ​​được xây dựng tại Khu Kinh tế Dung Quất gần đó. Vào tháng 11 năm 2019, công ty AES Corp của Mỹ cũng đã nhận được giấy phép xây dựng khu liên hợp điện khí Sơn Mỹ 2 có công suất 2,25 GW tại tỉnh Bình Thuận. Nhà máy sẽ chạy bằng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu từ Mỹ.

Ngoài Sơn Mỹ 2, Việt Nam hiện đang phát triển 4 dự án điện khí khác sử dụng LNG nhập khẩu là Cà Ná 1 (1,5 GW), Sơn Mỹ 1 (2,25GW), Bạc Liêu (3,2 GW) và Long Sơn 1 (1,2 GW). Theo Bộ Công Thương Việt Nam, những dự án mới này sẽ đưa tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện khí Việt Nam tăng từ 9 GW hiện tại lên 19 GW vào năm 2029, có nghĩa là Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu LNG.

Đồng thời, Hoa Kỳ đã nổi lên trở thành nhà xuất khẩu LNG lớn thứ ba trên thế giới. Trong năm 2019, Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa công suất các nhà máy hóa lỏng khí mới của toàn cầu. Ngành công nghiệp LNG đang mở rộng nhanh chóng của Mỹ và nhu cầu nhập khẩu LNG ngày càng tăng của Việt Nam đã mở ra một biên giới mới khả thi cho hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ. Ví dụ, khi đi vào hoạt động, tổ hợp điện khí Sơn Mỹ 2 sẽ tạo ra nhu cầu nhập khẩu LNG từ Mỹ hàng năm trị giá 2 tỷ đô la. Đây là một con số đáng kể khi mà năm 2019, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ chỉ ở mức 14,4 tỷ đô la.

Mặc dù có thể nhập khẩu LNG từ một số quốc gia khác nhau nhưng Hà Nội đặc biệt quan tâm đến việc hợptác với các nhà cung cấp Mỹ do điều này sẽ giúp cải thiện cán cân thương mại song phương.

Theo Hải quan Việt Nam, Việt Nam đạt thặng dư thương mại 47 tỷ USD với Mỹ trong năm 2019. Chênh lệch cán cân thương mại ngày càng lớn này từ lâu đã gây ra bất bình cho chính quyền của Tổng thống Donald Trump, người hồi giữa năm 2019 đã gọi Việt Nam là một bên “lạm dụng” thương mại và đe dọa áp thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Đáp lại, Việt Nam cam kết sẽ cải thiện cán cân thương mại, đặc biệt là bằng cách tăng nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Mua LNG của Mỹ để cung cấp nhiên liệu cho các nhà máy điện khí đang rất cần thiết cho an ninh năng lượng của mình vì vậy là một mũi tên trúng nhiều đích của Hà Nội.

Giải quyết những khúc mắc với chính quyền Trump là điều quan trọng vì Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và bất kỳ mức thuế trừng phạt nào do Washington áp đặt sẽ gây tổn hại đáng kể lên xuất khẩu và đe dọa tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Về mặt chiến lược, Hoa Kỳ hiện đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực của Việt Nam nhằm chống lại các hành động cưỡng bức của Trung Quốc ở Biển Đông. Ví dụ, trong các cuộc đối đầu song phương đáng kể ở Biển Đông vào năm 2014 và 2019, sự hỗ trợ ngoại giao của Hoa Kỳ rất quan trọng đối với nỗ lực của Hà Nội nhằm huy động sự ủng hộ của quốc tế chống lại hành vi bắt nạt của Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc liên tục quấy rối các hoạt động dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông cũngmang lại cho Việt Nam một lý do chính đáng khác để hợp tác với các công ty Mỹ như ExxonMobil nhằmthực hiện các dự án dầu khí của mình, đặc biệt là khi các đối tác nước ngoài khác tỏ ra không thể chống lại sức ép từ Trung Quốc. Sau khi công ty dầu mỏ Tây Ban Nha Repsol quyết định hủy hợp đồng chia sẻ sản lượng với PetroVietnam (PVN) đối với ba lô gần Bãi Tư Chính ở Biển Đông, đối tác Nga lâu năm của PVN là Rosneft dường như cũng đang khuất phục trước các áp lực từ chính phủ Trung Quốc.

Gần đây, lập trường của Hoa Kỳ đối với các tuyên bố chủ quyền thái quá của Trung Quốc ở Biển Đông đãtrở nên cứng rắn hơn, đồng thời Mỹ đã lên án việc Bắc Kinh cản trở các hoạt động dầu khí hợp pháp của các quốc gia tranh chấp khác trong vùng biển của họ. Trong bối cảnh đó, hợp tác với các công ty Mỹ để phát triển dầu khí có thể là một chiến lược khả thi đối với Hà Nội vì Washington sẽ sẵn sàng hơn hầu hết các quốc gia khác trong việc hỗ trợ các công ty của mình chống lại sự quấy rối của Trung Quốc.

Quan điểm lâu nay của Việt Nam là tránh đối đầu với Trung Quốc và duy trì sự cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ. Một mặt, do sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa hai cường quốc, hợp tác với các công ty Mỹ để thực hiện các dự án dầu khí ở Biển Đông và tăng cường quan hệ với Washington có thể sẽ khiến Trung Quốc tức giận.

Nhưng mặt khác, Hà Nội cũng không thể tiếp tục cúi đầu trước sức ép của Trung Quốc. Bất chấp thiện chí và nỗ lực của Việt Nam nhằm tiết chế mối quan hệ với Washington để không làm mất lòng Bắc Kinh, Trung Quốc vẫn ngày càng gia tăng áp lực lên chính phủ Việt Nam bằng cách liên tục quấy phá các hoạt động dầu khí ngoài khơi của Hà Nội. Do đó, Việt Nam cần phải biến hợp tác dầu khí với Hoa Kỳ trở thành một đòn bẩy chiến lược nhằm chống lại sự cưỡng ép trên biển của Trung Quốc.

Rốt cuộc, nếu Hà Nội quyết định xích lại gần Washington thì Bắc Kinh chỉ có thể tự trách mình. Chính chủ nghĩa bành trướng trên biển và các hành động bắt nạt của Trung Quốc đang buộc Việt Nam phải hànhđộng. Quả thật, nếu không đứng lên chống lại sự đe dọa của Trung Quốc,  không chỉ chủ quyền ở Biển Đông mà cả an ninh năng lượng và sự thịnh vượng kinh tế về lâu dài của Việt Nam cũng sẽ bị đe doạ.

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Friday, January 11, 2019

VĂN HOÁ LUÔN CHỐNG LẠI KHUYNH HƯỚNG BẠO LỰC

LỜI TOÀ SOẠN : TRONG CUỘC SỔNG HIỆN NAY CÓ THỂ NÓI LÀ ĐANG CÓ HIỆN TƯỢNG BẠO LỰC QUÁ NHIỀU. MỘT BỘ PHẬN MANH ĐỘNG KHÔNG KIỂM SOÁT ĐƯỢC HÀNH VI DẪN ĐẾN BẠO LỰC TỪ TRONG GIA ĐÌNH ĐẾN NGOÀI XÃ HỘI, TRONG PHAM VI CÁ NHÂN ĐẾN QUY MÔ CỘNG ĐỒNG KỂ CẢ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ. VẬY BẢN CHẤT CỦA BẠO LỰC LÀ GÌ ? LÀM SAO ĐỂ CÓ THỂ GIẢM THIỂU BẠO LỰC TIÊU CỰC ĐỂ CHO CUỘC SỐNG HOÀ BÌNH HƠN, YÊN LÀNH HƠN, ĐỂ CHO CÁC MỐI QUAN HỆ TỐT ĐẸP HƠN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN ? ĐÓ LÀ NỘI DUNG CUỘC TRAO ĐỔI GIỮA NHÀ BÁO PHAN VĂN THẮNG VÀ NHÀ VẬT LÝ, NHÀ VĂN TIẾN SĨ KHOA HỌC TRẦN XUÂN HOÀI, BÚT DANH TRẦN GIA NINH .
PHAN VĂN THẮNG:Thưa ông, tôi vừa đọc cuốn sách Hành trình số phận dân tộc – đất nước – con người của ông và bất giác nghĩ đến câu chuyện hay đúng hơn là vấn đề bạo lực. Số phận của dân tộc ta, đất nước ta, xét đến cùng đã phải chịu đựng rất nhiều bạo lực từ nhiều thế lực khác, các quốc gia dân tộc khác. Văn hóa dân tộc cũng vậy. và số phận mỗi con người, trong có chúng ta cũng vậy, rất nhiều lần lần phải chịu đựng bạo lực.
Và hôm nay, không còn hồ nghi gì nữa mà là rõ ràng rằng, bạo lực đang tràn lan với vô vàn kiểu dạng trong bất cứ không gian của đời sống xã hội. Đến như nhà trường, tưởng chừng là nơi an toàn nhất mà học trò vẫn còn bị thầy cô bạo lực và thầy cô cũng bị học trò bạo lực.
Bạo lực có từ lúc nào? Nó đến từ đâu? Tôi biết có rất nhiều lời giải cho câu hỏi này, tùy vào vị trí, cách tiếp cận của mỗi người, mỗi ngành khoa học. Còn ông, ông nghĩ sao?

TRẦN GIA NINH: Tôi thường tự hỏi về sự liên quan giữa số phận của từng cá nhân, với số phận của đất nước và của dân tộc. Số phận đó có thể là do lịch sử tạo nên, có thể là do hoàn cảnh xô đẩy, do sự lập trình của tạo hóa…,Và tôi nghiệm ra rằng ngoại trừ một vài hoàn cảnh bất khả kháng, còn phần lớn là do chính con người chúng ta tạo nên nghiệp chướng cho chính mình và con cháu. Trong suốt hành trình số phận đó, có một cái gì đó luôn áp đặt lên dân tộc, đất nước , con người Việt chúng ta, mà như nhà báo nói, có thể đó là bạo lực dưới mọi hình thức cuả người với người,(người ở đây xin hiểu là cộng đồng hoặc cá thể) luôn luôn hiện diện. Nhưng câu hỏi của nhà báo đặt ra vấn đề về bạo lực là cả một phạm trù triết học quá lớn, đầy tranh cãi, làm sao có thể trả lời trong vài dòng ngắn gọn đươc. Tuy vậy tôi sẽ cố nói vài dòng, tất nhiên là không đầy đủ.
Bạo lực là từ Hán-Việt 暴力, tương đương насилие trong tiếng Nga , còn trong các ngữ hệ Latin thì tùy theo ngữ cảnh có hai từ là Violence,Power (tiếng Anh); Gewalt, Herrschaft (tiếng Đức) tiếng Latin là hai từ potentia, potestas.
Khái niệm về bạo lực biến đổi theo bối cảnh lịch sử và xã hội. Và nó cũng được định nghĩa và phân biệt khác nhau trong mỗi phạm vi mà nó được xem xét, như xã hội học, luật học, chính trị học…Về xã hội , bạo lực là một trong những cội nguồn của quyền lực. Nghĩa đen được hiểu là việc thực thi sự cưỡng bức bất hợp pháp. Luật dân sự cũng như hình sự đều đặt nền tảng trên việc cấm bạo lực.
PHAN VĂN THẮNG: Quyền lực có phải là cha đẻ ra bạo lực không?
TRẦN GIA NINH: Vâng, trong triết lý luật pháp thì bạo lực được hiểu như là quyền lực hay sự thống trị , mà ngôn ngữ triết học bằng tiếng Đức gọi là Macht hay Herrschaft (các triết gia kinh điển như Kant, Hegel, Feuerbach, Marx, Engels…đều dùng tiếng Đức)
PHAN VĂN THẮNG : Nguồn gốc bạo lực có mỗi thời một khác không ông? Tại sao vậy?
TRẦN GIA NINH: Nhà văn Đức H.M. Enzensberger đã nhận xét rất chí lý rằng: “Con người là loài linh trưởng duy nhất đã thực hiện việc giết hại đồng loại một cách hăng say, có kế hoạch, với phạm vi và số lượng lớn. Chiến tranh là một trong những phát kiến quan trong nhất của con người.” ( Der Mensch ist der einzige unter den Primaten, der die Tötung seiner Artgenossen planvoll, in größerem Maßstab und enthusiastisch betreibt. Der Krieg gehört zu seinen wichtigsten Erfindungen.).
Tôi nghĩ, nguồn gốc của bạo lực tự cổ chí kim có lẽ cũng gần nhau, chỉ khác ở cách thức và mức độ thực hiện mà thôi. Có nghĩa là tôi chia sẻ với ý kiến nói trên.
PHAN VĂN THẮNG: Còn bạo lực trong xã hội hiện đại ngày nay, nó thường xuất phát từ đâu?
TRẦN GIA NINH: Tất nhiên là từ con người và từ cách tổ chức của các cộng đồng người. Theo tôi nghĩ thì còn do sự biến đổi của tập tục, nền tảng văn hóa nữa. Mà trong xã hội ngày nay thì sự biến đổi đó càng diễn ra nhanh chóng và mãnh liệt hơn. Thêm nữa, dù sao thì cộng đồng con người cũng cần có một đức tin nào đó dẫn dắt. Các đức tin mang tín tôn giáo tín ngưỡng ở một số thể chế đã bị phá hủy (ngầm hay chính thức). Các đức tin phi tôn giáo lại quá bạo lực, mang tính lật đổ cái cũ mà lại không có cái mới đủ thay thế. Mất niềm tin thiện lương, xã hội ngày nay dễ là nơi dung dưỡng cho các hành xử bạo lực.
PHAN VĂN THẮNG: Ông có biết xưa nay các khoa học phân loại bạo lực như thế nào không?
TRẦN GIA NINH: Theo Xã hội học thì bạo lực là một cội nguồn của quyền lực . Theo nghĩa hẹp thì được hiểu đó là việc thực hiện hành vi áp bức bất hợp pháp.
Trong luật pháp học thì bạo lực đồng nghĩa với quyền lực (Power-tiếng Anh, Macht- tiếng Đức, Potentia-tiếng Latin) hoặc sự thống trị (Herrschaft-tiếng Đức, Potestas-tiếng Latin).
Tổ chức y tế thế giới (WHO-2002) thì định nghĩa bạo lực theo nghĩa cụ thể hơn: Bạo lực là việc sử dụng hoặc có ý định sử dụng sức mạnh hay quyền lực thể chất hoặc tinh thần đối chính mình hoặc với người khác, với một nhóm hay với một cộng đồng mà gây nên hoặc có khả năng cao gây nên chấn thương, chết chóc, tổn thương tâm lý, tổn hại đến sự phát triển hoặc tước đoạt tinh thần.
PHAN VĂN THẮNG: Bạo lực tập thể và bạo lực cá nhân, loại nào chi phối loại nào?
TRẦN GIA NINH: Rất khó để có thể trả lời rõ ràng câu hỏi này. Đành mượn lời Nhà văn kiêm triết gia Heinrich Popitz đã viết trong quyển “Các hiện tượng của quyền lưc”: “ Con người không hề bị buộc phải nhưng lại luôn có thể hành xử bạo lực, không bị bắt buộc phải nhưng lại luôn có khả năng sát nhân. Bạo lực nói chung và bạo lực chết người nói riêng không thuần túy là một tai nạn của quan hệ xã hội, không phải là một ngoại lệ của trật tự xã hội và cũng không phải chỉ là một trường hợp đặc biệt hoặc hiếm hoi có thể xẩy ra trong xã hội. Bạo lực trên thực tế luôn luôn hiện diện như là một trong những phương án hành xử của nhân sinh. Không có trật tự xã hội toàn diện nào hoàn toàn dựa trên tiền đề của bất bạo lực. Quyền lực sát nhân và sự bất lực của nạn nhân là những yếu tố quyết định tiềm ẩn hoặc hiển hiện cấu trúc của xã hội chung sống.”
(Heinrich Popitz: Phänomene der Macht. Tübingen 1986, S. 68–106)
PHAN VĂN THẮNG: Ông sợ một ai đó hành hung mình hơn hay sợ đốt sách của mình hơn? Hay nói cách khác là ông sợ bạo lực thể xác hay là bạo lực tinh thần hơn?
TRẦN GIA NINH:Đốt sách thì thời buổi 4.0 này làm thế nào đốt nổi, nhất là với những kẻ am hiểu ICT như bọn tôi. Chỉ sợ là sách mình viết chẳng hay, chẳng có nội dung gì đáng giá, chẳng có ai thèm đọc thôi. Vì vậy đốt sách thời nay không phải là cách bạo lực tinh thần có hiệu lực như ngày trước. Ngày nay thì nhân danh gì đó để tước quyền tự do, quyền con người dưới mọi hình thức tinh thần hay thể xác thì quả thật mới rất đáng sợ . Nói dân dã là sợ nhất “bạo lực đúng quy trình”.
PHAN VĂN THẮNG: Trong xã hội, bạo lực chính trị, bạo lực kinh tế hay bạo lực quân sự là thống lĩnh?
TRẦN GIA NINH:Bạo lực chính trị là của thể chế, của ý thức hệ, là sự chiếm và duy trì quyền cai trị bằng bạo lực của một nhóm người. Bạo lực chính trị dẫn đến bạo lực xã hội, quan hệ giữa người và người về mọi mặt đạo đức, văn hóa, đời sống. Bạo lực chính trị có thể trực tiếp thực thi các hành động bạo lực kinh tế, ví dụ như tước quyền tư hữu chẳng hạn hay các chính sách ngu dân hóa để cai trị. Dân ta có câu “dân ngu dễ trị, vợ đần dễ sai” , thật là chí lý. Nó còn được thực thi gián tiếp như hành động bảo kê, phe nhóm, tham nhũng hối lộ. Bạo lực chính trị còn dẫn đến bạo lực quân sự nội bộ và cũng là một trong những nguyên cớ để gây nên bạo lực quân sự giữa các quốc gia.
Như vậy thì bạo lực chính trị là thống lĩnh rồi, còn phải bàn cãi gì nữa.
PHAN VĂN THẮNG: Về phương diện xã hội, hay là quốc gia dân tộc, và cả ở cấp độ cá nhân nữa, tôi nghĩ văn hóa cũng là một mục tiêu tấn công của bạo lực. Vậy văn hóa có lúc nào là phương tiện hành sự bạo lực của kẻ có quyền lực không, thưa ông?
TRẦN GIA NINH: Chẳng những là mục tiêu mà còn là mục tiêu ưa thích, dễ tấn công hiệu quả nhất của bạo lực chính trị và kinh tế. Chiến tranh đúng là có hủy hoại nhiều chứng nhân, di sản văn hóa vật chất, nhưng khó mà phá hủy được nền văn hiến của dân tộc. Chỉ có chính con người mới làm tan nát nền văn hiến bằng một sự chấp nhận bị cai trị dai dẳng của bạo lực chính trị ngoại lai, thiếu sáng suốt và thiện tâm . Không nói đâu xa, Nhà báo có thấy di sản văn hóa, chùa chiền, truyền thống văn hiến của bao gia tộc Nghệ Tĩnh đâu có phải chỉ bị hủy hoại bởi chiến tranh mà chủ yếu bị làm cho tan nát bởi một giai đoạn ấu trĩ, ngoại lai (1953-1956) và tàn dư sau đó dai dẳng đến tận bây giờ. Kinh tế suy thoái thì luôn luôn có thể thoát ra được, ngắn hạn thôi. Còn văn hóa mà suy thoái thì biết bao giờ mới vực dậy được, nó sẽ dẫn tới sự suy vong của dân tộc, sự sụp đổ của quốc gia.
Văn hóa cũng là một phương tiện bạo lực (tinh thần) được các thế lực sử dụng để tấn công vào văn hóa. Ví dụ như dùng văn hóa vô thần để tấn công vào tôn giáo, tín ngưỡng; dùng một tôn giáo này để tấn công , phá hủy một tín ngưỡng khác. Nhưng có lẽ việc dùng một hệ thống chính sách giáo dục ngu dân, phi nhân bản để áp đặt lên xã hội là một cách tấn công tai hại nhất, hậu quả lâu dài, phá hủy hiện tại và tương lai cả một dân tộc về mọi phương diện.
PHAN VĂN THẮNG: Tuy nhiên, nếu nhìn ở một hướng khác, nói về vai trò, về chức năng của văn hóa, liệu nó có vai trò gì trong các cuộc xung đột hay là hành trình của bạo lực? Nó có phải là bộ giảm xóc, hạn chế bạo lực? 
TRẦN GIA NINH: Tất nhiên rồi. Xưa nay văn hóa luôn chống lại khuynh hướng bạo lực. Chiến thắng của bạo lực về nguyên tắc là ngắn hạn. Ngay như chiến thắng về quân sự , xâm chiếm được một quốc gia, cai trị được một dân tộc, nhưng nếu dân tộc bị thua trận có nền năn hóa cao hơn thì cuối cùng lại chiến thắng. Tộc người Nữ Chân (Mãn Thanh) xâm chiếm cai trị Trung Hoa hơn ba trăm năm, nay chỉ còn lại vài ba chục người biết nói tiếng Mãn, toàn bộ tộc Nữ chân coi như bị xóa sổ. Cường quốc của các chiến binh Sparta chiến thắng khắp nơi ở Nam Âu, Cận Đông, Bắc Phi cuối cùng cũng bị tiêu vong không dấu vết ! Nước Việt ta trải ngàn năm bị thống trị, đồng hóa bởi Trung Hoa mà vẫn tồn tại độc lập đến ngày nay, chắc không phải là người Việt chỉ giỏi trận mạc, mà chủ yếu vì nền văn hóa Lạc Việt, nơi ngưng tụ cuối cùng của tinh hoa văn hóa Bách Việt, là ngang ngửa, nếu không nói là hơn, so với phương Bắc.
PHAN VĂN THẮNG: Không bao giờ có thể triệt tiêu được bạo lực khi còn quyền lực, khi còn sự phân hóa trong xã hội. Vấn đề là làm như thế nào để giảm thiểu bạo lực tiêu cực và những hậu quả nó gây ra. Tôi nghĩ vậy có gì khác ý ông không?
TRẦN GIA NINH: Vâng, quyền lực và bạo lực luôn song hành, quyền lực tạo ra bạo lực và ngược lại. Ai đó đã nói “súng đẻ ra chính quyền” mà! Nhưng không thể ảo tưởng là có thể triệt tiêu được quyền lực trong xã hội. Cái khác nhau là tổ chức quyền lực (tức là sự cai trị/quản trị cộng đồng) như thế nào thôi. Trong bài diễn văn tại Gettysburg (1863) A. Linkoln đã tuyên bố “ … chính quyền này của dân, do dân, vì dân sẽ không lụi tàn khỏi mặt đất.”( that government of the people, by the people, for the people, should not perish from the earth.”. Từ 1992, Hiến pháp Việt Nam cũng có tuyên ngôn tương tự rằng “Nhà nước CHXHCN VN là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”. Chỉ khác nhau là Tổng thống A.Lincoln nói về chính quyền, còn hiến pháp VN đổi chính quyền thành nhà nước. Chính quyền là một thực thể rất cụ thể, thống nhất về cách hiểu cho mọi thể chế trên thế giới. Còn khái niệm Nhà nước lại khá trừu tượng, nên có nhiều cách hiểu khác nhau và không thống nhất. Theo công ước quốc tế Montevideo (1933): Nhà Nước với tư cách là một pháp nhân của pháp luật quốc tế cần phải bao gồm những thành tố sau đây : có một lãnh thổ xác định, một tập hợp dân chúng định cư, một chính quyền và có khả năng tham gia vào các mối quan hệ với các nhà nước khác (The state as a person of international law should possess the following qualifications: a permanent population; a defined territory; government; and capacity to enter into relations with the other states.). Theo cách định nghĩa này thì cư dân (nhân dân) là một thành phần của nhà nước. Và chính quyền là một bộ phận quản trị của nhà nước do dân lập nên, đúng như tuyên bố về chính quyền của A.Lincoln. Còn thay “chính quyền” thành “nhà nước” thì vô nghĩa với định nghĩa này.
Một định nghĩa khác của nhà nước (tiếng Nga : государство) cũng rất thông dụng, rằng “Nhà nước bao giờ cũng là một bộ máy nhất định, nó tự tách ra từ xã hội và gồm một nhóm người chỉ chuyên hay chủ yếu chỉ chuyên làm công việc cai trị. […]Nhà nước là một bộ máy dùng công cụ chính trị của mình để duy trì sự thống trị của một giai cấp này đối với giai cấp khác. […]Nhà nước là một bộ máy để cho giai cấp này áp bức giai cấp khác, một bộ máy dùng để duy trì dưới sự thống trị của một giai cấp tất cả các giai cấp bị lệ thuộc khác “ (hết trích dẫn) (V.I. Lenin: Bài giảng đọc tại trường đại học xvéc-đlốp (ngày 11 tháng bảy 1919). Đăng lần đầu tiên trên báo "Sự thật", số 15, ngày 18 tháng Giêng 1929. Link:https://www.marxists.org/vietnamese/lenin/1919/jul/11.htm)
Theo định nghĩa này thì nhân dân không nằm trong nhà nước , mà là đối tượng của nhà nước. Tuyên ngôn của hiến pháp Việt Nam về nhà nước CHXHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là sự vận dụng sáng tạo định nghĩa về nhà nước (của Lenin) nói trên.
PHAN VĂN THẮNG : Vậy theo ông, làm như thế nào để giảm thiểu bạo lực trong đời sống xã hội chúng ta hôm nay một cách triệt để nhất, hiệu quả nhất, hòa bình nhất?
TRẦN GIA NINH: Như nhà báo đã thấy, định nghĩa nói trên về nhà nước mà VN chúng ta đã và đang thừa nhận và áp dụng mang đậm màu sắc bạo lực quá. Nó có tác dụng quyết định trong các hành xử bạo lực vĩ mô (tổ chức, cộng đồng, văn hóa, xã hội…) và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến hành xử bạo lực vi mô (cá nhân với cá nhân). Để giảm thiểu thì ai mà chả biết , giống như chữa bệnh, phải sửa tận cái gốc như đã nói trên thôi, chứ có cách nào khác đâu.
Tôi muốn nói thêm về phương diện bạo lực vi mô (giữa người với người trong diện hẹp) thì khuôn mẫu Khổng giáo mà ta bị ảnh hưởng tuy có điều hay nhưng cũng khá nhiều tiêu cực. Ví như vắn tắt dạy đàn ông thì phải “ Tu thân 修身 , Tề gia 齊家, Trị quốc 治國, Bình thiên hạ平天下 ”. Mấy ai, ngoài các nhà nho uyên thâm, đã có thể đọc để hiểu cặn kẽ sách Đại Học 大學 của Khổng giáo một cách toàn diện nói về nội dung này , còn đa phần thì người đời lõm bỏm chỉ có thể (và thực sự đã ) luận rằng hai chức trách trị quốc và bình thiên hạ thì rõ ràng là phải dùng bạo lực. Còn chức trách tề gia cũng có dính bạo lực không kém, nhưng được ngụy trang khôn khéo. Một người đàn ông được coi là đã tề được gia, đồng nghĩa phải thực thi tính gia trưởng, tức là phải dùng bạo lực (thể chất và tinh thần) để dạy vợ bảo con , là thực thi bất bình đẳng với phụ nữ và đàn áp chính kiến của con trẻ. Trong nhà đã bạo lực, ra ngõ thì lẽ tất nhiên cũng chẳng kém được. Và rất nhiều người không lo tu thân vì khó quá, kết quả là dù biết mình bất tài nhưng chỉ lo tìm đường trị quốc với bình thiên hạ bằng mọi mánh khóe , dựa dẫm quyền lực để leo lên đầu thiên hạ, kết quả là tạo nên một chính quyền bất tài bạo lực, bóp nghẹt và kìm hãm nhân tài thực sự, đưa dân tộc và đất nước suy sụp đến mức không còn dám ngửng đầu với thiên hạ nữa. Tiếc thay cả vĩ mô và vi mô , khuynh hướng bạo lực đồng hành cùng nhau như thế mà ngày nay vẫn được tôn sùng, truyền bá với kỹ thuật truyền thông hiện đại để chúng cộng hưởng với nhau, thì xu hướng bạo lực không tăng mới là chuyện lạ!
PHAN VĂN THẮNG: Và về phương diện quốc gia dân tộc, quốc tế, có cách gì để hóa giải bạo lực quốc tế?
TRẦN GIA NINH: Trước hết dân tộc phải mạnh về kinh tế và văn hóa. Một dân tộc như dân tộc Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để tự phát triển trong một môi trường phi bạo lực. Chưa cần biện pháp trợ giúp nào của Chính quyền cả, mà trước hết chỉ là cởi bỏ sự kìm kẹp, trói buộc do Chính quyền đã dùng quyền lực áp đặt lên nền kinh tế, văn hóa xã hội. Chỉ cần như thế là đã đủ để phát triển kinh tế và văn hóa, đủ tự tin để hòa giải dân tộc. Khi đã đủ mạnh về kinh tế và văn hóa, và dân tộc hòa giải, đoàn kết nhìn về một hướng thì mới hóa giải được bạo lực quốc tế đe dọa trực tiếp. Phải có đủ dũng khí và đủ sức để chọn bạn mà chơi. Nếu không thì chỉ có thể luẩn quẩn chọn chủ mà thờ , nghìn năm vẫn không thoát phận nghèo hèn. Đã nghèo và hèn thì nội bộ cắn xé lẫn nhau, nhà nước thì chỉ lo cai trị mà không phải là quản trị, nội bộ thì luôn mặc định địch ta, bạo lực luôn sẵn sàng thực thi thì tài thánh cũng chẳng có quốc gia nào , dân tộc nào phát triển được, cố lắm cũng không qua nổi cái bẫy thu nhập trung bình ! Khi mà nội bộ dân tộc không đoàn kết, nội bộ cắn xé nhau, trí thức ngoảnh mặt thì độc lập dân tộc cũng bị đe dọa. Hồ Nguyên Trừng, thời nhà Hồ, vương triều Đại Ngu hơn sáu trăm năm trước đã nói “ Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi!” (“胡元澄: 臣不怕戰,但怕民心之從違耳)
Hậu quả của một thời gian dài bạo lực chiến tranh đến bây giờ không còn là sự hủy hoại vật chất, mà là sự hủy hoại nền tảng văn hóa, nói nôm na là mất nết hết rồi. Đức tin để xoa dịu thù hận, hướng thiện và giúp nhau trong cộng đồng đã bị kỳ thị và xóa bỏ. Không có đức tin là rất nguy hiểm, man dã và bạo lực sẽ nẩy nở như nấm sau mưa. Tôi vẫn biết K.Marx đã viết “…Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sanh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim, và là linh hồn của trạng thái không có linh hồn, nó [ tôn giáo] là thuốc phiện của nhân dân”( “Religion is the sigh of the oppressed creature, the heart of a heartless world, and the soul of soulless conditions. It is the opium of the people”. Nhưng tôi vẫn nghĩ , các dạng thức Đức tin đối với dân tộc VN lúc này cần phải coi là rất thiết yếu. Có thể nhà báo không đồng ý, nhưng quan điểm của tôi , đức tin là thuộc về văn hóa tinh thần.
PHAN VĂN THẮNG: Câu hỏi cuối, hơi ngô nghê, rằng, có loại bạo lực nào có ý nghĩa hay là giá trị văn hóa không, thưa ông?
TRẦN GIA NINH: Tôi không phải là tín đồ thiên chúa giáo. Nhưng thử ngẫm xem, bạo lực đối với Jesus Christ trên cây thập giá chẳng phải đã trở thành biểu trưng có ý nghĩa to lớn về văn hóa đó sao? “Mặt trời ngưng sáng. Bức màn trong nhà thờ bị xé làm hai ngay chính giữa. Đức Jesu kêu lớn: Lạy cha, con xin giao thác linh hồn con trong tay Cha!. Nói xong ngài trút linh hồn” (Luca 23,24. Tân Ước)
PHAN VĂN THẮNG: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi.
copy từ FB-
Aiviet Nguyen

Tuesday, January 1, 2019

Việt Nam chỉ cần một trong ba chữ

Tôi có ông anh, bạn vong niên, hơn gần chục tuổi, rất giỏi chuyên môn, chí lớn, không thiếu mưu mẹo và kiên nhẫn vì người khác. Nhưng nghiệp làm quan lận đận, mặc dù, BCT, TBT thời nào cũng biết mặt biết tên, cũng có luận thuyết sắc bén, nói củ cải cũng nghe.
Có lần anh nói với tôi: anh đi xem tướng, thầy bảo anh cái gì cũng hay, chỉ thiếu ba cái. Tôi hỏi anh đó là cái gì, biết đâu tôi có, xin biếu anh, biết đâu sau này có lúc mượn oai hùm. Anh nói: thầy bảo anh chỉ cần mắt tròn, sâu và to ra, mũi cao và nở ra, miệng rộng và dày hơn. Thấy tôi cười, anh hỏi tôi: mày biết gì mà cười. Tôi mới nói: anh ơi, chỉ cần được 1 cái là đủ làm quan to, cần gì cả ba, mà cũng chẳng cái anh có sẵn. Anh thấy ai mắt phượng mũi tẹt, hay mũi rồng mắt lươn bao giờ chưa. Chắc cũng chẳng có miệng hùm, tai chuột. Cuối cùng tướng cũng chẳng lại với số, xem bao thằng làm to tướng mạo có khác gì ông xe ôm.
Nói về Việt Nam cần gì nhất, nói cho ngắn, cho vuông. Tôi nghĩ chỉ có 3 chữ cần nhất: thực tâm, lý trí và hòa mục. Nói là 3, nhưng tùy hoàn cảnh khả năng chọn đại một cái làm cho hết nhẽ đủ đổi số phận. 
1. Thực tâm: Có anh hỏi tôi muốn phát triển khoa học công nghệ phải làm gì. Tôi nói có ba chữ thực. Trước tiên là "thực lòng muốn phát triển", sau đó "nhìn thẳng vào thực tế" rồi "hành động thực sự". Nói cho cùng vẫn thực tâm là gốc. Người Việt nói vậy mà không phải vậy, chém cho vui cho đủ lệ bộ, biểu diễn. Biết khoa học công nghệ để làm cóc khô gì mà nói ưu tiên phát triển. Vậy là không thực lòng muốn làm. Không thực lòng muốn làm thì hành động như chuồn đạp nước, làm láo báo cáo sẽ láo làm sao biết thực tế. Khoan hãy nói làm gì. Làm gì cũng được, nhưng hãy chọn cái gì thực tâm muốn làm. Người Việt uống rượu, hưởng lạc cũng không thực lòng, có biết rượu ngon, chơi sướng là gì đâu. Rượu Henessy, Martel, Couvoisier uống mỗi người cả lít với lòng lợn chấm mắm tôm cho là sang chảnh. Làm nhục rượu thì đúng hơn. Chẳng qua là uống cho người khác thấy vờ kêu ngon, kêu sướng. Chuyện nhỏ suy ra chuyện lớn. 
2. Lý trí: Cái lộn tiết nhất của mọi lý sự, công luận, phân xử, quốc sách Việt Nam là một mớ cảm tính, không có đường lối, hệ thống gì. Không cứ dân thường mà đại trí thức cũng không biết thị phi phải trái, cứ lấy cảm xúc, thói quen thay suy luận. Nói chuyện lý với mấy ông trí thức Việt không bao giờ đến đầu đến đũa. Lý lẽ rát họng không bằng tỉ tê phỉnh phờ. Còn cãi lý thì như cóc bỏ đĩa, đang nói chuyện nọ, xọ sang chuyện kia, như trẻ con lên ba. Cảm tính là do kém phát triển. Nhưng ta tuy kém về lý trí nhưng lại rất mưu mẹo. Thấy xảo biện, xảo hành thì cũng thông minh ra phết. Cuối cùng mưu mẹo ngắn như đánh cờ chộp, tính nước một hay hết nhẽ, cuối cùng vẫn rơi vào bẫy của bợm già. Đó là vì không biết phải trái, chỉ biết hơn thiệt trước mắt. Suy cho cùng tính ngắn cũng do không thực lòng làm bất cứ cái gì.
3. Hòa mục: Người Việt là giống người kỳ thị nhất thế giới. Trong tâm lý kỳ thị vừa có cái kiêu ngạo nhưng vừa có cái tự ti: cho dù muốn bắt chước như người ta cũng không làm được. Thành thử chuyện 2 X 2 là 4 thế giới người ta làm mãi, ở Việt Nam vẫn phải tranh cãi. Đến nỗi, cãi nhau luôn cả chuyện Tây, Tàu làm thế nào, ý gì quên cả vấn đề chính là mình phải làm thế nào. Tôi nghĩ, đã kém suy nghĩ, không biết thị phi, lười biếng, không thật lòng, trước tiên ta cứ hội nhập, chịu lép vế một chút mà học. Làm việc với Tây, cuối cùng thì cũng phải lý trí và làm cho ra kết quả. 
Ước gì sáng mai ngủ dậy, người Việt đột biến, nói và làm cái gì cũng thực lòng.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Saturday, August 4, 2018

ÔNG LÝ QUANG DIỆU NÓI VỀ NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA VN

Ông Lý Quang Diệu là người nhìn thấy những vấn đề của VN: Tuy có nhiều nhân tài, vị thế và tài nguyên nhưng bị kìm hãm bởi cơ chế và khả năng hạn hẹp của những người cầm quyền nên không thể phát triển với tiềm năng vốn có.
Tôi cũng từng nghe nhiều người đứng đầu các cơ quan, chính quyền ở VN nói "thắng MỸ được thì không gì là không thể đối với VN".
Thực tế của Singapore và VN đã cho thấy ai là người lãnh đạo thành công, và ai là những người từ "thắng cuộc" đang trở thành "thua cuộc" ngay trên đất nước mình.


Ông Lý Quang Diệu nói, lãnh đạo VN cho rằng họ đã đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ thì rồi việc gì khó đến đâu họ cũng sẽ làm được, rằng họ muốn tôi góp ý kiến để họ chứng minh đường lối xây dựng CNXH theo chủ nghĩa Mác Lênin là hoàn toàn đúng đắn và để làm gương cho nhiều nước khác .
********
Ông Lý Quang Diệu (Nguyên thủ tướng Singapore) đã từng góp ý cho thủ tướng Võ Văn Kiệt!
(Nguồn Fb: Gs Nguyễn Đình Cống)
*********
Hỏi : Được biết, vào tháng 11 năm 1991, sau khi ngài đã thôi chức thủ tướng, ông Võ Văn Kiệt có mời ngài làm cố vấn kinh tế cho chính phủ Việt Nam. Xin cho biết ngài đã góp được những ý kiến gì.
Trả lời : Tháng 11 năm 1991, ông Võ Văn Kiệt, với tư cách thủ tướng chính phủ Việt Nam sang thăm Singapore. Trước đây ông Phạm Văn Đồng làm cho tôi quá thất vọng thì nay ông Kiệt làm cho tôi hy vọng. Ông Kiệt có lời mời tôi làm cố vấn nhưng tôi chưa dám nhận lời, hẹn sẽ sang Việt Nam khảo sát tình hình và sẽ trao đổi. Tháng 4 năm 1992 lần đầu tiên tôi đến Hà Nội, làm việc với ông Kiệt. Ban đầu ông Đỗ Mười,Tổng bí thư đảng định không tiếp , vẫn nghĩ tôi là tên chống cộng hèn hạ, nhưng sau khi biết các nội dung tôi trao đổi với ông Kiệt là thiện chí thì ông Mười đồng ý tiếp, bên ngoài tỏ ra thân mật, vui vẻ. Tháng 10 năm 1993 ông Đỗ Mười sang thăm Singapore thì đã có thái độ thân thiện và sau đó Hà Nội đã cho dịch và phát hành Tuyển tập các bài chính luận của tôi . Tôi còn đến Việt nam 3 lần nữa vào năm 1993, 1995, 1997.
Về việc góp ý kiến cho vua chúa hoặc cho những người lãnh đạo đất nước. Tôi thấy có 2 loại chính. Loại 1 là thuyết khách kiểu như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Chuy … trong lịch sử Trung quốc. Loại này có mục đích tiến thân nên phải tìm cho được điều vua chúa thích nghe để nói cho lọt tai. Loại 2 là các cố vấn, họ ít quan tâm đến điều các đối tượng thích nghe mà tập trung vào những kế sách có nhiều hiệu quả, đó là những mưu lược thể hiện tài năng và ý chí của họ.
Các ông lãnh đạo của Hà nội muốn đồng thời phát triển kinh tế thị trường, mà lại phát triển cho nhanh, bất chấp sự bảo vệ môi trường, vừa phải giữ nguyên đường lối chuyên chính vô sản với chế độ đảng trị. Các vị cho rằng họ đã đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ thì rồi việc gì khó đến đâu họ cũng sẽ làm được, rằng họ muốn tôi góp ý kiến để họ chứng minh đường lối xây dựng CNXH theo chủ nghĩa Mác Lênin là hoàn toàn đúng đắn và để làm gương cho nhiều nước khác .
Tôi biết nếu góp ý thẳng thắn ngay họ sẽ không nghe, nên ban đầu tôi phải tỏ rõ thiện chí bằng cách bỏ ra một số tiền kha khá để viện trợ, để đầu tư một số cơ sở sản xuất, sau đó mời một số nhà lãnh đạo Việt Nam sang khảo sát tận nơi cách làm của chúng tôi để tham khảo được gì thì được. Sau ông Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt thì các ông Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Nguyễn Phú Trọng đã lần lượt sang Singapore. Tuy các ông có thăm nhiều nơi, nghe nhiều bài giới thiệu nhưng hầu như không tham khảo được gì. Điều các ông muốn học và làm cho đến nay nhân loại chưa có ai biết, chưa có ai làm được, đó là phát triển kinh tế thị trường trong chế độ vô sản chuyên chính, theo Chủ nghĩa Mác Lênin, hoặc là “ Kinh tế thị trường định hướng XHCN”.
Cũng đến lúc phải nói ý kiến của mình, tuy biết rằng những góp ý đó hoàn toàn ngược với lòng mong muốn của họ. Tôi cho rằng kinh tế thị trường và thể chế chính trị vô sản chuyên chính là mâu thuẩn nhau, không thể dung hòa. Nếu cứ cố gán ép hai thứ đó với nhau thì sẽ sinh ra một xã hội rối loạn và thối nát, kiểu chế độ tư bản thời kỳ hoang dã. Vô sản chuyên chính sẽ không phát huy được mặt tích cực của kinh tế thị trường mà càng làm tăng thêm mặt tiêu cực, làm trầm trọng thêm các nhược điểm thối tha của nó. Kết hợp kinh tế thị trường với chuyên chính vô sản sẽ đẻ ra tham nhũng trầm trọng và rộng khắp, đẻ ra tệ nạn mua bán quan tước, sẽ làm xuống cấp đạo đức và giáo dục, sẽ làm phát triển tệ nạn dối trá từ trên xuống dưới, thế mà kết quả chẳng phát triển kinh tế được bao nhiêu.
Sau sửa sai 1986 mà Việt Nam nhận nhầm là đổi mới, kinh tế có phát triển, mặc dù phát triển với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 8%, nhưng đó là chỉ là tăng trưởng do người dân được cởi trói chứ chưa phải do lao động sáng tạo và công nghệ cao, chưa phải do nền kinh tế tri thức. Hơn nữa đó là sự phát triển nóng dựa vào khai thác cạn kiệt tài nguyên, vay nợ, lao động đơn giản. Trong sự phát triển vội vàng dễ gặp phải việc tàn phá thiên nhiên và làm ô nhiểm môi trường, có được chút lợi trước mắt mà để tai họa nặng nề cho hậu thế. Tôi có góp ý về sự “ Phát triển bền vững”, lãnh đạo Hà Nội có nghe, có nhắc lại nhưng hình như chỉ nói cho qua chuyện. Việc Việt Nam phát triển kinh tế trong khoảng mười năm sau 1986, đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói đã làm mờ mắt, làm tối lòng một số lãnh đạo, họ tưởng nhầm là nhờ tài năng của họ, là nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác Lênin, mà không biết rằng thực chất là nhờ làm ngược lại chủ nghĩa đó, nhờ nhân dân được cởi trói một phần.
Việt Nam muốn cải cách và phát triển kinh tế theo thị trường, muốn hòa nhập với thế giới dân chủ thì trước hết cần cải cách nhà nước theo thể chế tam quyền phân lập, cần phải thật sự tự do tư tưởng, thật sự mở rộng dân chủ, đặc biệt dân chủ trong bầu cử để chọn được những người có tài năng, như thế mới có được những sáng tạo. Lãnh đạo ở Hà Nội chỉ muốn nghe thuyết khách loại 1, kiểu các chuyên gia của Liên xô và Trung quốc trước đây, mà tôi không thể nào làm được như họ. Tôi chỉ muốn và có thể làm cố vấn loại 2, trình bày trung thực quan điểm của mình. Tôi tuy có được lời mời làm cố vấn nhưng những điều tôi góp ý chẳng ai nghe. Tôi đành nói ý cuối cùng : Các ông không phải tìm mời cố vấn nước ngoài mà hãy tìm ở trong nước, người Việt các ông có nhiều người giỏi nhưng không được dùng đúng chỗ vì họ không thích hợp với chế độ độc tài toàn trị của các ông. Vì bất đồng ý kiến mà số thì bị bắt giam, số bỏ ra nước ngoài, số khác ôm hận chờ thời. Tinh hoa, hiền tài của đất nước phải được tập họp lại trong Quốc hội, trong các cơ quan nhà nước . Kinh nghiệm chủ yếu của Singapore là bộ máy hành chính nhà nước phải thật tinh gọn, muốn vậy phải chọn dùng được những người thật sự tài giỏi và liêm khiết. Khi nhìn vào Quốc hội của các ông chỉ thấy tính chất đại diện của nó chứ không thấy trí tuệ. Bộ máy của các ông gồm 3 tầng đè lên nhau gồm cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, ôm ấp lấy nhau, dẫm đạp lên nhau mà lại thiếu người giỏi và liêm khiết .
Năng suất lao động của Việt nam thuộc loại rất thấp mà năng suất trong công tác của chính quyền và Quốc hội của các ông lại càng thấp. Việt nam có câu thành ngữ “Ăn tàn phá hại”, câu ấy khá đúng cho đội ngũ quan chức các cấp của các ông từ cơ sở đến trung ương. Như thế thì dựa vào đâu để phát triển xã hội. Các nước dân chủ đều cho rằng động lực để phát triển xã hội phải dựa vào năng lực và trách nhiệm của 3 lực lượng chính là trí thức, doanh nhân và quan chức chính quyền. Cộng sản lại cho là dựa vào liên minh công nông, thế mà công và nông của các ông đang lao động cực nhục và sống lay lắt, trí thức các ông thì phần lớn hữu danh vô thực, doanh nhân còn yếu và bị chèn ép, quan chức nhà nước thì phần lớn nặng về tham nhũng và cửa quyền, yếu kém về trình độ và đạo đức. Các ông muốn phát triển đúng hướng thì phải thay đổi từ gốc rễ là nhận thức, là thay đổi thể chế.
Ông Lý cho biết quan hệ giữa ông và Hà nội có thân thiết được một thời gian, sau đó cả hai bên đều chán nhau vì “ đồng sàng dị mộng”, đặc biệt sau khi ông Võ Văn Kiệt nghỉ hưu thì quan hệ gần như quay về trạng thái “ bằng mặt mà chẳng bằng lòng”.
Tôi định nêu tiếp câu hỏi về ý kiến của ông đối với mong ước “ Thoát Trung” và con đường sắp tới mà dân Việt nên theo , nhưng đến đây ông Lý ra hiệu cuộc phỏng vấn đã khá dài, cần kết thúc và không hẹn gặp lại. Thật tiếc, nhưng biết làm sao.

Nguồn: Minds.com

Saturday, November 4, 2017

Hiện đại hóa nền hành chính

Gần đây các từ ngữ như Số hóa, Tin học hóa cải cách hành chính, Chính phủ điện tử,... đã không còn xuất hiện nhan nhản trên truyền thông, diễn văn của lãnh đạo, hội nghị hội thảo của các bộ ngành và các đoàn "tạp kỹ công nghệ-quản lý" tại các sự kiện lớn.
Chúng ta đã có nền hành chính hiện đại? Số hóa, tin học hóa và Chính phủ điện tử đã hoàn thành? Hoặc giả chúng ta đã làm và hài lòng với mức độ đạt được. Xin thưa: không hề.
Chương trình Tin học hóa 112, tuy không tuyên bố công khai, nhưng thất bại thảm hại, những người điều hành trọng yếu đều sa vào vòng tù tội. Chương trình nói là chuyển giao cho Bộ Thông tin Truyền thông, nhưng đóng băng, nguyên trạng. Kinh phí bố trí hàng năm là để trả nợ chi phí viễn thông và duy trì hạ tầng. Các kết quả của 112 đã tiêu rất nhiều tiền đang trở thành mớ giấy lộn.
Chúng ta chưa hề có một chương trình, kế hoạch chính thức nào về Chính phủ Điện tử. Nhiều chuyên gia vẫn kêu gào số hóa để có thể ứng dụng CNTT so sánh được với các nước trên thế giới.
Một số nhà quản lý có xu hướng cho rằng, chúng ta đã làm tất cả những việc này tuy không có chương trình chính thức, và cũng tự an ủi là một chương trình đề án chính thức sẽ dẫm vào vết xe đổi của đề án 112. Họ có xu hướng đưa những hệ thống thông tin hiện đại, những server này, cơ sở dữ liệu kia, công nghệ nọ làm thành tích, coi đó là thành quả của những nghiên cứu, báo cáo, vận động, sự kiện giai đoạn trước. Tôi không nghĩ như thế. Đó là một sự phát triển tất yếu, hoang dã, không có định hướng và lãng phí.
Chương trình cải cách hành chính, cũng bỏ dở dang vì thiếu động lực và kết hợp chặt chẽ với tin học hóa. Chúng ta đã có một số thủ tục hành chính công được chuẩn hóa. Nhưng chỉ có vậy, không ai biết số lượng các thủ tục như vậy đã hợp lý chưa, không hề có hệ thống báo cáo theo dõi. Trong thực tế, người ta vẫn ứng dụng những quy trình, thủ tục quái đản do một ông thủ trưởng, một bà kế toán, một ông trưởng phòng tự nghĩ ra để hành nhân viên, đối tác và xã hội.
Người ta nói rằng chúng ta đã có giao dịch chính phủ điện tử cấp độ 3. Tôi nghĩ rằng, có thể chúng ta có một số chức năng cấp độ 3, những nhiều dịch vụ công chưa đủ các chức năng và chất lượng của cấp độ 1. Cần phải tính định tính xem các báo cáo thành tích có ý nghĩa gì. Tình trạng thỏa mãn hiện tại thực tế là trạng thái không có phương hướng, không chìa khóa (clueless). Đáng ra sau hơn 10 năm, chúng ta đã phải có một blue book về những gì chúng ta sẽ phải làm và trật tự thực hiện chúng. Chúng ta tiếp tục lãng phí rất nhiều tiền bạc và tiếp tục ca thán về việc không có kinh phí.
Có thể lấy một hình ảnh để minh họa: Mua một chiếc xe hơi deluxe là lãng phí (so với nhu cầu và so với chất lượng phục vụ chúng ta cung cấp cho xã hội). Nhưng mua một chiếc xe hơi chỉ có 3 bánh, không có vô lăng là lãng phí gấp bội. Thực tế chúng ta đã và đang mua sắm vô số xe hơi ba bánh không có vô lăng. Một trong các lý do là chúng ta chưa biết thế nào là kiến trúc một chiếc xe hơi. Xe hơi có thể không có chắn bùn, không kính, sơn loang lổ sứt sẹo, có thể không có điều hòa nhiệt độ, nhưng phải là một cái xe hơi chạy được. Chúng ta có thể bắt bỏ tù chủ đầu tư sắm một xe hơi cổ lỗ chạy được, nhưng hoàn toàn không có cơ chế trừng phạt thậm chí không biết các chủ đầu tư sắm xe hơi 3 bánh không vô lăng.
Đầu tư vào công nghệ thông tin thực tế chỉ là trang trí cho thủ trưởng, không dựa trên nhu cầu thật sự, do đó người ta không quan tâm tới chất lượng công trình. Giao thầu dự án là một cơ hội ngoại giao thể hiện lòng tốt, duy trì quan hệ của chủ đầu tư hoặc cấp quản lý ngân sách, gần như bố thí cho các nhà thầu. Để có được ân sủng, các nhà thầu phải "lại quả" tới 30-40% cũng là đúng logic "Không có bữa trưa miễn phí".
Chúng ta rất nhanh nhẹn nhận thức ra chính quyền kiến tạo, cách mạng công nghệ 4.0. Nhưng với hiện đại hóa nền hành chính, chúng ta đã chém gió rất nhiều và không làm gì cả, không có lý do gì để tin rằng chúng ta sẽ làm gì hơn việc chém gió. Ngày nay việc lỡ hẹn với việc hiện đại hóa nền hành chính công đang mang lại những hậu quả rõ nét mà có lẽ sẽ mất nhiều năm, nhiều tiền của để khắc phục.
Những đại án tham nhũng đang diễn ra mà chúng ta bắt buộc phải cho củi tươi vào lò, nếu phân tích kỹ tức là hệ thống quyết định có vấn đề một cách hệ thống. Chúng ta không thể ra quyết định tùy hứng, bốc thuốc, hoặc theo cảm tính cá nhân, dựa trên chỉ đạo bằng miệng. Ngân sách trống rỗng chúng ta mới nói tới cải cách về thuế và thu nhập, đáng lẽ phải nói tới quản lý chi tiêu công từ lâu. Hiện nay chúng ta lại có xu hướng đổ hết các chi tiêu lên đầu các doanh nghiệp, từ nghiên cứu khoa học, cứu trợ bão lụt, phát triển vùng sâu vùng xa, cung cấp dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục. Bộ máy quan liêu cồng kềnh, thiếu hiệu quả, ăn lương ngân sách ngày một phình to. Chúng ta đã không nghĩ tới việc tiết giảm quy trình, nâng hiệu quả bằng sử dụng công nghệ. Mỗi khi có phong trào cắt giảm là bộ máy hành chính lại phình to, các cơ quan hoạt động sự nghiệp đang làm việc thực sự lại teo tóp. Cắt giảm không có nguyên tắc nào chỉ làm hoạt động thiếu hiệu quả và sau "cơn mưa" các vị trí mới lại mọc lên như nấm. Trong khi đó các Viện, Trung tâm chỉ lèo tèo vài người giống hệt xe hơi không vô lăng.
Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72)

Monday, July 31, 2017

Singapore: Ghi chép tháng 7 (7)

Các bạn trở lại phần trước ở đây

(tiếp theo và hết)

Từ "thắng cuộc" đến "thua cuộc"

Giữ một vị trí quan trọng ở vùng Viễn Đông của châu Á, VN phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và giặc dã triền miên để dựng nước và giữ nước. Nhưng khác biệt lớn hơn của VN so với các nước khác là phải thích ứng với nghịch cảnh do không chỉ liên tục đối mặt/vật lộn với cái đói, sự dốt nát/lạc hậu mà còn bị kìm hãm/tàn phá bởi kẻ thù phương Bắc/tai ách truyền kiếp của dân tộc là TQ. Không chỉ thế, VN còn là một điểm nóng bất ổn do luôn bị các nước lớn xâm lăng về cả vũ lực và văn hóa, vì vậy, muốn tồn tại phải không chịu khuất phục. Truyền thống quý báu mang ý chí quật cường này đã trở thành di sản bất diệt của dân tộc. Đây là 1 điều may mắn được hình thành trên mảnh đất nằm ở một vị trí đầy thử thách đã hun đúc nên tính cách của dân tộc. Tuy nhiên, cùng với ý chí gan góc là vốn quý, người Việt lại không phát huy được lợi thế thông minh và cần cù vốn có của mình trong những khát vọng khám phá/sáng tạo để tập trung được nguồn lực vào mục đích xây dựng những cơ sở/nền tảng cho sự nghiên cứu và phát triển như những nước văn minh trên thế giới xưa nay. 

Những gì nêu trên đã thuộc về quá khứ, chúng ta phải viết thêm những trang sử mới, nhưng quá nhiều vấn đề xảy ra cho thấy đã có những sai lầm nghiêm trọng. Nếu nói đến những gì gây nên sự trì trệ/thất bại toàn diện trong thời gian gần đây (từ sau 1975) thì phải nhìn thẳng vào những nguyên nhân từ chính người Việt, do người Việt gây ra. Trước hết là từ hệ thống, từ tuyên truyền... từ "chủ nghĩa ngoại lệ" mà thực chất là trở thành gần như chư hầu (TQ +1)/lệ thuộc TQ cả về kinh tế và chính trị trong những năm qua.

Tất cả đều do những gì đã xây dựng lâu nay không nằm trên một nền tảng vững chắc nếu không nói là thiếu nền tảng, thiếu cơ sở kiến trúc, chỉ là một cấu trúc sơ khai từ những ý tưởng khởi đầu mà thôi. Nó không được tạo dựng trên một nền móng vững chắc của một thành trì kiên cố hình thành và tôn tạo bởi nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Đất nước Việt Nam bây giờ, cũng như Hà Nội theo nhận xét của một người nước ngoài, chỉ là một cái làng to, nơi một thời mà những lằn vạch trên đường và những trụ đèn có từ chế độ cũ nhưng chẳng ai theo; khi ra đường, tất cả đều chuyển động như một đàn kiến hỗn loạn, mạnh ai nấy chạy, chẳng theo một hệ thống/trật tự nào cả.


Có thể thấy hình ảnh minh chứng cho câu nói của Fidel: "Con người là sản phẩm của xã hội" ở khắp nơi. Trên những con đường trong thành phố là thói vượt đèn đỏ, bon chen/len lách... và ở những nơi khác là sự ích kỷ/vô tâm, tự do một cách tùy tiện (Ảnh chụp @ Sân bay Tân Sơn Nhất, International Terminal)

Kể từ những năm 40 của thế kỷ trước, khi những làn sóng đầu tiên của giới trí thức yêu nước từ nước ngoài trở về Tổ quốc góp sức cùng đồng bào trong nước dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) thì từ đó cho đến bây giờ... tôi cũng chứng kiến làn sóng của những người ra đi vì thất vọng, phải từ bỏ mục đích của mình vì không còn niềm tin, hoặc chỉ đơn giản là muốn cống hiến/góp sức một phần nhỏ nhưng rồi nhận ra tất cả thiện chí và công sức đều vô nghĩa trong bi kịch chuyển biến của đất nước.

Những gì thuộc về di sản của dân tộc, phần thì đang bị hủy hoại dần theo thời gian, phần còn lại vẫn còn phải đào bới để tìm kiếm... Nhưng hiện tại mới là những gì đáng nói nhất, cần quan tâm hơn cả vì hôm nay chúng ta đang làm sai, đang sống sai, nghĩ sai... Chúng ta tiếp tục lãng phí thời gian trong khi các nước khác đã nắm được cơ hội và vượt lên nhanh chóng để thành Rồng, thành Cọp thật sự, bỏ xa một Việt Nam là nơi người ta say sưa với những con số và sự kiện nặng về hình thức hơn nội dung, đua nhau chạy theo thành tích/vượt chỉ tiêu hão huyền bất chấp một thực tế tệ hại và hậu quả như thế nào. Di sản của thời đại mà nhiều thế hệ kỳ vọng/mòn mỏi trông chờ sẽ hình thành từ thành quả sáng tạo, là công sức bù đắp cho hàng triệu người đã hy sinh thân mình vẫn chỉ là những ngôn từ/"bánh vẽ" vốn là "khoa học tuyên truyền" có sức mạnh mê hoặc đang trở thành sáo mòn. Xã hội của chúng ta ngày nay có quá nhiều sự lừa dối, mọi người đều sống trong sự lừa dối, khắp nơi nhan nhản những kẻ cơ hội, trục lợi hám danh... Dân tộc này đã nhiều lần muốn "cất cánh" nhưng vì "mất đà" nên vẫn bay nhảy như gà mà thôi. "Bài ca hy vọng" năm nào vẫn vang lên hết thế hệ này qua thế hệ khác, đằng đẵng, dai dẳng bám vào từng ngõ ngách của đất nước, len lỏi vào tận nơi sâu thẳm nhất của con người để rồi nhận ra: ngày ấy chúng ta từng hy vọng vào hôm nay, thế mà cái điều được kỳ vọng ấy sao vẫn cứ xa xăm ...như ngày xưa vậy?

Triển vọng?

Thế giới đa cực hiện nay không có chỗ cho những kẻ bành trướng muốn lặp lại những cuộc xâm lăng/thôn tính chỉ vì đại cục do một nhóm chính trị gia nhắm tới. Nhưng "Giữa các quốc gia, không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”  (Lord Palmerston, thế kỷ 19) vẫn là điều bất kỳ chính quyền nào cũng cần thấy rõ để có chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy những quan hệ có lợi nhất vì lợi ích của dân tộc mình.

Vì thế, xét trên nhiều phương diện, toàn bộ ý tưởng về quốc gia "Số 1" đang trở nên lỗi thời. Hãy nhìn cách mà người Singapore khai thác tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ thông tin để giành lấy một vai trò toàn cầu vượt ra ngoài diện tích bé nhỏ của nước họ. Xứ đảo vùng ĐNA hiện đứng thứ 3 trong danh sách các quốc gia giàu nhất thế giới với thu nhập bình quân PPP gần 85.000 USD và đã vượt qua Hong Kong để trở thành Trung tâm Tài chính lớn thứ 3 toàn cầu chỉ sau London và New York (Global Financial Centres Index). Kỷ nguyên toàn cầu không tôn trọng cái tôn tri trật tự của Khổng giáo mà TQ đang nhắm tới.

Aaron Friedberg (Nhà khoa học chính trị của ĐH Princeton) so sánh châu Á hiện đại với châu Âu thế kỷ 19, nơi các cường quốc dùng mánh khóe để giành quyền kiểm soát. Nhưng sự so sánh này nhấn mạnh cái thực tế rằng TQ còn lâu mới trở thành nhà lãnh đạo khu vực. Không có cường quốc riêng lẻ nào thống trị châu Âu ở thế kỷ 19. Tương tự như vậy, tình hình châu Á cũng không có nước nào đủ mạnh để trở thành đầu tàu/dẫn dắt châu Á. Vấn đề hiện nay thuộc về quan hệ xuyên quốc gia, đòi hỏi sự hợp tác chứ không phải dùng thủ đoạn để giành giật quyền lợi với mục đính đạt được đại cục của 1 quốc gia.

Trong bối cảnh này, người VN đóng vai trò gì trong khu vực và có thể chọn con đường/chính sách phát triển như thế nào?


Chẳng lẽ cuộc cách mạng VN chỉ gồm những nghịch lý của sự thay đổi mà không phải là sự tiến bộ, chỉ là quá trình xoay vần từ "xóa sạch, cướp sạch" dưới thời thực dân thành  "phá sạch, bán sạch" thời nay?

Tôi không muốn mất công để tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi, rằng: chúng ta sai lầm từ khi nào? Vấn đề là bất cứ khi nào chúng ta muốn sửa sai, chúng ta đều có thể. Nhưng điều đó có xảy ra hay không??? 

Monday, February 27, 2017

Phẩm chất, kỹ năng và tri thức

Khi thiết kế một chương trình giáo dục cần làm rõ
1. Virtues: Những phẩm chất cần phải rèn luyện.
2. Skills: Những kỹ năng cần phát triển.
3. Knowledge: Những tri thức cần phải có.

Chương trình cần phải phối hợp 3 thứ này lại với nhau để
1. Xây dựng skills trên nền tảng tri thức và phẩm chất (thuần túy tri thức thì phi nhân, thuần túy phẩm chất thì man rợ).
2. Knowledge phải có các dự án thực hiện ngay, phải cần có skills không thì biến thành nói phét.
3. Virtues cũng phải thể hiện qua các dự án thực hành có dùng skills để sinh động.

Vấn đề cần những virtues nào? Hiện nay giáo dục của ta chỉ có 10 điều yêu của Bác, tuy dễ học, nhưng không đủ mà nội hàm đã bị tận dụng hết biến thành sáo rỗng. Cần các skills nào? Chưa thấy nhà quản lý giáo dục nào hay nhà sư phạm nào nói hoặc nhận thức tầm quan trọng của skills. Knowledge phải có tính liên thông. Kiến thức VN không dựa trên kỹ năng nghiên cứu, quy trình sáng tạo, coi thường tự học, do đó có hai nhược điểm là "mì ăn liền" và "xôi đỗ". 
"Mì ăn liền" thì gây ra ảo tưởng biết tuốt, khinh thường tri thức, càng học càng ngu. "Xôi đỗ" thì trí thức lôm côm, không có hệ thống, mất cơ bản, trông cậy may rủi, lập luận lờ mờ, ham mê ngụy biện.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72)

Monday, July 11, 2016

30 NĂM TRƯỚC

Ngày 10-7-1986, Tổng bí thư Lê Duẩn qua đời.
Ngày 14-7-1986, Ban chấp hành trung ương họp phiên đặc biệt, bầu Trường Chinh làm Tổng bí thư.
Ngay sau đó, TBT Trường Chinh chỉ đạo viết lại Báo cáo chính trị và các văn kiện Đại hội VI.
Về chủ trương và chính sách kinh tế, ba nội dung đổi mới quan trọng nhất bao gồm:
1. Đổi mới về cơ cấu kinh tế và đầu tư (do Phan Diễn phụ trách biên soạn)
2. Đổi mới về chính sách kinh tế nhiều thành phần (do Hà Đăng phụ trách biên soạn)
3. Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế (do Trần Đức Nguyên phụ trách biên soạn)
Nhiều người ở Việt Nam (cũng như nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, kể cả nhà sử học Keith Taylor) lầm tưởng, cho rằng Nguyễn Văn Linh là vị TBT khởi xướng đổi mới trong Đảng. Sự thực là chính Trường Chinh mới là người đóng vai trò này. Cũng phải nói thêm là, ở cấp trung ương, bên cạnh Trường Chinh và Nguyễn Văn Linh, không thể không kể đến đóng góp của một số vị lãnh đạo khác như Võ Văn Kiệt, Võ Chí Công, Lê Thanh Nghị.
Nhưng suy đến cùng, chính nhân dân Việt Nam mới là tác giả đầu tiên của đổi mới. Khởi đầu cho phong trào “đổi mới từ dưới lên” hay “phá rào” trong sản xuất nông nghiệp là Kim Ngọc – Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc – cha đẻ của thử nghiệm khoán hộ từ năm 1966 trước sự bức xúc của nông dân. Sau này, phong trào “khoán chui” len lỏi và lan rộng ở nhiều địa phương như Tiền Giang, Hà Sơn Bình, Hải Phòng, Thái Bình v.v. Tuy chính sách khoán hộ của Kim Ngọc bị chính Trường Chinh phê bình gay gắt, nhưng cũng chính ông là người sau này tiếp thu một cách hết sức cầu thị và đưa những sáng kiến cải cách của địa phương trở thành tinh thần của đổi mới ở cấp trung ương.
Vì thế, khác với tất cả các nước XHCN cũ (kể cả Trung Quốc), đổi mới kinh tế ở Việt Nam thường được xem là cải cách từ dưới lên chứ không phải đổi mới từ trên xuống.
Viết đến đây, tôi lại nhớ đến Thầy Đặng Phong. Kể từ khi Thầy ra đi (2010) cho đến nay, hình như chưa có một công trình sử kinh tế đáng kể nào được ra đời.

from FB/Vu Thanh Tu Anh's post

Friday, May 27, 2016

Đại học Fulbright Việt Nam (FUV)

Đoàn Hồng Nghĩa (ELTE,VIDI90): Liệu có thể hy vọng các thế hệ quản lý hành chính nhà nước tiếp theo sẽ từ nơi này ra? Cạnh tranh trực tiếp với Học viện Cụ Hồ à?

Trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam mới đây của Tổng thống Mỹ Barack Obama, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng đã chính thức tuyên bố thành lập Đại học Fulbright Việt Nam (FUV), trường đại học độc lập, phi lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam. Các chuyên gia giáo dục cho rằng đây sẽ là một mô hình giáo dục hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam, là môi trường cho suy nghĩ độc lập và sáng tạo. An Tôn tường trình chi tiết sau đây.
Cựu Thượng nghị sỹ Mỹ Bob Kerrey, chủ tịch Hội đồng Tín thác của Đại học Fulbright Việt Nam (FUV), đã nhận giấy phép do Bí thư Thăng trao.
Giấy phép này cho phép trường FUV tuyển sinh học viên cao học khóa đầu tiên vào cuối năm nay. Đồng thời trường cũng sẽ bắt đầu chuẩn bị xây dựng trụ sở chính ở Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tại Quận 9. Sẽ mất ít nhất 2 năm để hoàn thành xây dựng cơ sở vật chất cho giai đoạn một của FUV.
Trong một thông cáo, bà Đàm Bích Thủy, Hiệu trưởng sáng lập FUV, nói trường này sẽ là một đại học Việt Nam “kiểu mới”. Bà cho biết thêm trường “sẽ đưa vào những tiến bộ mới nhất về công nghệ và giảng dạy nhằm đem lại cho sinh viên một trải nghiệm giáo dục giúp họ trang bị những kỹ năng để thành công trong bất kỳ lĩnh vực khó khăn nào mà họ theo đuổi”.
Đại diện trường cho hay FUV sẽ cấp bằng Việt Nam và sẽ phấn đấu đạt kiểm định chất lượng của các tổ chức kiểm định Mỹ. Tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ giảng dạy chính. Trường được tiên liệu sẽ có số lượng sinh viên từ 6.000 đến 10.000 khi đạt giai đoạn phát triển ổn định. Thông cáo của trường cho biết thêm rằng FUV mong muốn tạo ra tác động tích cực mang tính hệ thống thông qua chia sẻ kiến thức với cách tiếp cận “học liệu mở”.
FUV sẽ xây dựng một đội ngũ giảng viên quốc tế và sẽ đặc biệt chú trọng tuyển dụng những học giả và nhà khoa học người Việt đã được đào tạo quốc tế. FUV sẽ sử dụng đòn bẩy công nghệ bao gồm những nền tảng học tập từ xa để tối thiểu chi phí và cho phép giảng viên có thể giảng dạy cũng như hướng dẫn sinh viên ở vùng sâu vùng xa.
Đơn vị học thuật đầu tiên của FUV sẽ là Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, một trường đào tạo cao học chuyên ngành. Trường này sẽ khai giảng vào mùa thu năm nay với sự kế thừa đội ngũ nhân lực và các khóa học của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) đã hoạt động ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua.
Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright sẽ mở các khóa cao học và các chương trình đào tạo cao cấp về chính sách công, kinh doanh và những lĩnh vực có liên quan.
Giảng viên Nguyễn Hữu Lam thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM, đồng thời cũng giảng dạy cho FETP, đã nhận xét với VOA Việt ngữ về tầm quan trọng của việc thành lập FUV như sau:
“Việc nâng cấp lần này có ý nghĩa rất là lớn, vì ngoài việc đào tạo cán bộ cho Việt Nam, thì mô hình của một trường đại học phi lợi nhuận, độc lập, tự do về học thuật sẽ đóng góp rất là lớn cho vấn đề về xây dựng và phát triển hệ thống đại học Việt Nam. Và điều đó sẽ rất là tốt cho tương lai của Việt Nam”.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, người bảo trợ cho Chương trình Fulbright ở Việt Nam trong nhiều năm, đã tuyên bố kế hoạch thành lập trường FUV hồi tháng 8 năm ngoái.
Những người sáng lập trường ở cả hai phía Mỹ và Việt Nam đều tin rằng trường sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người dân Việt Nam, nhất là những người trẻ tuổi khao khát được hưởng nền giáo dục tiêu chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam.
Ông Lam, người cũng đã từng du học ở Mỹ với học bổng Fulbright, cho biết sự háo hức về FUV rất cao và những ngày này ông liên tục nhận các cuộc điện thoại để hỏi về việc tuyển sinh, chương trình học của trường. Ông phân tích thêm về lý do của sự háo hức này:
“Thực sự mô hình phát triển hiện đại là sáng tạo tri thức, và đồng thời là mô hình không chỉ dạy cho người ta kiến thức mà các thế hệ trước đã tích lũy, mà còn là mô hình giúp người ta độc lập suy nghĩ, sáng tạo, và phát triển. Đây là môi trường mà tôi nghĩ sẽ đóng góp rất là lớn cho sự phát triển của từng cá nhân cũng như phát triển chung cả hệ thống đại học Việt Nam”.
Ở một đất nước có hệ thống giáo dục lâu nay bị xem là lạc hậu và phương thức quản lý còn bảo thủ. Liệu một trường có tính sáng tạo như Đại học Fulbright Việt Nam có tạo ra xung đột hay thách thức gì đối với các nhà quản lý của Việt Nam hay không? Giảng viên Nguyễn Hữu Lam đưa ra nhận định:
“Tôi nghĩ những người làm khoa học thực sự họ sẽ nhìn vấn đề này một cách rất là thoải mái và họ sẽ tiếp thu cái hệ thống này. Và rất nhiều vị lãnh đạo của nhà nước và của Bộ Giáo dục-Đào tạo sẽ tiếp thu được. Nhưng tất nhiên là sẽ có những cái xung đột. Thế cho nên vừa rồi tôi thấy có tuyên bố của Tổng thống Obama và đồng thời là của Ngoại trưởng John Kerry về trường đại học độc lập, tự do học thuật, như thế thì tôi nghĩ nếu chính phủ Việt Nam cam kết cái điều đó thì có nghĩa là trường sẽ làm được và dần các trường đại học Việt Nam cũng đang trong xu thế đó. Tại vì hiện nay Việt Nam cũng đang trao quyền tự chủ cho các đại học. Và nếu trường FUV mà phát triển tốt thì sẽ giúp rất nhiều cho cái nỗ lực vì thử nghiệm, làm thí điểm về các trường đại học độc lập ở Việt Nam”.
Mặc dù là một tổ chức tư nhân và phi lợi nhuận, FUV nhận được hỗ trợ từ chính phủ Mỹ và Việt Nam. Đến nay chính phủ Mỹ đã cam kết tài trợ hơn 20 triệu đôla để hỗ trợ việc thành lập trường. Còn chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã dành cho FUV 25 hecta đất ở Quận 9.
FUV đã nhận được cam kết tài trợ bằng tiền mặt hay các hình thức khác trị giá hơn 60 triệu đôla. Tuy nhiên, sẽ cần nhiều hơn nữa để có thể hiện thực hóa những kế hoạch đầy tham vọng của bà Hiệu trưởng Thủy. Bà cho biết ước tính sẽ cần huy động tối thiểu 100 triệu đôla trong ba năm tới.
Theo kế hoạch, năm 2018, FUV sẽ thành lập Trường Khoa học xã hội và Nhân văn Fulbright với chương trình giáo dục cử nhân bốn năm cho các ngành khai phóng (liberal arts) và khoa học-kỹ thuật.
(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link https://engagingguide.xyz hoặc http://79797.info/ để vượt tường lửa).

from FB/Nghia Doan's post

Thursday, May 26, 2016

Tấm vé cho chuyến tàu thịnh vượng cuối cùng!!!

Vậy là tổng thống mỹ Barack Obama đã kết thúc hành trình của mình ở Hà Nội. Ông sẽ có một ngày làm việc tại thành phố lớn nhất Việt Nam, cũng là nơi mà di sản của nước Mỹ còn nhiều nhất, đó là Sài Gòn (cách gọi người Mỹ biết tới trước năm 1975), hay TP Hồ Chí Minh (Theo tên gọi chính thức về mặt hành chính hiện nay). Sau đó Obama sẽ rời Việt Nam để ghé thăm một đồng minh trọng yếu nhất của nước Mỹ là Nhật Bản.

Obama là tổng thống đương nhiệm thứ ba của nước Mỹ đến thăm Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ. Cũng giống như ông Bill Clinton, Obama chỉ ghé Việt Nam khi nhiệm kỳ của mình đã trong những ngày cuối cùng. Ông Bush đã ghé Việt Nam trong một chuyến thăm khi ở giữa nhiệm kỳ vào năm 2006, tuy nhiên, thực ra ông đã đến Việt Nam vì đằng nào ông cũng phải tham gia hội nghị APEC, thời điểm đó do Việt Nam tổ chức.
Nếu nhìn lại lịch sử đầy bão táp trong quan hệ hai nước, có thể nói những chuyến thăm của ba đời tổng thống Mỹ trong thời bình đến Việt Nam (Có hai tổng thống khác đã đến miền nam Việt Nam trước năm 1975), đều là những dấu ấn quan trọng trong sự hàn gắn quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc các tổng thống Mỹ chỉ dành những ngày cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình (Clinton 2000, Obama 2016) hoặc tranh thủ dự một hội nghị (Bush 2006) cho thấy trong mối quan tâm của nước Mỹ, Việt Nam xếp ở hàng thứ yếu. Thậm chí ông Obama còn ghé thăm Campuchia vào năm 2015, thời điểm ông vẫn còn đang có khả năng định hướng các chiến lược ngoại giao của nước Mỹ.

Thống kê kim ngạch thương mại Việt Mỹ giai đoạn 1994 – 2015

Dù vậy thì quan hệ Việt Mỹ vẫn có những bước tiến rất dài. Kể từ thời điểm bình thường hoá quan hệ đến nay, kim ngạch thương mại song phương đã đạt tới con số 41,43 tỷ USD năm 2015, trong đó Việt Nam xuất siêu tới 26,03 tỷ USD, biến Mỹ thành đối tác sinh lợi hàng đầu và quan trọng nhất của Việt Nam. Có thể nói, thị trường Mỹ hiện tại đóng vai trò quan trọng số 1 trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Quan hệ song phương sẽ vẫn còn tiến rất nhanh. Sau triển vọng TPP, hiệp hội doanh nghiệp Mỹ ở Việt Nam (AmCham) đưa ra dự báo kim ngạch thương mại song phương sẽ lên đến 80 tỷ USD vào năm 2020, trong đó, phần thặng dư vẫn nghiêng gần như tuyệt đối về phía Việt Nam.
 
Biểu đồ kim ngạch thương mại của Việt Nam với một số đối tác chính.
 
  
Không thể nghi ngờ gì, mối quan hệ với Mỹ sẽ tiếp tục là một cầu nối quan trọng kết nối Việt Nam với thế giới và với cả sự thịnh vượng. Tháng 9/2015, khi thỏa ước TPP vẫn còn đang trong quá trình đàm phán với nhiều khó khăn, tôi có viết một phân tích về quan hệ song phương Việt Mỹ và đánh giá các vấn đề về chiến lược của mỗi nước. Tiêu đề của nó là “Việt Nam – Hoa Kỳ và sự dịch chuyển của dòng quyền lực Á Châu” https://www.facebook.com/notes/lang-anh/việt-nam-hoa-kỳ-và-sự-dịch-chuyển-quyền-lực-á-châu/10203321422676370 . Ở thời điểm này nhìn lại, nhiều nhận định trong bài viết ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Biểu đồ cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 2015


Ông Obama đến Việt Nam trong những ngày nắm quyền cuối cùng không phải để khởi đầu cho những chính sách ngoại giao mới giữa hai nước. Mà ông đến để củng cố những gì ông đã định hình trong suốt hai nhiệm kỳ tổng thống của mình. Hiệp định khung TPP là một di sản quan trọng của Obama đối với Việt Nam và thế giới. Tất nhiên nó sẽ còn phải chờ được phê duyệt tại quốc hội mỗi nước, sẽ có nhiều khó khăn, nhưng đó là tiến trình không đảo ngược. Mặt khác, ông đến để tuyên bố món quà mà người Việt Nam chờ đợi từ lâu: “Dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương” – rào chắn cuối cùng của lịch sử đối với quan hệ hai nước. Trong những ngày nắm quyền cuối cùng, Obama đến Việt Nam để mở nốt những ô cửa cuối cùng còn khép giữa hai bên. Dù rằng câu nói “Save the best for last” (Để điều tốt nhất cho cuối cùng) là một câu nói đầy tính ngoại giao, nhưng thiện chí của Obama và nước Mỹ đối với Việt Nam là không thể phủ nhận.

Biểu đồ cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ năm 2015


Tôi muốn nhấn mạnh rằng những cơ hội nước Mỹ giành cho Việt Nam là cực kỳ quan trọng để xây dựng một đất nước cường thịnh và giữ được chủ quyền. Nước Mỹ không tặng không ai cái gì. Họ cho cơ hội, nhưng có nắm được cơ hội đó hay không thì phụ thuộc vào những nỗ lực của chính quyền và các doanh nghiệp Việt Nam. Có thoát được sự lệ thuộc kinh tế với người Tàu hay không, mấu chốt nằm ở chuyến tàu TPP mà Việt Nam được ưu ái tham gia dù là quốc gia lạc hậu nhất về mọi mặt, gồm cả kinh tế lẫn thể chế chính trị độc tài.
Tôi tin rằng chuyến thăm của tổng thống Obama là một cú hích quan trọng với Việt Nam. Đây là chuyến tàu hướng tới sự thịnh vượng và độc lập cuối cùng của Việt Nam. Nếu đất nước này bỏ lỡ, lịch sử sẽ chất vấn những người đang nắm quyền. Ngay lúc này, thế hệ lãnh đạo tại nhiệm của Việt Nam cần ý thức trách nhiệm của họ trước đất nước và dân tộc. Cần có những cải cách mạnh mẽ về thể chế chính trị, để tạo cú hích cho nền kinh tế. Nếu làm được, họ sẽ là anh hùng, nếu tiếp tục đặt quyền lợi của Đảng lên trên quyền lợi quốc gia, thì rồi họ và con cháu họ sẽ phải trả lời với lịch sử.
Ở một phương diện khác, những chuyến thăm của các tổng thống Mỹ đến Việt Nam đều gợi lên một niềm hân hoan mạnh mẽ trong dân chúng. Những gương mặt đón Clinton, Bush, Obama đều mang niềm hồ bởi và mến khách, thật trái ngược với những cuộc biểu tình phản đối dữ dội trong chuyến thăm gần đây của ông Tập Cận Bình. Sự hiện diện của nguyên thủ một quốc gia mạnh nhất hành tinh, với các giá trị văn minh và tự do, luôn tạo ra sự khao khát và hy vọng đối với người dân Việt Nam, dù nhiều người trong số họ đã từng cầm vũ khí trước năm 1975 và những vết thương chiến tranh vẫn chưa hoàn toàn lành vết.
Có một điều các lãnh đạo Việt Nam sẽ phải học hỏi nhiều về phong cách của tổng thống Obama. Đứng đầu một cường quốc với GDP tới 17000 tỷ USD, ông ấy bước vào một quán bún chả bình dân trên phố Lê Văn Hưu, ngồi trên một chiếc ghế nhựa không tựa lưng giá dưới 5 USD, trước mặt là một chiếc bàn inox rẻ tiền, và ăn một xuất bún chả có giá 2 USD. Dù là hành động mang tính ngoại giao hay là một phong cách gắn liền với một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc nhất thế giới, Obama đang chứng minh vì sao ông ấy xứng đáng là lãnh đạo của nước Mỹ. Chưa bao giờ có ai trong các tứ trụ ở Việt Nam có một bữa ăn bình dân tương tự, dù họ đang lãnh đạo đất nước này. Khi sống quá xa dân, chưa bao giờ ăn những thứ người dân đang ăn hàng ngày, thì làm sao có thể hiểu và chia sẻ được những điều người dân vẫn nghĩ??? Các lãnh đạo Việt Nam nên học tập điều này, dù vì thật lòng hay vì ngoại giao. Sau những hành động tương tự, tôi tin rằng các vị sẽ biết thực tế ở đất nước này ra sao, từ đó có thể có những thay đổi trong tư duy của các vị.
Nước Mỹ mang đến cơ hội cho Việt Nam. Nhưng đó không phải món quà miễn phí. Có lên được chuyến tàu hướng tới thịnh vượng hay không, phụ thuộc vào những thay đổi trong tư duy của chính phủ và giới lãnh đạo Việt Nam. Cơ hội lịch sử này sẽ không lặp lại.

Lãng Anh