Showing posts with label Con đường hạnh phúc. Show all posts
Showing posts with label Con đường hạnh phúc. Show all posts

Thursday, April 24, 2025

HẠNH PHÚC TUỔI TRẺ

 Trong một thế giới mà thành công thường được định nghĩa bằng địa vị, tài sản hay bằng việc “trở thành ai đó”, nhiều người, đặc biệt là người trẻ, thường loay hoay giữa áp lực thành công và khát khao sống có ý nghĩa. Chúng ta dường như ít có thời gian để ngồi lại và tự hỏi, mình đang thật sự muốn gì, cần gì? Lúc này, cuốn sách “Hạnh phúc tuổi trẻ” (Happy is the one who is nothing) của Krishnamurti xuất hiện như một lời mời gọi bạn quan sát và nhận thức thực tại, với sự đơn sơ, trong trẻo của nó – mà không bị ràng buộc bởi những khuôn mẫu, sợ hãi hay ham muốn. 

Cuốn sách là tuyển tập những bài viết ngắn, cô đọng và súc tích của Krishnamurti dành cho người đọc trẻ, được in theo khổ nhỏ bỏ túi, dễ đọc và dễ tiếp cận. Ở đó không có những công thức hướng dẫn bạn làm sao để hạnh phúc, thay vào đó, mỗi trang sách như một cuộc trò chuyện tĩnh lặng giữa người đi trước và người đang học cách trưởng thành, từ việc học cách yêu, cách sống cho đến cách để tự do và hiện hữu.

“Hạnh phúc tuổi trẻ” có hai phần, phần đầu là những lá thư Krishnamurti viết cho một bạn trẻ đến với ông trong tình trạng bị tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần. Những lá thư được viết trong khoảng thời gian từ tháng Sáu năm 1948 đến tháng Ba năm 1960, thể hiện lòng trắc ẩn và sự sáng suốt hiếm có của Krishnamurti. 

Tuy là thư gửi cho riêng một người, nhưng những vấn đề ông nói đến trong đó thì lại mang tính phổ quát với cả nhân loại. Những lá thư này sẽ đem đến cho bạn phút giây trò chuyện trực tiếp với Krishnamurti và suy tư về mọi vấn đề trong đời sống.

Như một đoạn thư ông viết về cuộc đời và tình yêu: “Cuộc đời quá phong phú, có quá nhiều châu báu. Chúng ta bước vào đời với trái tim rỗng không; chúng ta không biết làm cách nào để lấp đầy trái tim mình bằng sự sống dư tràn. Chúng ta nghèo khó ở bên trong, nhưng khi được dâng cho của cải thì chúng ta lại từ chối. Tình yêu là một thứ nguy hiểm; nó đem đến cuộc cách mạng duy nhất có thể mang lại hạnh phúc trọn vẹn. Vậy nên chẳng mấy ai trong chúng ta có khả năng yêu, vậy nên chẳng mấy ai muốn yêu. Chúng ta yêu theo cách riêng của mình, biến tình yêu thành một thứ có thể bán mua. Chúng ta mang tâm lý thị trường, nhưng tình yêu không thể bán mua, mà là vấn đề cho nhận. Nó là trạng thái sống, nơi mọi vấn đề của chúng ta đều được giải quyết. Chúng ta dùng gàu cạn mà múc giếng khơi, và thế là cuộc đời trở thành một thứ lòe loẹt rẻ tiền, thật tầm thường và nhỏ bé”.

Như mọi khi, Krishnamurti vẫn liên tục nhấn mạnh về cuộc cách mạng duy nhất, cuộc cách mạng đầu tiên và cuối cùng mà tất cả chúng ta phải thực hiện, đó là luôn nhận thức đầy đủ những gì đang xảy ra bên trong và xung quanh mình, chỉ nhận thức mà không chọn lựa, không nỗ lực hay cưỡng ép bất cứ điều gì.

Trong những đoản văn ấy, chúng ta còn nhìn thấy một tâm hồn nhạy cảm và thiết tha yêu thiên nhiên tươi đẹp, như: “Chiều hôm qua cơn mưa bắt đầu và đến đêm thì trời đổ mưa như trút! Tôi chưa bao giờ nghe cơn mưa nào nặng hạt đến thế. Cứ như thiên đường đã mở ra vậy. Có sự tĩnh lặng lạ thường cùng với nó, sự tĩnh lặng của một sức nặng, một sức nặng khủng khiếp đang trút xuống Trái đất.”

Phần thứ hai là những cuộc trò chuyện với các em học sinh, các em nhỏ về nhiều vấn đề trong cuộc sống, như tình yêu, sự quan tâm, nỗi sợ hãi, trí tưởng tượng... Krishnamurti vô cùng quan tâm đến trẻ em và vấn đề giáo dục. Với ông, trẻ em sẽ học được nhiều hơn khi quan sát cuộc sống, đặt câu hỏi về mọi thứ và tự mình tìm hiểu thay vì học trong sách vở hay được người khác chỉ dẫn.

“Hãy tìm hiểu. Bạn không thể tìm hiểu về bản thân nếu luôn nói chuyện, đi cùng với bạn bè, với nửa tá người. Hãy ngồi dưới tán cây lặng yên một mình, không đọc sách. Chỉ cần nhìn lên các vì tinh tú hay bầu trời, những chú chim, đường nét của những chiếc lá. Hãy quan sát những cái bóng. Ngắm nhìn cánh chim bay ngang bầu trời. Chính lúc ở một mình, ngồi lặng lẽ dưới tán cây đó, bạn sẽ bắt đầu hiểu được những hoạt động của tâm trí, và điều đó cũng quan trọng không kém gì việc đến lớp” – Krishnamurti nhắn gửi.

Triết lý của ông vẽ ra một nền tảng giáo dục mới, giáo dục mà không có sự so sánh, không có sự cạnh tranh, để con người có thể phát triển toàn diện và thật sự tự do. 

Với những câu chữ dịu dàng, chân thành và đầy thức tỉnh, “Hạnh phúc tuổi trẻ” mang lại cho bạn sự gợi mở để học cách sống sâu sắc và vững chãi giữa thế giới hỗn loạn.

Muôn Kiếp Nhân Sinh - Nguyên Phong

Monday, November 21, 2022

Dịu dàng hay nhẹ nhàng?

 NGƯỜI DỊU DÀNG LÀ NHỮNG NGƯỜI KHÂU VÁ VẾT THƯƠNG GIỎI NHẤT 

Người dịu dàng thường mang lại cảm giác dễ chịu cho người khác. Đó là năng lực của sự dịu dàng. Nó đến từ sức mạnh nội tâm của người ấy.

Bởi đã từng bị những lời miệt thị, phán xét làm cho vỡ nát trái tim ra, nên người dịu dàng chọn lời nhỏ nhẹ, chân thành dành cho người khác.

Bởi đã từng khổ sở với những cấm đoán, nghi kị, nên người dịu dàng chọn thả lỏng, cho người khác cái quyền được là chính họ.

Bởi đã không ít lần bị những đòn roi làm cho tổn thương tinh thần, nên người dịu dàng chọn hành động tử tế, hạn chế bạo lực.

Bởi đã từng là kẻ bị lợi dụng trong trò chơi tình ái, nên người dịu dàng chọn những ai yêu thương và biết trân trọng đối phương.

Bởi đã từng bị làm ngơ trước những tai ương, nên người dịu dàng chọn ân cần, dang tay giúp đỡ.

Bởi người dịu dàng thường không nỡ làm vỡ nát trái tim ai.

Họ là những người khâu vá vết thương giỏi nhất, chữa lành giỏi nhất, cho chính bản thân họ.

Họ là những người có dung lượng trái tim lớn, nên sẵn sàng bao dung, che chở cho những trái tim còn nhỏ hẹp, cạn kiệt yêu thương.

Vì họ chọn tình yêu thương, nên mọi xấu xa không thể nào cản đường họ được.

Vì nỗ lực hàng đầu của họ, là dịu dàng với bản thân, và với người khác.

Bởi tất cả những lẽ đó, người dịu dàng trở thành người mạnh nhất, với sức mạnh đến từ trái tim.

{Thoa} SkyBooks

Sunday, July 8, 2018

Nên nhớ những điều này để có một cuộc sống an bình

Đừng tranh chấp với người nhà
giành được rồi thì tình yêu thương cũng mất đi

Không nhất thiết
chuyện gì cũng phải phân rõ trắng đen

Có câu
"Nước quá trong thì không có cá. Người xét nét quá thì không có bạn."

Tính toán với người mình yêu thương,
rõ ràng rồi thì tình cảm cũng phai nhạt.

Hơn thua với bạn bè,
chiến thắng rồi thì tình nghĩa cũng không còn.

Khi tranh luận,
người ta chỉ hướng đến lý lẽ mà quên rằng cái mất đi là tình cảm,
còn lại sự tổn thương là chính mình.

Cái gì đã đen thì vẫn đen, trắng là trắng.
Tốt nhất hãy để thời gian chứng minh.

Rũ bỏ sự cố chấp của bản thân,
dùng lòng khoan dung để nhìn người xét việc;
thêm một chút nhiệt tình,
một chút điềm tĩnh và ấm áp
thì cuộc sống sẽ luôn có ánh mặt trời và suốt đời mình sẽ là người thắng cuộc.

Ở đời,
sống là để bản thân mình xem.
Đừng tham vọng mọi người đều hiểu bạn. Cũng đừng mong cầu mọi việc đều theo ý mình.

Khi đau buồn hay mỏi mệt,
nên biết tự an ủi bản thân.

Không có người lo lắng chăm nom 
thì càng phải mạnh mẽ.

Không có ai cổ vũ
cũng phải biết tự bay lên.

Không có người chiêm ngưỡng 
cũng cần thơm tho và tươm tất.

Cuộc sống, không có khuôn mẫu,
chỉ cần một trái tim trong sáng và nhiệt huyết.

Gặp phiền não
thì tự tìm lấy niềm vui riêng,
đừng quên đi hạnh phúc.

Dù bận rộn
cũng nhớ giữ lại chút thanh nhàn,
đừng để mất sức khỏe.

Mệt mỏi rồi
thì tạm dừng lại nghỉ ngơi.
Đừng đánh mất niềm vui cuộc sống.

Chỉ cần trong lòng luôn nhớ đích đến
và biết hiện giờ mình đang làm gì,
ở đâu.
Cứ yên tâm, sẽ không bị lạc đường!

Langmaster Careers

Sunday, March 11, 2018

Nirvana (2)

Niết Bàn là giải thoát

Giải thoát  nghĩa là cởi bỏ những sợi dây  ràng buộc mình  vào  một hoàn cảnh đau khổ nghịch ý.

Niết Bàn  (Nirvana)  của Đạo Phật không  phải là cõi thiên đàng như nhiều người lầm tưởng. Người ta thường cho rằng tu là cốt để được giải thoát khỏi cuộc đời này và khi chết, được đưa vào một thế giới đẹp đẽ, đầy đủ những lạc thú, không sợ một khổ đau nào xâm chiếm. Thế giới đẹp đẽ ấy gọi là Cực Lạc hoặc là Niết Bàn.

Thật không có gì lầm lạc hơn nữa.

Đạo Phật chủ trương vạn vật là vô thường và vô ngã, vì thế, không bao giờ công nhận có một sự tồn tại bất biến của một thế giới, dù thế giới ấy là thế giới Cực Lạc.

Cuộc sống là gì? Là một dòng biến chuyển. Vì có biến chuyển  nên mới có sinh diệt thành loại; mà  còn  có sinh diệt thành loại là có thời gian. Ý niệm về thời gian không thể nào tách biệt khỏi ý niệm biến chuyển: nếu không có biến chuyển, không có thời gian, thì sẽ không có sự sống.

Ta hãy tưởng tượng thời gian ngừng hẳn lại, vạn vật im lìm biến mất, bất động… không thể nào có sự sống được. Sự tồn tại im lìm này là một cái chết hoàn toàn. Giả sử Niết Bàn là một cuộc sống đi nữa, thì cuộc sống này hẳn cũng không phải là một cuộc sống hạnh phúc, vì đã là một cuộc sống, tất nhiên phải là một dòng biến chuyển, mà đã có biến chuyển là có thành hoại, có sinh diệt, có đau khổ.

Niết Bàn  không phải  là một cảnh giới, một cuộc sống, thì là gì?

Vấn đề này, lắm nhà học giả nghiên cứu chưa đến nơi đến chốn, đã vội kết luận rằng  Niết Bàn là một trạng thái diệt hoại hư vô. Nói như thế, tuy họ tỏ ra đã hiểu Niết Bàn không phải là một cảnh giới Cực Lạc, nhưng họ cũng lại tỏ ra rằng họ chưa hiểu Niết Bàn là gì. Bảo Niết Bàn là diệt hoại, hư vô, lại bảo rằng Niết Bàn là một “trạng thái” thì có nghe được không? “Trạng thái” là gì? Tạm cho là tình trạng đi. Nhưng tình trạng của cái gì? Có phải là một cái vật nào đó không? Nếu thế, cái trạng thái này cũng luôn luôn chuyển biến, vì không có cái vật nào mà không chuyển biến. Còn nếu là sự hư vô thì làm gì có trạng thái mà gọi là trạng thái diệt hoại, hư vô.

Cho nên bảo rằng Niết Bàn là một  trạng thái thì không đúng. Chữ Niết Bàn vốn là do tiếng Phạn Nirvana, có thể dịch là Diệt độ, là giải thoát. Cần có một câu giải thích để khỏi hiểu lầm. Diệt độ không có nghĩa là một sự tiêu diệt hoàn toàn thành hư vô như các học giả phương Tây lầm tưởng.  Diệt đây có nghĩa là sự chấm dứt của nhân quả nghiệp  báo. Độ có nghĩa là qua khỏi dòng mê mờ để lên bờ giác ngộ giải thoát.  Đạo Phật chủ trương rằng, sự sống của một chúng sanh là một dòng biến chuyển liên tục theo đà nhân quả tiếp nối của ngũ uẩn. Động cơ của dòng sông ấy là ham muốn, là dục vọng. Còn ham muốn, còn dục vọng, là còn sự sống, còn luân hồi sanh tử, cũng  như còn dầu và còn tim thì đèn còn cháy vậy. Khi dục vọng tiêu diệt, dòng biến chuyển liên tục của ngũ uẩn sẽ dừng lại và hết sinh diệt. Lúc bấy giờ Niết Bàn hiển hiện. Niết Bàn là sự hiển hiện của bản thể sáng suốt màu nhiệm hoặc nói cho khác hơn, là sự thể nhập vào bản thể vô biên trong sáng  của  một  chúng sanh giải thoát.

Niết Bàn có hai thứ: Niết Bàn hữu dư Y và Niết Bàn vô dư Y.

Một chúng sanh được giải  thoát, song  còn  thân mạng và còn hoàn cảnh tồn tại: sinh hoạt với thân mạng ấy và hoàn cảnh ấy mà vẫn an nhiên, giải thoát, vẫn không sợ bị vật lung lạc, kéo lôi theo đà lo sợ đau buồn. Như thế Niết Bàn hữu dư Y. Khi thân mạng và hoàn cảnh hết tồn tại, thì sự thể nhập bản thể được thực hiện: Đấy là vô dư Y Niết Bàn, không  có sanh tử, không  có khổ đau, vì vô dư Y Niết Bàn không phải là cuộc sống có sinh diệt. Vô dư Y Niết Bàn là bản thể thường còn bất sanh bất diệt của vạn loại hữu tình và vô tình, không thể dùng ngôn ngữ để hình dung, trí thức để quan niệm.

 Tuy nhiên  từ Niết Bàn vô dư Y có thể hiện ra diệu dụng nhiệm màu. Hóa thân của các Đức Phật, các vị Bồ Tát đều là những biểu hiện “tùy duyên” của các bậc giải thoát an trú trong vô dư Y Niết Bàn. Ở quả vị Phật, có hai loại trí tuệ: Một loại là vô phân  biệt trí, cùng với bản thể chân như an trú, không phân biệt đối tượng và chủ thể; một loại là sai biệt trí có khả năng nhận thức các biến hiện nhiệm mầu của bản thể thường trú, tức là thế giới hiện tượng. Nhận thức như thế để hóa độ, để hoàn thành bàn nguyệt độ sanh.

Thế giới hiện tượng là thế giới diệu dụng biến hóa của thế giới bản thể. Nhưng vì vô minh che lấp, chúng sanh nhìn thế giới ấy như một thế giới khổ đau, đen tối vì đã đem ác nghiệp của mình để hòa hợp vào đó hoặc nói khác hơn, vì đã có một phần nhận thức sai lạc lấm láp chủ quan đen tối. Mang một cặp kính ác nghiệp, chúng sanh nhìn thế giới hiện tượng màu nhiệm kia thành một thế giới đau thương và với ác nghiệp  mình, lăn lộn trong thế giới đau thương rất “chủ quan” ấy.
Các  vị  chứng ngộ  xưa đã từng  ca ngợi trăng nước muôn hoa là những biến hiện của bản thể, là vì họ đã lột bỏ được cặp kính vô minh đó và kinh Pháp Hoa cũng dạy rằng chim kêu hoa nở là hiện tượng màu nhiệm  của bản thể của “pháp thân” bất diệt:

Chư pháp tùng bản lai,

Thường tự tịch diệt tướng:

Xuân đáo bách hoa khai,

Hoàng oanh đề liễu thương



TẠM DỊCH:

Các hiện tượng xưa nay,

Bản tính thường vắng lặng:

Xuân đến trăm hoa nở,

Oanh vàng ca liễu thắm.



Vậy, bản  thể  của  các hiện tượng vốn là chân  như sáng suốt, không sinh diệt, là Niết Bàn.

Vậy Niết Bàn là qua bờ bên kia, là giải thoát, là chấm dứt sanh tử. Nhưng chỉ  là chấm dứt sự sanh tử  mà chủ thể sanh tử là bị động. Một chúng sanh giải thoát có Niết Bàn có thể an nhiên sinh hoạt trong sinh tử mà vẫn không thấy có sinh tử khổ đau, vẫn có trong tay một khả năng màu nhiệm: tự do sinh diệt, tự do an trú, tự do Niết Bàn. Khả năng ấy Đạo Phật gọi là khả năng tùy duyên hóa độ, là khả năng “tự tại”, một trong bốn đức của Niết Bàn: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Tự tại là ngã vậy.

Ở đây cũng cần giải thích chữ Phật.

Phật là gì? Phật là một bậc có khả năng viên mãn để có thể giác ngộ cho mình và cho người. Các vị Bồ Tát cũng có khả năng ấy nhưng chưa được viên mãn như Phật, nên chưa thể gọi là “giác hạnh viên mãn”.

Phật là một hóa hiện viên mãn nhất. Tốt đẹp nhứt và xứng đáng nhất của bản thể sáng suốt. Vì là một hóa hiện nên “các đức  Phật” đều là những hóa thân của Phật, chứ chưa hẳn  là Phật. Hóa thân (như cá nhân  Đức Thích Ca) thì có sanh có diệt,  chứ pháp thân, tức là Phật thì luôn luôn bất sanh bất diệt. Cũng như các lớp sóng có xuống, có thành, có hoại, chứ bản thể của các lớp sóng là nước thì chẳng lên xuống thành vỡ bao giờ.

Vậy một chúng sanh thành Phật tức là nhập vào bản thể vô biên, hoàn toàn sáng suốt. Và từ bản thể sáng suốt ấy, từ Niết Bàn ấy, có thể hoàn toàn tự do tự tại để hóa thân, sinh hoạt, trôi nổi trong sự sinh tử biến hoại của thế giới hiện tượng mà vẫn an nhiên giải thoát, không bao giờ bị lôi cuốn theo nghiệp lực như vô lượng chúng sanh. Đến đây, ta mới hiểu được câu kinh màu nhiệm này mà mọi người đều tụng “Niết Bàn tức là sinh tử, sinh tử tức là Niết Bàn”. Quả thực, Niết Bàn không tồn tại ngoài sinh tử và chính trong sinh tử các Đức Phật  đã tìm thấy Niết Bàn.
Để chấm dứt bài này, chúng ta hãy đọc một đoạn trong kinh Phạm Võng:

“Chân tướng của mọi hiện tượng là  bất sinh bất diệt, không thường cũng không  đoạn, không sinh tử cũng không Niết Bàn. Kẻ ngu si sợ hư mà không muốn đi trốn thì dù bỏ hư không mà chạy cũng không thể nào thoát được hư không. Kẻ đi tìm hư không  dù có chạy khắp đông tây nam bắc cũng không tìm thấy hư không. Những kẻ ấy chỉ biết cái DANH của hư không mà không biết được cái THỰC của hư không.

Nay có kẻ muốn  tìm Niết Bàn,  thường qua  lại trong Niết Bàn mà không biết đó là Niết Bàn, chỉ thấy toàn sinh tử phiền não: Kẻ ấy chỉ biết cái DANH của Niết Bàn mà không biết  cái  THỰC của Niết Bàn vậy.

Cho nên ta không thể bảo Niết Bàn có ngoài sinh tử cũng không thể bảo rằng giải thoát tức là lìa bỏ cõi đời hiện tại. Chính trong hiện tại, con người phải tìm ra Niết Bàn: Con người vẫn có thể giải thoát mà không rời thế gian sinh diệt.

Thích Phước Triều

Tuesday, March 6, 2018

Nirvana (1)

Nirvana (hay Niết Bàn), cũng như Thiên Đường của Thiên Chúa giáo, là miền cực lạc mang khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát tinh thần của Phật giáo.

Đấng Tối cao hay Thượng Đế của bất kỳ tôn giáo nào cũng đều xuất phát từ tình yêu thương nhân loại để đưa ra một con đường cho con người tu tập, giải thoát mọi ràng buộc để đạt được khát vọng đến với Tự do. "Khát vọng về tự do là một khát vọng cao đẹp của nhân loại. Các học thuyết xã hội về sự giải phóng con người đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng. Trong Thiên Chúa giáo, thế giới lý tưởng đó là Thiên đường đầy hoa thơm trái ngọt, chỉ có hạnh phúc, yêu thương, không thù hận. Trong Nho giáo, xã hội lý tưởng là một xã hội đại đồng. Đích của giải thoát trong Phật giáo là Niết bàn. Đối với một số người, tiếp cận khái niệm dưới góc độ hướng ngoại thì Niết bàn là một khái niệm tương đối khó hiểu, thậm chí còn bị hiểu sai lệch thành một vị trí địa lý, một không gian như Thiên đường trong Thiên Chúa giáo mà con người sẽ được về đó sau khi chết. Đi từ sự khảo cứu kinh sách Phật giáo và một số công trình nghiên cứu của các chuyên gia về Phật học, từ góc độ tiếp cận hướng nội, trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới khái niệm Niết bàn và những hình thức chủ yếu của nó, lấy đó làm một trong những cơ sở để giải thích về sự hồi sinh của Phật giáo trong thời đại ngày nay."[1]


Niết bàn là gì?

"Niết bàn, theo tiếng Sanscrit là Nirvana, tiếng Pali là Nibhana. Học giả Đoàn Trung Còn giải thích: Niết bàn là “cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái”, và theo lối triết tự thì: “Niết (Nir): ra khỏi, Bàn hay Bànna (Vana): rừng, tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não”(1). Pháp sư Huyền Trang triết tự Niết bàn - Nirvana như sau: 1, Nir: ra khỏi, ly khai; vana: con đường vòng vèo, quanh quẩn, đổi thay. Nirvana là ly khai con đường quanh quẩn, chuyển dịch (bứt vòng sinh tử luân hồi); 2, Nir: không; vana: hôi tanh, dơ bẩn, Nirvana là không hôi tanh, dơ bẩn (thanh tịnh, trong sạch); 3, Nir: xa lìa, đào thải; vana: rừng rậm, Nirvana là xa lìa rừng rậm (đào thải những phiền tạp của đời sống). Mặc dù các cách hiểu này không đồng nhất song đều có chung một nghĩa căn bản: Niết bàn là sự đoạn trừ dục vọng, dứt nghiệp báo luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối. Đó là sự ngưng đọng vĩnh cửu của không - thời gian trong cõi tâm linh sâu thẳm của con người. Như vậy, Niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc có vị trí không - thời gian như thiên đường của Thiên Chúa giáo, mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt ái dục, xoá bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não.

Khi nói tới vấn đề con người, phần lớn các tôn giáo đều thừa nhận con người có hai phần: phần xác và phần hồn; phần xác thì tồn tại tạm thời còn phần hồn thì vĩnh cửu nên sau khi thân xác bị huỷ hoại, linh hồn phải ở nơi nào đó để đầu thai vào một thân xác mới, tiếp tục cuộc sống mới. Duy nhất có một tôn giáo - triết học Phật giáo không thừa nhận có linh hồn bất tử, bởi thế cũng không cần có một không gian địa lý cho linh hồn cư ngụ. Đích của giải thoát trong Phật giáo không phải là lên Thiên đường, trở về với Chúa mà là sự tận diệt cái cá thể đầy những ham muốn dục vọng với sự u tối của kiếp người để đạt tới Niết bàn.

Thực ra, khái niệm Niết bàn không phải là sản phẩm riêng của Phật giáo. Kinh Upanishad trong Ấn Độ cổ đại đã sử dụng khái niệm này để chỉ trạng thái hoà nhập của linh hồn cá nhân (Atman) vào với linh hồn vũ trụ (Brahman), của tiểu ngã vào với đại ngã. Ở đây, Niết bàn được đồng nhất với linh hồn vũ trụ Brahman. Tới Phật giáo, khái niệm Niết bàn mang một nội dung mới mẻ và độc đáo hơn so với khái niệm Niết bàn trong Upanishad.

Kinh Phật nói như thế nào về Niết bàn? Đã nhiều lần học trò của Phật hỏi ông về khái niệm này. Ông thường tránh không trả lời hoặc đáp rằng: “Cái gì ta chưa bộc lộ sẽ không bao giờ được bộc lộ”. Có gì bí mật trong khái niệm trừu tượng, siêu nghiệm này? Không thể nói về Niết bàn bằng ngôn từ được. Ngôn từ sẽ trơn trượt, bất khả thuyết về cái bản thể tuyệt đối ấy. Trong Ngũ bộ kinh, có tới 32 từ có nghĩa tương đương với Niết bàn như: “đáo bỉ ngạn” (bờ bên kia), “đích cao cả”, “hoàn thành”, “chân lý”, “đăng minh”, “an lạc”, “giải thoát”... Đặc biệt, trong Kinh Niết bàn, khái niệm này đã được đề cập bằng ngôn ngữ phủ định: “vô sinh”, “khổ diệt”, “vô minh diệt”, “ái diệt”, “vô uý”, “vô tác”, “vô ám”, “vô ngại”, “vô xuất”... Trong lôgíc học và ngôn ngữ học, cách định nghĩa thông thường là quy một khái niệm nhỏ vào một khái niệm lớn hơn rồi chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của nó (Định nghĩa qua giống gần gũi và khác biệt về loài). Chẳng hạn, muốn định nghĩa về “tam giác đều”, trước hết phải quy về khái niệm “tam giác”, rồi sau đó chỉ ra đặc điểm riêng của tam giác đều để phân biệt với các loại tam giác khác (có ba cạnh hoặc ba góc bằng nhau). Tuy nhiên, với những khái niệm rộng, không còn khái niệm nào rộng hơn nữa (phạm trù) thì có một cách định nghĩa độc đáo là đặt khái niệm đó trong quan hệ với khái niệm đối lập. Trong triết học, có những phạm trù đã được định nghĩa theo cách này (phạm trù vật chất,...). Trong giáo lý nguyên thuỷ, Phật đã sử dụng cách định nghĩa độc đáo này, đó là đem đối lập Niết bàn với thế giới thực tại. Nếu thế giới thực tại là khổ thì Niết bàn là “khổ diệt”, nếu thế giới thực tại là “bờ bên này (bỉ ngạn) thì Niết bàn là “bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn), thế giới thực tại là mê lầm, không sáng suốt (“vô minh”) thì Niết bàn là sáng suốt (“vô minh diệt”)... Có thể tìm thấy rất nhiều đoạn trong kinh Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng là Niết bàn(2), “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”(3), “Diệt hẳn, mát mẻ, dứt bặt, gọi là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”(3), “Đấy là sự chấm dứt rốt ráo của chính dục vọng, vứt bỏ nó, thoát khỏi nó, dứt khỏi nó”(4). Phật ví sự tiếp nối giữa các đời trong vòng luân hồi như sự cháy tiếp nối của các cây nến. Cây nến này tàn, cây nến khác lại được thắp lên. Sức nóng hay năng lượng của cây nến cũ đã truyền sang cây nến mới. Giống như vậy, năng lượng của nghiệp truyền qua các đời. Con người chỉ được giải thoát khi nào tắt dòng năng lượng, chấm dứt nghiệp báo luân hồi. Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần. Phật hỏi: “Lửa đi về đâu?”, “Không! Nó chỉ tắt”. Phật nói rằng, đó chính là điều xảy ra cho người giác ngộ. Dục vọng là nhiên liệu cho ngọn lửa cháy, truyền năng lượng qua các kiếp luân hồi triền miên. Nếu không nuôi dưỡng ngọn lửa đó nữa, nghĩa là không còn dục vọng, nó sẽ lụi tàn. Khi đó, Niết bàn được hiểu như sự thanh lương, mát mẻ.

Đôi khi, Phật nói tới Niết bàn như là cái không sinh, không tăng trưởng và không giới hạn. Trong Kinh Trung bộ, Niết bàn được đồng nhất với chân lý tuyệt đối, vượt khỏi những ý niệm nhị nguyên, tương đối.

Về thực chất, Niết bàn trong Phật giáo là một khái niệm phi thời gian, phi không gian, vô định về mọi mặt, không có điểm khởi đầu và cũng không có hồi kết thúc. Vậy, có thể tìm thấy Niết bàn ở đâu khi Niết bàn không ở trong một không - thời gian cụ thể? Phật trả lời rằng, có thể tìm thấy Niết bàn không phải ở nơi tận cùng của thế giới mà ở ngay trong tấm thân một thước mấy của con người. Theo Phật, chính tư duy sai lầm đã ngăn cách không cho con người thấy được Niết bàn trong thực tại. Bởi thế, để đạt được Niết bàn, trước hết, con người phải khắc phục những sai lầm trong nhận thức của mình, thoát khỏi vô minh, giác ngộ được lẽ “vô thường” và “vô ngã”. Niết bàn là “vô ngã”: “Niết bàn là cái gì tuyệt đối không dung ngã. Niết bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, vì Niết bàn là vô tướng - vô tướng nên khó vào. Muốn vào Niết bàn ta cũng phải vô tướng như Niết bàn. Cửa Niết bàn rất hẹp, chỉ bằng tơ tóc, nên ta không thể mang theo hành lý mà hy vọng vào được Niết bàn. Cái thân đã không mang theo được, mà cả ý niệm về tôi, về ta cũng không thể mang theo được. Cái ta càng to thì càng xa Niết bàn. Nên biết rằng: hễ hữu ngã là luân hồi mà vô ngã là Niết bàn”(5).

Thoát khỏi cái bản ngã là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì sẽ không thoát khỏi những khổ đau nhân thế. Niết bàn là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường - lạc - ngã - tịnh, trái ngược với vô thường - khổ - vô ngã - bất tịnh của thế giới thực tại. Walpola Rahula đã phân tích khá sâu sắc trạng thái này: “Người đã chứng ngộ chân lý, Niết bàn là người hạnh phúc nhất trần gian. Người ấy đã thoát khỏi mọi mặc cảm và ám ảnh, mọi phiền não và lo âu làm cho những người khác bị điêu đứng. Sức khoẻ và tinh thần của người ấy thật hoàn toàn. Họ không hối tiếc quá khứ cũng không mơ mộng về tương lai. Họ sống hoàn toàn trong hiện tại. Bởi thế họ thưởng thức và vui hưởng sự vật một cách thuần tuý, không dự phóng. Họ vui vẻ, hoan hỷ thưởng thức sự sống thuần khiết, sáu giác quan khinh an, không lo lắng, bình thản và thanh thoát. Vì họ giải thoát khỏi dục vọng ích kỷ, thù hận, vô minh, kiêu căng ngã mạn và trên cả những thứ bất tịnh xấu xa ấy. Họ trong sạch, từ hoà, đầy lòng thương bao quát, từ bi, tử tế, thiện cảm và khoan dung. Họ phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì không còn nghĩ gì về mình. Họ không kiếm chác, tích chứa gì ngay cả những gì thuộc địa hạt tâm linh, bởi họ thoát ra khỏi cái tôi và lòng khao khát trở thành...”(6).

Nhìn chung, Phật giáo thường đề cập tới hai hình thức cơ bản của Niết Bàn: Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn. Hữu dư Niết bàn là Niết bàn tương đối, Niết bàn tại thế: nghĩa là, Niết bàn đạt được khi thể xác vẫn còn tồn tại nhưng tâm đã thoát khỏi vòng luân hồi bất tận. Người đó tuy còn sống nhưng mọi phiền não đã được diệt, ba nọc độc tham - sân - si đã tiêu trừ. Bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đạt tới Hữu dư Niết bàn khi ông 35 tuổi, lúc nhìn thấy sao mai mọc, sau 49 ngày ngồi dưới gốc cây bồ đề để chiêm nghiệm về chân lý. 45 năm còn lại của cuộc đời, mặc dầu tâm đã xoá được vô minh, phiền não song ông vẫn không thoát khỏi sinh - lão - bệnh - tử.

Vô dư Niết bàn là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn xuất thế hay còn gọi là Đại Niết bàn. Kinh Bản sinh giải thích: “Thế nào là Vô dư Niết bàn?... Đó là trạng thái đã chứng được La Hán, hết sạch các phiền não, phạm hạnh đã được thành lập, việc cần làm đã làm đủ, đã vứt bỏ mọi gánh nặng, đã chứng tự nghĩa, đã khéo giải thoát, đã được biết khắp. Tất cả các điều cảm thụ bây giờ đều không còn do nhân dẫn đến, không còn mong cầu, hy vọng cũng hết, rốt ráo tịch lặng, vĩnh viễn trong mát, ẩn lặng không hiện, chỉ y vào cái thanh tĩnh không lý luận, không thể bảo rằng có, cũng chẳng thể nói rằng không mà cũng không cho rằng chẳng có chẳng không”(7). Vô dư Niết bàn chỉ đạt được khi đã chấm dứt sự tồn tại của thân xác.

Xét về mặt bản chất, Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn đều chỉ về trạng thái tâm linh thanh tịnh tuyệt đối, tự do tự tại của con người. Điểm khác biệt là ở chỗ, Niết bàn đó đạt được khi thân thể còn sống hay đã chết mà thôi."[2]

[1][2]: Thư viện Hoa Sen (Nguồn: Tạp Chí Triết Học - Viện Triết Học)
--------------
(1) Đoàn Trung Còn. Phật học từ điển, t.1. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1995, tr 335.

(2) Thích Tuệ Sỹ (dịch). Kinh Trung A Hàm. Http://www.quangduc.com.

(3) Thích Tuệ Sỹ (dịch). Kinh Tạp A Hàm. Http://www.quangduc.com.

(4) Thích Minh Châu (dịch). Kinh Trường bộ. Http://www.quangduc.com.

(5) Thích Thiện Siêu. Vô ngã là Niết bàn. Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2000, tr 115.

(6) Walpola Rahula. Tư tưởng Phật học. Ban Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1994, tr 68 - 69.

(7) Thích Trí Nghiêm (dịch). Kinh Bản sinh. Http://www.quangduc.com.

Friday, March 2, 2018

Triết lý nhân sinh

Lão Tử là một nhân vật chính  trong Triết học Trung Hoa, sự tồn tại của ông trong lịch sử hiện vẫn đang còn được tranh cãi. Theo truyền thuyết Trung Hoa, ông sống ở thế kỷ 6 TCN. Nhiều học giả hiện đại cho rằng ông sống ở thế kỷ 4 TCN, thời Bách gia chư tử và thời Chiến Quốc. Lão Tử được coi là người viết Đạo Đức Kinh, cuốn sách của Đạo giáo có ảnh hưởng lớn, và ông được công nhận là Khai tổ của Đạo giáo.

Lão Tử đã phát triển khái niệm "Đạo", với nghĩa là "Con đường", thời Lão Tử mọi ngành nghề đều có một chữ "Đạo" đằng sau, Lão Tử nói Đạo của mình là "Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh" (Đạo mà nói ra được thì không còn là đạo bình thường nữa. Tên mà đặt ra được thì không còn là tên bình thường nữa. Chữ Đạo ngoài nghĩa là "Đường" còn có nghĩa là "Nói", Danh ngoài nghĩa là "Tên" còn có nghĩa là "Đặt tên") và mở rộng nghĩa của nó thành quy luật hay nguyên lý của vũ trụ tuần hoàn và tác động lên vạn vật: "đạo là cách thức của thiên nhiên". Ông nhấn mạnh khái niệm vô vi, "Hư vô thanh tĩnh, tự nhiên vô vi", hay "hành động thông qua không hành động", "hành động thuận theo tự nhiên không có mục đích phi tự nhiên".

Năm 50 tuổi, ông đã soạn ra “Mười điều vô ích”, tổng hợp những việc làm thường được người ta coi là có ích, phân loại ra để làm giới định. Nói cách khác, nếu chưa đạt một số điều kiện, thì một sự việc xem có vẻ như hữu ích, nhưng rất có thể là vô ích.

Một: “Tâm bất thiện, phong thủy tốt vô ích”
Nếu như  tâm không lương thiện, dù có chú trọng vào phong thủy thì cũng vô dụng.

Hai: “Bất hiếu với cha mẹ, cúng thờ Thần vô ích”
Nếu như không hiếu thuận với cha mẹ, dù cho thờ phụng thần linh cũng không có tác dụng gì.

Ba: “Anh em không hòa thuận, kết giao bằng hữu vô ích”
Nếu như anh em chung một nhà cư xử với nhau không tốt,
ra bên ngoài kết giao bao nhiều bạn bè cũng chẳng ích gì!

Bốn: “Hành vi không đúng đắn – đọc sách vô ích”
Một người lời nói và việc làm không đứng đắn, thì đọc nhiều sách hơn nữa cũng khó mà thay đổi bản thân.

Năm: “Tâm cao khí ngạo, học nhiều vô ích”
Nếu như một người kiêu ngạo, tự cao tự đại, luôn nghĩ mình đúng, vậy thì học nhiều cũng như không.

Sáu: “Làm việc quái đản, thông minh vô ích”
Nếu như một người làm việc cố chấp, vô lý, như vậy dù có thông minh cũng không kết giao được với những người bạn tốt.

Bảy: “Thời vận chưa đến, quá đòi hỏi vô ích”
Nếu như thời cơ chưa đến, thì có cưỡng cầu cũng vô dụng, vì thế nên kiên trì hoàn thiện chính mình, và thuận theo tự nhiên!

Tám: “Chiếm của người khác – bố thí vô ích”
Nếu như một người thông qua phương thức bất chính để thu lợi, như vậy cho dù có cầm số tiền này đi làm việc thiện cũng là vô dụng!

Chín: “Không tiếc nguyên khí, y dược vô ích”
Nếu như một người không yêu quý thân thể của mình, đợi đến khi nguyên khí bị tổn thương rồi, về sau có dùng y dược nhiều bao nhiêu không làm khí lực quay trở lại như lúc còn khỏe mạnh được!

Mười: “Dâm ác tứ dục, âm đức vô ích”
Nếu như một người sống phóng túng xa xỉ, hoang dâm vô độ, cho dù có làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức cũng uổng công vô ích!

Lê Minh (Debrecen,VIDI69) st

Friday, February 23, 2018

Ngôi sao hạnh phúc (2)

(tiếp theo)

4. Đề ra mục tiêu
Nếu điều cần thiết là nhận ra và tận hưởng những khoảng khắc nhỏ của hạnh phúc mà cuộc sống hàng ngày dành cho chúng ta, thì điều quan trọng không kém là đôi khi chúng ta phải đặt mình vào kiếp nhân sinh: "Liệu tôi có đang hạnh phúc với cuộc sống mà tôi đang có?".
Karl-Heinz Ruckriegel chỉ ra: "Mục tiêu phải thực tế và có giá trị" để xác định ai hiện diện trên đường hạnh phúc và từ đó xác định mục tiêu thích đáng. "Thực tế" ở đây có nghĩa là bạn có thể đạt mục tiêu đề ra. Và có "giá trị" có nghĩa là các mục tiêu phải có giá trị dài hạn và cá nhân bạn có thể thực hiện không hạn chế.
Những mục tiêu này có thể chứa nhiều tham vọng. Một khi đã xác định được mong ước, chúng ta phải tìm cách từng bước đạt được nó. Hãy trang bị cho mình sự dũng cảm, tính kiên trì và lòng khoan dung, đặc biệt là khi có nhiều thay đổi quan trọng phát sinh trong quá trình thực hiện mục tiêu đề ra.
Điều này đã được Angelika Holdau thực hiện. Ở tuổi 50, Angelika là nhân viên của một nhà xuất bản từ 20 năm qua. Đã nhiều năm qua, Angelika muốn bắt đầu công việc kinh doanh riêng của mình, chị không còn vui thích với công việc ở nhà xuất bản vì môi trường làm việc đã thay đổi nhiều. Chị cảm thấy áp lực trong công việc tăng cao, mọi việc xung quanh diễn ra ngày càng nhanh. chị than thở: "Vai trò cá nhân ngày càng giảm đi tính quan trọng. Tôi cảm thấy khát vọng được độc lập dâng lên trong tôi".
Từ lâu, sự mất an toàn về tài chính đã hãm bước chân chị. Angelika kể: "Cách đây 1 năm, đột nhiên tôi biết tôi sẽ xin nghỉ việc để làm phóng viên hay huấn luyện viên. Từ đó, tôi không ngừng khuyến khích quyết định của tôi. Tôi có cảm giác như đang cầm trong tay bó hoa nhiều màu sắc tượng trưng cho nhiều khả năng đa dạng. Tôi không hề hối tiếc về sự lựa chọn này. Và tôi nóng lòng muốn biết tương lai dành cho tôi".

5.Hãy lập ra thách thức
Sự bình thản và lặp đi lặp lại làm chúng ta cảm thấy thoải mái, nhưng bạn sẽ hạnh phúc hơn khi thỉnh thoảng thở phì phò hay khịt mũi. Hãy luôn tò mò! Thực hiện chuyến du lịch đến một đất nước xa lạ, ghi tên học khóa ngoại ngữ hay một nhạc cụ mà bạn luôn muốn học: chừng ấy dự định đòi hỏi một liều vừa phải về chuyên cần và can đảm.
Nỗ lực của bạn sẽ được đền đáp xứng đáng. Bất cứ ai thường xuyên thực hiện những dự định mới đều có cuộc sống mãnh liệt hơn. Giải quyết vấn đề, làm giàu kiến thức là nhu cầu bẩm sinh sẵn có nơi mỗi người. Những hoạt động có yêu cầu cao đánh thức các giác quan của bạn và nhờ đó mà não bộ vận động hết công suất, sẽ tạo ra niềm hạnh phúc rất đặc biệt.
Các nhà nghiên cứu nói về dòng chảy dạt dào, một trạng thái tinh thần làm chúng ta quên hết thế sự xảy ra xung quanh để vượt ra khỏi không gian và thời gian. GS Ruckriegel cho biết: "Điều kiện tiên quyết để đạt được trạng thái trên là phải xác định được những hoạt động có thể làm bạn hoàn toàn thăng hoa. Bạn sẽ đạt được trạng thái trên khi nỗ lực mở rộng tầm nhìn mà không thấy bị choáng ngợp".

6. Thực hành nghệ thuật bình tâm, thanh thản
Cảm nhận hạnh phúc khác nhau giữa người này và người kia. Điều này tùy vào thái độ của họ. Chỉ cần quan sát cách mà mỗi người thể hiện sự tức giận khi bị kẹt cứng, bị mất đi thời gian quý báu giữa dòng xe cộ tắc nghẽn trên đường cũng nhận ra được. Chính GS Ruckriegel cũng trải qua trạng thái giận dữ sau tay lái. Cho đến một ngày, khi nhận ra: "Tức giận về điều mà chúng ta không thể thay đổi là cực kỳ vô lý và ngu xuẩn".
Nhận thức này giúp Ruckriegel thay đổi cách nhìn vấn đề. Thay đổi quan điểm thường dễ hơn nhiều so với điều bạn nghĩ. Ông cho biết: "Chúng ta hoàn toàn có thể điều chỉnh cảm xúc tiêu cực cũng như thay đổi cảm giác bằng chính nhận thức của mình".
Hãy thực hành: trong các vụ tắc nghẽn giao thông hay khi phải đứng nối dài như rồng rắn chờ đợi đến lượt mình ở siêu thị, trong các phòng chờ đông nghẹt ở khu khám bệnh. Không còn cách nào khác là phải chờ. Sự mất kiên nhẫn và rồi sự tức giận dâng trào. Nhưng thay vì nuôi dưỡng tức giận, nên tự tách mình ra khỏi tình huống bằng suy nghĩ, nhận thức một cách có ý thức. Làm như vậy có nghĩa là bạn đã thay đổi quan điểm, cách nhìn vấn đề và từ đó thay đổi thái độ.
Chính nhận thức được: Giận dữ chỉ càng làm cho tình huống tồi tệ hơn chứ không giải quyết được gì cả. Nếu bình tĩnh trở lại, bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Và thậm chí bạn có thể tìm thấy khía cạnh tích cực trong lúc chờ đợi chăng? Bạn có thêm thời gian, bình tâm cho nội tại và một chút tự do.
Thực hành nghệ thuật thanh thản giúp bạn sẵn sàng đối mặt với tình huống xấu vì, ngay cả với những người hạnh phúc, cuộc sống đôi khi cũng làm cho họ nỗi buồn và đau khổ. Wilhelm Schmid tự hỏi: "Có khi nào chúng ta chỉ có toàn là hạnh phúc? Cuộc sống không thể chỉ có niềm vui, sức khỏe và sự hài hòa, mà còn có cả nhiều rắc rối, bệnh tật và đau khổ". Bình thản đồng nghĩa với việc có thể chịu đựng những mâu thuẫn này. Ông vui vẻ kết luận: "Tôi có thể chấp nhận thực tế rằng cuộc sống luôn dành cho chúng ta cả hai điều đối nghịch: hạnh phúc và đau khổ".

(hết)

Thursday, February 22, 2018

Ngôi sao Hạnh Phúc (1)

Bạn có nằm trong số những người luôn may mắn? Hay bạn là người sinh ra với ngôi sao hạnh phúc?
Nhưng nếu bạn không thuộc về những người trong số họ thì cần vun đắp hạnh phúc theo nhiều cách khác nhau để tìm thấy những điều tốt lành và trau dồi chúng để trở nên là người có một cuộc sống đáng sống.

1. Hãy nâng niu mối quan hệ giữa người và người
Hạnh phúc đến từ vật chất, sắc đẹp và sự nổi tiếng chỉ là phù du, do đó không bảo đảm một sự thỏa mãn lâu dài.
Tình bạn, tình yêu sẽ bền lâu suốt đời. Con người là chủ thể phụ thuộc vào mối quan hệ với người khác. Chúng ta cảm thấy an toàn khi có nhiều người ở bên cạnh. Bạn bè và người thân trong gia đình ủng hộ chúng ta đối mặt với những khó khăn. GS Karl-Heinz Ruckriegel, nhà kinh tế học thuộc Đại học Nuremberg, Đức, khuyên: "Các bạn hãy đầu tư vào mối quan hệ giữa người và người. Cảm giác hạnh phúc của một lần mua sắm chỉ kéo dài khoảng 10 giây. Ngược lại, viếng thăm bạn bè, người thân mang đến cho bạn sự lạc quan, tự tin lâu dài".
GS Wilhelm Schmid, triết gia, tác giả của nhiều cuốn sách về nghệ thuật sống được dịch ra nhiều ngôn ngữ, hiện sống tại Berlin và dạy tại ĐH Erfurt, giải thích: "Ngày nay, muốn bền vững, mọi quan hệ đòi hỏi nhiều nỗ lực. Ngay cả những mối quan hệ gần gũi nhất cũng có thể dễ dàng tan vỡ. Nhiều người mong muốn có quan hệ thân tình với tha nhân nhưng vẫn giữ được tự do. Điều này, theo quan điểm triết học, tạo ra tình huống song đề (dilemme) rất khó xử vì phải chọn một trong hai". Ông nhấn mạnh: "Trong mối quan hệ vợ chồng, bạn bè, phát sinh rất nhiều va chạm, xích mích do vô ý, thiếu ân cần". Từ đó ông đưa ra lời khuyên giúp duy trì mối quan hệ thân thiện và bền vững hàng ngày: "Hãy lưu ý đến nhu cầu của người mà bạn thương yêu. Hãy chú ý đến những gì họ quan tâm hay lo lắng".
Điều này đòi hỏi phải chấp nhận gần gũi, chăm chút nhau vào những thời điểm khác nhau của cuộc sống. Khi nhận thấy khoảng cách giữa 2 người quá lớn, bạn phải hành động. GS Schmid nêu rõ: "Đây là lúc phải thể hiện rõ ràng bạn quan tâm và muốn điều tốt đến với đối tác".

2. Chăm sóc bản thân
Hạnh phúc có tác động đến sức khỏe của chúng ta. GS Karl-Heinz Ruckriegel cho biết: "Ngoài việc cảm thấy khỏe khoắn, dễ chịu khi hạnh phúc, bạn còn thấy cơ thể tràn đầy sinh lực, hệ miễn dịch mạnh hơn và tuổi thọ dài hơn". Điều ngược lại cũng đúng: chăm sóc cho cơ thể khỏe mạnh giúp nâng cao tinh thần.
Anne Umgelter, nữ bác sĩ khoa thể thao, thừa nhận vận động thể chất là hết sức cần thiết đối với sức khỏe. Vị nữ bác sĩ 48 tuổi cho biết: "Vận động làm giảm tỷ lệ hormone gây căng thẳng, có tác dụng chống trầm cảm và kích thích cơ thể sản xuất hormone hạnh phúc". Anne cảm thấy vận động có tác dụng rất tốt đến cơ thể khi chị thực hiện chạy bộ 3 lần mỗi tuần và cho biết: "Vận động thể chất giúp tôi đạt sự cân bằng nội tại, trả lại sự bình lặng cho tâm hồn".
Với những người vẫn sống nhàn rỗi, xa rời vận động, nữ bác sĩ khuyên họ nên bắt đầu tập luyện 3 lần mỗi tuần, 20 phút mỗi lần như đi bộ nhanh, chạy chậm, khiêu vũ hay bất cứ loại hình vận động an toàn nào mà bạn cảm thấy thích thú. Tốt nhất là nên vận động với bạn bè. Cô khuyến khích: "Mỗi bước, mỗi nỗ lực là một sự khởi đầu đầy ý nghĩa".
Sự chuyên cần mang tính quyết định. Bác sĩ Anne nhận xét: "Với thời gian, bạn sẽ tìm thấy niềm vui trong luyện tập thể thao". Rút kinh nghiệm từ thực tế, cô mạnh dạn tuyên bố: "Hầu hết mọi người cảm thấy thích thú đến độ họ nghĩ rằng sẽ không thể bỏ qua bất kỳ cữ tập nào".
Thời gian nghỉ ngơi cũng không kém phần quan trọng vì giúp cơ thể hồi phục. Cố gắng ngủ đủ giấc, ăn uống cân bằng. Được vậy, cơ thể và tâm trí của bạn sẽ rất "hài lòng". Điều này đã được Christophe André, bác sĩ khoa tâm lý bày tỏ: "Hãy tôn trọng cơ thể của bạn như mọi người tôn trọng thiên nhiên. Cơ thể không thuộc sở hữu của chúng ta. Chúng ta là những người thuê cơ thể làm nhà ở".

3. Hãy thể hiện lòng biết ơn
Nhiệt huyết thời còn trẻ thường khuyến khích mọi người tin rằng tất cả đều do chính bản thân làm ra. Wilhelm Schmid, 62 tuổi, nhìn vấn đề khác hẳn: "Với tuổi tác, con người hiểu ra rằng có ai đó đã tạo cơ hội cho chúng ta, đã yêu thương chúng ta, đã cho chúng ta sức mạnh. Chúng ta không đến với cuộc sống một cách đơn độc. Không có điều gì chỉ phụ thuộc một mình ta".
Đó là yếu tố để định được giá trị của lòng biết ơn. Nó giúp chúng ta tập trung vào khía cạnh tốt đẹp của cuộc sống. Wilhem Schmid nói thêm: "Lòng biết ơn kích thích chúng ta yêu chuộng làm điều tốt lành cho cuộc sống, cho nhân loại".
Thiện chí trên đưa chúng ta trở về với mặt tích cực của sự việc. Wilhelm Schmid cho biết: "Cách chúng ta nhìn cuộc sống thường méo mó, sai lệch. Cuộc đời là trái ngọt của di sản sinh học từ những giờ khắc đầu tiên của nhân loại. Trước đây những người sống sót là những người biết thừa nhận những điều tiêu cực, khắc ghi và phòng tránh chúng. Hậu quả: sợ hãi và lo lắng, đau đớn và thống khổ tiếp tục tạo ấn tượng lên não bộ mạnh hơn các khía cạnh tích cực".
Tuy nhiên, bi quan không đưa ra một nhận thức thực tế hơn về cuộc đời. Hay như Boris Cyrulnik, nhà tâm lý-thần kinh học nói: "Bạn phải hiểu rằng bi quan hay lạc quan không liên quan gì với thực tế. Chúng phụ thuộc vào sự biểu hiện điều có thật".
Để thực hành nghệ thuất sống lạc quan, GS Ruckriegel khuyên ghi lại hàng ngày những kinh nghiệm tích cực vào "sổ nhật ký về lòng biết ơn".
Amina Steiner, nữ sinh viên 19 tuổi, vừa tốt nghiệp ngành du lịch và khách sạn tại Áo, đã thử nghiệm khái niệm trên. Trong kỳ thi, tâm trí của Amina dường như bị quay cuồng bởi bài vở, Amina cho biết: "Quyển nhật ký đã giúp tôi tập trung vào những giây phút hạnh phúc nho nhỏ hàng ngày, duy trì sự lạc quan và cho tôi sức mạnh". Suốt 3 tuần, Amina viết nhật ký và chia sẽ cảm tưởng của mình trên blog. Amina giải thích: "Thời gian đó tuy ngắn ngủi, nhưng đủ để giúp tôi nhận thức rõ ràng hơn về những thời khắc tốt đẹp của cuộc sống".
Bất cứ ai trải qua kinh nghiệm này đều nhanh chóng nhận ra rằng họ có rất nhiều khoảnh khắc thú vị với những người khác. Điều này cũng được triết gia Wilmhelm Schmid trải qua. Cách đây 20 năm, ông cảm nhận lòng biết ơn sâu sắc với mẹ mình, nay đã qua đời. Wilhelm cho biết: "Tôi cảm thấy hạnh phúc vô vàn vì đã nhiều lần nói lời cảm ơn mẹ mình". Wilhelm đã đền đáp lại mẹ niềm hạnh phúc mà người đã mang đến cho mình. Trải nghiệm có thể được thể hiện bằng lời nói. Lời "cảm ơn" mang đến hạnh phúc cho người mà anh muốn gửi đến và cho cả chính anh!

(còn nữa)

Đăng lại từ bài "Đường đến hạnh phúc" của Hòa Duy (KTNN No.991)

Wednesday, February 14, 2018

Đôi cánh Tình Yêu

Yêu nhau là khi không cần phải tự nhủ về việc làm tròn bổn phận của một người tình để bày tỏ tình cảm với nhau, phải có ý thức/trách nhiệm quan tâm đến nhau, rằng: "Hãy lưu ý đến nhu cầu của người mà bạn thương yêu. Hãy chú ý đến những gì họ quan tâm hay lo lắng"*, tự mỗi người cũng tập trung gần như toàn bộ thời gian cho "người đặc biệt" trong trái tim mà lúc đó gần như còn hơn cả thế giới.

"Power of Love" có sức mạnh vô biên, yêu đương biến ta trở thành "siêu nhân" sống bằng sức mạnh tinh thần "mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội..." để đến với người ta yêu. Thời gian của những người "fall in love" - yêu và được yêu, như ngưng đọng khi họ luôn sống trong chờ đợi và tìm mọi cách để được bên nhau. Thời gian và không gian dường như vô nghĩa với thời kỳ hẹn hò đầy ắp kỷ niệm. Cháy bỏng trong tim là hình ảnh của người yêu dấu, chỉ cần một hơi thở, một ánh mắt hay nụ cười... hay một chút gì thuộc về người yêu cũng làm trái tim rung động lạ kỳ, khiến ta như muốn viết vô vàn dòng thơ, tuôn tràn trong ta những âm điệu bay bổng tràn ngập không gian ngợi ca tình yêu muôn thuở...
Nếu không như thế, có nghĩa là chưa yêu. Là tự dối lòng, là ảo tưởng vô vọng... hay chỉ yêu mà không được yêu. Là duyên tình chưa đến, kiếp này đành dang dở lỡ làng, là sụp đổ trong hoang tàn... là một kẻ thất tình khốn khổ. Hoặc đã có tình yêu, có được hạnh phúc trong đời nhưng lại đánh mất vì tình cảm nguội lạnh dần bởi phát sinh những va chạm, xích mích do vô ý, thiếu ân cần, để sự xoi mói/đố kỵ nhỏ nhen và cả những người khác len vào rồi chạy theo những cám dỗ/lạc thú bên ngoài làm cho khoảng cách giữa hai người ngày càng quá lớn. Tình yêu như cánh chim: "Đất lành chim đậu", khi tình cảm không còn nồng ấm, sự gắn bó tưởng chừng không gì phá vỡ nổi của thời kỳ yêu đương mà vì thế kết thành đôi lứa nay trở thành sự ràng buộc phải chịu đựng làm cuộc sống như không còn chút gì hương vị của ngày xưa... thì tình sẽ vỗ cánh bay đi.

Khi yêu nhau, người ta cảm thấy như cả hai cùng bước vào vườn Địa đàng, trong thế giới chỉ của hai người, bởi lúc đó, cả hai đều tin yêu/gắn bó với nhau, hòa hợp như trong một cơ thể. Còn khi rời xa nhau, người ta cảm thấy như bị rơi vào vực thẳm trống rỗng vì đã mất đi niềm tin đó. Khi gặp nghịch cảnh, nhiều người từng chết đi sống lại nhiều lần, có người trở lại với cuộc sống, "tái sinh" với sự mạnh mẽ và khôn ngoan hơn nhưng nhiều người đã không vượt qua được số phận nghiệt ngã của mình.

Trải nghiệm yêu đương như rượu nồng của đời. Hãy tận hưởng và chắt chiu từng giọt tình để cuộc sống mang theo hương vị mà với ta và người yêu sẽ vẫn mãi là hương vị của tình yêu không chút đắng cay vì tiếc nuối và không phải ân hận sau những gì đã mất.

(*): GS Wilhelm Schmid - ĐH Erfurt, CHLB Đức

Monday, July 24, 2017

Sống cân bằng

Hầu như con người chưa có được ý thức và trách nhiệm một cách rõ rệt với bản thân và người khác từ lúc sơ sinh cho đến khi bắt đầu nhận thức được về những gì xảy ra xung quanh bởi bên trong họ luôn tồn tại nhiều câu hỏi. Càng trưởng thành, cuộc sống càng nhiều va chạm thì việc làm thế nào để có một cuộc sống cân bằng là câu hỏi không phải lúc nào cũng có giải đáp thỏa đáng.

Vấn đề của bản thân và những mối liên hệ với thế giới bên ngoài làm loài người khác với những sinh vật khác trên trái đất. Không như muông thú sống với những đặc tính hình thành theo quá trình chọn lọc tự nhiên để sinh tồn, loài người muốn thoát khỏi thiên nhiên, chế ngự nó với tham vọng trở thành Chúa tể của vạn vật như một sinh vật siêu nhiên đầy quyền năng trên thế giới.

Đừng tự đặt giới hạn cho bản thân, muốn sống thế nào thì cứ thế mà sống, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì và bất kỳ ai, là cuộc sống đáng sống nhất. Nhưng mang bản chất được định hình bởi Tạo Hóa, con người còn phải thăng hoa và sống bằng những trải nghiệm vui buồn của cuộc đời nữa. Tuy nhiên, không thể tùy tiện/bừa bãi mà phải điều độ, có chừng mực rõ ràng.


Càng suy nghĩ nhiều về 1 vấn đề, nó sẽ càng trở nên nặng nề. Sống vô tư và khách quan, vì danh dự của con người, chẳng cần quan tâm đến dư luận/người ngoài nếu tự thấy bản thân chẳng có gì đáng trách. Ko cần phải nghiêm trọng hóa mọi việc. Hãy sống thanh thản, ko phải 1 cuộc đời đầy nuối tiếc.

Tự nhìn nhận mình là đủ. Tuy nhiên, ko nên liều lĩnh khi bản thân chưa đưa ra quyết định cuối cùng. Không làm được thì thà chết còn hơn sống vì có khác gì chết rồi mà chưa chôn.

Cần phải tôn trọng mình và tôn trọng người khác trong mọi mối quan hệ. Tôn trọng người khác lẽ ra phải biểu lộ một cách tự nhiên trong cách cư xử chẳng cần phải cân nhắc. Nhưng như thế không có nghĩa là phải chấp nhận cả những gì phi lý. Mọi người cùng sống vì nhau là kho báu quý giá của cuộc sống.
Tôn trọng bản thân, về mặt sinh học, trước hết là phải tự biết/tôn trọng "đồng hồ sinh học" trong con người mình, không được áp đặt ý muốn của mình với nó. Đó cũng là nguyên tắc để giữ sức khỏe cho mình. Và còn những điều vô giá khác nữa. Có những giới hạn không được phá vỡ.

''Đứng núi này trông núi nọ'' hoặc "Có mới nới cũ" là thói đời dễ làm con người chao đảo, cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Sống ích kỷ trong dục vọng, quá nhiều ham muốn, bó hẹp và không ổn định dễ dẫn đến những sai lệch/chệch choạc, có người vượt được nhưng cũng có người vấp ngã. Tình yêu bình thường chỉ tồn tại trong 1 khoảng ngắn ngủi, nhưng tình yêu thật sự sẽ vượt mọi giới hạn. Hãy làm những điều bình thường bằng cách phi thường, bởi tình yêu đích thực là động lực của những hành động đó!

Để bị sa ngã thì không còn cơ hội lấy lại sự cân bằng. Bi kịch cuộc đời có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai. Không phải vì hay hoặc dở, mà vì tâm tính và bản chất/tâm trạng trong những điều kiện/hoàn cảnh không giống nhau mà ra. Hãy học từ sai lầm của người khác bởi ko ai sống đủ lâu để tự biết hết mọi sai lầm. Con người thường ko biết mình đang có gì cho đến khi mất nó.

Nhiều người có những thứ người khác thèm muốn, họ tự hào về những gì mình có, nhưng nếu đó chỉ là những gì tạm bợ thì cũng đừng sống quá ảo tưởng, suy diễn hay thêu dệt một cách chủ quan vì dễ làm con người mắc phải sai lầm. "Không phải bạn kiếm được bao nhiêu mà bạn sử dụng cái kiếm được như thế nào mới quyết định đẳng cấp"*. Những gì không làm nên con người thì chẳng có chút giá trị nào.

Nếu không có lòng tin vào con người và cuộc sống thì chúng ta có thể sống như thế nào? ''Bạn có thể bị lừa dối nếu tin tưởng quá nhiều, nhưng bạn không thể tồn tại nếu không có lòng tin."** Cuộc sống gồm 10% những gì xảy ra với bản thân, còn lại là cách con người đối phó với chúng.

Hãy yêu, nếu muốn được yêu! Nếu để trái tim mình hối tiếc về những gì đã qua, lo lắng cho nhày mai thì sẽ ko có ngày hôm nay.

Có lẽ vì thế mà con người suốt đời tìm kiếm sự cân bằng cho cuộc sống vốn lệch lạc của mình?

(*): Sinclair Lewis
(**): Frank Crane