Showing posts with label Tư liệu HCM. Show all posts
Showing posts with label Tư liệu HCM. Show all posts

Wednesday, July 19, 2023

Chuyện cũ: Nam Tư có phải là nước XHCN hay ko?

Nam Tư xưa và ông Kim Ngọc xưa - Một hồi cố

                 Gọi là Nam Tư xưa vì cái Liên bang ấy nay không còn nữa. Thay vì nó nay đã có sáu nước cộng hòa nhỏ với bao nhiêu mâu thuẫn nhau và tranh chấp Địa- Chính trị quốc tế.

      Trong suốt mấy thập niên thế kỷ XX, “Nam Tư “ (Yougoslavia) là từ “húy kỵ” ở nước ta vì nước này bị khai trừ ra khỏi phe ta năm 1949, bị vu cho là “tên biệt kích của Chủ nghĩa Xét lạ trong phong trào Cộng sản quốc tế, là con vi-rút được đế quốc thả ra để phá hoại". Tội lớn nhất của Nam Tư là Liên đoàn Những người Cộng sản Nam Tư đứng đầu là nguyên soái J. Tito, khác với Liên Xô và Đông Âu, đã có hai cái độc lập: a) Chấp nhận kinh tế thị trường để xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa (!), b) Không tiến hành đấu tranh Giai cấp qua các cuộc cải cách.  Cái cụm từ “ Kinh tế thị trường” vốn cấm kỵ số một trong lý thuyết và thực hành kinh tế ở các nước Xã hội chủ nghĩa, nơi kinh tế tập trung kế hoạch hóa là chủ thể, cũng là ranh giới giữa ta và địch.  Năm 1949 Nam Tư bị Stalin khai trừ ra khỏi phe ta, cử ông George Ghiude, Tổng bí thư Rumani sang gặp Tito để phổ biến.

                Thực ra ở ta, Bác Hồ có tư duy độc lập, luôn trước sau chủ trương đoàn kết các nước anh em và Bác cũng muốn tìm hiểu sự thể. Năm 1957, tình hình Đông Âu rất phức tạp. Sau vụ chính biến Hungari 1956, Ba Lan biểu tình và đình công, cái án Nam Tư thì vẫn còn treo, Bác thăm Hung rồi “vượt rào” sang thăm Nam Tư bằng chuyên cơ của không quân Nam Tư theo lời mời của Chủ tịch J.Tito, nghĩa là  Bác vẫn coi Nam Tư là nước gần gũi với ta. Bác đã được Chủ tịch J.Tito đón tiếp cực kỳ nồng hậu ( Ông đã lái xe mui trần quanh thủ đô Beograd chở Bác đi xem thành phố). 

             Năm 1958, Hội nghị các Đảng CS ở Bucarest ra nghị quyết tiếp tục coi Nam Tư là “Xét lại”, cần xa lánh nên ta buộc phải chấp hành. Nhưng Bác không cắt ngoại giao cấp Đại sứ với Nam Tư như một vài nước. Sau hội nghị 81 Đảng ở Mascova 1960, Liên Xô và Trung Quốc cãi nhau to. Liên Xô nới dần quan hệ với Nam Tư, Trung Quốc chống lại và bảo Liên Xô là :” Nay xét lại lớn theo đuôi xét lại nhỏ”(!). Trong lúc tập trung cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, ta ở vào thế khó, trong nội bộ cũng có những nhận thức khác nhau. Năm 1963, Trung ương III, khóa 9 ( về họp ở Nam Định) về đối ngoại. Sau này, 1993, ông Việt Phương đến trường Đại học Tổng hợp Hà Nội kể lại: ” Năm 63, Bác Hồ đến dự họp Trung ương, lắng nghe. Mọi người trông đợi ý Bác. Cuối phiên, cụ nghiêm rồi chỉ nói đúng năm phút: ” Làm cách mạng mà muốn thành công thì phải đoàn kết. Bất hòa thì buồn nhưng phải gắng lắng nghe nhau vì  cùng có mục đích chung. Trung ương cũng có nhiều chú phân vân bên này bên nọ. Các chú nhớ phải lấy đoàn kết làm trọng. Phải thực tâm đoàn kết. Đoàn kết với cả Liên Xô và Trung Quốc. Không đoàn kết là ta hỏng việc lớn. Phải nghĩ đến việc lớn. Nghĩ xa. Không theo cảm xúc!”. Sau đó Trung ương đã ra  được Nghị quyết 9 theo tinh thần của Bác ( trong văn kiện đã có câu: “Đoàn kết Liên Xô, đoàn kết Trung Quốc”). Theo cái “Dĩ bất biến “ vào lúc ấy, tuy ta gặp nhiều khó khăn và liên tục chịu sức ép từ các phía nhưng vẫn thoát ra để đi đến thắng lợi.

                 Thời và thế đổi thay.  Thơ Nguyễn Bính từng nhận ra phép biện chứng trong triết học:

                              “Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo:

                                 Cả đến ông Giời cũng đổi thay!”

Ông Giời mà “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì con người cũng không nên mang “ Định mệnh nhân tạo chồng thêm lên Thiên mệnh” ( V.Hugo). Rồi ta cũng phải tự xét lại cái kinh tế bao cấp  và  giã từ nó để sang trang mới.

         Năm 1986. Ta vượt khó và quyết định tự Đổi mới, chấp nhận kinh tế thị trường để phát triển, từng bước coi kinh tế thị trường là một giá trị chung của nhân loại cần được tôn trọng.

                   Cũng là chấp nhận một bước cách mạng trong lối đi.  

                   Rồi từ ngày ấy bao nhiêu thay đổi đã diễn ra trên đất nước ta: No ấm hơn, Độc lập hơn. Vui vẻ hơn. Hòa nhập sâu rộng vaò quốc tế.  Hóa ra Đảng Cộng sản  Nam Tư ngày ấy do sớm khởi xướng thể chế “ Chủ nghĩa Xã hội thị trường” mà đã chịu cô đơn, ly thân với các nước anh em. Cứ nghĩ thế thì thấy Nam Tư cũng tựa như một ông Kim Ngọc đơn côi ở ta, người sớm “ cầm đèn chạy trước ô tô” vì động cơ muốn thương dân.

          Nam Tư không còn. Ông Kim Ngọc không còn. Nhưng lịch sử thì còn!

                              Kỷ niệm 10 năm ngày nước ta vào TPP (2021)

Ảnh: Thống chế J.Tito và Bác Hồ (7-8-1957), chọn từ net

FB-Đinh Đức

Wednesday, September 7, 2022

Cm và đạo Khổng: Sự lừa dối và vai trò sĩ tử

 MẶT THẬT CỦA AI ? (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông Bùi Tín sinh ra trong một gia đình Nho Giáo truyền thống. Thân sinh ông là Bùi Bằng Đoàn, làm thượng thư (bộ trưởng) trong triều đình Huế. Cách mạng tháng 8 bùng ra lúc cậu Bùi Đường Ấm, sau này đổi tên là Bùi Tín, mới vừa 19 tuổi. Ông Bùi Bằng Đoàn, nổi tiếng thanh liêm và học giỏi, trở thành chủ tịch quốc hội đầu tiên của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một chức vụ hữu danh vô thực. Ông Bùi Bằng Đoàn chỉ ở đó để đem lại cho chính phủ Hồ Chí Minh một bộ mặt trí thức và đoàn kết dân tộc. Ông Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền Việt Minh vì sợ hơn là vì nhiệt tình. Ông Phạm Quỳnh, thủ tướng Nam Triều, đã bị giết, như nhiều quan chức triều đình Huế khác.

Nhưng nếu ông Bùi Bằng Đoàn chỉ theo Việt Minh vì sợ thì cậu ấm Bùi Tín lại theo vì lý tưởng. Cậu hăng say theo cách mạng mùa thu, đi bộ đội, tham dự nhiều trận đánh, từng bị thương và sau cùng được sử dụng ngay trong sở trưởng của cậu : nghề viết báo. Bùi Tín trở thành đại tá phó tổng biên tập tờ Nhân Dân, cơ quan trung ương của đảng cộng sản Việt Nam. Chức vụ này rất lớn, bởi vì tuyên truyền là công tác trọng yếu hàng đầu của chính quyền cộng sản. Tờ Nhân Dân quan trọng hơn nhiều so với một bộ, nó được tổ chức như một chính phủ trong một chính phủ, với tất cả các ban tương ứng với các bộ : ban quốc phòng, ban quốc tế, ban nông nghiệp, ban công nghiệp, ban văn hóa, xã hội, v.v... Vị thế của Bùi Tín cao hơn một thứ trưởng, vai trò của ông đặc biệt quan trọng. Bùi Tín là thành viên của phái đoàn cộng sản trong hội nghị bốn bên tại Tân Sơn Nhất. Do một sự tình cờ Bùi Tín cũng là người đại diện cho phe cộng sản nhận sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh sáng ngày 30/4/1975.

Nhưng năm 1990, trong một chuyến công du sang Pháp Bùi Tín lấy quyết định xin tị nạn chính trị. Từ đó Bùi Tín đã viết rất nhiều bài báo, trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, tố giác chế độ cộng sản và vận động cho dân chủ đa nguyên. Bùi Tín cũng viết một số sách thuật lại những gì mà ông đã thấy trong một cương vị đặc biệt thuận lợi để quan sát chế độ cộng sản từ bên trong.

Trong cuốn Mặt Thật, cuốn sách gây sôi nổi nhất của ông, Bùi Tín mô tả chiến dịch cải cách ruộng đất được chính phủ Hồ Chí Minh phát động năm 1955, trong đó hàng ngàn, hàng vạn người bị giết oan.

Bùi Tín kể :

Các cố vấn Trung Quốc ngồi ưỡn bụng ra, để chân lên bàn uống rượu Mao Đài, vừa "nhổ nước bọt ồn ào", vừa dạy dỗ các học trò dễ bảo Trường Chinh (tổng bí thư đảng cộng sản), Hoàng Quốc Việt (ủy viên bộ chính trị, sau đó là chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc), v.v... về cải cách điền địa. Họ ra lệnh giết bà Nguyễn Thị Năm, người đã từng ủng hộ Việt Minh từ năm 1937, đã từng che chở và nuôi dưỡng chính các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và có con đang làm chính ủy trung đoàn. Ông Hồ Chí Minh được tin la lên là không thể giết một phụ nữ, một ân nhân cách mạng, một người mẹ của một anh hùng quân đội. Nhưng các cố vấn Trung Quốc bảo là đã quá trễ, mọi việc đã chuẩn bị xong. Ông Hồ Chí Minh im mồm, và bà Năm bị bắn.

Phong cách của ông Hồ Chí Minh là thế. Còn các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt thì không biết phải gọi là hạng người gì.

Ông Phạm Văn Đồng thấy các bộ trưởng, thứ trưởng của mình bị vu oan, bị thanh trừng, bị bỏ tù, không dám lên tiếng bênh vực. Sau khi nghỉ hưu dù đã ngoài tám mươi tuổi, ông còn cố bám lấy hư vị "cố vấn" để giữ lợi lộc.

Ông Lê Đức Thọ là một con người nham hiểm, dùng đủ mọi thủ đoạn nhơ bẩn và độc ác để triệt hạ các đồng chí cũ của ông.

Ông Lê Duẩn là một thứ ếch ngồi đáy giếng, vừa thiển cận, vừa lỗ mãng, vừa tự cao tự đại.

Các ông tướng Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, v.v... đều thiếu văn hóa, nông cạn và cực đoan. Riêng ông Nguyễn Chí Thanh thì còn hèn nhát, lúc bị mật thám Pháp bắt đã khai nhiều bí mật gây thiệt hại nặng cho đảng rồi đổ tội cho người đồng chí cùng bị bắt với mình là Đặng Xuân Thiều làm ông này bị trù dập hơn ba mươi năm cho đến lúc về hưu.

Còn ông Đỗ Mười ? Ông là thợ sửa khóa, nhận thức chính trị sơ sài và lại mắc bệnh tâm thần, ban đêm leo lên cây bàng ngồi ngất ngư.

Ngòi bút Bùi Tín mô tả các lãnh tụ cộng sản một cách tàn nhẫn. Tàn nhẫn vì Bùi Tín chỉ kể lại mà không phê phán. Tay nghề bốn mươi năm cầm bút của Bùi Tín là ở chỗ đó. Mặt Thật là một cuốn sách hay, một tài liệu lịch sử thành công về diễn đạt và có giá trị văn học. Một cuốn sách cần đọc. Tôn Thất Thiện trong một lá thư cho tôi nói rằng đọc xong ông phải kinh phục (kinh không có dấu sắc) tác giả.

Nhưng nếu như vậy thì phải đặt ra một số câu hỏi.

Tại sao những con người như vậy lại có thể khuất phục được cả một dân tộc ? Tại sao hàng ngàn, hàng vạn trí thức lỗi lạc đã phục tùng họ một cách ngoan ngoãn, và còn hết lời tâng bốc họ, làm biết bao nhiêu người khác tưởng họ là những thần tượng và chạy theo họ ? Chính Bùi Tín, tác giả cuốn Mặt Thật, trong bao nhiêu năm làm "đại tá - nhà văn - nhà báo" cũng đã tô son điểm phấn một cách đắc lực cho cái chế độ mà ngày nay ông muốn lột trần bộ mặt thật. Không lẽ trong cả mấy chục năm trường những trí thức xuất sắc như thế lại không nhận ra thực chất tồi tệ của những người lãnh đạo cộng sản ? Tại sao họ đã tự lừa dối lương tâm mình và đóng góp lường gạt cả một dân tộc ?

Người trí thức cộng sản không thể trả lời được những câu hỏi gay gắt đó, nhưng họ có thể hỏi ngược lại những người chất vấn họ những câu hỏi không kém nhức nhối. Bởi vì đa số - dù không phải là tất cả - những trí thức không cộng sản cũng đã phục tùng những công cụ chẳng ra gì của ngoại bang. Những trí thức quốc gia cũng đã đem hết tâm huyết hô hào biết bao nhiêu thanh niên bỏ mình cho một lý tưởng dân chủ không hề làm bận tâm ông Diệm, ông Nhu, hay cho một "chính nghĩa quốc gia" không hề có trong đầu óc các ông Big Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều trí thức khác đã tự đặt mình ra ngoài lề lịch sử, tự cắt bỏ khỏi số phận đất nước, đào nhiệm và cầu an.

Cuối cùng đất nước như ngày hôm nay, sau tất cả những gì đã xảy ra. Vai trò của người trí thức Việt Nam - cộng sản và không cộng sản - thật là bẽ bàng. Công bình mà nói cũng có những trí thức Việt Nam không làm tay sai cho một bè lũ hay một chế độ gian trá nào mà vẫn phấn đấu, vẫn cố hiện diện trong cuộc vận hành của lịch sử. Nhưng họ đã thất bại. Trí thức Việt Nam đã thất bại hoàn toàn.

Đổ lỗi cho nhau, luận tội nhau chỉ là để xem ai tồi hơn ai, có ích lợi gì ? Hơn nữa, lên án và kết tội nhau còn sai vì nói chung trí thức Việt Nam lương thiện, yêu nước và cũng đã hy sinh nhiều. Có một cái gì đó vượt khỏi lô-gích bình thường mà ta cần nhận diện để đừng buộc tội lẫn nhau một cách bất công và vô ích. Có lẽ chúng ta phải tìm giải thích cho sự phá sản này trong lý lịch và trong gia phả của người trí thức Việt Nam chúng ta.

Trí thức Việt Nam ngày nay là hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày trước. Mối liên hệ phụ-tử vẫn còn rất thắm thiết. Kẻ sĩ vẫn còn là mẫu mực của rất nhiều trí thức Việt Nam. Ngày nay người ta vẫn còn tự hào là có tư cách của kẻ sĩ, người ta vẫn còn khen nhau là có thái độ của kẻ sĩ.

Nhưng kẻ sĩ là gì nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân ?

Chúng ta vẫn còn là kẻ sĩ, và vì thế vẫn còn mang cái tật nguyền này của kẻ sĩ. Vấn đề là như thế. Người ta có thể hấp thụ mau chóng những kiến thức và những kỹ thuật mới, nhưng từ bỏ một tập quán và một tâm tính đã được nhào nặn qua nhiều thế hệ, đã ăn rễ vào con người và đã biến thành một bản năng, là một điều khó gấp nhiều lần. Hãy thử lấy một thí dụ về trọng lượng của tập quán. Tại sao người Nhật lại lái xe bên tay trái ? Họ có bị người Anh đô hộ bao giờ đâu ? Lý do chỉ giản dị là các hiệp sĩ Nhật quen đi bên trái các hành lang để có thể nhanh chóng rút gươm bằng tay mặt !

Nho Giáo không tạo ra kẻ sĩ để làm một con người tự do, để chịu trách nhiệm trước xã hội và để lãnh đạo xã hội mà chỉ tạo ra kẻ sĩ để làm dụng cụ cho một guồng máy và làm thủ hạ cho các vua chúa. Trong suốt dòng lịch sử, kẻ sĩ Trung Hoa và Việt Nam đều chỉ biết sống với số phận tôi tớ. Sĩ là một nghề, nghề đi học và nghề làm quan. Trước sau là nghề quì. Quì trước mặt thầy để học với ước vọng "thành đạt" để được quì trước các vua chúa. Nếu quì là thái độ của kẻ sĩ thì chờ đợi là triết lý của kẻ sĩ. Thời gian trưởng thành của kẻ sĩ được gọi là thời "chưa gặp" [lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất], gặp một chủ để thờ. 

Kẻ sĩ không khởi xướng ra một sự nghiệp nào mà chỉ chờ đợi để được làm bầy tôi cho một minh chủ nên hậu quả tất nhiên là kẻ sĩ phải chấp nhận luật chơi sẵn có của kẻ đã làm nên sự nghiệp, đem trí tuệ của mình minh họa cho ý của chủ. Và luật chơi của chủ rất khắc nghiệt. Các vua chúa muốn dùng họ thì dùng, muốn cách chức đuổi đi, muốn căng nọc ra đánh, muốn thiến họ như thiến heo thiến gà, muốn giết họ thì giết, muốn giết cả nhà họ cũng được, kẻ sĩ cam chịu hết. Thân phận kẻ sĩ chẳng có gì vinh, đó chỉ là thân phận của một tôi tớ, một dụng cụ thuộc quyền sử dụng và vứt bỏ tùy tiện của các vua chúa. Cái bản chất dụng cụ và tôi tớ ấy ngay cả những kẻ sĩ lỗi lạc nhất cũng không trút bỏ được. Điều kinh ngạc là trong hàng chục thế kỷ kẻ sĩ đã có thể chấp nhận một khuôn mẫu đầy đọa và hạ nhục mình như thế, để rồi cuối cùng sự phục tùng vô điều kiện trở thành một bản năng và một giá trị.

Khổng Minh tài ba như thế mà gặp thời nhiễu nhương cũng chỉ biết ngồi trong lều cỏ để chờ một minh chúa.

Nguyễn Trãi là một kẻ sĩ siêu việt cả về văn lẫn võ, lại có cả chí khí hơn người, Lê Lợi là một phú nông cục mịch. Tại sao lại "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" ? Tấn thảm kịch còn lớn hơn ở chỗ Lê Lợi không có đủ trí tuệ để viết ra câu đó, chính Nguyễn Trãi đã sáng tác ra câu đó.

Cao Bá Quát là một kẻ sĩ ưu việt và ngang ngược, dám nổi loạn chống lại nhà Nguyễn. Nhưng Cao Bá Quát không lãnh đạo cuộc nổi dậy mà chỉ phò Lê Duy Cự. Giả thử cuộc nổi dậy thành công thì cũng chỉ để đưa đến kết quả "Lê Duy Cự vi quân, Cao Bá Quát vi thần". Ngay cả khi kẻ sĩ chống lại một ông chủ thì cũng chỉ để hy vọng được phò một ông chủ khác, họ không sinh ra để làm chuœ.

Cao Bá Quát thất bại, bị chặt đầu và tru di tam tộc. Nguyễn Trãi thành công, để cũng chỉ được cái vinh dự quì gối trước Lê Lợi, rồi cũng bị chặt đầu và tru di tam tộc.

Trong lịch sử Trung Hoa, những kẻ làm nên nghiệp đế vương, dù là Lưu Bang, Hạng Võ, Lý Thế Dân, Triệu Khuông Dận, Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyên Chương đều không phải là kẻ sĩ. Họ là hào phú, là các tay anh chị, hay vốn thuộc dòng dõi bá vương. (Tào Tháo là một ngoại lệ, nhưng Tào Tháo bị kẻ sĩ chối bỏ và lên án là gian thần).

Trong lịch sử Việt Nam, những kẻ giành được ngôi vua, dù là Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Lê Lợi, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh đều là quí tộc, võ tướng hay các tay anh chị chứ không phải là kẻ sĩ. (Hồ Quí Ly là một ngoại lệ, nhưng Hồ Quí Ly hành động như vậy vì tự coi mình là người Hoa hơn là người Việt nên coi thường nề nếp Việt Nam ; chiếm được ngôi vua, Hồ Quí Ly đã lập tức đổi tên nước là Đại Ngu theo tên cố quốc của mình).

Một thực tế thê thảm như vậy chứng tỏ khuôn mẫu Khổng Nho đã tha hóa kẻ sĩ tới mức nào. Một thực tế bi thảm khác là tất cả những tiến bộ về tư tưởng của Trung Hoa đã chỉ có trước khi Khổng Giáo được đưa lên hàng một quốc giáo. Hơn hai ngàn năm ngự trị của khuôn mẫu Khổng Giáo đã làm tê liệt hẳn óc sáng tạo. Các hậu quả vẫn còn thấy được : nhiều nước châu Á, nhờ không chịu ảnh hưởng Khổng Giáo một cách quá nặng nề, ngày nay đã rất phát triển, nhưng người châu Á vẫn hầu như vắng mặt trong các giải Nobel, họ vẫn thua xa người phương Tây về óc sáng tạo trong mọi địa hạt.

Trong xã hội Khổng Nho, kẻ sĩ không hội nhập vào xã hội. Lúc hàn vi kẻ sĩ sống qua ngày, đợi cơ hội làm quan. Lúc được làm quan kẻ sĩ trở thành những tay sai không điều kiện cho các vua chúa để thống trị quần chúng. Kẻ sĩ được vua chúa xếp hàng đầu trên nông, công, thương, nhưng thực ra kẻ sĩ bị loại khỏi xã hội. Một điều rất đáng chú ý là trong xã hội ta ngày xưa kẻ sĩ hoàn toàn vắng mặt trong các chức quyền địa phương xuất phát từ dân gian như chánh tổng và lý trưởng, những chức vụ đã có thể là những bàn đạp để tiến lên quyền lực quốc gia. Kẻ sĩ không có hậu thuẫn quần chúng vì sống ngoài lề xã hội. Kẻ sĩ cũng không có tài sản vì không biết và cũng không muốn kinh doanh buôn bán, không những thế kẻ sĩ còn được giáo dục và nhồi nặn để khinh thường và thù ghét hoạt động kinh doanh, buôn bán.

 Phi thương bất phú, kẻ sĩ không có độc lập về kinh tế cho nên cũng không có thể có tự chủ về chính trị. Tại sao lại "Nguyễn Trãi vi thần" ? Bởi vì không muốn "vi thần" cũng không được. Nguyễn Trãi không có thủ túc và cũng không có tài sản để phất cờ khởi nghĩa. Kẻ sĩ trong khuôn mẫu Khổng Nho là mẫu người lệ thuộc vào vua chúa và cuối cùng chịu ơn vua chúa. Quyền lực quốc gia chỉ truyền tay giữa một bên là các vua chúa và một bên là đám anh hùng áo vải, những người không chịu ơn vua chúa và do đó dám thách thức vua chúa.

Tình trạng vong thân kéo dài từ đời này sang đời khác đã khiến kẻ sĩ mất hẳn lòng tự tin. Tuy bề ngoài có khi kẻ sĩ huênh hoang "có giang sơn thì sĩ đã có tên, từ Chu Hán vốn sĩ này là quí" [Nguyễn Công Trứ], nhưng trong thâm tâm kẻ sĩ không tin ở mình và cũng không tin ở cả giai cấp sĩ của mình ; do đó kẻ sĩ không những không dám có ý định dựng nghiệp mà còn không sẵn sàng giúp một kẻ sĩ khác dựng nghiệp. Kẻ sĩ phải làm bầy tôi, nếu từ chối số phận tôi tớ và dám mơ ước làm vua, kẻ sĩ đã vi phạm đạo lý của giai cấp mình và bị lên án là gian thần, thoán nghịch, phản tặc. Nguyễn Hữu Chỉnh coi thường vua Lê chúa Trịnh bất lực và muốn nắm quyền thì đã sao, mà người ta lên án ông là gian hùng và hả hê khi ông bị bốn ngựa xé xác ? Có sử gia nào đủ khách quan để nhận định rằng chính hành động vào Nam liên kết với Tây Sơn của Chỉnh đã mở đầu cho tiến trình thống nhất đất nước ?

Luân lý Nho Giáo bắt người có học không được làm chủ mà chỉ được làm tôi cho một ông chủ nào đó, và tệ hơn nữa phải làm tôi suốt đời cho một chủ bởi vì "tôi trung không thờ hai chúa". Kẻ sĩ trong quan niệm Nho Giáo là một kẻ nô lệ chứ không phải là một con người tự do. Do bản năng và địa vị xã hội, kẻ sĩ không dám và không thể, và do đó khiếp phục những kẻ dám và có thể. Bài Bình Ngô Đại Cáo hùng tráng vì Nguyễn Trãi viết cho Lê Lợi chứ không viết cho mình, vì lúc viết Nguyễn Trãi đã tự đặt mình vào địa vị của Lê Lợi, tưởng tượng mình là vua ["Trẫm đây, núi Lam Sơn dấy nghĩa..., một mảnh nhung y dựng nên nghiệp lớn..."].

Tôi nói nhiều về kẻ sĩ như vậy bởi vì cái tâm lý kẻ sĩ vẫn còn hiện diện rất mạnh trong tiềm thức của chúng ta.

Di sản nặng nề nhất là triết lý ở ẩn, tránh hiểm nguy và chờ thời. Tâm lý này ngự trị trong đầu óc hầu hết mọi trí thức Việt Nam. Nó cũng ngự trị ngay cả trong đầu óc những người có ý chí nhất, nghĩa là dám hoạt động chính trị. Ở các vị này nó thể hiện qua lối làm chính trị nhân sĩ. Những người trí thức tự cho là mình có một giá trị nào đó - có khi chỉ là do một sự tự đánh giá mình rất chủ quan - thường không chịu tham gia tạo dựng ra một lực lượng chính trị nào và cũng không lên tiếng bênh vực một lập trường nào, ngay cả khi họ thấy là đúng. Họ chỉ muốn là những nhân sĩ đứng ngoài các tổ chức và các cuộc tranh cãi gay go để vừa khỏi tốn công sức vừa khỏi bị cháy. Họ tin rằng một khi họ đã là nhân sĩ thì dù ai nắm được chính quyền cũng vẫn cần họ. Đó là một tính toán mà họ cho là sáng suốt, và quả thực là một chọn lựa sáng suốt khi người ta chỉ có tham vọng làm công cụ. Chính cái thái độ nhân sĩ này, hậu thân của tâm lý kẻ sĩ ngày xưa đã khiến các tổ chức đối lập dân chủ hiện nay không được hưởng ứng và không mạnh lên được trong một giai đoạn đầy thử thách như giai đoạn chúng ta đang sống.

Một di sản khác là sự thiếu quyết tâm. Trí thức Việt Nam có nhiều người không thiếu ý kiến nhưng cái quán tính "không dám và không thể" thừa hưởng từ tâm lý kẻ sĩ do hàng ngàn năm uốn nắn này vẫn còn quá mạnh khiến họ do dự bất quyết, sẵn sàng thỏa hiệp và nhượng bộ trước những giải pháp thô bạo trái ngược với nguyện ước của mình, rồi sau cùng đánh mất chính mình. Nhiều trí thức còn thực sự ngưỡng mộ những tay anh chị bởi vì họ ngưỡng mộ cái liều, cái bạo mà họ không có được. Họ bị hớp hồn trước những người có bản năng mạnh và dám làm, bởi vì đó là một phần của chính họ mà họ đã mất đi và vẫn tiếc.

Mẫu người kẻ sĩ không phải chỉ còn tồn tại mà còn đang có cơ được hồi sinh. Các chế độ độc tài tại châu Á, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, đang dụng tâm thiết lập một thứ Khổng Giáo Mới làm chỗ dựa cho các chế độ độc tài ngày nay, như Khổng Giáo Cũ đã từng làm nền tảng cho các chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa. Một âm mưu tha hóa trí thức mới đang xuất hiện. Và lần này kẻ sĩ có một cái tên gọi mới : chuyên viên. Ngay trong lúc này đang có nhiều trí thức Việt Nam chủ trương hãy thôi làm chính trị, tạm chấp nhận chế độ này, hợp tác với nó trên các mặt chuyên môn. Họ hy vọng sẽ dần dần dân chủ hóa được chế độ. Nhưng nếu kẻ sĩ ngày trước trong hơn hai ngàn năm không thay đổi được chế độ quân chủ thì trí thức chuyên viên ngày nay dù có bản lĩnh hơn và có bối cảnh thuận lợi hơn cũng không thể thay đổi được chế độ độc tài này trong một hai thế hệ, nếu họ chỉ là những chuyên viên.

Hãy coi chừng lịch sử lập lại. Tại sao chủ nghĩa cộng sản bị phủ nhận tại Tây Âu, nơi đã khai sinh ra nó, mà lại thành công tại Trung Hoa, Việt Nam và Triều Tiên ? Tại sao, ngoại trừ hòn đảo Cuba nhỏ bé, chế độ cộng sản chỉ tồn tại được trên ba nước này ? Lý do chính là vì chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện hồi đầu thế kỷ này như là một thứ Khổng Giáo Mới. Có gì khác giữa Khổng Giáo và chủ nghĩa Mác Lênin ? Cũng đặt nền tảng trên bạo lực, cũng độc tài toàn trị, cũng giáo điều, cũng độc tôn, cũng giai cấp, cũng “nhân trị” nghĩa là cai trị một cách tùy tiện bất chấp luật pháp, cũng bưng bít, cũng cấm đoán tư tưởng, cũng bài xích các tôn giáo, cũng triệt hạ kinh doanh, cũng đề cao sự nghèo khổ để cai trị bằng sự nghèo khổ. 

Cả hai đều là những hệ thống nửa tôn giáo, nửa chính trị. Cả hai đều đưa đến bế tắc và cả hai đều có cùng một biện hộ sau khi đã thất bại : không phải lý thuyết sai mà là áp dụng sai. Chỉ cần lấy Marx và Anghen đặt vào địa vị của Khổng Tử và Mạnh Tử, lấy các cuốn Tư Bản Luận, Lênin Toàn Tập thay cho Tứ Thư và Ngũ Kinh, lấy Trung Ương Đảng thay cho Triều Đình, đem các đảng viên thay cho đám quân tử là đâu lại vào đó. Khổng Giáo đã dọn đường cho các chế độ cộng sản. Chỉ có điểm mới là chủ nghĩa cộng sản tâng bốc quần chúng vô sản mà Khổng Giáo mạt sát, dù chỉ là một sự tâng bốc giả dối. Nếu trước đây Khổng Giáo đã dọn đường cho các chế độ cộng sản thì ngày nay những tồn đọng của tư tưởng Khổng Giáo đang giúp các chế độ này kéo dài.

 Ảnh: Bettmann Archive/Getty Images

Trích Tổ Quốc Ăn Năn

Thursday, March 24, 2022

Chuyến công du đối ngoại bí mật lịch sử của Hồ Chí Minh

Chuyến đi tới Trung Quốc và sau đó là Liên Xô của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầu thập niên 1950 có ít người biết tới. Song đây là bước đi ngoại giao quan trọng thu hút sự ủng hộ của Trung Quốc, Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam.

P/v TTXVN xin lược dịch nghiên cứu về chuyến đi này của Nhà Việt Nam học Nga Anatoli Sokolov:

Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, quan hệ giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ chưa được thiết lập. Liên Xô còn bận khôi phục nền kinh tế đổ nát và cuộc sống bình thường. Lợi ích địa chính trị cơ bản và chính sách đối ngoại của Liên Xô khi đó tập trung vào châu Âu. Điện Kremlin không có thông tin về tình hình tại Đông Dương cũng như Đảng Cộng sản Đông Dương. Vì thế, để khôi phục mối quan hệ liên đảng, liên chính phủ, hội nhập Việt Nam vào phong trào cộng sản thế giới và phe chủ nghĩa xã hội, lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh đã quyết định tới Trung Quốc và Liên Xô gặp gỡ các nhà lãnh đạo 2 nước này.

Ngay sau khi tuyên bố Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý định thiết lập quan hệ với lãnh đạo Xô Viết. Đầu tiên là tháng 9 và sau đó là tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho I. V. Stalin với hy vọng thu hút sự chú ý. Tuy nhiên Bác Hồ đã không nhận được hồi đáp.

Trong tư liệu của Cơ quan tư liệu quốc gia lịch sử chính trị Nga (RGASPI) có những tài liệu gián tiếp xác nhận các nỗ lực nhằm thiết lập tiếp xúc liên đảng của Việt Nam với Liên Xô. Bởi vậy tháng 10/1948, Stalin đã chỉ thị cho đại diện của Xô Viết ở Trung Quốc thông báo với Mao Trạch Đông thông tin sau:

"Đã nhận được bức điện của Ngài ngày 22/8/1948. Những vấn đề trong bức điện gửi Ban chấp hành TƯ Đảng Cộng sản Liên Xô mà Ngài và Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra được xem là thích hợp để khởi động khi Ngài tới Moskva. Chúng tôi hy vọng tới thời điểm đó Ngài có thể có sự hỗ trợ cần thiết cho các đồng chí ở Đông Dương".   

Ngoài ra, lãnh đạo Xô Viết hiểu rõ trong tình hình hiện tại Việt Nam chỉ có thể trông đợi vào sự hỗ trợ của những người cộng sản Trung Quốc láng giềng.

Sau thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949, Việt Nam có cơ hội mới để khôi phục quan hệ liên đảng không chỉ với ĐCS Trung Quốc, mà cả các đảng khác. Tới Bắc Kinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đương nhiên chuẩn bị để tới Moskva gặp lãnh đạo Xô Viết để thảo luận nhiều vấn đề quan trọng cho sự tồn tại của chính phủ dân chủ - nhân dân Việt Nam non trẻ trong bối cảnh cuộc đấu tranh cam go với thực dân Pháp, mà chiến hữu duy nhất khi đó là Trung Quốc cộng sản. Có lẽ, khả năng chuyến đi tới Liên Xô của Hồ Chí Minh đã được lãnh đạo ĐCS Trung Quốc thảo luận, trước tiên là với Lưu Thiếu Kỳ, khi đó là "người bảo trợ" thường trực cho những người Cộng sản Việt Nam trong các hoạt động đối ngoại.

Ngày 24/12/1949 tại Bắc Kinh diễn ra cuộc gặp giữa Đại sứ Liên Xô ở Trung Quốc N. Shibaev với Lưu Thiếu Kỳ, nội dung của nó được nhà ngoại giao Xô Viết thông báo như sau: "...Lưu Thiếu Kỳ bắt đầu nói với tôi rằng Hồ Chí Minh mới đây đã phái tới Bắc Kinh các đại diện của TƯ ĐCS Việt Nam, mang theo bức thư của Hồ Chí Minh gửi đồng chí Mao Trạch Đông, trong đó đề nghị Liên Xô và Trung Quốc công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh. Lưu Thiếu Kỳ đã thông báo nội dung bức thư tới Đồng chí Mao Trạch Đông ở Moskva [tới thăm ngày 16/12]. Các đồng chí Trung Quốc cũng đã quyết định tăng cường liên lạc với Hồ Chí Minh, để trong thời gian sắp tới gửi tới Hồ Chí Minh nhóm các đồng chí của mình, trang bị điện đài mạnh và mật mã".

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch ĐCS Trung Quốc Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Tổng tư lệnh Chu Đức chụp ảnh nhân dịp Người sang dự lễ kỷ niệm 10 năm Quốc khánh Trung Quốc vào cuối tháng 9/1959

Trên thực tế cũng vào ngày đó tại Moskva diễn ra cuộc gặp thứ 2 giữa Stalin và Mao Trạch Đông, trong đó thảo luận vấn đề quan hệ giữa ĐCS Trung Quốc với các đảng cộng sản khác như Việt Nam, Ấn Độ, Nhật Bản.

Ngày 29/12, người đứng đầu Cục dịch thuật tiếng Nga trực thuộc TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc Zhang Xizhou (còn gọi là Guysky) trong cuộc nói truyện với Đại sứ Shibaev cho biết ngày 29/12 đã diễn ra cuộc họp của Bộ chính trị TƯ ĐCS Trung Quốc để xem xét đề xuất của Mao Trạch Đông công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao. Guysky còn chỉ ra rằng Bộ chính trị ĐCS Trung Quốc đã quyết định công nhận và điều này sẽ sớm diễn ra.

Ngày 31/12, Ngoại trưởng Trung Quốc Chu Ân Lai trong cuộc thảo luận với ông Shibaev cho biết Hồ Chí Minh chuẩn bị bố cáo với tất cả các nước trên thế giới về việc công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và ngay sau khi có thông báo này, chính phủ Trung Quốc sẽ ngay lập tức công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Những ngày đầu năm 1950, Hồ Chí Minh chuẩn bị thư và ký sắc lệnh. Chiều 2/1, Người rời an toàn khu ở tỉnh Tuyên Quang, và hướng tới cửa khẩu biên giới Trùng Khánh. Người bắt đầu chuyến thăm Trung Quốc và Liên Xô.

Chuyến đi của Bác Hồ được tiến hành bí mật để đảm bảo an toàn do binh sĩ Pháp kiểm soát chặt chẽ đường biên giới với Trung Quốc và tại lãnh thổ mới giải phóng của Trung Quốc vẫn còn các băng nhóm và binh sĩ Quốc Dân Đảng còn sót lại.

Tổng cộng đoàn gồm 9 người: Hồ Chí Minh, Trần Đăng Ninh, phiên dịch Phạm Văn Khoa, bác sĩ Lê Văn Chánh, bảo vệ Nhật. Nhóm công tác gồm Đại tá Lâm Kính, trợ lý kiêm phiên dịch Lê Phát, vận hành máy vô tuyến Ngô Vi Thiên (cũng là trợ lý cho Trần Đăng Ninh), vận hành máy vô tuyến Nhiệm.

Ngay khi bắt đầu chuyến đi, ngày 6/1, báo "Sự thật", cơ quan ngôn luận trung ương của ĐCS Đông Dương đã công bố bức điện mừng của Hồ Chí Minh, thay mặt nhân dân Việt Nam, gửi I. V. Stalin nhân sinh nhật thứ 70 của ông.

Theo nhà sử học Mỹ William J. Duiker, trong thời gian tới Nam Ninh, đoàn Việt Nam được thông báo rằng ngày 19/1, chính phủ Trung Quốc đã quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, như vậy Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

12 giờ ngày 22/1, phái đoàn Việt Nam tới Bắc Kinh. Trung Quốc tìm cách giữ bí mật chuyến đi của Hồ Chí Minh, song các cơ quan tình báo nước ngoài vẫn biết và thông tin này sớm xuất hiện trên báo phương Tây.

Việc Hồ Chí Minh tới Bắc Kinh được ghi trong hồi ký của Viện sĩ Trung Quốc học lớn nhất của Nga, S. L. Tikhvin khi đó làm việc ở Trung Quốc. Ông viết: "Tháng 1/1950 tôi nhận được cuộc gọi nói rằng một đồng chí Việt Nam muốn gặp tôi. Cuộc gặp diễn ra vào buổi chiều. Đó là Hồ Chí Minh, chuẩn bị tới Moskva để gặp Stalin. Câu chuyện diễn ra bằng cả tiếng Trung, tiếng Pháp và tiếng Nga. Hồ Chí Minh chủ yếu hỏi các câu hỏi về tình hình thế giới, tình hình kinh tế và công cuộc xây dựng sau chiến tranh của Liên Xô. Rõ ràng tôi có cảm tưởng ông ta có rất ít thông tin về cuộc sống hiện nay tại Liên Xô. Hồ Chí Minh cháy bỏng mong ước gặp Stalin để thảo luận quan hệ giữa 2 nước, khả năng và triển vọng ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Pháp... Đó là người rất dễ gần và giản dị, dù ở cương vị cao. Trong cuộc gặp, Hồ Chí Minh tặng tôi một đồng tiền vàng nhỏ, giống như mề đay, và nói khi nào đến Việt Nam, chỉ cần cho người Việt Nam xem cái này tôi sẽ nhận được bất cứ sự ủng hộ và giúp đỡ nào". Ngay sau đó, Hồ Chí Minh đi Moskva.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài cuộc mít tinh kỷ niệm 10 năm ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. (Bắc Kinh tháng 10 - 1959)

Ngay sau khi Hồ Chí Minh tới Bắc Kinh, ngày 18/1 đã diễn ra một cuộc thảo luận nữa giữa Lưu Thiếu Kỳ và Đại sứ Shibaev. Nhà lãnh đạo Trung Quốc thông báo Hồ Chí Minh đã gửi bố cáo và ngày 14/1 gửi điện cho chính phủ Trung Quốc, đề nghị công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời ông đề nghị chính phủ Trung Quốc chuyển bố cáo đề nghị công nhận này cho chính phủ Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Lưu Thiếu Kỳ cho biết chính phủ Trung Quốc đã quyết định công nhận chính phủ Hồ Chí Minh, điều được thông báo cho Mao Trạch Đông ở Moskva.

Ngày 25/1, khi ở Bắc Kinh, Hồ Chí Minh nhận được điện của Stalin, cảm ơn lời chúc mừng nhân sinh nhật lần thứ 70. Bức điện này được đăng tải trên báo Sự thật. Ngày 30/1, chính phủ Liên Xô tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 1/2, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập ĐCS Việt Nam tại Bắc Kinh, do ĐCS Trung Quốc tổ chức. Cùng ngày, Đại sứ Shibaev nhận được bức điện của Stalin đề nghị thông qua Lưu Thiếu Kỳ chuyển cho Hồ Chí Minh. Bức điện viết:

"Đồng chí Hồ Chí Minh. Vài ngày trước đồng chí Mao Trạch Đông thông báo với tôi rằng đồng chí sẽ bí mật tới Moskva. Tôi đã trả lời rằng tôi không phản đối chuyến thăm này. Nếu sau công hàm công nhận Việt Nam của Liên Xô, ngài không thay đổi kế hoạch tới Moskva, tôi sẽ rất vui gặp ngài ở Moskva".

Điều này có nghĩa vấn đề Việt Nam đã được lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc thảo luận và chuyến thăm Moskva của Hồ Chí Minh được lên kế hoạch trước khi ông tới Trung Quốc. Ngày 3/2, Hồ Chí Minh rời Bắc Kinh, đi đoàn tàu đặc biệt của Trung Quốc đi Moskva. Cùng đi với Bác Hồ có ông Trần Đăng Ninh.

Ngày 7/2, từ Chita, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin bức điện sau:

"1. Tôi hy vọng việc tôi đến Moskva là bí mật bởi 2 nguyên nhân. Thứ nhất việc tôi rời Việt Nam chỉ có một vài thành viên TƯ ĐCS và 2 thành viên chính phủ biết. Thứ 2, tôi cho rằng nếu người Pháp biết tôi rời Việt Nam, họ có thể có hành động chính trị-quân sự.

2. Ngày 3/2, tôi đã đề nghị theo radio quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tính chất chuyến thăm Moskva của tôi. Tuy nhiên câu trả lời chỉ có thể tới Moskva không sớm hơn 10 ngày.

3. Nếu ngài, đồng chí Stalin hy vọng tốt nhất, rằng chuyến đi tới Moskva của tôi là chính thức, tôi tin tưởng ĐCS Việt Nam nhất trí với quan điểm của ngài.

4. Khi đến Moskva, tôi muốn Ngài cho phép tôi tới thẳng chỗ Ngài.

Gửi lời chào anh em. Hồ Chí Minh".

Tại Moskva, Hồ Chí Minh đã trở thành người đứng đầu nhà nước được Liên Xô công nhận. Hồ Chí Minh bay bằng máy bay từ Chita tới Moskva. Mikhail Suslov, khi đó là bí thư trẻ nhất của TƯ ĐCS Liên Xô, Tổng biên tập báo Pravda, đã phụ trách chuyến thăm của lãnh tụ Việt Nam tới Moskva. Trong những ngày đó, ông thông báo với một đồng nghiệp của mình trong TƯ ĐCS: "Cần nhanh chóng tới sân bay Vnukovo để gặp Hồ Chí Minh và để ông ta khỏi bị lạnh".

Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: "Trong một buổi gặp làm việc, nhìn thấy trên bàn (Stalin) có cuốn tạp chí Liên Xô, Hồ Chí Minh cầm lấy nó và đề nghị (Stalin) ký tặng. Stalin mỉm cười và thực hiện yêu cầu của ông, sau đó chuyển cho các đồng chí ngồi cạnh, Molotov, Kaganovich, để họ cùng ký. Hồ Chí Minh mang cuốn tạp chí này về phòng, nhưng ngày hôm sau nó biết mất". Các nhà nghiên cứu Việt Nam, tìm tòi tư liệu của Nga đã xác định rằng đó là cuốn tạp chí "Liên Xô trong xây dựng" số 11 xuất bản năm 1949. Trên bìa tạp chí in chân dung Stalin, dưới ghi dòng chữ: "Đồng chí Hồ Chí Minh yêu quý 10/02/1950". Ngoài ra còn có chữ ký của những người tham dự - V. M. Molotov, L. P. Beria, G. M. Malenkov, N. Bulganin, A. I. Mikoyan. Cạnh đó là 3 dòng bằng tiếng Trung, viết tay, nhiều khả năng của Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Stalin.

Nhờ cuốn sách này, có thể biết rằng ngày 10/2, Hồ Chí Minh đã ở Moskva cùng thành phần tham gia cuộc gặp.

Stalin thường tiếp đoàn các nước XHCN tại Điện Kremlin. Sau buổi tiếp sẽ ăn trưa ở Phòng Ekaterina trong Điện Kremlin. Sau đó, Stalin, các lãnh đạo Liên Xô và đoàn đại biểu xem phim trong phòng ở tầng dưới. M. A. Menshikov nhớ lại, một lần sau khi hết phim, Hồ Chí Minh đã hỏi Vyszynski điều gì đó. Stalin thấy và gọi Wyshinsky đến hỏi: "Hồ Chí Minh muốn gì? Hãy hỏi thẳng tôi". Stalin không thích bị phá vỡ điều ông coi là nghi lễ. Câu chuyện này cho thấy tham gia cuộc thảo luận với Hồ Chí Minh có Ngoại trưởng A. Y. Vyshinsky và Bộ trưởng Thương mại khi đó M. A. Menshikov. Ngoài ra còn có Bí thư TƯ ĐCS Liên Xô N. S. Khrushchev mà trong hồi ký của ông có ghi những ấn tượng cá nhân đáng giá về lãnh tụ Việt Nam.

Được biết các nhà lãnh đạo Liên Xô và Việt Nam đã thảo luận trong buổi tiếp tại Điện Kremlin, mà ngày 16/2/1950 được chính phủ Xô Viết tổ chức để ký Hiệp ước Thân thiện giữa Liên Xô với Trung Quốc. Bên phía Liên Xô có sự tham gia của Stalin, Malenkov, Molotov, Khrushchev, các quan chức cao cấp khác của đảng, chính phủ và quân đội.

Tại buổi tiếp, Stalin xếp ngồi cạnh Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai. Theo các nhân chứng, nhà lãnh đạo Xô Viết có trạng thái tinh thần tốt và đã nói đùa với các vị khách. Khi lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh hỏi Stalin xem ông có chỉ thị gì cho mình, Stalin nói đùa: "Làm sao tôi có thể chỉ thị Ngài. Ngài là Chủ tịch theo vị thế còn cao hơn tôi". Hồ Chí Minh tiếp tục đùa: "Ngài đã ký thỏa thuận với các đồng chí Trung Quốc, vậy sao không ký thỏa thuận như vậy với chúng tôi khi tôi đang ở đây". Do Hồ Chí Minh thăm Liên Xô bí mật, Stalin nói: "Nhưng khi đó người ta có thể hỏi Ngài đến đây như thế nào?". Hồ Chí Minh đáp lại: "Ngài có thể đưa tôi lên máy bay, bay một vòng trên trời, sau đó đưa mọi người tới gặp tôi ở sân bay và thông tin cho báo chí. Mọi thứ sẽ ổn". Stalin cười và nói: "Bạn là những người phương Đông, có tưởng tượng thật đặc biệt".

Theo một số thông tin, sau buổi tiếp, Stalin mời Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh sang phòng làm việc để cùng thảo luận vấn đề hỗ trợ Việt Nam.

Đương nhiên, nội dung chính trong cuộc thảo luận giữa Stalin và Hồ Chí Minh là trao đổi thông tin. Nhà lãnh đạo Xô Viết không biết nhiều về tình hình Việt Nam và lãnh tụ Việt Nam cũng biết ít về Xô Viết. Trước thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc năm 1949 nguồn tin chính về Đông Dương của Moskva là từ ĐCS Pháp, vốn cũng biết không nhiều về Việt Nam. Bởi vậy, Hồ Chí Minh chủ yếu nói với Stalin về tình hình Việt Nam, về cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp.

Bản thân Hồ Chí Minh chưa bao giờ kể công khai về cuộc gặp của ông với Stalin, tuy nhiên điều này được hé lộ trong tự truyện của tướng Võ Nguyên Giáp: "Trước đó Liên Xô không hiểu rõ về tình hình bên trong của cách mạng Việt Nam. Sau báo cáo của Hồ Chí Minh về tình hình (tại Việt Nam), Stalin đồng ý với đường lối chiến lược và chiến thuật của Đảng chúng ta trong những năm qua. Trong lĩnh vực quân sự, Stalin khuyên chỗ dựa chính là toàn bộ vùng rừng núi phía Tây, làm chủ khu vực này, sau đó có thể làm chủ toàn đất nước... Liên Xô chỉ trích chúng ta làm cách mạng nông nghiệp chậm. Stalin đưa ra 2 chiếc ghế và hỏi tôi: 'Ghế này là ghế nông dân, đây là ghế địa chủ, cách mạng Việt Nam ngồi vào ghế nào?'".

Liên quan tới sự trợ giúp anh em, Hồ Chí Minh cho biết "trước tiên Liên Xô cung cấp một trung đoàn pháo tầm xa 37mm, một số xe tải Molotov và thuốc men cho bệnh viện. Trung Quốc vũ trang cho một số sư đoàn bộ binh và các đơn vị pháo binh, và chuyển giúp hàng hóa của Liên Xô. Trung Quốc gửi sang các cố vấn quân sự, để chia sẻ kinh nghiệm của Quân Giải phóng Nhân dân. Trung Quốc đồng ý huấn luyện cán bộ, chúng ta gửi quân nhân tới Trường lục quân Vân Nam. Hồ Chí Minh cho biết cần nhanh chong sửa đường lên phía Bắc để tiếp nhận sự trợ giúp anh em".

Theo các nguồn của Việt Nam, trong thời gian đàm phán với Hồ Chí Minh, Stalin và Mao Trạch Đông thông báo sẽ cung cấp vũ khí cho 6 sư đoàn Việt Nam. Mao Trạch Đông xác nhận tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc sẽ trở thành hậu phương quân sự trực tiếp cho Việt Nam.

Ngày 17/2, Hồ Chí Minh, cùng với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lên tàu rời Moskva. Ngày 4/3, Hồ Chí Minh về tới Bắc Kinh và lưu lại ở đó hơn 1 tuần. Sau đó Bác Hồ thảo luận với Chu Ân Lai, gặp Lưu Thiếu Kỳ, Tham mưu trưởng Chu Đức và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc. Ngày 19/3, Hồ Chí Minh cùng đoàn tùy tùng về Việt Nam, ngày 21/3 trở lại an toàn khu.

Duy Trinh (lược dịch)
Tin Tức (TTXVN) Thứ Ba, 19/05/2015 

Saturday, November 13, 2021

Chuyện Tết năm 1962

Tết Nguyên Đán 1962 một  tháng trước tết, Bác Hồ gọi cục phó Cục Cảnh vệ Phan Văn Xoàn lên giao một nhiệm vụ đặc biệt mà chỉ có hai bác cháu biết: “Chú tìm cho bác một gia đình nghèo nhất ở Hà Nội, bác sẽ đi thăm họ lúc giao thừa!”.

       Tôi có một tháng để đi khắp Hà Nội tìm cho ra một người nghèo nhất

      Hà Nội ngày ấy không giàu, nhưng để tìm ra người “nghèo nhất” vẫn là một thách đố đặc biệt. Tôi liên hệ nhiều nơi, gặp nhiều người vẫn chưa xác định được ai “nghèo nhất”. Cho đến một ngày, một anh công an địa bàn gọi bảo tôi thử tới thăm một người phụ nữ gánh nước thuê ở khu vực anh.

    Chúng tôi ghé vào một ngõ sâu trên phố Hàng Chĩnh, đó là một ngôi nhà tăm tối, phên liếp tạm bợ, bên trong chỉ có một chiếc giường tre và vài ghế gỗ lăn lóc.    Bàn thờ lạnh tanh hương khói, mạng nhện bao phủ - dù đang là những ngày giáp tết. Có bốn đứa trẻ đang nằm ngồi vật vạ chờ mẹ mang gạo về. Chúng đói. Chủ ngôi nhà ấy là một người phụ nữ ngoài 40 tuổi, tên Nguyễn Thị Tín, góa chồng. Chị vốn là công nhân thất nghiệp và từ lâu nay sống bằng nghề gánh nước thuê. Với chị, tương lai và sự nghiệp của gia đình chỉ là con số 0.

Tôi báo cáo rằng nhiệm vụ Bác giao tôi đã làm xong. Bác gật đầu.

    Tối giao thừa ấy, như thường lệ, Bác Hồ đi với đại diện Thành ủy Hà Nội thăm vài gia đình trong kế hoạch. Khoảng 11 giờ tối, Bác nháy mắt với tôi ngụ ý: giờ đến chương trình của hai bác cháu mình.

     Chúng tôi tách đoàn, gồm năm người: Bác, người thư ký, một cán bộ địa phương, tôi và một vệ sĩ khác - cùng hướng về phố Hàng Chĩnh. Bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn choàng cổ. Không hóa trang nhưng phải nhìn kỹ một tí mới nhận ra Bác được.

      Xe dừng ngoài ngõ cách 200 mét, cả đoàn phải đi bộ vào. Tôi đi trước, gần giờ giao thừa, hương đèn thắp sáng trên mọi bàn thờ. Con hẻm thật vắng và từ đằng xa, tôi thấy bóng chị Tín đang quảy đôi quang gánh đi ngược ra ngoài phố. Ngang mặt, tôi đứng lại và hỏi nhỏ: “Chị Tín phải không?”. “Vâng ạ!”. “Sắp giao thừa chị còn đi đâu?”. “Tôi tranh thủ gánh thêm vài gánh lấy ít tiền mua quà bánh tết cho các cháu, anh ạ!”. “Chị về đi, có khách ghé thăm!”. 

     Người phụ nữ nghèo khổ xoay người lại nhìn những vị khách, rồi chị bàng hoàng buông rơi đôi quang gánh, chạy bổ tới, quì xuống, ôm choàng lấy chân vị lãnh tụ rồi khóc nấc lên: “Trời, sao Bác lại đến thăm nhà cháu?”.     Bác Hồ rưng nước mắt: “Nhà cháu mà không đến thì đến nhà ai!”. Mọi người im lặng. Tôi, thêm một lần nữa, ngước nhìn vị lãnh tụ đất nước mình, thấy Người cao hơn tất cả.

       Vào nhà, chúng tôi chia nhau thắp nhang đèn, bày quà bánh Bác dặn mang theo, chia một ít cho bốn đứa trẻ đang ngồi chờ mẹ trên chõng tre giữa nhà. Căn nhà bừng sáng, Bác quay sang hỏi về những đứa trẻ: Các cháu có đi học không? Chị Tín ngập ngừng: “Thưa, có ạ, nhưng thất thường lắm, ngày có ngày không.   Chồng mất, cháu thất nghiệp, gánh nước thuê…”. Hỏi: Gánh nước thuê có đủ sống không? Ðến đây thì chị òa khóc: “Lo cái ăn từng ngày thôi, thưa Bác!”. “Giờ cháu có muốn làm việc không?”. “Thưa Bác, hoàn cảnh cháu thì không biết nói sao nữa, cháu muốn có chỗ làm để nuôi con, nhưng tứ cố vô thân, ai nhận cháu?”. Bác gật đầu không nói gì

      Gần 12 giờ, mọi người chúc tết chị Tín và ra về. Lúc này ngoài đầu ngõ, tin Bác Hồ đến thăm nhà mẹ góa con côi của chị Tín đã bất ngờ lan truyền. Hàng xóm rủ nhau khoảng mấy chục người dân đứng chật trong ngõ chờ Bác ra. Tôi hơi bối rối. Bất thình lình Bác bước lại phía mọi người, tiếng vỗ tay vang lên.

       Chờ mọi người im lặng, Bác nói: “Bữa nay Bác vui vì tình cờ gặp các cụ, các cô chú, nhưng Bác cũng rất buồn vì mới từ nhà cô Tín ra. Giờ này sắp giao thừa, các cô chú có biết cô Tín còn đi gánh nước thuê không? Tại sao cả một khu phố vầy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín?”. Im lặng, một đại diện khu phố nhận lỗi, hứa sẽ quan tâm nhà chị Tín. Bác tiếp tục: “Bác muốn nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” trong khu phố, nhưng cái lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ...”.

     Bước lên xe, đó là năm đầu tiên tôi thấy đi chúc tết người dân về mà Bác thật buồn. Người quay sang nói: “Các chú thấy chưa?     Hôm nay mình đã đi đúng người thật việc thật rồi, nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải là nhà cô Tín rồi…”.

      Về nơi Bác ở, Bộ Chính trị đã tập họp để chúc tết Bác và cùng đón giao thừa. Bác ngồi vào ghế, mọi người ngồi xung quanh. Bác im lặng tí rồi nói từ từ: “Bữa nay tôi có một chuyến thăm một nhà nghèo nhất thủ đô Hà Nội. Cô Tín, chủ nhà, giờ này còn phải đi gánh nước thuê để có tiền mai mua gạo cho con. Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay tại thủ đô đất nước mình. Tôi biết không chỉ có một nhà như chị Tín đâu, người nghèo còn nhiều. Một đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Ðảng với nhân dân...”. 

     Cre : ST

    P/S :Trong đời, tôi có một thập niên làm cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

     Câu chuyện chị Tín chỉ là một trong những câu chuyện tôi không thể nào quên.

    Không quên, vì tôi còn theo dõi cho đến khi chị Tín được bố trí một việc làm phù hợp. Không quên, vì câu chuyện ấy cũng chỉ là một trong nhiều chuyến “vi hành” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã âm thầm đến với những người dân nghèo trong những ngõ ngách của thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành của miền Bắc thời bấy giờ.

    Không quên, vì tôi nghiệm ra ý nghĩa lớn lao nhất của lãnh tụ gửi gắm với mình: “Khi tôi báo cáo Bác đã tìm ra được gia đình nghèo nhất Hà Nội cho Bác, Bác hỏi tôi có biết tại sao phải tìm nhà nghèo nhất? Rồi Người tự trả lời: “Tại Bác muốn nhìn thấy sự thật. Nếu để thành ủy sắp xếp năm nào cũng thấy toàn cái tốt. Những nhà Bác ghé đều là những ngôi nhà khá giả, sạch sẽ, quà bánh sẵn sàng. Vui nhưng không thể hài lòng vì biết mọi người đã được sắp xếp!”.

     Té ra, điều mà Người cần tìm trong dịp tết ấy chính là một sự thật đúng với ý nghĩa của nó: sự thật của những người nghèo!

 (Theo: Lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn - nguyên là cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Ảnh: Tư Liệu

Monday, November 8, 2021

CLB Những người ko thích đùa

Bức tranh Kiếp người ngựa: Nếu thay kẻ ngồi sau là 1 kẻ mặc đại cán kiểu Mao, đội mũ vải gắn sao đỏ thì cũng chẳng khác gì bức tranh Bác mình vẽ trên báo Le Paria thời thực dân.

Tuesday, August 17, 2021

Câu chuyện về những luồng ánh sáng khác

 Ít ai biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh họa người Tây Ban Nha- Pablo Picasso từng có một tình bạn gắn bó suốt nhiều thập kỷ.

Thời trẻ, Bác làm bồi bàn ở khách sạn là để có thể mở rộng giao tiếp với những nhân vật nổi danh thế giới, chứ không phải chỉ để kiếm sống.

Năm 1911, Bác Hồ khi đó 21 tuổi, mới đặt chân lên đất Pháp, Bác đã gặp gỡ và quen biết họa sĩ Picasso khi đó đã 30 tuổi và là một họa sĩ nổi danh tại Paris. Qua những lần tham gia một số hoạt động nghệ thuật, Bác Hồ đã vài lần gặp gỡ Picasso và nhiều văn nghệ sĩ khác ở nhóm Clarté (Ánh sáng).

Năm 1946, Bác qua Pháp để dự Hội nghị Fontainebleau và tranh thủ đến thăm người bạn cũ - danh họa Picasso sau nhiều năm xa cách. Tới Pháp với tư cách nguyên thủ quốc gia - thượng khách của nước Pháp, nhưng Bác vẫn không quên ghé thăm để tỏ lòng ngưỡng mộ một người bạn nghệ sĩ từng chứng kiến một thời trai trẻ đầy gian khó của mình - danh họa Pablo Picasso.

Cuộc gặp gỡ đặc biệt đó đã được ông Vũ Đình Huỳnh kể lại như sau:

Một hôm, Bác gọi tôi đến bảo:

- Chú thay bộ quân phục, mặc thường phục đi với tôi ngay bây giờ.

Lúc lên xe, đi một quãng Bác mới cho hay:

- Hôm nay, chúng ta đến thăm danh họa Picasso.

Tôi ngạc nhiên:

- Bác cũng quen họa sĩ Picasso ạ?

Bác nói:

- Giả sử không quen biết từ trước thì đến thủ đô Paris này, chúng ta vẫn phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu mà nghệ thuật của tranh ông lại làm nhiều người mê.

Bác đến không báo trước. Lúc người giúp việc của Picasso đưa Bác đến gần cửa, họa sĩ đã nhận ra Bác. Ông vội chạy tới:

- Chào anh Nguyễn!

Hai người ôm chầm lấy nhau. Rồi Picasso lùi lại một bước ngắm Bác:

- Anh chóng già quá, nhưng đôi mắt vẫn trẻ và như sáng hơn thời chúng ta gặp nhau ở Trụ sở nhóm Clarté (Ánh sáng)”.

Picasso đưa Bác đi xem phòng tranh của ông. Bác cầm từng bức tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của Người. Lúc trở vào phòng trà, Picasso hỏi Bác:

- Anh cho tôi một lời khuyên.

Bác nói:

- Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình về tranh Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho tôi - một người không am hiểu nghệ thuật hội họa cho lắm.

Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:

- Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria (Người cùng khổ), anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Tàu. Ngày ấy tôi nói với Henri Basbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta đã thấy một tư tưởng, một tâm hồn đẹp tàng ẩn bên trong”. Nếu như anh tiếp tục con đường hội họa thì biết đâu đấy, cũng có thể sẽ có một Nguyễn Ái Quốc họa sĩ. Nhưng hôm nay anh Nguyễn là Hồ Chủ tịch, người đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình và của các dân tộc bị áp bức khác.

Ông mời Bác uống nước, rồi phác mấy nét chân dung Bác. Xong, ông cất vào cặp giấy vẽ. Đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao cho Bác. Sau đó, Bác trao lại cho tôi cất giữ…

Tiếc thay, qua nhiều năm sóng gió của chiến tranh, bức chân dung đã thất lạc, nếu còn, nó sẽ là một bằng chứng sinh động cho tình bạn giữa hai vĩ nhân.

15 năm sau (tháng 8/1961), nhân dịp danh họa Picasso tròn 80 tuổi, Bác Hồ đã gửi tới bạn một bức thư chúc mừng.

Trong thư  Người viết: “Đồng chí Picasso thuộc vào những con người luôn luôn trẻ, bởi vì những con người ấy sôi nổi trong tâm hồn một tình yêu say mê cái Thiện, cái Mỹ, với hòa bình và nhân đạo. Tình yêu ấy đã dẫn dắt Picasso đến với chủ nghĩa cộng sản. Và vì thế, họa sĩ mãi mãi giữ được tuổi xuân”.

Nguồn: Dân Trí

Friday, July 30, 2021

Bữa tiệc lich sử tại Trung Nam Hải

 Cuộc nhậu lich sử tại Trung Nam Hải. Bác Mao mời Bác Hồ qua nhậu tiếp Chủ Tịch Liên Xô Nikita Khrushchev. Bên tay trái Bác Hồ là bà Tống Khánh Linh, phu nhân của Cụ Tôn Trung Sơn cố lãnh tụ Quốc Dân Đảng  và là chị gái bà Tống Mỹ Linh, Đệ Nhất Phu Nhân Đài Loan. Bác Hồ thông dịch Nga Trung cho Bác Mao, Bác Nikita, và bà Khánh Linh. Thi thoảng Bác Hồ quanh sang hầu chuyện bà Khánh Linh bằng tiếng Anh ôn lại chuyện của Bác tại Boston. Một lúc sau, Bác Hồ chuyển qua bàn bên cạnh uống mấy li với các cụ Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình tán chuyện với 2 cụ này bằng tiếng Pháp. Được biết   trưởng đoàn lễ tân hôm đó là người Quảng Đông, Bác Hồ chuyển qua nói tiếng Quảng, nói là Bác rất thích món ngỗng quay ở Hông Kong và món cá sấu xào xả ớt tại Quảng Châu. 

Hôm đó, nhân viên của Trung Nam Hải được phen hết hồn. Cái xứ Việt Nam nhỏ bé sao lại có ông lãnh tụ ngon lành thế, thông thạo 5-6 ngôn ngữ, chu du khắp thế giới.

copy từ FB-anh Nguyễn Văn Hôt (DEBRECEN)

Tuesday, December 22, 2020

Sự khát khao tự do mạnh hơn vũ khí

 CON HỔ CỦA ĐÔNG DƯƠNG!

Người Pháp nói: "Được rồi, chúng tôi sẽ tạo lập thể chế mới là Liên Hiệp Pháp". Ông Hồ không có lựa chọn nhưng vẫn cố đàm phán, rồi nhanh chóng nhận ra đó là trò bịp.

Ngày nào ông ấy cũng nói chuyện với tôi và cánh nhà báo. "Các anh biết Pháp đề nghị gì trong quan hệ kiểu mới không? "À, chúng tôi (Pháp) là nước nhiều kinh nghiệm nhất, nên sẽ lo về ngoại giao. Chúng tôi hùng mạnh nhất, nên sẽ lo cả về quốc phòng. Rồi cả kinh tế, hải quan và di dân nữa...""

Ông Hồ nói: "Không ổn rồi, chiến tranh sẽ sớm bùng nổ."

Tôi hỏi: "Ngài sẽ đánh thế nào với quân đội Pháp hiện đại?"

Ông Hồ: "Chúng tôi có một vũ khí bí mật, đó là CHỦ NGHĨA DÂN TỘC". Tôi cười khúc khích khi nghe vậy.

Ông Hồ: "Chẳng phù hợp tí nào khi NGƯỜI MỸ CƯỜI CỢT về việc này. Các anh lập quốc dựa trên tinh thần yêu nước. Chủ nghĩa quốc gia của các anh là một động lực vĩ đại. Và đừng hỏi tôi sẽ đánh Pháp thế nào. Tôi đã thấy trong sách lịch sử của các anh những bức tranh về các nhóm du kích khốn khổ dưới sự dẫn dắt của tướng Washington. Họ thậm chí còn chẳng có giày. Tôi thấy những bộ quần áo tả tơi dính máu. Và các anh tự hào về những thứ tả tơi dính máu đó. Sao giờ anh lại nói tôi không thể làm điều đó?"

"Tôi không có ý xúc phạm ngài, thưa Hồ Chủ tịch. Nhưng đó là thế kỷ 18 rồi. Giờ là thế kỷ 20 và vũ khí mạnh hơn rất nhiều."

Ông Hồ: "Hãy nhớ lời tôi. Giữa thế kỷ 20, con người khao khát tự do thậm chí còn hơn cả vào thế kỷ 18. Và sự khát khao tự do mạnh hơn vũ khí. Đừng quên điều đó."

Ông Hồ tiếp tục: "Để tôi nói cho anh cuộc chiến sẽ thế nào. Đó là cuộc chiến giữa voi và hổ. Nếu con hổ của Đông Dương bị tóm bởi con voi của Pháp ngoài đồng trống, nó sẽ bị ngà voi mạnh mẽ xuyên thủng và bị giẫm nát. Nhưng hổ không thể bị tóm, vì chúng tôi sẽ ẩn trong rừng vào ban ngày, khẽ khàng ra ngoài vào ban đêm, nhảy lên lưng voi và khoét ra từng miếng thịt lớn, rồi từ từ con voi sẽ mất máu, kiệt sức quỵ xuống trên những cánh đồng của chúng tôi."

Đó là chuyện vào tháng 8/1946 (tại Pháp). Nhiều bạn có thể còn nhớ bài báo của tôi về hổ và voi (vào thời điểm đó), một dự báo về cuộc chiến. Và nó đã được đánh đúng như vậy. 

______________

(Trích dịch từ nguyên tác "Vietnam. How did we get in? How can we get out" của nhà báo kỳ cựu David Schoenbrun. David làm phim này sau khi gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1967. Đoạn văn trong phim được thượng nghị sĩ Fulbright trích dẫn tại thượng viện Mỹ vào tháng 3/1968, sau Tết Mậu Thân. Đến lúc này, chính giới Mỹ mới cố tìm hiểu mọi nguồn xem họ đang chiến đấu với ai mà kiên cường đến vậy.)

Tôi Yêu Việt Nam

Wednesday, September 23, 2020

Tính cách và đường lối cm (3)

HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

— Kỳ 3 (Kỳ Cuối) —

LÁNH ĐẾN MOSCOW

Khi mối quan hệ Tưởng – Cộng tan vỡ, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc lánh đến Moscow bằng con đường xuyên qua sa mạc Gobi. Cuộc đời ông sau đó là được bao phủ bởi một màn sương mờ không rõ ràng, nhưng người ta tin rằng Hồ đã sống ở Berlin một thời gian. Sau đó du hành đến Bỉ, Thụy Sĩ và Italia – dĩ nhiên, dưới nhiều bí danh khác nhau.

Sau năm 1928, cái tên Hồ Chí Minh lại bất ngờ xuất hiện ở miền đông Thái Lan trong vỏ bọc một nhà sư Phật giáo. Tại đây, ông cạo trọc đầu và hoạt động giữa những người Việt lưu vong, xây dựng các hội nhóm chính trị, xuất bản nhiều ấn phẩm báo chí… Từ đó xuyên qua biên giới tuồn vào Việt Nam.

Năm 1930, theo lời khuyên của Đệ tam Quốc tế, Hồ Chí Minh đã góp công lớn trong việc giải quyết những tranh chấp gay gắt nảy sinh giữa những người theo chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Dương, đặt nền móng cho sự thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng – tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam (hay còn gọi là Đảng Lao Động) sau này. 

Cùng năm đó, được sự hậu thuẫn của những người Cộng Sản, một cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở Việt Nam. Năm 1931, Hồ bị bắt ở Hong Kong và bị tống giam vào nhà tù của thực dân Anh vì các hoạt động lật đổ. Vào thời điểm đó, dưới sự đàn áp của Pháp, ông cũng chính thức bị kết án tử hình vắng mặt. Người Pháp đã tìm mọi cách để dẫn độ Hồ về, nhưng ông cho rằng mình là một người tị nạn chính trị, và vì thế không thể bị dẫn độ. Vụ án được (Sir) Stafford Cripps thụ lý ở London trong một phiên tranh biện với Hội đồng Cơ mật, đã ra phán quyết cuối cùng: Hồ được trả tự do. Ngay sau đó, ông lánh khỏi Hong Kong (lần này là dưới vỏ bọc một thương gia Trung Quốc) để trở lại Moscow.

Tại Moscow, Hồ theo học tại các trường Cộng Sản như Viện nghiên cứu các vấn đề Dân tộc & Thuộc địa, cũng như trường Lenin danh tiếng. Tuy nhiên, năm 1938 ông quyết định quay ngược lại Trung Quốc và trở thành thông tín viên trong hàng ngũ Bát lộ quân nổi tiếng của Mao Trạch Đông. Từ đó, ông tìm đường đi xuống phía Nam để trở về quê hương vào năm 1940. Đó cũng là lần đầu tiên Hồ Chí Minh đặt chân về Việt Nam sau hơn 30 năm xa cách.

NHÀ LÃNH ĐẠO BẬC THẦY

Thời điểm này cũng là một bước ngoặt lớn. Không chịu bất cứ sự chống trả nào, người Nhật đã hất cẳng Pháp, chiếm quyền kiểm soát bán đảo Đông Dương một cách hiệu quả, trong khi giới cầm quyền tại đây (hầu hết thuộc chính quyền Vichy) đã chấp nhận hợp tác với người Nhật. Bằng sự táo bạo và "ảo tưởng" tuyệt vời, Hồ đã lợi dụng Thế chiến thứ 2 để tập hợp một liên minh những người theo chủ nghĩa dân tộc và những người cộng sản Việt Nam để thành lập tổ chức gọi là Việt Minh (tức Mặt trận Độc lập).

Việt Minh đã phát triển một lực lượng du kích lên đến khoảng 10 nghìn người. Những "Người đàn ông mặc áo đen" này đã quả cảm chiến đấu chống lại quân Nhật trong rừng rậm và tạo nên nhiều thành công đáng nể.

Những hành động của Hồ đã đưa ông lên tầm thế giới với tư cách là nhà dân tộc chủ nghĩa hàng đầu Việt Nam và là đồng minh của Hoa Kỳ chống lại người Nhật. Ông nói: 

❝Tôi đã là một người Cộng Sản, nhưng không còn nữa. Tôi là một người con của đất nước Việt Nam, và không là gì khác.❞

Năm 1942, các báo cáo cho thấy Hồ đã đến Côn Minh theo đề xuất của các cố vấn quân sự Mỹ. Ông bị bắt tại đó bởi người của Tưởng Giới Thạch và bị cầm tù cho đến tháng 9/1943 trước khi được trả tự do theo yêu cầu (được cho) là của phía Hoa Kỳ. (Tập thơ nổi tiếng "Nhật ký trong tù" của ông, được cho là ra đời trong thời gian này – lời người dịch)

Trong quá trình được trả tự do, theo Fall, Hồ đã hợp tác với một tướng lĩnh Quốc Dân Đảng (tướng Trương Phát Khuê – lời người dịch) để thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong tại miền Nam Trung Quốc thành khối thống nhất. Một hệ quả của nó là vào năm 1944, Hồ đã chấp nhận trở thành người đứng đầu của Chính phủ Cộng hòa Lâm thời Việt Nam. Chính phủ này tuy chủ yếu chỉ là hình thức trên giấy, nhưng nó đã cho phép Hồ gửi một thông điệp mạnh mẽ đến Cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS – lời người dịch). Vì vậy, khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội năm 1945, trong đoàn tùy tùng của ông có mặt những sĩ quan quân sự cấp cao của Mỹ. Cũng trong giai đoạn này, ông đã lấy tên chính thức là Hồ Chí Minh.

TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP

Với sự kết thúc của Thế chiến thứ 2, Hồ tuyên bố nền độc lập cho Việt Nam, nhưng phải mất 9 năm để tuyên bố của ông trở thành hiện thực. Đầu tiên, theo hiệp ước Postdam, Quốc dân đảng chiếm đóng Hà Nội và các khu vực phía Bắc Việt Nam. Thứ hai, người Pháp (bằng tàu của Anh) sẽ tái chiếm Sài Gòn và phần phía Nam đất nước. Và thứ ba, liên minh dân tộc chủ nghĩa của Hồ đã bị căng thẳng dưới áp lực của những sự kiện này.

Thành lập một lực lượng du kích mới lấy Việt Minh làm nòng cốt, Hồ và các đồng sự của mình (theo hầu hết các nguồn tin), đã thanh toán dứt điểm những người bất đồng chính kiến không muốn chiến đấu theo cách của ông để giành độc lập. Các vụ ám sát thường xuyên được ghi nhận. Cũng trong thời gian đó, khi người Trung Quốc rút khỏi miền Bắc và người Pháp đang Bắc tiến từ phía Nam, Hồ đã thương lượng với Pháp để cứu lấy chính thể dân tộc chủ nghĩa của mình.

Trong một thỏa thuận mà Hồ Chí Minh thực hiện ở Paris năm 1946, ông đồng ý để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành một bộ phận của Liên hiệp Pháp với tư cách là một quốc gia tự do trong liên bang Đông Dương. Người Pháp công nhận Hồ là quốc trưởng và hứa sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam về vấn đề của một nước Việt Nam thống nhất dưới thời Hồ Chí Minh.

Nhưng đến đầu năm 1947, hiệp định bị phá vỡ và hai bên trở mặt giao chiến với nhau. Du kích Việt Minh trấn giữ các vùng rừng rậm và làng mạc trong khi người Pháp chiếm các đô thị lớn. Suốt 7 năm, chiến tranh bùng nổ khi lực lượng của Hồ tập trung sức mạnh và ngày càng siết chặt vòng vây. Trong hầu hết thời gian này, Hồ Chí Minh bị cô lập trên mặt trận ngoại giao bởi ông không được những người Cộng Sản Liên Xô và Trung Quốc công nhận, cho đến khi chiến thắng của ông trước người Pháp gần như là điều chắc chắn.

Trong một nỗ lực nhằm củng cố các lực lượng chính trị của mình, Pháp đã triệu hồi Bảo Đại – người từng giữ vai trò Hoàng đế và là con rối của Nhật. Hủ bại và chỉ ham hưởng thụ, Bảo Đại nhanh chóng cùng các nhân tình của mình "phắn" sang Paris, để lại một chế độ suy yếu tan hoang ở Sài Gòn. Dĩ nhiên, điều này đã chứng tỏ rằng không có một sự ủng hộ nào đối với đội quân viễn chinh Pháp, vốn đã bị đánh gục bởi chiến thuật du kích của Tướng Giáp. Cuối cùng, vào ngày 8 tháng 5 năm 1954, người Pháp bị đánh bại hoàn toàn tại Điện Biên Phủ. Chiến tranh Đông Dương chính thức kết thúc vào tháng 7 với cái giá phải trả cho người Pháp là 172.000 thương vong; và với Việt Minh, con số dự đoán có lẽ là gấp ba như thế.

Hiệp định ngừng bắn được ký tại Geneva ngày 21 tháng 7 năm 1954. Tuy nhiên, nó thể hiện được ít hơn nhiều so với hy vọng của Hồ. Cũng trong thời điểm này, Hoa Kỳ chính thức can thiệp vào Việt Nam thông qua gói viện trợ 800 triệu đô la / năm cho người Pháp. Lo ngại về sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản ở châu Á gây ảnh hưởng đến Washington, phó tổng thống Mỹ là Richard Nixon đã nói: "Trong trường hợp cần thiết để ngăn chủ nghĩa Cộng Sản lan rộng ở châu Á, chúng ta phải chấp nhận mạo hiểm đưa quân của mình vào. Và tôi nghĩ Cơ quan Hành pháp phải làm điều đó.".

Tuy nhiên, hiệp định Geneva đã chia cắt Việt Nam thành hai miền tại vĩ tuyến 17. Nó cũng loại bỏ chính quyền Pháp trên bán đảo và tạo điều kiện cho các cuộc bầu cử toàn dân vào năm 1956 như một phương tiện để thống nhất đất nước.

Mặc dù là một bên tham gia Hiệp định Geneva nhưng Hoa Kỳ đã từ chối ký kết. Một bên khác không ký vào hiệp định là miền Nam Việt Nam, cũng từ chối tổng tuyển cử. Cùng lúc, Mỹ đã nhanh chóng xây dựng bộ máy quân sự của mình ở Sài Gòn để bày tỏ sự ủng hộ với chế độ Ngô Đình Diệm. Hành động này được xem như một biện pháp chống lại những hoạt động du kích ngày một rõ ràng hơn của Mặt trận Giải phóng Dân tộc thời điểm sau năm 1956.

Tiền tuyến của Mặt trận Giải phóng Dân tộc, cơ bản là độc lập với lực lượng của Hồ Chí Minh ở miền Bắc, đã gia tăng ảnh hưởng của nó trong thập niên 60. Nó tự cung tự cấp cho bản thân từ chính vũ khí thu được của người Mỹ và từ một số nguồn miền Bắc cung ứng. Bắt đầu từ năm 1964, Mỹ đã đổ hàng ngàn lính vào Nam Việt Nam để chống lại Việt Cộng và sau đó là tiến hành ném bom miền Bắc. Việc Mỹ ngừng ném bom vào năm 1968, cuối cùng đã dẫn đến các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Nhưng dù cho có như vậy, thì cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam vẫn tiếp diễn.

TỰ TIN VÀO CHIẾN THẮNG

Xuyên suốt tất cả, Hồ luôn tự tin vào chiến thắng. Năm 1962, khi cuộc chiến mới chỉ là xung đột cục bộ giữa lực lượng Nam Việt Nam cùng 11.000 cố vấn Mỹ với lực lượng du kích nhỏ hơn phía bên kia, ông đã nói với một khách quốc tế người Pháp:

❝Người Pháp các bạn biết rõ về Việt Nam, cũng như có nhiều mối quan hệ cũ ở đây. Và chúng tôi đã phải mất 8 năm chiến đấu cay đắng để đánh bại các bạn. Giờ thì chế độ miền Nam được trang bị tốt hơn và được người Mỹ giúp đỡ. Người Mỹ mạnh hơn nhiều so với người Pháp, mặc dù họ hiểu về chúng tôi ít hơn. Thế nên, có thể chúng tôi phải mất đến 10 năm để làm điều tương tự. Nhưng tôi tin, đồng bào anh hùng ở miền Nam cuối cùng rồi cũng sẽ đánh bại họ.❞

Đến đầu năm 1967, khi nói chuyện với Ashmore và Baggs, Hồ vẫn tràn đầy tự tin. Ông nói:

❝Chúng tôi đã chiến đấu vì độc lập của mình hơn 25 năm. Tất nhiên, chúng tôi trân trọng hòa bình, nhưng để mua hòa bình với người Mỹ hay bất cứ một bên nào khác bằng cái giá là nền độc lập, thì chúng tôi sẽ không bao giờ!❞

Khi cuộc trò chuyện gần đi đến hồi kết, ông nắm chặt tay phải xúc động nói: 

❝Các bạn phải biết giải pháp của chúng tôi. Sau một thời gian dài đấu tranh gian khổ để giành lại độc lập cho đất nước, thì ngay cả vũ khí hạt nhân của các bạn cũng không thể buộc chúng tôi đầu hàng được đâu.❞

Nói về cái chết của chính mình, Hồ dường như không có chút cảm xúc nào. Hồ Chí Minh đã được khuyên phải nghiêm khắc từ bỏ thuốc lá, nhưng rồi ông vẫn hút. “Khi bạn là một ông già như tôi, thì bạn chẳng cần phải lo lắng về tác hại của thuốc lá nữa” – Hồ hóm hỉnh. 

… [ HẾT ] …

© Ảnh: Chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc (thứ ba từ trái sang) cùng với các đại biểu dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản

© Bài của ký giả ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (năm 1969)

© Bản dịch của sonle

Tuesday, September 22, 2020

Tính cách và đường lối cm (2)

HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

— Kỳ 2 —

THỜI TRAI TRẺ

Nền tảng giáo dục cơ bản mà ông Hồ nhận được là từ cha mình và trường làng. Lớn hơn một chút, ông học vài năm ở trường Lycee (tức Trung học) Quốc Học ở cố đô Huế. Ở đây, nên nói thêm rằng, trường Quốc học chính là ngôi trường mà cha ông Ngô Đình Diệm – tức thượng thư Ngô Đình Khả – đã sáng lập nên với mục đích duy trì truyền thống hiếu học của dân tộc. Danh sách những học sinh xuất sắc của trường phải bao gồm những cái tên lỗi lạc như: Võ Nguyên Giáp – vị tướng huyền thoại của chiến tranh du kích; hay Phạm Văn Đồng – thủ tướng đương nhiệm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ông Hồ rời trường vào năm 1910 khi chưa có bằng tốt nghiệp và trở thành giáo viên bán thời gian tại một trường tư thục trong một thị trấn đánh cá nhỏ ở phía Nam. Theo nhiều nguồn tin có thể tin cậy, chính trong thời gian giảng dạy ở đây, ông Hồ đã quyết định sẽ tìm đường sang châu Âu. Để thực hiện mục tiêu ấy, mùa Hè năm 1911, ông ghi danh theo học nghề phụ bếp tại một trường thương mại ở Sài Gòn. Đây là những kỹ năng dễ dàng nhất để đến được châu Âu vào thời điểm đó.

Khoá học này mang đến cho ông Hồ khẩu vị của một người sành ăn cũng như khả năng chế biến một món ăn ngon mà ông thích làm khi có thể.

Tuy nhiên, không cần chờ đợi lâu, bằng năng khiếu của mình trong ẩm thực, ông Hồ đã được nhận lên tàu Latouche-Treville ngay khi khóa học còn chưa kết thúc. Khi ấy, mọi người trên tàu gọi ông là Ba.

Trong chuyến đi của mình, ông đã đặt chân đến Marseilles; các cảng ở châu Phi và Bắc Mỹ. Giải thích ý nghĩa quan trọng của những chuyến đi này đối với nhận thức của Hồ Chí Minh như một cuộc cách mạng, ông Fall đã viết trong cuốn "The Two Vietnams":

"Những mối liên hệ của ông với chủ nghĩa thực dân da trắng ngay trên sân nhà của họ đã phá tan mọi lầm tưởng trong ông về 'sự vượt trội của chúng', và sự liên kết của ông với các thủy thủ từ Brittany, Cornwall hay Frisian Islands – những người mù chữ và mê tín như hầu hết tầng lớp nông dân thấp kép nhất ở Việt Nam – đã làm nốt phần còn lại của lịch sử."

"Ông Hồ vẫn thích kể câu chuyện về con tàu của mình khi dừng chân tại một cảng châu Phi. Ông nhớ lại những người bản xứ bị buộc phải nhảy xuống vùng nước đầy cá mập để bảo vệ mỏ neo của tàu và bị giết bởi chúng dưới đôi mắt thờ ơ của hành khách và thủy thủ đoàn.

Nhưng cũng chính những mối liên hệ với châu Âu mang lại cho ông sự mặc khải về giá trị cá nhân và phẩm giá của chính mình. Khi ông đặt chân đến châu Âu trong một bộ Âu phục, những người da trắng (trong lần đầu tiên tiếp xúc) đã gọi ông là "monsieur" – tức "Quý ngài" – thay vì sử dụng từ "tu" – một từ hay dùng cho trẻ em, như cách mà người Pháp thường gọi dân ở các xứ thuộc địa, bất kể người dân bản xứ ấy được giáo dục như thế nào.

Trong những năm tháng lênh đênh trên biển, ông Hồ đọc rất nhiều, từ Shakespeare, Tolstoy, Marx… đến cả Zola. Theo những lời kể sau này, ông thậm chí còn sống như một người khổ hạnh và có đôi chỗ tương đồng với người theo chủ nghĩa thuần khiết. Khi chứng kiến những người thuộc tầng lớp đáy xã hội bị miệt thị và xúc phạm tại cảng Marseilles, ông đã tự hỏi:

❝Tại sao người Pháp không khai hóa cho chính người dân của họ trước khi giả vờ mang đến văn minh cho chúng ta?❞

Khi Thế chiến thứ Nhất nổ ra, ông Hồ đến sống ở London, nơi ông làm việc như một người xúc tuyết và phụ bếp cho Escoffier, một đầu bếp bậc thầy tại khách sạn Carlton. Người ta nói rằng, Escoffier đã nâng đỡ cho ông một vị trí làm việc tại bếp chính với mong muốn truyền dạy cho Hồ tất cả về nghệ thuật ẩm thực. Tuy nhiên, lúc đó chàng thanh niên Việt Nam 24 tuổi này lại quan tâm nhiều hơn đến chính trị. Ông gia nhập Hiệp hội Người lao động ở nước ngoài, bao gồm chủ yếu là người châu Á, và là thành viên phong trào đòi độc lập của Ireland. [ ⟶ ông cụ máu ghê, đi đâu cũng chiến 😙 ]

Cũng trong thời gian chiến tranh ấy, Hồ đã rời bỏ nhà bếp của Carlton để ra biển và lên đường đến Hoa Kỳ. Ông được cho là đã sống ở khu Harlem một thời gian. Bản thân ông cũng thường nhắc đến chuyến đi Mỹ của mình, dù đôi khi là khá mơ hồ về chi tiết. Theo Phạm Văn Đồng, người cộng sự thân cận của ông, điều khiến ông Hồ ấn tượng nhất ở Hoa Kỳ là "sự man rợ và xấu xa của chủ nghĩa tư bản, băng Ku Klux Klan và sự phân biệt chủng tộc dã man với người da đen".

Khoảng năm 1918, Hồ trở về Pháp và sống trong một căn hộ nhỏ trên đồi Montmartre của Paris, làm nghề chỉnh sửa ảnh dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc.

Tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919, ông nổi lên như một người phát ngôn tự do cho quê hương mình. Nhận thấy khả năng giành được độc lập của Việt Nam trong đề xuất của Tổng thống Woodrow Wilson về quyền tự quyết của các dân tộc, ông Hồ – trong bộ vest đen đi thuê và mũ quả dưa – đã đến Cung điện Versailles để trình bày yêu cầu của mình. [ ⟶ ngầu ghê! 😲 ]

Dĩ nhiên, bản đề xuất ấy không được chấp nhận, dù Hồ đã vạch sẵn một tiến trình cho Việt Nam. Trong đó, không bao gồm việc độc lập, mà chỉ đề cập đến các quyền tự do cơ bản, bình đẳng giữa giới chức cầm quyền Pháp và người dân bản địa.

Nhưng những gì mà Hồ hy vọng về việc giải phóng Việt Nam khỏi ách cai trị của thực dân Pháp đã bị phá hủy hoàn toàn bởi sự thất bại của Hội nghị Versailles trong việc giải quyết các vấn đề thuộc địa. Vì thế, niềm tin của ông giờ đây được chuyển sang Chủ nghĩa Xã Hội. Thật vậy, bài phát biểu được ghi âm đầu tiên của Hồ là tại một đại hội của đảng Xã hội Pháp vào năm 1920, và đó là một lời kêu gọi không phải cho cách mạng thế giới mà là "chống lại những kẻ đã gây ra nhiều tội ác ghê tởm trên quê hương tôi.". Ông đề nghị đảng có "những hành động thiết thực hơn để hỗ trợ người dân bản xứ bị áp bức."

Như một định mệnh, ngay lập tức sau đó, Hồ trở thành một trong những thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp vì ông cho rằng những người theo chủ nghĩa Xã hội mới chỉ đang quan tâm đến vấn đề thuộc địa, trong khi những người Cộng sản đã sẵn sàng thúc đẩy sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ông nói với các đại biểu: "Tôi không hiểu gì về chiến lược, chiến thuật và tất cả những từ đao to búa lớn khác mà các bạn sử dụng, nhưng tôi hiểu rõ một điều duy nhất: Quốc tế thứ ba quan tâm rất nhiều đến vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của nó cũng hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa bị áp bức giành lại tự do và độc lập, trong khi những người ủng hộ Đệ nhị Quốc tế thì không nói một lời nào về số phận của các khu vực thuộc địa chúng tôi."

BIÊN TẬP VIÊN BÁO TUẦN

Với quyết định gia nhập vào những người Cộng sản, sự nghiệp của ông Hồ đã có một bước ngoặt rõ rệt. Một mặt, ông trở thành thành viên ưu tú của Đảng Cộng sản Pháp cũng như là biên tập viên của tờ Le Paria (Người Cùng Khổ), tờ báo tuần của Hội liên hiệp Thuộc địa mà ông cùng tham gia thành lập năm 1921. Hội Liên hiệp Thuộc địa là một tổ chức nhiều sắc tộc những người đến từ Algeria, Senegal, Tây Ấn và châu Á đang lưu vong ở Paris, những người đã được thống nhất bởi một chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành và đều cam kết chung cho chủ nghĩa cộng sản.

Mặt khác, một Hồ Chí Minh với vẻ ngoài mảnh khảnh đã trở thành một nhà hùng biện. Ông đi khắp nơi ở Pháp để nói chuyện với đám đông binh lính và công nhân chiến trường người Việt đang đợi hồi hương.

Bên cạnh đó, Hồ còn bị hấp dẫn bởi Moscow, nơi có thể gọi là trung tâm đầu não của Chủ nghĩa Cộng Sản thế giới. Ông đến Moscow lần đầu tiên vào năm 1922, nơi ông đã gặp Lenin và trở thành một thành viên của Đệ Tam Quốc Tế khu vực Đông Nam Á. Bằng tất cả nhiệt huyết của mình, ông cất lên tiếng nói, gặp gỡ tất cả những Đảng viên Cộng sản, giúp đỡ thành lập Quốc tế Nông dân (hay còn gọi là Krestintern) cho công cuộc cách mạng giữa các dân tộc thuộc địa.

Sau một thời gian ngắn ở Pháp, Hồ trở lại Moscow, nơi là căn cứ của ông trong nhiều năm sau đó. Ông theo học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông, được đào tạo chính quy về chủ nghĩa Mác và các kỹ thuật kích động, tuyên truyền.

Năm 1925, Hồ được cử đến Quảng Châu với tư cách là thông dịch viên cho Michael Borodin, một trong những lãnh đạo của phái đoàn Liên Xô giúp đỡ Tưởng Giới Thạch – khi đó, Tưởng được Quốc tế Cộng ủng hộ với tư cách là người thừa kế của Tôn Trung Sơn. Trong thời gian này, ông bắt đầu truyền bá tinh thần cách mạng ở Viễn Đông. Hồ tập hợp những người tị nạn Việt Nam, tổ chức thành Đoàn Thanh niên Cách mạng Việt Nam và thành lập Liên đoàn các dân tộc bị áp bức ở châu Á. Tổ chức này nhanh chóng trở thành đảng Cộng sản Nam Hải, tiền thân của các nhóm Cộng sản quốc gia khác nhau, trong đó có đảng Cộng sản Đông Dương của riêng Hồ năm 1930.

Trong hai năm, cho đến tháng 7 năm 1927, khi Tưởng từ chối các đồng minh Cộng sản của mình, Hồ đã gửi những người Việt giỏi nhất đến trường quân sự của Tưởng tại Whampoa trong khi tiến hành một khóa huấn luyện về khả năng kích động chính trị cho các đồng chí của mình.

… [ Còn tiếp ] …

© Ảnh: Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) tại Hội nghị Hòa bình Versailles (năm 1919)

© Bài của ký giả ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (năm 1969)

© Bản dịch của Hube See Less

Monday, September 21, 2020

Tính cách và đường lối cm (1)

The X-File of History: Đây là một tài liệu hiếm rất thú vị do một ký giả người Mỹ viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, được đăng trên một trong những tờ báo quan trọng, uy tín nhất lịch sử nước Mỹ — tờ New York Times. Và sở dĩ nó đặc biệt là bởi lẽ bài báo được đăng ngay sau khi Bác qua đời (ngày 04 tháng 9 năm 1969), trong thời điểm cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt nhất. Bài viết có tựa đề: HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

— Kỳ 1 —

Trong các nhà lãnh đạo của thế kỷ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh gây được sự chú ý hơn cả về tính nhẫn nại và kiên trì. Chính ông là người đã dành trọn cuộc đời để theo đuổi mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam và đã thành công trong việc hòa nhập chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa dân tộc.

Từ thuở thiếu thời, ông Hồ đã luôn đi tìm sự đồng thuận cho con đường tự do của Việt Nam thoát khỏi chế độ thuộc địa của Pháp. Ông kiên trì qua nhiều năm dù cơ hội đạt được mục tiêu ấy có vẻ như thấp đến mức vô lý. Cuối cùng, với thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc theo đuổi lý tưởng của mình. Không những vậy, Điện Biên Phủ còn đánh dấu một kì tích của chiến thuật du kích, sau 9 năm kể khi ông Hồ được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau sự phân chia tạm thời tại vĩ tuyến 17 bởi Hiệp định Geneva năm 1954 cũng như sự cứng rắn hơn bao giờ hết khi Hoa Kỳ dành sự ủng hộ cho Ngô Đình Diệm ở miền Nam, ông Hồ đã lãnh đạo các đồng chí của mình ở miền Bắc chống lại những cuộc tấn công của quân đội Mỹ. Trong cuộc chiến này, thủ đô Hà Nội cùng các tỉnh lân cận đã liên tục bị máy bay Mỹ ném bom.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chính là nguồn cảm hứng cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc, hay còn gọi là Việt Cộng, trong các hoạt động ở miền Nam. Đây là cuộc xung đột lâu dài, đẫm máu và tốn kém chống lại chế độ Sài Gòn và các đồng minh của Mỹ.

Tại cuộc chiến mà Hoa Kỳ ngày càng trở nên sa lầy, đặc biệt là sau năm 1964, ông Hồ đã khéo léo duy trì một sự cân bằng tinh tế trong mối quan hệ của mình với Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Những nước cộng sản với cùng hệ tư tưởng này đã sẵn sàng trở thành những hậu phương cung cấp thực phẩm và hàng hóa chiến lược cho ông Hồ. Đó là thước đo về khả năng ngoại giao tài tình của ông Cụ khi tạo được các điều khoản hữu hảo với tất cả các bên.

NHỎ NGƯỜI VÀ MẢNH KHẢNH

Không chỉ đối với 19 triệu người ở phía Bắc vĩ tuyến 17, mà còn với hàng triệu người khác thì hình dáng Hồ Chí Minh hiện lên với vẻ ngoài nhỏ nhắn, mảnh khảnh, làn da ngăm đen cùng với khuôn mặt khắc khổ, chòm râu phất phơ dưới cằm, gò má trũng sâu và một đôi mắt ngời sáng. Trông ông giống như một tộc trưởng, một George Washington của quốc gia mình. Mặc dù tên của ông không gắn liền với bất cứ quảng trường công cộng, các tòa nhà, nhà máy, sân bay hay đài kỷ niệm nào, nhưng sức hút của ông Cụ cũng như tình cảm mà người dân dành cho ông là điều không phải nghi ngờ.

Ông được mọi người gọi là "Bác Hồ", một cái tên được sử dụng trong báo chí Bắc Việt thời đấy. Trong thời gian cuộc chiến chưa leo thang như thời gian sau này khiến ông bị giới hạn bởi các vấn đề về an toàn và nhiệm vụ chỉ huy, ông Cụ thường xuyên đến thăm các làng mạc và thị trấn. Theo một cách giản dị, ông đặc biệt thích ghé thăm trường học và trò chuyện với lũ trẻ. Những người phương Tây biết ông đều bị thuyết phục rằng, dù cho bất kể những mưu kế, chiến lược của Hồ Chí Minh trong các vấn đề chính trị có lớn đến đâu, thì ông luôn là người gần gũi giản dị khi bày tỏ cảm xúc của mình đối với những người dân bình thường.

Quả thực, sự nổi tiếng cá nhân của ông Hồ là như vậy và nó thường được thừa nhận, thậm chí bởi nhiều kẻ thù chính trị của mình, rằng Việt Nam sẽ được thống nhất dưới sự lãnh đạo của ông nếu có cuộc bầu cử toàn quốc như cam kết tại Geneva. Vì vậy, các vùng lãnh thổ của miền Nam Việt Nam đã được Mặt trận Giải phóng Dân tộc kiểm soát hiệu quả bất chấp sự hiện diện của hàng trăm ngàn lính Mỹ.

Thông minh, tháo vát và tận tụy, dù đôi khi là vô tình, ông Hồ đã tạo ấn tượng tốt đối với nhiều người có cơ hội tiếp xúc với mình. Một trong số đó là Harry Ashmore thuộc Trung tâm Nghiên cứu về các thể chế Dân chủ và là cựu biên tập viên của báo Arkansas Gazette.

Harry Ashmore và William C. Baggs — biên tập viên của tờ Miami News — là một trong số những người Mỹ cuối cùng đã có dịp tiếp xúc với ông Hồ khi họ đến thăm Hà Nội vào đầu năm 1967.

"Hồ Chí Minh là một người đàn ông lịch sự, nhã nhặn, tinh tế một cách nhẹ nhàng và không có tính cách cay độc." — Ashmore nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. Tại buổi gặp mặt, ông Hồ đã mặc bộ đồ trắng cao cổ đặc trưng của mình, được gọi là cu-nao (đây là từ giữ nguyên theo cách diễn đạt của tác giả. Cá nhân chúng tôi nghĩ nó có nghĩa là "áo gụ"), và đôi dép cao su hở mũi. Ông hút nhiều, loại thuốc lá Salems do Mỹ sản xuất.

THÀNH THẠO TIẾNG ANH

Cuộc trò chuyện kéo dài hàng giờ của họ bắt đầu bằng tiếng Việt với một thông dịch viên nhưng nhanh chóng chuyển sang tiếng Anh. Ashmore đã rất ngạc nhiên bởi sự thông thạo tiếng Anh của ông Hồ, và càng ngạc nhiên hơn nữa khi biết đó chỉ là một trong nhiều ngôn ngữ (Trung Quốc, Pháp, Đức, Nga...) mà ông có thể sử dụng thành thục.

Trong một khoảnh khắc, Hồ Chí Minh đã gợi cho Ashmore và Baggs nhớ lại rằng ông từng ở Hoa Kỳ. "Tôi nghĩ rằng tôi hiểu người Mỹ" — ông nói. "Và tôi không hiểu làm thế nào họ có thể tham gia trong cuộc chiến này. Liệu Nữ thần Tự do có đứng trên đầu nàng ấy không?"

Đây là một câu hỏi tu từ mà ông Hồ cũng đặt ra cho những người Mỹ khác trong nỗ lực chỉ ra những gì trong tâm trí họ là một sự mâu thuẫn: một dân tộc thuộc địa đã giành được độc lập cho mình bằng đấu tranh cách mạng lại đi đàn áp một dân tộc thuộc địa khác để ngăn chặn họ mưu cầu độc lập.

Kiến thức của ông Hồ về lịch sử nước Mỹ rất sắc sảo, và ông đã tận dụng nó vào mùa Hè năm 1945 khi viết bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông nhớ lại nội dung Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, nhưng không phải theo kiểu chính xác từng từ. Trong một nhiệm vụ quân sự cùng với người Mỹ (ở đây, có lẽ ý tác giả là thời điểm Việt Minh cộng tác với nhóm OSS của tình báo Hoa Kỳ thời điểm trước 1945), Hồ Chí Minh đã cố gắng hỏi xin một bản sao của bản Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ. Và khi không ai có thể cung cấp nó, ông đã nhờ các quân nhân diễn giải nó theo hồi ức của họ.

Vì vậy, bản tuyên ngôn của ông bắt đầu bằng: "Mọi người đều được sinh ra bình đẳng. Họ được ban tặng bởi Đấng Tạo Hóa những quyền không thể thay đổi được; trong đó có quyền Sống, Tự do và mưu cầu Hạnh phúc." Sau khi giải thích rằng điều này có nghĩa là "tất cả các dân tộc trên trái đất đều bình đẳng từ khi sinh ra, tất cả mọi người đều có quyền sống, được tự do và hạnh phúc", ông Hồ tiếp tục diễn đạt bằng cách của mình, thể hiện những nguyện của người dân Việt Nam và tuyên bố độc lập.

GẦN GŨI VÀ THÂN THIỆN

Ngoài người Mỹ, ông Hồ đã thổi bùng lên "ngọn lửa" với nhiều người khác đã tiếp xúc với ông qua nhiều năm.

"Đặc biệt đáng yêu và thân thiện" là mô tả của lãnh đạo Ấn Độ Jawaharlal Nehru.

Paul Mus, nhà nghiên cứu phương Đông người Pháp, đã tiến hành nhiều cuộc nói chuyện với ông Hồ vào năm 1946 và 1947, đã tìm thấy ông là "một nhà cách mạng vô biên và không thể tha hoá, một vị thánh."

Một chỉ huy hải quân Pháp đã quan sát một hành khách Việt Nam mảnh khảnh trên tàu trong 3 tuần, đã kết luận rằng ông Hồ là "một người đàn ông thông minh và quyến rũ, cũng là một người duy tâm, hoàn toàn cống hiến tất cả cho lý tưởng mà ông ta đã lựa chọn" và một người có "đức tin ngây thơ trong các khẩu hiệu chính trị xã hội đang được in nhan nhản trên mọi ấn phẩm của thời đại chúng ta."

Hồ Chí Minh là một người Cộng sản rất thực dụng, một người ưa làm hơn là lý luận. Các phát biểu và bài viết của ông đã được tổng hợp trong bốn cuốn "Những tác phẩm được chọn của Hồ Chí Minh" được phát hành tại Hà Nội từ năm 1960 đến năm 1962.

Bernard B. Fall — một tác giả người Mỹ sống ở Việt Nam — đã xuất bản tuyển tập này dưới tiêu đề "Con đường cách mạng Hồ Chí Minh". Chúng là những tài liệu được diễn đạt hết sức đơn giản và rõ ràng, hầu hết đều có tính chính trị và gần như không thể bổ sung vào nội dung của học thuyết Mác-xít.

Giống như Mao Trạch Đông, một nhà lãnh đạo cộng sản khác, ông Hồ cũng sáng tác thơ và một số được xem là khá ảnh hưởng. Một trong những bài thơ của ông, được viết khi ông là tù nhân của những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc vào năm 1942-43, được gọi là "Thu Dạ":

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trǎng;

Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tǎng,

Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;

Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,

Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;

Vô tội mà ở tù đã một nǎm nay,

Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Trước cửa lính canh bồng súng đứng,

Trên trời trǎng lướt giữa làn mây;

Rệp bò ngang dọc như xe cóc,

Muỗi lượn hung hǎng tựa máy bay;

Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay;

ở tù nǎm trọn thân vô tội,

Hoà lệ thành thơ tả nỗi này.

(Người dịch đã lấy bản gốc thay vì bản dịch tiếng Anh của tác giả bài báo)

Sự nổi lên của ông Hồ không phải là một câu chuyện được viết đầy đủ. Ngược lại, chi tiết của nó tại một số điểm quan trọng là không thể xác thực. Điều này dẫn đến việc tình báo Pháp đã đưa ra một giả thuyết có đến hai Hồ Chí Minh sau khi so sánh hình ảnh trước và sau của ông Hồ.

Một lý do đáng tin cậy giải thích cho nghi ngờ đó là bởi ông Hồ sử dụng khoảng một chục bí danh khi hoạt động, mà trong đó Hồ Chí Minh chỉ là một. Giải thích khác là sự bí ẩn của ông Hồ khi tiết lộ thông tin tiểu sử của mình. "Anh biết đấy, tôi là một ông già, và một ông già thì thích giữ bí mật của mình," — Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với ông Fall. Bằng ánh mắt thích thú, ông tiếp tục, "Chờ cho đến khi tôi chết. Sau đó, anh có thể viết về tôi như tất cả những gì anh muốn". Tuy nhiên, Fall đã thuật lại rằng, trước khi rời Hà Nội, ôngđã nhận được một bản tóm lược ngắn gọn không dấu diếm về cuộc đời của ông Hồ, "rõ ràng là được gửi theo lời dặn của "ông già" ấy".

Mặc dù có sự minh bạch (tuy giới hạn) của ông Hồ, nhưng Fall thực sự đã có một mối liên hệ mật thiết với nhà lãnh đạo Việt Nam. Fall nhớ lại ông đã cho nhà lãnh đạo Việt Nam xem một bản vẽ tay chân dung Hồ Chí Minh, được vẽ bởi vợ mình. "Oh, tuyệt quá. Trông rất giống tôi", ông Cụ vui vẻ. Sau đó, ông lấy một bó hoa đưa cho và bảo: "Hãy tặng bó hoa này cho cô ấy, nói với cô ấy bức vẽ rất đẹp và hôn lên hai má cô giúp tôi."

Mặc dù có một số điều không chắc chắn về ngày sinh của ông, nhưng bằng chứng đáng tin cậy nhất cho thấy ông sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại Kim Liên, một ngôi làng ở tỉnh Nghệ An thuộc miền Trung Việt Nam. Nhiều nguồn cho biết tên thật của ông như Nguyễn Ái Quốc (tức người yêu nước họ Nguyễn). Tuy nhiên, Wilfred Burchett, một phóng viên sinh ra ở Úc, người hiểu rõ ông Hồ, tin rằng (và hiện giờ nó được chấp nhận) rằng tên khai sinh của ông là Nguyễn Tất Thành.

Ông được cho là con út trong số ba người con trong gia đình. Cha của ông chỉ khá giả hơn một chút so với nông dân trồng lúa trong vùng, nhưng rõ ràng ông là một người quyết tâm, vì ông đã đậu các kỳ thi và có một công việc trong chính quyền phong kiến ngay khi Pháp cai trị.

Là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cha của ông Hồ đã từ chối học tiếng Pháp, ngôn ngữ của những kẻ chinh phục đất nước mình, và gia nhập các hội bí mật chống Pháp. Thuở thiếu thời, chú bé Hồ đã có kinh nghiệm ngầm đầu tiên trong vai trò người đưa tin của cha mình trong mạng lưới chống Pháp. Ngay sau đó, cha ông mất việc và trở thành một thầy lang, chuyên chữa bệnh theo cách truyền thống của phương Đông.

Mẹ của ông Hồ được cho là có nguồn gốc nông dân, nhưng ông không bao giờ nói về bà.

… [ Còn tiếp ] …

© Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón đoàn nhân sĩ, trí thức người Mỹ (năm 1967)

© Bài của ký giả ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (năm 1969)

© Bản dịch của Hube See Less