Showing posts with label mozaik. Show all posts
Showing posts with label mozaik. Show all posts

Tuesday, January 3, 2023

Ấn tượng Hungary: Đất nước & Con người

Hungary

Đôi điều đáng nhớ

Quốc gia đáng tự hào không chỉ vì có Toà nhà Quốc hội đẹp và lộng lẫy nhất thế giới mà còn là quốc gia có bản Hiến pháp (Golden Code) đầu tiên của Châu Âu (King Steven 1001 Fist Code of Law) đặt nền tảng cho Nhà nước pháp quyền.

Đất nước có hệ thống giáo dục tuyệt vời ở mọi cấp.

Sản sinh 17 con người ưu tú đoạt giải Nobel (từ khoa học đến văn học, người cuối cùng là Nhà văn Kertesz Imre 2002 với những tác phẩm nói về phận người dưới chế độ cs). Tỷ lệ tính trên dân số chỉ sau Israel !

Âm nhạc đỉnh cao với Bartok Bela, Liszt Ferenc, hệ thống đào tạo Kordai…

Dân tộc anh dũng từng chặn đứng bước vó ngựa Mông cổ, Đế quốc Ottoman…

Thức ăn ngon tuyệt với đa dạng gia vị, rượu nổi tiếng và còn là… miền gái đẹp !

Và trên hết Tổ quốc Hungary tự hào có Người con ưu tú Thi sỹ Petőfi Sándor, bằng máu mình viết nên những dòng thơ hào hùng, làm thổn thức mọi con tim, chấn động mọi khối óc !

Yêu tha thiết nhưng Chàng quyết ra sa trường chống giặc để lại vợ yêu mới cưới vì : 

Anh không thể hôn em

Bằng đôi môi

Của một người nô lệ !

Bởi vì 

Tự do và Ái tình

Vì các ngươi ta sống

Vì Tình yêu lồng lộng

Xin hiến cả đời tôi

Vì Tự do muôn đời

Ta hy sinh tình ái !!!

TP thật may mắn từng sống ở Hungary và yêu Petőfi !

Ngô Tiến Nhân (ELTE.vidi72)

Friday, July 6, 2018

Hồng Nhung và E.E. - Emprunt Empreinte

Mượn Dấu Thời Gian

Nếu như những ánh sao băng có tạt ngang bầu trời và để lại chút dấu thời gian...


Nguyễn Hồng Nhung
(28/9/1953)
Nhà văn, Nhà thơ, Dịch giả
Giải thưởng văn hóa Phan Chu Trinh 2017
bộ môn Dịch thuật

"Emprunt Empreinte" (tựa tiếng Pháp) là một "sân chơi" rất riêng của Phan Nguyên từ khá lâu với giới văn nghệ sĩ, thân hữu gần xa, trong và ngoài nước, không phân biệt tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, chính kiến gì cả, miễn là họ đã có những tác phẩm hay, đẹp để lại cho đời và cho thế hệ mai sau, miễn là họ đã đóng góp cái phần tinh túy nhất của con người, của chính mình cho văn học nghệ thuật Việt Nam hay thế giới nói chung.


"E.E" (tựa viết tắt) là một bộ sưu tập với phương pháp in ấn đặc biệt bằng cà phê hòa tan trên giấy Canson "C" à grain 24cm x 32cm, qua những buổi gặp gỡ vô tình hay cố ý với bạn bè bằng hữu, "tây và ta", ở bất cứ nơi nào. 
Không có mục đích săn lùng những tác giả tên tuổi, tiếng tăm hay tù tội gì hết!
Nếu có, cũng chỉ là tình cờ duyên nợ của một kiếp người mà thôi.


"Mượn Dấu Thời Gian" (tựa tiếng Việt) là bộ sưu tập những dấu vân tay như một "di vật"của từng tác giả, một "chứng tích" của thủ bút, một "chứng từ" của thời gian. 
Và nếu như những ánh sao băng có tạt ngang bầu trời mà để lại chút dấu thời gian, thì Nguyên này là người nhặt nhạnh những mẩu thời gian rơi rớt ấy.


Để làm gì ?
Để gió cuốn đi ... để gió cuốn đi ...



 Phan Nguyên 
Sài Gòn tháng 05/2011

Thursday, June 7, 2018

Bộ phim của Du học sinh VN tại Hungary (3): Sáli Judit và nỗi đau muôn đời

(NCTG) Mối tình đẹp nhưng cũng trắc trở và thậm chí, hàm chứa những nét bi thảm “còn hơn tiểu thuyết” của chị Sáli Judit và anh Lê Mỹ Thành – mà kết quả là sự ra đời của chàng trai mang hai dòng máu Việt – Hung Lê Mỹ Benkő Attila, gương mặt quen biết từng tham gia nhiều hoạt động của cộng đồng Việt Nam tại Hungary – khiến không ít người muốn tìm hiểu thêm về câu chuyện tình vô biên giới ấy. 


Mối tình động lòng này đã được nhà báo Trần Đình Kiêm – dưới bút danh Hà Linh – ghi lại trong một bài báo đăng trên tờ “Tiền Phong” cách đây gần 20 năm; bản tiếng Hungary của nó cũng từng được đăng tải trên nhật báo “Tự do Nhân dân” (Népszabadság) từ nhiều năm trước (*).
Gần đây, một số tờ báo ở Việt Nam – như tờ “Thế giới & Việt Nam” trực thuộc Bộ Ngoại giao – đã tái sử dụng các tư liệu cũ và cập nhật hóa những thông tin về anh Lê Mỹ Benkő Attila để khơi lại câu chuyện tình đẹp và trắc trở diễn ra cách đây hơn 40 năm.

Trong cuộc tiếp xúc với chúng tôi tại Budapest, chị Sáli Judit – một trong hai nhận vật chính của “love story” Hung - Việt – đã chia sẻ những ký ức và thổ lộ: chị hiểu rằng hoàn cảnh chính trị thời ấy đã không cho phép anh chị đoàn tụ.
– Anh chị gặp nhau lần đầu trong hoàn cảnh nào? Chị còn nhớ cảm xúc, ấn tượng của những lần đầu tiên ấy?
Năm tôi 15 tuổi, bạn gái tôi rủ tôi tới viện thăm một người bạn gái Việt Nam đang điều trị tại đó. Tôi rất thương Ánh (tên cô ấy), Ánh là người Hà Nội, sang Budapest học và bị chứng động kinh. Trong thời gian Ánh nằm viện, chúng tôi thường xuyên tới thăm cô ấy và tôi đã kết bạn với cô.
Sau khi ra viện, tôi cùng cô bạn gái cũng hay đến ký túc xá của trường Bánki Donát, nơi Ánh ở. Trong những dịp đó, tôi làm quen được với nhiều bạn (cả nam và nữ) người Việt. Họ kể nhiều cho tôi nghe về Việt Nam, tổ quốc của họ, khi ấy đang có chiến tranh.
Một bận, trong ký túc xá có chiếu phim và tôi cũng tham dự. Các học sinh ở các ký túc khác cũng đến xem, trong đó có anh Thành. Phim đề tài chiến tranh, khi xem nhiều lần tôi bật khóc, có lẽ vì thế anh Thành để ý đến tôi và đến chỗ tôi ngồi. Chúng tôi trò chuyện và tình yêu đã đến từ cái nhìn đầu tiên. Lúc đó là cuối năm 1968…
– Điểm gì ở anh Thành khiến chị đem lòng yêu anh? Có thể nói được là giữa anh và chị, ai “phải lòng” người kia trước không?
Như đã nói ở trên, tôi tiếp xúc nhiều với các bạn Việt Nam, học được của họ nhiều thứ và biết nhiều thông tin về cuộc chiến, về những đau khổ mà Việt Nam phải chịu trong chiến tranh. Vì thế, tình yêu của tôi với một chàng trai Việt Nam đến rất bình thường, không có gì khó hiểu.
Theo tôi, cả hai chúng tôi đều cảm thấy yêu nhau từ cái nhìn đầu, và sau đó, khi đã có dịp trò chuyện nhiều với nhau, về gia đình, cuộc sống của nhau, về những dự định chung…
– Dạo ấy, anh chị phải giấu tình cảm của mình? Anh chị có biết rằng có thể sẽ gặp những khó khăn, cản trở?
Chúng tôi phải hoàn toàn giữ kín tình cảm của mình vì thời ấy, ngay các sinh viên Việt Nam học tập tại Hungary cũng bị cấm yêu đương, nói gì đến chuyện yêu một người Hung? Thời gian trôi đi, chúng tôi càng ngày càng cảm thấy muốn sống trọn đời với nhau.
Chúng tôi biết trong hoàn cảnh chiến tranh điều này là không thể, nhưng sau khi biết câu chuyện giống như chúng tôi ở Liên Xô, sau khi cô gái mang thai hai người đã được phép kết hôn, điều này đã giúp chúng tôi có thêm hy vọng.
Khi đó, tôi mới bàn với anh Thành rằng chờ đến khi tôi tròn 18 tuổi, chúng tôi sẽ có với nhau một đứa con và Đại sứ quán (ĐSQ) Việt Nam sẽ phải cho phép chúng tôi kết hôn. Anh Thành cũng còn hai năm cho đến ngay tốt nghiệp, nhưng chúng tôi sợ mối quan hệ giữa hai người bị bại lộ và anh ấy sẽ phải về nước. Vì thế, chúng tôi quyết định sẽ có con sớm hơn, rồi cả Thành và tôi đều sẽ tốt nghiệp.
Khi tôi có thai (không phải vô tình, mà do chúng tôi có chủ ý, anh Thành rất yêu tôi và đứa trẻ đã ra đời từ mối quan hệ thể xác giữa chúng tôi), chúng tôi chờ cho đến khi đã “thấy bụng”, sau đó hai đứa lên Bộ Tư pháp Hungary và ĐSQ Việt Nam để xin được kết hôn.
Tại Bộ Tư pháp, có một phòng có thể cấp phép “miễn trừ” trong những vụ như thế (mà để được cấp phép như vậy, đúng ra cũng cần sự chấp thuận của nước kia). Bộ nói rằng sẽ cấp giấy cho phép anh Thành được cưới tôi làm vợ (đây là điều mà Việt Nam không cho phép anh). Rồi chúng tôi qua ĐSQ Việt Nam, ở đấy mọi người cũng gật gù, bảo sẽ xét và giúp, v.v…
Rất hạnh phúc, anh Thành về ký túc xá còn tôi về với cha mẹ. Bộ còn nói rằng chúng tôi sẽ nhận được giấy phép qua đường bưu điện sau 2-3 ngày. Cha mẹ tôi cũng mừng rỡ vì thời đó, việc có cô con gái có thai khi chưa làm lễ thành hôn là một nỗi hổ thẹn lớn, nhưng rốt cục ông bà cũng hiểu rằng, tôi yêu anh Thành.
Ngày 27-1-1972, lúc 4 giờ chiều, tôi chờ anh Thành mãi mà không thấy (bao giờ anh cũng xuống chiếc xe buýt số 84 – anh đi đến chỗ tôi bằng xe này – vào đúng lúc 16 giờ). Hết chuyến này đến chuyến buýt khác, không thấy anh đâu cả! Bảy giờ tối, tôi điện thoại về ký túc xá nơi anh ở, nhưng người thường trực nói rằng một thanh niên Việt Nam đã bị đưa đi khỏi ký túc để chuyển về nước rồi.
Tối hôm đó, tôi đến ký túc của anh (Quận XI, phố Hengermalom) – người Hungary không được vào ký túc nhưng tôi đẩy ông thường trực và cứ thế chạy lên phòng anh. (Chưa bao giờ tôi vào ký túc, nhưng theo lời Thành kể tôi biết anh ở tầng mấy, phòng số mấy…). Khi vào phòng, tôi thấy mấy người bạn thân của anh, họ biết chuyện và nói rằng, người của ĐSQ đến đưa Thành đi vào ban đêm và anh đã bị về nước rồi…
– Được biết là ngay sau đó chị đã nhận được giấy phép mà lẽ ra, với giấy đó, anh Thành đã có thể kết hôn với chị…?
Tôi muốn nói thêm một điều rất quan trọng là Bộ Tư pháp Hungary đã không nói thực với tôi: chính họ đã thông báo cho ĐSQ Việt Nam rằng chúng tôi muốn gì. Khi Thành đã bị đưa lên tàu về nước, ngày hôm sau, tôi nhận được giấy phép kết hôn qua đường bưu điện…
Tôi hiểu là vì tình hình chính trị thời đó, một gia đình đã bị chia cắt…
Tất cả đều do chính trị!
– Như trong một hồi tưởng đã được đăng tải trên báo chí Việt Nam, trong những năm sau đó, chị đã làm hết khả năng của mình để anh Thành có thể quay trở lại. Chị có thể cho biết chi tiết về những nỗ lực này?
Tháng 6-1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Hungary. Tôi được biết tin nay qua các sinh viên Việt Nam. Ngày hôm đó, tiết trời rất nóng nực, tôi chuẩn bị đồ ăn, uống ở nhà và bế con trai nhỏ ra sân bay Ferihegy (Budapest).
Ngoài phi trường, đã có vài trăm người Việt và Hung kiên nhẫn đứng đón đoàn và chờ máy bay hạ cánh. Trước đám đông là một hàng rào cảnh sát, người chật như nêm cối! Tôi bế Attila đứng xếp hàng đằng sau toán cảnh sát và đợi dịp để có thể lách qua hàng rào cảnh sát chạy đến chỗ thủ tướng khi ông vừa xuống máy bay.
Không sớm mà cũng không muộn, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất hiện ở cửa máy bay, tất cả mọi người chỉ đứng nhìn ông và tôi chờ đợi khoảnh khắc đó. Vẫn ôm Attila trên tay, tôi lách qua hàng rào và chạy đến chỗ Thủ tướng đứng.
Câu chuyện gặp Thủ tướng hôm ấy tôi đã kể rất nhiều lần. Mọi người đều sững sờ và bất ngờ trước sự việc xảy ra.
Và về sau, còn có các vị khách cấp cao đến từ Việt Nam, tôi nhớ không chính xác lắm, nhưng hình như là Chánh án TAND Tối cao Việt Nam sang Hungary. Khi ấy tôi cũng lọt vào khách sạn, một mình, vào buổi tối, khi mọi người đang chuẩn bị ăn tối.
Tôi trèo qua hàng rào và tìm cách đánh lạc hướng những người lính đi lại trước khách sạn. Ném một hòn đá về bên trái, thế là đám lính ngoảng ra đó nhìn và tôi thì trèo qua hàng rào và chạy tới cửa vào của nhà bếp ở phía sau nhà.
Lúc đó, một chàng trai Việt Nam đã giúp tôi, tiếc là tôi không còn nhớ tên anh – là một người dự bữa tối ấy, anh cho tôi hay phải vào chỗ nào trong khách sạn và để ngỏ cửa ra vào phía sau cho tôi, v.v… Thế là tôi nhào vào, đúng lúc các quan chức thuộc tòa án Hungary và Việt Nam đang dùng bữa tối, và lại kể lể bằng tiếng Việt.
Tôi còn nhớ khi đó, vị quan chức cấp cao nọ đi ra và chúng tôi đã có dịp trò chuyện trong phòng…
– Nhưng rồi tất cả mọi cố gắng của chị đều vô hiệu…
Vâng, đúng vậy. Có thể hai vị quan chức trên đều muốn giúp chúng tôi, để tôi, anh Thành và cháu Attila được đoàn tụ, nhưng rồi ở ĐSQ Việt Nam và trên Bộ Tư pháp Hungary người ta cũng nói mỗi nơi một khác, trong gia đình thì cha mẹ tôi không còn tin vào điều gì nữa…
Thời gian 1972-1974, chúng tôi đã “chiến đấu” rất nhiều vì nhau. Tôi phải chịu đựng nhiều vì cha mẹ tôi cảm thấy hổ thẹn khi con gái mình có con với một người Việt – đối với các cụ, đây là một nỗi đau và sự hổ thẹn lớn… Còn với tôi, cũng không hẳn vì thế, mà tôi khổ nhất vì còn lại một mình.

Chị Judit cùng Attila, khi đó mới lên một
Đầu năm 1974, tôi đột ngột gặp lại một người bạn cũ cùng lớp, với anh ấy chúng tôi đã từng có một tình yêu trẻ thơ theo đúng nghĩa của từ này. Chúng tôi trò chuyện tâm sự, anh ấy rất thương tôi, thương Attila và tôi thì phải lựa chọn một cái gì đó chắc chắn sau bao nỗi đau và khó khăn. Anh ấy là người rất tốt và tôi thì mừng rỡ vì có người bên cạnh mình – cha mẹ tôi bình tâm và tôi đã yêu anh ấy.
Trên Bộ, người ta nói rằng tôi hãy đi lấy chồng đi vì sẽ không bao giờ tôi gặp lại được anh Thành đâu! Tôi không hề biết ĐSQ Việt Nam cũng đã tổ chức cho chúng tôi đoàn tụ, nhưng khi đó đã muộn vì tháng 9-1974 tôi lấy chồng và chỉ sau đó tôi mới hay rằng Thành lẽ ra cũng đã có thể được nhận hộ chiếu để sang lại Hungary.
Mọi thứ lúc đó đều phức tạp và tôi không thực sự tin rằng Thành sẽ được phép quay lại Hungary. Khi ấy, sự bình an của tôi và con trai đã là quan trọng hơn. Bạn thử nghĩ xem, một cô gái 23 tuổi với đứa con nhỏ, gia đình thì hổ thẹn và từ bỏ… Có thể bảo rằng nếu tôi đã chờ được 2 năm thì sao không cố chờ tiếp, nhưng số phận là như thế, một người bạn cũ đã xuất hiện trong đời tôi và cứu vãn tôi…
Đây không phải những lời đao to búa lớn, chỉ tôi mới biết được tôi phải trải qua những thử thách như thế nào: đêm gói tem và kẹo, ngày trông con cho người khác để có thêm thu nhập bên cạnh khoản trợ cấp ít ỏi, và để có thể cho con tất cả, mặc dù không có chồng, có người bố của con bên cạnh…
– Chuyện đã qua, nhắc lại chỉ để hồi tưởng về một thời. Từ khi nối lại được quan hệ, chị và anh Thành có ý định gặp lại nhau, hay có dự định gì chung trong tương lai?
Thành phải về nước năm 1972 và đến năm 1993, chúng tôi mới gặp lại nhau lần đầu ở Việt Nam – lúc đó, tôi mới kể cho Attila biết bố của cháu là ai. Khi gặp nhau, những cảm xúc trong chúng tôi lại trỗi dậy, chúng tôi đã bàn tính hay cả hai đều ly dị để đến lại được với nhau, nhưng khi trở về Budapest, nhìn các con sau của tôi, tôi đã nghĩ khác…
Anh Thành nhiều lần ra Hà Nội – lần gần nhất là cách đây 2 tuần – những khi ấy chúng tôi có thể trò chuyện với nhau qua skype. Thành vẫn nói được tiếng Hung, dù không thật hiểu lắm.
Chúng tôi tâm sự về quá khứ, về gia đình đôi bên, và luôn cảm thấy ngạc nhiên vì thế giới hiện tại mà chúng tôi đang sống, khi những mối quan hệ tình cảm Việt – Hung có thể tồn tại hoàn toàn hợp pháp. Thập niên 60-70 thế kỷ trước, điều này còn là một trọng tội, cuộc đời bao người đã tan tành vì thế…
Chúng tôi đã có gia đình, đã sống cuộc sống riêng, đã có những tập quán được hình thành, nên việc Thành trở lại Hungary – dù chỉ để thăm tôi – cũng không hay. Giờ đây, tất cả chỉ còn là một nỗi đau muôn đời, tấn thảm kịch trong đời tôi, nhưng cháu Attila là quan trọng hơn cả, làm sao để cháu tìm được hạnh phúc và công việc phù hợp. Tôi hy vọng và mong muốn rằng anh Thành cũng nghĩ như thế.
Chúng tôi mừng vì cháu Attila đã tìm lại được cha đẻ từ hai năm nay, khi cháu quyết định về Việt Nam làm việc, học tiếng Việt và làm quen, tìm hiểu nền văn hóa Việt Nam. Thành công và hạnh phúc của đứa con chung sẽ bù đắp tất cả cho chúng tôi! (**)
Ghi chú:
(*) Dưới tiêu đề “Còn hơn tiểu thuyết” và “Magyar – Vietnami love story” (Chuyện tình Hung – Việt), hai bài viết này đã được đưa vào tập kỷ yếu “60 năm quan hệ Việt Nam – Hungary” do ĐSQ Việt Nam tại Hungary ấn hành (Budapest, năm 2010).
(**) Tháng 9-2008, Lê Mỹ Benkő Attila đã trở về sống ở Việt Nam và thực hiện nhiều dự án quảng bá, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa hai nước Việt Nam – Hungary. Truyền hình và báo chí Việt Nam đã có một số phóng sự về nỗ lực của Attila, chàng trai mang trong mình hai dòng máu Việt Nam – Hungary.
Đăng lại theo bài viết của Trần Lê (Nhịp cầu Thế giới, tháng 2-2011)

Friday, June 1, 2018

Bộ phim của Du học sinh VN tại Hungary (2): Sáli Judit và tình yêu của mình

Pháp luật TPHCM Online: Khi Attila còn bé, cậu không khỏi ngạc nhiên thấy mình có đôi mắt và mái tóc đen trong khi bố mẹ và hai đứa em trai đều tóc vàng óng và cặp mắt xanh. Dù vậy nhưng cậu không dám hỏi ai. Cậu không biết rằng mình là con của mẹ với một người đàn ông Việt Nam ở rất xa mẹ con cậu. Mãi tới năm 21 tuổi, Attila mới được gặp cha ruột mình tại Việt Nam và được nghe kể về câu chuyện tình của “ba Thành, mẹ Judit”.

Đây là câu chuyện của anh Lê Mỹ Thành, người gốc Quảng Ngãi và Sáli Judit, một cô gái sống ở Budapest. 

Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên

Thành nhà nghèo, mồ côi mẹ sớm. Nhưng anh là một học sinh giỏi và được Nhà nước gửi sang Hungary du học vào năm 1967. Còn Sáli Judit, cô gái tóc vàng xinh đẹp của Budapest, năm ấy mới 15 tuổi. Đó là những năm tháng Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh ở Việt Nam và đất nước nhỏ bé ở Đông Nam Á trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng trong mắt bạn bè quốc tế. Judit có một cô bạn gái người Việt, cô thường được rủ đến chơi ký túc xá của các bạn Việt Nam. 

“Họ kể nhiều cho tôi nghe về tổ quốc Việt Nam của họ đang chìm trong khói lửa chiến tranh” - bà Sáli Judit hồi tưởng trong một “câu chuyện qua thư” với Pháp Luật TP.HCM. “Tôi học được một điệu múa Việt Nam và cũng mò mẫm học tiếng Việt. Rồi tôi học đan vì như tôi còn nhớ, các cô gái Việt Nam luôn đan áo len. Họ còn để tóc dài và búi lên, và vì tóc tôi cũng dài, tôi cũng bắt chước họ búi tóc...”. 

Một bận, một ký túc xá tổ chức chiếu phim cho sinh viên và Judit tham dự. Phim về đề tài chiến tranh, khi xem, nhiều lần Judit bật khóc vì xúc động. Lê Mỹ Thành - một trong các khán giả - đã để ý đến cô và lại gần chỗ cô ngồi. Cả hai cùng trò chuyện và tình yêu đã đến ngay từ cái nhìn đầu tiên. Lúc đó là cuối năm 1968, Thành 19 tuổi, Judit mới 16. 

Chia cắt

Judit đưa Thành về nhà và bố mẹ cô cũng rất yêu mến chàng trai trẻ Việt Nam. “Tôi tiếp xúc nhiều với các bạn Việt Nam, học được của họ nhiều thứ và biết nhiều thông tin về cuộc chiến, về những đau khổ mà đất nước này phải chịu trong chiến tranh” - Judit kể lại. “Vì thế, tình yêu của tôi với một chàng trai Việt Nam đến rất bình thường, không có gì khó hiểu”. Và Thành cũng vậy, anh có lý do gì để không yêu say đắm người con gái nhạy cảm, dễ thương, người đã yêu Việt Nam như yêu tổ quốc thứ hai của cô? 



Chị Judit và anh Thành (năm 1970)

Nhưng thời ấy Nhà nước quản lý sinh viên du học rất chặt chẽ. Họ bị cấm yêu đương, quan hệ tình cảm với người nước ngoài thì lại càng không. Judit và Thành buộc phải hoàn toàn giữ kín tình cảm của mình. Họ cũng may mắn được bạn bè ủng hộ, “bao che”.

Thời gian trôi đi, đôi trai gái càng ngày càng cảm thấy muốn sống trọn đời với nhau. Họ nghe ai đấy nói rằng ở Liên Xô lúc đó có một chàng trai Việt Nam yêu một cô gái Xô Viết và khi cô gái có thai, họ đã được phép thành hôn với nhau.

Judit bàn với Thành, họ sẽ có với nhau một đứa con và Đại sứ quán Việt Nam sẽ cho phép hai người kết hôn. Và với suy nghĩ ấy, họ trao cho nhau tất cả. Sau này, bà Judit kể lại: 

“Chúng tôi chờ cho đến khi đã “thấy bụng”, sau đó hai đứa lên Bộ Tư pháp Hungary và Đại sứ quán Việt Nam để xin được kết hôn. Bộ nói rằng sẽ cấp giấy cho phép anh Thành được cưới tôi làm vợ (đây là điều mà Việt Nam không cho phép anh ấy). Rồi chúng tôi qua Đại sứ quán Việt Nam, ở đấy mọi người bảo sẽ xét và giúp, v.v... Rất hạnh phúc, anh Thành về ký túc xá, còn tôi về với cha mẹ. Bộ còn nói rằng chúng tôi sẽ nhận được giấy phép qua đường bưu điện sau 2-3 ngày. Cha mẹ tôi cũng mừng rỡ vì thời đó việc có cô con gái có thai khi chưa làm lễ thành hôn là một nỗi hổ thẹn lớn. Nhưng rốt cục ông bà cũng hiểu rằng tôi yêu anh Thành”.

Thế rồi, cả chiều 27-1-1972, Judit chờ Thành mãi mà không thấy anh. 7 giờ tối, cô điện thoại về ký túc xá nơi anh ở, người thường trực nói rằng một thanh niên Việt Nam đã bị đưa đi khỏi ký túc xá đêm hôm trước để chuyển về nước rồi. Khi đó, Judit đã có thai bảy tháng.

“Con là con của ba Thành”

Judit tìm đủ cách để giành lại người mình yêu. Tháng 6-1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Hungary. Biết được tin này, bất chấp tiết trời rất nóng nực, cô bế đứa con trai nhỏ ra tận sân bay Ferihegy (Budapest). Trước đám đông là một hàng rào cảnh sát, người chật như nêm cối. Và rồi khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất hiện ở cửa máy bay, Judit vẫn ôm Attila trên tay, lách qua hàng rào và chạy đến chỗ Thủ tướng đứng. 




“Các vị nguyên thủ quốc gia Hungary cũng đều ở đấy, rồi Đại sứ quán Việt Nam v.v… nhưng tôi là người đầu tiên chạm vào Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi liến thoắng bằng tiếng Việt và kể cho ông nghe về câu chuyện của chúng tôi. Mọi người xung quanh, kể cả các cảnh sát đều sững sờ và không ai nói được câu gì!”.

Thủ tướng tươi cười nắm tay người mẹ trẻ. Bức ảnh đó được một tờ báo, tờ Phụ nữ Hungary, số phát hành ngày 14-6-1973 ghi lại. 

Nhưng hoàn cảnh đất nước khi ấy - chiến tranh, tình hình chính trị, những khó khăn về liên lạc - đã không ủng hộ mối tình của họ. Ở Hungary ngày ấy, việc một phụ nữ “không chồng mà có con” là điều rất khó chấp nhận. Cả Judit lẫn bố mẹ cô đều phải chịu đựng nỗi đau và sự hổ thẹn. Năm 1974, cô cưới chồng, một người bạn học cũ. May mắn cho Attila, bố dượng và cả hai đứa em sau này đều rất yêu quý cậu bé.

Còn Lê Mỹ Thành, trở về Việt Nam, anh cũng cố làm mọi cách để có thể trở lại Hungary. Nhưng bị kỷ luật và đuổi học, đối với anh, tương lai đã khép lại. Anh ra ga Hàng Cỏ làm bốc vác ba ngày để có tiền gọi điện thoại một lần cho Judit. Sau khi bán nốt chiếc xe đạp - tài sản cuối cùng sau chuyến du học đứt đoạn - để lấy tiền mua vé tàu hỏa sang Budapest, anh tuyệt vọng được cơ quan chức năng của Việt Nam cho biết Judit đã lấy chồng. Hai người không thể tiếp tục liên lạc với nhau nữa.

Rồi cuộc sống của một thanh niên không có bằng đại học bắt đầu: anh đi làm thợ, làm bốc vác, bán bánh mì, chạy xe ôm… đủ nghề để kiếm sống. Anh đã ở nhiều nơi: Hà Nội, Hải Phòng, Vũng Tàu rồi cuối cùng định cư tại Đà Lạt. Điều khủng khiếp nhất với anh là không một ngày nào anh không nghĩ tới Judit. 

Năm 1993, đứa con trai anh chưa một lần thấy mặt - Lê Mỹ Attila - trở về Việt Nam gặp “ba Thành”. Attila bồi hồi: “Nhìn vào gương mặt ông, tôi đọc thấy cả nỗi buồn, mệt mỏi lẫn sự thất vọng. Ông là một người không may mắn. Đối với ông, thời gian ở Hungary là quãng đời tươi đẹp nhất, nó là hiện thân của tình yêu, tự do, hạnh phúc, tuổi trẻ, hy vọng, tất cả. Và tất cả đã chấm dứt khi ông phải chia tay mẹ tôi. Ông nói 21 năm trời không ngày nào ông không nghĩ về mẹ. Tôi hiểu rằng ba tôi vẫn chưa ra khỏi quá khứ. Tôi thương ông lắm, ba Thành của tôi”.

Đoạn kết có hậu


Bây giờ Attila đã về hẳn Việt Nam sinh sống. Anh làm đại diện của Câu lạc bộ Văn hóa Hung-Việt và Hiệp hội Ahead Global của Hungary. Chàng trai có gương mặt đẹp của người châu Âu nhưng mắt đen, tóc đen rất Việt, biết chơi guitar, quay phim và nói được tiếng Việt nên được nhiều thiếu nữ để ý. Cũng lặp lại mối tình của ba mẹ mình khi xưa, anh đang yêu một cô gái Việt. Nhưng khác ngày xưa, giờ đây không có cuộc chiến nào chia cắt họ.

Thỉnh thoảng ông Thành vẫn ra Hà Nội gặp con trai và trò chuyện với bà Judit qua Skype. Hai ông bà vẫn giữ tình cảm xưa cũ nhưng rồi cả hai đều quyết định: Giờ đây tất cả chỉ còn là một kỷ niệm buồn và trong đời chúng ta, Attila là quan trọng hơn cả, làm sao để Attila hạnh phúc. Thành công và hạnh phúc của đứa con chung sẽ bù đắp tất cả cho họ, cho câu chuyện tình năm xưa của họ - một cô gái Hungary và một chàng trai Việt Nam.

Pháp luật TPHCM Online

Monday, May 21, 2018

Hippie Soul: before, now and forever

Nếu còn có ngày mai, hãy để hôm nay lụi tàn với những điều khổ đau mà thế giới phải chịu từ những vết thương và khổ nạn do những lỗi lầm không đáng có mà con người gây ra.

"Make love, not war" không phải chỉ là tinh thần của phong trào hippy trước đây mà còn là của hiện tại và mãi mãi vẫn là điều mà loài người không thể chối bỏ vì một thế giới yêu chuộng hòa bình.

Before...



and today, at EURO2016

Saturday, May 12, 2018

Bộ phim của Du học sinh VN tại Hungary (1): Hành trình vạn dặm từ chuyến tàu chuyên xa

Tôi rất muốn có một kịch bản cho cuốn phim về những LHS tại Hungary trong thời gian chiến tranh Việt Nam vs Mỹ (gắn liền với những sự kiện vào những năm 60-70s).

Trước hết, tôi muốn góp nhặt những tư liệu và hiện vật liên quan/thuộc về những LHS sang Hungary cùng khóa và các anh chị, các em những khóa khác vào thời kỳ này bao gồm tất cả những ghi chép, thư từ, albums, kỷ vật, phim ảnh của VN và của Hung v.v. từ trước đến nay. Đồng thời cũng muốn làm một bộ phim về chính chúng ta và đặt chúng cùng những tài liệu và hiện vật trong Nhà Bảo tàng Sinh viên VN tại Hungary mà chúng ta sẽ tạo nên vào một ngày không xa chứ không chỉ gặp nhau chuyện trò rồi tất cả sẽ qua đi không để lại gì.

Tôi có ý tưởng này khi đọc lại những bài viết của Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72) trong mục "Từ phương trời ấy". Với trí nhớ của Việt, tất cả hiện ra thật sinh động như những đoạn phim, rất rõ nét, chân thực và đầy cảm xúc. Ái Việt là một cây bút tuyệt vời khi đã dành nhiều thời gian để dồn tâm trí của mình vào những dòng chữ ghi lại những ngày đẹp ấy. Phải nói rằng, tất cả đều là những bài viết hay nhất, đáng đọc nhất, thể hiện đúng tính chất và nội dung của blog này mà chính Ái Việt đã bộc bạch ở "Mục đích thành lập Blog VIDI 72-73".

Tìm gặp và ghi lại những câu chuyện của mỗi người, nhớ lại những kỷ niệm và cảm xúc một thời tuổi trẻ của Lê Minh (Debrecen, VIDI69), của anh Quang A (BME,VIDI65), của "Ngũ hổ thành Vár" cũng như câu chuyện tình vô cùng cảm động của anh Lê Mỹ Thành và Sáli Judit...  những câu chuyện mà mỗi người đã trải qua, những điều đã trở nên gần gũi... nếu được dựng lại trong bối cảnh của những nơi đã trở nên quen thuộc, kết hợp/xen lẫn với hình ảnh của những di sản, biểu tượng của Hungary... chắc sẽ rất ấn tượng, rất érdekes (chỉ riêng chuyện tình của anh Minh thôi cũng đã có thể làm một bộ phim ly kỳ rồi). Nếu thực hiện được Bộ phim này thì đây sẽ là mảng ghép sinh động nhất trong bức tranh mozaik của chúng ta.

Và tôi cũng muốn có một cảnh quay "tam ca" của chúng tôi: Lê Minh, Ái Việt và tôi, trình diễn bản "Vấp ngã dại khờ" (Stumblin' In) bằng 2 thứ tiếng ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó... thật thích hợp với ký ức của chúng ta - khi nghe bài này do Suzi Quatro trình diễn với tất cả tình yêu của những cậu "học trò lâu năm" ngày nào (nếu có thêm Ica và Magdi thì càng hay).

Thời gian gần đây, các trường mà chúng ta từng học ở Hung đều tổ chức lễ kỷ niệm của các khóa SV của từng ngành. Tôi thật tiếc vì không thể tham dự cùng các bạn của mình vì đây là dịp để trở lại với Hungary, đất nước từ lâu đã trở thành quê hương thứ hai của nhiều người trong số chúng ta. Tôi như muốn trở lại hành trình trên chuyến tàu chuyên xa năm nào để bắt đầu bộ phim của chúng ta...

 Kỷ niệm không thể quên: Bạn Nguyễn Ái Việt từng nghe trực tiếp một buổi trình diễn của LGT ở phòng hòa nhạc trong Ký túc xá của trường Điện trên Vár


Thursday, April 26, 2018

Thế giới XHCN: Szabadság - szobor

Nằm trên đỉnh núi Gellért, Szabaság-szobor là một biểu tượng nổi tiếng của Budapest với hình tượng người phụ nữ nâng cao cành cọ trên hai tay. Bức tượng là tác phẩm của  Kisfaludi Strobl Zsigmond, được hoàn thành vào năm 1947. Tượng đài dựng lên với tên gọi ban đầu  Felszabadulási emlékmű để kỷ niệm chiến thắng của Hồng quân trước phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ 2.



Đặc biệt lộng lẫy vào ban đêm, Szabadság-szobor là đài tưởng niệm những người đã ngã xuống vì nền độc lập và tự do của Hungary.
Szabadság-szobor nằm cạnh Citadella, pháo đài quan trọng của Budapest. Tượng đài gồm phần chính là bức tượng cao 14m được làm hoàn toàn bằng đồng đặt trên bệ cao 26m với dòng chữ ban đầu ghi nhận công lao của Liên Xô cùng với tượng của người lính Xô viết cao 4m. Bức tượng người lính này từng bị hạ xuống vào năm 1956, sau đó được dựng lại cho đến năm 1992 thì chuyển đến đặt tại công viên Memento.



Tượng đài Szabadság gắn liền với những chuyển biến của Hungary từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 cho đến khi hệ thống các nước XHCN tan rã vào đầu thập kỷ 90s. Khi cuộc cách mạng dân chủ 1956 nổ ra với mục tiêu độc lập dân tộc và thiết lập một chủ nghĩa xã hội dân chủ, lực lượng dân chủ đã đặt nền móng cho những mục tiêu quan trọng nhất của chính phủ do Thủ tướng Nagy Imre đứng đầu, như thiết lập những cơ sở của chế độ đa đảng, tuyên bố trung lập và rút Hungary khỏi Khối hiệp ước Vác-sa-va (Warszawa). Vì vậy, sự có mặt của quân đội Liên Xô bị coi là sự chiếm đóng thậm chí còn có phần áp bức về mặt chính trị đè nặng lên đất nước Hungary. Các cuộc biểu tình của sinh viên lúc này đã biến thành cuộc nổi dậy tích cực có vũ trang chống lại chiến xa của Liên Xô. Cuối cùng, Liên Xô phải dùng sức mạnh vũ lực và cuộc nổi dậy đã bị nhấn chìm với hàng nghìn người và binh lính bị thiệt mạng. 



Đến nay, dòng chữ trên tượng đài đã được thay đổi so với ban đầu với nội dung phản ánh cho tinh thần của dân tộc Hung: “Tưởng nhớ tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và thịnh vượng của Hungary” (1989).




Cùng với Tượng Nữ thần Tự Do, còn có hai bức tượng khác tại Đài tưởng niệm Tự do. Khi đứng trước khu tượng đài này, chúng ta sẽ cảm nhận được cảm xúc của người dân Budapest nhiều thế hệ trước. 


A bal oldali fáklyás mellékalak

A jobb oldali sárkányölő mellékalak


A szovjet katona eltávolított szobra ma a Memento Parkban áll


Toàn cảnh tượng đài Sabadság và Citadella trên đỉnh Gellért


A Világörökség Naplementekor

Wednesday, April 25, 2018

Một thời đã xa: Commune with nature

Trở lại cùng những người "nổi loạn" với những truyền thống khuôn khổ không phải là trở lại cuộc sống hoang dã mà là trở lại cuộc sống của chính mình, trong ý thức hòa lẫn với thiên nhiên một cách hoàn toàn tự nhiên và normal. Những hình ảnh dưới đây được chọn với chủ đề: naked hippies (nhiều hình ảnh được chụp tại Lễ hội Woodstock-1969).