Showing posts with label Tinh hoa. Show all posts
Showing posts with label Tinh hoa. Show all posts

Saturday, July 16, 2022

Một thiên tài đa tài

RICHARD FEYNMAN…

copy từ FB-Quốc Khánh 

---------------------------------------

GIUN ĐŨA

Richard Feynman (1918~1988) là một nhà vật lý lỗi lạc, người Mỹ gốc Do Thái. Bố mẹ ông di cư từ Nga và Ba Lan sang Mỹ. Mẹ làm nội trợ, bố bán hàng rong. Ông từng tham gia nhóm làm bom nguyên tử cho chính phủ Mỹ. Được tặng Giải Nobel Vật lý năm 1965. Một thiên tài rất đa tài. Đọc các bài giảng vật lý của ông như đọc thơ, ai thích triết học và khoa học tự nhiên nên đọc. Ngoài vật lý học, Feynman am hiểu nhiều môn từ âm nhạc, hội hoạ, sinh học đến yoga.

Cái ti-vi màu bạn xem hàng ngày được chế tạo trên các nghiên cứu của ông về mắt người đấy.

Giun đũa thì liên quan gì?

Cô thư ký của Feynman mắc chứng viêm mũi dị ứng. Vào mùa hoa cô suốt ngày sụt sịt, mặt sưng húp, nước mắt, nước mũi đầm đìa, không thể làm việc gì. Chữa tỷ cách không khỏi.

(Tôi cũng bị bệnh này, chữa đủ cách, đi vài chục bệnh viện mà không khỏi.)

Feynman thương người giúp việc của mình, bỏ công nghiên cứu bệnh này.

Ông phát hiện ra rằng trước năm 1945 bệnh này rất hiếm. Sau 1945 thì số người bị bệnh tăng dần, chủ yếu là người giàu, ở thành phố và các nước phát triển. Người nghèo, vùng nông thôn, nước nghèo không bị bệnh này.

Ông loay hoay tìm lý do và phát hiện vùng nào tỷ lệ người mắc giun đũa cao thì có tỷ lệ người mắc viêm mũi dị ứng thấp và ngược lại.

Vì sao Feynman tìm thấy mối liên hệ này thì trời biết. Thế mới tài. Ty tỷ người bị trái cây, thậm chí gạch đá rơi vào đầu nhưng chỉ có Newton nghĩ ra định luật vạn vật hấp dẫn. Bạn đừng dại dột thả mít vào đầu chồng mình, chẳng ra nổi định luật nào đâu. Cũng đừng cởi đồ chạy rông ngoài phố hét "Eureka," bởi làm thế không thể phát minh được cái gì ngang tầm định luật Archimedes.

Feynman đặt giả thuyết rằng sự tồn tại của giun đũa trong cơ thể người sẽ tạo nên một sự cân bằng nào đấy và giúp cơ thể không bị dị ứng.

Suy cho cùng, loài giun đũa vô hại. Bình thường nó nằm trong dạ dày và ruột, xơi thức ăn của người. Nghèo đói thì thành vấn đề. Giàu như dân Mỹ, toàn người thừa cân thì không sao, tốt là khác.

Giun đũa chỉ nguy hiểm khi cơ thể chủ đói, giun đói theo, bò lung tung tìm thức ăn khiến người có giun nôn nao, và nếu giun chui vào ống mật thì phải cấp cứu.

Nếu người có giun lúc nào cũng ăn đủ no thì ô-kê.

Vấn đề còn lại là tính toán lượng giun ký sinh cho phù hợp.

Giun đũa rất đặc biệt. Trứng giun theo đường thức ăn vào bụng người nở ra giun. Giun đẻ trứng trong bụng người nhưng lứa trứng này không thể nở luôn thành giun ngay, chúng phải ra ngoài theo đường tiêu hoá rồi quay trở lại bụng người theo đường ăn uống thì mới nở tiếp thành giun được.

Không cần uống thuốc, chỉ cần ăn uống sạch sẽ, giun trong người sẽ tự chết đi, không có trứng giun bổ sung để nở thành giun mới thì cơ thể sẽ tự hết giun. Việc tẩy giun là vô nghĩa.

Điều này giúp cho việc kiểm tra số lượng giun trong cơ thể trở nên dễ dàng, bằng phương pháp chụp X quang.

Feynman lập tức tính ra số giun cần thiết cho cô thư ký và kiếm ngay mớ trứng giun đũa cho cô uống, dặn cô phải thường xuyên ăn no và hàng tuần soi chiếu X quang. Khi hết giun (vì vệ sinh thực phẩm ở Mỹ rất tốt) lại làm lọ trứng nữa, như uống thực phẩm chức năng.

Quả nhiên cô thư ký khỏi hoàn toàn bệnh viêm mũi dị ứng. Một hiệu ứng phụ tuyệt vời là cô giảm cân từ 95 ki-lô xuống còn 65. Cô lập tức tăng số trứng giun phải uống lên để được ăn uống thoải mái mà không tăng cân.

Giun thần chứ không phải giun đũa nữa.

Chữa khỏi cho cô thư ký chứng viêm mũi dị ứng, Feynman tặng luôn người trợ tá của mình bản quyền liệu pháp y khoa này. Tuy nhiên, ngay sau đó cô thư ký đi lấy chồng, việc hoàn thiện đề tài để đăng ký bản quyền với DEA đã bị gác bỏ.

Phí của.

.oOo.

Lời chú:

Nhiều sinh viên Việt Nam khi còn ở trong nước thì không bị viêm mũi dị ứng. Chỉ khi sang châu Âu học, sau khi tẩy hết giun thì mới bị viêm mũi dị ứng. Tôi đã bị đúng như vậy.

~~~~~~

Richard Feynman đang giảng bài. Ảnh lấy từ Internet

Nguyen Van Bao

17-Jul-2017

Thursday, May 5, 2022

Người giàu có

Ảnh: Time

Trong 1 lần Elon Musk làm diễn giả cho một hội nghị ở Hoa Kỳ về đầu tư và tài chính, phần hỏi đáp, ông nhận được một câu hỏi khiến mọi người phải bật cười.

- Thưa ông, là người giàu nhất thế giới, ông có thể chấp nhận việc con gái mình kết hôn với một người đàn ông nghèo và bình thường không?

Ông nói: Trước hết, hãy hiểu rằng “Giàu có” không có nghĩa là có một tài khoản ngân hàng hoành tráng. Giàu có trước hết là khả năng tạo ra của cải.

Ví dụ: Một người nào đó trúng xổ số hoặc thắng bạc. Ngay cả khi anh ta thắng 100 triệu thì anh ta cũng không trở thành người giàu: Anh ta chỉ là người nghèo với rất nhiều tiền. Đó là lý do tại sao 90% triệu phú xổ số trở lại nghèo khổ sau 5 năm.

Ta có thể gặp những người giàu có nhưng không có tiền. Ví dụ: Hầu hết các doanh nhân. Họ đã và đang trên con đường trở nên giàu có ngay cả khi họ chưa có tiền, bởi vì họ đang phát triển trí thông minh tài chính của mình và với tôi đó chính là sự giàu có.

Người giàu và người nghèo khác nhau như thế nào?

Nói một cách đơn giản: Người giàu có thể chết để trở nên giàu có, trong khi người nghèo có thể giết người để có tiền.

Nếu bạn thấy một người trẻ quyết định rèn luyện, học hỏi những điều mới, luôn cố gắng cải thiện bản thân không ngừng, hãy tin rằng anh ta là một người giàu có.

Nếu bạn thấy một người trẻ tuổi nghĩ rằng anh ta nghèo là do nhà nước, rằng người giàu toàn là người xấu, kẻ trộm và luôn chỉ trích người khác, hãy tin rằng anh ta là một người nghèo.

Tóm lại, khi tôi nói rằng con gái tôi sẽ không lấy một người đàn ông nghèo, tôi không nói về tiền bạc. Tôi đang nói về khả năng tạo ra của cải ở người đàn ông đó.

Xin lỗi vì đã nói điều này, nhưng hầu hết tội phạm đều là những người nghèo. Khi đứng trước đồng tiền, họ mất lý trí, đó là lý do họ cướp giật, trộm cắp… Đối với họ đó là lối thoát vì họ không học hỏi được kỹ năng tự mình kiếm tiền.

Như chuyện về người bảo vệ nghèo của một ngân hàng, một lần anh tìm thấy một chiếc túi đầy tiền, anh ta đã lấy chiếc túi và đi đưa cho giám đốc ngân hàng.

Mọi người gọi người đàn ông này là đồ ngốc, nhưng thực tế người đàn ông này chỉ là một người giàu chưa có tiền.

Để cám ơn, ngân hàng mời anh làm lễ tân, ngoài giờ làm anh đi học. Ba năm sau anh được đề cử làm giám đốc khách hàng và 10 năm sau anh trở thành quản lý khu vực của ngân hàng này, dưới quyền anh có hàng trăm nhân viên. Thu nhập của anh bây giờ gấp nhiều lần số tiền anh trả lại ngày nào, lại có vị trí xã hội và lòng tự hào mà việc giấu diếm số tiền không thể đem lại!

HÃY CHỌN NGƯỜI CÓ TƯƠNG LAI BẠN NHÉ!

Từ FB Minh Tran

Thursday, January 6, 2022

Tư liệu HN: "Ông vua thủy tinh" xứ Đông Dương và các con

 Người được mệnh danh như vậy là cụ Trịnh Đình Kính, nhà ở 65 Hàng Bồ. Cụ là 1 trong những nhà tư sản yêu nước tiêu biểu của Hà Nội, ủng hộ hàng trăm cây vàng cho Cách Mạng, tham gia cứu đói nhân dân ở nhiều nơi...

Những năm đầu TK XX, Hàng Bồ là phố người Hoa, họ có nghề nấu thủy tinh làm các sản phẩm chai, lọ, đèn dầu... Nguyên tắc "độc quyền" của họ là chỉ có dạy ăn chứ không dạy làm (hay dạy nghề) với người ngoại đạo, ngoại trừ người trong gia tộc. 

Ấy vậy nhờ sự thông minh, khôn khéo, ham học hỏi, cụ Kính là trường hợp ngoại lệ được ông chủ gốc Hoa có tên Tài Cống nhận làm con nuôi và truyền nghề. Người cha nuôi cũng dự báo Kính sẽ trở thành thương gia lớn trong tương lai.

Năm 20 tuổi, cha nuôi qua đời. Cụ Kính mở xưởng riêng trên phố Hàng Bồ, lấy hiệu là Thanh Đức. Sản phẩm ông được người Pháp vô cùng ưa chuộng, chiếm lĩnh thị trường bởi thế chiến II đã cắt đứt con đường chuyên chở sản phẩm thủy tinh từ Pháp qua Đông Dương.

Năm 1939, nắm bắt cơ hội, cụ Kính cho ra mắt nhiều sp mới dù không sánh bằng sp chính quốc nhưng mẫu mã, kiểu dáng đa dạng, giá lại rẻ. Vì thế các đơn hàng khắp nơi tập trung về chỗ cụ. Thanh Đức thành độc quyền, chiếm lĩnh Đông Dương, tiếng vang tới cả Paris, nhiều thương gia Pháp đã sang hợp tác làm ăn, kết hợp với thương hiệu Thanh Đức. 

Các sp đem triển lãm tại nhiều nơi được đánh giá rất cao. Năm 1943, Phủ Toàn quyền Đông Dương đã lựa chọn cụ Trịnh Đình Kính là 1 trong 300 người hào kiệt nhất xứ Đông Dương.

Bà Trịnh Thị Ngọ* (Hanoi Hannah) (sn 1931) phát thanh viên nổi tiếng thời chống Mỹ và Nhiếp ảnh gia Trịnh Đình Tiến** (1938) nổi tiếng với những tấm ảnh chụp cổng chào Hà Nội trong ngày tiếp quản 1954 chính là 2 người con tài giỏi của cụ.

Cụ Trịnh Định Kính cùng các con

Cụ Trịnh Đình Kính tại nhà 65 Hàng Bồ

Con gái cụ Kính, bà Trịnh Thị Ngọ (Hanoi Hannah) phát thanh viên nổi tiếng thời chống Mỹ. Người được mệnh danh có giọng nói ám ảnh, mê hoặc lính Mỹ

Cổng chào trên Hàng Thiếc.Ảnh Trịnh Đình Tiến, 10.10.1954

Cổng chào trên phố Hàng Bông, ảnh Trịnh Đình Tiến

Cổng chào góc phố Cửa Nam 10.10.1954, anh chụp bởi con trai út cụ Kính là ông Trịnh Đình Tiến

Cổng chào ngõ Hàng Hương. Ảnh Trịnh Đình Tiến

Quảng cáo sp thủy tinh
Diệu An (Ảnh Hà Nội Xưa)

------------

*: Xem thêm bài Bà Trịnh Thị Ngọ - nữ phát thanh viên tiếng Anh huyền thoại (Aug 28.2018) và bài Con gái ông Vua thủy tinh xứ Đông Dương (Jan 08.2022)
**: Xem thêm bài NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỘI MŨ PHỚT (Jan 02.2022)

#ảnhhànộixưa

Sunday, January 2, 2022

Câu chuyện của bác thợ chụp ảnh ở Bờ Hồ

 NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỘI MŨ PHỚT

        

  Ông Trịnh Đình Tiến (03/06/1938 - 05/01/2021) Ảnh : Nguyễn Đình Toán

      Lần đầu tiên tôi gặp ông vì liên quan đến một bức ảnh tư liệu. Bước vào phòng tôi, ông cẩn thận nâng chiếc mũ phớt ra khỏi đầu và khẽ nghiêng người chào. Cách chào ấy vừa lịch sự, vừa khiêm tốn và cũng vừa e dè. Đã quá lâu rồi, tôi không còn được nhìn thấy cách chào ấy ở Hà Nội, một chốn vốn nổi tiếng thanh lịch này. Trước khi ngồi xuống ghế, ông để chiếc mũ một cách trang trọng và cẩn thận xuống bàn. Những lần sau này, động tác để mũ của ông vẫn như vậy. Lần nào tôi cũng quan sát cách chào và động tác mũ của ông với một cảm giác thật thú vị và xúc động. Con người ông ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên cho đến sau này luôn hiện lên hai mảng trái ngược nhau : nho nhã và lam lũ, ngơ ngác và buồn bã. Mỗi năm chúng tôi chỉ gặp đôi lần vì công việc, cho nên tôi cũng không tìm hiểu lai lịch của ông. Chỉ biết ông là một người chụp ảnh và sưu tầm ảnh tư liệu. Sau này biết thêm ông là cộng tác ảnh tư liệu mật thiết cho Tạp chí Xưa và Nay của nhà sử học Dương Trung Quốc . Ông là người chụp và sưu tầm hàng ngàn bức ảnh tư liệu về Hà Nội, về các sự kiện và các nhân vật nổi tiếng. Nhưng những gì từ con người ông toát ra càng ngày càng gây cho tôi một sự tò mò. Ông là ai ? Nguồn gốc ông thế nào ? Điều gì đã làm nên cái nho nhã, cái lam lũ, cái lơ ngơ và buồn bã trong con người ông ? Ông là một người say mê phim ảnh. Ngay từ hồi còn nhỏ, ông đã cầm máy ảnh. Rồi ông theo học điện ảnh, chuyên nghề quay phim. Đời ông đã hai lần làm phụ quay cho hai bộ phim. Một phim tư liệu và một phim truyện. Ấy là phim Vợ chồng A Phủ. Nhưng số ông không may. Một ngày ở trường quay, phim hết. Người ta bảo ông về lán lấy phim. Ông cưỡi ngựa về lán và bị ngựa đá vào mặt làm cho con ngươi bên mắt phải của ông gần như bật tung ra khỏi hốc mắt. Khát vọng trở thành nhà quay phim vụt tối đen. Sau một thời gian chữa trị, mắt ông khá lên. Ông mừng lắm. Ông lại theo học một lớp quay phim chính quy khác. Nhưng lần này ông cũng không được cầm máy quay. Không có con ngựa nào đá ông. Số phận đã đá ông một cú mạnh hơn cú đá của ngựa. Từ đó khát vọng trở thành nhà quay phim vĩnh viễn rời bỏ ông. Không trở thành nhà quay phim nhưng ông vẫn phải sống, phải nuôi con cái. Ông chỉ còn có một việc vừa để kiếm cơm vừa để đỡ dày vò về ước mơ giản dị của mình là quay phim. Thế là ông cầm máy ảnh. Nhưng ông cũng không trở thành nghệ sĩ nhiếp ảnh có ảnh bày trong các triển lãm ảnh nghệ thuật và được những giải thưởng nào đó. Ông trở thành thợ ảnh Habe. Thợ ảnh Habe là tên goị cho có vẻ sang trọng của những người làm nghề chụp ảnh quanh bờ hồ Hoàn Kiếm. Habe là tên một hiệu ảnh trong một bộ phim nổi tiếng trước kia. Những người thợ ảnh như ông gọi thế. Còn người đời gọi ông và những đồng nghiệp của ông là thợ ảnh Bờ Hồ. Giữa khát vọng và sự học hành để trở thành một nhà quay phim và nghề chụp ảnh thuê ở Bờ Hồ là một trò đùa của số phận. Nhưng khi nói về những ngày tháng chụp ảnh quanh Bờ Hồ, ông say đắm như một nghệ sĩ lớn nói về cuộc đời sáng tạo của mình. Ông nói với tôi rằng, những người chụp ảnh Bờ Hồ có cùng nhau tổng kết một cách hài hước cái nghề chụp ảnh Bờ Hồ bằng gần sáu mươi cặp L kép. Cụm từ “LL” có nghĩa gì ? Ông mỉm cười :

      Đó là lanh lẹn, luồn lách, lặn lội, lí luận, lì lợm, lẳng lơ, lấp liếm, lượn lờ, lưu loát, vv và vv ... Nghĩa là muốn ăn tiền được của thiên hạ bằng cái nghề này thì các tay thợ ảnh Bờ Hồ phải cực nhọc, vất vả, và cũng đầy mưu mẹo. Chụp ảnh Bờ Hồ không chỉ chụp quanh Bờ Hồ mà ông còn đi chụp thuê đám cưới đám ma. Có những bức ảnh vui chụp hơn nửa thế kỉ nay ông vẫn giữ. Đó là bức chụp hai đứa bé sinh đôi đầy tháng đang mở mắt tròn xoe nhìn cuộc đời. Có những bức ảnh buồn ông cũng giữ. Đó là bức ảnh ông chụp một đám tang hai cỗ quan tài để song song của hai vợ chồng cùng chết một ngày. Mà đó là một cái chết bình thường chứ không phải chết bom chết đạn gì. Ông bảo số phận thật kì lạ ...

Mấy chục năm cầm máy ảnh, ông chỉ chụp những gì có thực của cuộc sống này mà không hề có sự bố trí nào. Có những hình ảnh chỉ hiện ra trong đời sống này một lần và không bao giờ thấy lại nữa. Ông chụp chuyến tàu điện cuối cùng của Hà Nội. Ông chụp đủ năm cửa ô Hà Nội được trang hoàng cờ hoa trong ngày những đội quân tiến về Tiếp quản Thủ đô. Ông chụp cả những nghệ sĩ có tên tuổi của Cách mạng đứng trên cầu Thê Húc rồi sau đó lên tàu di cư năm 1954 và rời bỏ Cách mạng, rời bỏ thành phố quê hương. Có người ông chụp lấy tiền. Có ngừơi ông chụp mà không lấy tiền vì họ còn nghèo hơn ông. Có lúc ông phải chụp lén, chụp trộm. Vì trong thời chiến mà cứ mũ phớt, tóc dài, kính râm và thập thò máy ảnh, thì dễ bị người dân nghi là gián điệp.

      Ông chụp những người mà ông rất quí trọng và chụp cả những kẻ ông dửng dưng, thậm chí cả những kẻ ông khinh thường. Ông chụp những người quen và cả những người ông không quen biết. Cuộc đời có từng ấy gương mặt thì ông ghi lại từng ấy, một cách trung thực. Không vì thù ghét mà bôi tro trát trấu. Không vì quí trọng mà trát phấn tô son. Cuộc đời thế nào hãy hiện lên như thế : buồn vui, tốt xấu, thật giả, … Ông không phản bội lại hiện thực. Đấy là niềm vui của ông. Một niềm vui bất tận mà mấy ai thấu hiểu. Ông là một nghệ sĩ trong cái công việc mà người đời chẳng mấy ai coi trọng.

      - Cha ông có làm nghề chụp ảnh không ?

      - Cha tôi là một thương gia thời Pháp thuộc !

      Sau này tôi biết, cha ông chính là ông Trịnh Đình Kính*, người mà trong một bài báo người ta đã gọi là "Ông hoàng thủy tinh xứ Đông Dương". Đấy là một người đã làm ra những đồ thủy tinh nổi tiếng, từng mười sáu lần được Huy chương Vàng hội chợ Đông Dương, và là người làm ra thủy tinh màu đầu tiên ở Việt Nam. Ngôi nhà của ông Trịnh Đình Kính từng là nơi ăn ở của nhiều đại biểu Quốc hội khóa I. Lúc đó, Chính phủ còn nghèo khó, người dân đã chia cơm sẻ áo cho Cách mạng. Ông Trịnh Đình Kính là một trong những người tham gia tích cực "Tuần lễ vàng" ủng hộ Cách mạng, và trước đó đã từng bị thực dân Pháp bắt bỏ tù vì tội ủng hộ Việt Minh ...

      - Ông nội ông có làm nghề chụp ảnh không ?

      - Ông nội tôi là Trịnh Đình Thành. Ông nội tôi là một nghĩa quân dũng cảm trong cuộc khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp. Khi quân Cần Vương thua trận ở Bãi Sậy, ông nội tôi ôm tráp quân cơ nhảy xuống sông tự vẫn, để giữ tiết trung quân và bảo vệ những bí mật không thể rơi vào tay giặc !

Với những câu hỏi như vậy, tôi đã tìm về ông tổ mười đời trước đó của ông thợ ảnh Bờ Hồ Trịnh Đình Tiến. Đó chính là Khang Vương Trịnh Căn. Trịnh Căn là chúa thứ tư thời vua Lê chúa Trịnh. Ông có tài cầm quân lại có tiếng văn chương.      Năm 1995, kết quả Hội thảo khoa học về “Chúa Trịnh - Vị trí và vai trò lịch sử” được tổ chức ở Thanh Hóa, với luận điểm : “Công minh lịch sử - Công bằng xã hội”, đã được công bố trên báo Nhân Dân. Trong đó đặt vấn đề có sự đối xử công bằng hơn với sự nghiệp của họ Trịnh. Như lời giới thiệu của giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam trong cuốn "Khang Vương Trịnh Căn" của tác giả Trịnh Xuân Tiến, nhà xuất bản Lao Động năm 2001 :
      “Họ Trịnh - một dòng họ có nhiều cống hiến vào lịch sử dân tộc như : xây dựng đất nước, gìn giữ biên cương, chấn hưng văn hiến, … nhưng công lao của dòng họ này có chỗ bị lu mờ, sự nghiệp của các Chúa Trịnh có phần bị quên lãng”.
      Cái chỗ "bị lu mờ" và cái phần "bị quên lãng" ấy, có lẽ đã làm cho ông dày vò và buồn bã. Tại làng Đôn Thư, (nay thuộc xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), có khu Thái Miếu của họ Trịnh được xây cất để thờ phụng tổ tiên. Nhưng cho đến tận bây giờ khu Thái Miếu ấy vẫn là nơi công cộng và mỗi ngày thêm hư hỏng. Chính quyền cấp trên đã có lệnh trao lại khu Thái Miếu này cho các hậu duệ Khang Vương Trịnh Căn, để họ thực hiện đạo đức truyền thống của người Việt là thờ phụng tổ tiên. Những ngày đầu chính quyền Cách mạng được thành lập, các hậu duệ của các chúa Trịnh đã nhường khu Thái Miếu này cho chính quyền địa phương làm trụ sở, nhưng chính quyền địa phương đến giờ này vẫn cứ như là không nghe thấy. Báo chí lâu nay cũng đã nói nhiều về tình trạng của khu Thái Miếu ...
      Ông Trịnh Đình Tiến buồn rầu bảo, sau này trăm tuổi đi gặp tổ tiên. Ông chỉ còn biết dập đầu trước tổ tiên ông xin chịu tội chết. Nhưng kẻ thảo dân này biết làm sao ? Biết làm sao bây giờ ?
      Mỗi khi ra khỏi nhà, dù chỉ mang một tấm ảnh tư liệu cho một tờ báo hay một tạp chí nào đó, với nhuận bút hai ba chục ngàn đồng thì ông cũng ăn mặc chỉnh chu. Ông đứng trước dãy mũ phớt hơn chục cái để chọn một cái thích hợp với thời tiết ngày hôm đó. Rồi ông trịnh trọng đội chiếc mũ lên đầu. Ông trịnh trọng ngả mũ chào. Ông trịnh trọng để chiếc mũ xuống bàn.
      Nhiều lúc tôi cứ liên tưởng một cách xa xôi tuy biết chẳng có cơ sở lắm : Phải chăng vì mang trong mình dòng máu vua chúa nên ông mới có hành động trịnh trọng và đầy nghi lễ trong cả việc đội vào hay bỏ ra một cái mũ ?
      Thời gian và thời thế đã thay đổi quá nhiều, ông không là kẻ ấu trĩ để ngồi mà thương tiếc ngôi vua tước chúa của dòng tộc mình. Ông sống giản dị và lặng lẽ như muôn vàn người dân như trong thời của lịch sử hiện đại.
      Ông tôn kính tổ tiên như tôi tôn kính tổ tiên tôi, như bà bán rau bên hè phố tôn kính tổ tiên của bà, như một ông ăn mày lang thang tôn kính tổ tiên của ông.
      Nỗi buồn nhất trong lòng ông là có không ít sự hiểu lầm, và đôi khi ngờ vực của người đời sau về nhà Trịnh. Tôi bảo ông rằng, các nhà sử học chân chính đã đánh giá đúng những đóng góp của nhà Trịnh với đất nước rồi kia mà. Chỉ rất ít người hiểu được như thế, ông nói.
      - Báu vật mà các Chúa Trịnh để laị cho các hậu duệ của mình là gì ?
      - Nhà tôi trước kia có nhiều cổ vật. Cha tôi là một trong những người sưu tầm cổ vật có tiếng ở Hà Nội. Sau nghèo túng bán hết. Nhưng chúng tôi chẳng coi đó là báu vật. Báu vật mà chúng tôi còn giữ được đến bây giờ, là mấy trăm bài thơ của Khang Vương Trịnh Căn !
      Khi bài viết này được in ra, tôi chắc chắn sẽ rất nhiều và rất nhiều người từng biết ông, từng được ông chụp ảnh ở Bờ Hồ sẽ thảng thốt kêu lên : "Ô, hóa ra đây là hậu duệ của các bậc vua chúa từng nổi danh trong lịch sử ư !"
      Còn ông, tôi biết, ông vẫn lặng lẽ nho nhã, lặng lẽ lam lũ, lặng lẽ ngơ ngác, ... và lặng lẽ buồn trong dòng chảy của thời gian. Ông vẫn đội những chiếc mũ phớt khác nhau tùy theo thời tiết. Ông vẫn trịnh trọng bỏ mũ ra khỏi đầu, trịnh trọng chào, và trịnh trọng đặt mũ trước khi ngồi xuống để đưa một bức ảnh tư liệu ... Hay cất giọng buồn bã kể về dòng tộc và khu Thái Miếu của gia tộc mình bị chính quyền địa phương chiếm dụng, đang ngày một hoang tàn.

----------

      Tái bút : Tên ông là Trịnh Đình Tiến. Ông có một người chị gái rất nổi tiếng. Đó là Trịnh Thị Ngọ, người đọc bản tin tiếng Anh của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam mà các lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam gọi là "Hà Nội Hannah".

*: Xem thêm bài Tư liệu HN: "Ông vua thủy tinh" xứ Đông Dương và các con (Jan 06.2022)

Nguyễn Quang Thiều 

Friday, October 1, 2021

“Hùm xám đường số 4” Đặng Văn Việt trong mắt tướng lĩnh Pháp

 Không chỉ các tướng lĩnh, đồng đội bày tỏ lòng yêu quý và kính nể đối với ông, ngay những tướng tá Pháp cũng khâm phục Đặng Văn Việt – người được mệnh danh “Hùm xám đường số 4”. 

--------

Là một trong hai Trung đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (cùng với Đại tướng Lê Trọng Tấn), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Trung tá Đặng Văn Việt – người có thành tích chỉ huy đơn vị trong Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, bắt sống cả hai chỉ huy binh đoàn Pháp là Trung tá Marcel Lepage và Pierre Charton - trong mắt người Pháp lúc đó thực sự là một dấu hỏi lớn.

Được các tướng lĩnh Pháp kính nể và ngưỡng mộ

Sinh thời, ông Đặng Văn Việt từng kể về biệt danh “Hùm xám đường số 4” của mình. Đó chính là biệt danh do một tù binh đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ tên là Bigeard, sau này trở thành Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, đặt cho ông sau những trận đánh giữa hai bên.

Hai vị chỉ huy từng đối mặt nhau trên chiến trường, nhưng năm 2008 ông Bigeard đến Hà Nội tìm gặp “Hùm xám” vì lòng ngưỡng mộ, nhờ dẫn đi thăm lại chiến trường đường số 4. Trong buổi hội ngộ với người lính già bên kia chiến tuyến, Bigeard xúc động chia sẻ: “Chúng tôi là những cựu binh Pháp đã chiến đấu tại đường số 4 hay tại một số mặt trận ở Đông Dương đều xin kính chào Ngài - người chiến thắng tại đường số 4, một người chỉ huy chiến trận không ai chê trách được, người mà chúng tôi phải kính nể”.

Ông Việt (đứng thứ 6 từ trái sang) thăm lại chiến trường xưa cùng các tướng lĩnh Pháp. Ảnh: Pháp luật TP. Hồ Chí Minh

Nguyên Đại tá Pháp Charles De Pirey sau này có viết thư cho ông Đặng Văn Việt kể rằng: “Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên khi khám phá ra sau này là kẻ đối địch nguy hiểm nhất của chúng tôi, kẻ đã làm cho chúng tôi thất điên bát đảo trên đường số 4 này lại là một thanh niên chưa đầy 30 tuổi... Đặng Văn Việt đối với chúng tôi là một đối thủ cực kỳ mưu trí, nguy hiểm, không khoan nhượng nhưng cũng là con người biết tuân thủ những luật quốc tế về tù binh chiến tranh...”.

Được các tướng lĩnh Pháp xem như sếp

Trung tá Đặng Văn Việt từng kể, trong một lần sang thăm Thủ đô Paris (Pháp) hoa lệ vào năm 2005 theo lời mời của một người bạn, không biết làm cách nào mà những tướng lĩnh Quân đội Pháp trước đây biết được, họ tổ chức tiệc chào mừng ông có mặt ở Pháp.

Khi gặp ông, họ tay bắt mặt mừng, quý mến trân trọng như những người bạn thân. Đặc biệt trong lời nói, hành động họ coi ông như sếp của mình. Đặc biệt, Đại tướng Bigeard đã viết thư tay để gửi tới ông Việt trong những ngày ông sang thăm Pháp. Bức thư có đoạn: “Tôi được tin anh qua Pháp, vì tuổi cao sức yếu tôi không qua thăm anh được. Tôi rất ngưỡng mộ đất nước và con người Việt Nam và đã đặt trái tim trên đất nước Việt Nam. Khi nào tôi qua đời, tôi muốn con cháu mang một phần tro cốt của mình sang Điện Biên Phủ để được nằm cạnh các chiến sĩ của tôi”.

Cũng trong chuyến thăm Pháp đó, ông Việt gặp rất nhiều người con của các vị tướng, từng là kẻ thù của ông trong chiến tranh. Họ biết ông qua lời kể của cha mình. Vì thế, khi gặp ông họ rất ngưỡng mộ, tiếp đón ông như một vị tướng của nước họ. Điều đó khiến ông vô cùng xúc động.
Được du khách Pháp tới nhà hỏi thăm sức khoẻ
Lúc sinh thời, trước khi dịch Covid-19 bùng phát, hầu như tháng nào người lính già Đặng Văn Việt cũng đón tiếp các đoàn khách từ Pháp đến hỏi thăm sức khoẻ.

Những vị khách này nói rằng, qua sách vở, họ biết ông là một người chiến sĩ tài ba, giành được nhiều chiến công trong chiến tranh. Họ rất muốn được gặp ông, nói chuyện, hỏi thăm tình hình sức khoẻ. Người Pháp rất thích những cuốn hồi ký của ông viết về cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam với Quân đội Pháp.
Hay tin “Hùm xám đường số 4” Đặng Văn Việt qua đời vào lúc 0h55 phút ngày 25/9/2021 tại Bệnh viện Hữu nghị, Hà Nội, nhà báo Louis Raymond, người đang dự định hoàn thành bộ phim tài liệu về “Hùm xám đường số 4”, vô cùng xúc động và nói, Việt Nam đã mất đi một người anh hùng. Gọi ông là “vị tướng không sao”, nhưng Louis Raymond nhận định, trong trái tim của những người biết Trung tá Đặng Văn Việt, ông có tất cả vinh dự trên thế giới.

Hương Khôi (Trí Thức & Cuộc Sống)
27.09.2021

Monday, September 27, 2021

Những gì còn lại của con hổ

 Tôi thật đau buồn được tin cụ Đặng Văn Việt từ trần. Người bạn quý  ấy, mỗi lần ghé Hà Nội tôi đều đến thăm. Lần chót chúng tôi gặp nhau là ngày 19 tháng hai 2018. Dưới đây, tôi xin trích lại những dòng ghi chép của tôi sau cuộc hội ngộ cuối cùng ấy.

« Vẫn ngổ ngáo và niềm nở như mọi khi. Ông cưỡi cái xe ba bánh che bạt chạy bằng điện quà tặng của bạn bè. Bộ quần áo xám nhạt, hoen ố, gắn huy hiệu Võ Nguyên Giáp, mũ cát két xanh sẫm. 


Chúng tôi ôm nhau. « Menras, năm nay tôi trăm tuổi rồi đấy ! ».

Nhà 125 phố Minh Khai, Hà Nội. Cuối ngõ nhỏ, một cái sân bao quanh bởi mấy chung cư xập xệ. Ông đậu cái xe ba bánh ở dưới sân, nhiều khi để luôn cả cái cặp đựng tài liệu trên xe, dẫn tôi leo cầu thang, dọc theo những bức tường cũ ký loang lổ, lên lầu ba, tới tấm cửa sắt của « BT 205 » (BT là… Biệt Thự đấy !). Hai căn phòng nhỏ ở cuối một hành lang hẹp.

Ông pha trà. Rót rươu vào một chén nhỏ.

Năm năm liền, ông viết một cuốn sách về lịch sử quân sự Việt Nam, nhưng việc xuất bản gặp phải những chướng ngại hành chính và chính trị. Viện Lịch sử Quân sự vừa xuất bản bộ Quân sử 15 tập. Một công dân cá thể không thể công bố một bộ sử như vậy được, đó là công việc của một viện, của Đảng… ». Một nữ bác sĩ đã hứa đóng góp tài chính để xuất bản cuốn sách của ông, và nói chỉ cần chỉnh sửa đôi chút là cuốn sách có thể nhận được một giải thưởng quốc tế. Ông cũng tin chắc như vậy. 

Đến giờ ăn, chúng tôi thận trọng từng bậc bước xuống cầu thang, đợi taxi đến đón chúng tôi tới tiệm ăn mà ông gọi là « bít tết Napoléon ». Tôi mượn cửa hàng bên kia đường một cái ghế nhựa để ông ngồi đợi. Ông ngồi chờ ở góc phố, đợi mãi taxi vẫn chưa tới, ông đứng dậy, leo lên ngồi trên cái xe mô tô đậu gần đó. Quán Napoléon đóng cửa nghỉ tết.

Tới quán Lục Thủy gần hồ Gươm, chúng tôi ngồi bàn ngoài hè. Ông nhận xét « Việt Nam đang phát triển ». Vào bữa, ông làm một đĩa « T bone steak » nhập từ New Zealand và kiên trì chiến đấu tới cùng, chỉ ngừng vài lần để cụng ly rượu vang đỏ Chilê. Chúng tôi kết thúc bữa ăn bằng ly kem và một cốc « Irish Coffee ». Người chiến sĩ mang đầy thương tích trên người ấy có thể đọ sức với mọi tướng lĩnh bụng phệ trên thế gian này. Ông cụ mạnh khỏe, tráng kiện về mọi mặt, vật chất cũng như tinh thần.

« Khác với chúng nó, 70 năm tuổi Đảng tôi chưa hề ăn cắp một xu nào của nhân dân ». Thời khóa biểu hàng ngày của ông ? « Sáng dậy, một giờ thể dục. Sau đó đi nhảy và ăn sáng, một giờ rưỡi… Cả ngày viết sách, rồi một giờ học tiếng Anh ».

« Cảm ơn chú đã mời tôi tham gia cuốn phim của Đào Thanh Tùng « André Menras : một người Việt ». Thế là hình ảnh tôi được lưu trữ trong kho của Quân đội », ông cả cười. « Đảng này đang cản trở sự phát triển của đất nước. Khuất phục Trung Quốc. Tôi là một người lính bị bỏ quên. Không phải nhân dân, mà là lãnh đạo bỏ quên ».

Giao tranh với quân đội thực dân 120 trận, « con hùm xám đường 4 » đã đánh thắng 116 trận. Nhiều tù binh Pháp bị bắt không bị các đơn vị dưới quyền ông hành hạ. Nhiều người đã tỏ lòng biết ơn, thậm chí khâm phục ông. Ông đã viết 21 cuốn sách. Ông cười vang khi kể cho tôi nghe chuyện quân tàu (Tưởng) giải giới quân Nhật. « Khi viên sĩ quan Nhật hét to, ra lệnh cho quân lính trao nộp vũ khí, thì quân tàu hoảng sợ, toan bỏ chạy ». Ông kể cho tôi nghe chuyện nạn đói 1945 ở Hà Nội, thời ông là sinh viên y khoa… Chuyện ông không được tham gia trận Điện Biên Phủ, nơi trung đoàn của ông bị tiêu diệt gần như hoàn toàn, còn ông thì bị gửi sang học quân sự ở Trung Quốc. Kể chuyện về hưu phải trồng rau đem bán ngoài chợ. Kể mà cười tửng tưng, coi những chuyện bị đối xử tàn tệ vì lý lịch « xấu » ấy là chuyện của ai khác. Ông nói : « Kể ra chú với tôi, cả hai chúng ta đều hơi khùng. Chú thì cắm cờ và rải truyền đơn trước quốc hội Sài Gòn, tôi thì cắm cờ trước hoàng thành Huế với một khẩu súng Colt không đạn ». Tôi trả lời cờ của tôi còn có màu xanh, cờ của ông thì không. Và chúng tôi cả cười.

Lương hưu của ông mỗi tháng mười triệu đồng (khoảng 340 EUR). « Cũng nhiều đấy, nhưng tôi còn phải giúp năm gia đình nghèo… Riêng tôi chả cần gì nhiều ».

« Chỉ thích nhảy : boston, valse, tango, còn bọn kia – ông chỉ sang bên kia hồ Gươm nơi tượng đài Lý Thái Tổ – chúng bày ra chuyện nhảy để bịt miệng những người yêu nước ». 

Chia tay ông, tôi không biết đó là cuộc gặp cuối cùng. Tôi nhớ tới ông với tất cả sự kính mến đối với một người Việt Nam phi thường, chân chính và khiêm cung, một con người mà sử sách chính thức của một đảng phái vô ơn và bội bạc đã muốn quên đi. Vô phương. Tôi còn giữ cặp mắt kính cũ mà ông đã cho tôi khi cặp kính của tôi bị cán vỡ trong một tai nạn giao thông. Tôi thấy rõ, nhờ cặp kính ấy.


Texte en français suit

Je viens d’apprendre avec beaucoup de chagrin le décès de M. Đặng Văn Việt. C’était un très cher ami que j’aimais rencontrer lors de mes passages à Ha Noi. La dernière fois que nous nous sommes vus, c’était le 19 février 2018. Je vous livre ici les quelques notes brutes de littérature que j’avais prises de cette heureuse et ultime rencontre.
« Truculent et affable comme à l’ordinaire. Il arrive sur un tricycle électrique bâché que des amis lui ont payé. Costume gris clair, maculé de tâches, avec un petit écusson métallique à l’effigie du général Giáp, casquette bleu marine. Un petit air cabot.
Accolade. « Menras, je suis centenaire !». 
Appartement au 125 rue Minh Khai à Ha Noi, une cour entourée d’HLM vétustes au bout d’une petite ruelle… Il laisse dans la cour le tricycle électrique, souvent avec sa serviette à documents et me guide dans les escaliers aux murs décrépis jusqu’au 3 ème étage vers la grille métallique de ce qu’il appelle sa « BT 205 » (biệt thự) villa 205. Etroit couloir avec deux petites pièces à son extrémité. 
Là, il prépare le thé. Petite coupelle d’alcool.
Depuis 5 ans, Il écrit un livre sur l’histoire militaire du Viet Nam mais il a beaucoup de mal à l’éditer à cause des obstacles administratifs et politiques. L’institut de l’histoire de l’armée vient de publier 15 tomes. « Un citoyen particulier ne peut publier un tel ouvrage, il faut que ce soit l’institut, le parti, qui le fasse… ». Une doctoresse vietnamienne s’est engagée à l’aider financièrement pour la publication et lui a dit qu’avec quelques modifications, il pourrait prétendre à un prix international. Il le croit fermement. L’heure du repas arrivant, nous redescendons prudemment les escaliers et nous attendons le taxi pour aller au restaurant manger ce qu’il appelle un « bít tét Napoléon ». Je vais demander pour lui une petite chaise en plastique à la boutique d’en face. Il s’assoit au coin de la rue puis se lève d’impatience, le taxi n’arrivant pas, et va s’asseoir sur le siège d’une moto garée à proximité. Le « Napoléon » est fermé : c’est le Tết.
Arrivé au Lục Thủy, près du lac Hoàn Kiếm, nous nous installons sur la terrasse.  Il me guide avec sa canne entre les chaises. Il s’installe et trouve que le « Vietnam se développe ». Il s’attaque au T bone steack de Nouvelle Zélande qu’il ne lâche pas tant qu’il ne l’a pas vaincu et trinque régulièrement avec du vin rouge chilien. Nous finissons par une crème glacée et… un « Irish coffee ». L’homme, le combattant criblé de blessures, vaut bien tous les généraux ventrus d’aujourd’hui. Il est solide et sain sur tous les plans, aussi bien physique qu’intellectuel.
« Contrairement à eux, en 70 ans de Parti je n’ai jamais pris un sou du peuple ». Son emploi du temps ?  « Le matin au lever, une heure de gym. Puis danse pendant une heure et demie et petit déjeuner…Puis écriture du dernier livre en chantier suivie d’une heure d’apprentissage de l’anglais.
« Merci pour le film de Đào Thanh Tùng « André Menras : một người Việt » où tu m’as invité à paraître. Me voilà désormais dans les archives cinématographiques du Parti. » Rire. « Ce parti empêche le pays de se développer. Soumission à la Chine. Je suis un soldat oublié. Pas par le peuple mais par les dirigeants. » 
Sur 120 batailles contre les troupes coloniales, le « tigre gris de la route N°4 » en a gagné 116. Beaucoup de prisonniers français qui sous son commandement n’étaient pas maltraités. Certains lui en ont été reconnaissants et même admiratifs. Il a écrit 21 livres. Il me raconte, hilare, le désarmement des troupes japonaises par les Chinois. « Les Chinois ont pris peur et ont esquissé des mouvements de fuite quand l’officier japonais a hurlé l’ordre de remise des armes à ses soldats. » Il me raconte la grande famine de 1945 à Ha Noi, quand il était étudiant à la faculté de médecine… Il me raconte comment il fut privé de Điện Biên Phủ où son régiment fut décimé tandis que le Parti l’exilait en Chine dans une école militaire. Il me raconte comment, mis à la retraite, il a cultivé des légumes pour les vendre au marché. Toujours avec le sourire, comme si ces maltraitances et cet acharnement pour crime de curriculum vitae s’adressaient à un autre que lui. Il me dit : « Nous sommes un peu fous tous les deux : « toi, tu plantes le drapeau du Vietnam devant la chambre des députés de Saigon avec une poignée de tract, moi, devant la citadelle de Hue avec un colt sans balles ». Et je lui réponds que, sur mon drapeau, il y avait du bleu, pas sur le sien. Rires.
Il touche dix millions de dongs de pension par mois.   « C’est beaucoup, mais j’aide cinq familles pauvres… Je n’ai pas besoin de beaucoup d’argent. »
« Moi, j’aime la danse : le boston, la valse, le tango, mais eux – pointant son doigt vers l’autre côté du lac où se trouve la statue de Lý Thái Tổ- ils dansent pour étouffer les voix patriotiques ». 
Lorsque nous nous sommes séparés, j’ignorais que nous ne nous reverrions plus. Je garde de lui l’affectueux et respectueux souvenir d’un Vietnamien d’exception, authentique et modeste, que l’histoire écrite par un parti communiste ingrat et amnésique a voulu oublier. Sans succès. J’ai gardé aussi de lui une paire de vieilles lunettes qu’il m’avait offertes en dépannage quand les miennes avaient été écrasées dans la circulation. Pour que je continue à y voir clair.

André Menras

Sunday, September 26, 2021

VĨNH BIỆT HÙM XÁM ĐƯỜNG SỐ 4

 Đêm qua, lúc 20 giờ địa phương Calfornia, ngày Thứ Sáu 24 tháng 9, người cháu con ông anh Cả của tôi ở Hà Nội gọi điện thoại báo tin: Bác Đặng văn Việt mới qua đời.

Đặng Văn Việt có danh hiệu “Con Hùm Xám Đường số 4” do Thực dân Pháp đặt, vì  anh đã chỉ huy Trung Đoàn 174 (một trong ba Trung Đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Việt Minh) đánh tan hai Binh Đoàn của Thực dân Pháp là Trung tá Marcel Lepage và Pierre Charton trên đường biên giới số 4. Năm 2000, những sĩ quan trong Binh đoàn Pháp mang quà sang Việt Nam mừng thọ 80 tuổi Con Hùm Xám vì sự đối xử văn minh theo quy ước Genève của Trung Đoàn trưởng Đặng văn Việt.

Anh Đặng văn Việt là con trai bác ruột của tôi – Thượng thư Đặng văn Hướng.

Dù hai anh em ở khác chiến tuyến, nhưng tôi rất yêu quý anh Việt, vì anh có bản chất hiền lành, thật thà đến độ ngây thơ, khiến đôi khi tôi phát cáu, lớn tiếng với anh mà anh không giận. Khi anh Việt sang thăm bà con ở Mỹ, tôi “dụ dỗ” anh ở lại, nhưng anh nhất định về, vì anh nói rằng đã là Cọp sinh ra ở đâu thì Cọp phải chết ở đó! Tiếc rằng cọp đã bị dũa hết móng vuốt!

Năm 2011, các con của ông anh cuối của tôi (Đặng văn Châu) đem tro cốt của bố từ Pháp về chôn tại nghĩa trang dòng họ Đặng ở Nghệ An. Dù bị địch xem là “thành phần có nợ máu với nhân dân”, tôi vẫn quyết định trở về nước, vì tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với ông anh đã thương yêu mình hết mực, thây kệ bản thân mình ra sao thì ra. Tôi đã bị hai Công An Văn Hóa giữ lại làm việc tại phi trường Nội Bài suốt 90 phút đồng hồ và vài ngày sau đó tại khách sạn hơn 4 giờ. Lúc bấy giờ anh Việt đã 91 tuổi, nhưng anh đến đón tôi đi chơi loanh quanh ở Hà Nội trên chiếc “scooter” cà tàng từ thời Bảo Đại còn trị vì, khiến cho tôi ngồi đằng sau cảm thấy bất an hơn cả khi lái máy bay vào đất địch.

Anh Việt thu xếp cho tôi có cuộc gặp gỡ với những đồng chí thuộc cấp của anh trước để trò chuyện. Những người này vốn con nhà tư sản nên đường binh nghiệp cũng lận đận giống anh Việt.

Anh Việt khoe với tôi: “Anh làm được mấy chuyện hay lắm chú ạ! Anh đã gửi đơn lên Bộ Chính Trị, lên Ban Chấp Hành Trung Ương yêu cầu đảng thi hành ba việc:

Thứ nhất, yêu cầu đảng trả lại danh dự cho Bác (tức là Thượng thư Đặng Văn Hướng, Bố của anh Việt).

Thứ hai, yêu cầu đảng phục hoạt Phong trào Hướng Đạo Sinh để đào tạo thanh niên.

Thứ ba, yêu cầu đảng nhìn nhận Sinh viên Trường Thanh Niên Tiền Tuyến có công Chống Pháp Giành Độc Lập”.

Tôi trả lời: “Em một lần nữa xin lỗi anh Việt nhé! Dù anh là một nhà quân sự đại tài, ngồi viết mấy cuốn Hồi Ký về lịch sử chiến tranh của dân Việt, nhưng anh vẫn ngây thơ một cách lạ lùng.”

Nghe tôi phản bác, anh Việt tỏ ra buồn rầu. Còn tôi thì cảm thấy thương ông anh mình.

Sau mấy ngày ở Hà Nội, tôi theo mấy cháu về Nghệ An chôn tro cốt anh tôi tại nghĩa trang dòng họ Đặng và làm giỗ Đại Tôn ở Nhà Thờ Họ. Hai anh em ở chung phòng khách sạn ba ngày, tôi cãi anh Việt đủ cả ba ngày, vì anh vẫn ngây thơ như một chàng sinh viên mới bước chân vào đời, mặc dù anh hơn tôi 20 tuổi và có một quá khứ lẫy lừng.

Tôi hỏi, sinh nhật 80 tuổi của anh, đảng có tặng anh cái gì không? Anh lắc đầu bảo không! Tôi nói: “Anh thấy chưa? Dù bọn Thực dân bị anh đánh tả tơi, bây giờ có người mang lon Tướng, nhưng vẫn nhớ ngày sinh nhật của anh, họ mang quà từ Pháp sang Việt Nam mừng anh.

 Anh có biết thân sinh Giáo sư Trần Đức Thảo than thở với con ông điều gì không? “Giá như ngày xưa tôi cho anh học nghề thợ nề, thợ mộc thì ngày nay cái thân anh đỡ khổ, cái thân tôi đỡ khổ và cái dân tộc này đỡ khổ”. Đó là những lời ai oán của một cụ già tận tụy suốt đời nuôi con ăn học mà con lại góp phần vào sự khổ hạnh của dân tộc! Anh Việt thở dài: “Thôi! Anh hiểu rồi! Chú đừng nói nữa chỉ làm anh buồn thêm!”

Bây giờ người anh hùng năm xưa được Thực dân ngưỡng mộ, phong cho danh hiệu “CON HÙM XÁM ĐƯỜNG SỐ BỐN” đã về Trời ở tuổi 101. Em viết bài này để tưởng niệm một người anh thật thà, lương thiện, một anh hùng mạt vận vì chẳng may bị sinh vào dòng dõi danh gia vọng tộc.

Em cầu chúc anh Việt mau siêu thoát.

-----------

Bằng Phong Đặng văn Âu chia sẻ bài viết của một người em họ ông Đặng Văn Việt. 

(Có lược bớt một số đoạn)

Thursday, September 9, 2021

Bs Tôn Thất Tùng

 GS Tôn Thất Tùng sinh ngày 10/5/1912 trong một gia đình quý tộc tại Thanh Hoá, ông là hậu duệ chúa Nguyễn. Cha ông qua đời khi ông mới ba tháng tuổi. Mẹ ông đã đưa gia đình vào Huế và định cư ở đó. Từ chối làm quan, người thanh niên Tôn Thất Tùng đã ra Hà Nội học trường Bưởi (Chu Văn An ngày nay) và năm 1932 bắt đầu vào học Trường Đại học Y khoa Hà Nội với suy nghĩ đây là nghề “tự do”, không phụ thuộc vào quan lại hay chính quyền thực dân. 

Thông minh xuất chúng, mới 27 – 28 tuổi, Tôn Thất Tùng đã có công trình được tặng huy chương bạc của Liên hiệp Pháp và huy chương bạc của Đại học Y Paris. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông đã công bố 62 công trình trên các tạp chí y học Pháp ở Paris và ở Viễn Đông. 

Ông là người đầu tiên nghiên cứu thành công phương pháp “cắt gan có kế hoạch” còn được gọi là “Phương pháp mổ gan khô” hay “Phương pháp Tôn Thất Tùng”. Phương pháp này cho phép cắt gan chỉ mất 4-8 phút trong khi, nếu theo phương pháp vẫn được coi là kinh điển mang tên vị giáo sư người Pháp Lortat-Jacob, thì phải mất 3-6 giờ. Sáng chế của Tôn Thất Tùng không phải là do sự “khéo tay”, thay đổi kỹ xảo vụn vặt, như có người lầm tưởng, mà chính là bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản do anh sinh viên nội trú thuộc dòng dõi hoàng gia này thực hiện trong những năm 1935-1939. 

Lần đầu tiên trong nền y học thế giới, Tôn Thất Tùng đã mô tả các mạch máu và ống mật trong gan sau khi phẫu tích hơn 200 lá gan người ch.ế.t. Trên cơ sở đó ông đã viết và bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp với nhan đề: “Cách phân chia mạch máu của gan”. Đây là một công trình thuộc về giải phẫu loài người chứ không phải riêng cho Việt Nam, nên ông đã hướng nghiên cứu của mình vào việc cắt gan, lĩnh vực mà cả thế giới chưa có ai dám đề cập. Bản luận án được đánh giá rất cao và trở thành tiền đề cho những công trình khoa học nổi tiếng của ông. Với bản luận án này, Tôn Thất Tùng đã được Trường Đại học Tổng hợp Paris tặng Huy chương bạc. 

Năm 1939, khi Tôn Thất Tùng trở thành bác sĩ nội trú ở Bệnh viện Phủ Doãn (BV Việt-Đức ngày nay), sau nhiều lần cắt trên gan người ch.ế.t, ông đề xuất với thầy hướng dẫn về phương pháp của mình. GS.Mayer-May tán thành nhưng còn e sợ. Một hôm có một bệnh nhân chuẩn đoán tưởng là ung thư dạ dày nhưng khi mổ lại phát hiện bị ung thư gan của thùy gan trái. Để thực hiện ca giải phẫu này, dưới sự hướng dẫn của BSTôn Thất Tùng, GS.Mayer-May đã tiến hành cắt bỏ thùy gan trái cho bệnh nhân. Đây là phương pháp cắt gan mới, bởi theo khảo cứu của Tôn Thất Tùng, từ năm 1938 trở về trước y học thế giới mới cắt gan 87 lần – một con số không đáng kể vì cắt gan “không kế hoạch”, nghĩa là cắt vu vơ, gặp mạch máu thì buộc lại. 

Thấy bệnh nhân sống sót sau khi mổ, GS.Mayer-May bảo Tôn Thất Tùng: “Anh chép lại bệnh án trao cho tôi ngay. Chúng tôi sẽ gửi báo cáo này lên Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris”. Không ngờ, tại đây bản báo cáo bị công kích dữ dội, vì “ý tưởng của Tôn Thất Tùng quá mới”. Mãi đến năm 1952, tại Hội nghị Phẫu thuật quốc tế ở Copenhaghen – Đan Mạch phương pháp cắt gan của ông mới được thừa nhận. 

Năm 1963, GS Tôn Thất Tùng cho công bố phương pháp cắt gan mới trên tờ “The Lancet” ở London, tờ tạp chí rất nổi tiếng trong ngành phẫu thuật thế giới. Công trình gây chấn động dư luận. Chỉ sau một tháng, hơn 100 nhà phẫu thuật từ Mỹ đến Australia gửi thư sang Hà Nội, xin ông tài liệu về Phương pháp cắt gan này. Phương pháp này cũng được đưa vào “Bách khoa thư Nội thương – Phẫu thuật” của Pháp, và được in trong “Chọn lọc các Tài liệu Sản khoa và Phẫu thuật” của Mỹ… 

Năm 1977, Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris tặng GS Tôn Thất Tùng Huy chương vàng phẫu thuật quốc tế Lannelongue, giải thưởng cao quý nhất trong ngành phẫu thuật thế giới, 5 năm mới tặng 1 lần cho một nhà phẫu thuật xuất sắc tại thời điểm đó. 

Đến năm 1979, GS Tôn Thất Tùng đã thực hiện khoảng trên 700 ca cắt gan lớn, nhỏ, bỏ xa một nhà phẫu thuật Singapore đứng sau ông cắt hơn 100 ca. Ngày nay, mổ gan khô đã trở thành một trong hai phương pháp cắt gan chính trên toàn thế giới. 

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, GS Tôn Thất Tùng được giao nhiệm vụ chữa bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng trong thời gian đó, ông đã viết cuốn sách tóm tắt kinh nghiệm nghiên cứu về giun với vấn đề “Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật”. Đây là cuốn sách khoa học thuộc ngành Y được xuất bản đầu tiên tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Một thời gian sau, ông được cử làm Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn và cùng với giáo sư Hồ Đắc Di, ông đã bắt tay xây dựng Trường Đại học Y Hà Nội. Sau khi Pháp nổ súng tái xâm lược Đông Dương, ông tham gia tổ chức cứu chữa thương bệnh binh, xây dựng các tuyến mổ xẻ như ở mặt trận Tây Nam Hà Nội cùng các bác sĩ Nguyễn Hữu Trí, Hoàng Đình Cầu… Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, ông vẫn tham gia tổ chức điều trị, phát triển ngành y tế, đồng thời với nghiên cứu khoa học, với đào tạo sinh viên, xây dựng nền tảng trường Y khoa Việt Nam, dù phải di chuyển nhiều lần, ở nhiều địa bàn như Vân Đình, Hà Đông (1946), Lăng Quán, Tuyên Quang (1947), Phù Ninh, Phú Thọ (1948), Đại Lục, Phú Thọ (1949), Chiêm Hóa, Tuyên Quang (1950)… Ông cũng được cử làm làm cố vấn phẫu thuật ngành quân y ở Bộ Quốc Phòng. Cũng trong thời gian này, cùng với Giáo sư Đặng Văn Ngữ, ông đã góp phần sản xuất Penicillin phục vụ thương bệnh binh trong điều kiện dã chiến. Năm 1947, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế và giữ chức vụ này cho tới năm 1961. 

Từ năm 1954, ông làm Giám đốc bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược Hà Nội. Ông đề cao việc tiếp thụ y học phương Tây để xây dựng và phát triển nền y học của Việt Nam, nghiên cứu bệnh tật và chữa trị cho người Việt Nam, đi đầu trong việc áp dụng các kỹ thuật phát triển ngành ngoại khoa Việt Nam. 

Ngày 5-5-1958, GS Tôn Thất Tùng thực hiện thành công ca mổ tim đầu tiên và đến năm 1965 ca mổ tim bằng máy tim – phổi nhân tạo đã thành công như mong đợi. Ông cũng là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học dioxin đến con người và môi trường tại Việt Nam, phương pháp điều trị các vết thương do bom bi, phương pháp điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật kết hợp dùng miễn dịch và rất nhiều công trình khoa học khác… 

Ngoài ra, ông còn có công lao to lớn trong việc đào tạo một đội ngũ các thầy thuốc có y đức, giỏi chuyên môn, là tấm gương người thầy mẫu mực, trung thực, say mê khoa học, hết lòng yêu thương học trò… 

Do công lao và những cống hiến to lớn đối với đất nước, GS Tôn Thất Tùng được Đảng và Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và kỹ thuật và nhiều huân, huy chương khác… 

Ngày 7-5-1982 ông qua đời tại Hà Nội. Hơn ba thập kỷ đã trôi qua, nhưng những cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, cho nền y học Việt Nam và thế giới của GS Tôn Thất Tùng còn sống mãi. Không chỉ Huế và Hà Nội mà ở cả TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hay Đồng Tháp đều có con đường mang tên ông. 

--------

Theo LINH QUANG / TTXVN

#Kinhdohue #TônThấtTùng

Monday, May 31, 2021

GIÁO SƯ PHAN ĐÌNH DIỆU (1936-2018): KHÍ PHÁCH & TRÍ TUỆ

Sáng nay tôi hỏi 5 bạn sinh trong thập niên 1980s, 3 bạn nói không biết GS Phan Đình Diệu. Tôi buồn nhưng không bất ngờ. Ông là một người mà thế hệ chúng tôi ngưỡng mộ, cả về tài năng và sự chính trực. Có lẽ vì sự chính trực ấy mà ông rất ít khi có mặt trên những bục vinh quang. Nhưng, những đóng góp thầm lặng của ông đặc biệt là trong vai trò đưa công nghệ thông tin vào VN đang ảnh hưởng lên cả những thế hệ không còn biết ông là ai nữa. 

GS Phan Đình Diệu là một trong những người đầu tiên gầy dựng ngành khoa học tính toán của miền Bắc (1968). Chiếc máy vi tính đầu tiên, có thể coi là của Đông Nam Á, ra đời năm 1980 [được thiết kế với chip Intel 8080A nên được đặt tên là VT80] là từ phòng thí nghiệm Viện Tin học của ông, bắt đầu từ những hợp tác trước đó với Viện Kỹ thuật Quân sự có sự giúp sức cả về chuyên môn và vật chất của ông André Trương Trọng Thi, người được coi là cha đẻ của máy tính cá nhân.

Theo tiến sỹ Vũ Duy Mẫn: “Năm 1981, sau khi lắp ráp thành công máy vi tính VT81 và cài đặt được ngôn ngữ lập trình Basic, Viện quyết định thử nghiệm đưa máy vi tính ứng dụng vào quản lý xí nghiệp cỡ nhỏ và vừa ở Xí nghiệp máy may Sinco”. 

Nhưng, cho dù có nhiều nỗ lực, ngành công nghiệp sản xuất máy tính chỉ dừng lại ở đó. Tin học là một ngành không thể phát triển trong một quốc gia tự đóng cửa về chính trị và bị cô lập về thương mại với thế giới bên ngoài. Rất tiếc là khi tình hình trong nước bắt đầu cởi mở hơn thì GS Nguyễn Văn Hiệu (người thay giáo sư Trần Đại Nghĩa, làm Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam) lại có những quyết định phi khoa học. Năm 1993, ông Hiệu loại GS Phan Đình Diệu khi ngành tin học Việt Nam cần một người lãnh đạo có tâm và có tầm nhất.

GS Hiệu nhận chức năm 45 tuổi. Ông có mọi ưu đãi của Chế độ, từ kinh phí nghiên cứu tới quyền hạn. Nắm Viện, ông Hiệu kêu gọi “các anh các chị hãy tự cứu mình”. Các công ty được thành lập, Viện khoa học Việt Nam nhanh chóng trở thành một nơi “nửa hàn lâm, nửa chợ trời”[theo TS Giang Công Thế]. Hàng nghìn cán bộ tài năng trôi giạt khắp nơi. Nền tin học Việt Nam chuyển một cách dứt khoát sang nghề… buôn máy tính. 

Dù GS Phan Đình Diệu là người viết đề cương thành lập viện Công nghệ thông tin theo mô hình mới và khi bỏ phiếu thăm dò, ông nhận được tín nhiệm của đa số tuyệt đối, GS Nguyễn Văn Hiệu vẫn chọn một người có số phiếu thấp hơn vì lý do “biết làm kinh tế”. GS Phan Đình Diệu tuyên bố từ chức Viện phó Viện Khoa học Việt Nam và ra khỏi biên chế, những chuyên gia trẻ hết lòng vì khoa học như Nguyễn Chí Công, Vũ Duy Mẫn, Lê Hải Khôi, Giang Công Thế… bắt đầu phiêu bạt.

Cho dù vậy, theo GS Chu Hảo - thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ thời kỳ internet được đưa vào VN - “GS Phan Đình Diệu vẫn là linh hồn của các chính sách phát triển công nghệ thông tin của nước ta”. Ông là Chủ tịch hội Tin học và là Phó Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia phát triển Công nghệ Thông tin cho tới năm 1998.

Nếu như, GS Nguyễn Văn Hiệu nổi tiếng là một người biết sử dụng khoa học để làm chính trị và leo lên tới các đỉnh cao danh vọng thì GS Phan Đình Diệu lại là một con người mà ngay cả trong chính trị cũng chỉ tham gia với tinh thần khoa học. 

Theo ông Trần Việt Phương - thư ký riêng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng - từ đầu thập niên 1960s, khi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng hỏi, GS Phan Đình Diệu đã cho rằng, hệ thống kinh tế Xô Viết sẽ sụp đổ nếu tiếp tục vận hành như thế này[Hy vọng là Trung tâm Lưu trữ quốc gia vẫn còn giữ được ý kiến này của GS Phan Đình Diệu].

Rất có thể, quyết định không bổ nhiệm GS Phan Đình Diệu vào năm 1993 của ông Hiệu còn có “lý do chính trị”. Từ năm 1989, GS Phan Đình Diệu có nhiều phát biểu về “đa nguyên” và đặc biệt là các ý kiến thẳng thắn của ông góp ý cho Hiến pháp 1992. 

Tháng 10-1988, sau khi giải quyết xong vấn đề “đa đảng”[giải tán hai đảng Dân chủ và Xã hội], Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh bắt đầu “chống đa nguyên” nhắm vào ông Trần Xuân Bách. Tháng 3-1989, Hội nghị Trung ương 6 khẳng định “Không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên”. Ngay sau đó trên báo Đảng, cả Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Trần Trọng Tân lẫn “nhà nghiên cứu” Trần Bạch Đằng đều có bài, trên tinh thần “Mác Xít”, nhấn mạnh rằng, “Nếu hiểu đa nguyên theo nghĩa triết học thì từ lâu đã bị phê phán là sai lầm. Chúng ta không chấp nhận”. 

Ngày 15-8-1989, GS Phan Đình Diệu có bài trên Sài Gòn Giải Phóng, đáp trả các luận điệu trên đây. Ông cho rằng, muốn “tìm đường đi cho đất nước trong thế giới hiện đại” thì phải “vận dụng trí tuệ của thời đại” từ “nhiều nguồn tri thức”. Theo ông, “Những gì xảy ra trong thế kỷ hai mươi là điều không thể hình dung đối với những bộ óc, dù là vĩ đại, của giữa thế kỷ mười chín”. 

Sau khi đọc bài của Giáo sư Phan Đình Diệu, từ Hà Nội, Bí thư Trần Xuân Bách gửi cho TBT Sài Gòn Giải Phóng Tô Hoà một tấm danh thiếp, mặt sau ghi: “Chuyển giùm anh Phan Đình Diệu, tôi ca ngợi bài này”. Đây là bài báo cuối cùng mà Tô Hoà cho đăng với tư cách tổng biên tập Sài Gòn Giải Phóng. Ngày 28-3-1990, Trung ương cách chức ông Trần Xuân Bách.

Hai năm sau, ngày 12-3-1992, trong một phiên họp góp ý cho Hiến pháp 1992, GS Phan Đình Diệu đã có một phát biểu rất gây tiếng vang ở Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Ông đề nghị “tạm gác lại” việc đưa vào Hiến pháp các thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx - Lenin”. Ông đề nghị phải dũng cảm để thấy rằng, “mô hình CNXH, cũng như Marx - Lenin không còn đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay”. Giai đoạn xây dựng một “tổ quốc Việt Nam trên tinh thần đoàn kết, hoà hợp và tự cường”.

Theo GS Phan Đình Diệu thì Việt Nam dứt khoát phải có “nhà nước pháp quyền”, chứ không thể tiếp tục “chuyên chính vô sản” hay “pháp quyền nửa vời”. Đặc biệt, ý kiến của ông về Mặt trận và các đoàn thể cho tới ngày nay vẫn còn rất thiết thực. Ông đề nghị, Hiến pháp chỉ cần coi lập hội là quyền tự do của người dân; từ bỏ việc nhà nước hoá các đoàn thể. Ông kêu gọi các đoàn thể thay vì dựa dẫm vào nhà nước phải lấy quần chúng làm gốc rễ, các cơ quan đảng, đoàn thể không ăn lương từ ngân sách. 

GS Phan Đình Diệu không sử dụng tài năng và danh tiếng của mình để mưu cầu bổng lộc hay địa vị. Những năm sau 1975, trong những ngày đói kém, từ Paris trở về, hành lý của ông vẫn chỉ có sách và các “bản mạch” dùng cho sản xuất máy tính. Khi phải xuất hiện trên các diễn đàn thì, cho dù ở giai đoạn nào, ý kiến của ông vẫn là ý kiến của một con người yêu nước, khí phách và trí tuệ.

Trương Huy San

May 14.2018

Friday, March 19, 2021

GS. LOVÁSZ LÁSZLÓ ĐOẠT GIẢI ABEL

 Báo Hung hôm nay rộ tin GS. VS. Lovász László, cựu Chủ tịch Hội Toán học Quốc tế (2007-2010) được Giải Abel, được xem như Giải Nobel trong Toán học. Nhiều bài phỏng vấn ổng rất hay, mà mình không đủ chuyên môn để dịch. Khoảng 16 năm trước mình có được đi nghe ông thuyết giảng (hay nói chuyện thì đúng hơn) 1 buổi về ứng dụng của toán lý thuyết trong đời sống - trong loạt bài giảng những kiến thức phổ cập cho người không trong chuyên ngành Toán (Mindentudás Egyeteme) - vô cùng thú vị.

GS. Lovász László (sinh năm 1948) là học sinh chuyên Toán trường Fazekas Mihály (Budapest) trong thời gian 1962-1966, và 3 lần liền đoạt HCV trong các kỳ Toán Quốc tế (1964, 1965 và 1966). Ông là “trùm sò” về Tổ hợp, đã cùng một trong những tên tuổi lớn nhất (và kỳ dị nhất) của Toán lý thuyết thế kỷ thứ 20 là Erdős Pál lập ra tạp chí “Combinatorica” (1981). GS. Lovász László cũng là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Hungary (2014-2020), Viện trưởng Viện Toán học Đại học Tổng hợp Budapest (ELTE).

Trước khi đoạt Giải Abel, GS. Lovász László đã sở hữu rất nhiều giải thưởng quan trọng về khoa học, như Giải Fulkerson (1982, 212), Giải thưởng Nhà nước Hungary (1985), Giải Pólya (1979), Giải Brouwer Medal (1993), Giải Wolf (1999), Giải Knuth Prize (1999), Giải Gödel (2001), Giải Neumann János (2006), Giải Széchenyi (2008), Giải Kyoto Prize in Basic Sciences (2010), Giải Kyoto (2010), và là thành viên của Hội Toán học Mỹ (American Mathematical Society, 2012), Công dân Danh dự Budapest (2018).

GS. Lovász László cũng đã từng sang Hà Nội giảng bài trong Hội nghị Tính toán Hiệu năng cao, và là thầy của GS. Vũ Hà Văn, một trong những gương mặt toán học sáng giá nhất hiện tại của Việt Nam. Trước ông, cũng đã có hai nhà toán học Hungary nhận Giải Abel, là Lax Péter (2005) và Szemerédi Endre (2012).

Nguyễn Hoàng Linh

Vu Hoai Chuong (bổ sung):

Đọc tiểu sử của GS Lovász László, chắc ít người chú ý đến chi tiết sau đây:

1966-ban kezdte meg egyetemi tanulmányait az ELTE matematikus szakán. 1971-ben szerezte diplomáját. 1970-ben védte meg a matematikai tudományok kandidátusi, 1977-ben akadémiai doktori értekezését.

Như vậy ông nhận học vị tiến sĩ (kandidátus) toán học năm 1970, trước khi nhận bằng cử nhân năm 1971.

Hồi đó báo chí Hung đã đăng về chuyện này. Khi là sinh viên năm thứ tư đại học, ông nộp một công trình trong nhóm SV nghiên cứu khoa học (tudományos diákkör). Công trình có nhiều kết quả mới nên các phản biện đề nghị đặc cách công nhận ông là kandidátus. Một phản biện còn đánh giá công trình của ông xứng đáng với luận án TSKH.

Nền giáo dục Hungary rất nghiêm khắc, tuy là tiến sĩ nhưng ông vẫn phải học thêm năm cuối mới có bằng cử nhân. Theo tôi hiểu, học vị TS là thành quả nghiên cứu chuyên sâu về một hướng hẹp, còn bằng cử nhân bảo đảm kiến thức toàn diện để có thể làm việc, giảng dạy trong ngành.

Trong 5 năm sinh viên, ông bị 1 điểm 4 về hình học.

Thursday, January 2, 2020

Tướng Vĩnh - 'kẻ sĩ thức tỉnh, nhà yêu nước hợp thời cuộc'

Cựu Đại sứ, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (1916 - 2019) được coi là một nhà yêu nước, người có tư tưởng cải cách và nhà phản biện chính trị, xã hội có uy tín

Cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh là người mang trong mình tinh thần của tiền nhân như Chu Văn An, Ức Trai và dám chủ động 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa' để trở thành 'nhà yêu nước hợp thời cuộc,' theo một nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Minh Triết Việt Nam.

Bình luận với BBC News Tiếng Việt hôm 26/12/2019 về việc Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vừa từ trần tại Hà Nội ở tuổi 104, ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm nói:

"Tư tưởng thì có thể nói ông là một con người lão thực, xem xét vấn đề ngược xuôi, tình lý, và vì thế ông là một người sẵn sàng tự diễn biến, tự chuyển hóa từ cái chỗ mình là người cộng sản, nhưng mà chuyển hóa thành một con người yêu nước mà hợp với thời cuộc, sẵn sàng phê phán những sai trái của đảng của mình.

"Những lỗi lầm của đảng của mình cũng không bỏ qua, cũng đóng góp và ông là người cương trực có thể có nét này là trong người ông có tinh thần của Chu Văn An, của Nguyễn Trãi, thừa hưởng cái tinh thần ấy.

"Cho nên ông cương trực góp ý kiến, ông đề xuất những vấn đề rất lớn của thời cuộc hiện nay, ông phê phán những chính sách đối thoại thân Trung Quốc, ông phê phán chính sách và hành động bành trướng đại Hán, gian hiểm của Trung Hoa hiện nay.

"Và ông để tâm đến rất nhiều công việc thời sự, trong một ông già tám, chín mươi rồi một trăm tuổi, mà luôn luôn thức thời, đấy là con người hiếm có...

"Ông theo dõi thời sự như thế không phải như những anh Khốt-ta-bít hiện nay ở trong nước đâu, điều hết sức đặc biệt đối với ông mà tôi hết sức khâm phục và chúng tôi nói với nhau là đấy là một nhà minh triết hiện đại của dân tộc...

"Có thể nói, tôi gọi ông là một con người thức tỉnh, ông không giáo điều.

"Con người này không hề giáo điều một chút nào hết và rất tỉnh táo để mà phân biệt cái đúng, cái sai, cái lạc hậu, cái tiên tiến, cái hợp lý với thời cuộc, văn minh, hiện đại, nhân văn với cái hủ bại mà chúng tôi gọi là cái 'hủ Marx' - tức là một thứ Marxism hủ lậu, quê mùa, lạc hậu, bảo thủ.

"Thì có thể nói ông già Nguyễn Trọng Vĩnh này là một con người rất là thức thời, đúng là một kẻ sĩ thức tỉnh mà trở thành tấm gương cho chúng tôi, cho các anh em và cho các bạn trẻ nữa," nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương ĐCSVN nói.

'Chuyển biến và gương sáng'

Cũng hôm 26/12, Kiến trúc sư Trần Thanh Vân, người từng tu nghiệp ở Thượng Hải, nói về vị cựu Đại sứ từng có 13 năm đứng đầu đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc và nhấn mạnh vào sự thay đổi tư duy lúc cuối đời của ông:

"Phải nói là ông là một tấm gương tất cả chúng tôi noi theo, một sự kiên trì sáng suốt, sống trong sạch.

"Còn việc ông là một vị Đại sứ, Thiếu tướng và đảng viên đảng Cộng sản, thì tôi cũng rất vui mừng nhận ra rằng ông đã có những biến chuyển và nói ra được những lời biến chuyển lúc cuối đời.

"Trước kia, kẻ xấu ông chê, nhưng ông luôn cảm thấy rất là coi trọng chuyện phải vẫn giữ đảng Cộng sản, làm sạch dần đi, nhưng rồi dần dần ông cảm thấy chuyện đó vô lý và những ngày cuối đời ông có được những câu nói là thay đổi phải sửa hẳn, phải bỏ nó đi hẳn.

"Còn làm cái gì cho nó tốt hơn, thì những người sáng suốt phải làm, bây giờ thì không thể làm được nữa.

"Một người chúng tôi rất thương quý, nhưng mà tôi thấy là ông từng khá là bảo thủ, tức là những gì đã tôn thờ cả tuổi trẻ, cả đời thì vẫn cứ tôn thờ, nhưng đến giờ phút chót, hơn một năm nay, thì ông nói được những lời khác.

"Sau đó để xác minh lại, tôi ngồi với chị Nguyên Bình (con gái của Tướng Vĩnh), thì chị nói đúng thế, ông đã thấy là không thể chấp nhận là nó tồn tại song song được.

"Cái gì cần phải từ bỏ, thì từ bỏ. Chính điều ông nói đó làm cho nhiều người cảm thấy là phải từ bỏ những điều mình đã cố bám lấy, bởi vì sự ngoan cố, sự trì trệ kéo dài ấy làm cho đất nước bị đau khổ, khó chịu như là cảnh cam phận nhiều quá.

"Bởi vì đông nhất trong hàng ngũ cán bộ cũ, những người tốt, (tôi không nói những người xấu, những người mà biến chất, mà làm bậy, tai tiếng), ta nói là người tốt đấy, họ vẫn bị ám ảnh về cái gì mà từ thời đại Hồ Chí Minh đã có, thì bây giờ phải giữ, thì nay chính ông đã thấy phải thay đổi."

Bàn thêm về nhân cách và di sản của Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, từ Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện nói:

"Ông là một con người am hiểu văn hóa, là một con người rất mềm dẻo và có một phong cách ngoại giao rất lịch sự và ôn hòa, nhưng mà cũng vô cùng cương quyết.

"Nhân cách, con người của ông Nguyễn Trọng Vĩnh, con người giản dị, mực thước và lão thực của ông là một tấm gương.

"Và đấy có thể coi là một di sản lớn mà ông Nguyễn Trọng Vĩnh có gửi lại cho chúng ta.

"Và trong niềm kính tiếc vô cùng như thế này, thì những bài học đó và tấm gương của ông Nguyễn Trọng Vĩnh sẽ được những người dân Việt Nam yêu nước học tập và noi theo," Tiến sỹ Diện chia sẻ với BBC.

Saturday, September 14, 2019

Tư liệu quân đội: Tướng và tá

4 VỊ TƯỚNG CÚI ĐẦU TRÊN GIƯỜNG MỘT TRUNG TÁ
thật xúc động ! Một bức ảnh và nội dung với ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Người nằm trên giường là Trung tá Đặng Văn Việt, Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174, một trong 3 trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ông từng được thực dân Pháp mệnh danh là "Hùm xám đường số 4" do thành tích chỉ huy đơn vị trong Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, bắt sống cả hai chỉ huy binh đoàn Pháp là trung tá Marcel Lepage và Pierre Charton.
Bài viết và ảnh: Giang Mèo
----------------------------------------------------------
Hà Nội một ngày tháng 11 tiết trời trở lạnh, khu điều trị tích cực Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô nằm trên tầng 8 im ắng đến đáng sợ. Từ cửa thang máy đi ra bốn vị tướng quân đội, dẫn đầu là một người đàn ông rất lớn tuổi trong bộ quân phục bạc màu, đôi cầu vai đeo quân hàm trung tướng.
Vừa bước đi, vị trung tướng già dẫn đoàn vừa hỏi cô y tá:
- Cháu cho hỏi ông Việt lão thành cách mạng nằm ở phòng nào?
- Dạ ông ấy nằm ở phòng 810 ạ, ông là thế nào với ông ấy ạ?
- Ông là cấp dưới của ông ấy!
Người đàn ông lớn tuổi trả lời nhanh gọn dứt khoát. Cô y tá tròn mắt, ngỡ ngàng ngước lên nhìn thật kỹ vị tướng đã chạm 94 tuổi đang thoăn thoắt đi lại phía cửa phòng 810.
Bên chiếc giường phủ tấm ra trắng toát, một ông lão gầy guộc đang nằm lim dim ngủ.
Vị trung tướng già chậm rãi đi tới, đôi tay trận mạc to bè gân guốc sẫm đồi mồi khẽ đưa ra nắm lấy tay người đang nằm rồi cất giọng gọi:
- Anh Việt ơi, em là lính của anh đến thăm anh đây.
Ông lão suýt soát 100 tuổi đang nằm trên giường bệnh khẽ trở mình, mở đôi mắt già nua mờ đục ra nhìn hồi lâu rồi nói:
- Ai đấy? Ai đấy?
Một vị trung tướng khác trẻ hơn đứng bên cạnh trung tướng già vội cắt lời:
- Cháu Nguyễn Mạnh Đẩu ở Lục quân đây ạ. Đây là Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4. Bên này là Thiếu tướng Tạ Quang Chính - con trai Bộ trưởng Tạ Quang Bửu; bên này nữa là Thiếu tướng Hồ Thủy - con gái anh Hồ Sỹ Ngận.
Trên giường bệnh, ông lão vừa dứt cơn ho, đưa tay ra nắm chặt tay vị trung tướng rồi khẽ mỉm cười. Ông không nói thành lời nhưng đôi môi run run, những tiếng thở cứ dồn dập thành đợt.
Vị trung tướng già tiếp tục nói:
- Anh Đặng Văn Việt ơi, hổ xám đường số 4 ơi, em Quốc Thước, lính của anh đây. Ngày nào anh làm trung đoàn trưởng, em mới còn là trung đội trưởng, thế mà giờ đã trăm tuổi cả rồi anh ơi...
Nói đoạn, ông đưa gói quà nhỏ đã chuẩn bị kỹ từ nhà cho người đang nằm trên giường bệnh. Căn phòng đầy chật nghĩa tình, những bệnh nhân già khác đang nằm đều ngẩng lên dõi theo câu chuyện, mấy cô y tá và anh bác sĩ trẻ ngơ ngẩn nghe.
Bốn vị tướng đứng vây quanh giường bệnh. Ông lão nằm trên giường dứt tiếng thở khò khè định nói gì đó mà không được. Ánh mắt ông tươi vui hơn hẳn ngày thường.
Vị trung tướng già cười rạng rỡ, nắm chặt tay người thủ trưởng rồi nói:
- Anh mau khỏe, hôm nào anh về bọn em qua thăm, uống rượu, kể chuyện Đường số 4, chuyện kéo cờ ở Kỳ đài Huế... Rồi anh còn đi đánh tennis, đi xe máy, khiêu vũ nữa chứ...
Ông lão nằm trên giường bệnh gật đầu nhẹ, khẽ mỉm cười.
Cô y tá trẻ quay sang hỏi tôi:
- Anh ơi, ông cụ chắc phải là thượng tướng, đại tướng đấy nhỉ?
Tôi nhìn cô một lát rồi trả lời:
- Không em ạ. Ông ấy cả đời chỉ đeo quân hàm trung tá. Nhưng ông ấy là một huyền thoại!
Cô y tá ngơ ngác hồi lâu rồi bất chợt đưa tay lên lau vội giọt nước mắt vừa lăn xuống má...
11.09.2019

Monday, September 9, 2019

Tư liệu về bác Nghĩa.

"Ông Phật làm súng" từ bỏ lương 22 lạng vàng để làm việc đại nghĩa

Được Bác Hồ giao trọng trách lo vũ khí cho bộ đội ngay sau khi trở về, Trần Đại Nghĩa đã bắt tay ngay vào công việc và có những phát minh làm lay chuyển cục diện chiến trường.

Trong cuốn "Trần Đại Nghĩa - Nhà bác học Việt Minh" (NXB Trẻ, 2015), tác giả Thành Đức, cựu chiến binh quân giới, thư ký giúp việc của GS, thiếu tướng Trần Đại Nghĩa từ việc tìm hiểu các nguồn tư liệu khả tín và qua lời kể của chính nhân vật mà ông được nghe trực tiếp, đã phác họa lên chân dung một “đại trí thức”, một nhà khoa học lớn, một vị tướng đem hết tài năng, tâm đức hiến dâng cho tổ quốc.

Từ bỏ mức lương 22 lạng vàng theo Bác trở về Tổ quốc làm việc đại nghĩa

Trần Đại Nghĩa (1913-1997) tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ở Chánh Hiệp, Tam Bình, Vĩnh Long. Cha ông là Phạm Văn Mùi làm nghề dạy học, mẹ ông là bà Lý Thị Diệu. Ông mồ côi cha lúc 6 tuổi. Năm 1930, ông thi đỗ vào đệ nhị cấp Pétrus Ký tại Sài Gòn.

Năm 1933, ông đỗ thủ khoa Tú tài bản xứ, lẫn tú tài Tây. Nhờ sự giúp đỡ của nhà báo Vương Quang Ngươu, ông được Trường Chasseloup Laubat cấp cho một năm học bổng sang Pháp theo học một lớp dự bị để thi vào đại học.

Năm 1936, ông trở thành sinh viên Đại học Quốc gia Paris và bước đầu mở được cánh cửa vào con đường nghiên cứu vũ khí. Sau khi có tấm bằng kỹ sư ông làm việc ở Pháp. Năm 1942, ông sang Đức làm trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.

Ngày 22/6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, hay tin, ông đã đến sân bay Le Bourget để chào đón Người.

Được bác sĩ Hoàng Xuân Mãn (em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn), Chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp giới thiệu, ông được tiếp kiến Bác. Sau đó, nhiều lần ông được tháp tùng Bác đi thăm nói chuyện với Việt kiều. Những ngày ở gần Bác, ông đã cảm phục và quý mến vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Trí tuệ, và sự uyên thâm của Bác đã cho ông một niềm tin để đi theo Người thực hiện hoài bão lớn ấp ủ bấy lâu.

Có lần Bác hỏi: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”. Ông đã trả lời rất nhanh: “Dạ thưa, nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”. Những lần sau, khi nói chuyện với Bác, ông đã chia sẻ những điều ông học được và 30.000 trang tài liệu về vũ khí ông thu thập được. Bác nói ông cần giữ kín để tránh phiền hà về sau.

Hội nghị Fontainebleau không thành, sau khi ký bản Tạm ước với 14/9/1946 với Pháp, Bác đã cho gọi Phạm Quang Lễ: “Bác sắp về nước, chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường về nước. Chú sẵn sàng chưa?”. Ông sung sướng trả lời: “Thưa Bác, cháu đã sẵn sàng”.

Ngày 19/9/1946, ông về nước cùng Bác trên chiến hạm Dumont d’Urville từ cảng Toulon và mang theo 1 tấn tài liệu được đóng hòm dán nhãn “ngoại giao”. Trong hồi ký Trở về Tổ quốc kính yêu, tác giả Thành Đức dẫn lại trong sách, ông đã chia sẻ những gửi gắm của mình với bạn bè ở Paris. Trước khi theo Bác trở về Tổ quốc, ông được hưởng mức lương của kỹ sư trưởng là 5.500 fance/tháng, tương đương với 22 lạng vàng.

Những phát minh làm lay chuyển cục diện chiến trường

Ngay sau khi trở về nước, Phạm Quang Lễ được cử lên xưởng quân giới Giang Tiên ở Thái Nguyên tham gia nghiên cứu chế tạo súng chống tăng theo mẫu Bazooka của Mỹ với hai viên đạn dự trữ do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu cung cấp. Ngày 5/12/1946, Bác gọi ông về Hà Nội trực tiếp giao ông làm Cục trưởng Cục Quân giới (đóng tại Ứng Hòa) với nhiệm vụ “lo vũ khí cho bộ đội”. Cùng nhiệm vụ được giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho ông là Trần Đại Nghĩa (có hàm ý làm việc đại nghĩa).

Về Ứng Hòa, ông tiếp tục việc nghiên cứu chế tạo súng Bazooka. Từ những kiến thức thu thập được qua các tài liệu mật ở nước ngoài, với trình độ cử nhân toán cao cấp, ông và các đồng chí của mình đã chế thử thành công Bazooka (B60), sau đó ông hoàn chỉnh bản vẽ chi tiết và chuyển đến các xưởng quân giới ở Việt Bắc.

Đầu tháng 3/1947, súng Bazooka đã lập chiến công đầu tiên. 10 quả đạn và 3 khẩu súng chuyển về Trung đoàn Thủ đô do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy đã bắn cháy 2 xe tăng của thực dân Pháp tại chùa Trầm, Quốc Oai (Hà Tây cũ) khi chúng đánh chiếm thị xã Hà Đông.

Đến tháng 4/1947, Bazooka đi vào sản xuất hàng loạt, gửi các chiến trường.

Ghi nhận cống hiến của Trần Đại Nghĩa, trong đợt phong tướng đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 117-SL ngày 25/1/1948, phong ông quân hàm thiếu tướng.

Sau Bazooka, Trần Đại Nghĩa đã cùng các kỹ sư cộng sự gần gũi như Lê Tâm, Nguyễn Trinh Tiếp tiếp tục nghiên cứu một loại vũ khí mạnh hơn, có khả năng tiêu diệt các boong ke, lô cốt kiểu mới của địch. Sau một thời gian thực nghiệm, súng đại bác SKZ 60 đã chế thử thành công. Đây là loại vũ khí công đồn nặng khoảng 26 kg, có thể tháo rời để mang vác, đầu đạn nặng khoảng 9 kg, có thể xuyên thủng bê tông dày trên 60 cm, khi bắn ở cự ly tối ưu.

SKZ 60 được ứng dụng ngay trên chiến trường và lần đầu lập chiến công xuất sắc, phá tan boong ke kiên cố của giặc Pháp trong chiến thắng ở Phố Ràng, chiến thắng Phố Lu trong chiến dịch Lê Hồng Phong cuối năm 1949.

SKZ đã làm giặc Pháp khiếp sợ. Trong cuốn Chiến tranh Đông Dương, xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: "Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60 cm là những quả đạn SKZ 8kg mà người Việt chế tạo trong các hang núi ở Đông Dương. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được tháp canh của chúng tôi".

Bên cạnh chế tạo súng, ông còn chỉ đạo anh em Cục Quân giới chế tạo bom bay. Đầu năm 1948, sau gần 3 tháng nghiên cứu thành công, bom bay do Việt Nam chế tạo ra đời. Đầu năm 1949, bộ đội ta bắn thử loại bom này. Khi bắn quả đạn bay qua sông Hồng rơi đúng vào trung tâm chỉ huy của Pháp ở Bác Cổ. Tuy thiệt hại vật chất không lớn, nhưng loại bom này đã khiến quân Pháp khiếp sợ hoang mang.

Ngoài chế tạo vũ khí, ông còn mở nhiều lớp đào tạo kỹ thuật vũ khí và trực tiếp đứng lớp. Qua các bài giảng, ông đã trang bị cho anh em những kiến thức cơ bản về kỹ thuật vũ khí. Hầu hết học viên do ông đào tạo sau này đều là những cán bộ chủ chốt.

Sau 3 năm được giao nhiệm vụ “lo vũ khí cho bộ đội”, thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đưa ngành quân giới non trẻ phát triển mạnh mẽ. Những vũ khí Cục quân giới chế tạo đã góp phần quan trọng để bộ đội ta giành thắng lợi trên các chiến trường, đặc biệt là chiến dịch biên giới 1950. Năm 1952 tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua lần thứ nhất ông được vinh danh Anh hùng lực lượng vũ trang.

Sau chiến thắng Điện Biên phủ, Hiệp định Genève ký kết, Trần Đại Nghĩa được cử làm Thứ trưởng Bộ Công thương. Năm 1966, trước sự leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, ông được điều động trở lại phục vụ quân đội với cương vị là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên trách về mặt kỹ thuật vũ khí quốc phòng. Ông đã có nhiều đóng góp lớn trong việc tìm biện pháp kỹ thuật chống chiến tranh phá hoại, phá hệ thống thủy lôi của địch, chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho bộ đội đặc công, tìm phương án đánh B52, góp phần cải tiến SAM 2.

Không chỉ là một nhà khoa học chế tạo vũ khí ông còn có nhiều đóng góp trong việc xây dựng Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện Khoa học Việt Nam… và là tấm gương khoa học sáng mãi trong lòng hậu thế.


(ẢNH: Cuối tháng 9/1946, Phạm Quang Lễ (đeo kính, đứng hàng sau cùng) cùng các trí thức Việt kiều theo Bác trở về Tổ quốc trên chiến hạm Dumont d’Urville. Ảnh tư liệu)