Showing posts with label Từ phương trời ấy. Show all posts
Showing posts with label Từ phương trời ấy. Show all posts

Sunday, April 20, 2025

Sống & hòa nhập

 Kính chào tất cả mọi người .

Sau 6 năm sống và làm việc trên đất nước Hungary xinh đẹp này.Gặp rất nhiều người,chơi rất nhiều trò chơi con người và tiếp xúc với bao nhiêu thành phần,tầng lớp xã hội trong cái thủ đô nhỏ bé này.

Sau 6 năm sống và làm việc .Sau một thời gian dài cảm nhận và suy nghĩ và đắn đo .Hôm nay có chút thời gian ,ngồi nhâm nhi  ly cà phê viết lên trang vài dòng chia sẻ  mang " TÂM SỰ CỦA NGƯỜI CHA" 

Mỗi thời điểm mỗi khác :

Thời các cô, các chú, các bác THA HƯƠNG là để Tạo Gia.Thời như chúng tôi tha hương  là để HỌC HỎI  và KHỞI NGHIỆP  .Đặc biệt thế hiên nay tha hương dường như là để HƯỞNG THỤ . ĐÓ chính là hệ lụy của sự nuông chiều mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau( thế hệ mà họ gọi là Gen Z)

Cho đến hôm nay sau mấy chục năm ,gần nữa thế kỹ mà "TĨNH QUỐC HỒN CA " của cụ Phan Châu Trinh vẫn còn hiện hữu trong cái xã hội này thật là đáng buồn.

Thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta hãy cùng nhau thay đổi và xây dựng một cộng đồng Khuyến Học ,thế hệ Gen Anpha sau này sẻ là trụ cột của cộng đồng ,của đất nước .

Kính thưa tất cả mọi người: Đa phần mọi người đều nghĩ rằng nước Nhật giàu mạnh là do nước đế quốc, nước phát xít nhưng thực sự thì sau 3 năm sống ,học tập và làm việc tại nhật bản đã cho mình biết đối với nước Nhật tài sản lớn nhất là Con người,họ chú trọng tạo ra con người vì họ xác định tài sản lớn nhất là con người.Thủa sơ khai họ chú trọng sức mạnh cơ bắp để chống chọi với sự khắc nghiệt của thời tiết,để tồn tại.Thời hưng vượng họ chú trọng phát triển trí óc để tạo ra của cải.Còn Việt Nam vì có lợi thế rừng vàng ,biển bạc thiên thời địa lợi nhân hòa nên sinh ra cái thói hưởng thụ từ tự biến mình thành những kẽ suy nhược và bị xâm chiếm và bóc lột.Đừng đổ lỗi cho họ  đế quốc, là thực dân .Xuất phát điểm giống nhau nhưng các nghĩ khác nhau đã tạo ra con người ,hành động khác nhau và kết quả cũng khác nhau."VÌ SAO BẠN MUỐN SANG NHẬT?! TÔI MUỐN SANG NHẬT ĐỂ HỌC TẬP CÁCH LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI NHẬT SAU NÀY VỀ CỐNG HIẾN CHO ĐẤT NƯỚC"

Đó chính là câu hỏi và trả lời cho mọi Thực tập sinh,nghiên cứu sinh,du học sinh khi muốn sang Nhật học tập và làm việc.

Kính thưa tất cả mọi người: nếu chúng ta cố gắng kiếm thật nhiều tiền ,để hưởng thụ,sống ảo và chek in thì nó chỉ dừng lại ở mục kiếm Sống chứ không phải làm Giàu.

Kiếm sống và làm giàu tuy cùng 1 mục đích   nhưng làm giàu là biết đủ và biết cho đi.Hiện nay Việt Nam chúng ta không ngừng phát triển và cũng đã đến lúc chúng ta nên tạo cho thế thệ sau 1 nên tảng để quay về giống như Hàn Quốc cách đây 50 ,69 năm về trước vậy? Giả sử : chứ nói đến hàn quốc nhật bản,singapo mà nếu hiện tại việt nam ngang bằng Hungary( kimh tế,an sinh xã hội...) liệu có ai không thích quay về quê cha đất tổ không?! Chắc chắn là không?Vì thế hơn lúc nào hết, ngay bây giờ chúng ta nên  cùng nhau chung tay xậy dựng một cộng đồng Khuyến Học để thế hệ sau có 1 nền tảng để quay về.Không biết mọi người suy nghĩ thế nào nhưng  đối với tôi " ĐI LÀ ĐỂ QUAY VỀ CHỨ KHÔNG PHẢI ĐI LÀ ĐI MẤT".Bây giờ đa phân trẻ ở bên này không biết tiếng việt,nghiễm nhiên chúng được mặc định là sống ở trời Âu và làm các công việc cha mẹ đã sắp sẵn từ đó sinh ra thiếu ý chí và bản linh.

Ngay cạnh khu nhà trọ của mình có 1 ngôi trường của Tàu chỉ dạy cho con em Tàu.

Thứ 7, CN từ trẻ nhỏ đến học sinh cấp 3 đều tập trung ở đó để học tiếng Tàu, văn hóa Tàu cũng có thể là cả đường lối chính trị của Tàu.

Kính thưa mọi người: mình biết có Tâm,có Tầm  thôi chưa đủ để kêu gọi ai hành động .Trong cộng đồng mình ,người lắm tiền nhiều của thì đầy.Nhưng  nếu trong cộng đồng có 1 người có Tâm ,có Tầm ,có tầm ảnh hưởng trọng cộng đồng đứng ra kêu gọi thành lập 1 Trung tâm văn hóa cộng đồng,Trường giáo dục đào tạo mình xin trích 2% số tiền mình kiếm được hàng tháng để đóng vào quỹ KHUYẾN HỌC này. 

Bài viết này không nhằm mục đích quảng cáo cá nhân mà vì vận mệnh tương lai của thế hệ trẻ. Mình hiện là cha của ông bố 3 con,năm nay đã 43 tuổi, đoản miênh như đa phần người việt ở Viêt Nam thì chắc cũng được tầm 20 > 30 năm nữa nên muốn có một nên tảng vững chắc để quay về sau khi không còn cha mẹ nó bên cạnh.

Bài viết này là tâm sự của người cha. Hi vọng bài viết này có thể đi được vào trái tim và lòng trắc ẩn của mọi người trong cộng đồng.

Chúc mọi người có 1 buổi chiều cuối tuần vui vẻ!

Nguyễn Minh Khang (Sàn tin Budapest)

Thursday, January 25, 2024

Người dịch thơ Hung

 VĨNH BIỆT ANH NGUYỄN THỤ!

“Thi ca của Hungary, một xứ sở xa xôi và có ngôn ngữ riêng biệt, “không giống ai”, thật bất ngờ, lại đến Việt Nam từ rất sớm, thông qua các bản dịch từ tiếng Pháp. Thơ József Attila cũng đến với chúng ta từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Dường như có một cái gì chung giữa tâm thế và tình cảm của cư dân hai xứ sở, cộng với sự mẫn cảm đặc biệt của các nhà thơ kiêm dịch giả Việt Nam đầu tiên của nền thơ Hung (Tế Hanh, Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Trung Thông, Vũ Tú Nam...), khiến các thi phẩm của József Attila - dù được chuyển ngữ thông qua một ngoại ngữ thứ ba - đã được Việt hóa ở mức tối đa và rất thân thuộc, gần với cảm nhận của độc giả Việt.

Tuy nhiên, với thời gian, độc giả Việt Nam hẳn có quyền đòi hỏi những bản dịch khác, có hệ thống và đầy đủ hơn, chuẩn xác hơn, từ nguyên bản tiếng Hung. Nhiều thế hệ các du học sinh Việt Nam tại Hung đã làm công việc đó, chúng ta đã được thưởng thức nhiều bài thơ văn Hung từ các dịch giả Trương Đăng Dung, Vũ Ngọc Cân... Có điều, chuyển ngữ một số lớn thơ József Attila một cách hệ thống, chi tiết, có chọn lọc, và trong đa số các trường hợp, giữ được hơi thở, mạch thơ và nắm bắt được “hồn” của tác giả, có lẽ mới chỉ có Nguyễn Thụ, dịch giả tuyển thơ mà quý độc giả đang cầm trong tay.

Mấy chục bài thơ của thi hào Hung trong tuyển tập này chỉ là một phần nhỏ trong hơn 200 bài thơ József Attila mà Nguyễn Thụ đã dịch với bao trải nghiệm của cuộc đời, trong vòng 30 năm qua. Vốn là một du học sinh, tốt nghiệp khoa Máy Đại học Bách khoa Budapest giữa thập niên 70 thế kỷ trước, rồi trở lại Hung vào những năm cuối thập niên 80, bươn chải làm đủ mọi việc để sinh kế trên xứ người, trong gần hai chục năm ở Hung, với niềm say mê thi ca vô bờ bến, Nguyễn Thụ đã tự tạo cho mình một bầu không khí, một “môi trường” rất “Hung” để, hơn ai hết, ông có thể tiếp cận với thi nghiệp các nhà thơ lớn của Hung, trong đó József Attila là một tác gia chính.

Đọc các bản dịch thơ József Attila mà Nguyễn Thụ đã suy ngẫm ròng rã và âm thầm suốt ba thập niên - nhất là bản dịch các thi phẩm lớn như “Gửi Juhász Gyula” (Juhász Gyulának), “Tụng ca” (Óda), “Bài ca của người Hung buồn” (Bús magyar éneke), “Mẹ” (Mama)... - hi vọng các độc giả sẽ tìm thấy và cảm nhận được một tâm hồn Hung, một trí tuệ Hung vĩ đại, người với trực cảm thơ ca đã vượt khá xa thời đại ông sống cùng những hạn chế của nó.

Chẳng những là một dịch giả, Nguyễn Thụ còn là một nhà thơ theo nghĩa đích thực của từ này. Ở ông, vai trò một dịch giả và một nhà thơ đã hòa quyện và thúc đẩy lẫn nhau, giúp ông vẫn có được cảm hứng mạnh mẽ khi đã quá độ tuổi “tri thiên mệnh”. Nguyễn Thụ làm thơ từ thuở còn đi học và từ đó, thơ đã theo ông trên mọi bước đường đời, nhiều lúc, đã là người bạn tri âm duy nhất khi ông gặp nỗi khổ đau và những nhọc nhằn nhân thế. Ông sáng tác nhiều, nhưng có lẽ chỉ cho mình, chứ ít  nhằm đăng tải; thơ của ông rải rác trong sổ thơ của bạn bè, trên những tờ giấy một mặt dùng lại, những tấm bìa carton lăn lóc ngoài chợ trời xứ lạ, nghĩa là đẫm vị Đời và Tình, những gì mà vì chúng ông sống. Một phần nhỏ trong kho sáng tác của Nguyễn Thụ, được giới thiệu trong tuyển tập này, sẽ cho độc giả thấy ít nhiều về “con người thơ” của ông.

Được tác giả cho phép có vài lời phi lộ, lẽ ra tôi phải viết nhiều hơn về Nguyễn Thụ và những gì ông đã làm. Nhưng vì biết ông, dù cũng đã có trên dưới ba chục năm trong nghiệp cầm bút, vẫn cảm thấy như mình là kẻ mới vào nghề trong gian đại sảnh của thi ca, và luôn coi mình là người học trò nhỏ, hậu sinh của thi hào vĩ đại József Attila, nên mấy dòng này chủ yếu chỉ nhằm vào bậc thầy mà Nguyễn Thụ luôn ngưỡng mộ.

Còn về những thi phẩm và dịch phẩm của Nguyễn Thụ, xin để độc giả cho ý kiến cuối cùng!”.

*

Đó là một đoạn mình viết về thơ và thơ dịch của Nguyễn Thụ, đăng trong tập thơ và thơ dịch của anh cách đây 15 năm ở Việt Nam. Thuở ấy, ai có sách in ở Việt Nam, mà là sách văn học, hẳn là “xịn” lắm. Trường hợp anh Nguyễn Thụ, cả nhóm “bạn văn” - nói cho oai, chỉ mấy anh em gọi là có quan tâm và hệ lụy đôi chút với chữ nghĩa, quây quần quanh tờ NCTG khi đó mới ra vài năm - đều mừng, vui và hãnh diện cho anh.

Nguyễn Thụ từng có thơ (và thơ dịch) đăng trên các báo “Văn nghệ”, “Văn nghệ Quân đội”... khi còn ở Việt Nam cuối thập niên 80. Tuy nhiên, chỉ sau khi NCTG ra đời ít lâu, mình mới được biết tới anh như một cây bút làm thơ, dịch thơ đam mê và cuồng nhiệt đến kỳ lạ mà với mình, dưới con mắt của một người buộc phải “tỉnh táo” để làm báo, chứ không thể luôn mơ màng, thì không phải lúc nào cũng nắm bắt được hết.

Có những giai đoạn (thời 2003-2005) Nguyễn Thụ cộng tác và gửi thơ liên tục cho NCTG bằng rất nhiều cách, có lúc đọc qua điện thoại cho mình chép, có lúc gửi sms, có lúc tiện thể viết lên bất cứ thứ giấy gì mà anh tiện tay vớ được trong lúc trông hàng cho vợ, chị Mai, người phụ nữ rất tần tảo yêu thương anh, và cũng không ít phen phát bực vì ông thi sĩ không mấy khi tỉnh và không mấy khi bên người không có lon bia, ly rượu này.

Nói vậy, chứ ai biết được là anh có tỉnh không, kể cả những khi trời chiều, mình đi bán báo dạo về (mà trong các phỏng vấn sau này mình gọi hành động đó một cách mỹ miều là “trực tiếp đi phát hành báo”), ghé vào quầy của anh chị nằm đường hoàng ngay giữa chợ, được anh cho cốc trà, tấm bánh, có lúc bát phở “cho nó hoàn hồn đi em!”, rồi cứ thế ngồi im, có lúc ngẩng mặt lên trời, rất mông lung, chắc là để rượt đuổi theo một tứ thơ nào đó.

Hai anh em đã có không biết bao nhiêu dịp như thế, mình thì kể thao thao bất tuyệt về số báo mới ra kèm những “sự cố”, câu chuyện có liên quan mà loại “trần tục” như mình coi là thú vị, anh cứ ngồi gật gù, cũng không biết có thèm nghe không, đôi lúc “phán” một câu gì đó hoặc bật dậy xếp hàng cho khách, nhưng rất dễ thấy là thế giới thơ của anh đương nhiên không đồng nhất với thế giới của đứa luôn phải suy nghĩ làm sao ra được số báo tiếp tới như mình.

Anh uống nhiều, và mình cũng cho đấy là điều tự nhiên với người sáng tác “thứ thiệt”, không phải loại “tay ngang” như mình, vì họ luôn cần một chất xúc tác gì đấy. Như những Phùng Quán, Văn Cao hay Trịnh Công Sơn lúc nào cũng được hình dung với điếu thuốc hoặc ly rượu trong tay, tuổi mới năm mươi mà râu tóc bạc phơ như người thượng thọ. Mình hay trêu anh là, không biết trong cơ thể anh, còn bao nhiêu phần máu, hay toàn rượu.

Nguyễn Thụ rất hiền, độ lượng và không bao giờ chấp bọn “trẻ con” như mình, kể cả khi mình nói nửa đùa nửa thật, “anh biết không, mỗi bài thơ của anh trên NCTG khiến báo mất đi nửa số độc giả đấy” (đương nhiên đây là lời “cóp” của Stewen Hawking trong “Lược sử thời gian”, chứ mình sức mấy nghĩ được câu hay thế). Anh chỉ cười khà khà, lại tợp chút rượu, ra điều đắc chí lắm, và khoát tay dáng rất đẹp và khí phách “thế mới gọi là thơ chứ”.

Tuy nhiên, với thơ và câu chữ, anh lại kỹ lưỡng đến mức nhiều khi khiến mình phát hoảng. Với anh, việc “bảo nhà in nó dừng lại để đổi một từ trong bài X” là điều không phải anh chỉ thị một lần, rất gấp gáp, qua điện thoại, thường là vào lúc mọi sự đã an bài rồi. Vậy mà có lần mình đã mạo muội bỏ hẳn 2 khổ thơ cuối trong một bài của anh, mà còn không xin phép trước, vì cũng không còn thời gian mà điện đàm hay trao đổi gì nữa.

Cầm tờ báo mình mang đến tận tay, mở trang có bài thơ, anh không tin vào mắt mình khi thiếu đoạn kết (mà mình cho là hoàn toàn không cần thiết, dài dòng và chỉ phá đi những gì hay ho cho tới khi đó), và nghĩ rằng chắc là... lỗi kỹ thuật của “thằng đánh máy”. Đến lúc mình rụt rè thú nhận “do em... biên tập đấy” thì thật là... tất nhiên anh chấp nhận nhưng không tránh khỏi một cơn giận lôi thiên và sự đoạn tuyệt trong vòng đôi ba tuần.

Anh là thế, sáng tác dường như rất dễ dàng nhưng cũng rất nhó nhọc. Thơ anh với kẻ ngoại đạo như mình, có bài hay, rất hay, và cũng có những bài bình thường. Nhưng đó là tiếng lòng của một người trải qua rất nhiều dằn vặt, khổ đau, với đời và với mình, và anh giữ được sự tươi tắn ấy trong lao động nghệ thuật một thời gian dài, chứ không thành người chuyên nghiệp nhiều khi viết theo bài bản khuôn thước, và đó là điều mình thích ở anh.

Rất ngộ nghĩnh là cũng có lúc, anh thương mình vất vả chạy ngược xuôi lo bài cho báo, và cho rằng mình “không giúp ích được gì... thiết thực ngoài mấy bài thơ”, nên đã đăng ký... dịch bài cho NCTG. Mình rất sướng, anh thì thạo tiếng quá rồi, còn gì bằng, nhưng tới khi nhận được bản dịch một bài xã luận mà anh rất thích của tờ nhật báo lớn nhất thời bấy giờ là “Tự do Nhân dân” (Népszabadság), thì mình lại có một cái hoảng khác.

Ấy là, anh dịch quá phóng túng, kiểu Bùi Giáng, đúng phong cách một nhà thơ hồn để trên mây, mà ít để tâm tới sự chính xác từng câu chữ của một bài chính luận đúng là rất hay của một ký giả Hung có tiếng. Mất thời gian để so lại với bản gốc thì là chuyện bình thường, nhưng chỉnh lại sao cho vẫn giữ phong cách Nguyễn Thụ (để anh khỏi mất lòng), mà vẫn trung thành và bám nguyên bản âu cũng không phải là điều quá dễ dàng với mình.

Năm 2003, mình được anh gửi cho xem tập bản thảo đã được đánh lại trên máy tính, gồm những bài thơ József Attila mà anh đã dịch trong bao năm, và nhờ mình viết Lời nói đầu. Với mình, đó là một vinh dự lớn, vì nhiều người chắc chắn là rành văn thơ Hung, cũng như văn học dịch hơn mình chứ. Mình coi sự ưu ái ấy là tình cảm dành cho một người em, và đã viết với lời nhắn “em cứ gửi bản full, NXB ở nhà tùy họ cắt lọc anh nhé”.

Thật vui là những dòng của mình tuy đôi chỗ có đụng chạm đây đó, nhưng được giữ nguyên trong sách, duy chỉ có mấy chú thích là bị cắt đi, chắc NXB cho là không cần thiết. Nhận sách, anh vui lắm, ký tặng tất cả bạn bè trong và ngoài nước Hung của NCTG, chữ anh rất đẹp, phóng khoáng như mình hay trêu “đúng là thủ bút của người danh gia vọng tộc”. Đó là những khoảnh khắc đẹp nhất của mấy anh em mà mình vẫn nhớ tới giờ.

Sau đó một năm, NCTG có tổ chức được một buổi giới thiệu các tác giả tiêu biểu của báo trong mấy mảng thơ (đặc biệt là thơ tình), văn xuôi, tản văn và thơ dịch. Năm ấy (2005) cả thế giới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của József Attila (được kỷ niệm như Ngày Thi ca Hungary), và tất nhiên anh có trong số các anh chị em tối hôm đó. Ấn tượng khi được nghe anh đọc những bài thơ dịch của mình, đầy nội lực và cảm xúc, thật khó tả.

Anh Nguyễn Thụ còn là người rất khích lệ hai cô con gái, khi đó mới là những sinh viên rất trẻ trưởng thành ở Hungary, tham gia với báo “để cho chúng nó học tiếng”. Cả Thùy Linh lẫn Phương Nga đều đã có những đóng góp bài vở với báo vào thời đầu và khi NCTG tổ chức buổi “thôi nôi” rất đầm ấm đầu năm 2003, cả nhóm anh em đã tặng cho gia đình anh danh hiệu “Gia đình tham gia báo”, tấm ảnh ba bố con giờ mình vẫn còn giữ.

Thật ra, quãng thời gian mà mình có dịp gần gũi anh cũng không dài, bất quá chừng dăm năm. Sau đó, anh về Việt Nam sinh sống, và anh em cũng ít có dịp có tin gì của nhau. Đột ngột, đêm hôm kia mình nhận được tin nhắn từ họa sĩ Lê Thương, báo tin anh qua đời ở trong nước. Cả một trời kỷ niệm trỗi dậy trong lòng mình, khuấy động, cồn cào và mình nghĩ mấy anh em thời ấy, ai cũng có cảm giác như mình, bàng hoàng và xúc động.

“Giật mình se sẽ đông sang - Người xa xăm ấy có bàng hoàng không - Hoa đào tha thẩn gió đông - Đêm run nhè nhẹ giấc mòng ai hay” là những vần thơ anh gửi NCTG cách đây 14 năm, cũng vào những ngày đông lạnh lẽo thế này. Bài thơ mang tên “Lạnh”, giờ đây khi viết những dòng này, em cũng thấy lạnh và bàng hoàng anh ạ. Nhưng bọn em sẽ luôn nhớ tới anh với tình cảm ấm áp, và biết rằng ở nơi ấy, anh cũng vẫn sẽ có THƠ theo cùng...

Anh Nguyễn Thụ (bên phải) trong tối giao lưu 26/6/2005

Nguyễn Hoàng Linh (27 Jan 2018)

Saturday, January 20, 2024

Magyarok és a képességek érdemelte ki a megtisztelő marslakó jelzőt

Olvassátok végig ! Felemelő!

 Amikor Enrico Fermi Nobel-díjas atomfizikust megkérdezték, hisz-e a földönkívüliek létezésében, így válaszolt: „Már itt vannak közöttünk... magyaroknak hívják őket.” Legendás tudásuk, zseniális fantáziájuk, egymás közt beszélt különös nyelvük, furcsa angol kiejtésük miatt amerikai tudós-körökben tréfásan marslakóknak nevezték azt a mintegy 50 magyar tudóst, akiknek a XX. század legnagyobb felfedezéseit köszönheti a világ.

A képen: Szilárd Leó, Teller Ede és Wigner Jenő...ők hárman az 50 "marslakó" közül

Egy amerikai tanulmány szerint a XX. századot Budapesten készítették elő, hiszen magyar anyanyelvű volt, és valamelyik híres budapesti iskolában tanult szinte minden tudós, aki a XX. századot meghatározó számítástechnikát, az atom- és űrkutatást elindította, továbbfejlesztette.

Neumann, Szilárd, Wigner, mars ki a Városligetbe!” – Ezt nem három vásott kölyöknek mondta a számtantanár, hanem három matekzseninek: Neumann Jánosnak, Szilárd Leónak és Wigner Jenőnek, akik osztálytársak voltak Budapesten a Fasori Gimnáziumban, s oly döbbenetes volt a matematikai tudásuk, hogy dolgozatírás helyett inkább levegőzni küldte őket a tanáruk, hiszen pillanatok alatt megoldották a legnehezebb feladatot is. 

Később mindhárman világhírűvé váltak. 

Wigner Jenő az atomreaktor, Szilárd Leó az atombomba, Teller Ede a hidrogénbomba feltalálója. 

Tudásukkal hatalmas erõt szabadítottak ki a palackból, de mindhárman tiltakoztak az ellen, hogy háborús célra, emberek ellen használják az atomenergiát. 

A maghasadásban nem a pusztító bombát, hanem az energiaforrást keresték. 

Szilárd Leó Einsteinnel együtt levélben kérte az amerikai elnököt a maghasadás békés felhasználására. 

Nem rajta múlott, hogy nagyszerű találmányát tömegpusztító fegyverként vetették be. 

Neumann János a számítógép atyja, korának egyik legnagyobb lángelméje. Az általa 1943- ban megépített computer akkora volt, mint egy szoba, de kétségtelenül ez az őse a mára már táskányira zsugorodott számítógépeknek. 

Neumann János Eisenhower amerikai elnök tanácsadója volt, ő beszélte le Kína megtámadásáról. Halálos ágyánál a hadsereg magas rangú tisztjei váltották egymást, nehogy lázálmában katonai titkokat beszéljen ki. 

Fölösleges volt. 

Neumann János haláltusájában magyarul beszélt...

Nemcsak a számítógép megalkotása, hanem fejlesztésének fontos lépései is magyar nevekhez kötődnek.

Kemény János a legelterjedtebb programozási nyelv, a Basic nyelv és a világot meghódító e-mail rendszer megalkotója.

Simonyi Károly fejlesztette ki az Excel táblázatkezelő programot, õ a híres Microsoft cég második embere, Bill Gates neki köszönheti, hogy a világ leggazdagabb emberévé válhatott.

Lovász Lászlót és Bélády Lászlót a szoftverfejlesztés, Gróf Andrást a mikroprocesszorok illetve a személyi számítógépek megalkotása miatt tartják az informatikai forradalom legnagyobb alakjainak.

Lánczos Kornél kiváló elméleti fizikus és matematikus Einstein munkatársa volt, akinek azt írta a relativitáselmélet megteremtője: „Ön az egyetlen általam ismert ember, aki ugyanúgy közelít a fizikához, mint én.”

A magyar tudósok különösen vonzódtak a repülés tudományához. A levegőt meghódító felfedezéseik évtizedekkel megelőzték korukat.

Asbóth Oszkár az Arad megyei Pankotán született, Aradon tanult.

Kármán Tódor munkatársaként a helikopterek történetének kimagasló alakja.

A Kennedy elnök által kitüntetett, harminc egyetem díszdoktorává avatott 

Kármán Tódorról a Holdon és a Marson krátert neveztek el. Õ az első helikopter és a sugárhajtású repülőgépek kifejlesztője. Kármán kutatásai alapján valósulhatott meg a hangsebességet túllépő repülőgép és a rakétatechnika.

Fonó Albert a sugárhajtás elvének atyja.

A Hoff Miklós által kifejlesztett vékony falú szerkezeteket alkalmazzák ma is világszerte a repülőgépek, űrrakéták, tengeralattjárók építésénél.

Bay Zoltán az űrkutatás úttörője. 1946-ban amerikai kutatókkal egyidőben sikerül Budapesten felállított radarjával a Holdra jeleket irányítania, és visszhangot érzékelnie.

Szebehelyi Győzőnek döntő szerepe volt abban, hogy az amerikaiak eljutottak a Holdra: õ tervezte meg az Apolló űrhajók pályáját.

Csonka János és Bánki Donát nevét mindenkinek ismernie kellene, aki autóba ül: a világon burrogó sok száz millió benzinmotor mind az általuk feltalált porlasztóval működik. A benzint levegővel keverő karburátor ötletét egy virágáruslánytól „kapták”, aki vékony csőbe levegőt fújva permetezett vizet a rózsákra.

Ma stresszes napom volt” – meséled édesanyádnak, de vajon tudod-e, hogy a stressz fogalmát magyar tudós, Selye János ismerte fel, és határozta meg pár évtizeddel ezelőtt.

Mihály Dénes a televíziós közvetítés, a hangosfilm,

Goldmark Péter a színes televízió,

Csicsátka Antal a sztereó technika feltalálója.

Rubik Ernő zseniális találmánya, a világot meghódító bűvös kocka nem gyerekjáték – bár lehet, hogy nektek is sikerült már kiraknotok mind a hat oldalát. Valójában igen bonyolult matematikai tudást igényel mind az alkotó, mind a játékos részéről.

A XX. század legfontosabb felfedezései magyar nevekhez fűződnek, hat amerikai elnöknek magyar tudós volt a tanácsadója. 

Ámul a világ: honnan fakad ez a világot alakító szellemi erő? 

Teller Ede anyanyelvünkben találta meg a titkot: 

"Bámulatos és hatalmas a szép magyar nyelv kifejező ereje és hatása a magyar fiatalokra. Életem legnagyobb tudományos felfedezése, hogy csak egy nyelv van, és az a magyar...."

(copy từ Hungarian Treasures csoport)

Friday, January 19, 2024

Quê hương thứ hai của tôi

HUNGARY, MẢNH ĐẤT KỲ DIỆU CỦA NGƯỜI MAGYAR

Mười sáu giải Nobel và thứ hạng thứ 8 trong Top 10 các quốc gia đoạt được nhiều huy chương nhất trong lịch sử phong trào Thế vận quốc tế chỉ là hai trong số vô vàn kỳ tích mà người Hungary đã đạt được, khiến thế giới phải để tâm và khâm phục đất nước chỉ vỏn vẹn khoảng 9,5 triệu dân và diện tích nhỏ hơn miền Bắc Việt Nam này. Đây cũng là một trong số 10 quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1950, và tới giờ vẫn duy trì quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống rất quý báu với nước ta.

Không phải ai cũng biết rằng mặc dù tọa lạc ở trái tim của vùng Trung Âu, trong vùng bồn địa lịch sử Panonnia, nhưng Hungary lại là mảnh đất định cư của các bộ lạc Magyar (1) sau một cuộc di cư vĩ đại trải qua nhiều thế kỷ về thời gian và hàng chục ngàn cây số về không gian. Vốn là một dân tộc bán du mục, người Hung đã bôn ba nhiều nơi, qua những vùng thảo nguyên rộng lớn của lưu vực sông Volga, nước Nga và Ukraine hiện tại, để tới lập quốc ở nơi hiện tại là Hungary vào năm 895, để rồi thành lập quốc gia vào Noel năm 1000.

Một ngàn một trăm năm dựng nước và giữ nước của Hungary là những trang sử kiêu hùng, nhưng cũng chất chứa đầy biến cố bi thảm, khi vương quốc này đại bại trước quân Mông Cổ và gần như bị san bằng (1241-1242), bị Đế quốc Otthoman cai trị một phần đáng kể đất nước trong 150 năm (1541-1699), và sau đó là hơn 150 năm dưới ách đô hộ của Đế quốc Áo. Phải đến thời kỳ nền "song quốc quân chủ" Áo - Hung (1867-1918), Hungary mới giành được độc lập và trải qua nửa thế kỷ hòa bình, hạnh phúc và phát triển vượt bậc.

Tuy nhiên, thế kỷ 20, Hungary lại đứng về "phe bại trận" trong cả hai cuộc thế chiến, và hậu quả là hai phần ba diện tích đất nước bị cắt qua các nước láng giềng, hai phần ba cư dân Hung chỉ trong chốc lát biến thành công dân "xứ lạ". Những nỗi đau trong quá khứ ấy đến bây giờ người Hung vẫn nhắc nhớ, nhưng luôn đi kèm với niềm tự hào của một dân tộc anh dũng, không chịu khuất phục, đầu hàng, với khí phách "Chết tự do không chịu sống tôi đòi - Không yên nghỉ khi tự do chưa có" như đại thi hào Petőfi Sándor từng ca ngợi (2).

Dân tộc nhỏ này đã có những người con vĩ đại trong khoa học, đặc biệt vào nửa đầu thế kỷ 20, khi giới khoa học thế giới đã kinh ngạc gọi các nhà bác học di cư từ Hungary qua để Mỹ lánh nạn chiến tranh là "người Hỏa tinh" vì bộ óc xuất chúng của họ. Bom nguyên tử, bom khinh khí, máy điện toán... là một vài trong số rất nhiều công trình mà thế giới phải cám ơn Hungary, với những tên tuổi như Neumann János, Szilárd Leó, Teller Ede... hay gần đây nhất như Karikó Katalin, "mẹ đẻ của công nghệ mRNA" góp phần "cứu vãn thế giới" (3).

Trong văn học nghệ thuật, Hungary cũng có những đỉnh cao như đại nhạc sư Liszt Ferenc, danh cầm vĩ đại nhất của mọi thời đại, tên tuổi vĩ đại của trường phái Lãng mạn đầu thế kỷ 19, Kodály Zoltán, nhà sư phạm âm nhạc bậc thày với "phương pháp Kodály" nổi tiếng, hay Kertész Imre, Giải Nobel Văn chương 2002, người khắc họa nỗi đau diệt chủng Do Thái... Thế giới cũng luôn nhớ "Đội tuyển vàng" với thủ quân Puskás Ferenc thập niên 50 trong bóng đá, và Hungary là cường quốc thể thao lớn nhất còn chưa được đang cai Thế vận.

Nhắc tới Hungary, những cái tên như thủ đô Budapest, "Biển hồ" Balaton lớn nhất vùng Trung Âu, Thành cổ Eger anh hùng hay hồ nước khoáng chữa bệnh Hévíz lớn nhất Châu Âu là những điểm nhấn rất quen thuộc. Với gần 16 triệu lượt khách tới thăm trong năm 2023, quốc gia này thuộc nhóm các nước du lịch phát triển: Quần thể Lâu đài và các di sản trên Đồi Buda, những công trình kiến trúc nằm dọc hai bên bờ "Danube xanh", Đại lộ chính Andrássy và Quảng trường Anh Hùng ở thủ đô là những danh thắng UNESCO lừng danh.

Tuy khoảng cách địa lý rất xa xôi, nhưng Hungary và Việt Nam có nhiều "duyên nợ", ân tình trong quá khứ. "Việt Nam, chúng tôi ở bên các bạn!" là khẩu hiệu và phương châm của nước Hung trong những năm chiến tranh gian khổ; từ đầu thập niên 50 thế kỷ trước, Hungary đã hào hiệp ủng hộ và giúp Việt Nam đào tạo nhiều thế hệ DHS, NCS... để tới bây giờ, lãnh đạo hai nước trong các phát biểu vẫn tự hào rằng cộng đồng ngoại quốc am hiểu ngôn ngữ và văn hóa Hungary dù không có mối liên quan về sắc tộc, chính là ở Việt Nam!

Những năm gần đây, Hungary và Việt Nam đã có quan hệ hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực như giáo dục đào tạo, pháp luật và tư pháp, văn hóa, thể thao, giao lưu nhân dân... Hungary coi Việt Nam là đối tác quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, và hai đã nước thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện vào tháng 9/2018 trong chuyến thăm chính thức Hungary của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hai nước có tiềm năng và còn có thể tăng cường hơn nữa trong nhiều lĩnh vực như thương mại - đầu tư, nông nghiệp, hay y tế, du lịch, lao động…

Cho đến nay, nước Hung cũng là quê hương thứ hai của một cộng đồng Việt thuần hậu, được đánh giá là hội nhập thành công trong cuộc sống và công việc, nhưng vẫn hướng về Tổ quốc với nhiều nỗ lực đóng góp "lá lành đùm lá rách...". Mới đây nhất, Việt Nam còn là nguồn cung ứng lao động đáng kể cho nền kinh tế Hungary, vốn cần rất nhiều nhân lực đến từ các quốc gia thứ ba cho thị trường nội địa trong chiến lược tái công nghiệp hóa của chính phủ. Nhiều cơ hội được mở ra, cần tận dụng khai thác một cách nghiêm túc, hiệu quả.

Với những nét tương đồng đáng kinh ngạc trong lịch sử và ký ức, Hungary và Việt Nam là hai dân tộc có sự đồng điệu về tình cảm và tâm thế trong quá khứ kiên cường trước giặc ngoại xâm. Truyền thống hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước, ở vào thời đại "thế giới phẳng", cần được phát triển và tăng cường với những nội dung mới, hình thức hợp tác mới, mà chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong thời gian 18-20/1/2024 có thể sẽ đem lại nhiều kết quả mới, theo kỳ vọng của đôi bên.

Ghi chú:

(1) Người Hungary gọi họ là dân tộc Magyar.

(2) Trích thi phẩm nổi tiếng "Bài ca Dân tộc" (Nemzeti Dal, 1848), bản dịch của dịch giả, PGS. TS. Vũ Ngọc Cân.

(3) Tựa đề một bộ phim tư liệu của Pháp về GS. Karikó Katalin, nhà sinh học đồng giải thưởng Nobel Y Sinh 2023, với phát minh đặt tiền đề cho vaccine "thế hệ mới" kháng virus Corona.

Nguyễn Hoàng Linh

Thursday, January 18, 2024

Học bạ Trường Y Dược

Hôm nay lục lọi ra quyển học bạ thời đẹp nhất tuổi thanh xuân mà sao trường mình lại bọc màu đen nhỉ! Không biết mọi người còn giữ không vì trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt,bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt,hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên.

Tăng Kim Đoan (ĐH SEMMELWEIS.vidi69)

Saturday, August 12, 2023

54 năm trước

Ngày này của 54 năm trước chúng tôi lên tàu liên vận đi đến một đất nước xa lạ ở phương trời mơ ước mà sau 6 năm đã trở thành thân thương như quê hương thứ hai không bao giờ quên được-Hungary! Đất nước ấy không to lớn,giàu có hùng mạnh nhưng giàu lòng nhân ái,thông minh,xinh đẹp đã giúp chúng tôi sống và học tập để khi trở về nước có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Giờ đây mọi người đã ở tuổi U80 chúng tôi vẫn cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa,vẫn nhớ da diết Hungary yêu dấu,có bất cứ dịp nào cũng muốn trở lại nhiều lần và luôn tự hào rằng mình đã được đào tạo ở đất nước Hungary. Cầu chúc cho đất nước Hungary yêu dấu phát triển ngày càng vững mạnh lên,vẫn luôn xinh đẹp và nhân ái!

Mới qua chụp hình làm thẻ sv mà ngố quá trời !

1969

Hình này ngồi ngay cửa sổ trong phòng 615 Budaörsi ,Budapest .

Hoa hồng Tăng Kim Đoan

Đoàn Mặt trận - 1969

Lớp Dược B1 ,đi du lịch xuân tháng 4 nhưng không ngờ gặp tuyết rơi lớn đến không tưởng tượng được!

Tăng Kim Đoan (ĐH SEMMELWEIS.vidi69)

Thursday, August 3, 2023

Azok a szép napok: Kỷ niệm WC-1974

Hàng đứng (từ trái qua): 1. Jongbloed, 2. Rijsbergen, 3. Haan, 4. Neeskens, 5. Krol, 6. Suurbier
Hàng ngồi (từ trái qua): 1. Rep, 2. Cruyff, 3. Rensenbrink, 4. Jansen, 5. Van Hanegem

Đây là 1 trong những tấm hình trong cuốn tạp chí Bóng đá của Pháp (Futbol Mundial) phát hành ngay sau WC-74. Tôi rất thích những tấm hình in màu rất đẹp (nguyên khổ giấy) của các cầu thủ nổi bật nhất ở giải này. Riêng hình của đội tuyển HL được in 2 mặt (trang giữa) là hình lớn nhất. Tôi vẫn nhớ giá của nó là 50Ft với trang bìa là hình của "Gerd" Müller 2 tay giơ cao khẩu đại pháo (1 biểu tượng của Müller lúc đó). Tôi đã mua nó ở Quảng trường Tròn và cắt hình của các cầu thủ treo lên tường trong phòng của mình (ktx @ Pécs).

Với những cầu thủ tiêu biểu cho sức mạnh của bóng đá tổng lực, đội HL được giới hâm mộ kỳ vọng sẽ chứng tỏ được vị thế số 1 của mình trước những đại diện mạnh nhất của thế giới: là ứng cử viên lớn nhất cho ngôi vị vô địch tại sân đấu WC ở Tây Đức năm 1974.

Tuy vậy, tại WC-1974 HL ko thi đấu với đội hình mạnh nhất của mình. Hàng thủ của HL bị yếu đi do sự vắng mặt của Barry Hulshoff (libero của Ajax, bị chấn thương đầu gối). Một cầu thủ khác, tiền vệ Gerrie Muhren cũng ko thể thi đấu. Đây cũng là 1 mất mát của HL vì Muhren là cầu thủ quan trọng trong lối chơi tổng lực của Rinus Michels.
Thủ môn Jan van Beveren của PSV Eindhoven từng là sự lựa chọn số một trong suốt vòng loại WC nhưng cũng đã dính chấn thương nên Rinus Michels buộc phải chọn Jongbloed thay thế.
Michels đã tìm cách thay đổi hệ thống với hàng tấn công ba người. Cruyff đóng vai trò trung phong linh hoạt, Rob Rensenbrink của Anderlecht ở bên trái và ngôi sao 22 tuổi của Ajax, Johnny Rep ở bên phải.

''Đội tuyển Hà Lan giữa những năm 1970 là một trong những đội bóng đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá. Cuộc cách mạng của Bóng đá tổng lực, bộ đồ adidas màu cam mang tính biểu tượng cùng đội hình của những cầu thủ với đẳng cấp thế giới, tất cả kết hợp lại để biến họ trở thành một trong những đội bóng vĩ đại nhất từ trước đến nay của môn thể thao này."
Trích từ 'THE STORY OF THE NETHERLANDS AT THE 1974 WORLD CUP' (C.F. CLASSICS)

Thursday, July 6, 2023

Ký ức Trường tiếng @ Budaörsi út

 Csinos lányok NEI-ben, 

      Nekem emlékezetes benyomás volt NEI-ben, hogy nagyon csinosak voltak a lányok. 

      Legjobban szerettem egy boliviai-t, egy bolgar-t és egy mongol-t. Mindig kerestem õket a szünetben hogy bámulhattam õket csodálva. 

       A boliviai lány kicsi termetü volt, diszes ruhákban járt, táncolt és énekelt rengeteget (és jól is) egy dél amerikai diák csoportban. Öröm volt nézni (föleg a lányt) és hallgatni öket. A balatoni és egri kiránduláson folyton muzikáltak egy profi szinten. 

        A bolgár lány fekete szemü és hajú volt. Ugy nézett ki mint egy török eredetü. Nagyon szép és nagy szemei voltak.  Nagyon szerettem a szép szemeit. Sokat dohányzott és csendesen bámulta a felemelkedõ füstöt. Ugy viselkedett mintha nem törödött semmivel. De mindig ült a központban az éterem elött, így vonzhatott figyelmet mindenki-tõl. Nem csak én csodáltam õt, mert volt egy állandó társasság körülötte.

       A mongol lány egyszerüen és különösen bájos volt. Gyönyörü és sugárzó volt a mosolya. Nem unatkozhat senki a társaságában. Nagyon barátságos volt. Pinpongoztam vele néhányszor is.

       Legjobb barátnöm volt egy kubai lány. Azt hiszem Annamaria volt a neve. Õ is szép volt mint egy ókori görök sportoló szobora. Jó fizikumú és ízmos volt Szoktunk együtt futni esteként. Néha lusta voltam, a szobámba jött és kihivott. Emlékszem hogy néhányszor édességet is adott nekem. Jó szivű lány volt. Nagyon sajnáltam, hogy a második félévben nem futottam vele, mert feliratkoztam az algol nyelv tanfolyamra a városban. Õ is ment Debrecenbe tanulni Orvos Tudományi Egyetemen. Sokszor láttam õt szurkolni amikor fociztam. Hevesen kiabálta "Hajrá Viet, nagyon jól csináltál, te a legjobb vagy". Pedig nem fociztam olyan jól. 

      Nagyon jó lenne ha tudhatnék valamit a sorsaikról. Nagyon szép emlékek voltak.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, November 8, 2022

Ký ức KLTE

Hoi xua o ben Hungary, tai truong dai hoc tong hop Kossuth Lajos , thanh pho Debrecen , hang nam nguoi ta to chuc day tieng Hung cho sinh vien quoc te ( moi nam mot lan vao mua he , thoi gian khoang 1 thang ). Sinh vien quoc te an o trong Kollegium cua truong. Thuong thi ho qua vai ba lan. Mot so co bo hoac me la nguoi goc Hung nhung dinh cu o nuoc ngoai nen muon hoc tieng me de, hoac cha de. Hoc buoi sang, con buoi chieu thi da bong voi dam sinh vien Vietnam trong Kollegium, hoac ra bai co truoc Kollegium dan hat vui ve voi dan ban dia. Doi khi lai cung bon sinh vien Vietnam nau an cho nhau. Noi chung rat vui ve. Hoi do bon toi co quen than voi 4 sinh vien Phap : Dimitri ( bo Nga, me Phap nhung khong biet tai sao lai thich tieng Hung ), 3 co ban la Gracia, Lissett va Claudina ( Gracia va Lissett co me la Hung, bo Phap ). Khi ve lai ben Phap van lien lac voi nhau vi ho rat xinh dep va tot tinh. Tu Phap van gui Chocolete , dia nhac,.. Rat tiec khi ve VN thi mat hoan toan lien lac. Trong so dia hat nhan duoc co mot bai hat ma den bay gio van nho mai ( Hoi do con hat duoc vi ho day cho minh hat bang tieng Phap, con bay gio thi quen sach roi ). Vi hay nen van nho duoc ten bai ,va muon ban be chia se : LA MER EST IMMENSE . Nguoi ta cung dich ra tieng Anh voi ten : THE WATER IS WIDE. Moi cac ban tim nghe.

Lê Minh (KLTE.vidi69)

Thursday, June 23, 2022

GS. Vũ Hà Văn: BUDAPEST, BA MƯƠI NĂM

 (NCTG) “Ba mươi năm qua, tôi đã đi rất nhiều nơi trên quả đất này, và các bạn cũng vậy. Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, có lẽ bạn vẫn muốn về qua nơi ấy, nơi của những tháng ngày sôi nổi, của tuổi trẻ và ước mơ, với hơi ấm của bàn tay và nhịp đâp dồn dập trong lồng ngực” - cảm nhận của GS. TS. Vũ Hà Văn, một cựu DHS Việt Nam tại Hungary.

Lời Tòa soạn: GS. Vũ Hà Văn sinh tại Hà Nội năm 1970, học Chuyên toán Chu Văn An, rồi Hà Nội - Amsterdam trong những năm trung học. Thi đỗ đại học với số điểm cao, anh sang Hungary du học năm 1987 tại Khoa Điện tử, Đại học Bách khoa Budapest. Tuy nhiên, do đam mê với môn Toán và được sự khích lệ, giúp đỡ của “thần đồng toán học” Hungary Lovász László, một trong những nhà toán học Hungary nổi tiếng nhất trên thế giới - đến năm thứ hai, anh chuyển sang Khoa Toán, Đại học Tổng hợp Eötvös Loránd (ELTE, Budapest). 

Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ELTE (1994), Vũ Hà Văn sang Mỹ tu nghiệp và bảo vệ luận án Tiến sĩ Toán học tại Đại học Yale (1998) dưới sự hướng dẫn của GS. VS. Lovász László, nguyên Chủ tịch Hội Toán học Quốc tế. Tiếp đó, anh được mời về làm việc tại một số trường đại học và viện toán học nổi tiếng như Viện Nghiên cứu Cấp cao (IAS) tại Princeton, Microsoft Research, rồi Đại học California ở San Diego (anh trở thành Giáo sư chính thức tại đại học này). 

Thời gian sau, Vũ Hà Văn giữ cương vị Giáo sư tại Khoa Toán, Đại học Tổng hợp Rutgers (New Jersey) năm 2005. Năm 2011, anh tiếp tục được bổ nhiệm Giáo sư Đại học Yale lừng danh. Trong sự nghiệp toán học, tính đến nay, Vũ Hà Văn đã có hàng trăm công trình nghiên cứu đã đăng tải và được trao tặng nhiều giải thưởng cao quý như Giải thưởng Sloan dành cho các tài năng toán học trẻ (hai lần: 1997 và 2002), Giải thưởng NSF Career Award (2003), Giải Pólya của Hội Toán học Công nghiệp và Ứng dụng Mỹ (2008), Giải thưởng Toán học Quốc tế Fulkerson do Hội Tối ưu Toán học và Hội Toán học Mỹ đồng bảo trợ (2012). 

Tuy giảng dạy, nghiên cứu và sinh sống tại Mỹ, Vũ Hà Văn vẫn duy trì mối quan hề mật thiết với các đồng nghiệp và làng toán học Việt Nam. Anh là thành viên Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM) do GS. Ngô Bảo Châu là Giám đốc Khoa học. Vũ Hà Văn cũng cùng GS. Ngô Bảo Châu tổ chức trang mạng “Học thế nào”, một diễn đàn trao đổi về các giải pháp khả dĩ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông ở Việt Nam. 

Được đánh giá là chuyên gia hàng đầu thế giới về toán học rời rạc, thông qua những trải nghiệm cá nhân, GS. Vũ Hà Văn còn là người am hiểu những điểm mạnh của giáo dục nói chung, cũng như giáo dục về toán học nói riêng của nhiều quốc gia, trong đó có Hungary, Hoa Kỳ và Việt Nam. Đầu năm 2014, với sự tổ chức của báo NCTG, GS. Vũ Hà Văn đã có buổi gặp gỡ và mạn đàm với cộng đồng Việt Nam tại Hungary về những vấn đề giáo dục mà các vị phụ huynh và con em quan tâm.

Mặc dù sinh sống, nghiên cứu và giảng dạy toán học ở nhiều quốc gia, nhưng GS. Vũ Hà Văn đã có nhiều dịp trở lại thăm Hungary và vẫn dành cho mảnh đất này những tình cảm sâu đậm. Bài viết sau được Vũ Hà Văn viết tặng các bạn cùng khóa 1987, ghi lại một số kỷ niệm và ấn tượng về nước Hung và thủ đô Budapest, nơi anh và các bạn hữu đã đặt chân lần đầu tiên cách đây tròn 30 năm. Trân trọng giới thiệu! (NCTG)

*

Nếu ai đó hỏi tôi, sau 30 năm, bạn nhớ gì ở Budapest nhất? Xúp cá, Quảng trường Anh hùng, rượu vang vùng Tokaj, hay đồi Gellért nơi tọa lạc Tượng thần Tự do? Câu trả lời sẽ là tàu điện.

Tất cả những ai đã bay từ Nội Bài sang Đông Âu vào tháng 8 của 30 năm trước, chắc phải quen với tàu điện Hà Nội. Học sinh của Trưng Vương và Chu Văn An, trong những năm 70, 80 của thế kỷ trước, quá nửa là những tay nhảy tàu chuyên nghiệp.

Chuyến bay năm 1987 đó, với gần hết chúng tôi, là chuyến bay đầu tiên ra nước ngoài, nếu không nói là chuyến bay đầu tiên trong đời. Budapest, cái gì cũng khác, cũng mới, từ đường phố, cửa hàng, thức ăn, cho đến phim ảnh và màu mắt của các cô gái. Quê hương nhất, chính là anh tàu điện. Tàu điện ở Budapest cũng màu vàng, và cũng leng keng, y hệt như tàu điện Bờ Hồ, có điều nó có cửa nghiêm chỉnh và phải mua vé. Ba mươi năm trước dáng nó bè bè béo béo chứ không thanh thoát chân dài như bây giờ.

Tàu điện quen thuộc nhất với sinh viên Việt Nam phải là tàu số 4 và 6, vì hai tàu bắt đầu ở gần ký túc xá của Đại học Bách Khoa, nơi quá nửa học sinh Việt Nam theo học. Tàu chạy dọc đại lộ một thời mang tên Lenin, mà tên người luôn xuất hiện một cách bất ngờ nhất trong các tạp chí sinh viên lưu hành trong các ký túc xá, cho đến Quảng trường Mátxcơva. Quảng trường Mátxcơva nay đã trở lại cái tên cũ Széll Kálmán (vị Thủ tướng Hungary cuối thế kỷ 19), còn đại lộ Lenin, cũng không khác với số phận của thành phố cùng tên bên Nga, đã chuyển thành con đường mang tên Teréz và Erzsébet, hai bà hoàng của Đế quốc Áo - Hung ngày trước.

Quảng trường Mátxcơva rộng, nhưng không đẹp. Từ đây có thể đi bộ lên thành Vár. Thật ra trong tiếng Hung, Vár đã có nghĩa là thành, người Việt quen gọi tên kép là “thành Vár”. Đây là địa điểm du lịch số một của Budapest, có nhà thờ vua Matyás và pháo đài Những người đánh cá (thật ra là chỗ thu thuế cá ngày xưa), hai điểm mà hầu như du khách nào cũng ghé qua. Cái hay là ở trong thành không phải chỗ nào cũng làm du lịch cả, mà còn nhiều nhà dân sinh sống trong các dẫy phố nho nhỏ, có cột đèn bằng sắt xen lẫn cây cổ thụ, lòng đường lát đá đen, và dọc phố lác đác vài ngôi mộ chí.

Thành Vár ở địa thế ở cao, có thể nhìn xuống toàn cảnh thành phố, sông Danube xanh và những cây cầu tuyệt vời của nó. Cây cầu đẹp nhất có lẽ là Cầu Xích (Lánchíd - Chain Bridge), một trong những cầu treo bằng sắt đầu tiên trên thế giới. Được xây từ nửa đầu thế kỷ 19, Cầu Xích là một thành tựu kỹ thuật đáng kể của thời đó. Ở hai đầu cầu, nhà kiến trúc tài ba đã cho đắp sừng sững một đôi sư tử nhe nanh, như có ý nhắc nhở rằng sợ vợ không chỉ là đặc tính của đàn ông Châu Á. Dẫu vậy, người Hung thật xứng đáng là một dân tộc thông minh, cái gì cũng hơn người thường một chút, vì nếu nhìn gần, thì các bà sư tử này hình như không có lưỡi.

Budapest có những dãy phố cổ dọc theo bờ sông, phía Buda, tối mở cửa sổ có thể nhìn sang thành Vár và Nhà Quốc hội bên kia sông rực ánh đèn. Các khu cổ này một nhà to có nhiều căn hộ, có lẽ là chỗ ở cho các thị dân giàu có ngày xưa, cửa sổ cao và thoáng, mỗi nhà có một cái cổng đá xây rất phong cách, nhô ra đường để khi trời mưa khách vãng lai có thể vào trú được. Chiếc cổng đã che bao thế hệ thanh niên đi ngang qua nó. Ngày hôm nay là những cô cậu sinh viên của thế hệ iPad, 30 năm trước là thế hệ của tôi và bạn, 30 năm trước nữa là những sinh viên của năm 1956 đầy biến động, mà trong lòng họ không biết đất nước và bản thân sẽ đi về đâu…

Bên ngoài cửa sổ phòng làm việc trời tối dần. Các cao ốc bắt đầu thắp sáng, thành phố rực ánh đèn. Đèn của Hà Nội, của Budapest, Genève, hay của New York, Los Angeles, Singapore? Ba mươi năm là một nửa đời người. Ba mươi năm qua, tôi đã đi rất nhiều nơi trên quả đất này, và các bạn cũng vậy. Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, có lẽ bạn vẫn muốn về qua nơi ấy, nơi của những tháng ngày sôi nổi, của tuổi trẻ và ước mơ, với hơi ấm của bàn tay và nhịp đâp dồn dập trong lồng ngực.

Nơi bạn đã tìm ra con đường của riêng mình.

GS. Vũ Hà Văn cùng gia đình tại Hungary, hè 2017 - Ảnh: Facebook của nhân vật

Vũ Hà Văn, từ Singapore - Tháng 8-2017

http://nhipcauthegioi.hu/Hungary/GS-Vu-Ha-Van-BUDAPEST-BA-MUOI-NAM-5721.html 

 NCTG 20/08/2017

Monday, January 10, 2022

NEI & Tôi

Thời gian đã xóa dần rất nhiều kỷ niệm của ngày xưa, kể cả những điều tưởng chừng ko thể quên được. Với trí nhớ đã lu mờ và đóng đầy bụi thời gian, tôi cố gắng nhớ lại và suy nghĩ về những gì mình đã làm, đã có và đã mất... về 1 giai đoạn mà như 1 người anh học Vật lý lý thuyết ở Debrecen gọi là thời kỳ 'học sinh cấp 4'.

-------------

Hồi ấy chúng tôi bắt đầu học năm đầu tiên ở Nemzetközi Előkészítő Intézet (NEI). Nước Hung là điều vô cùng mới lạ. Tôi vẫn nhớ cảnh tượng mà tôi nhìn thấy vào đêm đầu tiên ở ký túc xá trên đường Budaörsi. Khi kéo rèm che cửa sổ phòng của tôi để nhìn ra ngoài, Budapest hiện ra trước mắt tôi thật ấn tượng với vẻ đẹp từ những ánh đèn làm tôi ngây người sửng sốt vì chưa bao giờ được thấy một thành phố rực rỡ đến thế.

Lúc ấy, cả lũ chúng tôi ngờ nghệch lắm, nhìn anh Quang Việt  (con trai của tướng Đồng Sĩ Nguyên) và các bạn của anh ấy (Hòa "kều", Thành "nhái" …) tôi nghĩ: “họ đã biến chất mất rồi, ăn mặc và tư cách… lố lăng quá, không thể chấp nhận được”. Tôi không thể ngờ rằng không lâu sau mấy anh ấy đều trở nên thân quen với tôi. Tôi hay la cà ở phòng anh Việt (đối diện với phòng của Phan Nguyễn Khánh & Trung) dù trong bụng chê cái phòng bề bộn và dơ dáy quá, bù lại tôi biết được nhiều thứ mà đứa nào mới đến Hungary cũng muốn biết từ những câu chuyện tào lao bên cây ghi ta mà Thành nhái đánh rất hăng hái những lúc cao hứng hoặc những lúc cả đám xúm nhau ăn uống khi rủng rỉnh tiền cũng như lúc cạn kiệt phải chui gầm giường moi lại những mẩu thuốc thừa để hút… Trong những chuyện về Hungary mà tôi biết được ở NEI có nhiều chuyện là từ nhóm của anh Việt, kể cả chuyện gái gú. Có điều, những chuyện thuộc loại tán gái ấy phần lớn nghe giống truyện cười nhiều hơn là chuyện tình… Dần dần, tôi nhìn nhóm anh Quang Việt với con mắt dễ chịu hơn, tôi tự thấy mình đang biến đổi và sẽ phải đối diện với chính mình trước đây để loại bỏ cái gì và tiếp nhận cái gì vì không muốn là một người tẻ nhạt và quá khuôn khổ.

Trường Ngoại ngữ (NEI) là nơi tôi bắt đầu cuộc sống của mình ở Hungary. Tôi rất yêu thích ngôi trường này, từ kiến trúc hiện đại của tòa nhà cho đến các thầy cô giáo và cuộc sống ở đó. Đây là lần đầu tiên tôi được học trong một lớp học chỉ có hơn mười trò nên tiếp thu rất tốt những gì được học. Những người Hung đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là các giáo viên với phong cách sống rất thoải mái và phóng khoáng: bao giờ cũng rõ ràng trong mọi vấn đề, không "ấm ớ hội tề" như người Việt. Họ cũng là những người châu Âu đầu tiên mà tôi có dịp được gần gũi và học hỏi. Tôi cũng rất thích và hãnh diện với các bạn khác vì cô Mária, giáo viên chủ nhiệm dạy tiếng Hung của chúng tôi, là 1 phụ nữ trẻ đẹp và lôi cuốn nhất trường.Tôi còn may mắn hơn khi được sống trong tòa nhà chính của trường, số 73-75 Budaörsi út, vì nó được thiết kế rất tiện lợi cho học sinh. Chúng tôi được ăn ở và học ngay trong tòa nhà này trong khi rất nhiều bạn phải ở chỗ khác và đến đây học. Tôi còn nhớ phòng của tôi số 517 (nằm ở lầu 5), phía trên các lớp học (bố trí ở lầu 1 và tầng Trệt). Phòng được thiết kế cho 2 học sinh, có tủ áo, bàn học, lavabo rửa mặt và giường đệm tươm tất. Toilet và chỗ tắm giặt ở 2 đầu hành lang. Mùa đông có hệ thống sưởi bằng hơi nước. Nhà ăn được bố trí ở tầng dưới cùng, nếu muốn tập tành thì xuống phòng gym (tornaterem). Tuy lúc đó chưa biết bóng bánh là gì nhưng mấy cái sân bóng thật cuốn hút, có điều, lúc đó tôi không biết rằng: chúng sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi sau này.

Các trò lớp M12 (Mérnök szakirány, NEI, 1972) và cô giáo Tallér Mária (Ảnh: Bá Bình, người đứng đầu tiên từ trái sang)

     Khi so sánh giữa trường học ở Hungary và trường học VN, cũng phải nói đến một chi tiết nhỏ là cuốn Leckekönyv ở NEI. Nó làm tôi phải so sánh với cuốn Học bạ của Việt Nam. Giữa 2 nền giáo dục là 1 khoảng cách rất xa trong việc theo dõi học sinh bằng hồ sơ lưu trữ. Tôi không thắc mắc về cuốn Học bạ của Hungary nhìn rất giá trị với bìa cứng bọc vải vì họ có điều kiện hơn ta về mặt vật chất, nhưng tôi suy nghĩ về kích thước và nội dung nhiều hơn. Với kích thước chỉ 11cm x 19cm, bên trong cô đọng những dữ liệu về học sinh và quá trình học tập với điểm số và nhận xét (rất ngắn) của giáo viên và những con tem... Học bạ của Hungary khác xa với cuốn học bạ rườm rà, khổ lớn chiếm nhiều không gian lưu trữ của Việt Nam; muốn theo dõi đầy đủ phải đọc mất nhiều thời gian và còn mất thời gian nhiều hơn để ghi chép tất cả những nội dung đó.

Tôi vẫn còn giữ được Thời khóa biểu của năm học đầu tiên @ NEI. Đây là cái Thời khóa biểu tôi tự làm, trên đó có thể nhận ra các môn học được ghi bằng chữ viết tắt, con số là số phòng học của từng môn:

Cuối năm, nhà trường cho chúng tôi đi tham quan/tìm hiểu về đất nước Hungary. Đó là những cảnh tượng khó quên với chúng tôi. Rời NEI, chúng tôi ko thể quên các thầy cô giáo đầu tiên của mình ở đây. Những bước đi đầu tiên của chúng tôi trên đất Hungary là từ đây. Chúng tôi rất biết ơn những người đã tạo cho chúng tôi có cơ hội để hoàn thành được giấc mơ của chúng tôi và biến nó thành hiện thực trên đất nước tươi đẹp này.

Qua những thành phố, những miền quê khác nhau của Hungary, chúng tôi được biết một nước Hungary muôn màu, muôn vẻ. Những chuyến đi ôtô đường trường, những buổi lao động vất vả nhưng vui vẻ giúp chúng tôi hiểu thêm được vị trí của mình trong xã hội, về khả năng của chúng tôi trong những việc có thể làm được đồng thời thêm tự tin vào khả năng đóng góp trong việc thay đổi quê hương của mình sau này, dù chỉ là một phần rất nhỏ.

Cho đến bây giờ, các bạn của tôi vẫn cho rằng: những kiến thức cơ bản mà chúng tôi nhận được trên đất Hungary là những điều quý báu vô giá để vận dụng trong công việc và cuộc sống. Thời gian sống và học tập ở Hungary đã giúp chúng tôi mở nhiều cánh cửa và nhiều cơ hội hơn, nhiều người trong chúng tôi đã thành công. Bây giờ, khi nhìn lại, Hungary là nơi ko thể quên trong cuộc du hành vạn dặm của cuộc đời. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là “make the best of what you have” - luôn luôn cố gắng vươn tới dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và thay đổi môi trường xung quanh chứ đừng chỉ để hoàn cảnh của mình quyết định số phận của bản thân.

Đó là tinh thần mà tôi đã được tiếp nhận từ những thầy cô giáo Hungary, những người đã có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với chúng tôi về nhận thức và quan điểm từ học tập và cuộc sống.

Nhưng xen vào đó, cho đến bây giờ, tôi vẫn không quên được hình ảnh lẻ loi của một anh chàng Việt Nam trong lần đi tham quan Hungary vào cuối năm học ở NEI (Khánh, Bình "to", Trung và tôi đi với nhau trong đoàn thăm vùng Đông Bắc - Miskolc - Eger). Anh này vì muốn "phô diễn" bản thân và văn hóa Việt Nam bằng bài "Lý Hoài Nam" nên lúc nào cũng ôm ấp cái máy hát bên mình và khúc sáo trúc này suốt cả chặng đường dài. Anh nghe mà không thấy nhàm (hoặc dù nhàm nhưng vẫn cố gắng "thể hiện" cho bà con thấy cái tình yêu âm nhạc của mình) đến nỗi cứ nhìn thấy anh với cái dáng ôm ấp cái máy hát và lắng nghe "vô cùng tha thiết" một cách quá đáng bản nhạc "tội nghiệp" bị đem ra làm trò diễn thì tôi lại ngao ngán vô cùng. Cô Mária, giáo viên chủ nhiệm của tôi còn phải chịu đựng khổ sở hơn nhưng vì lịch sự nên cũng kiên nhẫn tôn trọng hiện tượng "nổi trội" vô cùng này cùng với những người khác để không lộ vẻ khó chịu ra mặt. Nếu không có chuyện này thì chuyến đi của chúng tôi toàn những kỷ niệm đẹp về những gì chúng tôi được thấy và cảm nhận. Đó là một chiều hoàng hôn tuyệt vời trên thành Eger, những đỉnh núi và những hang ngầm tuyệt đẹp... những bữa ăn tối thịnh soạn và những giấc ngủ tuyệt vời ở những khách sạn sạch sẽ tinh tươm sau những ngày chất đầy những điều thú vị...

Và một ngày đáng nhớ khác khi chính tôi là kẻ lẻ loi/lạc lõng. Đó là ngày hội quốc tế dành cho học sinh ở NEI với buổi tối diễn ra rất vui vẻ và tưng bừng. Sau những lời phát biểu và chương trình văn nghệ với nhiều tiết mục do học sinh của các nước tham gia (hình như Đỗ Bá Khang hát bài "Nhạc rừng") là chương trình tánczene do một ban nhạc được nhà trường mời đến biểu diễn. Hội trường được thiết kế với một phần sàn bằng phẳng phía trước sân khấu lập tức được dọn hết các hàng ghế ngồi để trở thành một sàn nhảy. Tây trắng, Tây đen, trai gái Nam Mỹ đều có đôi có cặp, chỉ mình tôi lẻ loi giữa đêm hội giương mắt dỏng tai nghe nhìn (tôi không biết đêm ấy có ai là Việt Nam tham dự cho đến cuối chương trình không?). Đó là lần đầu tiên tôi được nghe trực tiếp bài "Beautiful Sunday" do một ban nhạc trình diễn. Tuy không uống rượu nhưng tôi cảm thấy rất phấn khích cho tới bài hát điệu nhảy cuối cùng, nhưng cũng chỉ đứng một chỗ để enjoy chứ không hề nhúc nhích nhún nhảy theo nhạc một chút nào. Bây giờ thì tôi chỉ ước là đêm ấy ở bên mình là em Bình Dương (tạm "tuyển"/mượn từ những gì Ái Việt mô tả ở bài Tàu liên vận 1) cũng "máu me" như tôi thì tôi đã không trơ trọi vô duyên như thế (nhưng đấy cũng là chuyện bây giờ mới nói, chứ lúc đấy thì chắc là chưa đủ "tư cách" để bước ra sàn nhảy đâu). Về chuyện "nhảy nhót", nhân đây cũng xin hỏi học giả giáo sư kiêm Hoàng tử Bé Ái Việt (và cả các bạn khác nữa) rằng: nếu đã từng bôn ba nhiều năm nơi đất lạ xứ người thì tới nay trình độ của bạn trên sàn nhảy có tiến triển vượt bậc so với hồi trại hè Baja không? có tương xứng với hiểu biết về ẩm thực, về các loại tiêu khiển theo kiểu Tây phương của bạn không? Nếu bây giờ bạn đã là chuyên gia nhảy múa thì mình muốn được làm học trò "nhỏ" của bạn, vì thú thực một điều là: cho tới nay, ngoài khả năng "tự biên tự diễn" khua khoắng loạn xạ thì khiếm khuyết đáng trách của 1 thằng mê chuộng Tây phương như mình là không biết nhảy cho đúng điệu một kiểu thức nào, từ nhạc van/waltz cho đến tango, cha cha cha...mình đều mù tịt nên rất cần được chỉ giáo. Thật là một thiếu sót quá lớn! Tại sao mình lại không biết nhảy nhỉ?

Một trong những chuyển biến lớn của tôi về nhận thức cũng phải kể đến vấn đề biểu hiện nam tính. Xã hội Hungary cho tôi thấy sự phân biệt rất rõ: nam giới và nữ giới biểu lộ rất rõ sự khác biệt về đặc tính của giới. Nam giới phải mạnh mẽ và dứt khoát chứ ko nhì nhằng, ẻo là (bánh bèo). Bây giờ nếu xem lại ảnh chụp sinh viên thời đó sẽ thấy rõ tình trạng này của nhiều LHS nam.

Như đã nêu ở trên: Cho đến năm 1972, với tôi, con gái Hung cũng như người châu Âu rất xa lạ và đầy bí ẩn. Các thầy cô giáo Hung đã giúp tôi có được cái nhìn rõ ràng và hiểu về họ nhiều hơn. Đặc biệt là thầy Jurányi István. Thầy từng là giám đốc KTX Nándor, sau này là thầy giáo chủ nhiệm lớp của Nguyễn Ngô Việt (1973-74). Theo Ái Việt kể: Về khoản sinh đẻ có kế hoạch thì cụ có 2 truyền nhân đều tên là Việt, thỉnh thoảng cụ đưa về nhà cho ăn rồi dạy cách tán gái Hung và cách phòng tránh thai. Tôi cũng có diễm phúc được cụ đưa về nhà, dạy dỗ như con tất tần tật, kể cả những cái mà Ái Việt nói.

Tôi cũng ko đến nỗi vô duyên lắm. Bằng chứng là cô bán đồ ăn ở kantin (trước nhà ăn của NEI) luôn tươi cười với tôi, có khi còn nháy mắt nói: "Lányok nagyon szeretnek, ugye?" làm tôi ngớ người chẳng biết phải đối đáp thế nào. Rồi những lần đi Építőtábor mùa hè nhiều kỷ niệm khó quên với các cô bạn Hung, và những cơ hội khác... Nhưng cho đến khi về nước, tôi vẫn là thằng nhóc tóc dài và nhát gái. Ko biết thực hành các giáo huấn của cụ Jurányi István, và những điều quý báu này vẫn chỉ là lý thuyết mà tôi ko thể vận dụng và biến chúng trở thành hiện thực như các bạn của mình.

Bây giờ, tất cả chỉ đọng lại trong ký ức vỏn vẹn những gì còn lại, có lẽ ko bao giờ phai nhạt. Những cái mà chúng tôi từng bị cấm đoán thì nay đã mở ra và thanh niên học sinh được khuyến khích nhập cuộc (hội nhập) vào cuộc sống nơi mình đến, hòa nhập vào nó.

Nhiều người nhìn nhận rằng: cộng sản bây giờ cũng ko còn hẹp hòi và khắt khe như trước. Tuy nhiên, về bản chất phản động đang bộc lộ thì tôi lại thấy có sự nguy hiểm lớn hơn. Ko bao giờ tôi gọi tầng lớp mới nổi đua chen làm giàu và ngạo mạn này là 'quý tộc đỏ' bởi trong tầng lớp này ko có bản chất quý tộc.

Saturday, December 11, 2021

Kỷ niệm ngày 12.12.2021: 20 năm hoạt động của Nhịp Cầu Thế Giới

Phần 1. Báo chí và tuyên truyền thời kỳ chiến tranh

Từng là một du học sinh tại Hungary (thời của chúng tôi gọi là lưu học sinh/LHS), tôi cũng như nhiều bạn bè của mình đã coi Hunggary với Budapest, tp được mệnh danh/becenév là 'Trái tim của châu Âu', như quê hương thứ hai. Với tôi, đó là thời gian đẹp nhất trong đời, như tên của bài hát Azok A Szép Napok mà chúng tôi ai cũng rất thích.

Thời gian ấy lẽ ra còn đẹp hơn nếu chúng tôi không phải sống dưới quy chế quản lý khắc nghiệt của Đại sứ quán (Ban quản lý LHS). Chúng tôi bị cấm đoán rất nhiều, kể cả tình cảm cũng bị trói buộc, ko như sinh viên và thanh niên Hung lúc đó. Tôi ko nói về sự cách biệt về văn hóa do hai xã hội khác nhau, nhưng chúng tôi ko được sống đúng với bản chất của tuổi trẻ, dù xã hội của Hung rất tự do và thoải mái.

Sau thời gian đầu bỡ ngỡ, ko muốn bị gò bó theo quy chế, tôi quyết định mặc quần áo theo ý thích của mình, xem phim nghe nhạc tư bản thoải mái... kể cả khoản tóc dài gần như cấm kỵ, tôi cũng bỏ qua, ko chấp hành. Theo sự phán xét của ông Trường Chinh trong một buổi nói chuyện với sinh viên và cán bộ đang học tập và công tác ở Hungary thì như thế là đua đòi, chạy theo mốt và chúng tôi là những phần tử đáng bị chê trách.

Tôi là người có sự xung khắc trong tư tưởng về nhiều vấn đề liên quan đến quan điểm về hình thức và bản chất. Đó là những bất đồng liên quan đến lối sống cá nhân, ko như những hình tượng/mẫu mực điển hình của tuổi trẻ mà Ban văn hóa-tư tưởng của Đảng vẫn tuyên truyền cho thanh niên Việt Nam trong tình hình đất nước đang có chiến tranh. Nhiệm vụ của bộ máy thông tin tuyên truyền trong toàn bộ hệ thống tổ chức của đảng là phải hướng toàn dân toàn quân đi theo con đường của đảng. Là tuổi trẻ càng phải thấm nhuần vai trò của mình về mặt chính trị, vì là lực lượng hậu bị, là cánh tay đắc lực của đảng, ở bất cứ đâu. 

Từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, người ta đã nghĩ đến tự do tư tưởng, tự do ngôn luận. Đó là cách tốt nhất để phát triển con người và xã hội. Không có tự do thì không có con người sáng tạo. Ở những xã hội phát triển, người ta coi việc phê phán nhà nước, phê phán pháp luật là điều cần thiết để giúp xã hội lành mạnh. Vì vậy, sống ở xã hội Hungary, được hít thở không khí tự do hơn các nước XHCN khác, tôi cũng muốn có sự thay đổi, ít ra là với cá nhân tôi.

Sống ở xứ sở của một dân tộc văn minh, nổi tiếng về các giải Nobel, văn học, âm nhạc, hội họa… như Hungary, tôi thấy mình ko thể sống bó hẹp theo khuôn khổ chật hẹp của ban quản lý LHS. Ít ra, về viết lách, và về phong trào báo tường thì tôi ủng hộ những gì phóng khoáng hơn, ko như những thứ chỉ thể hiện theo cách thức của văn hóa đảng từ báo đài ở các đơn vị/trường có nhiều LHS Việt Nam lúc đó.

Trong thời gian ở Hungary, tôi thường nhận được những món quà từ phương Tây do mẹ tôi gửi (bà là một thành viên trong phái đoàn của CPCMLTCHMNVN tham dự Hội nghị Paris). Trong số những thứ nhận được, tôi rất thích những tờ báo và tạp chí do Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp phát hành. Tôi đọc từ đầu đến cuối, chẳng bỏ sót chữ nào và nhận thấy: sinh viên Việt Nam ở Pháp tự do hơn, sống đúng với bản chất của thanh niên hơn chúng tôi. Điều này toát ra từ nội dung và hình thức của những tờ báo này, rất phong phú về đề tài và thật sự hấp dẫn tôi bởi là tiếng nói của giới trẻ có học thức.

Tôi rất muốn sinh viên Việt Nam ở Hung cũng có những ấn bản báo chí như bên Pháp* vì lúc đó do yêu cầu đào tạo để xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh nên số LHS rất đông. Tuy nhiên, nguyện vọng này ko được chú trọng. Ở các đơn vị/trường học ở Bp và những nơi khác, sinh viên phải sinh hoạt theo những quy định được chỉ đạo và quản lý chặt chẽ từ ban quản lý của sứ quán. Báo chí hay tin tức cũng vậy, tất cả đều từ dòng sữa đỏ của đảng để nuôi sống về mặt tinh thần của tất cả mọi người. Cứ có lệnh là tập hợp và họp hành, phê bình, kiểm điểm cũng như phổ biến các quy định về trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ học tập theo đúng chủ trương và chính sách của nhà nước với Tổ quốc.

Một tờ báo giấy là tiếng nói của LHS tại Hungary chỉ là mong muốn ko thể thực hiện của tôi lúc đó. Thông tin truyền thông của nhà nước vẫn đảm nhiệm vai trò giáo huấn, ko thể có 1 loại báo khác tồn tại, nếu ko do nhà nước điều hành, ko phải là 1 công cụ tuyên truyền đắc lực cho mọi đường lối của đảng nhằm phục vụ mục đích của cuộc cách mạng xây dựng CNXH ở miền Bắc và thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.

Phần 2: Tạp chí của người Việt

Tôi biết đến Nhịp Cầu Thế Giới (NCTG) và ông chủ của nó trong thời gian gần đây. Tôi biết Nguyễn Hoàng Linh và liên lạc qua FB sau khi con gái tôi mở tài khoản FB cho cha mẹ vào năm 2008 trước khi cháu ra nước ngoài học ĐH với mục đích kết nối trong nội bộ gia đình. Khi đó, FB hầu như chỉ gồm sinh viên, học sinh và giới trẻ sử dụng. Chúng tôi là hàng hiếm, là sự xuất hiện bất ngờ gây nhiều ngạc nhiên trong nhiều lần tiếp xúc onl. Bây giờ, sự kết nối trên FB giúp bạn bè cùng trang lứa kết nối với nhau, trao đổi với nhau rộng rãi hơn so với cách đây 10 năm. 

NCTG làm tôi chú ý bởi do một cựu sinh viên học tập ở Hungary chủ trương thực hiện. Tôi tìm thấy ở tờ báo này cái ý tưởng của mình năm xưa. Tôi gặp ở đây các bạn bè và những anh chị từng là LHS như tôi và những cảm nghĩ về đất nước và con người Hungary mà tôi từng biết. Hơn nữa, NCTG là tiếng nói của cộng đồng người Việt ở Hungary và sau 20 năm, cùng với ấn bản điện tử đã mở rộng cả về nội dung và nguồn lực cung cấp bài viết/thông tin cho các chuyên mục từ tin tức thời sự cập nhật hàng ngày, thông tin về văn hóa, giáo dục và giải trí... khá bài bản.

Bên cạnh sự độc lập và yếu tố khách quan về quan điểm chính trị, điều mà tôi chú ý ở tạp chí là nội dung và chất lượng của các bài được đăng. Về việc này TBT Nguyễn Hoàng Linh làm việc khá chặt chẽ và nghiêm túc. Thông thường với những hãng truyền thông lớn có tiếng tăm thì nói ra chính kiến rõ ràng là điều ko được phép vì ko thể là người của phe nào cả mới ko bị ảnh hưởng của bên nào và như thế mới là nhà báo trung lập. Luôn giữ được như thế là điều khó nhất. Tuy nhiên, với tạp chí tư nhân như NCTG thì có quyền ủng hộ bất cứ đảng phái, khuynh hướng chính trị nào.

Là 1 tờ báo tư nhân, nhưng NCTG đại diện cho cộng đồng người Việt ở Hungary, một mặt nào đó cũng là một phần của châu Âu nên tôi rất muốn đây là tờ báo có tiếng nói uy tín từ châu Âu. Vì vậy, việc cộng tác, ủng hộ và đóng góp của những người Việt Nam yêu đất nước, muốn có tiếng nói vì độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc đều đáng quý trong mọi lĩnh vực liên quan đến việc đi tìm cái Thật, cái Đẹp và cái Đúng. Tôi nói vậy, nhưng dẫu sao trong một nước thì vẫn có elite, có tầng lớp ưu tú, và tôi muốn NCTG cũng đại diện cho những người như thế.

Nếu có thể áp dụng trong chừng mực nào đó nguyên tắc cho mô hình truyền thông công cộng với NCTG có lẽ sẽ tốt hơn chăng? Nhưng vẫn duy trì được mô hình của truyền thông tự do, mọi quan điểm đều có chỗ phát biểu đại diện cho các nhóm người trong xã hội. Nhưng tạp chí phải giữ được màu sắc riêng của nó, và giữ được số lượng bạn đọc quan tâm có cùng quan điểm với những gì là tốt đẹp nhất giữ cho khuynh hướng đó tồn tại. Sự phong phú nằm ở cách nhìn của từng người khác nhau, quan trọng là những bài viết có chất lượng và được độc giả đánh giá cao.

Tôi muốn trích dẫn điều mà tôi thích từ một bài viết về truyền thông trên mạng xã hội mà tôi đọc được: "Có thể ví nền truyền thông tự do là một khu rừng đa dạng sinh học, có cây quả ngọt, có cây độc, có cây lim tạo bóng mát, có cỏ dại chống xói mòn. Rừng cây này tạo điều kiện cho nhiều thú vật, côn trùng sinh sống. Cây này chết đi, cây khác mọc lên. Đó chính là điều khác biệt với khu rừng mà chỉ một loại cây được sống. Độc canh là cách phá hủy môi sinh khủng khiếp nhất."

Phần 3. Mong muốn của tôi

Tôi muốn góp với NCTG tiếng nói của mình, như của một người thuộc tầng lớp dân đen, về nhân tình thế thái, về thời cuộc và thân phận của người Việt lúc này. Bởi tôi coi NCTG là một phần trong làn sóng lan truyền tư tưởng và nguyện vọng của những người yêu nước, luôn trung thực với tình cảm của mình dành cho một Việt Nam không chịu lệ thuộc và bị kìm hãm bởi bất cứ thế lực nào và vì một tương lai tươi sáng mai sau.

Thực tế đang cho thấy tình hình quốc tế đang chuyển biến rất xấu cùng với đại dịch Vũ Hán: từ khi toàn cầu hóa bắt đầu 40 năm trước, nhờ Trung Quốc mà nhiều người đã kiếm được rất nhiều tiền đến nỗi họ đã quên rằng Trung Quốc vẫn là chế độ độc tài Cộng sản tồi tệ như Liên Xô của Stalin. Và dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đang ra sức ép buộc/áp đặt cái ách của Bắc Kinh lên nhiều nước khác. Đến lúc này, chúng vẫn là thế lực thù địch của Việt Nam, con virus mang tên chinazi với bộ mặt của Tập Cận Bình đang gieo rắc thảm họa trên toàn thế giới với mưu đồ đại bá. Nhưng thật ngược đời, chính quyền Việt Nam lại coi Trung Quốc là cùng phe, như hai đảng anh em có chung đường lối đi lên cnxh đặc sắc.

Ko như những gì trên truyền thông luồng đỏ vẫn hàng ngày tuyên truyền. Và thực tế vẫn cho thấy: những năm sau chiến tranh đã không giúp Việt Nam trở thành một xã hội ấm no, càng không phải là một đất nước độc lập, tự do và hạnh phúc. Thời bao cấp nghèo khổ, nhưng thời đó con người yêu thương nhau hơn. Giờ thì một ngày có biết bao chuyện kinh hoàng xảy ra. Chúng ta đã đánh mất những thứ tốt đẹp ta từng có trong thời kỳ chiến tranh.

Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Những gì tôi đã trải qua cũng là những điều mà nhiều người khác cảm nhận: đó là tình cảnh của một xã hội mà tôi coi là không xứng đáng với con người. Tôi muốn để sự vật nói lên bởi sức mạnh của sự vật, cũng là sức mạnh của sự thật, lớn hơn mọi lời lẽ được thể hiện bằng từ ngữ hoa mỹ nhưng chỉ che đậy sự dối trá. Sự thật của những gì bị bưng bít lâu nay phải bị phơi bày. Không ai có thể mãi mãi khư khư ôm thù hận trong lòng trong suốt cuộc đời, và tôi cũng vậy.

Và như một anh bạn mà tôi thường đọc trên mạng đã nhận xét: Nghèo đói, môi trường bị tàn phá, cơ hội làm ăn mờ mịt, bất công, tham nhũng, thiếu tự do, không minh bạch… Đó là những lực đẩy khổng lồ, đẩy người Việt, giàu cũng như nghèo bỏ nước ra đi. Chứ không phải sức hút của những lời lừa bịp.

Hiện trạng nước nhà cho thấy: xã hội ko có những người đại diện xứng đáng. Những nhân tài ưu tú ko thuộc về thể chế của những người có chức có quyền. Hầu hết quan chức là những kẻ bất tài, vô dụng, ăn bám vào những vinh quang trong quá khứ và lợi ích nhóm. Một chính phủ tham nhũng với hệ thống quan lại ko còn danh dự và sự tự trọng, từ tư cách cá nhân đến trách nhiệm đối với dân, với nước

Tổ quốc cần những nhân tài có tâm để kiến hưng đất nước chứ ko phải những kẻ vô lại bất lương đang phá nước hại dân trong cái guồng máy mục ruỗng, bề ngoài thì hùng hậu nhưng chẳng ai hết lòng làm một việc gì.

Và tôi cũng đồng ý với Đạo diễn Trần Văn Thủy, tác giả của phim Chuyện Tử Tế: Tôi nghĩ rằng nếu tin tưởng vào chế độ thì tốt nhất hãy làm cho người dân hạnh phúc là tử tế nhất.

(*) Note: Ấn bản này phải của Hội Sinh viên/LHS & những người làm công tác nghiên cứu chuyên sâu về học thuật @ Hungary, ko phải dạng báo chí ''quốc doanh''có định hướng tuyên truyền của SQ!

Tuesday, August 25, 2020

LHS Hungary 84

 Kỷ niệm 36 năm sang Hungary.

36 éve Magyaroszágon vagyunk, néhány képünk a régi időről 

Chúng tôi, sau một năm học tiếng ở ĐH Ngoại Ngữ Hà Nội, hơn ba mươi anh em bay sang Budapest. Vì tiếng Hung được coi khó nên chúng tôi phải vào Viện dự bị Quốc tế để học tiếng thêm một năm nữa. Có nghĩa là muốn nhận được tấm bằng Đại học ở Hungary chúng tôi  phải dùi mài mất 7 năm trời. Nghe nói có vẻ vất vả, sự thật tôi thấy rất nhẹ nhàng, ở Viện dự bị, nơi tôi ở, có tới hàng trăm nước cử sinh viên tới học, vui và đầy mầu sắc các dân tộc. Ngoài hai ba lần được Viện tổ chức cho đi du lich vòng quanh nước Hung, tôi vẫn có được rất nhiều thời gian khám phá Budapest, nước Hung và sau này là châu Âu...

Ở trường Tổng hợp, lớp tôi có hai chiến sĩ Việt Nam, một cậu Nam Tư, một cô bé từ Pháp sang và một nàng tiên từ Mỹ về... còn lại là các bạn người Hung, phần lớn là các cô gái nhỏ bé, xinh xắn, hiền lành. Chúng tôi sống vui vẻ hòa thuận với nhau. Dù đã học tiếng, nhưng đôi khi có những thành ngữ không hiểu, tôi hỏi một cô, hai ba người tra ̉lời, nên nhiều khi cảm động. Mấy năm học ở đây tôi được nếm vị ngọt ngào của tự do ,không phải làm trực nhật, không có lao động XHCN, không có giáo viên chủ nhiêm , không có lớp trưởng, không có giờ đạo đức nhạt nhẽo,  không có  giờ chính trị nặng nề, không có giờ phê bình và tự phê mệt mỏi, Đảng và Đoàn thuộc về sân chơi chính trị, không có vị trí trong trường học và các công sở...Ăn mặc, ai thích râu tóc xồm xoàm thì cứ để, không thích có thể cạo trọc, muốn quần loe thì loe, không thích thì bó, tùy ý mỗi người. Có nghĩa là, những gì thuộc về cá nhân, kể cả chuyện yêu đương, hoàn toàn tự do, không phải xin phép và báo cáo với ai hết...Họ chỉ cần chúng tôi cọ́ kiến thức khoa học, kiến thức vào đầu thế nào tùy thích, có thể ở nhà tự đọc tài liệu, có thể đi nghe giảng,  giờ lý thuyết không bắt buộc, nếu đi nghe, hết giờ, giảng viên lại cúi đầu cảm ơn chứ không bao giờ nặng lời...

Có một điều tôi ngạc nhiên, ngay từ năm thứ nhất, giảng viên đã có các giáo sư, viện sĩ đầu nghành tới thuyết trình những thành qủa nghiên cứu mới nhất, chứ không phải chỉ có các giảng viên nhại đi nhại lại các kiến thức đã thuộc lòng .Có lẽ vì thê,́ thi cử ở đây nghiêm khắc và hầu hết là vấn đáp....Thời gian trôi nhanh. Trước khi tốt nghiệp một năm, hệ thống XHCN tan rã, chúng tôi được Sứ quán thông báo, sau khi học xong, ai muốn về nước thì về, ai thích ở lại làm việc hoặc học tiếp cũng được phép, không bắt buộc phải về như xưa. Thế là sau khi tốt nghiệp, chúng tôi chia tay nhau, phần ở lại, phần về nhà....

Tôi ở lại tiếp có lẽ vì cái tự do ngọt ngào đã được trải nghiệm đó...Những năm sau này bạn bè, hàng xóm láng giềng cũ, mới người Hung của tôi gần gũi như người thân, có điều kiện, bên chén rượu, tách trà đàm đạo sự đời,  gia đình tôi có đi du lịch, tôi trao chìa khóa nhà, nhờ họ trông và cho cá ăn hộ, cây cảnh trong nhà tôi, phần lớn là họ tặng. Vui và thoải mái.

Đất Việt như cha mẹ, ông bà tổ tiên của tôi, đã sinh ra và nuôi tôi lớn khôn, nước Hung ôm tôi vào lòng và cho khỏang trời tự do, cả hai nơi tôi đều yêu qúi và  biết ơn.

Visegrádi várban vagyunk két Magyar tanárnővel
Ảnh chụp ở thành cổ Visegrád trong một chuyến du lich dài ngày do hai cô giáo Hung tổ chức

Hồng Sơn

Wednesday, November 7, 2018

Tiệm ăn Szeged ở Budapest

Ở góc đường Bartók Béla, ngay đường lên núi Gellért có một tiệm ăn tên Szegedi Vendéglõ. Vị trí rất đẹp, bên cạnh khách sạn Gellért, nhìn sang cầu Szabadság và bở sông Duna. Xe bus số 7 và số 1 có một ga đậu cách đó vài chục mét. Bên kia đường, ngày xưa có một tiệm chụp ảnh, năm ngoại ngữ bọn tôi đứa nào cũng chụp ảnh ở đó để gửi về cho gia đình.

Riêng tôi, tiệm ăn nay có một kỷ niệm đặc biệt chẳng kém gì tiệm bánh ở quảng trường Vörösmarti. Tôi để ý đến nó từ lâu vì bề ngoài của nó trông khá kín đáo, trang trí có vẻ sang trọng cổ điển và kín đáo, bằng các nét thêu dân tộc, nhưng không lòe loẹt. Thời xưa có thêm mấy con cá và cái lưới. Từ năm ngoại ngữ, mỗi lần đi qua tôi lại bụng bảo dạ, nhất định phải vào nhà hàng này. Nhưng hồi đó nó là hàng ăn hạng hai (Másodosztály) nên cũng hơi chờn vì trong túi hiếm khi có tiền.

Tuy vậy, ngày cuối cùng ở Budapest tôi phải vào đây 3 lần từ sáng đến 2g chiều. Trước tiên là chia tay Magdi. Tôi đưa nàng vào quán và gọi món xúp cá. Tất nhiên hai đứa tôi chén ngon lành, cố gắng không nói gì đến việc chia tay. Nàng cũng không hỏi tôi khi nào quay lại Hungari, hoặc quan hệ của chúng tôi là thế nào. Chúng tôi nói chuyện về chuyến đi Györ, Sopron, Kõszeg. Tôi nhớ buổi chiều hai đứa ngồi trên tường thành Kõszeg, một bức tường đá đổ nát chỉ còn sót lại một khoảng nhỏ. Ánh nắng tà, chiều hạ muộn buồn hiu bay tà tà, lơ lửng. Xung quanh không một bóng người, bầu không khí cô tịch bây giờ thật khó tìm lại. Tôi tự nhiên thấy hai đứa chúng tôi thật là cô đơn và xa nhau thăm thẳm, mặc dù nàng đang ngồi sát cạnh tôi. Chúng tôi đã đi một hành trình khá dài, qua nhiều điểm có thắng cảnh rất nổi tiếng. Nhưng tôi nghĩ vơ vẩn đâu đâu, và hoàn toàn không biết mình đang ở đâu, làm gì. Tôi chắc nàng cũng vậy.

 Tiệm Szegedi có một dàn nhạc Cigány chơi vĩ cầm rất hay. Mỗi nét nhạc đều len lỏi vào hồn người nghe. Tôi cố pha trò, cười vui, kể các kỷ niệm nhẹ nhàng và buồn cười của chúng tôi. Sau đó tôi tiễn nàng ra tàu điện số 2, đến quảng trường Váradi chúng tôi chia tay, như thế ngày mai sẽ gặp lại. Chỉ một puszi lướt nhẹ qua, hơi ẩm ướt hơn bình thường. Tôi ngoái nhìn lại, nàng ngoắc tay vẫy, Tôi nói "Nhớ liên lạc với Khánh và Ánh" rồi quay đầu đi thẳng. Nàng cũng không tỏ ra bịn rịn, nhưng khuôn mặt nhợt nhạt hơn bình thường. Chúng tôi không biết rằng hơn mười năm sau chúng tôi mới gặp lại.

   Người thứ 2 tôi hẹn chía tay sau đó là anh Khuê, nghiên cứu sinh Vật lý, ở Kruspér. Cũng lại ở Szegedi Vendéglõ. Lại súp cá. Khẩu phần rất lớn, nhiều bánh mì, thứ bánh mì của Hung bỏ nhiều muối nên khá đậm. Ánh dặn tôi đủ thứ, kể cả việc mua sắm các thứ mang về. Tôi nghe lơ đãng, chỉ ước được chạy ra đón chuyến tàu sớm nhất để về nhà Magdi.

    Đến khoảng 12g30 tôi chia tay anh Khuê và có một cái hẹn thứ 3 với Ánh và một bác Sứ Quán. Khi đó tôi được thầy và Viện Hàn Lâm đề nghị ở lại làm NCS. Tuy nhiên, tôi không có thành tích gì về quá trình hoc tập và tu dưỡng, do đó phải hỏi các bác Sứ quán xem nên làm gì. Tuy vậy, câu chuyện cũng chẳng ra đầu đũa gì. Bác Sứ khuyên tôi cố gắng tu dưỡng làm việc và về sớm. Đúng là mất toi thời gian quý báu vào chuyện trò vớ vẩn.

    Về nước, mỗi lần nhớ nước Hung, tôi lại nhớ đến tiệm ăn Szegedi và trận "thực chiến" kinh hoàng ba suất súp cá đầy đủ.

      Lần thứ hai quay lại Hung, chúng tôi ở đường Lágymányosi, sát cạnh trường BME, tôi lái xe qua tiệm Szegedi hàng ngày, nhưng không một lần đặt chân vào. Nhừng nơi có kỷ niệm nên giữ nguyên, nhớ tới nó một cách dè sẻn, để các cảm giác mới không đè lên cảm giác cũ. Ngày xưa Tự Đức có câu
      "Đập cổ kính ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hương." ý tứ cũng đại khái như thế.

     Năm 2014, tôi qua Hung, mọi người đãi súp cá toàn ở những tiệm rất sang, cách nâu cầu kỳ, dọn cùng Pates gan và vịt nhồi. Tôi ăn không thấy ngon, chỉ ước ao hai món: món súp cá ngày xưa, nước rất trong, một khúc cá chép ăn với bánh mì Hung, vị mặn và mì 4 trứng luộc ăn với súp nấu bằng xương cổ cánh gà, có cà rốt, củ trắng, hành tây, su hào. Ai cũng cười, và cuối cùng họ không đãi mấy món đó, cho rằng quá tầm thường.

    Năm nay, Tháng Năm 2018, tôi thuê nhà ở riêng trên đường Váci útca. Thấy rõ ràng là thưởng thức được bầu không khí ngày xưa nhiều hơn. Có một cô bạn quen đến chơi cứ đòi đưa chúng tôi đi ăn súp cá ở một cửa hàng sang trọng rất nổi tiếng. Tôi yêu cầu vào một nhà hàng càng bình dân càng tốt, hạng 3 hang 4 chẳng hạn. Đúng là Thạch Sùng thiếu mẻ kho, nhà giàu không quen húp tương, cô bạn lúng túng rõ rệt. Cuối cùng tôi đề nghị đến Szegedi. Cô ấy nói, súp cá ở đó xoàng, vì quá cổ lỗ. Tôi nói chính tôi cần cái cổ lỗ đó.

    Cuối cùng đến đó, món súp cá được dọn ra. Tuy cũng chỉ còn 80% của ngày xưa, nhưng ngon hơn nhiều so với các tiệm tôi được đãi lần trước. Cô bạn cũng phải đồng ý là súp cá ở đây cổ điển nhưng xuất sắc.










Thursday, November 1, 2018

Chuyện Vár

Hồi ở KTX vár, có một lần TL bắt gặp Thanh Bình (Sài Gòn) khóa 72-78 đứng bên cạnh cửa sổ như kiểu "Minden nap mikor el jön az este. Állok az ablak előtt..." ấy. Thấy em buồn lắm, mắt nhìn vô định. TL vội ghi lại cảm xúc ấy bởi mấy vần thơ bằng tiếng Hung đến bây giờ em ấy cũng ko biết. Hôm rồi gặp lại sau 40 năm, bỗng nhớ lại. Hôm nay TL đưa lên FB tặng em...
Menj tovább !
Szép, tiszta lelked 20-as évessekor
Menj tovább - az út téged vár.
Ne sajnálj - amit nem pótolhat.
Ne búsulj - szép még az élet !
Menj tovább - Nagy jövő téged vár.
Ne várj - Aki indulni nem akar
Ne nézz őt - Aki nem téged.
Csak menj tovább - A jövőre menj tovább !
Tạm dịch:
Đẹp lắm, trong sáng lắm tâm hồn em tuổi hai mươi.
Hãy bước tiếp, con đường lớn đang chờ em đó.
Đừng tiếc nuối những gì không còn nữa.
Đừng buồn chi, cuộc sống vẫn đẹp tươi.
Hãy bước tiếp, tương lai còn rộng mở.
Đừng đợi chờ, kẻ không muốn xuất hành.
Đừng nhìn lại, người không thấy em chờ đó
Hãy bước tiếp đi em, cùng tương lai song hành !

Tuesday, September 25, 2018

Chuyện Tháng 9: Chuyện tình sinh viên (đã cân nhắc trước khi kể)

Khi mới sang năm ngoại ngữ, tôi là cô bé nhà quê, khờ khạo, nhan sắc lại không bắt mắt( riêng độ “không bắt mắt” thì vẫn ổn định đến bây giờ 😄). Nên toi không có nhiều bạn trai đến kết bạn làm quen như những bạn gái khác. Nhưng không hiểu sao lên năm thứ nhất cũng có một anh năm trên “thích” tôi. Có lẽ “kinh nghiệm tình trường” của anh cũng không nhiều nên anh đã chọn “liệu pháp” không phù hợp với một đứa khờ như tôi, nghĩa là đi kèm với viết thư và đón đường anh còn vào tận phòng ở để tìm. Tôi “yếu”, “gió” lại mạnh nên tôi sợ và lẩn như chạch, không cho anh cơ hội gặp mặt. Cho đến một hôm, sau giờ học cuối, trời tối và lạnh, vừa ra khỏi lớp một đoạn, đột nhiên thấy anh xuất hiện từ sau cái cột, tôi không thể tránh mặt. Anh đứng im không nói gì và đột ngột tung một cú đá rất đẹp, đúng chuẩn con nhà võ về phía tôi ( tất nhiên là đá gió), rồi vẫn không nói gì, anh bỏ đi. Cô bạn đi cùng khóc rưng rức, còn tôi thì ngây ra vì ngạc nhiên. Nhưng tôi hiểu, tôi không còn phải sợ anh nữa. Và đúng vậy, từ đó trở đi tôi không bao giờ nhìn thấy anh trên con đường của mình (trên cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng).
Hơn 45 năm sau, một hôm tôi nhận được điện thoại “ alo, anh tên là..., em có còn nhớ anh không?” Dạ, em có nhớ”...thế rồi anh nói chuyện, hỏi thăm cuộc sống của tôi và nói lời xin lỗi tôi về hành động của mình lúc trước. Anh nói anh không hiểu sao lúc đó lại làm vậy. Bây giờ hết khờ rồi nên tôi cũng nói chuyện rôm rả và còn hẹn anh nếu có dịp vào sg thì báo để anh em đi uống cafe...Vài tháng sau tôi nhận được tin anh đã mất do bệnh. Lúc đó tôi mới hiểu: nói lời xin lỗi tôi là một trong những việc mà anh quyết định phải làm trước lúc đi xa mãi. Có lẽ bây giờ trên trời cao linh hồn anh đã hoàn toàn bình an và tự do 🙏❤️ 💐(bởi chỉ một vướng mắc xa xưa và nhỏ xíu vậy mà anh cũng không cho phép mình bỏ qua trước lúc từ giã cuộc đời).


( p/s hôm bữa nghe một bạn trai( bây giờ là lão “trai”) kể rằng: ngày trước có lần giận một bạn gái mà đã dại dột bỏ nắm tuyết vào cổ áo bạn. Tôi hỏi “ đã xin lỗi bạn chưa?”- “rồi”. Vậy mà khuôn mặt “lão nam” vẫn còn đầy vẻ ăn năn, hối hận. Nói thật, đàn ông của thế hệ mình sao đáng yêu quá vậy, rất chân thật và tự trọng ).
Sắp đến ngày 22/9 họp mặt hội Hung, chúc mọi người gặp nhau thật vui vẻ và ám áp 🍷🍷🍷...❤️❤️❤️...
“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Cuộc đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời...”( thơ Tôn Nữ Hỷ Khương)


Hồ Bích Đào (FB-Hội Hữu nghị Việt-Hung)
14.9.2018