Showing posts with label Torténelem - Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Torténelem - Lịch sử. Show all posts

Wednesday, January 24, 2024

Bi kịch holokauszt

 SỰ TÀN SÁT SẮC DÂN DO THÁI TẠI HUNGARY

Chương trình học tóm lược dành cho người nước ngoài muốn nhập tịch Hungary, trong phần nói về Đệ nhị Thế giới, sự “tận diệt” sắc dân Do Thái ở Hungary được đề cập một cách rất tóm tắt:

“Trong chính sách nội trị, Hungary ngày càng phải thực hiện những đòi hỏi của Đức Quốc xã. Người Do Thái hoặc gốc Do Thái bị tước quyền công dân thông qua các đạo luật, rồi vào năm 1944, vài trăm ngàn người bị đưa đi tới các trại tập trung của Đức, và chết thảm ở đó... Đảng Chữ thập nhọn được Đức ủng hộ lên chiếm quyền. Trong sự giết chóc của làn sóng khủng bố Chữ thập nhọn, hàng vạn thường dân bị thiệt mạng”.

Đoạn văn quá ngắn gọn, đương nhiên không cho thấy hết được sự thảm khốc của đại nạn holocaust tại Hungary, tức sự thảm sát sắc dân Do Thái ở tầm nhà nước và quy mô công nghiệp, một câu chuyện mà cho tới nay, khi được phản ánh trong phim ảnh, văn học - ví dụ trong sự nghiệp của Kertész Imre (1929-2016), văn hào Hung duy nhất được giải Nobel Văn chương - vẫn còn đem lại cảm giác nhức nhối và cay đắng tột cùng.

Đệ nhị Thế chiến (1939-1945) không chỉ là cuộc chiến tàn ác ở mức tột cùng trong lịch sử nhân loại với tổng số nạn nhân lên tới gần 62 triệu người, mà còn để lại những biểu tượng kinh hoàng của chết chóc, hủy diệt, của sự sụp đổ của nền văn minh và văn hóa Châu Âu hiện đại, như đại nạn holocaust và Lò thiêu Auschwitz, mà ý nghĩa và những bài học của chúng, cho đến nay, vẫn còn nguyên tính thời sự và cảnh báo.

Trong số những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của holocaust, Hungary đặc biệt ở chỗ, tại đây, sự đày ải và diệt chủng sắc dân Do Thái đã diễn ra với sự “hợp tác” và ủng hộ hết sức nhiệt tình của chính quyền và lực lượng hiến binh (csendőrség) nước này. Ngay sau khi bị Đức Quốc Xã chiếm đóng vào ngày 19/3/1944, chính phủ thân Đức của Hung đã ban hành hàng trăm sắc lệnh có nội dung bài xích người Do Thái.

Trước tiên, dân Do Thái bị buộc phải “cống nạp” các vật dụng được coi là quý thời đó, như xe hơi, điện thoại, đài điện... , để rồi sau đó, mọi tài sản của họ đều bị “phong tỏa”. Không chỉ bị cấm hành nghề bác sĩ, ký giả, trạng sư, diễn viên, không được kinh doanh và có cửa hiệu, không được làm trong bộ máy hành chính, dân Do Thái tại Hungary còn bị cấm bén mảng tới những nơi vui chơi giải trí công cộng, rạp phim, nhà hát.

Họ bị hạn chế lượng thực phẩm hàng ngày, thậm chí, một học viện còn được thành lập để “nghiên cứu khoa học” về “tính chất chủng tộc” của sắc dân Do Thái. Ngôi sao vàng sáu cánh mà người Do Thái buộc phải đeo trên vạt áo - như một dấu hiệu nhục nhã - đã vĩnh viễn biến họ trở thành những tử tù tiềm ẩn. Cánh cổng tử thần đã được mở ra trước họ, mà không ai biết tới và có thể làm được bất cứ điều gì để kháng cự!

Ít tuần sau, ngày 16/4/1944, một sắc lệnh đã được phê chuẩn nhằm “sung công” toàn bộ nhà cửa của dân Do Thái trên toàn quốc và người Do Thái thì bị ép buộc phải vào những biệt khu (ghetto). Sau đó một tháng, ngày 15/5/1944, holocaust khởi đầu tại Hungary với cường độ chóng mặt ở mức độc nhất vô nhị: hàng ngày, có tới 4-6 đoàn tàu hỏa chật kín dân Do Thái chuyển bánh từ Hungary tới thẳng Trại tử thần Auschwitz!

Chỉ với vỏn vẹn vài chục nhân viên Đức thuộc Đơn vị Trực chiến Đặc biệt (Sondereinsatz-kommando), nhưng Trung tá Quốc xã Adolf Eichmann - một trong những đao phủ chính yếu của đại nạn holocaust ở Châu Âu - đã nhận được sự tiếp tay rất “hiệu quả”, vượt xa mức mong đợi từ bộ máy hành chính và hiến binh Hungary, mà ông ta phải khâm phục thừa nhận là “chính xác và tỉ mỉ khủng khiếp, không kém gì của người Đức”.

Trong vòng một tháng rưỡi, hầu như tất cả cư dân Do Thái ở các tỉnh và các miền quê ở Hungary đã bị đưa đến những trại tập trung và hủy diệt ngoài nước Hung. Phải tới đầu tháng 7/1944, sự phản đối của các nhân sĩ trong và ngoài nước - cùng những thất bại của quân đội Đức và cuộc đổ bộ Normandy của phe Đồng minh - mới khiến chính phủ thân phát-xít của Hungary (Chữ thập nhọn) buộc phải ngừng các cuộc đày ải.

Bằng quyết định đó, chừng 200 ngàn người Do Thái đang bị giam giữ trong biệt khu Budapest (tại khu gần Nhà thờ Do Thái, gần Astoria hiện tại) tạm thời thoát chết, nhưng chỉ hai tháng của đại nạn holocaust cũng đã khiến chừng 500 ngàn dân Do Thái Hungary thiệt mạng tại các trại tập trung và lò thiêu người của Đức. Thời gian sau đó, người Do Thái không còn bị đưa tới Lò thiêu, nhưng họ vẫn bị tàn sát hàng loạt tại Hungary. 

Rất nhiều người bị đưa tới bờ sông Danube, đoạn chạy qua trung tâm thủ đô Budapest, bị bắt phải cởi hết quần áo và giày dép, để rồi bị các nhóm hành quyết xả súng bắn ngay xuống con sông lạnh giá trong mùa đông khắc nghiệt năm 1944. Tính ra, cứ 10 người Do Thái ở Châu Âu bị sát hại bởi bộ máy chiến tranh của Đức Quốc xã trong những năm tháng của Đệ nhị Thế chiến, thì có một là người Do Thái từ xứ sở Hungary!

Hôm nay, 27/1, Ngày tưởng niệm Holocaust Quốc tế, là dịp tưởng niệm các nạn nhân của tấn thảm kịch holocaust trong Đệ nhị Thế chiến, cuộc diệt chủng dẫn đến cái chết của khoảng 7 triệu người Do Thái và 11 triệu người khác, được thực hiện bởi Đức quốc xã và các chính phủ cộng tác với nó. Vào ngày 27/1/1945, Auschwitz-Birkenau, khu trại tập trung và hủy diệt lớn nhất của Đức Quốc xã, đã được Hồng quân giải phóng.

Nhân dịp này, cô Lukácsi Katalin, một cựu chính khách đảng cầm quyền KDNP, hiện là thành viên sáng lập và lãnh đạo Phong trào Nước Hung của Mọi người (MMM) đã có một thông điệp “lạ thường” khi cô đăng một tấm ảnh bán khỏa thân đen - trắng kèm bài viết ngắn trên mạng xã hội Facebook, để hướng sự chú ý của độc giả về sự kỳ thị chủng tộc, sự bài xích Do Thái đã dẫn tới thảm họa kinh khủng cách đây gần 8 thập niên:

“Holocaust là bi kịch của con người và về con người. Về tôi. Tôi cũng là người bằng da, bằng thịt và xương, có thể bị giết trong buồng hơi ngạt. Tuy nhiên, tôi có thể làm tất cả để đảm bảo rằng tôi và bất kỳ ai khác đều không bị giết một lần nữa. Để không bao giờ có con người chỉ bằng xương-thịt, mà là sự thánh thiện bằng xương-thịt”, cô viết và so sánh holocaust với sự khổ nạn của Chúa Jesus trên “Con đường Thương khó”.

“Những đôi giày bên bờ Dunube” (2005), tác phẩm để tưởng nhớ các nạn nhân của holocaust tại Hungary của hai tác giả Pauer Gyula và Can Togay

Nguyễn Hoàng Linh (27 Jan 2021)

Saturday, July 22, 2023

Nguồn gốc người Hungary và người Việt,

  1. Câu hỏi về nguồn gốc người Việt, nếu đứng về phía một cá nhân là vô nghĩa, bởi nếu ta là hậu duệ đời thứ n của một dòng họ, thì về nguyên tắc sẽ có tới 2 mũ n tiền bối. Với một trung bình 30 năm một đời, trong 900 năm sẽ có 30 đời, có tới một tỷ tiền bối, vượt xa số dân cả nước cách đây 900 năm. Có nghĩa là tất cả mọi người dân Việt vào thời đó đều có thể là tiền bối của ta. Như vậy nguồn gốc dân tộc chỉ thể đặt ra với đa số với một xác suất nào đó.

   2. Người Hungary cũng đã có nhiều băn khoăn về nguồn gốc của mình. Họ đi trước chúng ta về nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, khảo cổ và di truyền. Mặt khác họ cũng nhiều đặc trưng tương đồng với ta, nên ta có thể học hỏi. 

   3. Trước tiên, điểm giống nổi bật nhất là chúng ta cũng như họ đều có những huyền thoại học trong trường phổ thông về nguồn gốc dân tộc, có thể sai hoàn toàn, nếu nhìn từ khoa học hiện đại. Điểm thứ hai, di truyền học đã phủ nhận việc sử dụng chung ngôn ngữ bắt buộc kéo theo phải có họ hàng về di truyền. Di truyền học chứng tỏ, người Hung và người Phần Lan, tuy cùng nói các thứ tiếng trong ngữ hệ Finugor, có rất ít điểm chung về di truyền.  Vì vậy, nếu tiếng Việt thuộc về ngữ hệ Nam Á, không có nghĩa là chúng ta phải là họ hàng gần với người Khmer hơn là là người Thái và Lào.        

   4. Vào thế kỷ 5, có một đế chế lớn ở Đông Âu với vị tù trưởng là Attila (giống như Hùng) với sắc dân là hun (giống như là lạc). Tới thế kỷ 9, có 7 bộ lạc dân với tù trưởng là Arpad,  tự gọi mình là magyar (Việt) , đổ bộ vào nước Hung từ đâu đó thuộc lãnh thổ Ukraina ngày nay (Nam Lào). Các bộ lạc này có khoảng 30-40% gốc Á châu (Nam Á). Cố nhiên, chiếm đất không thể bằng hòa bình, và kết quả là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã thất bại hoàn toàn. Kết quả người Hun biến mất, người Magyar trở nên chủ nhân của Hungary.  Và người Hungary hiện đại cũng tự cho mình là Magyar.

    5. Tuy nhiên kết quả di truyền mới nhất cho thấy, trong gene của người Hung hiện đại, gene của người Hun là lấn át. Như vậy, người Hung hiện đại gần với người Hun hơn người magyar thời Arpad vào nước Hung. Kết quả di truyền học cũng xóa sổ thuyết người Hung có nguồn gốc từ một chủng tộc Finugor nào đó nói tiếng Finugor. Như vậy, việc dân tộc Việt có nguồn gốc Việt Cổ Nam Á, nói tiếng Môn-Khmer, có thể cũng tương tự. 

     6. Tuy vậy, người Việt đã học tiếng Nam Á thế nào. Người Hung cũng đã đặt câu hỏi đó với chính họ. Về mặt từ vựng, tiếng Hung có nhiều từ gốc Thổ, Bun, Iran, cũng tương tự như từ vựng Hán Việt. Cố nhiên với tỷ lệ thấp hơn. Đây là một câu hỏi không dễ, bởi vì ngôn ngữ không ghi lại trong gene di truyền và rất hiếm bằng chứng. Tuy vậy người Hung đang có một số giả thuyết: người magyar của Arpad đã học tiếng Hung từ người Avar ở vùng đất Ukraina ngày nay. Có giải thuyết lại cho rằng người Hun đã nói tiếng Hung. 

     7. Di truyền học cũng chứng minh, thành phần của 7 bộ lạc của Arpad khá khác nhau về sinh học. Đặc biệt gene của tầng lớp thượng lưu khác hẳn gene của tầng lớp thảo dân. Có nghĩa là họ có thể nói nhiều thứ tiếng khác nhau. Tuy nhiên, khi chiếm được đất của người Hun, tàn sát nam nhân Hun, lấy nữ nhân Hun, thế hệ con học tiếng từ mẹ, và người magyar bắt đầu học tiếng Hung từ các bà mẹ đó và tiếng Hung trở thành tiếng của người Hung thời sau Arpad.

      8. Tương tự, cho dù không hoàn toàn giống hệt. Người Lạc-Việt có gốc Thái Tráng, có thể đã chinh phục được một tộc người Nam Á, và học tiếng của họ theo cách tương tự. Tuy vậy trong trường hợp người Việt, gene Thái-Tráng vẫn trội hơn. Cũng có thể, ngược lại, có một tộc Việt cổ, nói tiếng Nam Á, đổ bộ vào đồng bằng sông Hồng đã chinh phục được nhóm người Thái Tráng bản địa, và mang bộ gene Thái Tráng, tương tự người magyar chinh phục người hun. Tuy nhiên, nhóm người này có ngôn ngữ Nam Á thuần nhất và khá hoàn thiện, nên hậu duệ của họ chọn ngôn ngữ này. Vì vậy khả năng này gần với giả thuyết người magyar của Arpad học tiếng Hung ở vùng Ukraina ngày nay.     

     9.  Việc gene người Việt hiện đại gần với Thái Tráng cả về phía bố và phía mẹ, cho thấy rằng, có thể đàn ông Thái Tráng không bị tàn sát, tộc Việt cổ nói tiếng Nam Á chỉ tạo ra tầng lớp thiểu số tinh hoa  một thời gian. Có thể tổng quát hóa để giả thiết, ngôn ngữ là của tầng lớp thượng lưu thống trị, có thể chỉ là thiểu số, gene di truyền là của đám đông. Làm sao thiểu số lại có thể chinh phục đám đông? Chẳng hạn như trường hợp của Thục Chế, vốn có thể là người gốc Miêu-Dao, có thể chinh phục 10 bộ lạc Thái Tráng ở Quảng Tây, có lẽ có ưu thế  về kỹ thuật quân sự sử dụng cung nỏ kèm theo đó là tri thức tổ chức tốt hơn. Như vậy rất có thể nhà nước Âu Lạc của Thục Phán có elite gốc Thục (Miêu Dao) đa số dân là Thái Tráng. 

    10. Câu hỏi đặt ra là liệu Âu Lạc có nói tiếng Thục? Đó là một khả năng. Tuy nhiên khả năng khác là Thục đã Hán hóa rất mạnh, do đó có thể Âu Lạc nói một thứ tiếng Việt cổ pha tiếng Hán. Tức là nói một thứ tiếng Hán bồi, chính là tiếng Việt sau này. Điều đó có nghĩa là quá trình chinh phục của tộc Việt cổ nói tiếng Nam Á, đối với tộc Lạc Việt gốc Thái Tráng diễn ra trước Thục Phán. Do thời gian sống của Âu Lạc không dài nên hiển nhiên ảnh hưởng Miêu Dao lên ngôn ngữ Việt không lớn. 

     11. Trở lại việc tộc Việt cổ Nam Á có được ưu thế gì để chinh phục tộc Lạc Việt Thái Tráng. Có thể ở binh khí, trình độ tổ chức, tôn giáo, kỹ nghệ dùng đồ kim loại.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, March 6, 2022

Bài học từ các nước Đông Âu

 MẢNH GIẤY LỘN CỦA CHURCHILL VÀ SỐ PHẬN BẢY NƯỚC ĐÔNG ÂU

Hôm đó là ngày 9 tháng 10, 1944, Thủ tướng Anh Winston Churchill đến Moscow gặp Joseph Stalin để bàn về tương lai của các quốc gia vùng Balkans. 

Bán đảo Balkans là khu vực địa lý bao gồm các quốc gia ở phía nam Châu Âu giữa Biển Adriatic và Địa Trung Hải trong đó có những quốc gia nằm hẳn hay nằm một phần trong bán đảo như Albania, Bulgaria, Hy Lạp, Romania, Thổ Nhĩ Kỳ v.v...

Chuyến viếng thăm lịch sử này được ghi lại trong cuốn thứ sáu của bộ sách về Thế Chiến Thứ Hai của Winston Churchill (The Second World War. Volume VI, Triumph and Tragedy by Winston Churchill). 

Vào buổi tối ngày đầu sau khi đến Churchill nói với Stalin: “Cho đến nay, như Anh và Nga quan tâm, làm thế nào để Nga có được 90% ưu thế tại Romania, để chúng tôi có 90% Hy Lạp, và 50-50 Nam Tư?"  

Trong khi chờ thông dịch viên dịch, Churchill viết ra những đề nghị đó chi tiết hơn trên nửa tờ giấy và đưa cho Stalin. Theo lời của Churchill: “Tôi chuyển mảnh giấy nhỏ cho Stalin. Ông ta cũng vừa nghe xong lời dịch. Có một khoảng im lặng ngắn. Sau đó, Stalin lấy cây bút chì màu xanh của mình và đánh một dấu lớn trên nó, và chuyển lại cho tôi. Tất cả đã được giải quyết trong thời gian không quá lâu. Sau đó là một khoảng lặng dài. Tờ giấy và cây bút chì nằm ở giữa bàn.” 

Nội dung nửa tời giấy như sau:

Romania: 

. Nga 90%

. Các quốc gia khác 10%

Hy Lạp:

. Anh (cùng với Mỹ): 90%

. Nga: 10%

Nam Tư: 50-50%

Hungary: 50-50%

Bulgaria:

. Nga 75%

. Các quốc gia khác: 25%

Churchill cũng lo ngại một ngày mảnh giấy đó được tiết lộ ra ngoài sẽ tạo nên những hoài nghi trong những người mà số phận của họ đã bị những cường quốc bên ngoài quyết định. Nghĩ vậy, ông ta đề nghị với Stalin nên đốt mảnh giấy đó đi, nhưng Stalin không cho đó là quan trọng và đáp “Không, ông cứ giữ mảnh giấy đó.”

Trong thời điểm 1944, các dân tộc vùng Balkans hoàn toàn không biết rằng dù có thắng Hitler số phận của họ cũng đã bị ký thác vào tay một đồ tế khác độc tài và tàn bạo không kém là Stalin. 

Tài liệu đó dưới góc nhìn của các dân tộc Romania, Bulgaria, Hungary, Nam Tư và các nước Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc bị CS hóa dây chuyền là một bằng chứng cho sự phản bội của đồng minh. 

Tuy nhiên, trong quan điểm của Churchill, Romania là một thảm kịch không tránh khỏi sau Thế Chiến Thứ Hai. Trong nhãn quan của các nhà nghiên cứu địa lý chính trị, Romania trong vị trí vùng độn giữa hai khối thế lực CS và Tự Do, đã không có con đường nào thoát. Churchill dù không đổi chác thì quân đội Stalin cũng đã chiếm Romania trước đó rồi. 

Không có tài liệu cho thấy Stalin dựa vào những điểm lợi nào để đồng ý Hy Lạp thuộc về Anh và các quốc nước vùng Balkans thuộc về Liên Xô. Tuy nhiên, về phía Churchill ý định của ông tương đối rõ ràng. Churchill đứng trước một chọn lựa: giữ các nước vùng Địa Trung Hải và hy sinh phần Đông Âu cho Stalin.  

Anh và Mỹ ngoài một số nhân viên tình báo không có lực lượng quân sự nào đáng kể tại Đông Âu. 

Nếu năm 1942, Đồng Minh đổ bộ Balkans thay vì đổ bộ Bắc Phi thì khuôn mặt thế giới sau Thế Chiến Thứ Hai đã khác, Bức Màn Sắt cũng như Chiến Tranh Lạnh có thể không có. Nhưng đó chẳng qua là bàn chuyện đã rồi. 

Mảnh giấy mà chúng ta thường gọi là “giấy lộn” chỉ hơn mười chữ được Churchill giữ lại là một trong những tài liệu đổi chác lãnh thổ quan trọng nhất của Thế Chiến Thứ Hai.

Hành động đơn giản như trò chơi giữa hai đứa trẻ nhưng đã quyết định số phận của bảy quốc gia (Tiệp, Ba Lan, Romania, Albania, Bulgaria, Nam Tư, Hungary) chưa tính Đông Đức, suốt 46 năm với không biết bao nhiêu nghèo nàn, chết chóc, ngục tù và chịu đựng. 

BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Về địa lý chính trị, vị trí Việt Nam cạnh Trung Cộng giống như vị trí của Romania cạnh Liên Xô trong Thế Chiến Thứ Hai. 

Trong số mười xung đột nóng ở Á Châu hiện nay, Biển Đông và Đài Loan là hai điểm nóng nhất. Chiến tranh trong khu vực này sớm hay muộn cũng xảy ra. 

Chính sách bành trướng bất chấp luật pháp quốc tế từ khi lên nắm quyền tới nay cho thấy Tập Cận Bình đang quyết tâm thôn tính vùng Biển Đông trù phú tài nguyên và kiểm soát đường hải hành huyết mạch của Á Châu. Y chạy đua với thời gian để thiết lập các “status quo” trên Biển Đông trước khi các liên minh quân sự trong vùng đủ mạnh để gây áp lực. 

Theo tài liệu của Hội Đồng Quan Hệ Đối Ngoại (Council on Foreign Relations), một “think tank” chính trị đặt tại Washington D.C., cho tới năm 2018, Trung Cộng đã hoàn tất xây dựng bảy đảo nhân tạo,  20 căn cứ quân sự và chiếm 3,200 mẫu diện tích Biển Đông. 

Mục đích chạy đua của Trung Cộng là Mỹ chứ không phải Nhật, Ấn hay các nước nhỏ trong vùng. Mặc dù miệng thỉnh thoảng đánh võ mồm, để đạt mục đích, Trung Cộng cần ổn định hơn quốc gia nào khác. 

Nhưng trong tương lai nếu phải mở ra một cuộc chiến tranh giới hạn nhằm răn đe các nước nhỏ trong vùng, làm nguội chảo dầu Đại Hán tại lục địa và dập tắt các mâu thuẫn trong nội bộ đảng CSTQ như Mao đã làm trong Chiến Tranh Triều Tiên và Đặng đã làm trong Chiến Tranh Biên Giới Việt-Trung, Tập hay những kẻ cai trị kế y sẽ chọn kẻ thù nào? 

Đài Loan chăng?  Thôn tính Đài Loan, Tập không tiên liệu được hậu quả. Vì lý do có Mỹ đứng sau lưng và sẵn sàng can thiệp bằng các phương tiện chiến tranh hiện đại như đã được bảo đảm trong Đạo Luật Quan Hệ Đài Loan 1979, Trung Cộng chưa dám đụng đến quốc đảo này. 

Đối tượng còn lại là CSVN. 

Bài học Chiến Tranh Biên Giới 1979 cho giới cai trị Bắc Kinh biết dù chớp nhoáng và giới hạn, “trừng phạt” võ trang với CSVN trong lần tới phải xử dụng sức mạnh của không và hải lực. Khi Hội Đồng Bảo Anh LHQ nhóm họp để bàn về lá thư phản đối của CSVN thì Tập tuyên bố “cuộc trừng phạt giới hạn xong rồi”. 

Ai sẽ cứu Việt Nam? Khỏi cần tìm hiểu gần xa, một người có nhận thức chính trị căn bản nào cũng trả lời được ngay là không ai cứu cả. Không ai cứu một người mà người đó không muốn tự cứu lấy chính mình. 

Tạm gát qua bên cuộc chiến nhuộm đỏ Việt Nam, CSVN có hơn 45 năm để đưa đất nước vừa chấm dứt chiến tranh thành một quốc gia vững mạnh ở Á Châu. Nhưng bao thế hệ giới cai trị CS Việt Nam đã không làm được. 

Lý do chỉ vì cơ chế. Một con tàu to lớn đầy ắp tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động và tiềm năng kinh tế, kỹ thuật lại chạy bằng chiếc máy cũ được chế tạo tại Nga tròn 103 năm trước. Đầu máy xe lửa đó đang được đặt trong các bảo tàng viện Đông Âu, riêng tại Việt Nam vẫn còn khói tuôn mù mịt mỗi ngày.

Sở dĩ Churchill bảo vệ Hy Lạp vì ngoài vị trí chiến lược, ông tin phe cộng hòa tại quốc gia này đủ mạnh để có thể thắng CS. Nếu năm 1944, Hy Lạp đã là một nước CS và đặt dưới cai trị của một đảng CS chuyên chính, chỉ biết phục tùng đảng mẹ Liên Xô như đảng CSVN đối với Trung Cộng ngày nay, thì Churchill có thể đã phải tìm phương án khác.

Khi phân tích hoàn cảnh lịch sử thời Thế Chiến Thứ Hai, một số nhà sử học cho rằng nếu người dân Romania muốn đổ lỗi thì thay vì đổ lỗi cho Anh, Mỹ trước hết họ nên đổ lỗi lên đầu giới lãnh đạo Romania bán nước thời đó đứng đầu là Ion Antonescu. 

Tên phản quốc Antonescu này là một tay sai trung thành của Hitler. Tháng Ba, 1944, y có cơ hội đầu hàng Anh trước khi Romania bị Liên Xô tấn công trên đường tiến qua Đức. Nhưng không. Tham vọng quyền lực đã làm Antonescu thành mù lòa và y đã theo lịnh Hitler để từ chối tối hậu thư của Anh. 

Sau khi đánh bại Đức và chế độ Antonescu thân Đức, Liên Xô nắm toàn quyền sinh sát trên số phận của Romania. Antonescu bị bắt giữ và bị kết án xử bắn vì nhiều tội trong đó có trọng tội phản bội tổ quốc Romania. Trước khi trách người, dân tộc Romania nên tự trách mình đã để yên cho tên độc tài bán nước Antonescu “rước voi” Hitler “về giày mả tổ” Romania. 

Romania chịu đựng dưới ách CS gần nửa thế kỷ là bài học cho người Việt quan tâm đến tương lai đất nước. Không chỉ sau Thế Chiến Thứ Hai mà cả Cách Mạng Hungary 1956, Mùa Xuân Prague 1968 đều bị Anh Mỹ làm ngơ ngoài những lời tố cáo Liên Xô lấy lệ tại Liên Hiệp Quốc. Nhưng các dân tộc Đông Âu không tuyệt vọng, không nản chí, không ngồi chờ mà đã bằng nhiều cách vươn lên và cuối cùng đã thoát ra khỏi xích xiềng CS. 

Trần Trung Đạo

Sunday, April 4, 2021

Đất nước hình thành từ thất bại sau 1 trận đánh

 Thay đổi văn hoá, kị binh nhẹ và giáp nặng giáo dài

    Kỵ binh nhẹ Hungary từng là nỗi khiếp sợ cho toàn thể Âu châu. Vó ngựa của Hungary đã vào Paris, đến Tây Ban Nha, đi lại trên nước Ý như chỗ không người. 

    Kỵ sĩ Hung sử dụng cung tên, đoản kiếm và rìu. Cung tên bắn xa, đoản kiếm ưu thế so với trường kiếm trong cận chiến, rìu phá tan giáp trụ nhẹ. Cả châu Âu đầu tư vào kỵ binh nhẹ để mong đối địch với kỵ sĩ Hungary. Nhưng vô vọng, cưỡi ngựa, bắn cung, sử rìu và đoản kiếm phải có dòng máu Hungary. Không ai hơn được họ. Các đoàn kỵ binh hàng chục ngàn người vẫn tiếp tục xé các binh đoàn có thể đông hơn, nhưng chậm chạp vụng về thành từng mảnh nhỏ và nghiền nát các mảnh đó. 

      Tuy vậy, tại trận Augsburg, chú nhóc tì Otto của Đức đã xuất hiện với các khối trận hình vuông, khiên dày, giáp nặng và cứng, kết hàng chặt chẽ. Các viên tướng Hung trải trăm trận, xung kích từ sáng đến tối không tài nào phá vỡ được khối thiết giáp, bị lính Đức thừa dịp chĩa giáo dài ra xiên như xiên chả. Kết quả các tướng kiệt hiệt nhất đều bỏ mạng tại Augsburg. 

     Tuy vậy, quân Hung thua trận và thương vong do say mê công kích. Họ bỏ đi, không bị truy đuổi nên vẫn còn lực lượng. Đa số người Hung vẫn nghĩ đó chỉ là tai nạn. Đối với họ kỵ binh nhẹ, cung tên, rìu, đoản kiếm là đỉnh cao đã được tôn vinh, trải qua bách chiến bách thắng. Thiết giáp nặng là một lũ vụng về, một kỵ sĩ Hungary có thể đối địch cả chục người như bỡn. Chỉ có một tướng trẻ là Geza, nghĩ nát óc vẫn không thể ra cách khắc chế thiết giáp nặng và giáo dài. Nếu quy mô vài trăm người, chỉ cần một toán kị binh vài chục người có thể làm cỏ trong nháy mắt. Nhưng nếu có vài ngàn quân thiết giáp, không có cách xuyên thủng, càng hùng hổ càng bị xiên bởi giáo dài.

      Geza trở thành vua Hungary, ông quyết tâm từ bỏ văn hoá truyền thống, với vinh quang chiến trận và sở trường kị binh nhẹ. Ông biết chắc rằng, nếu cứ tiếp tục với các giá trị văn hoá viển vông như vậy, dân tộc Hung sẽ trở thành kẻ thù của toàn châu Âu và chỉ có hai con đường: tuyệt diệt hay bị tống cổ khỏi châu Âu như một lũ mọi rợ.

      Geza gửi con trai là Istvan sang Đức và làm rể cho một công tước Đức. Ông biết rằng mình không còn thời gian thay đổi cả một nền văn hoá, nên gửi gắm điều đó lại cho con là Istvan. Geza qua đời, Istvan nối ngôi, quyết theo đạo Thiên Chúa để hội nhập với Châu Âu. Giới quý tộc kị sĩ chống lại chủ trương này. Cầm đầu là Kopany, lãnh chúa vùng Zala, vai chú của Istvan, một trong những tướng kiệt hiệt nhất của quân kị Hung. Để có tư cách chiếm ngai vàng của Istvan, Kopany tuyên bố là hôn phu của mẹ Istvan để có tư cách giành ngôi báu và đem quân về thành Veszprem để tóm cổ thằng nhóc hỗn láo. Khi quân kị của Kopany đến gần Veszprem thì gặp các đội thiết giáp nặng của Đức từ phía nhà vợ của Istvan huy động tới đã bày trận sẵn. Kị binh lớp lớp xung trận đều không thể phá được khối trận dày đặc bị giáo dài xiên như xiên chả. 

     Đến chiều, quân của Kopany mệt mỏi, chỉ còn lại 2-3 phần, đội ngũ tan tác, toan rút lui, thì các khối phương trận dày đặc đã bịt kín mọi phía. Các khối sắt thép từ từ ép lại giáo đâm tua tủa nghiền nát từng nhóm kị binh hoảng loạn và vô vọng. Kopany bị giết, chặt đầu treo lên cổng thành Veszprem. Xác bị xé làm 4 mảnh gửi đi treo trên các thành còn lại của Hungary. Hungary chính thức chấm dứt văn hoá kẻ cướp và từ giã nghệ thuật cưỡi ngựa, bắn cung, làm hiến pháp, xây dựng nhà thờ, trường học, trồng lúa mì, nấu rượu nho, trở thành dân tộc văn minh. Istvan được phong Thánh trở thành vị quân chủ lỗi lạc nhất lịch sử, tên tuổi gắn liền với Hiến pháp Hung. Dân tộc Hung nổi tiếng thông minh. Bắt đầu từ việc sử dụng giáo dài thô vụng, chậm chạp, khắc chế kị binh nhẹ tưởng như là tinh hoa nghệ thuật dân tộc.

Tp. Augsburg ngày nay

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, January 27, 2021

Tìm hiểu lịch sử châu Âu: SỰ TÀN SÁT SẮC DÂN DO THÁI TẠI HUNGARY

Chương trình học tóm lược dành cho người nước ngoài muốn nhập tịch Hungary, trong phần nói về Đệ nhị Thế giới, sự “tận diệt” sắc dân Do Thái ở Hungary được đề cập một cách rất tóm tắt:

“Trong chính sách nội trị, Hungary ngày càng phải thực hiện những đòi hỏi của Đức Quốc xã. Người Do Thái hoặc gốc Do Thái bị tước quyền công dân thông qua các đạo luật, rồi vào năm 1944, vài trăm ngàn người bị đưa đi tới các trại tập trung của Đức, và chết thảm ở đó... Đảng Chữ thập nhọn được Đức ủng hộ lên chiếm quyền. Trong sự giết chóc của làn sóng khủng bố Chữ thập nhọn, hàng vạn thường dân bị thiệt mạng”.

Đoạn văn quá ngắn gọn, đương nhiên không cho thấy hết được sự thảm khốc của đại nạn holocaust tại Hungary, tức sự thảm sát sắc dân Do Thái ở tầm nhà nước và quy mô công nghiệp, một câu chuyện mà cho tới nay, khi được phản ánh trong phim ảnh, văn học - ví dụ trong sự nghiệp của Kertész Imre (1929-2016), văn hào Hung duy nhất được giải Nobel Văn chương - vẫn còn đem lại cảm giác nhức nhối và cay đắng tột cùng.

Đệ nhị Thế chiến (1939-1945) không chỉ là cuộc chiến tàn ác ở mức tột cùng trong lịch sử nhân loại với tổng số nạn nhân lên tới gần 62 triệu người, mà còn để lại những biểu tượng kinh hoàng của chết chóc, hủy diệt, của sự sụp đổ của nền văn minh và văn hóa Châu Âu hiện đại, như đại nạn holocaust và Lò thiêu Auschwitz, mà ý nghĩa và những bài học của chúng, cho đến nay, vẫn còn nguyên tính thời sự và cảnh báo.

Trong số những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của holocaust, Hungary đặc biệt ở chỗ, tại đây, sự đày ải và diệt chủng sắc dân Do Thái đã diễn ra với sự “hợp tác” và ủng hộ hết sức nhiệt tình của chính quyền và lực lượng hiến binh (csendőrség) nước này. Ngay sau khi bị Đức Quốc Xã chiếm đóng vào ngày 19/3/1944, chính phủ thân Đức của Hung đã ban hành hàng trăm sắc lệnh có nội dung bài xích người Do Thái.

Trước tiên, dân Do Thái bị buộc phải “cống nạp” các vật dụng được coi là quý thời đó, như xe hơi, điện thoại, đài điện... , để rồi sau đó, mọi tài sản của họ đều bị “phong tỏa”. Không chỉ bị cấm hành nghề bác sĩ, ký giả, trạng sư, diễn viên, không được kinh doanh và có cửa hiệu, không được làm trong bộ máy hành chính, dân Do Thái tại Hungary còn bị cấm bén mảng tới những nơi vui chơi giải trí công cộng, rạp phim, nhà hát.

Họ bị hạn chế lượng thực phẩm hàng ngày, thậm chí, một học viện còn được thành lập để “nghiên cứu khoa học” về “tính chất chủng tộc” của sắc dân Do Thái. Ngôi sao vàng sáu cánh mà người Do Thái buộc phải đeo trên vạt áo - như một dấu hiệu nhục nhã - đã vĩnh viễn biến họ trở thành những tử tù tiềm ẩn. Cánh cổng tử thần đã được mở ra trước họ, mà không ai biết tới và có thể làm được bất cứ điều gì để kháng cự!

Ít tuần sau, ngày 16/4/1944, một sắc lệnh đã được phê chuẩn nhằm “sung công” toàn bộ nhà cửa của dân Do Thái trên toàn quốc và người Do Thái thì bị ép buộc phải vào những biệt khu (ghetto). Sau đó một tháng, ngày 15/5/1944, holocaust khởi đầu tại Hungary với cường độ chóng mặt ở mức độc nhất vô nhị: hàng ngày, có tới 4-6 đoàn tàu hỏa chật kín dân Do Thái chuyển bánh từ Hungary tới thẳng Trại tử thần Auschwitz!

Chỉ với vỏn vẹn vài chục nhân viên Đức thuộc Đơn vị Trực chiến Đặc biệt (Sondereinsatz-kommando), nhưng Trung tá Quốc xã Adolf Eichmann - một trong những đao phủ chính yếu của đại nạn holocaust ở Châu Âu - đã nhận được sự tiếp tay rất “hiệu quả”, vượt xa mức mong đợi từ bộ máy hành chính và hiến binh Hungary, mà ông ta phải khâm phục thừa nhận là “chính xác và tỉ mỉ khủng khiếp, không kém gì của người Đức”.

Trong vòng một tháng rưỡi, hầu như tất cả cư dân Do Thái ở các tỉnh và các miền quê ở Hungary đã bị đưa đến những trại tập trung và hủy diệt ngoài nước Hung. Phải tới đầu tháng 7/1944, sự phản đối của các nhân sĩ trong và ngoài nước - cùng những thất bại của quân đội Đức và cuộc đổ bộ Normandy của phe Đồng minh - mới khiến chính phủ thân phát-xít của Hungary (Chữ thập nhọn) buộc phải ngừng các cuộc đày ải.

Bằng quyết định đó, chừng 200 ngàn người Do Thái đang bị giam giữ trong biệt khu Budapest (tại khu gần Nhà thờ Do Thái, gần Astoria hiện tại) tạm thời thoát chết, nhưng chỉ hai tháng của đại nạn holocaust cũng đã khiến chừng 500 ngàn dân Do Thái Hungary thiệt mạng tại các trại tập trung và lò thiêu người của Đức. Thời gian sau đó, người Do Thái không còn bị đưa tới Lò thiêu, nhưng họ vẫn bị tàn sát hàng loạt tại Hungary. 

Rất nhiều người bị đưa tới bờ sông Danube, đoạn chạy qua trung tâm thủ đô Budapest, bị bắt phải cởi hết quần áo và giày dép, để rồi bị các nhóm hành quyết xả súng bắn ngay xuống con sông lạnh giá trong mùa đông khắc nghiệt năm 1944. Tính ra, cứ 10 người Do Thái ở Châu Âu bị sát hại bởi bộ máy chiến tranh của Đức Quốc xã trong những năm tháng của Đệ nhị Thế chiến, thì có một là người Do Thái từ xứ sở Hungary!

Hôm nay, 27/1, Ngày tưởng niệm Holocaust Quốc tế, là dịp tưởng niệm các nạn nhân của tấn thảm kịch holocaust trong Đệ nhị Thế chiến, cuộc diệt chủng dẫn đến cái chết của khoảng 7 triệu người Do Thái và 11 triệu người khác, được thực hiện bởi Đức quốc xã và các chính phủ cộng tác với nó. Vào ngày 27/1/1945, Auschwitz-Birkenau, khu trại tập trung và hủy diệt lớn nhất của Đức Quốc xã, đã được Hồng quân giải phóng.

Nhân dịp này, cô Lukácsi Katalin, một cựu chính khách đảng cầm quyền KDNP, hiện là thành viên sáng lập và lãnh đạo Phong trào Nước Hung của Mọi người (MMM) đã có một thông điệp “lạ thường” khi cô đăng một tấm ảnh bán khỏa thân đen - trắng kèm bài viết ngắn trên mạng xã hội Facebook, để hướng sự chú ý của độc giả về sự kỳ thị chủng tộc, sự bài xích Do Thái đã dẫn tới thảm họa kinh khủng cách đây gần 8 thập niên:

“Holocaust là bi kịch của con người và về con người. Về tôi. Tôi cũng là người bằng da, bằng thịt và xương, có thể bị giết trong buồng hơi ngạt. Tuy nhiên, tôi có thể làm tất cả để đảm bảo rằng tôi và bất kỳ ai khác đều không bị giết một lần nữa. Để không bao giờ có con người chỉ bằng xương-thịt, mà là sự thánh thiện bằng xương-thịt”, cô viết và so sánh holocaust với sự khổ nạn của Chúa Jesus trên “Con đường Thương khó”.

Nguyễn Hoàng Linh

Friday, August 21, 2020

Về 2 quê hương

 CON CHIM THIÊNG TURUL VÀ LỊCH SỬ CHINH PHỤC ĐẤT NƯỚC CỦA NGƯỜI HUNG (Phần 2)

Chim thiêng Turul trước Cung điện Hoàng gia trên Đồi Buda

Chim Turul huyền thoại của người Hung cổ là loại chim gì? Căn cứ các huyền thoại và bằng cứ về ngôn ngữ, không thể khẳng định được chắc chắn, nó là chim ưng hay đại bàng. Chỉ biết, rất có thể nó là loài chim của dân săn bắn, gắn liền với đời sống của họ tại những vùng thảo nguyên mênh mông Nội Á.

Trong lịch sử của dân tộc Hungary, sử gia lừng danh Kézai Simon trong bộ quốc sử “Gesta Hunnorum et Hungarorum” (Hành sự của người Hung Nô và người Hung” (thế kỷ 13) cho hay, chim Turul đội vương miện từng là biểu tượng trong chiến đấu của các bộ lạc Hung cho tới thời của Vương công Géza.

Huyền thoại cổ của Hungary hai lần nhắc tới vai trò của chim thiêng Turul, và lần thứ nhất là sự tích về giấc mơ báo mộng của bà Emese, mẹ của thủ lĩnh Álmos sau này. Đã từng có cách lý giải, cho rằng chính Turul đã khiến bà Emese thụ thai, khiến bà trở nên là “mẫu hậu” của tất cả người Hung cổ đại.

Những nghiên cứu mới hơn thì cho hay, thật ra Turul xuất hiện trong giấc mộng của một phụ nữ đang có thai, và nhiệm vụ của nó là bảo vệ đứa con trong bụng bà mẹ. Dù thế nào đi nữa, thì sự xuất hiện của Turul với bà Emese khi các bộ lạc Hung còn đang tìm đường tới quê hương mới, là rất thiêng liêng.

Lần thứ hai Turul xuất hiện, là trong quá trình chinh phục đất nước của người Hung. Khi đó, người Hung còn ở Levédia, và thủ lĩnh của các bộ lạc Hung mơ rằng súc vật của họ bị một đàn đại bàng khổng lồ cắn xé, và không làm sao họ chống đỡ nổi vì đàn chim luôn tấn công bất ngờ.

Khi đó, xuất hiện một con Turul can đảm và nhanh như cắt, nó lao từ trên xuống cắn chết tươi một con đại bàng. Thấy thế, lũ đại bàng hoảng sợ chạy trốn. Vì vậy, người Hung quyết định rời Levédia để tìm nơi khác sinh sống: đó là mảnh đất mà Thiền vu A Đề Lạp (Attila) của dân Hung Nô đã để lại cho họ.

Thiền vu A Đề Lạp (Attila), “Ngọn roi của Thượng Đế”

Tuy nhiên, do không biết đường nên người Hung cứ quanh quẩn không tới được đích. Khi đó, Turul lại xuất hiện và bảo thủ lĩnh của người Hung hãy đi theo nó, và rồi nó bay đi mất dạng. Tỉnh dậy sau giấc mơ, người thủ lĩnh đưa các bộ lạc Hung đi tiếp, tới khi một bệnh dịch khiến đàn gia súc của họ bị tiêu tan.

Trên đống xác súc vật, một đàn kền kền bâu quanh kín đặc, nhưng rồi thình lình một con Turul từ xa bay tới đạp chết một con. Người thủ lĩnh nhận ngay ra con chim thiêng mà ông đã thấy trong giấc mơ thuở trước, rồi tất cả các bộ lạc Hung từ đó đồng lòng theo Turul dẫn đường để tìm quê hương mới.

Mỗi khi Turul bay khỏi tầm mắt, người Hung lại dừng lại và cắm lán trại chờ đợi. Khi nào chim tìm được đường và quay trở lại, đoàn người đông đảo lại tiếp bước Turul. Cứ như thế, vào năm 895, người Hung tới Pannónia (bồn địa Kárpát), vùng đất cổ của thủ lĩnh Hung Nô (Hoàng đế Attila) thuở nào.

Tại đây, con chim Turul bay đi vĩnh viễn mà không trở lại, nên người Hung biết rằng, họ đã tìm thấy quê hương mới. Huyền thoại cổ sơ này có một cơ sở thực tế là trên con đường thiên lý dằng dặc và đầy gian khổ từ Phương Đông qua Phương Tây, người Hung đã dừng lại ở nơi mà những đàn đại bàng làm tổ.

Song hành với lịch sử chinh phục đất nước và lập quốc của Hungary, trong chuỗi đại lễ thiên kỷ năm 1896, chính phủ Hung đã cho dựng 7 tượng đài kỷ niệm tại những vùng đất thuộc Vương quốc Hungary, mà ngày nay chỉ còn hai nơi là thuộc lãnh thổ nước Hung. Trong số 7 tượng đài ấy, 3 tượng đài là Turul.

Tượng đài Turul tại TP. Tatabánya, được coi là lớn nhất tại Hungary - Ảnh: termeszetjaro.hu

Nhưng không cần phải đi xa đến thế, vẫn có thể thấy tượng đài Turul nổi tiếng nhất ngay bên cổng Hoàng Thành trên Thành cổ Buda: sừng sững với độ cao 6m, pho tượng do Donáth Gyula hoàn tất năm 1905 mô tả Turul cắp thanh gươm thần chở che cho người Hungary mỗi khi họ xung trận.

Cả một lịch sử bi hùng và lãng mạn của người Hung và nước Hung thời tiền lập quốc tập trung trong hình tượng chim thiêng Turul như thế...

Chim Turul trên đỉnh Cầu Tự do (Budapest)

Nguyễn Hoàng Linh

Thursday, August 20, 2020

Về 2 quê hương

 GIẤC MỘNG CỦA EMESE VÀ HUYỀN THOẠI VỀ CON CHIM THIÊNG TURUL (Phần 1)

Đó là hai sự tích đẹp nhất của lịch sử Hungary, thời kỳ Chinh phục Đất nước (honfoglalás), mà có lẽ không một người Hung nào không thuộc nằm lòng, từ lời kể của cha mẹ thuở ấu thơ tới những trang sách đầu đời về huyền sử dân tộc Hung.

Biết được câu chuyện này, có thể cảm nhận được, đối với người Hung khái niệm dân tộc (nemzet) thiêng liêng biết nhường nào: đó là tập hợp của những người con cùng xuất phát từ một cội nguồn, một bà mẹ, và được thụ thai, chào đời một cách huyền bí.

Giấc mộng của Emese là một trong những truyền thuyết đầu tiên của người Hung về nguồn gốc của đại thủ lĩnh Álmos. Thời điểm xuất hiện của nó được cho là khoảng năm 860-870, nhưng chắc chắn là trước năm 997, khi người Hung dần cải đạo sang Công giáo.

Truyền thuyết này còn đặc biệt ở chỗ, nó mang tính chất rất cổ sơ, và được đưa vào các cuốn sách sử cổ nhất của nước Hung, bên cạnh câu chuyện về nguồn gốc của dòng họ Árpád, triều đại quân chủ đầu tiên của Vương quốc Hungary (1000-1301).

Cả “Gesta Hungaroruma” (Hành sự của người Hung) của sử gia vô danh Anonymus đầu thế kỷ 13, cả “Chronicon Pictum” (Biên niên sử bằng tranh, 1360) của Kálti Márk có lẽ đã đều dựa theo một văn bản chung từ trước đó để ghi nhận lại sự tích này của người Hung.

Cái tên Emese theo ngôn ngữ Hung cổ có nghĩa là “bà mẹ”, và có lẽ ko phải ngẫu nhiên, về sau bà được coi là “mẫu hậu” của tất cả người Hung cổ đại. Con trai của bà, Álmos (819-895), là đại thủ lĩnh tiên khởi của người Hung thế hệ Chinh phục Đất nước.


Nữ thủ lĩnh Emese - Tranh của László Gyula

Chuyện kể rằng, giữa thế kỷ thứ 8, đầu thế kỷ thứ 9, các bộ lạc du mục người Hung vẫn phiêu bạt trên con đường di cư vô định của mình từ Châu Á xa xôi, về hướng Tây. Khi đó, tù trưởng các bộ tộc Hung là Ügyek có một người vợ là nữ thủ lĩnh xinh đẹp Emese.

Vào lúc đó, người Hung đã và đang trải qua muôn vàn gian khổ để kiếm tìm quê hương mới cho mình. Cần hình dung rằng, họ cứ vừa đi vừa tìm, chứ không hề có phương hướng hoặc mục tiêu nào cụ thể. Tương truyền, khi ấy, các bộ tộc Hungary còn đang lang bạt ở Levédia.

Một đêm nọ, chìm vào giấc ngủ, Emese có một giấc mơ kỳ lạ: một con chim Turul (nửa đại bàng, nửa chim ó) rất to - được coi như sứ giả của Thượng đế - xõa cánh trên bà. Chim có gương mặt mang dáng dấp của con người, và mang tới thông điệp của Đức Chúa trời.

Đó là, đứa con trong bụng bà sẽ bá chủ một vùng đất lạ. Người con ấy sẽ dẫn dắt dân tộc Hung khỏi vùng Levédia, tới vùng đất mới mà họ sẽ gây dựng thành quê hương, và con cháu của ông sẽ trở thành những vị quân vương đứng đầu một xứ sở vinh quang.

Tỉnh dậy, Emese cảm thấy mình được thụ thai. Khoảng năm 819, bà sinh một con trai, được đặt tên là Álmos, theo tiếng Hung cổ nghĩa là “được nhận từ Đức Chúa trời” - Anonymus thì cho rằng cái tên ấy có nghĩa là Thánh. Ông là cha của Đại vương công Árpád sau này.

Đúng như theo giấc mơ báo mộng, Álmos trở thành một trong 7 thủ lĩnh chính của các bộ tộc Hungary thời Chinh phục Đất nước. Ông cùng người con là Árpád đã dẫn dắt các bộ lạc Hung vào vùng bồn địa Kárpát (Carpathian) năm 895, khởi đầu sự nghiệp vinh quang của dân tộc Hung.

Đại thủ lĩnh tiên khởi Álmos của các bộ lạc Hungary

(còn tiếp)

Nguyễn Hoàng Linh

Saturday, August 15, 2020

15/8: NGÀY RA ĐI CỦA VỊ VUA LẬP QUỐC SZENT ISTVÁN

Ngày 15/8/1038, tức là cách đây tròn 982 năm, đúng vào ngày Đức Mẹ Mông Triệu (hay còn gọi là ngày Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời), vị vua lập quốc của Hungary, đồng thời cũng là người sáng lập Giáo hội Công giáo Hung - Szent István - đã qua đời sau hơn 40 năm đứng đầu các bộ lạc của dân tộc Hung.

Được phong thánh vào ngày 20/8/1083 cùng các vị Szent Gellért và Szent Imre để trở thành một trong những vị thánh đầu tiên có gốc gác Hungary của Giáo hội Hoàn vũ, Szent István có một vị trí đặc biệt và phi thường bởi lẽ ngoài Giáo hội Công giáo La Mã, ông còn được Giáo hội Chính thống giáo Đông Phương tôn vinh là thánh từ năm 2000.

Chào đời khoảng năm 975 tại Esztergom hoặc Fehérvár với cái tên thế tục Vajk, là con một của Đại vương công Géza (đứng đầu các bộ lạc Hungary trong thời gian 971-997), Szent István đã làm tròn xuất sắc sứ mệnh do người cha để lại: mở cửa cho dân tộc Hung đến với Thiên Chúa giáo Phương Tây và sáng lập nhà nước Hungary Công giáo.

Từ một tập hợp những bộ lạc tương đối “ô hợp” đến từ Châu Á, ngàn đời theo Đa thần giáo, đến thời Đại vương công Géza, khi cặp vợ chồng người thủ lĩnh tối cao đều cải đạo sang Công giáo và hướng về Phương Tây - mà Đế chế Đức - La Mã là hùng mạnh nhất -, thì dân tộc Hung đã được hướng theo tương lai mới của sự hội nhập Châu Âu.

Géza đã cắt cử sứ giả tới gặp Hoàng đế của Đế chế Đức - La Mã để xin các vị tu sĩ, những nhà truyền giáo Phương Tây đến “khai sáng”, dạy dỗ giáo lý cho người dân Hung, vốn bị Phương Tây coi là “ngoại đạo” hay “vô đạo”. Một trong những nhà truyền giáo ấy, Giám mục Praha - Szent Adalbert (Svatý Vojtěch) đã trở thành gia sư của Vajk.

Thời khắc hết sức quan trọng đối với lịch sử lập quốc Hungary, khi theo truyền thuyết, Vajk được Szent Adalbert làm lễ rửa tội, được khắc họa trong họa phẩm hết sức nổi tiếng (năm 1875) của Benczúr Gyula, danh họa Hung về đề tài hội họa lịch sử. Sự kiện này diễn ra khoảng năm 994-996, tức là ít lâu trước khi Đại vương công Géza qua đời.

Đó cũng chính là lúc, vị vua lập quốc trong tương lai của Vương quốc Hungary được mang tên István, vốn là tên vị thánh tử đạo đầu tiên của lịch sử Thiên Chúa giáo (Thánh Stêphanô), người bị đám đông ném đá đến chết vào năm 34-35 và sau đó, được xem như “Vua của các thánh tử đạo”. Cái tên Stêphanô nghĩa là “ngôi vua” trong Hy văn cổ.

Cũng trong khoảng thời gian đó, với sự thu xếp khéo léo của người cha Géza, István thành hôn với Gizella (Gisela), ái nữ của Henry Đệ nhị, Công tước xứ Bavaria (Bayern) khi Gizella mới ở tuổi 11-12. Đây là hôn nhân đầu tiên giữa một gia đình hoàng gia Hungary và Châu Âu, gắn vận mệnh Hungary với Phương Tây về mặt chính trị và cả quân sự.

Điều đó đặt nền tảng cho István, sau cái chết của cha vào năm 997, có thể nhờ sự hỗ trợ rất đáng kể của nhà vợ để chiến thắng Koppány - người có địa vị cao hơn ông trong dòng họ và lẽ ra, theo tập quán Á Đông của người Hung, phải được kế vị Géza trên cương vị thủ lĩnh của dân Hung, và thậm chí, còn có quyền kết hôn với mẹ ông, Sarolt.

Vượt qua trở ngại là người chú Koppány vốn được sự ủng hộ của nhóm người chủ trương “ngoại đạo” trong các bộ lạc Hung, theo đuổi đường lối ngoại giao thân cận với Đế chế Đức - La Mã mà đứng đầu khi đó chính là anh trai của Gizella, István còn có mối quan hệ hữu hảo với Tòa Thánh Vatican và Đức Giáo hoàng Sylvester Đệ nhị.

Nhờ hậu thuẫn như thế, István mới có tư thế một vị quân vương được toàn thể Châu Âu thừa nhận khi đăng quang vào mùa Giáng sinh năm 1000 với chiếc Vương miệng Thiêng liêng (Szent Korona) huyền thoại. Vương quốc Hungary Thiên Chúa giáo đã ra đời như vậy, và tồn tại hơn 9 thế kỷ giữa Châu Âu, ở vùng bồn địa Kárpát (Carpathian).

Tất cả những gì diễn ra sau đó, lịch sử Hungary và Châu Âu đã có những ghi chép tương đối mạch lạc. Ngoài vai trò người cha lập quốc, vị “quốc phụ” của Giáo hội, István còn là người kiến tạo ra hệ thống hành chính, cho đúc tiền có mệnh giá ổn định, du nhập việc cấp văn bằng và làm tất cả để dân tộc Hung đến từ Châu Á xa xôi khởi sắc ở trời Âu.

Bốn thập niên của István trên ngôi vị quân vương Hungary có thể coi những năm tháng quan trọng nhất của lịch sử nước Hung, và đặt nền móng cho tương lai của dân tộc này. Trước khi qua đời, theo truyền thuyết, István còn kịp dâng hiến đất nước cho sự vinh hiển của Đức Mẹ, và cầu nguyện để được ra đi đúng vào ngày Đức Mẹ Lên Trời 15/8.

Mong muốn ấy của ông đã được toại nguyện: vị vua lớn của nước Hung chấm dứt cuộc đời trên trần thế đúng vào 15/8/1038, để lại một nền quân chủ vững mạnh, thống nhất trên nền tảng Thiên Chúa giáo. Hằng hà sa số những dân tộc du mục, sống và chết trên mình ngựa đến từ Châu Á sau nhiều thế kỷ di cư bất tận, chỉ Hung làm được điều này!

Dấu ấn và thánh tích của Szent István, ngày nay vẫn in đậm tại hai tòa thánh đường chính của toàn nước Hung Công giáo: Vương cung Thánh đường mang tên ông tại Budapest, và Nhà thờ Chánh tòa Giáo trưởng Đức Mẹ Lên Trời và Thánh Adalbert tại cố đô lập quốc Esztergom. Ngày ông được phong thánh, 20/8, giờ đây là Quốc khánh Hungary.

Nguyễn Hoàng Linh

Tuesday, August 11, 2020

100 năm cay đắng

100 năm Hiệp định Hòa bình Trianon: HUNGARY VÀ THẢM KỊCH MẤT LÃNH THỔ

“Quý vị giờ đây đã đào mồ chôn nước Hung, nhưng Hungary sẽ có mặt tại tang lễ của tất cả các quốc gia mà bây giờ đang đào nấm mồ cho nước Hung”.

Câu nói bi thảm và hết sức nổi tiếng nói trên, là của bá tước Apponyi Albert, nhà bác học và nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc Hung, được mệnh danh là “Đại lão trượng vùng Trung Âu”, và vang lên vào ngày 4/6/1920 định mệnh, khi Vương quốc Hungary sụp đổ dưới sức ép của các siêu cường. Biến cố xảy ra tròn một thế kỷ trước ấy, tới giờ vẫn là vết thương lòng không phai trong tâm khảm dân Hung.

Hiếm người dân Hung nào không nhớ tới mốc thời gian này, khi tại lâu đài Grand Trianon thuộc quần thể lâu đài Versailles (ngoại ô Paris), Vương quốc Hungary buộc phải ký một hiệp định hòa bình (chấm dứt Đệ nhất Thế chiến) với phe Đồng minh, mà các đại diện chính là Anh, Pháp, Nga. “Người Hung là người mang trong lòng nỗi đau Trianon”, câu nói ấy cũng không mấy người Hung không biết.

Chỉ bằng vài nét bút ký, Hungary đánh mất 72% diện tích mà cơ bản, nước này đã có từ ngàn đời, hơn 84% dân số, 38% sản lượng công nghiệp và 67% tổng thu nhập quốc gia. Nhưng bi thảm hơn cả là chỉ trong nháy mắt, một phần ba người Hungary (chừng 3,2 triệu người) trở thành kẻ bơ vơ trên xứ lạ! Không phải ngẫu nhiên, năm 2020 đã được chính quyền Hung coi là “Năm tưởng niệm Trianon”!

Chuông nguyện hồn cho nước Hung ngàn năm tuổi

“Vài phút sau 10h sáng, một tin định mệnh được loan. Những hồi chuông nhà thờ đổ dồn. Thoạt tiên là Pest, sau đó đến mọi vùng khác của đất nước, mẩu tin ấy được lan truyền... Hai tiếng liền, những hồi chuông vang rền, trên khắp lãnh thổ của đất nước.

Budapest chìm trong tang tóc, người dân vận đồ tang đen. Những lá cờ tang rủ khắp nơi nơi. Người dân, từ đàn ông tới đàn bà, trẻ em và người cao niên, ai nấy khóc nức nở. Nhiều người giơ nắm đấm lên trời. Tại một góc của Quảng trường Bát giác (Oktogon), một người lính tàn tật xé tan tấm áo choàng, làm lộ cánh tay cụt tới khuỷu, và gào thét điên cuồng: “Chẳng lẽ vì thế này ư?”.

Trên phố phương, những người không quen biết lao vào ôm lấy nhau, có người thì an ủi những kẻ đang khóc tức tưởi. Đôi lúc, bầu không khí tang tóc ấy lại được xé tan bởi giọng các cậu bé bán báo: “Số ra đặc biệt đây!”. Các tờ báo đều được viền tang đen, và độc giả đọc to cho nhau nghe những bài xã luận.

Tại Đại lộ Bảo tàng (Múzeum körút), người dân bắt đầu cất lời hát bản “Quốc ca”. Chẳng mấy chốc, các giáo đường chật kín người, các thầy tu tìm cách vấn an những con chiên đang khóc ròng cay đắng. Toàn thể đất nước đóng cửa, chỉ những hồi chuông cứ vang lên, khóc thương cho người quá cố. Trường học cũng không hoạt động, cả thầy và trò đều khóc thương cho người quá cố.

Người quá cố ấy, chính là nước Hung một ngàn năm tuổi!”.

Đoạn hồi tưởng cảm động nói trên về biến cố Trianon xảy ra cách đây tròn 100 năm, là của nhân chứng Padányi Viktor, khi đó mới 14 tuổi và là học sinh trung học. Đó là mảng ký ức trung thực và động lòng nhất, bi thảm và đau đớn nhất về sự kiện tang thương nhất trong lịch sử Vương quốc Hungary, được thành lập giữa lòng Châu Âu từ năm đầu của thế kỷ thứ 11 bởi một sắc dân đến từ Châu Á.

Tấn bi kịch của nước Hung khởi đầu từ khi Đệ nhất Thế chiến bùng bổ, với kẻ khơi ngòi chính là nền “song quốc quân chủ” Áo - Hung sau vụ ám sát cặp vợ chồng Hoàng Thái tử Franz Ferdinand tại Sarajevo. Là một thành viên của đế chế ấy, nên Vương quốc Hungary buộc phải lao vào cuộc chiến tương tàn mà thật ra, nước này không có lợi ích gì, và rốt cục lại chịu quá nhiều tổn thất trong chiến tranh.

Bị cưỡng đoạt mà không được lên tiếng

Thất bại của phe Liên minh Trung tâm mà chủ lực là Đức và Đế chế Áo - Hung vào cuối năm 1918 vạch ra cho Vương quốc Hungary một tương lai rất mờ mịt. Nhưng có lẽ không ai có thể hình dung được rằng, khi các cuộc đàm phán với “phe thắng cuộc” được khởi đầu vào đầu năm 1920, phái đoàn của Hungary - mà trưởng đoàn là bá tước Apponyi Albert đã nói ở đầu bài - đã hoàn toàn bị trói buộc chân tay.

Ngay sau khi tới Pháp, đoàn đàm phán Hungary đã bị “an trí” (gần như giam lỏng) trong vòng gần chục ngày ở ngoại ô Paris và không hề có cơ hội tham dự các cuộc thương thảo. Chỉ tới ngày 16/1/1920, khi tất cả mọi việc đã được an bài bởi các “nước lớn” và có trong tay bản Hiệp ước khiến nước Hung lịch sử bị mất 2/3 diện tích, bá tước Apponyi Albert mới có dịp “mở miệng” với bài phát biểu “để đời” của ông.

“Nếu quý vị đặt Hungary vào cảnh phải lựa chọn hoặc ký, hoặc khước từ bản Hòa ước này, tức là đã trả lời cho câu hỏi, có nên chăng, quốc gia này hãy tự sát để khỏi phải chết” - vị chính khách đã tuyên bố như thế trước các đại diện của “phe thắng cuộc”. Dầu vậy, “người Hung vĩ đại nhất trong số những người còn sống” này cũng hoàn toàn biết rằng, nước Hungary đã lâm vào cảnh vô vọng không lối ra.

Dầu vậy, trong bài diễn văn hùng biện và xót xa được trình bày bằng ba thứ tiếng Pháp, Anh và Ý, vị bá tước cũng vẫn cố gắng nhấn mạnh những luận cứ để bảo toàn Vương quốc Hungary một ngàn năm tuổi. Phân tích trên các góc độ dân số, địa lý, lịch sử và luật pháp thông qua các văn kiện và bản đồ, ông muốn chứng tỏ rằng “hình phạt” của các nước thắng cuộc với Hungary là quá oan ức và bất công.

Kéo dài hơn 1 giờ, phát biểu “biện hộ” cho nước Hung của Apponyi Albert sau này được giới sử gia đánh giá như lời từ giã nước Đại Hung. Như có thể chờ đợi, những lời lẽ thống thiết của vị bá tước đã hoàn toàn rơi vào khoảng không trống rỗng tại Phòng Khánh tiết của Bộ Ngoại giao Pháp. Chính Apponyi Albert cũng lường trước được điều này, và phát biểu của ông thực ra là thông điệp cho hậu thế.

Tất cả thực ra đã được ấn định trước đó 1 ngày tại trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp, nơi diễn ra Hội nghị Hòa bình Paris (trong hai năm 1919-1920), khi phái đoàn Vương quốc Hungary được nhận văn bản “chót” của bản Hiệp ước mà “phe thắng cuộc” đã thông qua. Hiệp ước Trianon đã được soạn thảo với ý đồ thiết lập một trật tự mới cho Châu Âu, mà phe thua cuộc không hề được tham gia, dự phần bàn bạc!

Trianon và sự thống khổ của nước Hung

Vào cái ngày đau thương 4/6/1920, đúng 16h30, tại lâu đài Grand Trianon, Hòa ước Trianon đã được hai đại diện cấp thấp của chính phủ Vương quốc Hung đặt bút ký, bởi không chính khách nào ở cấp cao hơn muốn làm điều đó. Hiếm ai nhớ được tên của Bộ trưởng Phúc lợi và Lao động Benárd Ágost và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Drasche-Lázár Alfréd, nếu họ không phải buộc làm nhiệm vụ nhục nhã ấy.

Về phần mình, ngay khi chuẩn bị rời Paris về Hungary, bá tước Apponyi Albert đã phác ra ý tưởng đòi lại những phần đất bị mất về sau này: “Quý vị hãy đừng coi là số phận của Hungary đã bị an bài bởi Hiệp ước này. Hãy nghĩ tới thời điểm sẽ diễn ra sau này (...) trong một khoảng thời gian không quá dài, chúng tôi sẽ giành lại cho Hungary địa vị xứng đáng trong đại gia đình các dân tộc”, ông khẳng định.

Quan điểm và phát ngôn của ông, bằng cách đó, đã đặt nền móng và cơ sở cho ý tưởng “xét lại” trong đời sống chính trị, ngoại giao và tinh thần Hung thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, và gây ảnh hưởng lớn đến tâm thức công luận Hungary. Nhà chính khách yêu nước không thể chấp nhận “nỗi đau Trianon”, không nhắm mắt trước cảnh nước Hung lịch sử trôi nổi bên bờ vực thẳm của sự chia cắt.

Nhưng có lẽ, trong đời, Apponyi Albert không thể ngờ rằng, sự lớn mạnh của các đảng phái, phong trào cực hữu theo chủ nghĩa xét lại đó lại sẽ khiến Hungary đại bại. Gần gũi với nước Đức Hitler để chấn hưng kinh tế, sa vào sự ảnh hưởng chính trị dẫn đến bài xích người Do Thái, nhờ sức ép của Đệ tam Đế chế, Hungary được trả lại phân nửa diện tích đất đai bị cắt cho ngoại quốc thời kỳ 1938-1940.

Tuy nhiên, cái giá phải trả một lần nữa rất thảm khốc: nước này phải tham chiến bên quân đội Quốc xã trong Đệ nhị Thế chiến, để rồi Hiệp định Hòa bình ký tại Paris ngày 10/2/1947 đã tái lập các đường biên giới cũ và Hungary còn mất thêm một phần đất cho Tiệp Khắc. Cho dù không ít người Hung vẫn tin tưởng rằng, Trianon chỉ có hiệu lực trong 100 năm, nhưng sự mất mát là không thể đổi thay!

Ngày nay, trên đất Hung và những nơi còn đông Hung kiều sinh sống, đâu đâu cũng có thể thấy những tượng đài, ký ức về Trianon, mặc dầu một thế kỷ đã trôi qua. Tòa nhà Nghị viện Hungary bên bờ Danube có treo hai lá cờ: quốc kỳ nước Hung, và lạ thay, cạnh đó, không phải quốc kỳ của Liên hiệp Châu Âu theo thông lệ, mà là lá cờ của vùng đất lịch sử Székely mà Hungary đã vĩnh viễn đánh mất!

Nguyễn Hoàng Linh

(*) Bài viết đã đăng trên RFI.

Thursday, June 4, 2020

100 NĂM NGÀY KÝ HÒA ƯỚC TRIANNON

Xin giới thiệu lại với các bạn FB về bản hòa ước Triannon.Xin giới thiệu bản dịch phần đầu bộ phim : qua mọi danh giới, bí mật quyển sách của VUJITY TVRTKO về bản hòa ước Trianon và những điều lý thú có liên quan.
Xin chào quí vị, chào buổi tối! Tôi là VUJITY TVRTKO. Buổi tối nay tôi xin mời quí vị tham gia vào một chuyến đi đặt biệt. Một chuyến đi, mà nguyên cứ là để xem nguyên bản Hòa ước được ký Trianon độc nhất vô nhị. Khi tôi tìm thấy nó, tôi đã lật mở ra một chuyên vô cùng kinh ngạc, và tôi xin được giới thiệu cùng quí vị, và xin không câu giờ nữa, chúng ta hãy cùng nhau đi xem nhé, vượt qua mọi danh giới.
Tôi đã tới rất nhiều nơi trên thế giới rộng lớn mênh mang, tôi đã nhìn thấy nhiều điều, có lẽ vì vậy tôi vô cùng yêu quí Tổ quốc tôi. Đôi khi đi dạo trên bờ sông Đanuýp, nhìn xa xa những chiếc tàu thủy, tàu điện chạy, và những du khách, khi nhìn và nghe thấy những hướng dẫn viên du lịch nói về một đất nước có diện tích 93036 km2 như thế nào, mà người ta gọi là nước Hung.
Trong phim này các quí vị sẽ thấy thường xuyên một người bạn đồng hành cùng tôi, người bạn này đầu tiên cũng cứ cho rằng tôi đã đùa với anh.
- Khi tôi nghe nói về thuộc địa của chúng ta thì tôi nghĩ đây có lẽ là một chuyện đùa.
Đến lượt một nghiên cứu viên đã nhìn thấy vô vàn các tài liệu ở Viên, rồi cuối cùng bản thân anh cũng thấy bất ngờ.
Ở Trianon người ta chỉ lấy đi phần đất của chúng ta, của nước Hung phần đất thuộc địa của đế chế Áo - Hung ở Thiên tân.
Quí vị có thể song hành cùng tôi đến Trung quốc, ở đó mà cách đây 100 năm còn là một phần của Hungari, ở đó còn lại những tòa nhà của chúng ta.
Ở nước Hung chúng ta biết đó là thuộc địa của mình, điều này có trên các trang báo.
Nhưng trước đó, trước khi đi tiếp thì chỉ vài phút nữa thôi thì các cánh cửa kéo được mở ra: Cánh cửa phòng bảo mật được mở ra, phiên bản duy nhất của Hòa ước Trianon được cất giữ tại đây.
- Theo cách như thế này thì tôi nghĩ chưa có ai từng thấy cuốn sách này, và như vậy chưa có ai đã mở nó ra xem.
Bắt đầu một chuyến phiêu lưu, bắt đầu một hành trình điều tra.
Zajta ở tỉnh Szabolcs-Szatmár-Bereg cách Csenge vài km là một ngôi làng nhỏ, trông như một bức tranh, nói một cách đơn giản, đẹp tuyệt vời (2:15). Lịch sử của ngôi làng nhỏ này hoàn toàn là kinh ngạc, vì ngôi làng nhỏ với khoảng 500 dân sinh sống, đã bị họ lấy đi của chúng ta, do nhầm lẫn.
- Zajta là một trong những ngôi làng trung thành của nước Hung, nếu không nói là trung thành nhất. Bằng mọi giá đây xứng đáng được nhận danh hiệu như vậy.
Đồng hành cùng tôi là Huszti Róbert, là bách khoa toàn thư sống của vùng này, anh biết mọi thứ về Zajta. Ở đó mặc dù có đường bê tông nối liền 2 làng và hai quốc gia lân cận với nhau, nhưng giữa chừng có rào chắn, và có tảng bê tông chắn ngang. thậm chí những người cảnh sát đang làm nhiệm vụ ở phía Rumani đã cảnh báo chúng tôi là không phải cái gì cũng được quay phim.
Huszti Róbert kể lại rằng khi ở Trianon Zajta đã được sát nhập vào Rumani, thì có một giáo sỹ chỉn chu như bức ảnh trên đây là Gaál Lajos đã xem lại trên bản đồ và nhận ra rằng có điều gì không ổn. Vì vậy Gaál Lajos đã vượt biên và đấu tranh để xem xét lại bản hòa ước. Sự nhầm lẫn đã được phát hiện ra và Zajta lại được sát nhập lại vào Hungari.
- Anh có muốn xem bản hòa ước không?
- À, theo tôi thì bất kỳ người Hung nào cũng muốn xem, và muốn tìm ra sai phạm gì ở đó.
Đó là lịch sử của Zajta. Nó cho tôi một ý tưởng, đó là xem bản hòa ước Trianon này như thế nào, một hộp tài liệu, hồ sơ tòa án ư, là cuốn sách ư? Tôi không biết. Vì thế tôi đi tìm theo dấu vết của bản hòa ước Trianon. Hãy cho phép tôi kể câu chuyện này:
Cậu bé trên bức ảnh kia là tôi đấy. Đằng sau tôi là người bà ở Székely của tôi tên là Réti Kapus Mária, bà sinh ra Ódolán, vùng đất nằm trong danh giới lãnh thổ 1000 năm, bị chia cắt khỏi đất nước.Và cũng chính vì Bà tôi mà tôi đã đọc mọi thứ có thể liên quan đến Trianon, và điều làm tôi hứng thú là làm sao mà đất nước lại to đến như vậy. Tôi tìm tòi nghiên cứu và ghi chép liên tục. Tôi đã đi đến vùng đất ở biên giới bị chia cắt làm đôi ở Sátoraljaújhely, ở đó có một con suối nhỏ, mà theo truyền thuyết thì người Tiệp khắc đã thuyết phục cho mọi người tin rằng đây là dòng sôngcó thuyền bè quốc tế qua lại, vì thế dòng sông này bị chia cắt, vì thế thành phố bị phân chia. Truyền thuyết nghe thì hay, nhưng không đúng sự thật.
Tôi đã nhiều lần đi bộ từ Xlôvác sang Hungari. Tôi nhiều lần đã đến viện bảo tàng Trianon ở Várpalota. Tôi đã xem các bích chương, các tài liệu, và tôi còn được xem cả trò chơi ai là người đã dành lại được nhiều nhất những mảnh đất đã bị lấy đi. Và cuối cùng tôi đã vào các rạp chiếu phim và xem hàng tá phim từ sự phản đối Trianon, đến việc thu hồi lại đất đai đã bị cắt đi.
- Đây là đoàn đại biểu của Hung.
Đây là viện phim ảnh tư liệu khoa học, thể theo yêu cầu của tôi thì anh Kurutz Márton đã lấy ra bộ phim Séc lòng chữ dài 90 phút. Trong phim có thể nhìn thấy các đại biểu hớn hở người Séc, người Ru, người Serbia và những người Hung buồn vô tận.
Chúng tôi xem phim, giữa chừng người nghiên cứu viên đã nói với tôi rằng bộ phim này nhận được từ người Séc, vào những năm 50 - 60. Bộ phim này đã được chiếu nhiều lần ở Tiệp. Chúng ta thì không chiếu.
- Người Hung chúng ta không cử người làm phim tới đó, ít nhất là tôi không tìm thấy dấu tích của sự việc này, và tôi nghĩ điều này cũng dễ hiểu, vì các thước phim này không ghi lại những sự kiện vinh quang gì cho dân tộc.
Đây là cuối phim. Hai người Hung, đầu tiên là Benárd Ágoston và Drasche - Lazár Alfréd bước đến bên chiếc bàn và ký vào hòa ước.
Theo như thế này thì đây là một cuốn sách. Nhưng mà cuốn sách này ở đâu nhỉ?
Chúng ta đang ở chỗ người bạn, người đồng hành cùng tôi là Suha György. Tôi đã yêu cầu tìm hộ cho tôi biết bản hòa ước Trianon ở đâu và đâu là mảng đất đặc biệt mà bản hòa ước này đã lấy đi của chúng ta. Đây là một công việc khó khăn đối với anh, so với những gì chúng tôi nghĩ (6:04).
Chúng tôi không làm thống kê, nhưng với hai người cộng sự thì trong vòng 8, 9 tháng, hay tới nay là 10 tháng về trước thì chúng tôi đã tiến hành hàng nghìn cuộc gọi điện thoại, hàng nghìn thư e-mail.
Đây là thành phố ở ngoại vi Pari, là Saint d' Laye. Sau hơn 3/4 năm tìm kiếm, chúng tôi đã thành công, chúng tôi đã tiến dần đến bản hòa ước. Nhưng trước khi đến đó thì chung tôi đã đi ô tô đến Versace, là nơi bản hòa ước Trianon được ký kết (6:33).
Chúng ta đã đến lâu đài Versace, là nơi các vua Pháp thường ngự trước đây. Trong khu vườn của lâu đài có vô vàn thứ hấp dẫn để chiêm ngưỡng, tòa lâu đài, đài phun nước rất tuyệt vời, tráng lệ, kể cả hàng rào của tòa lâu đài cũng rất đáng ngưỡng mộ, và dòng người tràn ngập nơi đây, họ tò mò muốn biết về nơi trú ngụ tráng lệ của ông vua mặt trời, vua Luis thứ 14. Tại hồ gần hàng rào đang diễn ra cuộc đua thuyền. Những người du lịch đến đây, người thì ăn kem, người thì chụp ảnh, quay phim. Khoảng cách ở những địa điểm xa nhau đến mức nhiều người còn không đi bộ, mà di chuyển bằng xe đánh gôn. Đây là lâu đài Trianon, đối với nhiều người thì đây không phải là địa danh của thảm họa, ở đây họ chụp ảnh cưới, hoặc đơn thuần là chụp ảnh tự sướng thôi.
Tôi cùng bạn tôi là Suha György đi vào lâu đài Trianon. Nơi đây có bán các loại quà lưu niệm, từ quần áo trẻ con đến các đồ lưu niệm có nam châm gắn tủ lạnh. Vào sau một chút là chiếc giường cưới xa hoa, các tranh hội họa quí hiếm, và có cả phòng gương. Chúng tôi đã đến phòng cuối cùng: La Galérie Des Cotelle, phòng này trông như một hành lang, dài 52 m, rộng 7 m, được trang trí với những bức tranh hội hoa và đèn chùm đẹp đẽ. Cuói phòng là nơi có treo bảng thông báo: ở câu cuối cùng có ghi là tại đây, vào ngày 04 tháng 06 năm 1920 đã diễn ra lễ ký kết hiệp ước quyết định số phận của Hungari, cái gọi là Hòa ước Trianon.
Ngày đó rồi cuối cùng cũng đến, ở khách sạn chúng tôi còn cố gắng dàn xếp công việc đến phút cuối cùng, rồi chúng tôi lên xe để đến Le Courreuve vào lúc 10 giờ. Đây là một thành phố tẻ nhạt, buồn ngủ, ở đây chả có tắc đường, chỉ có nhưng người du bộ yên bình. Chúng tôi đến một tòa nhà được bảo vệ như là một nhà tù, và các cánh cổng kéo được mở ra. Tôi không thể giới thiệu được với các quý vị, nhưng họ đã khám xét quần áo của chúng tôi, dùng máy dò kim loại để kiểm tra chúng tôi, rồi chúng tôi được đưa vào một hàng lang được canh gác cẩn mật. Ở đây tôi chỉ được chụp ảnh thôi.
Đây là cánh cửa thép. Chỉ có 6 người được bước qua đây vào trong phòng, ở đó có quyển sách mà vì nó chúng tôi đã đến đây.
Sau khi chờ đợi khá lâu, và đây, đây là quyển sách, là nguyên bản hòa ước Trianon duy nhất. Đằng sau máy ghi hình là những người bảo vệ, trước mặt chúng tôi là người nhân viên chính thức của nơi đây, người này đeo gang tay để làm việc. Thế đấy, quyển sách đang ở đây, nó gồm có 524 trang, được thực hiện bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Ý và tiếng Anh. Những người bảo vệ dường như không có phản ứng gì, nhưng Suha György và tôi thì nhìn về phía trước mà lòng bị chấn động.
Tôi có một cảm giác buồn, thật kỳ lạ là tư liệu này như thể có một chiếc đồng hồ, nó phát ra khí chất gì đó, và khí chất này rất không có gì là tích cực, rõ ràng là hồ sơ mang lại cảm giác tồi tệ, đúng là một đồ lưu niệm, đặc biệt là ở nước Pháp.
Đây có phải là bản chính duy nhất của hòa ước được ký ở đây hay không?
Đây là bản chính duy nhất được ký, theo dạng ký tay, được đóng dấu chính hiệu, đây không phải là bản sao chép, hay bản sao photocopy.
Đối với tôi thì một phần nó hấp dẫn, vì nó ở đây, trước mặt tôi, mặt khác, thành thật mà nói với anh thì thật sự tôi có cảm giác rất tồi tệ.
Cảm giác rất kỳ lạ, tôi nghĩ rằng đối với tất cả mọi người Hung thì nó đúng là gây ra cảm giác buồn thực sự. Tư liệu này gây ra cảm giác buồn, kể cả hình hài của nó nữa.
Chúng tôi giở đến trang cuối cùng của quyển sách, ở trang cuối cùng, trang 524 là chữ ký của những người Hung: Benárd Ágoston và Drasche - Lazár Alfréd, phía trên là chữ ký của dr. Evard Benedek.
Những điều này vẫn chưa gây ra đủ độ khó chịu, chán chường. Tấm bản đồ là phụ bản của bản hòa ước , được gấp lại vào buổi chiều ngày 04 tháng 06 năm 1920, nay lại được mở ra. Tấm bản đồ này chỉ ra đường biên giới của nước Hung (10:48).
Những thành phố bị chia cắt không có tên chuyển đổi phù hợp sang tiếng Ru, tiếng tiệp..., có thể lúc đó các khu vực dân cư này chưa có tên phù hợp.
Đây là giai đoạn rất ngắn trong lịch sử của Hungari. Như ta nhìn thấy đây là Sopron, trước đây nó được cắt sang Áo, có tên là Ödenburg.
Tất cả những điều trên gây cho ta cảm giác khó chịu, chán chường.
Tạm gác quyển sách này sang một bên, ta hãy viếng thăm thành phố Sopron, nơi có rượu vang đỏ, có đội bóng rổ nổi tiếng và là nơi có rất nhiêu du khách, và cũng là nơi mà nhà vua Mátyás đã ngự lại trong một thời gian, trong một vài tháng, nhưng thành phố Sopron vẫn được nhiều người biết đến như là một thành phố trung thành. Tại đây vào ngày 14 tháng 12 năm 1921 đã tổ chức trưng cầu dân ý về việc thành phố sẽ thuộc về đâu. Trên phiếu trưng cầu có thể bỏ phiếu hoặc là nước Áo, hoặc là nước Hung. Cuối cùng kết quả trưng cầu dân ý đồng ý ở lại nước Hung với chênh lệch là 7107 phiếu thuận.
Tất cả mọi người đều tự hào về thành phố Sopron. Hầu như mọi người đều biết về lịch sử của thành phố trung thành này, nhưng về một xã đầu tiên, trung thành nhất thì không ai biết (12:17).
Tôi đang trên đường đến một làng nhỏ ở cạnh Körmend, là làng Szent Péterfa, tên gọi theo tiếng Horvátia là Petro Selo. Ở đó tôi tìm đến một quán rượu có tên là Navrágye, nghĩa là vì sức khỏe của bạn. Người bạn thời niên thiếu của tôi là Kohuth Miklós, trưởng thôn đang chờ tôi tại đó. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Horvátia, cũng như hầu hết mọi người ở Szent Péterfa, ngôi làng của người Horvátia lớn nhất ở Hungari, vì hơn 3/4 người dân sống ở đây là người Horvátia.
Szent Péterfa tự hào là một làng Hungari trung thành nhất, về thực tế đây là ngôi làng Horvátia, vì phần lớn người dân sống ở đây là người Horvátia khi người dân bỏ phiếu ở lại với nước Hung.
Để thuận tiện cho việc làm phim, chúng tôi chuyển sang nói chuyện với nhau bằng tiếng Hung. Anh Miklós đã giới thiệu quán rượu cũng gần giống như một viện bảo tàng cho tôi biết. Đây là hình ảnh người dân ăn mừng khi ngôi làng được sát nhập trở lại với Hung. Trong ngày lễ này, đây là các mẹ, các chị nấu nướng ăn mừng. Nhưng trong ngày lễ này không phải ai cũng hạnh phúc cả (12:54). Do được sát nhập lại với Hung, hàng bao nhiêu năm sau vẫn còn xẩy ra ẩu đả, đánh nhau ở Szent Péterfa. Trong nhiều năm đã xẩy ra các cuộc ẩu đả của người dân với nhau ở vùng thượng - hạ của Szent Péterfa. Tất cả các sự kiện đều gắn liền với sự kiện Trianon.
Cuối cuộc viếng thăm là một sự bất ngờ. Thời trẻ con chúng tôi cùng nhau đàn hát với Kohuth Miklós. Nhân dịp này anh đã tổ chức cho chúng tôi chơi một bài mà tôi là tay đàn chính, mà qua đó tôi đã thực hiện được cả phim về sự nghiệp âm nhạc của tôi. Cảm ơn anh, người bạn của tôi (13:29).
Vừa rồi đây là những điều lý thú ở Szent Péterfa.
Ta lại quay lại Le Coureeuve nhé. Chúng ta giở đến các trang nói về dàn xếp các địa danh lãnh thổ.
Điều này thực tế gây bất ngờ cho anh à? Anh có biết trước điều này không?
Không, tôi không biết, vì thế tôi lấy làm ngạc nhiên là chúng ta lại có thuộc địa ở Thiên tân (Trung quốc).
Trong bản hòa ước Trianon có 104 điều nêu rõ đường biên giới mới của Hungari. Chúng ta mất các vùng lãnh thổ, trong đó có vùng phía bắc, phía nam, Erdély, và Kárpátalja,... và đến điều 99, ở đó có ghi rằng chúng ta còn mất đi những thứ khác nữa.
Tôi cùng với Suha Györgyxem phần lời này ma đứng tim. Truyền thuyết xa lạ trước đây, thực tình là đúng sự thực.
Lời của bản hòa ước nói rằng Hungari trả lại cho Trung quốc tất cả các tài sản có trên lãnh thổ, có thể nói là trên thuộc địa, và các diện tích mà chúng ta có trên lãnh thổ Trung quốc về cho Trung quốc.
Thế chúng ta có 1 km2 diện tích ở Trung quốc à?
Ở đây ghi rõ là ở Trung quốc chúng ta có những tòa nhà, những diện tích lãnh thổ, các đường phố, các điểm bốc rỡ hàng hóa, lãnh sự quán, các nhà ở và các vùng đất.
Và do hòa ước Trianon mà chúng ta mất hết những thứ này?
Phần thuộc địa của chúng ta ở Trung quốc đã bị hòa ước Trianon lấy đi mất.
Điều này hoàn toàn ngạc nhiên nhỉ?
Điều này cũng không an ủi gì chúng ta bên cạnh với việc nước Hung bị cắt xén lãnh thổ, nhưng có một thực tế rõ ràng là trong một thời gian dài chúng ta đã có một phần lãnh thổ riêng ở Trung quốc (15:04).
3 - 4 phố ở Thiên Tânlà phần lãnh thổ chung của đế chế Áo Hung trong lòng Trung quốc.
Rõ ràng đây từng là lãnh thổ riêng của chúng ta nhỉ?
Vâng, đúng thế, đúng thế.
Chúng tôi với Oross András cùng khuân vác cá thùng tài liệu lớn ở Viên, các tài liệu lưu trữ về Trung quốc của chúng ta. Người thủ thư của Cơ quan lưu trữ tài liệu đế chế Áo Hung trước đây cũng không biết được về diện tích chúng ta ở Trung quốc, nhưng bây giờ thì anh còn biết thêm là về mặt pháp lý thì người Áo đã mất phần lãnh thổ này từ trước. Hòa ước Trianon thực tế chỉ là pháp lý hóa trên văn bản mà thôi.
Đây là băng đeo của nhân viên hộ tịch ở thuộc địa Thiên Tân à?
Đây là dải băng mà nhân viên hộ tịch đeo vào khi làm lễ đăng ký kết hôn cho các cặp vợ chồng sắp cưới và lưu trữ vào sổ sách.
Ngoài dải băng trên, chúng tôi còn tìm thấy cả con dấu nữa. Sau 100 năm chúng tôi tự hào được đóng dấu bằng triện này của đế chế Áo - Hung.
Chúng tôi lật tiếp các trang tài liệu và quá khứ lại được tái hiện.
Vào cuối thế kỷ 19, khi nổ ra bạo động mà người ta gọi là cuốc chiến ma phiến, cuộc bạo động này đã bị 8 cường quốc dập tắt, trong đó có sự tham gia của các binh lính và thủy thủ của đế chế Áo - Hung, thí dụ như chiến hạm Zenkai. Trong cuộc chiến nhiều binh sy của chúng ta đã tử trận, nhưng cuối cùng thì chúng ta đã thắng và chúng ta đã được nhận lãnh thổ 1 km2 ở thành phố Thiên Tân (16:31).
Phần đất này trên thực tế được gọi là phần đất thuê, hòa ước Trianon chỉ ghi đó là một khu đất, nhưng ở chúng ta, chúng ta gọi đó là thuộc địa, là Trung quốc nhỏ của chúng ta. Và khi tôi nghĩ chả có gì làm cho tôi ngạc nhiên thêm nữa thì ở hành lang, anh András đã giở ra cho tôi xem tấm bản đồ, tấm bản đồ Trung quốc nhỏ của chúng ta. Tôi sửng sốt và kinh ngạc. Quý vị hãy bình tĩnh, thật bình tĩnh nhé! Chúng ta ở bên đó đã có tranh chấp lãnh thổ với nước Ý. Phần kết của tranh chấp này như thế nào, chúng ta không biết, nhưng điều chắc chắn là trong khoảng 15 năm phần đất đó thuộc về chúng ta: ở đó có các tàu điện chạy, có 4 phố: phố Budapest, phố Viên, phố Trieszt và phố Ferenc József, và nơi đây cũng đã từng bị lũ tràn qua tàn phá (17:27).
Vùng đất này của chúng ta thậm chí còn có các văn bản pháp luật riêng bằng tiếng Hung, và cũng không phải là các văn bản pháp luật bình thường, ví dụ như: để tổ chức bắn pháo hoa cần phải xin giấy phép của công an, cấm ẩu đả và quấy rối trên đường phố, người Trung quốc kể cả trên phần đát của Trung quốc cấm không được phép mang theo vũ khí, cấm ăn xin (17:56).
Đây là những văn bản pháp luật. Trên lãnh thổ mà chúng ta có, chúng ta còn có những kế hoạch phát triễn, có những kế hoạch đã được thực hiện, nhiều kế hoạch không thành.
Trên các văn bản, trên các bản đồ có xuất hiện 3, 4 con phố, trong các tài liêu cùng với các kế hoạch phát triển thường phát sinh câu hỏi là 3, 4 con phố có ít không, đoạn cảng có ngắn không mà cần thường xuyên phát triển. Nhưng dường như có vẻ là 10 năm, hơn 10 năm là quãng thời gian ít ỏi.
Thôi, chừng ấy thôi để nhắc lại quá khứ. Bây giờ chúng ta hãy hướng tới Trung quốc nhé! (18:38)
Đây là Bắc kinh Trung quốc vào trung tuần tháng ba. Đáng kinh ngạc là ở đây rất nhiều khói bụi và nhộn nhịp. Ở quảng trường Thiên an môn có vô vàn binh sỹ, và du khách thăm quan. Rất nhiều du khách đã chụp ảnh Mao Trạch Đông. Tôi đã đến thăm Tử cấm thành và một trong những công viên đá hay có ở đây. Sau đó tôi tới một nhà hàng ăn uống TQ, ở đây tôi nhanh chóng nhận ra rằng tôi sẽ chết đói nếu như thường xuyên phải ăn uống bằng đũa. Nhưng may mắn là không phải luôn như vậy. Tôi đi tiếp. Trên đường nhiều cư dân ở đây đang hứng thú chơi mạt chược. Sự hứng thú này lên đến cao độ khi tôi nhập cuộc với họ để chơi trò Đô mi nô. Thành công của tôi chẳng khác gì với việc tôi dùng đũa. Cả 6 lần tôi đều đứng chót.
Thôi, cũng chẳng sao, dù gì thì tôi đến đây đâu có phải là do việc này. Tôi đến tìm Trung hoa nhỏ của chúng ta.
Buổi sáng ngày hôm sau chúng tôi ở Thiên tân, thành phố cách Bắc Kinh 2 tiếng rưỡi đi ô tô.Trong thành phố này số dân sinh sống còn gấp rưỡi dân số Hungari. Khi chúng tôi bước ra khỏi xe thì một trò chơi mới cũng đã bắt đầu, khi chúng tôi quay phim, chụp ảnh thì chúng tôi cũng bị người khác chụp ảnh, quay phim, mà lại còn liên tục nữa chứ.
Những người hướng dẫn cho chúng tôi đã đưa chúng tôi đến một viện bảo tàng địa phương (20:02) và giới thiệu Tp Thiên Tân cho chúng tôi. Đây là vùng đất rộng lớn, chắc chắn vậy, nhưng ở đây có đến 14 triệu người sinh sống, có được một mảnh đất trống là hiếm hoi.
1 tiếng đồng hồ sau chúng ta ở khu vực được gọi là đất Ý, đây là khu vực được biết đến là có tranh chấp với chúng ta. Ở đây có các tòa nhà, các dãy cửa hàng với các mặt nạ lễ hội, và cả cửa hàng bánh Pizza ý nữa, như thể chúng ta đang sống ở một thành phố ý thực sự.
Rồi chúng tôi rời khỏi nơi đây để đến một nơi mà chúng tôi mong đợi từ nhiều tháng nay.
Cuộc hành trình dài, nhưng cuối cùng thì chúng ta đã đến đây. Phía sau lưng tôi đây là khu vực mà 100 năm trước đây đã có những người Hung làm việc, học tập và sinh sống, và đây là mảnh đất mà trên thực tế là hòa ước Trianon chính thức đã lấy đi của chúng ta vào ngày 04 tháng 06 năm 1920.
Mời quý vị, chúng ta cùng đi, để xem mảnh đất nhỏ TQ của chúng ta (20:25').
Nhìn từ đây thì kia là mảnh đất đã từng thuộc về chúng ta, thuộc về chúng ta trong khoảng 15 năm, mảnh đất này đã bị quân đội Trung quốc xâm nhập vào từ năm 1917, còn trên thực tế văn bản chính thức thì chúng ta bị mất vĩnh viễn ở Trianon.
Bên cạnh những tòa nhà cao trọc trời còn sót lại một số ngôi nhà cổ có tuổi thọ trên 100 năm tuổi với những khung cửa nhỏ. Đây là tòa nhà của quân đội thuộc đế chế Áo - Hung. Ngôi nhà này sắp tới đây sẽ được một tập đoàn bất động sản TQ mở lại, ít nhất là được bà TGĐ Ven Zhao nhắc tới.
Chúng tôi đã chuẩn bị cho việc tu bổ tòa nhà này từ 5 năm trước đây. Vì chúng tôi muốn được thấy nó như nó từng như vậy cách đây 100 năm. Chúng tôi dự kiến nhiều thứ vào đây, đây sẽ là công trình đáng tự hào của chúng tôi.
Tường của tòa nhà còn mộc, nhưng (21:45') tôi biết là ở đây sẽ có nhà hàng ăn uống, quán trà và ở đây sẽ có các triển lãm của Hungari nữa.
Tôi giới thiệu thêm vài hình ảnh về mảnh đất mà trước đây đã từng thuộc về chúng ta.
Đương nhiên là nhiều thứ đã thay đổi. Trên mảnh đất này nay có nhiều nhà cao trọc trời, đường xá rộng lớn và rất nhiều cửa hàng. Còn đây là trung tâm của Trung quốc nhỏ của chúng ta với tòa nhà của lãnh sự quán. Tôi đi vòng quanh trong nhà, tôi tìm thấy chiếc điện thoại cổ xưa, và cả chiếc máy chữ hiệu Corona nữa. Và qua hành lang tôi đi bộ đến cạnh con sông, mà trước đây 100 năm nơi đây là danh giới.
Tại đây thì các luật lệ, phong tục của Hung được thực thi. Ở đây có các trường học, có nhà tù, có công an, bên cạnh tòa lãnh sự còn có chỗ giải trí, có cả chợ.
Đây là chiếc cầu, ở đây tôi gặp Mervay Mátyás, anh là người sống ở đây và là người nghiên cứu đầy nhiệt huyết về mảnh đất này và lịch sử của nó. Tôi cảm ơn anh Mátyás về sự giúp đỡ để cho tôi biết được ở mảnh đất Hung này như thế nào 100 năm về trước.
Chúng ta có thể tìm thấy trong một bài báo chủ nhật về một người phóng viên đã đến đây và viết bài: nước Trung quốc nhỏ của chúng ta. Người này đã giới thiệu về mảnh đất này của đế chế Áo - Hung là mảnh đất được thuê nhương, hay là thuộc địa của chúng ta và còn kèm theo ảnh chụp nữa và có thể thấy những người thủa xưa như thế nào.
Và từ đây, lại một bước nhảy xa, về nước, về thư viện sách Széchenyi. Tôi đang tìm những tờ báo cũ, theo những điều mà anh Mervay Mátyás đã giới thiệu với tôi thì tôi tìm những tờ báo cách đây 112 năm.
Vào ngày quay đoạn phim này tôi bị cảm lạnh, quí vị hãy bỏ qua cho tôi vì có thể giọng của tôi không tốt, nhưng nhiệt huyết của tôi thì lớn hơn nhiều, vì cái chính là tôi đã tìm thấy cái mà tôi cần tìm khi đến đây.
Xin trích dẫn báo chủ nhật vào ngày 01 tháng 05 năm 1904, người phóng viên viết như sau: sau khi chiến tranh chấm dứt, ở quê nhà nhiều người không tán thành là đế chế Áo - Hung cũng đã chiếm đất ở TQ, ở Thiên Tân người ta cho rằng đây là một sự vô bổ, thêm một gánh nặng.
Trong khi các cường quốc chỉ thuê lại các vùng đất từ người TQ, thì vùng đất của chúng ta lại là sở hữu của đế chế Áo - Hung, chúng ta đã chiếm lấy mảnh đất này.
Cuộc sống ở Trung hoa nhỏ này như ở trong một tổ ong, bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc lúc mặt trời lặn, đường phố đầy những người là người.
Người viết báo đã trách cứ nhà cầm quyền của đế chế Áo - Hung vì đã không phát triển mảnh đất của chúng ta. Sau đó giới thiệu bức ảnh một tên trộm người TQ bị gông cổ, và còn đây nữa là những lính thủy đánh bộ trong những bộ quân phục đẹp đẽ.
Thành phố Thiên Tân vào giữa mùa xuân. Từ đó đến này đã có bao nhiêu nước đổ vào sông Hoàng Hà, các phố không còn mang tên Viên , hay Budapest nữa, nhưng còn đó là tòa nhà lãnh sự và sắp tới tòa nhà Kasino lại được mở lại trên mảnh đất khoảng 1 km2 khi đó có khoảng gần 20 nghìn người sinh sống, cách đây rất lâu, cách chúng ta rất xa, trên mảnh đất Trung hoa nhỏ của chúng ta.
Hành trình của của chúng ta đến đây thôi, chuyến phiêu lưu của chúng ta đến đây thôi, quí vị đã được nhìn thấy phiên bản duy nhất của bản hòa ước Trianon và nhìn thấy Trung quốc bé nhỏ của chúng ta.
Sau đây là một thông báo quảng bá: sau khi giới thiệu bộ phim này tôi sẽ khởi sướng đề xuất là hãy chính thức xem xét xem liệu Zajta có thể nhận được danh hiệu ,, Communitas fidelissima", nghĩa là ,, xã có danh hiệu trung thành nhất" hay không?
Cảm ơn quí vị đã đồng hành cùng tôi tối hôm nay. Tôi là Vujito Tvrtko. Chúc quí vị mọi sự tốt lành.

Nguồn:

Wednesday, June 3, 2020

Trianoni emlékmű: Magyar Fájdalom szobra (Zamárdi)


A szobor egy csónakjában hánykolódó, kétségbeesett férfit ábrázol, allegorikus párhuzamot vonva a fájdalmas alak és a trianoni döntéssel sújtott ország között. A háború után sokáig raktárakban állt, majd 1956 után újra köztérre került - de már új felirattal. "A túlsó part felé", hirdette az új tábla, az eredeti mondanivalótól teljesen eltérő értelmezéssel. 1991-ben, a helyi lakosok kérésére került vissza az eredeti felirat a szoborra.
Ezt a szép köztéri szobrot Margó Ede (1872-1946) szobrászművész alkotta, és ajándékozta Zamárdi községnek a harmincas években. Margó Ede akadémikus típusú portréi és emlékművei megtalálhatók az ország több városában és a nyugati országokban is. Szobrai, alkotásai védettek. Az ő tehetségét dicséri többek között a szegedi Dankó Pista- valamint a miskolci Kossuth-szobor; fürdőtelepi szép kápolnánk homlokzati Jézus-szobrát és a bent látható Mária-szobrot is tőle kaptuk. Mint a Balaton szerelmese, az elsők között épített nyaralót a fürdőtelepen, és munkáit, alkotásait itt álmodta meg.

(Text: mix fr. Zamárdi a Balaton Szíve & ORIGO)

Tuesday, June 2, 2020

Trianoni emlékmű: Magyar Fájdalom szobra (Emile Guillaume, 1932)

Fotó: Fortepan

A szobrot 1947-ben eltávolították a Szabadság térről. A bronzból készült női aktot 1948-ban a Margitszigeten a Palatinus fürdő bejárata előtt állították fel Napfürdőző nő címmel. 
Location: Hungary, Budapest V.
Forrás: kozterkep.hu

Nỗi buồn nước Hung


TRIANONRÓL MÁSKÉNT.

A trianoni békeszerződés, ami szerintem inkább nevezhető békediktátumnak – párizsi békének az a része, amely Magyarországgal foglalkozott – a legsúlyosabb vérveszteség volt, amelyet a magyar nemzet az 1526-os mohácsi csata óta elszenvedett. A „béke” 1920-as aláírásától számított negyedszázadon át Trianon következményei és felülvizsgálatának követelése uralták a magyar politikát, és nagymértékben meghatározták az ország külpolitikáját. Trianon öröksége mind a mai napig szenvedélyek és viták forrása Magyarországnak a szomszédjaival fennálló kapcsolataiban, illetőleg a magyar belpolitika részben kódolt témája. Ezét külön meg kell vizsgálnunk a szerződés hátterét és azokat a tényezőket, amelyek a béke feltételeit kialakították.
Az igazságtalan területi felosztás elve magával hordozta azt a tényt, hogy a béke nem tartható fenn tartósan az „új Magyarország határaival” szomszédos kialakuló államok, népek között. Az országunk számára nem lehet kielégítő egy olyan béke, amely nem ígérkezik tartósnak, és a tartós béke alapvető feltétele, hogy a megvalósíthatóság határain belül teljes mértékben érvényesítse a nemzeti törekvéseket. A nemzetiségi elvet kellett volna elsősorban szem előtt tartani a háború utáni területi elrendezésnél. Ez a vitatott kérdés megoldásnak egy sarkalatos pontja, amit nem vettek kellő súllyal figyelembe a béketárgyaló antant hatalmak különböző más érdekérvényesítő akaratokkal szemben.
Azt sem kell figyelmen kívül hagyni, - azt a nyilván való tényt - hogy az Osztrák-Magyar Monarchia, azon belül Magyarország is évszázadokon át elnyomták az alájuk rendelt nemzetiségeket. A terület újra felosztó bizottságok között (kettő) voltak lényeges kocepcionális (gondolkodásbéli, elképzelésbéli) majd lényegesnek látszó különbségek. A román követelésekkel foglalkozó bizottság például csak Erdélyben gondolkodott, a cseh követelésekkel foglakozó pedig Szlovákia déli határára összpontosított. Ugyanis a két bizottság abban a hitben volt, hogy egy tárgyalási poziciót dolgoznak ki, amelyet majd megvitatnak a vesztesekkel, mielőtt végső formába öntik a békeszerződést. Az Amerikai Egyesült Államok diplomatái és tanácsadói elsőbbségben részesítették az etnikai elvet, és azt igyekeztek elérni, hogy az új határok a lehető legjobban kövessék az egyes régiók etnikai térképét. Ezzel szemben a britek a születendő új államok gazdasági és stratégiai életképessége mellett kötelezték el magukat. A harmadik bizottság az olaszok csaknem kizárólag a jugoszlávokkal vitatkoztak a balkáni zsákmány felett. A franciák azt tartották szem előtt, hogy a határrendezés után a lehető legnagyobb befolyással rendelkezzenek a régióban, ezért kedvezően fogadták az utódállamok minden követelését, „amivel csak elő mertek állni”, és így gyakorlatilag mindig egyetértettek a britekkel. Ha meg kellett szavazni egy bizonyos dolgot, általában az angol-francia álláspont az amerikai fölébe kerekedett, és ez megint csak nem segített Magyarországnak. Sajnos azt kell mondanom, hogyha Magyarország, - mint vesztes állam – ha ott lehetett volna bizottságok ajánlási kidolgozásának rövid időszaka alatt, az sem változtathatott volna Magyarország hatalmas hátrányán, amely a legyőzött ellenség státusa volt. A bizottságok vitáiról itt-ott lehetett olvasni, de olyan történetírásunk volt, amilyen, ami a történelmi tényeket figyelmen kívül hagyta, azt mindig „jegelték”, hogy ezek lehetőleg a köznép tudomására ne jussanak. Maga a bizottságok véleményei is valamilyen befolyásoltságon alapultak. Idézek egy véleményt, ami megvilágosítja, hogy a bizottságok is látták, hogy a végsőnek tűnő megoldási javaslatok sok helyen „teherrel” van tele. Néhány vélemény:
 „ A jenkik (USA) északabbra húznák meg azt a határt, Csehszlovákia és Magyarország között, közel az etnikai határhoz, de azzal elvágnák a vasútvonalakat. Mi (Nicolson) délebbre akarjuk a határt, hogy megmaradjon a Kassa-Ungvár vasúti szárnyvonal, annak ellenére, hogy ez vagy 80 ezer magyart cseh fennhatóság alá fog juttatni.”
Egy másik felfogás, ahogy azt akkor látták a tárgyaló bizottságban:
„Amikor ezekkel az etnográfiai nehézségekkel szembesülünk, nagy a különbség, hogy azok a románok és a magyarok között merülnek-e fel, akik a mi ellenségeink, vagy a románok és a szerbek között, akik a szövetségeseink. Az első esetben lehetetlennek bizonyult eleget tenni mind a két félnek, a mérleg nyelve szükségszerűen román szövetségesünk javára billent, és nem az ellenséges Magyarország javára. Ugyanis akkor nem lehetett túlzásba vinni ennek az elvnek az alkalmazását, hiszen végső kötelességünk egy olyan helyzet kialakítása, amely tartós békét képes biztosítani.”
A területi revízió tudományos érveire a Magyar Földrajztudomány Nagy-Magyarország mellett kitett magért. Az első világháborút lezáró békekötések tárgyalóasztalánál nem csak politikusok, diplomaták, hanem tudósok, mindenekelőtt geográfusok is helyet foglaltak. A földrajztudósokat a legtöbb érdekelt ország szakértői között az első sorokban találjuk, hiszen a békeszerződések legfontosabb vitatémái területi, földrajzi kérdések voltak. A tudós szakértők szerepe azonban az igazán lényeges kérdések eldöntésében nem volt jelentős, hiszen a területi rendezésről a politikai, hatalmi érdekek, illetve stratégiai megfontolások döntöttek, a tudományos érvek legtöbbször a már korábban megszületett döntések legitimálására szolgált. Ennek ellenére a tudomány embereinek igyekezetére nem lehetett panasz: a geográfusok mindegyik érintett országban a legkorszerűbb tudományos eszközöket vetették be nemzetük igazának bizonyítására. A hatalmas népszámlálási (1910) adatbázisból könnyen értelmezhető mutatószámok, majd látványos, szuggesztív tematikus térképek készültek, mindenekelőtt nemzetiségi (néprajzi) térképek.
A Legfelsőbb Tanács május 12.-én elfogadta a bizottságok ajánlásait, és eltekintve egy rövid és eredménytelen vitától, amely Magyarország nyugati, osztrák határával foglalkozott, másról nem is indult eszmecsere. Ennek értelmében Ausztria megkapott egy darabot Nyugat-Magyarországból (Őrvidék), azaz Burgenlandot, ahol többségében is német (osztrák) nemzetiségiek éltek.
Románia megkapta egész Erdélyt, Magyarország egy jelentős sávját az erdélyi határtól nyugatra, tehát az úgynevezett Partiumot is, valamint a Bánát keleti részét.
A Szerb-Horvát-Szlovén Királyság megkapta egész Horvátország/Szlovéniát, a Bánát nyugati felét és a Bácska legnagyobb részét.
Csehszlovákiához került Észak-Magyarország összes, főként szlovákok és ruténok lakta része, ezen kívül egy magyarok lakta sáv az etnikai határtól délre. Még Lengyelország is kapott néhány községet az Észak-Magyarország egykori közös határmentén.
David Lloyd George (angol) még 1920-ban is igyekezett elérni, hogy az etnikai elvet részesítsék előnyben a többi tényezővel szemben, akkor, amikor a konferencia feltételeit már a magyar kormány tudomására hozták. Azt mondta, hogy nem lesz béke Közép-Európában, ha kiderül, hogy
 „magyarok egész községeit adták át, mint a barmokat Csehszlovákiának és Erdélyt a Románoknak, csak mert a konferencia nem volt hajlandó megvizsgálni a magyar ügyet.”
Az az igazság, hogy a bizottsági munkáknak ebben a szakaszában már beállt a „konferencia-kimerültség”, az államférfiakat elfárasztotta az a sok testi és lelki feladat, amelyeknek a háború kitette őket – az a háború, amelyet több mint egyéves viták követtek a béketárgyaláson. Érthetően nem volt kedvük hozzáfogni az általános rendezés egyik legösszetettebb, legrejtélyesebb problémájának kibogozásához, amikor az egész munka elsődleges célja az volt, hogy Németország lefegyverzése és megbüntetése teljesüljön.
„A népek akarata 1918 októberében és novemberében nyilvánult meg, amikor a kettős (dualista) monarchia összeomlott, s amikor hosszú ideig elnyomott népek olaszok, románok, jugoszláv vagy cseh-tót testvéreikkel egyesültek. Azóta lefolyt események ugyanennyi újabb bizonyítékát nyújtják a még nemrégen Szent István koronája uralma alatt népek érzelmeinek. A magyar kormány elkésett rendelkezései, melyeknek az volt a célja, hogy a nemzetiségek autonómia iránt való szükségleteknek eleget tegyenek, nem tévesztettek meg senkit; nem változtatnak semmit a történeti igazság lényegén, azon, hogy hosszú éveken át a magyar politika minden fáradozása oda irányult, hogy a nemzetiségi kisebbségek hangját elnyomja.”
Az igazsághoz még az is hozzájárult, hogy a magyar uralkodói „elitet” az Osztrák uralkodói „kilóra” megvették, amikor a magyar elitet beengedték a saját rezidenciáiba, de a magyar parasztságot, értelmiséget ez által kisemmizték, érdekeiket nem képviselték kellően, még sok embernek szavazati joga sem volt, hogy beleszóljon a „nagy” politikai vitákba. A Habsburgi politika soha sem kedvezett (400 év) Magyarországnak, csak kiszolgálói voltunk ennek a pöffeszkedő, nagyhatalomra vágyó úri népségnek.
Mérlegelve a konferencia döntéseit, kimondhatjuk, hogy azok igazságtalanok voltak, és indokolatlanul ártottak Magyarországnak. A keserűség és sértődöttség olyan magjait hintették el, amelyek megmérgezték a magyar közéletet és veszélyeztették a régió békéjét. Magyarország veszteségeinek nagyobbik része nem a békekonferencia következménye volt, és nem is a Monarchiának a háborúban elszenvedett vereségéből fakadt, hanem abból a politikából, amely háromnegyed évszázadon át a magyar uralmat kellemetlenné, néha elviselhetetlenné tette Magyarország nem magyar lakosai számára. Ennek a politikának sikerült győzelemre juttatnia a nemzeti eszmét egy etnikailag heterogén királyságban, amelyhez a földrajz, a bevándorlások, a történelmi események és középkori múltjának túlságosan becsvágyó terjeszkedései alakították ki. Mind ezek a tényezők is nagy részben felelősök a Magyar királyság felbomlásáért.
Az első világháborút lezáró „békeszerződés”, - ami szerintem egy kegyetlen diktátum volt – a mai napig nagyon erősen foglalkoztatja a magyar közvéleményt és a történészszakmát is. Ennek oka az, hogy 1990 előtt kevés olyan szó eshetett erről a magyar nyilvánosságban, - ebből a szempontból talán a nyolcvanas évek már jelentettek némi enyhülést. Ugyanakkor a határon túli magyarok helyzete révén a kérdés folyamatosan jelen van azóta is a közbeszédben. 2010 óta, amióta június 4. hivatalosan is a nemzeti összetartozás emléknapja lett, a Trianonra történő hivatkozások még gyakoribbak a magyar közéletben. Már elég sokat tudunk a „békeszerződés” körülményeiről, ám az még eléggé feltáratlan terület, hogy az ország darabokra szaggatása miként érintette a magyar társadalom mindennapjait. Ebben a kérdésben talán azt lehet tudomásul vennünk, hogy minden nemzetnek meg van az a joga, hogy a saját sorsáról önmaga döntsön. Ezt az időszakot a nemzetek „tavaszának” vagyis a nemzeti ébredésnek nevezném, ami (1711-től) – szatmári béke – és azt követő ipari forradalom kezdetén kezdődött, de nem minden nemzetnél voltak olyan értelmiségiek, akik erről időben tájékoztatták volna a sajátjait.
Magyarország minden harangja szóljon JÚNIUS 04.-ÉN 16.32 perckor egy percen át a Trianoni „békediktátum” aláírásának, tragédiájának szomorú emlékére. 

Nyíregyháza, 2020. június 01.       Összeállította: Bolyán Sándor