Showing posts with label Châu Á. Show all posts
Showing posts with label Châu Á. Show all posts

Sunday, August 17, 2025

Người Nhật: Made in Japan

“TOYOTA TỪ CHỐI TÔI, TÔI SÁNG LẬP HONDA.”

Tôi bước vào Toyota với những thiết kế piston đầu tiên – trẻ tuổi, cứng đầu và đầy ắp ước mơ. Tôi nghĩ các kỹ sư sẽ phải trầm trồ. Họ cười thẳng vào mặt tôi, nói rằng: “Thiết kế này không đạt tiêu chuẩn của chúng tôi.” Không một chút ngập ngừng. Chỉ là từ chối.

Nhiều người sẽ bỏ cuộc ngay tại đó, nhưng tôi thì không. Tôi trở về xưởng nhỏ của mình với một trái tim tan vỡ – nhưng không hề trống rỗng.

Tôi bán trang sức của vợ để có tiền làm lại mẫu thử. Tôi gần như không ngủ, làm việc đến khi tay r.ướm m.áu.Và khi tôi vừa chế tạo được thứ gì đó thực sự hoạt động, thì chiến tranh nổ ra. Nhà máy của tôi bị ném b om, tôi mất trắng.

Tôi xây lại. Rồi một trận động đất lớn lại phá hủy tất cả. Cứ như thể cuộc đời cứ giật lấy bản thiết kế khỏi tay tôi, hết lần này đến lần khác. Nhưng giữa đống đổ nát, tôi nhìn thấy điều mà không ai khác thấy: Con người cần di chuyển. Vậy là tôi gắn một động cơ lên xe đạp, và một thứ gì đó mới mẻ ra đời.

Chuyển động, đà tiến, một tia lửa. Đó là cách tôi bắt đầu chế tạo những chiếc xe đạp gắn máy. Không sang trọng. Không hào nhoáng. Nhưng nó chạy được. Và theo thời gian, thất bại không còn là kẻ thù của tôi, nó trở thành nhiên liệu. Cuối cùng, tôi sáng lập Honda.

Tôi không có tài nguyên vô hạn, nhưng tôi có tầm nhìn. Tôi có sự bền gan, có thứ cảm xúc bị dồn nén đến mức hóa thành ngọn lửa.

Họ từng nói tôi không bao giờ đuổi kịp Toyota. Giờ đây, xe của tôi có mặt khắp thế giới. Từ một xưởng nhỏ trong con hẻm, tôi gây dựng một di sản toàn cầu. Bạn muốn biết bí mật thật sự là gì không?

Bạn ngã rất nhiều lần, đến mức bạn học được cách đứng dậy trước cả khi chạm đất. Những người từng đóng sập cánh cửa trước mặt tôi, giờ đây nhìn thấy tên tôi lướt đi trên mọi đại lộ của thế giới.

Tôi không chỉ xây một công ty. Tôi đã tạo ra một câu trả lời. Một bài học. Một biểu tượng.

❝Hãy để sự từ chối trở thành khởi động của bạn. Không phải dấu chấm hết.❞ - Soichiro Honda.

Đúng là chỉ cần bạn không bỏ cuộc, thành công rồi sẽ đợi bạn ở cuối con đường 👏🏻

Theo: Chuyện doanh nhân

Thursday, August 14, 2025

Những phát minh của người Nhật

Sau Thế chiến II, khi Nhật Bản còn đang chật vật tái thiết, việc nấu cơm vẫn là gánh nặng lớn lao. Những bà nội trợ thường phải dậy từ lúc tinh mơ để nhóm bếp kamado, trông chừng lửa, và bất kỳ sơ suất nào cũng dễ bị đánh giá là thất bại của một người vợ. Trong bối cảnh đó, Toshiba đã giao cho Yoshitada Minami – giám đốc một nhà máy sản xuất bình đun nước điện đang gặp khó khăn – nhiệm vụ táo bạo: chế tạo một nồi cơm điện tự động.

Minami vốn là kỹ sư, giỏi về máy móc nhưng không biết nấu cơm thế nào là hoàn hảo. Ông đã tìm đến người bạn đời của mình, Fumiko – một người mẹ sáu con, đảm đang bếp núc. Suốt năm năm, Fumiko dốc hết tâm sức ghi chép cẩn thận từng tỉ lệ gạo – nước, canh chỉnh thời gian, nhiệt độ, thử đi thử lại trong mọi hoàn cảnh: buổi sáng lạnh giá, buổi trưa nóng bức trên mái nhà, hay những bữa cơm vội của gia đình.

Có lần, Fumiko kể lại rằng bà phải nấu hàng chục lần trong một ngày, ăn đến mức “ngán cơm nhưng vẫn phải nếm để ghi chú.” Những đứa trẻ nhà Minami cũng tham gia: từ việc cân gạo, gõ nồi thử độ nóng, đến thức dậy lúc nửa đêm chỉ để cùng cha mẹ kiểm tra mẫu thử. Chính sự gắn kết gia đình ấy đã biến căn bếp nhỏ của họ thành một “phòng thí nghiệm cơm gạo” thực thụ.

Một bước ngoặt xảy ra khi nhóm nghiên cứu nhận ra: chỉ cần nhiệt độ trong nồi tăng vượt 100°C – dấu hiệu nước đã cạn – thì phải lập tức ngắt điện. Từ nguyên lý đơn giản đó, Toshiba đã chế tạo ra công tắc lưỡng kim (bimetallic switch) có khả năng bẻ cong để ngắt mạch đúng khoảnh khắc. Năm 1955, chiếc Toshiba ER-4 chính thức ra đời – nồi cơm điện tự động đầu tiên được sản xuất đại trà trên thế giới.

Mẫu ER-4 khi mới tung ra thị trường có giá khá đắt, khoảng một phần ba thu nhập trung bình hằng tháng, nhưng nhu cầu tăng vọt đến mức chỉ trong vòng một năm, sản lượng đã đạt 200.000 chiếc mỗi tháng. Những lá thư cảm ơn từ khắp nước Nhật gửi đến Fumiko đã khiến bà rơi nước mắt – sự ghi nhận chân thành dành cho người phụ nữ thầm lặng góp phần thay đổi cuộc sống gia đình.

Con trai út Aiji Minami nhớ mãi một đêm, khi cha mang về một nguyên mẫu mới. Cả gia đình thức dậy, hồi hộp nếm thử cơm, rồi bật cười vỡ òa: “À, ngon quá!” Đó là giây phút mà họ biết mình đã thành công.

Từ đó, nồi cơm điện Toshiba làm thay đổi căn bếp Nhật Bản và lan tỏa khắp thế giới, trở thành một phần không thể thiếu của văn hóa ẩm thực hiện đại. Và sau tất cả, người ta vẫn nhắc đến Fumiko Minami với sự biết ơn – người phụ nữ đã mang đến hạt cơm hoàn hảo cho hàng triệu mái ấm.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Thursday, October 17, 2024

Người Nhật

ÁP DỤNG 4 LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN ĐỂ RÈN TÍNH KỶ LUẬT

1. IKIGAI

Ikigai, là một triết lý sâu sắc trong tiếng Nhật mang nghĩa "lý do để bạn thức dậy mỗi sáng". Đây không chỉ là mục tiêu trong cuộc sống, Ikigai còn là thước đo để bạn hướng tới và kiểm nghiệm quá trình trưởng thành của bản thân, đong đếm thành công của riêng mình. ‌‌

4 nguyên tắc của IKIGAI:

- Làm những gì bạn yêu thích.

- Làm những gì bạn giỏi.

- Làm những gì thế giới cần.

- Làm những gì bạn có thể được trả tiền.

2. KAIZEN

Thành công lớn đến từ những tiến bộ nhỏ mỗi ngày. Thay vì mong đợi một kế hoạch vĩ mô để rồi không đủ sức thực hiện, những bước tiến nhỏ nhưng kiên trì và liên tục sẽ mang đến thành công vững vàng hơn, hãy cố gắng trở nên tốt hơn 1% mỗi ngày.

3. SHOSHIN

Shoshin là một khái niệm từ Phật giáo Thiền của Nhật Bản, có nghĩa là "tâm trí của người mới bắt đầu". Khái niệm này đề cập đến một thái độ cởi mở, háo hức và không có định kiến khi học hỏi. Ngay cả khi đã ở một trình độ cao, vẫn luôn giữ tâm thế giống như một người mới bắt đầu.

4. WABI SABI

Thay vì cố gắng làm mọi thứ hoàn hảo từ đầu, Wabi Sabi dạy ta chấp nhận sự bất toàn và học cách trân trọng những “lần đầu tiên”. Bởi chính trong sự đa dạng, những thất bại đầu đời và cả việc thích nghi với những tình huống bất ngờ đều sẽ là một bài học. ‌‌

(Being tổng hợp)

Tuesday, April 23, 2024

Mỹ, Philippines tập trận có quân Pháp và Úc: Một liên minh quân sự mới ở Biển Đông?

Cuộc tập trận chung thường niên của Mỹ và Philippines trên Biển Đông có sự tham gia của khoảng 16.700 binh sĩ, trong đó có quân nhân Pháp và Úc.

Hôm 22-4, Mỹ và Philippines khởi động cuộc tập trận chung thường niên mang tên 'Balikatan 2024', tức 'Vai kề vai', với khá nhiều tín hiệu mới đáng chú ý.

Balikatan năm nay sẽ kéo dài trong ba tuần (từ ngày 22-4 tới 10-5) với sự tham gia của khoảng 16.700 binh sĩ, trong đó có quân nhân Pháp và Úc. Cuộc tập trận bao gồm diễn tập về an ninh hàng hải, phòng không và tên lửa, phòng thủ mạng và thông tin...

Các chỉ huy Philippines, Mỹ và đại diện Đại sứ quán Mỹ tại lễ khởi động cuộc tập trận chung Balikatan 2024 tại Manila (Philippines) vào ngày 22-4 - Ảnh: Reuters

Tập trận gần Biển Đông, Philippines đề cập "chiến tranh"

Balikatan được đánh giá toàn diện nhất trong số các cuộc tập trận quân sự giữa Philippines và Mỹ. Về tổng quan, các quan chức Mỹ và Philippines đều có ý mô tả hoạt động thường niên lần này không nhắm tới nước thứ ba, với mục tiêu cải thiện khả năng phối hợp giữa quân đội hai nước với nhau.

Tuy nhiên, trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông gia tăng, giới quan sát không khỏi tránh việc lưu ý tới yếu tố Trung Quốc.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đơn phương ở hầu hết Biển Đông, trong khi Philippines cũng là một bên tranh chấp. Trong khi đó, Mỹ phản đối tuyên bố chủ quyền cũng như việc quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông, và cũng thường căng thẳng với Bắc Kinh khi tổ chức các hoạt động "tuần tra vì tự do hàng hải" (FONOPs).

- Philippines 'đanh thép' với chủ quyền ở Biển Đông, Mỹ nói sẽ sát cánh

- Tổng thống Philippines nói sẽ có thỏa thuận Biển Đông với Mỹ, Nhật

- Philippines cùng Mỹ, Úc, Nhật diễn tập quân sự ở Biển Đông, Trung Quốc tuần tra tác chiến

Thêm vào đó, địa điểm tập trận Balikatan lần này sẽ chủ yếu ở khu vực phía bắc và tây Philippines, gần với "điểm nóng" tại Biển Đông và Đài Loan. Đây cũng là hai đối tượng đặc biệt nhạy cảm đối với an ninh của Trung Quốc.

Và điều này nghiễm nhiên khiến Trung Quốc phản đối hoạt động của Mỹ và Philippines, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc và Philippines có những căng thẳng công khai xuất hiện trên truyền thông một cách dày đặc thời gian qua.

Bản chất nội dung của Balikatan lẫn các phát biểu liên quan tới cuộc tập trận lần này cũng rất mạnh mẽ, thẳng thắn.

Tạp chí Nikkei Asia lưu ý lời đại tá Michael Logico - người giám sát cuộc tập trận này. Ông tiết lộ sẽ có một cuộc tấn công mô phỏng trên biển, và như năm ngoái, các binh sĩ sẽ đánh chìm một tàu hải quân Philippines đã loại biên.

Thậm chí khi đề cập tới cuộc tập trận năm nay, ông Logico cũng không ngần ngại nhắc tới chữ "chiến tranh" bất chấp việc không đề cập tới Trung Quốc.

"Mục đích của các lực lượng vũ trang, tức là lý do chúng tôi tồn tại, là thực sự nhằm chuẩn bị cho chiến tranh. Không có gì phải nói khéo về nó... nếu chúng tôi không chuẩn bị, đó là việc gây bất lợi cho đất nước", báo Philippines PhilStar dẫn lời ông Logico.

Chúng ta đang bàn về hai lực lượng có tổ chức, văn hóa và năng lực khác nhau, cũng như quy trình chỉ huy và kiểm soát khác nhau. Và các anh muốn huấn luyện để đạt mức độ có thể chiến đấu cùng nhau.

Đại tá Michael Logico (Philippines)

Những cái đầu tiên của Balikatan

Balikatan 2024 là một trong hai cuộc tập trận chung thường niên lớn nhất giữa Mỹ và Philippines từ trước tới nay và chứa những "cái đầu tiên" đáng chú ý.

Đây là lần đầu tiên Tuần duyên Philippines tham gia tập trận Balikatan - một tín hiệu cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của Philippines đối với các màn đụng độ trên biển của lực lượng này.

Tuần duyên Philippines gần đây từng tố bị tàu Trung Quốc va chạm, quấy nhiễu trong nhiệm vụ tiếp tế. Phía Philippines cũng có động thái mời phóng viên quốc tế tham gia các hoạt động này như một cách công khai những gì diễn ra trên thực địa.

Bên cạnh đó, năm nay cũng là lần đầu tiên tập trận Balikatan diễn ra ngoài lãnh hải Philippines. Lần tập trận này cũng có sự tham gia của quân nhân Úc và Pháp. Với Pháp, đây là lần đầu tiên tàu chiến nước này tham gia Balikatan với tư cách thành viên.

Việc thay đổi thông lệ này nhiều khả năng là cách Philippines mở rộng sự tham gia, phối hợp với các lực lượng khác ở những vùng biển được cho phù hợp với luật pháp quốc tế. Quan trọng hơn, sự xuất hiện của Úc và Pháp cùng 14 nước châu Á và châu Âu dưới tư cách quan sát viên cũng lờ mờ diễn tả tín hiệu về một sự "kề vai", mà trong mắt Trung Quốc là nỗ lực hình thành liên minh.

Trong bản tin về Balikatan ngày 22-4, Hãng thông tấn Trung Quốc Tân Hoa xã cho rằng "nhiều chuyên gia và học giả Philippines cũng bày tỏ lo ngại về việc cuộc tập trận chung có thể đe dọa an ninh khu vực".

Hãng tin này dẫn lời bà Anna Malindog-Uy, phó chủ tịch Trung tâm nghiên cứu Asian Century Philippines Strategic Studies Institute (trụ sở Manila, Philippines), nhận định sự tham gia của nhiều nước trong các cuộc tập trận như trên "có thể dẫn tới các liên minh chính trị và quân sự mới hoặc được tăng cường trong khu vực, vốn có thể gia tăng sự cạnh tranh và tạo ra chia rẽ cũng như thêm căng thẳng giữa các nước trong khu vực".

Trung Quốc: Philippines "kết bè kết phái"

Trung Quốc đã chỉ trích mạnh mẽ cuộc tập trận này, cáo buộc Philippines "kết bè kết phái" với các nước ngoài châu Á, đồng thời cảnh báo hoạt động trên có thể kích động đối đầu, làm suy yếu sự ổn định trong khu vực.

Tại Hội nghị hải quân Tây Thái Bình Dương tổ chức ở Thanh Đảo hôm 22-4, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc Trương Hựu Hiệp khẳng định biển không nên là đấu trường, nơi các nước lấy pháo hạm để "khoe cơ bắp".

"Thực tế chỉ ra rằng những ai cố tình khiêu khích, gây căng thẳng, hoặc ủng hộ bên này chống lại bên kia vì lợi ích ích kỷ của bản thân thì cuối cùng sẽ chỉ làm tổn thương chính họ. Việc tiến hành ngăn chặn, bao vây và phong tỏa các hòn đảo trên biển sẽ chỉ đẩy thế giới vào vòng xoáy chia rẽ và hỗn loạn", ông nói.

Tuổi Trẻ Onl

Tuesday, March 12, 2024

Hồi ký Lý Quang Diệu

Sau nhiều gián đoạn vì công việc và vì những cuốn sách khác, cuối cùng tôi cũng đã đọc xong hai tập hồi ký dày gần 1600 trang sách khổ to của ông Lý Quang Diệu.

Có rất nhiều điều để nói về cuốn hồi ký đồ sộ này và chúng không chỉ cần phải có cảm hứng mà cần cả thời gian nữa.

Sau đây chỉ là vài tóm lược vắn tắt nhất về bộ sách.

Trước hết Lý cho thấy ông có sự am hiểu sâu sắc về văn hóa Trung Hoa, các nước Đông Nam á, văn hóa Hồi Giáo, nền chính trị Anh quốc và châu Âu, văn hóa chính trị Hoa Kỳ, mô hình cai trị kiểu XoViet...

Từ những hiểu biết và khảo sát các mô hình ấy, ông tìm ra mô hình phát triển riêng cho Singapore và thành công.

Ông nhận xét, đánh giá về hàng trăm nhân vật chính trị (trong đó có bóng dáng vài nhà lãnh đạo Việt Nam) được coi là có ảnh hưởng đến sự thay đổi thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á, trong vòng một trăm năm qua.

Ông đưa ra các tiên đoán về tương lai của nhiều mô hình xã hội, trong đó có cả tương lai của mô hình phát triển của Singapore.

Ông cho thấy, cùng với thời gian mọi thứ đều có thể thay đổi. Do vậy những gì luôn được tung hô “muôn năm” chỉ là ảo giác do hoang tưởng tự đại, hoặc mị dân một cách có chủ đích.

Xuyên suốt trong tác phẩm của mình, dù nêu ra nhiều khiếm khuyết của mô hình chính trị dân chủ Mỹ và cách mà nước Mỹ muốn ở các quốc gia khác, nhưng ông khẳng định bất cứ sự chống đối, gây hấn nào với nước Mỹ, đều ngu ngốc và tất yếu gây thiệt hại lớn cho sự phát triển của đất nước mình.

Phần khảo sát về Trung Quốc khá dài, cũng là phần thú vị nhất. Ông cũng dành ra một số trang để nói về Việt Nam, nhưng khá sơ sài.

(Một người bạn của tôi cho biết, phần viết về Việt Nam của ông Lý, khi dịch sang tiếng Việt đã bị lược bỏ những chỗ ông phê phán hay bày tỏ sự thất vọng. Tôi không có điều kiện và hiểu biết để kiểm chứng).

Chống cộng, nhưng theo xu hướng Xã hội chủ nghĩa, ông Lý đề cao mô hình Bắc Âu. Tuy vậy chắc chắn ông là một nhà độc tài. Trong nồi lẩu tư tưởng cai trị của ông có đủ thứ: Nho giáo, kỉ luật chiến binh Nhật, luật pháp Anh quốc, thực dụng Mỹ... và có cả một chút "bác ái" kiểu Thiên chúa giáo?

Nhiều quan điểm về phát triển, về trật tự xã hội, về tự do, về quyền cá nhân của ông chỉ phù hợp với Singapore và không ai có thể biết trước tương lai của nó. Chính ông đã cảnh báo về điều đó. Chẳng hạn ông nghi ngờ về sự trường tồn của đảng PAP, của mô hình chính trị do ông dày công tạo dựng và tạo ra sự thịnh vượng, thậm chí ông nghi ngờ cả về khả năng tồn tại lâu dài của một quốc gia kiểu thành bang như Singapore trong một thế giới thay đổi điên loạn (Trang 152 và trang 837, tập II).

Tuy nhiên, những gì ông thực hành thành công có thể bị các chế độ độc tài, toàn trị khai thác, quảng bá không phải để thuyết phục dân chúng coi như một lựa chọn đúng đắn, mà chủ yếu để biện hộ cho sự tàn bạo, tồi tệ trong cai trị hà khắc của họ.

Đó là lý do vì sao các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc sau Mao luôn tìm cách mang mô hình Singapore về áp dụng tại đất nước rộng lớn của họ. Chỉ có điều họ bỏ đi những mẩu dân chủ - dù còn hình thức - hiếm hoi mà ông giữ lại (Chẳng hạn Lý Quang Diệu quyết định để Tòa án ở Singapore được xét xử độc lập như thời Anh cai trị, cho phép các đảng đối lập tranh cử công khai với đảng PAP thống soái… để ít ra, như chính ông nói, gây áp lực lên các ứng viên đảng PAP trong việc rèn luyện phẩm hạnh, học tập và khiến đảng cầm quyền phải nỗ lực tiến bộ không ngừng).

Dù có nhiều biện hộ, dù cho thấy là một người đề cao sự trung thực, nhưng chỉ cần tinh ý một chút, vẫn có thể nhận ra không ít chỗ tác giả tìm cách che dấu sự thật mà ông không đủ can đảm nói ra, hoặc nói ra sẽ làm lung lay hình ảnh về một "người cha lập quốc huyền thoại" trong suy nghĩ của nhiều người Singapre, cũng như những người hâm mộ ông với tư cách là người kiến tạo nên một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới từ một hòn đảo nghèo đói, đầy rẫy tệ nạn.

(Chẳng hạn đoạn ông biện hộ về sự cần thiết phải kiểm soát ngôn luận, cấm tụ tập biểu tình, những vụ án chính trị được hình sự hóa, hay từ chính những phản bác của ông về ý kiến quy cho ông thực hiện chế độ “gia đình trị”.)

Chắc chắn Lý Quang Diệu là một chính khách lớn của thế giới trong thế kỷ 20.

Với cá nhân tôi, ông còn xứng đáng là một nhà văn, nhà văn hóa uyên bác và tinh tế.

Dù thế nào thì đây cũng là một cuốn sách đáng để đọc và đọc kĩ. Tôi đã phải gạch chân và đánh dấu ngoài lề hàng trăm đoạn, những chỗ mà tôi thấy cần phải nghiền ngẫm tiếp về những điều tác giả viết.

Lý Quang Diệu cũng cho tôi biết, để thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình và vươn lên hàng ngũ phát triển, một quốc gia phải có tăng trưởng hai con số (từ 12-14% một năm) liên tục ít nhất trong vòng 30 năm.

Vì thế ông yêu cầu các quan chức cũng như người dân Singapore phải không ngừng cảnh giác với căn bệnh thành tích và thói tự mãn.

Tạ Duy Anh

Sunday, February 11, 2024

Người Nhật và nước Nhật

Đây là bài viết được mạng XH ở Nhật, Trung và Hàn chiasẻ nhiều nhất trong năm qua. Các bạn có thể đọc thử và hiểu vì sao người dân các nước này lại đón nhận bài viết như vậy nhé. Nếu bận thì có thể lưu trước, đọc sau.
Vận mệnh tại tâm 
Ông Inamori là một doanh nhân sáng lập và điều hành tập đoàn Kyocera của Nhật Bản. Khi kể về cuộc đời của mình, ông khẳng định tướng do tâm sinh. Cuộc đời là sự phản ánh của nội tâm và có thể biến đổi. 
Thực sự mà nói, cuộc đời của tôi chỉ đơn giản là một chuỗi liên tiếp những thất vọng. Khi còn trẻ tôi làm gì cũng đều không được như ý. Trong lòng tôi đầy bực tức. Tại sao vận khí của tôi lại kém như vậy? Tại sao cuộc đời của tôi lại có nhiều x.ui x.ẻo như vậy?  Thất bại đầu tiên của tôi là thi trượt trong kỳ thi tuyển sinh lên cấp 2. Tiếp đến là tôi bị nhiễm b-ệnh la.o phổi. Thời ấy b-ệnh la.o phổi không chữa được, hai người chú của tôi cũng vì b-ệnh này mà qua đời. Tôi nằm trên giường b-ệnh và tuyệt vọng. Lúc đó bác hàng xóm thấy tôi rất đáng thương liền cho tôi mượn một cuốn sách, “Chân tướng của sinh mệnh”. Bác nói: “Này cậu, thay vì nằm khóc, hãy đọc đi”!
Đối với một đứa trẻ vừa tốt nghiệp tiểu học, để hiểu được nội dung của cuốn sách này là rất khó khăn, nhưng vì đang nóng lòng muốn tìm kiếm một vị cứu tinh, mặc dù có chỗ hiểu có chỗ không, nhưng tôi đã đọc nó một cách ngấu nghiến. Cuối cùng, tôi đọc được một câu như thế này: “Tim chúng ta là một cục nam châm rất mạnh, có thể thu hút mọi thứ vào cơ thể. Chúng ta bị bệnh là bởi vì chúng ta có một trái tim năng lượng âm, năng lượng âm thì sẽ thu hút v-i kh-uẩn của bệ-nh t.ật và xui xẻo của vận khí.” 
Lúc chú của tôi bị lao, bởi vì sợ bị l-ây nh-iễm nên tôi tìm cách tránh xa chú. Trong khi cha tôi thì sang nhà chú, tận tình chăm sóc, còn anh trai tôi thì nói: “V-i tr-ùng la.o không dễ dàng lây như thế đâu! Bình tĩnh lại đi.” Như vậy là, tôi là chỉ biết nghĩ đến mình, hễ người thân bạn bè bị ốm thì tôi kiêng kỵ, xa lánh, lo sợ lây b-ệnh, mình phải khôn cho mình trước. Nhưng, cha và anh trai tôi không bị sao cả, chỉ có tôi là bị nh-iễm bệ-nh l.ao. Tôi nghĩ:“Thì ra chính là do tâm mình có ý trốn tránh, sợ l.ây nh.iễm bệ-nh nên cuối cùng đã mời gọi b-ệnh.” Chính là bởi vì sợ hãi, kết quả là đem sự sợ hãi gắn vào thân thể mình, một chút tâm suy nghĩ ti-êu cực dẫn đến tiê-u cực thật sự. 
Tôi nghiêm túc suy nghĩ về hành vi của mình, thầm hứa sau này trong tâm trí sẽ chỉ suy nghĩ những điều tốt đẹp. Đầu tiên, tôi nghĩ tôi sẽ hết b-ệnh và đi học lại. Nghĩ vậy nên tôi tích cực uống thuốc và ăn uống vui vẻ, cuối cùng tôi đã được chữa khỏi b-ệnh la.o, có thể trở lại trường. Tuy nhiên, thất bại vẫn giống như là duyên phận. Nguyện vọng đại học ưa thích không đậu, tôi đành phải học trường cao đẳng nhỏ ở địa phương. Do chăm chỉ nên tôi học có kết quả tốt, nhưng lúc tốt nghiệp thì nền kinh tế rơi vào s-uy thoái, tôi không thể xin được việc. Tôi không khỏi nguyền rủa xã hội bất công, luôn cho rằng mình đã sinh nhầm thời. Tâm tướng, tâm thái con người thật không dễ dàng thay đổi, vì vậy cuộc đời tôi vẫn tiếp tục long đong và trắc trở. 
Khi vào làm việc ở một c.ty sản xuất sứ cách điện ở Kyoto, tôi mới biết c.ty này đứng trước nguy cơ p-há s.ản. Ti-ền lư.ơng thường xuyên chậm trễ, những người lãnh đạo mâu thuẫn lẫn nhau. Cùng đợt vào làm với tôi còn có mấy bạn cũng mới tốt nghiệp, cứ gặp nhau là lại bàn bạc bỏ việc, phản ứng đầu tiên của họ khi gặp chuyện không vui là bỏ việc. Không lâu sau, chỉ còn lại một mình tôi trụ lại.
Con người rất là kỳ lạ, một khi bị ép vào hoàn cảnh 1 mình làm hết mọi việc cho chục người, do hết thời gian nghĩ vẩn vơ nên tôi dồn hết tinh lực vào công việc. Thành quả cũng bắt đầu xuất hiện. Chứng kiến thành quả tốt, ông chủ khen ngợi, công ty có th-u nh.ập, tôi cũng có t-hu n.hập tốt. Như vậy, tôi bắt đầu đi vào “vòng tuần hoàn tích cực”.
Qua kinh nghiệm này, tôi hiểu được một chân lý, hết thảy những sự tình gì xảy đến với mình đều là do tâm của mình, đây là một nguyên lý mang tính căn bản, vận mệnh của 1 người do họ tạo ra. Bản thân mình chọn gieo hạt giống nào thì tự bản thân mình sẽ nở hoa, kết trái đó.
Tư tưởng là bút vẽ, cuộc đời là một tấm vải, bức tranh cuộc đời của mỗi người là khác nhau. Tướng do tâm sinh, bạn nghĩ như thế nào thì cuộc đời bạn sẽ như thế ấy. 

Nguồn: An Hoà

Tuesday, January 16, 2024

Câu hỏi về sự vận động và bất biến của lịch sử

 Vì sao Á Đông lạc hậu, 

    1. Theo quan điểm phát triển của xã hội học hiện đại của Marx, Weber, Witgenstein, Á Đông vào thế kỷ 10-13 đã hội tụ đủ các yếu tố để phát triển như phương Tây vào thế kỷ 17-18. Nhưng cuối cùng Á Đông không phát triển, trở nên lạc hậu và bị phương Tây nô dịch. Mọi thành tựu văn minh, chất lượng cuộc sống, khả năng làm chủ số phận hiện nay của con người đều là thành tựu của khoa học và phương pháp luận phương Tây. 

   2. Nhiều học giả cố gắng cắt nghĩa điều này theo các cách khác nhau. Có người cho rằng bản chất của chế độ phong kiến Á Đông được phỏng theo mô hình xã hội của các loài côn trùng phù du: mối, kiến, ong, chỉ có mục tiêu phục vụ một cá thể là con chúa. Chính vì thế nền kinh tế không có thị trường, khoa học công nghệ không có ứng dụng. 

    3. Tôi nhìn vấn đề theo một cách khác. Xã hội độc tài tuy nhiều khi phản động ngăn chặn sự tiến bộ, nhưng đôi khi nó cũng kích thích sự tiến bộ, chẳng hạn Kim Tự tháp, nghệ thuật, kiến trúc, kỳ quan thế giới đều do các nhà độc tài tài trợ. Không có Giáo hoàng sao có thể có Michelangelo và các bức vẽ trên trần các thánh đường. Tôi thấy có một hạt nhân nguy hiểm hơn trong phương pháp tư tưởng phương Đông là việc mặc định cho rằng ngày xưa là khuôn vàng thước ngọc. Thánh nhân sẽ không có ai bằng, chỉ cần noi theo là đủ. Trong khi đó, ở phương Tây, truyền thống là phủ định hình tượng. Các trí tuệ siêu việt như Socrates, Pythagoras, Aristoteles, Platon, Newton, Einstein đều bị phủ định ngay khi còn sống để rồi sau đó mới đặt họ vào vị trí chính đáng. Các giá trị của họ mang lại đều được bổ sung, cải tiến và phát triển đưa đời sống đi lên. 

     4. Sử cho rằng các tác phẩm của Khổng Tử như Ngũ Kinh, Tứ thư bị Tần Thủy Hoàng đốt hết, nhưng đột nhiên tới thời Hán Vũ Đế, khi cần, chúng lại được "phát hiện" trở lại trong nhà mồ của Khổng Tử. Điều đó gây nhiều nghi vấn. Bên cạnh đó, các tư tưởng trong các tác phẩm này đều có từ trước, Khổng Tử chỉ "san định" lại. Nói một cách khác, ông đã cắt xét đi những thứ không hợp ý mình. Riêng về Kinh Thi, nhiều người cho rằng Khổng Tử phá hoại nhiều hơn công. Ông lược bỏ những bài không theo tiêu chuẩn đạo đức của mình. Có lẽ vì vậy, khi Khổng Tử sống, ông chỉ là một nhà tư tưởng không được thực thi, hoàn toàn vô danh.   

    5. Các tác phẩm nổi tiếng như Đạo Đức Kinh,... đều khó lòng là tác phẩm của một người. Thậm chí có một người là Lão Tử hay không thì vẫn còn tồn nghi. Sử Ký nói tới ít nhất 3 người được cho là Lão Tử: Lý Nhĩ, Lão Đam, Lão Lai Tử và hoàn toàn không có chứng cứ nào về việc họ viết Đạo Đức Kinh. 

     6. Thực ra, tư tưởng cũng như nghệ thuật, triết học, thức ăn, quần áo hay công cụ, không phải khi ra đời đã giống hệt như hiện nay. Thật ngây thơ nếu tin rằng các quý tộc La Mã đã dùng các loại baguette, hay crossant thượng hạng như chúng ta dùng hiện nay. Quần áo thời Chu không phải trắng muốt, thơm tho như trong phim ngôn tình cổ trang. Chắc chắn, do chưa có bột giặt, chúng sẽ ngả sang màu cháo lòng, chất liệu cũng thô, và do ít thay, chúng sẽ có mùi không mấy dễ chịu. Rượu vang trước công nguyên có thể chỉ là một thứ nước lên men thô lỗ, chưa thể chưng cất tinh tế như sau này.  

      7. Tư tưởng bắt đầu cũng phải manh nha với các ý tưởng sơ khai, có thể ngây ngô. Phật chưa hề viết một trang kinh nào. Tuy vậy, không phải là vì ngài không muốn viết và hàng vạn trang kinh, luật, tạng đã có sẵn trong đầu ngài và chỉ vì ngài không muốn viết. Cho dù ngài có muốn, giáo lý của ngài cũng chưa hoàn thiện và đầy đủ như ngày nay. Nói Đại thừa đã tiềm tàng trong tư tưởng của Phật là một cách nói và mâu thuẫn với niềm tin của Tiểu thừa là họ mới là Phật giáo nguyên thủy. Những lời được ghi chép trong kinh được cho là của Phật cũng không hề có bằng chứng nào. 

      8. Cho dù ngài có ngồi 10 năm dưới cây Bồ đề, không động tâm vì muỗi, kiến đốt, nghĩ với tốc độ siêu thanh, cũng không thể tạo ra được một phần ngàn thông tin mà các kinh, luật, tạng đang có.  

      9. Bên cạnh đó, ngài được thừa hưởng nhiều kiến thức từ nền giáo dục lúc bấy giờ, dựa trên truyền thống Vệ Đà, Ấn độ giáo, Upanishads và ngài có một số đề xuất cải tiến mới trên nền tảng đó: có thể là Tứ Diệu đế, Duyên khởi và Ngũ Uẩn ở một mức sơ khai hơn những gì chúng ta thấy bây giờ và chắc chắn được thể hiện bằng một ngôn ngữ khác, chưa phát triển, không chặt chẽ, thiếu khái niệm không có năng lực thể hiện như ngôn ngữ bây giờ.

    10. Niềm tin có sức mạnh của nó. Có thể dẫn tới những chuyện thần kỳ mà sức người thường không thể làm nổi, kể cả quay ngược bánh xe lịch sử.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, August 20, 2023

Made in Japan

CHẤP NHẬN THUA LỖ THAY VÌ SA THẢI NHÂN VIÊN, "VUA NỢ NHẬT BẢN" MỞ RA THỜI ĐẠI PANASONIC CỰC HƯNG THỊNH 

Nhà sáng lập của Panasonic Konosuke Matsushita (1894-1989) được biết đến là một Doanh nhân huyền thoại của Nhật Bản. Năm 17 tuổi, Matsushita đến làm cho một công ty cơ điện do bị hấp dẫn bởi ngành công nghiệp này. Vì đam mê quá lớn nên 7 năm sau đó, ông xin nghỉ việc và đứng ra mở cửa hàng chuyên bán đồ điện với số vốn vỏn vẹn chỉ có… 97 yên. Đến chiếc áo Kimono, của hồi môn và nữ trang của vợ cũng phải bán đi để làm vốn kinh doanh. 

Cuối năm 1929, cơn đại khủng hoảng gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế toàn thế giới nói chung và tại Nhật Bản nói chung. Các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đều cắt giảm nhân công mỗi nhà máy khi không có việc. Trong lúc đó, công ty của Matsushita còn một lượng lớn hàng tồn kho, cách tốt nhất là phải hạn chế sản xuất.

Cũng trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc, sức khỏe của Matsushita Konosuke không được tốt nên ông phải dưỡng bệnh tại nhà. Cấp dưới tìm ông để đề nghị việc cắt giảm nhân viên. Tuy nhiên, Matsushita cương quyết nói rằng sẽ cắt giảm dù chỉ là một nhân viên. Ông nói:

“Tình trạng khủng hoảng này có thể chỉ là tình trạng tạm thời. Nếu vậy, làm sao chúng ta có thể sa thải những nhân viên tận tụy với công ty cho đến tận bây giờ? Khi cần thì tuyển, khi muốn thì sa thải, nếu cứ suy nghĩ thiển cận như vậy thì còn ai muốn cống hiến hết mình vì công ty không? Dù chỉ một người thôi cũng không được đuổi. Tiền công cho nửa ngày làm việc hay nửa ngày sản xuất, dù là một phần trăm cũng không được cắt!”

Thay vào đó, ông nghĩa ra giải pháp mới là bảo nhân viên bỏ hàng mẫu vào trong cặp đi chào hàng và cố gắng để có nhiều đơn đặt hàng hơn. Điều này đã được các nhân viên hưởng ứng và tích cực làm việc, mang những sản phẩm mẫu tới mọi nơi ở Osaka và Kyoto. Cứ thế, hàng tồn kho nhanh chóng được giải quyết và nhà máy lại đi vào hoạt động như bình thường. 

Năm 1931, phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của Mashushita đã vang dội cả nước với 200 loại sản phẩm điện. Công nhân đã lên tới hơn 1.000 người. Năm 1935, công xưởng Mashushita trở thành Công ty công nghiệp điện khí Mashushita. Năm 1938, Mashushita chế tạo được mô hình máy thu hình. Năm 1941, công ty của Masushita thành một doanh nghiệp lớn với hơn 10.000 công nhân.

Năm 1945 Nhật Bản sau thế chiến, Mỹ tiếp quản Nhật, khi ấy, Mỹ đưa ra những hạn chế với các công ty Nhật, và đưa công ty của Masushita vào danh sách tài phiệt, ông bị yêu cầu từ chức. Khi ấy ông đã mười mấy lần đến Mỹ để đàm phán, nhưng không có kết quả. May thay, công đoàn lao động sau khi biết chuyện này đã đồng lòng cứu giám đốc của mình, Masushita cuối cùng thoát khỏi danh sách tài phiệt, và giữ được vị trí của mình.

Năm 1951 là năm mở đầu cho sự nghiệp xây dựng lại danh hiệu Mashushita. Lần này Masushita sang Mỹ và châu Âu để khảo sát thị trường. Sau đó, ông đã bắt đầu xây dựng những nhà máy sản xuất đầu tiên ở Mỹ, sau đó đến Đông Nam Á, châu Mỹ Latin, châu Phi…Năm 1955, lần đầu tiên, công ty xuất khẩu loa sang Mỹ dưới thương hiệu Panasonic. Từ đây, thời đại của thương hiệu này đã rộng mở và trở thành biểu tượng cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản.

Năm 1960, số vốn của Công ty Matsushita tăng 15 tỷ yên, số nhân viên công ty cũng tăng 25 nghìn người. Cũng trong năm này, Mashushita đã là công ty được xếp thứ 74 trong 100 "Đại gia của thế giới". Năm 1962, tạo chí Times của Mỹ in hình Masushita trên trang bìa, đó là sự phá lệ của tờ báo này bởi đây là lần đầu tiên, chân dung một nhà doanh nghiệp Nhật Bản được đăng trên trang bìa với dòng chữ: "Ông chủ Công ty Mashushita, một công ty có tiếng tăm trên thế giới, hàng hóa có chất lượng tốt nhất và sử dụng có hiệu quả cao nhất". 

Tuy đã thoát được khó khăn này, việc kinh doanh của ông lại tiếp tục nảy sinh vấn đề khác, khoản nợ của công ty ngày càng chồng chất. Riêng tiền nợ đã lên đến một tỷ yên. Ông được đặt biệt danh là “Vua nợ” của Nhật Bản. Thậm chí đến những bữa ăn hàng ngày, ông cũng phải nhờ cậy vay mượn bạn bè. Thời khắc khó khăn, nhưng điều đó không thể khiến ông gục ngã. 

Dưới sự dẫn dắt và nỗ lực của ông, Panasonic tăng trưởng nhanh chóng trong thời điểm kinh tế khó khăn. Năm 1973, Panasonic một lần nữa rơi vào khó khăn khi bùng phát khủng hoảng dầu mỏ. Masushita đã bình tĩnh phân tích, điều chỉnh phương hướng và chiến lược kinh doanh, một lần nữa giúp Panasonic lại lần nữa vượt qua thử thách. Đến ngày nay, Panasonic tự hào là một doanh nghiệp hàng đầu thế giới.

Trang FB-TS Tô Nhật

Wednesday, August 2, 2023

Tại sao người ta phát triển còn mình thì ko?

Giải mã cách làm marketing của người Hàn

Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Nhưng chỉ trong 20 năm, Hàn Quốc đã trở thành một "bản sao có cải tiến" của Nhật. Trong khi đó, những nước có điều kiện tương tự như Philippines, Thái Lan, Indonesia....thì vẫn rơi vào bẫy thu nhập trung bình, không sao vươn lên được cộng đồng những quốc gia phát triển. 

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn (có âm là sông Hán). Ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, thực phẩm, nông nghiệp, dịch vụ…bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó, dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn Quốc đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào. Trên tivi chỉ có 2 chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn“, từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng, đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, đến cách tạo dựng một nhà máy. Khu công nghiệp, nhà máy, cảng biển....là 3 từ phổ biến nhất ở Hàn Quốc lúc này, một đứa trẻ tinh hoa lớn lên, thấy có trí 1 chút, sẽ được gia đình thầy cô khuyên bảo "hãy cùng nhau mở nhà máy để xuất khẩu". Dòng ngoại tệ chảy về thì mới giúp 1 vùng đất nghèo đói biến thành trù phú. Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy và thuê lao động Hàn, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi “cho việc”, tức xây dựng các nhà máy ở nước ngoài và hàng triệu người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines đứng xếp hàng xin các ông chủ Hàn Quốc cho họ việc làm. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi cho việc người khác.

Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau và cười trong nước mắt, Hàn Quốc đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Công và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí. Phim Hồng Công tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Người Hàn tuyển chọn ngay sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ …4 năm sau tốt nghiệp, năm 1992, những bộ phim Hàn Quốc đầu tiên ra đời như Cảm xúc, mối tình đầu, hoa cúc..với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet và hợp nhãn người châu Á. Ngành làm phim phối hợp với ngành hàng tiêu dùng xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình các nước, tạo ra làn sóng Hallyu nổi tiếng. Người Nhật quay ngược lại hâm mộ tài tử Hàn Quốc một cách điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, thậm chí phim cổ trang Trung Quốc tụi trẻ chê không xem, chỉ xem phim Hàn, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa. Thời đại điện ảnh Hồng Công kết thúc. Những ngôi sao Hallyu đi tới đâu thì người ta bu xem tới đó, vì kỹ năng marketing của họ đạt mức thượng thừa, đứng phía sau các ca sĩ diễn viên đều là những công ty giải trí rất lớn với những đầu óc siêu việt. 

Năm 1988, ngoài số người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh, người giàu có được khuyến khích gửi con em  đi Milan và Paris để du học về thời trang, mỹ phẩm, thiết kế. Các học sinh thông minh nhất được khuyến khích học các ngành kỹ thuật và công nghệ để xây dựng nền công nghiệp mạnh, vì chỉ có công nghiệp mới giúp một quốc gia tự chủ kinh tế và cả quốc phòng. Mô hình của Israel và Đức là rất rõ. Các ĐH tư thục thành lập phải có khoa công nghệ ứng dụng thì mới được cấp phép. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu” tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, tụi Tây không thích. Có những năm, những mẫu xe của Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ và ngạc nhiên, thích thú.

Ngoài ra, những sinh viên giỏi toán được giới thiệu các cơ hội để tự nộp đơn xin học bổng theo ngành tài chính ở các đại học lớn trên thế giới. Họ học ngày học đêm với tham vọng biến Seoul thành trung tâm tài chính như London, New York. Các bạn du học sinh sẽ biết SV Hàn Quốc học chăm chỉ như thế nào. Ngày tốt nghiệp cũng là ngày kéo vali ra sân bay về đất mẹ, họ có đầu óc lớn nên đều về nước để khởi nghiệp làm ăn, vừa khẳng định bản thân, vừa giúp người dân có việc làm. Giới trung lưu góp tiền vào nhau tạo thành các quỹ đầu tư, đi tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé ở khắp cả nước để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Không chỉ trích, đổ lỗi, mỗi cá nhân chỉ góp sức góp trí để xây dựng các doanh nghiệp lớn mạnh hơn, với triết lý “giúp cho một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn thêm giàu có“. Hệ thống bán lẻ Lotte, K-Mart.... có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi, Samsung bắt đầu cho học bổng thạc sĩ miễn phí với mọi sinh viên châu Á với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy.

Người Hàn, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải Made in Korea, dù lúc sản phẩm kém cỏi còn xấu xí và đầy lỗi của thập niên bảy mươi hay hiện đại như bây giờ. Mỗi cá nhân chịu thiệt thòi một chút thì đã sao. Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?

Còn nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở VN ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ngoại nhờ mình mua giùm. Ở cửa hàng, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho mình xem mấy tiếng đồng hồ, nhưng đều là mỹ phẩm của Hàn cả. Do tiếng Anh không tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc mình lấy tay chỉ hộp phấn Lancome (Pháp), thì cô thất vọng và bật khóc. Thầy mình nói ở Hàn, mỗi nhân viên bán hàng là một chiến sĩ, phải thuyết phục cho bằng được người nước ngoài dùng sản phẩm Made in Korea. Mỗi người trong xã hội được ngầm phân công cụ thể, ai đi học thì phải học chăm chỉ, ai sản xuất thì sản xuất cho tốt, ai bán hàng thì phải bán cho được hàng, ai tiêu dùng thì phải mua đồ Hàn Quốc. Nghĩa vụ của một công dân đối với nền kinh tế đất nước chỉ có vậy thôi, âm thầm làm và làm, không nhìn ngó và chỉ trích. Có lẽ cô đã khóc vì tình yêu nước trong cô không đủ thuyết phục được khách hàng, không làm tròn nhiệm vụ tổ quốc giao phó. 

Giọt nước mắt nóng bỏng của lòng tự hào dân tộc khiến mình sững sờ. Cô gái ấy chỉ là 1 người bán hàng bình thường trong muôn ngàn người bán hàng ở xứ sở kim chi biết tự giác làm hết khả năng của mình vì cái lớn lao hơn là lợi nhuận. Vì quá kính phục, mình bèn "cãi lời bà chị", mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không. Lúc bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại, mình vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.

Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và mình biết, trên lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc.

(copy từ FB-Ăn trưa cùng Tony)

Tuesday, May 23, 2023

Singapore và câu chuyện phát triển

Tóm tắt: Singapore là hiện tượng kỳ diệu của thế giới ở thế kỷ 20. Từ một thị trấn nghèo qua 3 thập niên với ý chí quyết đoán của người đứng đầu là Lý Quang Diệu, Singapore đã trở thành “thiên đường của chủ nghĩa tư bản”. Năm 2014, GNP đầu người của nước này là 72.000 USD tính theo PPP. Xã hội thịnh vượng. Môi trường trong lành. Quan chức liêm khiết. Cả thế giới muốn bắt chước, nhưng có nhiều điều không thể bắt chước và cũng có nhiều điều người ta không muốn bắt chước. Bởi Singapore phát triển trong những nghịch lý không dễ lý giải, mà nghịch lý lớn nhất là “cất cánh” rồi “hóa rồng” trong môi trường ít nhiều độc đoán, độc tài. Tự do, dân chủ bị quản lý chặt. Nhà nước can thiệp sâu vào đời sống, thậm chí đời sống riêng tư của người dân. Kinh tế thị trường sôi động nhưng “bàn tay vô hình” của nó bị điều khiển bởi nhà nước. Tôn vinh đặc thù châu Á nhưng rất gần với phương Tây. Rất chú ý đến tính xã hội của sự phát triển nhưng lại xây dựng thành công một kiểu xã hội tư bản chủ nghĩa.

Ý chí cá nhân của Lý Quang Diệu được coi là nguyên nhân quan trọng làm nên sự thành công của Singapore. Và đó cũng lại là nguyên nhân khiến Singapore hiện ra không chỉ với toàn những điều tốt đẹp. Nhưng sự thịnh vượng đã làm mờ những điều không mấy nhân đạo trong sự phát triển của Singapore, che đậy và xóa đi các “vết đen” lịch sử.

I.

Tháng 3/2015, khi ông Lý Quang Diệu nằm xuống, cả thế giới nói về ông, người đã biến Singapore từ một làng chài nghèo đói vào giữa những năm 1960 thành một thương cảng sầm uất nhất thế giới sau 30 năm, một đảo quốc xứng đáng là “viên ngọc quý của sự thịnh vượng”. Bên cạnh những lời ngợi ca tưởng chừng đã vượt ra khỏi khả năng của ngôn từ, “người Cha sáng lập Singapore” vẫn phải nhận không ít những phê phán từ nhẹ nhàng tới gay gắt. Khắp nơi, đặc biệt ở các nước đang phát triển, tranh cãi về ông dường như lại tăng thêm. Mặc dù, với Singapore, “biểu tượng thần kỳ của sự phát triển”, hầu hết các các quốc gia ít nhiều đều muốn bắt chước.[1] Nhưng ngay cả sự bắt chước cũng đã chứa trong nó điều không mấy khả thi – nửa thế kỷ nay, Singapore gắn liền với tên tuổi của Lý Quang Diệu. Đó thực sự là hai trang của một tờ giấy. Và, không thể có trang này mà lại thiếu trang kia. Đây chính là một nghịch lý.

Đảo quốc này quá nhỏ, dân số chỉ 5 triệu người, không có tài nguyên, “một trái tim không có cơ thể” (a heart without a body), chính Lý Quang Diệu đã nói như vậy.[2] Trái tim này phải cố gắng biến thế giới thành cơ thể của nó. Và điều “không tưởng” đó Singapore đã làm được. Đây là nghịch lý thứ hai.

Lý Quang Diệu được nhiều học giả coi là đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Thời trẻ ông đã từng bắt tay với phong trào cộng sản và trong cuộc đời mình, không ít lần ông đã kịch liệt phê phán chủ nghĩa tư bản. Nhưng rốt cuộc, ông lại là người hết lòng xây dựng chủ nghĩa tư bản. Singapore của ông là tấm gương rực rỡ cho sự thành công của một “thiên đường tư bản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa tư bản sạch” (Clean Capitalism, Capitalist Paradise),[3] một chủ nghĩa tư bản chẳng liên quan gì đến khái niệm của Max Weber. Đây là nghịch lý thứ ba.

Lý Quang Diệu tin tưởng tuyệt đối vào kinh tế thị trường. Ông từng giảng giải “đừng bao giờ tin rằng có thể đi ngược lại sức mạnh của thị trường” (“Never believe you can go against market forces. If you try, then nothing will happen”)[4] nhưng Singapore của ông lại là điển hình cho sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế thị trường, cả ở tầm vĩ mô đến những hiện tượng vi mô. Rất có thể quan hệ nhà nước với thị trường ở Singapore những thập niên qua đã vượt quá cả lý thuyết về kinh tế tự do của Friedrich Hayek hay của Keynes. Đây là nghịch lý thứ tư.

Lý Quang Diệu là người có cảm tình với dân chủ. Thời trẻ, dân chủ là tiếng gọi lý tưởng của ông. Ông hiểu rõ giá trị dân chủ. Nhưng Singapore của ông là một thứ “chủ nghĩa tư bản chuyên chế” (Authoritarian Capitalism – trong bài chúng tôi sẽ dẫn ra những bằng chứng thật khó phản bác). Còn ông, dù được ngưỡng mộ đến mấy người ta vẫn phải xếp ông vào hàng những lãnh tụ “có bàn tay sắt”, quản lý theo phương thức toàn trị, độc tài, dù đó chỉ là một kiểu “chuyên chế mềm” (Soft Authoritarianism).[5] Lý lẽ đáng kể nhất của ông là, dân chủ, tự nó đã bất hợp lý ngay từ giả định đầu tiên rằng, tất cả mọi người đều bình đẳng và có đóng góp ngang nhau vào cái tốt đẹp chung (“The weakness of democracy is that the assumption that all men are equal and capable of equal contribution to the common good is flawed”).[6] Đây là nghịch lý thứ năm.

Lý Quang Diệu nhiệt thành tin tưởng vào giá trị về trách nhiệm xã hội, một giá trị cốt lõi của Khổng giáo. Singapore hiện đại được ông xây dựng theo mô hình của những giá trị châu Á. Trong mắt ông, giá trị phương Tây khác biệt đáng kể nên khó phù hợp. Nhưng Singapore ngày nay, hơn bất cứ một quốc gia châu Á nào khác, kể cả Nhật Bản, lại rất giống phương Tây. Đây là nghịch lý thứ sáu.

Về phương diện cá nhân, Lý Quang Diệu được tiếng là người giản dị đến xuề xòa, thực tế đến thực dụng, cởi mở đến phóng khoáng, thông minh đến thông thái, kiên quyết đến không hề biết nhân nhượng. Nhưng ông lại cũng là người “không thể làm bất cứ việc gì cẩu thả, từ việc mang một đôi giày bóng lộn đến ra một quyết định quan trọng”; không trói mình vào bất cứ vào lý luận nào hay lời khuyên nào, kể cả Macchiaveli và Khổng giáo, hai học thuyết mà ông rất tâm đắc. Ông lảng tránh tranh cãi đúng sai về các chủ thuyết, mà chỉ muốn tìm giải pháp thực tế cho những bài toán phát triển.[7] Đánh giá về ông, tờ tạp chí nổi tiếng “Life” ngay từ 1965 đã nhận xét, mà đến nay vẫn rất nhiều người dẫn lại rằng “Lý là người xuất sắc nhất, dù có đôi chút hung bạo” (“Lee is the most brilliant man around, albeit just a bit of a thug”).[8] Đó cũng là một nghịch lý của Singapore.

Vấn đề là ở chỗ, Singapore với 31 năm Lý Quang Diệu giữ cương vị Thủ tướng đã phát triển ngoạn mục trong những nghịch lý không dễ lý giải. Phẩm cách cá nhân của Lý Quang Diệu chắc chắn là nguyên nhân vô cùng quan trọng, nếu không muốn nói là nguyên nhân quyết định. Cùng một mô hình với Hàn Quốc và Đài Loan, nghịch lý lớn nhất của những nước này là đều tăng trưởng rồi “cất cánh” trong điều kiện ít nhiều độc đoán, độc tài. Một vài thế hệ đã trở thành vật hy sinh cho sự phát triển. Hàn Quốc “cất cánh” trong lao động khổ sai đầy nước mắt và có cả máu. Đài Loan “cất cánh” khi lãnh tụ giật mình về công tội của mình. Singapore được tiếng là sự trả giá để “cất cánh” dễ “chấp nhận” nhất. Sự thịnh vượng thực tế đã che mờ các “vết đen” lịch sử. Nhưng thực ra những hành vi độc đoán, toàn trị và thiếu cởi mở như những chứng cứ như chúng tôi sẽ trình bày trong những phần dưới đây, cũng thật khó “để rơi vào quên lãng” nhất là đối với những người trong cuộc.

II.

Vào những năm 1960, GDP thực tế của Singapore dưới 500 USD/người. Lúc đó Singapore rất nghèo, đang loay hoay tìm đường phát triển sau khi độc lập và sau cú sốc tách khỏi Malaysia. Sau hai thập niên, năm 1985 GDP của Singapore là 10.811 USD/người, nghĩa là đã vượt qua ngưỡng bị coi là nước nghèo (960 USD/người theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc, hoặc 875 USD/người theo tiêu chuẩn của WB). Không rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình và dừng lại ở đó, Singapore tiếp tục phát triển và trở thành một nước công nghiệp hóa mới, một trong 4 con hổ châu Á – điều kỳ diệu của thế kỷ 20. Đến năm 2003, GDP (tính theo PPP) Singapore là 29.663 USD đầu người năm; Chỉ số phát triển con người (HDI) 2005 là 0,925, xếp hạng 25/177 nước. Năm 2007, GDP (tính theo PPP) Singapore là 35.163 USD đầu người năm; Chỉ số phát triển con người 2009 là 0,944, xếp hạng 23/182 nước. Năm 2011, GNP (tính theo PPP) Singapore là 52.569 USD đầu người năm; Chỉ số phát triển con người là 0,866 xếp hạng 26/183 nước. Năm 2013, GNP (tính theo PPP) Singapore là 52.613 USD đầu người năm; Chỉ số phát triển con người là 0,895 xếp hạng 18/186 nước. Năm 2014, GNP (tính theo PPP) Singapore là 72.371 USD đầu người năm; Chỉ số phát triển con người là 0,901 xếp hạng 9/186 nước.[9]

Biểu đồ về Singapore thời Lý Quang Diệu của tạp chí “The Economist” 22/3/2015

Hệ thống cai trị ở Singapore được xem là minh bạch về chính trị và ít tham nhũng nhất trên thế giới. Trong xếp hạng hàng năm của Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International), Singapore vẫn thường nằm trong tốp các nước ít tham nhũng nhất. Vào năm 2005, Singapore với chỉ số CPI (Corruption Perceptions Index) là 9,4 xếp thứ 5 trong nhóm nước trong sạch nhất, chỉ sau Iceland, Phần Lan, New Zealand và Đan Mạch. Năm 2012, với chỉ số CPI 87, Singapore là quốc gia minh bạch xếp hạng thứ 5 của thế giới. Năm 2014, điểm sáng duy nhất của khu vực Đông Á vẫn là Singapore với chỉ số CPI là 84 (dù có thấp hơn mức CPI của chính Singapore năm 2011 và 2012), nhưng chỉ đứng sau 6 nước là Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, New Zealand và Đan Mạch; Singapore vẫn là quốc gia minh bạch hàng đầu thế giới.[10]

Để có vị trí này, Singapore đã trải qua một quá trình đấu tranh nghiêm khắc ngay từ khi Lý Quang Diệu mới lên nắm quyền. Ông Lý hiểu sâu sắc hơn bất cứ ai về sự nguy hiểm của tham nhũng, không chống được tham nhũng thì mọi mục tiêu phát triển trở thành vô nghĩa. Bàn tay sắt của ông đã được hỗ trợ bằng một cơ chế hiệu quả. Khi ông qua đời, mạng corruption.net đã đánh giá, trong số các nhà lãnh đạo thành công và không thành công, không ai có liều thuốc chống tham nhũng tốt hơn Lý Quang Diệu.[11]

Trong ba yếu tố tạo nên tham nhũng, vào những năm 1960, Singapore chưa thể làm gì với thực trạng lương bổng vì lúc đó đất nước vẫn còn nghèo. Vì vậy, chính phủ chọn tấn công vào hai yếu tố tạo tham nhũng còn lại: giảm thiểu cơ hội tham nhũng và tăng cường hình phạt. Luật chống tham nhũng mới ra đời với 32 phần, thay bộ luật cũ năm 1937 với 12 phần. Có một số sửa đổi quan trọng như án tù tăng lên, người nhận hối lộ phải trả lại hết tiền đã nhận. Văn phòng điều tra tham nhũng (CPIB) được tăng quyền hạn, với khả năng điều tra “mọi tài khoản ngân hàng” của những ai bị nghi có hành vi phi pháp. Một người có thể bị khép tội tham nhũng ngay cả khi người đó chưa nhận tiền hối lộ, nếu ý định phạm pháp đã đủ để khép tội. Công dân Singapore phạm tội nhận hối lộ ở nước ngoài cũng bị xử như phạm pháp trong nước. Cả khi bị cáo qua đời, tòa án cũng có quyền trưng thu tài sản tham nhũng.

Mãi tới thập niên 1980, khi kinh tế đã phát triển, Singapore mới đủ khả năng làm nốt phần còn lại trong chiến lược chống tham nhũng là tăng lương cho công chức. Tháng 3/1985, Thủ tướng Lý Quang Diệu tuyên bố các lãnh đạo chính trị cần được trả lương thật cao để “dưỡng liêm” bảo đảm cho chính quyền trong sạch. Ông nói cách hay nhất chống tham nhũng là “đi cùng thị trường”, thay cho thói đạo đức giả đã tạo nên tham nhũng.[12]

Theo GS. Jon S.T. Quah, khoa chính trị học Đại học Quốc gia Singapore, kinh nghiệm của Singapore không dễ lặp lại ở các nước khác vì hoàn cảnh đặc thù và vì những chi phí chính trị và kinh tế của việc trả lương cao. Tuy nhiên, có 6 bài học có thể tham khảo được. Đó là:

Bộ máy lãnh đạo phải thực tâm chống tham nhũng và trừng phạt bất cứ ai có hành vi tai tiếng.

Các biện pháp chống tham nhũng phải đầy đủ, không có lỗ hổng và thường xuyên được xem xét lại để thay đổi, nếu cần thiết.

Cơ quan chống tham nhũng phải trong sạch. Không nhất thiết phải có quá nhiều nhân viên, và bất kỳ thanh tra nào tham nhũng cũng phải bị trừng phạt và đuổi ra khỏi ngành.

Cơ quan chống tham nhũng phải tách khỏi bộ máy cảnh sát.

Để giảm cơ hội tham nhũng tại các ngành dễ sa ngã như hải quan, thuế vụ, công an giao thông, các cơ quan này phải thường xuyên kiểm tra và thay đổi qui định làm việc.

Động cơ tham nhũng trong khối nhân viên nhà nước và quan chức có thể giảm bớt nếu lương và phụ cấp cho họ có tính cạnh tranh với khu vực tư nhân.

Đảng Nhân dân Hành động (PAP – People’s Action Party; 人民 行动 党) cầm quyền không phải là đảng duy nhất tồn tại ở Singapore, nhưng là đảng duy nhất lãnh đạo và có vị trí được coi là không thể thay thế đối với sự phát triển của đảo quốc này, ít nhất là cho đến nay. Đảng PAP đã có nhiều biện pháp tự do hóa nền kinh tế và thu hút vốn nước ngoài, thực hiện nhanh chóng công cuộc cải biến kinh tế, xã hội và nâng cao chất lượng sống, nhưng cũng bị coi là toàn trị và không kém độc đoán.

Vai trò điều tiết vĩ mô của chính phủ thể hiện rộng khắp trong mọi mặt của đời sống kinh tế, tạo nên một ví dụ kinh điển về mối quan hệ tiềm ẩn khả năng tích cực giữa nhà nước và thị trường, giữa bàn tay cứng rắn của pháp luật với đời sống tự do của dân chúng, giữa trách nhiệm cá nhân và kỷ cương xã hội, giữa tính minh bạch và phát triển kinh tế: chính phủ lập kế hoạch dự thảo ngân sách cho mọi hoạt động từ tài chính quốc tế cho đến thu gom rác; chính phủ sở hữu, kiểm soát, điều tiết hoặc phân bố đất đai lao động và nguồn vốn; chính phủ ấn định hoặc tác động đối với nhiều loại giá cả làm cơ sở cho các nhà đầu tư tư nhân tính toán kinh doanh và quyết định đầu tư.

Sự can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế đã ảnh hưởng tích cực không chỉ đối với lợi ích của doanh nghiệp tư nhân, mà còn đối với phúc lợi chung của nhân dân. Ngoài việc tạo ra việc làm trong các khu vực tư nhân và nhà nước, chính phủ còn cung cấp nhà ở hỗ trợ, giáo dục và y tế và các dịch vụ giải trí cũng như vận tải công cộng. Chính phủ quyết định mức tăng lương hàng năm và dự định mức phụ cấp ngoài lương tối thiểu trong các khu vực nhà nước và tư nhân. Chính phủ còn quản lý quỹ tiết kiệm hưu trí thông qua Central Provident Fund và Post Office Bank, tạo điều kiện cho cá nhân có các cổ phần tại các doanh nghiệp.

Như đã nói ở trên, những sự thay đổi của Singapore gắn liền với tên tuổi Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore giai đoạn 1959-1990, người đã dùng quyền lực của mình tác động vào mọi khía cạnh, mọi hoạt động, thậm chí mọi ngóc ngách trong cuộc sống của người dân nước này. Điều này đối với một số người dân Singapore là bình thường, một số khác thấy tự do của mình bị vi phạm. Và khi Singapore “hóa rồng”, tất cả những can thiệp phi lý, tàn nhẫn, vượt quá thẩm quyền của Lý Quang Diệu và chính thể Singapore lại trở thành công lao.

Nhứng năm 1960 và 1970, để hạn chế gia tăng dân số, ở Singapore, phụ nữ sinh con thứ ba trở đi sẽ phải hưởng thời gian nghỉ thai sản ngắn hơn, đồng thời phải chi trả mức viện phí cao hơn và quyền giảm trừ thuế của họ cũng bị ảnh hưởng. Đặc biệt, chính phủ Singapore thưởng 5.000 SGD cho bất cứ cặp vợ chồng nào chấp nhận triệt sản sau đứa con thứ hai. Họ cũng sẽ được ưu tiên đăng ký mua nhà ở giá thấp và con cái của họ được hưởng các ưu đãi khác ở nhà trường. Những người Kito giáo không chấp nhận nổi cách cư xử này. Nhưng mọi tiếng nói phản đối đều vô hiệu. Năm 1983, Lý Quang Diệu thay đổi quan niệm, ông tuyên bố phụ nữ trí thức nên có 3 đến 4 con và kêu gọi nam giới nên kết hôn với phụ nữ trí thức. Tuyên bố này gây tranh cãi lớn trong toàn xã hội. Ngay cả những phụ nữ là trí thức cũng cảm thấy bị xúc phạm và họ đã phản đối kịch liệt.

Về quản lý trật tự xã hội, những hành vi như xả rác, hút thuốc hay khạc nhổ nơi công cộng đều bị phạt tiền, thậm chí bị đánh roi, kể cả đối với người nước ngoài. Năm 1994, hình phạt đánh roi dành cho Michael Fay, một công dân Mỹ đã làm cả thổng thống Clinton và nhiều thượng nghị sỹ Mỹ phải lên tiếng.

Một đạo luật được Lý Quang Diệu ban hành đã bắt buộc người lao động phải tiết kiệm 1/4 số tiền lương mỗi tháng. Khoản tiền này sẽ chỉ được rút ra khi người lao động 55 tuổi. Chính phủ quản lý sẽ dùng số tiền này để phục vụ cộng đồng.

Ở Singapore, còn có nhiều điều luật, quy tắc, quy định… mà ở nước khác thì có thể bị kết tội vi phạm quyền con người, quyền công dân. Dân chúng hài hước đùa rằng, với các nước khác, điều gì không cấm thì có thể làm, riêng với Singapore, điều gì không cấm thì buộc phải làm; còn điều gì đã cấm thì chỉ phải nhịn đến khi đi du lịch nước ngoài.[13]

Đánh giá về Lý Quang Diệu, Tom Plate, nhà báo nổi tiếng của tờ Los Angeles Time cho rằng:

“Thế kỷ 20 đã có không biết bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu linh hồn bị hủy hoại chỉ vì một lãnh tụ có thái độ mù quáng tôn thờ một chân lý duy nhất. Lý Quang Diệu không muốn trở thành nhà lãnh đạo kiểu đó. Thực tế ông bị quyến rũ bởi vũ điệu của những ý tưởng thông minh chứ không phải những bước nhảy ngớ ngẩn, vụng về của quỷ dữ. Ông cũng hoàn toàn không phải là một kẻ lập dị như Pol Pot hay một tiểu Hitler nông nổi”… “Lý Quang Diệu giống như Muhamad Ali vĩ đại, di chuyển nhẹ như bướm và đốt đau như ong (bạn không nên ghi tên mình vào danh sách đen của ông, vì nếu thế bạn sẽ bị ông dồn vào góc tường, kiện bạn đến cùng và bạn sẽ xong đời)”… “Singapore hẳn nhiên không phải là thiên đường đối với kẻ buôn bán ma túy, cũng nhất định không phải là thiên đường trên mặt đất đối với những người phản đối chính phủ và đảng cầm quyền. Trong những nghề có đặc quyền riêng mà bạn thấy đáng tự hào ở phương Tây thì luật sư bào chữa các vụ án hình sự ở Singapore của Lý Quang Diệu ít có quyền lực hơn nhiều. Những người ủng hộ tu chính án thứ nhất hẳn sẽ không thấy có niềm vui của xứ Utopia khi phải đối mặt với đường giới hạn tinh vi nhưng rất nghiêm ngặt dành cho giới truyền thông ở đây”.[14]

Toàn bộ những dòng này, Lý Quang Diệu đã đọc và sửa trước khi xuất bản. Nghĩa là ông thừa nhận và chỉ cần như thế người đọc cũng có thể hiểu và suy diễn, kiểm chứng thêm nhiều điều. Chúng tôi đánh giá cao Tom Plate; qua những dòng này, Tom đã thể hiện mình là cây bút “có hạng”, khôn khéo không để cho ngòi bút của mình mất đi tính khách quan, nhưng cũng không vì thế mà làm hỏng điều căn bản nhất – ngồi lại với Lý Quang Diệu, truy vấn ông về tất cả những gì đã làm nên điều kỳ diệu Singapore. Khó mà phủ nhận được, với Lý Quang Diệu và Đảng Nhân dân hành động, Singapore không có chỗ cho những người đối lập. Nếu ai đó bị đưa vào danh sách đen, người đó sẽ bị “dồn vào góc tường, và sẽ xong đời”. Chính thể này không nhẹ tay với án hình sự và công nhiên hạn chế quyền bào chữa của luật sư. Có ranh giới rất tinh vi nhưng rất nghiêm ngặt dành cho giới truyền thông… Có lẽ, chỉ với chừng ấy nội dung, bất cứ nước nào ngày nay nếu chủ trương như vậy cũng sẽ bị xếp vào dạng có vấn đề về nhân quyền. Nhưng Singapore là đảo quốc nhỏ bé, thực ra là một thành phố, cũng là thành phố nhỏ nếu so với Bangkok, Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh, nên tất cả những gì cộm lên đều đã bị xóa mờ bởi một Singapore giàu có, trong lành và phát triển.

Trên thực tế, Lý Quang Diệu đã bị chỉ trích nhiều vì đã áp dụng những biện pháp cứng rắn đàn áp phe đối lập, cản trở tự do ngôn luận, cấm mít tinh, biểu tình (bằng chính giấy phép của cảnh sát), hạn chế các ấn phẩm không vừa ý chính quyền và sử dụng các luật lệ về tội phỉ báng để cố tình và bằng mọi cách đẩy những đối thủ chính trị vào tình trạng phá sản. Về những hành vi này, Devan Nair, Tổng thống Singapore từ năm 1981 (đến năm 1985 từ chức vì bất đồng quan điểm với Lý Quang Diệu, năm 1995 ông định cư tại Canada) nhận xét rằng, thủ đoạn của Lý Quang Diệu là khởi kiện đối thủ, gây áp lực với tòa án và các văn phòng luật sư, làm cho đối thủ không gỡ được để thoát ra khỏi các thủ tục và chi phí tố tụng, cho đến khi họ phá sản hay thân bại danh liệt. Làm như vậy Lý đã tìm cách thủ tiêu các quyền chính trị của đối thủ. Devan Nair cho rằng, càng về sau Lý Quang Diệu “ngày càng trở thành loại người tự cho mình biết đủ và biết đúng mọi sự”. Cũng giống như các nhà độc tài khác, ông Lý cũng như bị vây quanh bởi “những kẻ bù nhìn”. Devan Nair đưa ra những nhận xét này vào năm 1999. Thậm chí ông còn nói “Singapore hôm nay là nơi vô hồn, hệ tư tưởng của nó chỉ là vật chất mà thôi” (Singapore today is a soulless place whose only ideology is materialism). Nổi khùng trước những nhận xét này, Lý Quang Diệu lại đâm đơn kiện Devan Nair.[15]

Đã có trường hợp, sau khi toà kháng án bác bỏ phán quyết có lợi cho Lý Quang Diệu, chính phủ bèn hủy bỏ quyền kháng án. Suốt trong thời gian đảm nhiệm chức thủ tướng từ 1965 đến 1990, Lý Quang Diệu đã bỏ tù Tạ Thái Bảo (Chia Thye Poh), một cựu dân biểu quốc hội thuộc đảng đối lập Barisan Socialis, trong 22 năm mà không xét xử, chiếu theo Luật An ninh Nội chính, ông này chỉ được trả tự do vào năm 1989. Để có thể dành quyền hạn tuyệt đối cho các thẩm phán, Lý Quang Diệu đã huỷ bỏ luật “Xét xử có bồi thẩm đoàn”.[16]

Theo Thayil George, cố vấn biên tập của tờ The New Indian Express, tác giả chuyên về chính trị và tiểu sử chính khách; trong cuốn “Singapore của Lý Quang Diệu”, nhận xét rằng, để quản lý Singapore, Lý Quang Diệu đã không ngần ngại sử dụng các thủ đoạn đối với phe đối lập và cả đối với dân chúng. Trong việc tiêu diệt đối thủ của mình, chiến thuật của ông có thể so sánh được với việc dùng một quả bom nguyên tử để tấn công một con muỗi. Đầu năm 1963 trong một cuộc bầu cử, ông đã sử dụng Đạo luật An ninh nội bộ Anh để bỏ tù 100 thành viên chủ chốt của nhóm thân cộng Barisan Sosialis cánh tả, vốn tách ra từ đảng PAP. Những người còn lại sau bầu cử chỉ được chọn vào các vị trí hành chính không có quyền lực chính trị thực sự.[17]

Sau cuộc bầu cử năm 1997, ứng cử viên Công đảng Tang Liang Hong phải đối mặt với vụ kiện bởi 11 thành viên đảng PAP, bao gồm cả cựu Thủ tướng Goh và Bộ trưởng cao cấp Lý Quang Diệu. Ông Tang bị khép tội là đã phỉ báng Kitô giáo và Hồi giáo trong quá trình vận động tranh cử.[18]

Joshua Benjamin Jeyaretnam, nhà lãnh đạo của Công đảng từ năm 1971 đến năm 2001, cũng phải đối mặt với một loạt tội phỉ báng. Năm 1981, ông trở thành chính trị gia đối lập đầu tiên của Singapore trong Quốc hội, khi ông đánh bại ứng cử viên đảng PAP. Ông tái đắc cử năm 1984, nhưng bị mất ghế Quốc hội năm 1986 khi bị quy tội một cách bất công là chiếm quỹ của đảng (tội danh này sau đó được lật ngược bởi Hội đồng Cơ mật của Vương quốc Anh). Ông trở lại Quốc hội sau cuộc tổng tuyển cử năm 1997. Tuy nhiên, ông đã bị tước ghế nghị sỹ năm 2001 khi bị phá sản vì không thanh toán kịp cho các nhà lãnh đạo đảng PAP về vụ kiện.[19]

Chee Soon Juan, lãnh đạo Đảng Dân chủ Singapore (SDP), giải thưởng Dân chủ năm 2003 và Tự do năm 2011, đã bị bắt và bỏ tù nhiều lần vì các hoạt động tổ chức biểu tình và các phát biểu công khai về chính trị. Ông bị kiện vì tội phỉ báng đảng PAP và vì thế đã bị phá sản vào năm 2006 khi không bồi thường nổi cho Lý Quang Diệu và Goh Chok Tong, mặc dù vợ chồng ông đã phải bán ngôi nhà để trả chi phí vụ kiện. Theo Chee, Ở Singapore, chính phủ kiểm soát tất cả và đó là lý do gây sợ hãi trong dân chúng.[20]

Tháng 3/2000, Uri Gordon, giảng viên Đại học Loughborough, Anh, và là nghiên cứu viên Viện Khoa học Chính trị, Đại học Tel Aviv, Israel đã công bố một nghiên cứu so sánh giữa những phương thức, biện pháp và thủ đoạn của nền chính trị độc tài, được mô tả trong các tác phẩm của Niccolò Machiavelli và phương thức độc tài thực tế của Lý Quang Diệu đối với đất nước Singapore.

Mặc dù giữa nước Ý thế kỷ 16 và Singapore thế kỷ 20 là cách nhau quá xa, nhưng những điều được phân tích trong tác phẩm của Niccolò Machiavelli và phương thức lãnh đạo đất nước của Lý Quang Diệu lại có những điểm tương đồng đến kỳ lạ. Được biết Lý Quang Diệu cũng rất mê Machiaveli và đây chính là lý do để Uri Gordon so sánh Lý Quang Diệu với những “nguyên tắc Machiaveli”.

Cần phải nói đôi điều về Machiaveli trước khi bàn đến sự so sánh của Uri Gordon. Niccolò di Bernardo dei Machiavelli (1469-1527), ông tổ của khoa học chính trị hiện đại, nhà ngoại giao, nhà triết học, “một nhân vật khổng lồ của thời đại Phục hưng” (theo lời Friedrich Engels). Ông được biết đến với các luận thuyết vô cùng sắc sảo nêu rõ bộ mặt của chủ nghĩa hiện thực chính trị (trong tác phẩm The Prince) và bản chất của nền cộng hòa (trong tác phẩm Discourses on Livy). Hai cuốn sách này cùng với cuốn History of Florence trở thành mô hình kinh điển chỉ dẫn cho nhiều nhà cầm quyền và cho các phân tích chính trị từ thế kỷ 16 đến nay. Theo Machiaveli, “Bậc quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú, biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẫy, còn cáo thì lại không thể chống lại sói. Vì thế, cần phải là cáo để nhận ra những cạm bẫy, và là sư tử để dọa sói”.[21] Chính Lý Quang Diệu cũng có vẻ rất tâm đắc với tư tưởng này, khi ông bình luận về Machiaveli rằng: “Giữa được yêu thương và được sợ hãi, tôi luôn tin rằng Machiavelli đúng. Nếu không ai sợ tôi, thì tôi chẳng có ý nghĩa gì” (“Between being loved and being feared, I have always believed Machiavelli was right. If nobody is afraid of me, I’m meaningless”).[22]

Nguyên tắc Machiaveli là nguyên tắc của nền chuyên chính tư sản. Tất cả đều do ý chí, tâm hồn, hành động của con người quyết định. Nhà chính trị mẫu mực là người có đầu óc phê bình mạnh bạo, có tư tưởng duy lý phi tôn giáo, có lòng căm ghét bọn quý tộc ăn bám, và có khát vọng muốn xây dựng đất nước (thời đó và đất nước mà Machiveli nói đến là Italia) thành một quốc gia thống nhất, tự do, bình đẳng với một chính quyền mạnh, sử dụng bạo lực để xây dựng trật tự mới. Theo Machiaveli, con người muốn xứng đáng là một con người phải tiến thẳng vững vàng tới mục đích. Mục đích sẽ chứng minh tính đúng đắn của biện pháp. Machiavelli cũng đưa ra vô số lời khuyên về những thủ đoạn mà các quân vương nên áp dụng. Theo Machiavelli, đấng quân vương nào muốn thành công thì phải học được cách gác lòng tốt sang một bên, việc có vận dụng nó hay không tùy thuộc vào thời thế. Một quân vương, theo ông, cần biết tùy thời mà tốt hay không tốt, nhưng phải làm ra vẻ mình có đầy đủ mọi đức tính. Điều quan trọng nhất đối với quân vương là cần tránh bị khinh miệt và thù ghét. Machiavelli cũng thấy rất rõ tầm quan trọng của “lòng dân”. “Không có chính sách nào toàn vẹn, cần phải biết chọn lấy cái bất lợi nhỏ nhất” – tư tưởng này cũng được coi là một nguyên tắc Machiaveli.[23]

Theo Uri Gordon, các quan điểm và hành động chính trị của Lý Quang Diệu chính là sự giải thích một cách mạnh mẽ cho tính hiệu quả của các “nguyên tắc Machiavelli”. Ông Lý đã chủ động vận dụng các nguyên tắc Machiaveli, kể cả trong việc đưa ra luận thuyết “giá trị châu Á”.

Trên thực tế, đảng cầm quyền luôn thực thi các hành động chính trị nhằm tìm mọi cách duy trì chế độ độc đoán, dập tắt các bất mãn và nghiền nát các lực lượng đối lập. Singapore là một đất nước mà quyền con người được xem là không cần thiết trong cuộc đua phát triển kinh tế. Dựa vào lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản hiện đại Singapore, chính phủ cung cấp cho các công dân của mình các loại phúc lợi với chi phí lấy từ lao động của họ. “Phe đối lập được chờ sẵn các án tù chính trị. Chính phủ kiểm soát toàn bộ quá trình bầu cử và tiến hành các vụ kiện đối với bất kỳ lời phát biểu nào chống lại chính quyền. Mọi sự phê phán chính quyền đều biến thành hành động tự sát chính trị. Ban cho dân một cuộc sống mà chính phủ có thể tự do kiểm soát, Lý và các phụ tá của ông có thể được xem như là đệ tử thuần thành của nhà nước kiểu Florentine”.[24]

Khi Singapore được cả thế giới nhìn nhận là một đảo quốc thịnh vượng, an toàn và trong sạch, với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới, người ta thường chỉ rút ra kết luận rằng, nếu không có một nhà lãnh đạo như ông Lý, Singapore sẽ phải mất nhiều thời gian hơn để đạt được những thành tựu mà thế giới đang chứng kiến và muốn bắt chước. Theo chúng tôi, nếu Uri Gordon không thiên kiến, thì đúng là Lý Quang Diệu đã một lần nữa chứng minh cho quan điểm chuyên chính cực đoan tư bản chủ nghĩa – Mục đích có thể biện minh cho biện pháp, dù biện pháp ấy chẳng hề chính đáng chút nào.

Kết luận

Kể từ nền dân chủ Athens, loài người đã 2500 năm đi theo con đường dân chủ tự do với lịch sử đầy máu và nước mắt. Càng ngày, các dân tộc càng nhận thấy “nhân quyền, tự do, dân chủ là xu hướng không thể đảo ngược và là đòi hỏi khách quan của xã hội loài người”. Ở Việt Nam, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh mẽ khẳng định điều này.[25] Dân chủ, bản thân nó có thể tạo ra nguồn lực cho sự phát triển. Dân chủ trong phát triển là phương thức hữu hiệu nhất để tránh phải trả giá. Dân chủ có khả năng đem lại hạnh phúc hợp lý cho các xã hội, cho từng con người, từ lãnh tụ tới người dân. Ngày nay không lý lẽ nào có thể biện minh nổi cho sự phát triển mà phải sự hy sinh con người, dù đó là một cá nhân, một cộng đồng hay một thế hệ. Hàn Quốc, Đài Loan ngày nay là các xã hội có trình độ dân chủ cao của châu Á. Nghịch lý Singapore có thể không dễ lý giải, nhưng cũng không phải là bằng chứng cho sự đi ngược lại xu thế tự do dân chủ.

Tác giả: Hồ Sĩ Quý *

* GS.TS., Nguyên trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Hà lâm Khoa học xã hội Việt Nam. hosiquy.thongtin@gmail.com. Bài đã xuất bản lần đầu trong “Khoa học xã hội Việt Nam” số 7 (92) 2015. tr. 47-56.

Chú thích
[1] Xem: John Burton, Peter Montagnon, Kevin Brown and Jeremy Grant (2015). Lee Kuan Yew, Singapore’s founding father, 1923-2015 http://www.ft.com/.../24145cfe-b89d-11e2-869f...
// Carlton Tan (2015). Lee Kuan Yew leaves a legacy of authoritarian pragmatism. http://www.theguardian.com/.../lee-kuan-yews-legacy-of...
// David Reed (1979) Singapore: Jewel of Prosperity, “Reader’s Digest”, November 1979. // Tom Plate (2011). Đối thoại với Lý Quang Diệu. Nxb. Trẻ.
[2] Xem: Michel Schuman (2009). The Miracle: The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. Harper Collins Pubishers. p. 57.
[3] Xem: James Heartfield (2015). The Communist who made Singapore a Capitalist Success. Lee Kuan Yew transformed a small trading post – but at a cost. http://www.spiked-online.com/.../the-communist.../16806...
// Nathan Lewis (2011). Moving Toward 21st Century Capitalism. http://www.forbes.com/.../capitalism-hong-kong-gdp...
[4] Xem: Michel Schuman (2009). The Miracle: The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. Harper Collins Pubishers. p. 57.
[5] Carlton Tan (2015). Lee Kuan Yew leaves a legacy of authoritarian pragmatism. http://www.theguardian.com/.../lee-kuan-yews-legacy-of...
// Can authoritarian capitalism outlive Lee Kuan Yew? http://demdigest.net/.../can-authoritarian-capitalism...
[6] Xem: Han Fook Kwang, Warren Fernandez, and Sumiko Tan (1998). Lee Kuan Yew: The Man and His Ideas. Singapore: “Time Editions”. p. 383.
[7] Xem: Michel Schuman (2009).Sđd. p. 58.
[8] Lee Kuan Yew, Prime Minister of Singapore: brilliant, but a Bit of a Thug.“Life” No 16, July, 1965. p. 43. http://www.oldlifemagazines.com/july-16-1965-life...
[9] Các số liệu này chọn từ: UNDP. Human Development Report. 2003, 2005, 2007, 2011, 2013, 2014. Lưu ý: Số liệu GDP từng năm tại các Báo cáo HDR có thể khác nhau do UNDP thay đổi cách tính vào năm 2010. So với các tài liệu của WB, CIA hoặc IMF, số liệu về GDP và GNP cũng khác do cách tính quy đổi ra USD PPP (Purchasing Power Parity).
[10] Xem: Corruption Perceptions Index 2014. http://www.transparency.org/cpi2014/in_detail
[11] Xem: Lee Kuan Yew’s Fight Against Corruption. http://www.corruption.net/.../poli.../singapore-lee-kuan-yew
’s-fight-against-corruption/154
[12] Xem: Jon S.T. Quah. Corruption in Asia with special Reference to Singapore: Patterns and Consequences. http://www.jonstquah.com/.../Corruption%20in%20Singapore...
// Joshua Berlinger (2012). Why China Should Study Singapore’s Anti-Corruption Strategy. http://www.businessinsider.com/why-china-should-study...
[14] Xem: Tom Plate (2011). Đối thoại với Lý Quang Diệu. Nxb. Trẻ. Tp Hồ Chí Minh. tr. 254, 260.
[15] Xem: Former president criticises suppression of dissent. http://www.singapore-window.org/sw99/90329gm.htm
. // Uri Gordon (1977). Machiavelli’s Tiger: Lee Kuan Yew and Singapore’s Authoritarian Regime. http://unpan1.un.org/.../documents/apcity/unpan002548.pdf
. // Sim, Soek-Fang (2001). Asian value, Authoritarism and Capitalism in Singapore. The Public Vol.8, 2, c. 45 – 66. http://javnost-thepublic.org/article/pdf/2001/2/3/
[16] Xem: Uri Gordon (1977). Machiavelli’s Tiger: Lee Kuan Yew and Singapore’s Authoritarian Regime. http://unpan1.un.org/.../documents/apcity/unpan002548.pdf
. // Devan Nair acted strangely Lee Kuan Yew. http://news.google.com/newspapers?nid=1309&dat=19880630&id=ElpPAAAAIBAJ&sjid=JpADAAAAIBAJ&pg=5119,3332621
[17] Xem: George, T. (1973), Lee Kuan Yew’s Singapore. London: Andre Deutsch. C. 68-9.
[18] Xem: Singapore. How to earn a living, Singapore style. http://singaporedissident.blogspot.com/.../singapore-how...
.
[19] Xem: J. B. Jeyaretnam – Lawyers’ Rights Watch Canada. www.lrwc.org/j-b-jeyaretnam
[20] Xem: Nadel, A. (1997), ‘Singapore’s Voice of Reason’. South China Morning Post (March, 1.). http://www.singapore-window.org/chee.htm
// Bell, Daniel A. (2000) East meets West: human rights and democracy in East Asia. http://cs5538.userapi.com/.../Daniel_A_Bell_East_Meets...
// Asia Profile: Singapore democracy activist Chee Soon Juan. http://www.radioaustralia.net.au/.../asia-profile...
[21] Niccolo Machiavelli (2005). Quân Vương. Nxb. Lao động. tr. 9.
[22] “Between being loved and being feared, I have always believed Machiavelli was right. If nobody is afraid of me, I’m meaningless”. Lee Kuan Yew, 6.10.1997. Xem: Uri Gordon (2000). Machiavelli’s Tiger: Lee Kuan Yew and Singapore’s Authoritarian Regime. http://unpan1.un.org/.../documents/apcity/unpan002548.pdf
.
[23] Niccolo Machiavelli (2005). Quân Vương. Sđd. tr. 85, 94-95, 134, 175, 179-180.