Showing posts with label quan hệ VN-TQ. Show all posts
Showing posts with label quan hệ VN-TQ. Show all posts

Thursday, June 5, 2025

NHỮNG VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM ĐÃ BỊ TQ KHỐNG CHẾ

 Sự thù địch của TQ với VN, khi che đậy khi công khai, kéo dài trong lịch sử với đỉnh cao (gần đây) từ cuộc chiến xâm lược khởi sự ngày 17.02.1979 cho đến những hành động tiến hành trên Biển Đông luôn là mối đe dọa lớn nhất, nguy hại nhất đến nền hòa bình của VN.

Tất cả những gì nhà cầm quyền Bắc Kinh làm, dù là sự giúp đỡ trên danh nghĩa đồng chí/anh em hoặc trở mặt/cưỡng chiếm bằng súng đạn, dàn khoan, chất độc... đều là "sự phát triển lô-gich của chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn", là "đại cục" phải thực hiện bằng được của họ.

Những gì họ đã nói và làm chỉ cho thấy sự tráo trở, TQ chỉ mang danh "cách mạng, XHCN" bằng lý lẽ "rất cách mạng" để thực hiện những gì "phản cách mạng", cực kỳ phản động, đổi thù thành bạn và ngược lại chỉ vì lợi ích hẹp hòi từ suy tính có hệ thống của giới cầm quyền.

Chiến lược của Bắc Kinh có nhiều thay đổi từ khi có những thỏa thuận với Mỹ trong thời kỳ chiến tranh VN. "Nhưng có một điều không thay đổi: đó là mục tiêu chiến lược muốn nhanh chóng đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc bậc nhất thế giới và thực hiện mưu đồ bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ đối với các nước khác."

I.TRÊN BIỂN:

[1] ĐẢO GẠC MA:

Bắc Kinh xây dựng nhiều cơ sở quân sự, đường băng trên đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam sẽ đẩy sự ổn định của các nước Đông Nam Á rơi vào tình thế nguy hiểm, đặc biệt cho Việt Nam. Những căn cứ dự trù xây dựng bao gồm cả bến tàu để có thể tiếp tế và hổ trợ cho tàu hải quân khu trục. Ngoài ra, chúng ta còn thấy đường băng với chiều dài 1,6 km làm căn cứ cho phi cơ chiến đấu J-11 của TC.

Rõ ràng, Bắc Kinh muốn thay đổi thế cân bằng quyền lực địa chính trị tại Đông Nam Á qua kế hoạch xây dựng các cơ sở quân sự bất hợp pháp nầy. Bắc Kinh muốn củng cố quyền lực trên Biển Đông và biến nơi nầy thành ao nhà và khẳng định chủ quyền trong đường “LƯỠI BÒ” do họ tự vẽ ra. Bắc Kinh đang thách thức vị trí nầy với thế giới.

Theo ông Richard Heydarian – Đại học Ateneo, Philippines – cho rằng, TC muốn tạo sự đã rồi bằng cách khai hoang, cải tạo và chiếm các vùng biển tranh chấp. Bắc Kinh tận dụng biện pháp nầy để chứng minh khi phải đối mặt với phán quyết quốc tế về tranh chấp lãnh thổ và hàng hải với VN và các nước láng giềng trong khu vực. Nếu TC có thể xây dựng các cơ sở tại đây, biến nó thành các hòn đảo nhân tạo và nằm trong vùng kinh tế 200 hải lý thì Bắc Kinh có thể dựa vào đó để biện hộ khi phải đối mặt với phán quyết quốc tế.

Tờ South China Morning Post số ra ngày 8/6 dẫn lời của Li Jie – Viện Nghiên cứu Hải quân TC – cho rằng, Bắc Kinh đang tìm cách biến các căn cứ tại bãi đá ngầm Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa thành một đảo nhân tạo toàn diện, bao gồm đường băng và cảng biển với ý đồ triển khai hiệu quả hơn sức mạnh quân sự ở Biển Đông. Đảo nhân tạo này có diện tích gắp đôi căn cứ quân sự Mỹ ở Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương.

[2] HOÀNG SA:

Tờ Tân Hoa Xã (TC) đưa tin ngày 7/10/2014, Bắc Kinh đã hoàn tất việc xây dựng sân bay băng qua đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN. Chính quyền Bắc Kinh đang đẩy mạnh việc khẳng định “chủ quyền” bất hợp pháp của mình trên Biển Đông, khẳng định quyền kiểm soát mới nhất của Bắc Kinh đối với một vùng lãnh hải rộng lớn ở Biển Đông, sau hai năm tuyên bố thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm của VN, còn TC gọi là đảo Vĩnh Hưng bất chấp sự phản ứng của VN và cộng đồng quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa có ảnh hưởng rất to lớn đến tuyến đường vận chuyển quan trọng chạy xuyên Biển Đông, những mỏ dầu, khí đốt lớn của khu vực. Tân Hoa Xã cho biết sân bay dài 2 km sẽ phục vụ cho mục đích quân sự. Sân bay trên đảo Phú Lâm được hoàn chỉnh không ngừng, chiến đấu cơ TC có thể hạ cánh ở khu vực Hoàng Sa để tăng cường khả năng phòng thủ ở Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) của Việt Nam. Bắc Kinh còn đơn phương và đặt trái phép giàn khoan ở khu vực tranh chấp thuộc quần đảo Hoàng Sa vào tháng 5 làm gia tăng căng thẳng giữa Việt – Trung. Tân Hoa Xã, cái gọi là thành phố Tam Sa còn có một đồn quân sự để góp phần “bảo vệ chủ quyền quốc gia” và đẩy mạnh việc đầu tư hạ tầng cơ sở để mở rộng cơ sở du lịch. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định bằng mồm chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhưng VN chỉ phản đối bằng mồm đối với Bắc Kinh vô hiệu.

Nếu chiến tranh Việt – Trung nổ ra, chắc chắn Bắc Kinh sẽ dùng quần đảo Hoàng Sa làm bàn đạp tấn công Việt Nam ở vị trí hẹp nhất của đất nước là Hà Tĩnh – Quảng Trị – Đà Nẵng để chia cắt Việt Nam ra làm đôi.

Đa số cho rằng, TC công khai lấn chiếm Biển Đông do tham vọng tài nguyên dầu khí mà Bắc Kinh so sánh Biển Đông là một vịnh Ba Tư, Ả Rập Trung Đông! Các bản nghiên cứu phúc trình của Đại học Harvard 1994 cho biết, dầu khí và hơi đốt thềm lục địa Việt Nam tập trung ở vùng biển đảo Côn Sơn, nhiều nhất từ Nam Côn Sơn đến biển Rạc Giá với khối lượng vĩ đại. Nếu Việt Nam không phản kháng quyết liệt như Philippines, thì chắc chắn một ngày không xa, Bắc Kinh sẽ nhắm tới vùng biển đảo nầy của Việt Nam. Bản nghiên cứu của Harvard còn cho biết: “Tại VN có những vỉa than anthracid lớn nhất thế giới, nằm ngay sát bờ biển.” (chương X, trang 25).

Trong một động thái sẽ làm Bắc Kinh phẫn nộ khi VN đưa ra ngày 1/12/2014 cho biết là đã chính thức lên tiếng về vụ kiện TC về Biển Đông do Philippines khởi xướng trước Tòa Án Trọng Tài LHQ về Luật Biển (UNCLOS), phản bác tất cả luận điểm phi lý và phi pháp của Bắc Kinh về vụ kiện nầy và phản bác toàn bộ “Đường 9 đoạn”, cơ sở yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông, cho đấy là một điều không có cơ sở pháp lý. Nhưng, GS Thayer đánh giá: “Việt Nam đã lách vụ kiện TC bằng “cửa sau”.

MỸ BÁC YÊU SÁCH “ĐƯỜNG 9 ĐOẠN” CỦA TQ:

Bộ Ngoại Giao của Mỹ công bố báo cáo khẳng định yêu sách “Đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh đơn phương đưa ra tại Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế về biển, theo tài liệu chính thức từ trang web BNG Mỹ. Báo cáo dài 26 trang được công bố ngày 5/12/2014 do Cục Đại Dương và các vấn đề môi trường và khoa học quốc tế thuộc BNG Mỹ tiến hành đã ra chỉ ra sự phi lý trong yêu sách “Đường 9 đoạn” của Bắc Kinh. Báo cáo này được đưa ra ngay trước thời hạn 15/12/2014 mà Tòa trọng tài Quốc Tế yêu cầu Bắc Kinh đau ra tài liệu pháp lý về vụ kiện của Philippines đối với những tuyên bố chủ quyền phi lý và phi pháp của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Báo cáo của BNG Mỹ cho thấy “Đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh đưa ra nằm gần với đường bờ biển của các quốc gia tiếp giáp Biển Đông, trong đó đoạn số 1, chỉ cách bờ biển Việt Nam 50 hải lý và cách đảo Lý Sơn của VN chỉ có 36 hải lý. Các đoạn 3,4,5 lần lượt cách Indonesia, Malaysia, Philippines 75,24 và 35 hải lý. Cũng theo báo cáo nầy, nếu “Đường 9 đoạn” thể hiện khu vực mà TC đòi hỏi cái gọi là “Vùng nước lịch sử” hay “Quyền lịch sử” thì những yêu sách này cũng không nằm trong mục đích “Đòi hỏi lịch sử” được quy định trong điều 10 và 15 của UNCLOS. BNG Mỹ kết luận rằng yêu sách hiện nay của TC về đường 9 đoạn là phi pháp không phù hợp với Luật Quốc Tế về biển. Nhưng, những gì sẽ xảy ra vì Bắc Kinh nói rằng, vụ kiện mà Phippines khởi xướng lên tòa Trọng tài LHQ và được VN ủng hộ là “KHÔNG CÓ TÍNH PHÁP LÝ”? Hãy chờ xem…

II.TRÊN ĐẤT LIỀN:

[1] TÂY NGUYÊN:

Khi nghiên cứu về Việt Nam, các chiến lược gia Pháp, Mỹ và VNCH trước đây thường đánh giá Tây Nguyên là địa bàn chiến lược tối quan trọng, có giá trị rất lớn về mặt quân sự, kinh tế, chiến lược. Vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức độ, nếu nước nào chiếm được Tây Nguyên thì coi như đã làm chủ được VN & ĐÔNG DƯƠNG. Trước đó, người Pháp và Hoa Kỳ và thế giới cũng đánh giá được vị trí chiến lược yết hầu của khu vực nầy: “Đây là nóc nhà của Đông Dương” nằm liền kề ngã 3 Đông Dương, vì vậy, khi chiếm lĩnh được Tây Nguyên thì cũng sẽ dễ dàng chiếm lĩnh được toàn bộ Đông Dương.

Riêng đối với chiến trường VN thì Tây Nguyên có tầm quan trọng chiến lược, bởi vì từ Tây Nguyên tiến quân xuống Nha Trang sẽ chia cắt lãnh thổ Việt Nam ra “LÀM HAI”, miền Bắc và miền Nam không tiếp ứng được nhau. Nếu như Vịnh Hạ Long và sông Bạch Đằng là tuyến phòng thủ chiến lược đường biển của nước ta thì Tây Nguyên chính là tuyến phòng thủ chiến lược trên bộ.

Ngay từ thời xưa, tổ tiên chúng ta mỗi lần đánh đuổi kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc đều nhờ voi trận và ngựa trận cung cấp cho quân kháng chiến chống quân Tàu. Tới thời vua Quang Trung thì Tây Nguyên lại càng có vị trí quan trọng hơn, ông đã lấy đây làm hậu cứ chống quân nhà Thanh và tấn công đè bẹp quân Chiêm Thành bẻ gãy thế gọng kềm giúp quân Thanh tấn công nước ta. Có thể nói, Tây Nguyên là xương sống của Việt Nam và là cái thế phòng ngự vững chắc để tái xây dựng lực lượng và dưỡng quân. Nếu để Tây Nguyên lọt vào tay quân thù thì “VN SẼ MẤT NƯỚC”, nếu giữ vững được Tây Nguyên thì không kẻ thù nào có thể đánh bại chúng ta.

Nói theo phong thủy, thì Trường Sơn là con rồng chạy dài từ Bắc vào Nam, miệng của nó là Hàm Rồng, Thanh Hóa còn cái đuôi của nó duỗi thẳng tới vùng Bình Thuận, còn cái lưng rồng là vùng đất Tây Nguyên. Cho nên việc đào bới Tây Nguyên thì giống như dùng dao cắt lưng rồng là điều tối kỵ của thuật phong thủy. Xưa tổ tiên chúng ta đã phải xây chùa Trấn Quốc ở Hà Nội để bảo vệ thế Rồng chầu ở Thăng Long mà nhiều nhà địa lý Tàu sang VN đã không được phép đến viếng nơi nầy. Việc bảo vệ Tây Nguyên có ý nghĩa sống còn cho thế hệ hôm nay và những thế hệ con cháu mai sau của chúng ta…

NGUYỄN TẤN DŨNG DÂNG TÂY NGUYÊN LÀM QUÀ CHO BẮC KINH:

Sau hàng loạt bài trên các báo chí quốc tế về vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên gây nhiều tai tiếng ở Việt Nam. Tờ Financial Times của Anh nói huỵch tẹt rằng, đây chính là “MÓN QUÀ CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẶNG CHO BẮC KINH”. Bài báo của David Pilling ngày 06/5/2009, tác giả nói vụ khai thác bauxite là vấn đề nổi bật, cho thấy thực chất mối quan hệ với Trung Cộng. Lần đầu tiên, một báo lớn ở phương Tây dùng chữ “QUỐC GIA PHỤ THUỘC” (client states) để nói về cách mối quan hệ của VN với TC. Nhưng, điểm quan trọng là theo bài báo thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mang theo các món quà bauxite của Việt Nam, thứ tài nguyên tạo ra nhôm (He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for alumium). Tác giả David Pilling gọi đây là cách “Triều kiến Trung Cộng” (pay tribute to China). Chính Y tá Nguyễn Tấn Dũng rước voi Tàu về giày xéo mả tổ ở Tây Nguyên, cao nguyên Trung Phần Việt Nam.

Lợi dụng sự ươn và khiếp nhược của Thủ tướng y tá Nguyễn Tấn Dũng và bọn lãnh đạo ĐảngCSVN, Bắc Kinh đưa ra những yêu sách thật phi lý như:

• Được quyền đưa công nhân vào Tây Nguyên bao nhiêu cũng được và tự quản lý người của họ theo quy chế ngoại giao. Có nghĩa là họ có thể đưa hàng vạn binh lính PLA, ngụy trang thành công nhân để xây dựng thành hình một chuỗi “CĂN CỨ QUÂN SỰ” được trang bị đủ loại vũ khí, đạn dược chờ cơ hội sẵn sàng đánh chiếm Việt Nam mà chánh quyền CSVN không được quyền kiểm soát.

• Công trường bauxite được khai thác theo cách làm của họ, được tự do phá hoại môi trường sinh thái, tàn phá rừng nguyên sinh vô tội vạ, thải các hóa chất xuống các dòng sông chảy qua Tây Nguyên diệt chủng các sắc dân Thượng tại Tây Nguyên và tận diệt môi trường sống của người dân Nam Bộ sống hai bên dòng sông Đồng Nai và hủy hoại các công trình thủy điện phía Nam…

• Ước tính quân số QĐNDTQ (PLA) đội lốt công nhân có tới từ 3 tới 4 Sư đoàn được trang bị với đầy đủ vũ khí.

[2 ] NGOẠI NHÂN THUÊ VÀ TÀN PHÁ RỪNG ĐẦU NGUỒN:

Mặc dù Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cảnh báo hiểm họa của việc lãnh đạo ĐCSVN cho người nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Nhưng, theo chỉ thị của Thủ tướng Y tá Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 7 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn 50 năm trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305.353 ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan và Trung Cộng chiếm với 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh quốc gia nhiều mặt. Vì hám lợi nhất thời, ĐCSVN đã di họa cho các thế hệ về sau. Nếu mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan và Trung Cộng khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn một hiểm họa không lường. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thủy lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thủy điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Những năm qua, nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu nhiều trận lũ lụt kinh hoàng, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?

Các tỉnh bán rừng cho người nước ngoài là “TỰ SÁT” và làm hại đất nước. Còn các tỉnh thuê rừng của nước ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Họ có thể đưa thân nhân của họ vào khai phá, trồng trọt, xây cất nhà cửa rồi sinh con đẻ cái, sẽ thành lập từng làng như: “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Cộng”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và nguy hiểm cho quốc phòng.

Hậu quả rừng đầu nguồn ở Thái Nguyên bị tàn phá vô cùng nghiêm trọng, khu vực rừng Ngàn Me thuộc xã Tân Lợi, huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên đã bị tàn phá nghiêm trọng, không những mất tài nguyên mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái, khả năng giữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, kéo theo nhiều bất ổn về an ninh trật tự tại địa phương. Theo nhiều người dân địa phương, việc chặt phá rừng Ngàn Me diễn ra từ nhiều năm nay. Từ khoảng tháng 2/2013 tới nay, nhiều người nước ngoài tiến hành chặt phá rừng ồ ạt, công khai và triệt để với mục đích tàn phá môi trường sống, diện tích rừng bị tàn phá đã lên tới hàng trăm hécta.

[3] FORMOSA HÀ TỈNH ĐÒI THÀNH LẬP ĐẶC KHU VŨNG ÁNG:

Đây là đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng và trong đặc khu thành lập Ban Quản Lý, trực thuộc Văn phòng Chính phủ, theo tin từ báo Hải Quan. Trong công văn số 1406022/CV-FHS ngày 10/6/2014 gởi Phó thủ tướng Tàu Khựa Hoàng Trung Hải, Formosa đưa ra đề xuất thành lập “ĐẶC KHU KINH TẾ GANG THÉP VŨNG ÁNG” nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện…một mình Phó TT Tàu Khựa Hoàng Trung Hải đã toàn quyền giải quyết từ chủ trương đầu tư cho đến những ưu đãi “vô tiền khoáng hậu” dành cho dự án đầy mờ ám nầy như chính nguồn gốc Tàu Khựa của hắn. Phó TT Hoàng Trung Hải là hiện thân của tên Trọng Thủy tân thời.

Do công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2013: Đồng ý chủ trương cho Tập đoàn Công nghiệp nặng Formosa-Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh.

Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 đã đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh đều do tên Phó TT Tàu Khựa nầy ký.

Sau khi Formosa đã tiến hành lễ khởi công xây dựng nhà máy gang thép Formosa Hà Tỉnh (tháng 12/2012) – một dự án thành phần quan trọng trong khu liên hợp có diện tích trên 3.300 ha, từ đó đến nay, khu vực nầy được cho là “NỘI BẤT XUẤT, NGOẠI BẤT NHẬP”. Người dân bình thường không thể vào trong khu vực dự án vì chủ đầu tư thuê bảo vệ canh gác tứ phía. Rõ ràng, Formosa Hà Tỉnh không chỉ là một đặc khu bất khả xâm phạm mà còn đang trên đường trở thành một “TIỂU QUỐC” của Đại Hán trên đất nước Việt Nam.

Cũng theo báo Hải Quan, một trong những đề xuất mang tính ưu đãi như thế là “Đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt 15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần như đặc khu. Formosa cũng đề nghị được xây căn hộ để cho thuê hoặc bán lại cho nhân viên và thành lập các cơ sở hậu cần như bệnh viện, trường học trong đặc khu với ý đồ bám trụ thời gian vô hạn định ở đây.

Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam sẽ đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn nếu phê chuẩn dự thảo đặc khu kinh tế ở Vũng Áng của Tập đoàn Formosa vì nó liên quan đến an ninh quốc phòng quan trọng. Vì khu công nghiệp Vũng Aùng dù là nơi hoạt động của nhiều doanh nghiệp có vốn Đài Loan, nhưng lại sử dụng một số lượng lớn lao động Hoa Lục. Hiện nay, số công nhân làm việc là 19.000 người, nhưng các nhà thầu đang chờ cấp phép để đưa thêm 11.000 lao động Tàu Hoa Lục vào làm việc. Với đợt tăng cường này, số lượng công nhân Tàu ở Vũng Áng đủ để thành lập ít nhất 2 sư đoàn…

VŨNG ÁNG VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC “CẮT ĐÔI VIỆT NAM”:

Vũng Áng hay Quãng Trị là những vùng lãnh thổ hẹp nhất trên đất liền của Việt Nam. Từ Vũng Áng ngó qua đảo Hải Nam không bao xa. Nếu như Bắc Kinh điều động một hạm đội cùng với lực lương vũ trang PLA từ Hải Nam sang xâm lăng Việt Nam. Họ đã có sẵn bãi đáp lý tưởng cho việc đổ quân vì Bắc Kinh đã thuê được hàng chục cây số dọc bờ biển Hà Tỉnh và vùng cửa khẩu Vũng Áng.

Với 5 sư đoàn đã có sẵn làm thế “NỘI CÔNG NGOẠI KÍCH”: 2 sư đoàn tại Vũng Áng và 3 sư đoàn từ Tây Nguyên đánh tràn xuống, chiến đấu cơ của họ ở đảo Hoàng Sa và Gạc Ma bay trên bầu trời Quảng Trị để yểm trợ quân TC. Vạch một đường chim bay từ sân bay ở Hoàng Sa đến Quảng Trị, khoảng cách rất gần cho những phi vụ không yểm cho lính bộ binh Trung Cộng sẽ dễ dàng chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi thì Vịnh Bắc Bộ sẽ không giao thông được với nước ngoài và không giao thông được với miền Nam Việt Nam cả đường biển và đường bộ.

ÂM MƯU CỦA BẮC KINH TẠI HÀ TỈNH – QUẢNG TRỊ – ĐÀ NẴNG:

(1) Tháng 10/2013, đài RFA có đăng bài “MỘT HÀ TỈNH ĐẦY ẤP NGƯỜI TRUNG QUỐC” với quy mô lớn như vậy, lũ Tàu Khựa có thể bám trụ khu vực nầy từ 25 tới 30 năm vừa để đầu tư xây dựng công trình, vừa để khai thác vận hành nhà máy với mức tổng đầu tư 15 tỷ USD, nằm trên diện tích 3.300ha, trong đó diện tích trên đất liền hơn 2.000ha và diện tích trên biển là 1.200ha. Với chừng ấy thời gian đủ để lũ Tàu Khựa nầy lấy vợ, lập thành phố người Tàu tại khu vực Kỳ Anh, Hà Tỉnh và sâu xa hơn, có thể là lực lượng địa phương sau nầy trong mưu đồ chia cắt Việt Nam thành 2 miền…

(2) Rõ ràng, Bắc Kinh đang thực hiện cuộc di dân rất âm thầm, nhưng quyết liệt và hiệu quả vào đất nước Việt Nam một cách hợp pháp với sự tiếp tay của bọn lãnh đạo ĐCSVN và bọn cán bộ cộng sản bán nước, thông qua chính sách đầu tư xây dựng. Vũng Áng quả là một vị trí lý tưởng không chỉ để khống chế Việt Nam về mọi mặt. Đây là một nguy cơ nghiêm trọng không thể không được báo động cho cả nước biết.

(3) Từ căn cứ Du Lâm của TC là căn cứ tàu ngầm nằm ở thành phố Tam Á cực Nam trên dảo Hải Nam, từ Du Lâm đến Vũng Áng và Cửa Việt của Việt Nam có chiều dài đường chim bay khoảng 300 tới 400 km tạo thành một “TAM GIÁC CHIẾN LƯỢC” và với lực lượng hải quân hùng mạnh gồm tàu ngầm và tàu chiến trên mặt nước, Hải quân TC rất dễ dàng khống chế và chia cắt hai miền Nam – Bắc VN cả đường bộ và đường biển. Vì vậy, Bắc Kinh đã thành công trong việc xây dựng hai vị trí chiến lược Vũng Áng và Cửûa Việt thành những căn cứ quân sự bí mật để phục vụ cho ý đồ của Bắc Kinh.

(4) Đất Quảng Trị tràn ngập người Tàu đến từ Hoa Lục ẩn chứa một mối hiểm họa khó lường cho dân tộc. Họ đóng vai nhà đầu tư với hành tung bí ẩn, khó hiểu và cực kỳ ngạo mạn đối với dân địa phương. Nhân dân ta rất bức xúc vì người Hoa tràn ngập ở cả vùng miền núi trọng yếu, vùng chiến lược quân sự của VN như Tây Nguyên Trung Phần, các nông trường dọc dãy Trường Sơn, các cửa khẩu phía Bắc và những tỉnh lỵ ở phía Nam như Bình Dương, Tây Ninh, Long An, An Giang…cho đến tận cùng tỉnh Cà Mau cũng có sự hiện diện của chúng. Hiện tại, mức độ xâm nhập của người Hoa trên đất Việt Nam không thể nào kiểm soát được nữa, khiến nhân dân cả nước càng cảm thấy bất ổn về sự có mặt của người Hoa đi ngang dọc khắp mọi miền đất nước, ngay cả miền duyên hải, các cửa khẩu đều có mặt của bọn người Hoa khốn kiếp nầy…

(5) Các dự án của Bắc Kinh ở Đà Nẵng tạo thành thế liên hoàn tại miền Trung VN: có dự án trấn ở tầm cao như Tây Nguyên, tầm xa…mưu đồ của Bắc Kinh là chẹt lấy yết hầu đất nước, khống chế luôn cả khu vực Đà Nẵng, đã trở thành thành phố của Bắc Kinh bên bờ Biển Đông. Nó thu hút sự chú ý của dư luận bởi sự vô tâm của Đảng và Nhà nước mà cả chính quyền địa phương đã để họ có mặt khắp nơi, kể cả các vị trí chiến lược cũng cho bọn TC thuê vì mục đích…kinh tế??? Một người dân Đà Nẵng chua chát nói: “Tối tối ra đường, tụi Tàu Khựa đi đầy đường. Tất cả các quán dọc đường phố đều có treo bảng hiệu bằng tiếng Tàu, thực đơn cũng dùng chữ Tàu hết mà! Mọi hoạt đông ở đây đều mang dáng dấp của một thành phố Tàu thu nhỏ.”

Những điểm trọng yếu dọc bờ biển Đà Nẵng nhanh chóng trở thành khu xây dựng bí mật của họ, có hẳn tên mới “China Beach”. Không một người địa phương nào được đến gần khu vực xây dựng của họ. “Phóng tài khóa, thu nhân tâm” vẫn là thủ đoạn của bọn Chệt Bắc Kinh, họ đã khôn khéo bỏ tiền mua chuộc các giới chức địa phương để chiếm trọn một khu vực đẹp nhất. Trọng yếu nhất của Đà Nẵng để biến thành biệt khu của họ.

[4] BẮC KINH MUỐN TRẤN ĐÈO HẢI VÂN:

Dư luận quần chúng phản ứng gay gắt về việc chính quyền Thừa Thiên – Huế cấp giấy chứng nhận đầu tư khu nghỉ dưỡng rộng 200 ha cho công ty Trung Cộng Thế Diệu ở đèo Hải Vân, đây là vị trí chiến lược tối quan trọng vì từ đó khống chế cả vùng trời vùng núi và vùng biển Đà Nẵng và có thể chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 16.

Trong quá khứ, Việt Nam trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam thì Đèo Hải Vân là một trong những chướng ngại thiên nhiên, chia cắt đất nước Việt Nam. Ở đỉnh cao chiến lược hiểm trở như vậy mà để cho Trung Cộng thuê để làm dự án khu nghỉ dưỡng thì đó là điều hết sức ngu xuẩn không thể chấp nhận được, đã khiến cho quần chúng sửng sốt về chuyện nầy.

Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Quốc tế World Shine-Huế do doanh nghiệp Trung Cộng làm chủ đầu tư với tổng số vốn 250 triệu USD. Bọn Bắc Kinh được phép sử dụng diện tích 200 ha tại khu vực mũi “CỬA KHẺM”, nơi núi Hải Vân đâm ra biển. Tại đây nhà đầu tư Trung Quốc sẽ xây dụng khu nghĩ mát tiêu chuẩn 5 sao với 450 phòng, một trung tâm Hội nghị Quốc tế 2.000 chỗ ngồi, khu nhà nghỉ dưỡng 5 tầng với 220 căn hộ cao cấp, 350 biệt thự và khu du lịch, nhà hàng bãi tắm. Dự án nầy được triển khai theo 3 giai đoạn từ 2013 đến 2023 trên thực tế đã bắt đầu xây dựng một số hạng mục và cơ sở hạ tầng.

Tuy vậy, Ủy ban Nhân Dân Thành phố Đà Nẵng vừa kiến nghị Chính phủ rút giấy phép đầu tư mà Tỉnh Thừa Thiên-Huế đã cấp cho Công ty Thế Diệu của Trung Cộng. Lý do Chính quyền Đà Nẵng đưa ra là dự án nằm ở vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng. Hơn nữa, trên nguyên tắc dự án nầy có một vùng chồng lấn trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chánh giữa Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng.

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC ĐÈO HẢI VÂN:

Đèo Hải Vân trong đó có núi Bạch Mã với độ cao hơn 1.000 thước là khu vực mang tính chất quân sự, một vị trí chiến lược hiểm yếu trong hệ thống phòng thủ đất nước. Vì vậy, xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng Lăng Cô nằm trong khu vực Cửa Khẽm không chỉ đơn giản chỉ là dự án về kinh tế, nó che dấu mục tiêu xa hơn là vấn đề quân sự của Bắc Kinh muốn thực hiện từng bước kế hoạch thôn tính nước ta đang có những tranh chấp về biển đảo.

Nếu Bắc Kinh khống chế được vị trí chiến lược đèo Hải Vân là khống chế được cả vùng trời, vùng núi, vùng biển khu vực Đà Nẵng, nó có tầm ảnh hưởng đến vấn đề bảo vệ lãnh thổ cả nước nói chung và đối với thành phố Đà Nẵng nói riêng. Một khi xảy ra chiến tranh giữa Việt – Trung thì lực lượng vũ trang QĐNDTQ sẽ dễ dàng chia cắt đất nước VN làm đôi.

Hơn nữa, vị trí tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp phép cho phía Trung Cộng xây du lịch lại nằm ngay mũi Cửa Khẻm (nơi núi Hải Vân đâm ra biển) và coi như bao trùm cả hòn Sơn Trà cách đó không xa. Toàn cảnh khu vực nầy chính là yết hầu của Vịnh Đà Nẵng với đèo Hải Vân và bán đảo Sơn Trà tạo thành hình cánh cung trấn giữ phía Bắc và phía Đông Bắc mà Vịnh Đà Nẵng là một trong những khu vực cực kỳ trọng yếu trên dọc tuyến biển Việt Nam. Nếu Hải quân TC khống chế được vị trí nầy thì tất cả tàu chiến của Hải quân VN muốn vào ra khu vực cảng Vùng 3 Hải quân họ sẽ hay biết hết trong bối cảnh Hải quân VN đang tăng cường năng lực bảo vệ vùng biển để sẵn sàng đối phó với diễn biến ngày càng phức tạp trên biển Đông, sau “sự cố” Bắc Kinh đưa giàn khoan HD-981 vào hoạt động trong vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Nếu tỉnh Thừa Thiên – Huế chấp tuận cho TC đầu tư xây dựng khu du lịch trên địa bàn đó là không thể, vì ảnh hưởng vô cùng to lớn đến nền an ninh quốc phòng của Việt Nam. Ở vị trí chiến lược nầy mà sau lưng là đỉnh đèo Hải Vân, trước mặt hướng ra Biển Đông, chỉ cần thiết lập một giàn radar dã chiến ở khu nghỉ dưỡng thì coi như kiểm soát được cả vùng trời, vùng biển rộng lớn của miền Trung Việt Nam.

Việt Nam phải đề cao cảnh giác nhiều doanh nghiệp của TC bề ngoài là làm kinh tế để che đậy âm mưu gián điệp, điều nghiên địa hình, địa vật và những khu vực trọng điểm để nắm vững tình hình mọi sinh hoạt tại địa phương, để phục vụ cho chiến tranh xâm lược nước ta khi cần thiết. Nếu không, bỗng dưng họ đi thả bè nuôi cá ngay trong khu vực cảng Cam Ranh và cả ở Đà Nẵng. Hiện có đông đảo người Tàu Hoa Lục nuôi cá bè ngoài bán đảo Sơn Trà và những nhóm người nầy đều là thành viên trực thuộc của tập đoàn công ty CP Thế Diệu chứ không phải ngoài ai khác.

Bán đảo Sơn Trà với khu du lịch trên đèo Hải Vân đều nằm ở vị trí “YẾT HẦU” của Vịnh Đà Nẵng. Nếu bọn chúng không có mưu đồ đen tối thì làm gì chúng bỏ ra hàng trăm triệu Mỹ kim để kinh doanh một khu vực hẻo lánh trên đèo Hải Vân? Có phải vì đèo Hải Vân là một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng bao trùm cả vịnh Đà Nẵng, chiếm được vị trí nầy sẽ khống chế được bao trùm cả vịnh Đà Nẵng?

Một người công dân bình thường cũng nắm vững tình trạng nầy. Nhưng, trao đổi với VnExpress chiều ngày 18/11, ông Nguyễn Văn Cao, Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên khẳng định tỉnh nầy không tranh chấp địa giới với Đà Nẵng ở khu vực đèo Hải Vân. Cửa Khẻm, nằm trong khu vực Hải Vân, đang được các đơn vị của tỉnh quản lý, bảo vệ và có đầy đủ CƠ SỞ PHÁP LÝ cho Công ty cổ phần THẾ DIỆU (thuộc Công ty TNHH World Shine Hong Kong) đầu tư.

Theo tên chủ tịch “ĐẦU TÔM” ngu dốt Nguyễn Văn Cao, hắn cũng giống như Thủ tướng Y tá Nguyễn Tấn Dũng có biết đếch vì vị trí chiến lược của đèo Hải Vân và Tây Nguyên đâu? Chỉ vì tiền thôi nên hắn mong muốn Công ty Thế Diệu xây dựng khu nghỉ dưỡng độc đáo nhìn xuống biển. Tên Cao nầy còn khẳng định rằng: “Khi làm họ đã xin ý kiến các ngành quân đội (gồm cả bộ đội biên phòng) và công an. Các ngành nầy đều khẳng định thực hiện được dự án”. Đúng là đồ bố láo!

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ (2016)

Saturday, February 15, 2025

Sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa

 Không thể trắng hơn

Trang mạng Đại sự ký Biển Đông (dskbd.org) vừa công bố tài liệu „White Paper on The Hoang Sa and Truong Sa Island – Ministry of  Foreign Affairs -  Republic Vietnam 1975” (Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa 1975) [1].

Đây là một trong số năm Sách Trắng (Bạch Thư) về Hoàng Sa, Trường Sa mà các chính quyền Việt Nam công bố từ sau sự kiện Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974. Bốn Sách Trắng khác từng được Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố vào các năm 1979, 1981, 1985, 1988. 

Bốn cuốn Sách Trắng của Cộng hòa XHCN Việt Nam chắc chắn được các cơ quan chức năng lưu trữ, nhưng người bình thường không mấy khi được truy cập. Riêng Sách Trắng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được coi là một tài liệu gần như hoàn toàn thất lạc. 

Đọc qua bản scan đã ngả màu vàng, mang nhiều dấu vết của thời gian và khí hậu, tôi rất cảm ơn Dự án Đại Sự ký Biển Đông đã sưu tầm được hồ sơ lịch sử quý giá đã tưởng như rơi vào lãng quên.

Vì từng may mắn được đọc các Sách Trắng của Cộng hòa XHCN Việt Nam nên tôi nhìn thấy nhiều tương đồng trong các văn kiện liên quan đến Biển Đông của cả hai chính quyền Việt Nam. Lẽ tất nhiên chúng đều khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Không phải ngẫu nhiên mà cả Sách Trắng 1975 của Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa và các Sách Trắng của Cộng hòa XHCN Việt Nam đều sử dụng chung các nguồn tư liệu lịch sử từ thế kỷ 18 đến nay. Ví dụ: Những trích dẫn từ Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, nhắc đến việc thành lập Hải Đội Hoàng Sa (Hoàng Sa Company) vào năm 1702, gồm 70 ngư dân thôn An Vinh. Cả hai nhà nước cùng nhắc đến tuyên bố của ông Trần Văn Hữu, ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam từ thời Hoàng đế Bảo Đại (1949-1955), tại hội nghị hòa bình của Liên Hợp Quốc ở San Fransisco ngày 07.07.1951.

Các Sách Trắng của Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng đăng tải hàng loạt tuyên bố của của Việt Nam Cộng hòa, của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa, như những văn kiện chính thức khẳng định tính kế thừa hợp pháp của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trên các phần lãnh thổ nói trên.

Năm 2011, trong các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm biển Đông, người Việt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã kêu gọi vinh danh các chiến sỹ hải quân Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa. Năm 2014 nhiều đồng bào đã đóng góp cho quỹ “Nhịp Cầu Hoàng Sa” do nhà báo Huy Đức khởi xướng nhằm giúp đỡ gia đình và thân nhân những người lính hải quân hai miền đã hy sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa. Những hành động này chứng tỏ sự đồng thuận của người Việt trong quyết tâm bảo vệ hai quần đảo này.

Nhà báo Huy Đức (Trương Huy San), một trong những người khởi xướng dự án "Nhịp Cầu Hoàng Sa" (nguồn Wikidata)

Đọc qua Sách Trắng 1975 của Việt Nam Cộng hòa, liên tưởng đến những gì được đọc trong các tuyên bố của nhà nước Việt Nam hiện tại,  tôi thấy sự đồng thuận đó đã có từ 1979,1981, khá lâu trước các cuộc biểu tình nói trên. Đáng tiếc là các tài liệu này hầu như không được phổ biến rộng rãi. 

Tôi mong rằng các cơ quan hữu quan Việt Nam cần sưu tầm thêm nhiều tài liệu tương tự và công bố rộng rãi. Dịp kỷ niệm 50 năm chấm dứt chiến tranh Việt Nam tháng tư tới đây sẽ là dịp tốt để những cuốn Sách trắng này được trân trọng trưng bày bên nhau, được cùng giới thiệu cho đồng bào cả nước. Đó sẽ là một hình ảnh đẹp của quá trình hàn gắn vết thương chiến tranh.

Việc tìm thấy Sách trắng 1975 của Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa không phải là điều ngẫu nhiên mà là kỳ công của rất nhiều người tâm huyết liên quan đến Dự án ĐSKBĐ. Tháng Năm 2015 nhà nghiên cứu sử học độc lập Trần Thị Vĩnh Tường từ Mỹ đã gửi cho dự án ĐSKBĐ một bản chụp của Sách trắng này. Kèm theo là bức tâm thư chứa những dòng sau: 

“ Em thân.

Hôm nay, 22/04/2015, hân hoan nhờ Bưu điện gửi Bạch Thư tới nơi xa xôi ấy. Bạch Thư 1975 của Việt Nam Cộng hòa ứa hai dòng sẽ hội ngộ người lo lắng ngày đêm cho biên cương hải đảo….”

“…Người lính Việt Nam Cộng Hòa đồn trú hải đảo Hoàng Sa Trường Sa trước 1975 giờ này chắc không còn nữa? Các anh đã thủy táng theo tàu theo đảo? Xin linh hồn hãy yên nghỉ, tiếp nối các anh vẫn có thế hệ chiến sỹ hải quân ngày đêm dõi mắt canh chừng an nguy cho tổ quốc….Tổ quốc ngàn năm không phân biệt VNCH hay XHCN chỉ khoảng khắc chưa đầy một trang sử.”

… Con xin chuyển lời mẹ đến những người bạn, gặp mà không tìm vì tìm kiếm sẽ không bao giờ gặp được”

(Toàn văn xin đọc trong hình đi kèm)

Copy thư chị Trần Vĩnh Tường từ Mỹ gửi cho ĐSKBĐ tháng 4.2015 (Nguồn DSKBD.org)

Cuốn tư liệu này, có lẽ do thời gian lưu trữ rất lâu, đã bị thiếu mất 2 trang chữ là các trang 16 và 78, cùng 5 trang hình tư liệu là các trang 6, 61, 62, 90, 101. Từ đó tiến sĩ Phạm Thanh Vân, người điều hành dự án ĐSKBĐ đã kiên trì kêu gọi trên Facebook nhờ tìm kiếm bản gốc hoàn chỉnh.

Trang bìa sách trắng về Hoàng Sa Trường Sa 1975 của VNCH (Nguồn DSKBD.org)

Tiến sỹ Trần Bắc Hải hiện sống ở Úc đọc được lời kêu gọi của Thanh Vân và lập tức tìm mọi cách. Tuy là quân nhân Quân đội Nhân dân, anh không nề hà kết bạn với những người đồng hương từng ở phía bên kia. Môt kiều bào từng phục vụ trong Hải quân Việt Nam Cộng hòa quý trọng tình bạn của anh nên đã bộc bạch nhiều tài liệu quý mà ông lưu trữ mấy chục năm qua. Sự chân thành của tiến sỹ Trần Bắc Hải đã thuyết phục được ông cho anh mượn cuốn Sách Trắng 1975 để sao chụp. Đó chính là bản đầy đủ mà tôi được đọc.

Chị Tường, con gái một quân nhân VNCH từ Mỹ, gửi gắm những trang copy cho Thanh Vân, cháu của một sỹ quan Quân đội Nhân dân. Một cựu sĩ quan Quân lực Cộng hòa trao tài liệu quý giá trong kho sưu tầm của mình cho một cựu binh Quân đội Nhân dân. Tôi vẫn nhớ như in trong đầu hình ảnh cựu đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Tường Thụy đang giơ cao khẩu hiệu nhắc đến cựu thiếu tá hải quân VNCH Ngụy Văn Thà trong một cuộc biểu tình vì Hoàng Sa – Trường Sa tháng 7.2011 tại Hà Nội.

Cựu đại uý QĐNDVN Nguyễn Tường Thụy trong một cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông tháng bảy 2011 (Nguồn Internet)

Tất cả những điều đó khẳng định rằng: 

- Chúng ta, dù từng ở bên nào của cuộc chiến thì cũng chỉ có một tổ quốc, Việt Nam!

Nguyễn Xuân Thọ

Monday, February 19, 2024

VỤ THẢM SÁT TỔNG CHÚP

 Sáng nay, 19-2-2024, hương linh của các nạn nhân trong vụ thảm sát Tổng Chúp đã chính thức có nơi trú ngụ. Trong thư mời dự lễ khánh thành “Nhà Sinh hoạt cộng đồng kết hợp gian thờ các nạn nhân Tổng Chúp”, UBND thành phố Cao Bằng nhấn mạnh “sự quan tâm đặc biệt của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các nhà hảo tâm”.

Vụ thảm sát diễn ra vào cách đây đúng 45 năm.

“Tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối”.

Sáng 5-2-2009, tôi cùng phóng viên ảnh Lê Quang Nhật tới đây, ngày 9-2-2009, trong bài báo đầu tiên nhắc lại cuộc chiến tranh hoàn toàn bị lãng quên từ sau Hội Nghị Thành Đô này, tôi viết:

“Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, ông Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách”. 

[Biên Giới Tháng Hai, Sài Gòn Tiếp Thị ngày 9-2-2009, bản đưa lên báo online bị rút xuống ngay trong buổi sáng].

Ngày 17-2-2023, tôi lên Cao Bằng, cùng các CCB Trung đoàn 567 trở lại hiện trường. Tấm bia ghi lại tội ác này bị mất một cột đỡ, sụp xuống, “di tích” lặng chìm trong hoang vu. Tôi bàn với Hồ Tuấn và các anh trong Ban liên lạc CCB Trung đoàn 567, tìm hướng xây ở đây một am thờ. Các CCB, bằng cách của mình đã xây ở Cao Bằng hai đài hương, một ở hang Keng Riềng [thờ 26 thương binh và phụ nữ bị tàn sát trong ngày 2-3-1979]; một ở Lạc Diễn [thờ các thành viên trong Đội Văn công xung kích của Trung đoàn hy sinh đêm mùng 6 rạng ngày 7-3-1979].

Các CCB 567 nhận trách nhiệm xin thủ tục pháp lý ở địa phương, tôi đi xin tài trợ. Một nhà doanh nghiệp ở Sài Gòn đã đồng ý đầu tư toàn bộ công trình. Chúng tôi đã lên ý tưởng khôi phục lại giếng bằng 43 phiến đá. Nhưng, thủ tục thì có vẻ như vô vọng. 

Đang rất sốt ruột thì chiều 8-6-2023, nhà báo Lê Đức Dục khoác ba lô bước vào nhà tôi, nói, “Xong rồi anh ạ”. Lê Đức Dục vừa cùng đoàn của ông Trương Tấn Sang lên Cao Bằng khảo sát việc xây dựng nơi thờ các nạn nhân Tổng Chúp.

Lê Đức Dục là một nhà báo mà 16 năm qua, năm nào cũng lên Biên Giới vào dịp tháng Hai. Tháng 7-2022, anh cùng ông Trương Tấn Sang và các thành viên nhóm thiện nguyện Chia sẻ - Sharing lên Vị Xuyên. Lúc ấy, Nghĩa trang Vị Xuyên đã được tôn tạo khang trang, Đài hương 468 cũng đã được xây. Dục đem câu chuyện Tổng Chúp nói với vợ chồng anh Nhựt Tân và chị Tranh [Trưởng nhóm Chia sẻ].

Tháng 3-2023, ông Tư Sang ra Quảng Trị nhân dịp 50 năm trao trả tù binh ở sông Thạch Hãn (1973), Dục khi ấy đang đi Quảng Ngãi, chị Tranh và anh Tân nhắn ra gấp “để trình bày cụ thể với chú Tư”. 

Tối 18-3-2023, Dục gặp ông Tư Sang, sau đó, anh tập hợp tất cả tư liệu, báo chí viết về Tổng Chúp. Bao gồm cả đoạn phim mà AP quay đươc ngay sau hai tuần xảy ra vụ thảm sát. Đoạn phim này được một bạn trẻ rất giỏi về phục hồi tư liệu tìm được từ kho tư liệu của hãng AP.

Ngày 28-4-2023, Lê Đức Dục viết thư cho ông Trương Tấn Sang: “Mong chú Tư tìm cách để xây cho 43 người dân vô tội này một nơi để nhang khói như nhờ có chú mà những người lính Vị Xuyên có một đền thờ trên đài hương ở Thanh Thủy vậy”.

Trong thư, Lê Đức Dục so sánh cuộc thảm sát Tổng Chúp với cuộc thảm sát Sơn Mỹ [Quảng Ngãi] năm 1968. 

Ngày 22-9-2023, tôi theo Lê Đức Dục lên Cao Bằng dự lễ khởi công. Gặp lại các CCB Trung đoàn 567 ở buổi lễ, chúng tôi nắm chặt tay nhau. 

Công trình được xây với sự tập trung các nguồn lực cao nhất [từ các nhà hảo tâm] để kịp khánh thành vào dịp 17-2-2024. Từ đầu năm Dương lịch tới nay, đã có hai nhà lãnh đạo trong “top 5” đến dâng hương ở Tổng Chúp.

Năm nay, cả tôi và Lê Đức Dục đều có việc nên không lên Biên giới vào tháng Hai. Trời ấm, có lẽ hoa đào đã lại nở thắm miền biên viễn.

*Mở đầu bài Biên Giới Tháng Hai tôi viết: "Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi".

Nhà báo Lê Đức Dục, ngoài cùng bên phải[10-2023]

Trương Huy San

Con đường của Hoàng Văn Hoan

HOÀNG VĂN HOAN VÀ NHỮNG "NƯỚC ĐI" CỦA BẮC KINH 

Ngày 3-7-1979, Phó Chủ tịch Quốc hội Hoàng Văn Hoan trên đường sang Đức chữa bệnh, khi máy bay của hãng Interflug quá cảnh ở Karachi, Pakistan, ông đã cáo bệnh ở lại, rồi hôm sau đánh lừa người bác sĩ đi cùng, đi taxi đến lãnh sự quán Trung Quốc. Ngày 5-7-1979, ông được đưa tới Bắc Kinh.

Đôi bên lặng ngắt. Hơn một tháng sau, ngày 5-8-1979, TTXVN mới phát đi bài phỏng vấn Tổng thư ký UBTV Quốc hội Xuân Thủy về “Vụ Hoàng Văn Hoan bỏ trốn”. 

Ngày 9-8-1979, từ Bắc Kinh, Hoàng Văn Hoan có “Thư gửi toàn thể đồng bào Việt Nam”, buộc tội Lê Duẩn đã “khống chế đất nước”. Theo ông, trong lúc “nhân dân ta đang khao khát sống yên ổn [sau 30 năm chiến đấu gian khổ], xây dựng tổ quốc để mở ra con đường tiến tới tương lai tốt đẹp” thì, “triển vọng đó đã bị Lê Duẩn phá hoại hoàn toàn”.

Bức thư được đài Bắc Kinh và BBC phát đi như một quả bom, chấm dứt những đồn đoán trước đó. Không khí chính trị trong nước đã ngột ngạt, càng thêm ngột ngạt.

Hoàng Văn Hoan “nối gót” một người cùng quê, ông Hồ Tùng Mậu, xuất dương, trở thành “học trò lớp thứ Hai” của Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, rồi trở về quê thành lập Chi bộ Thanh niên Cách mạng Đồng Chí Hội đầu tiên ở Quỳnh Đôi. Ông sát cánh cùng Hồ Chí Minh ở “Đảng Cộng sản Xiêm”. Cùng một số người Việt giúp cụ Hồ Học Lãm đồng sáng lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội [Việt Minh]. 

Đầu năm 1942, ông về Cao Bằng, cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp “cố vấn cho tỉnh ủy Cao Bằng” xây dựng căn cứ địa Việt Bắc. Ông là một trong 7 người “theo chỉ dẫn của Bác Hồ trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang Cách mạng”[Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp và Phan Anh, Tạ Quang Bửu (từ Trường Thanh niên Tiền tuyến)].

Trong những ngày ngay sau 2-9-1945, ông là thứ trưởng Quốc phòng và được giao phụ trách công tác chính trị [Chính ủy toàn quân]. 

Năm 1956, ông được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị. Trước Đại hội IV, 12-1976, Lê Duẩn cử ông đi “dự phiên họp đầu khóa của Quốc hội Cuba” và khi trở về thì Đại hội đã xong phần trù bị [làm nhân sự], Hoàng Văn Hoan bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị.

Trên bàn làm việc của Hoàng Văn Hoan được nói là luôn có một cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư bằng chữ Hán[của một học giả người Nhật tặng] và một cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Ông vốn sinh ra trong một gia đình nhà Nho, hẳn biết rõ Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, vậy điều gì khiến ông quyết định đến Bắc Kinh khi Bắc Kinh vừa gây ra một cuộc chiến tranh và cả bộ máy tuyên truyền đang khiến nhân dân sục sôi chống “quân bành trướng”?

Ngày 18-5-1991, Hoàng Văn Hoan qua đời ở Bắc Kinh, hưởng thọ 86 tuổi. Theo đề nghị của ông, tro cốt được chia làm 3 phần: “Một phần rắc nơi đầu nguồn sông Hồng để tôi được về với Tổ Quốc Việt Nam thân yêu; Một phần lưu lại Trung Quốc để tỏ tấm lòng lưu luyến, biết ơn của tôi với ĐCS, nhân dân Trung Quốc và bà con Việt Kiều…”

Phần lưu lại được Bắc Kinh đặt trang trọng ở Bát Bảo Sơn, phần đưa về Việt Nam an táng tại quê nhà. Bia mộ ghi ba chữ, “Trung Chính Công” [bậc trung chính]. Hai bên có đôi câu đối: “Công danh kí sơn hà, thiên thu định luận/ Nhân cách tồn chính sử, lưỡng quốc lưu hương”. Trên đầu bia có dòng chữ "Cao chiêm viễn chúc"[nhìn xa trông rộng). Dưới ghi ”Kính tùng ngạo băng tuyết"[Cây tùng (cứng cỏi) coi thường băng tuyết. Câu này trích từ một bài thơ chữ Hán của Hoàng Văn Hoan với hai câu đầu, "Kính tùng ngạo băng tuyết/ Hàn đống độc thư nghiên"[Cây tùng cứng cỏi ngạo băng tuyết/ Trong sương giá vẫn một mình tươi xanh].

Sau khi Hoàng Văn Hoan “trốn sang hàng ngũ kẻ xâm lược nước ta”[lời của Tòa án], một người đồng chí của ông là Chu Văn Tấn cũng bị giam giữ. Chu Văn Tấn qua đời trong điều kiện bị giam lỏng vào năm 1985.

Ngày 26-6-1980, TAND TC đã tuyên xử tử hình Hoàng Văn Hoan về tội phản quốc. Báo chí thì đã “xử” ông không biết bao nhiêu giấy mực. 

Cứ cho là có “thiên thu định luận”. 

Nhắc lại câu chuyện Hoàng Văn Hoan hôm nay chỉ để nói câu chuyện “chơi bài” của Bắc Kinh. 

Ông Hoàng Văn Hoan làm Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh từ 1950-1957. Ngay khi có mặt ở TLSQ Trung Quốc ở Karachi, “ông mượn mấy đồng Rupi trả tiền taxi, rồi đi thẳng vào trong nhà tự nhiên như người quen biết cũ”. Khi cầm bức điện Hoàng Văn Hoan thảo gửi Lý Tiên Niệm [CTN], các cán bộ lãnh sự hiểu ngay vấn đề, họ “khẩn trương thu xếp chỗ ở kín đáo” cho ông. 

Ngay chiều hôm đó, Bắc Kinh trả lời và chỉ thị đưa ông tới Bắc Kinh “càng sớm càng tốt”.

Việc đầu tiên, Hoàng Văn Hoan được Trung Quốc đưa vào viện 103, nơi các bác sĩ phát hiện ông bị ung thư phổi. Bắc Kinh đã mời Viện trưởng Viện Ung thư Nhật và một đoàn chuyên gia Nhật sang, hội chẩn và cùng các bác sĩ Trung Quốc mổ cho ông. 

Ông không chỉ được chăm sóc chu đáo ở bệnh viện. Gần 12 năm ở Trung Quốc, Hoàng Văn Hoan được bố trí ở trong một biệt thự lớn gọi là “Lầu 10” nằm trên một đồi cao, phía trước là một vườn đào rộng mấy hecta, phía sau là núi, phía xa là hồ nước “rộng như hồ Ba Mẫu”. 

Lầu 10 nằm ở Ngọc Tuyền Sơn, một khu an dưỡng đặc biệt dành cho lãnh đạo cao cấp. Trong khoảng 1965-1968, Hồ Chí Minh cũng đã mấy lần ở Lầu 1 của Ngọc Tuyền Sơn[cách Lầu 10 hơn 1 km]. 

Ngoài phòng khách, phòng làm việc, phòng giải trí, phòng ngủ, phòng làm thuốc… Lầu 10 còn có nhiều phòng khác cho thư ký, cận vệ, cần vụ, cấp dưỡng, y tá, lái xe… Bắc Kinh cũng dành cho Hoàng Văn Hoan một xe Hồng Kỳ, loại xe chỉ “lãnh đạo tối cao” của Bắc Kinh mới được sử dụng.

Bắc Kinh là thế. 

Năm 1970, Norodom Sihanouk bị Lonnon lật đổ khi ông đang ở thăm Mascova. Chủ tịch HĐBT Liên Xô, Aleksei Kosygin, chỉ cho ông Hoàng biết tin trên đường tống tiễn ra sân bay. Nhưng Bắc Kinh không chơi như vậy. Bắc Kinh vẫn đón Sihanouk theo lịch trình và Chu Ân Lai đã yêu cầu các đại sứ nước ngoài đang ở Bắc Kinh cùng ra bay đón ông Hoàng dù Vua không còn ngai nữa.

Sihanouk cũng ở Ngọc Tuyền Sơn trong nhiều năm với rất nhiều cung nữ và các đầu bếp thượng hạng, có đủ Tây, Tàu.

Bắc Kinh không đặt cược hết vào Khmer Đỏ. Người Trung Quốc biết Pol Pot, Yeng Sary được những người CS Việt Nam đưa vào Đảng ở Paris. Cũng những người CS Việt Nam đảm bảo cho Pol Pot, Yeng Sary tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức đảng khi quay về CPC. 

Bắc Kinh thường chỉ hậu thuẫn cho các tổ chức Maoist ở Đông Nam Á như những nhóm phiến quân. Khi đó, Bắc Kinh vẫn tưởng, Khmer Đỏ lên nắm quyền thì sẽ thân Hà Nội hơn. Việc để Khmer Đỏ đứng chung với Sihanouk, sử dụng uy tín quốc gia của ông là do nỗ lực nhiều hơn từ Hà Nội.

Từ năm 1973, theo Thượng tướng Trần Văn Trà, “Ta giúp bạn giải phóng các tỉnh phía Đông CPC”. Năm 1975, đặc công Việt Nam đã giúp Khmer Đỏ đánh sập cầu Chhroy Chhangva và pháo binh Việt Nam đã khống chế sân bay cũng như hỏa lực của Lonnon, giúp Khmer Đỏ nắm quyền ở Phnom Penh trước khi “giải phóng Sài Gòn” hai tuần.

Tôi vừa đọc xong hồi ký của một người Khmer sống sót qua chế độ Pol Pot. Ông là một trong 3 người còn lại trong số khoảng 800 người “Khmer tập kết” mà Hà Nội giao cho Pol Pot, Ieng Sary đầu thập niên 1970s. Rất nhiều người trong số họ đã cố gắng đào thoát sang Việt Nam trước khi Khmer Đỏ lên cầm quyền nhưng đã bị trả lại cho Khmer Đỏ.

Chúng ta đổ xương máu để “rèn” Khmer Đỏ thành một con dao găm. Để rồi Bắc Kinh là người đã nắm đằng cán để thúc lưỡi dao ấy vào sườn phía Tây Nam của Tổ Quốc. 

Năm 1990, khi Lê Đức Anh muốn “giải pháp đỏ” thì Bắc Kinh đã chuẩn bị chơi quân cờ khác. Cộng sản Bắc Kinh sử dụng các quân cờ vì nó sử dụng được chứ không vì nó xanh hay đỏ. 

Ngày 14-11-1991, khi chiếc Boeing đưa Sihanouk từ Bắc Kinh về lại Phnom Penh, xuất hiện cùng ông ở cầu thang máy bay là Hun Sen. Năm 1998, khi đã thiết lập được những mối quan hệ vững chắc với Phnom Penh, Bắc Kinh cắt hầu bao, Khmer Đỏ mới thực sự tan rã. 

Cho dù, trong các cuộc can thiệp quân sự ra nước ngoài trên thế giới từ nửa cuối thế kỷ 20 đến nay, CPC là một điển hình thành công. Chính quyền do Việt Nam dựng lên vẫn tồn tại sau 35 năm rút quân. Nhưng, ai thực sự đắc lợi từ chính quyền ấy mới là điều rất cần suy nghĩ.

Trở lại với câu chuyện Hoàng Văn Hoan trong đoạn kết của cuộc chiến tranh Biên giới Việt - Trung.  

Ngày 29-3-1990, trong một hội nghị quốc tế kỷ niệm “100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói với con trai Hoàng Văn Hoan, ông Hoàng Nhật Tân, “Mình nghe nói Trung ương đã quyết định để Tân sang Trung Quốc thăm cụ Hoan”. Và khi ông Tân đến chào Thứ trưởng Ngoại giao Đinh Nho Liêm thì ông Liêm rất niềm nở và nói là “sẽ cử cán bộ đến nhà bàn việc gia đình sang Bắc Kinh thăm ông cụ”.

Ngày 31-3-1990, hai cán bộ ngoại giao đến nhà chính thức thông báo “việc sang Bắc Kinh thăm ông cụ đã được Trung ương chuẩn y”. Cả Bộ Ngoại giao Việt Nam và Sứ quán Trung Quốc nhanh chóng làm thủ tục để phu nhân, con trai và cháu nội Hoàng Văn Hoan đi Trung Quốc hai tuần sau đó. Họ được đón tiếp nồng hậu tại Cửa khẩu. Ngày 17-4-1990, đích thân Bí thư Khu Tự trị Quảng Tây tiễn 3 mẹ con lên một khoang tàu sang trọng chạy đến Bắc Kinh.

Sau một thời gian bố trí cho gia đình thăm thú Trung Quốc và trị bệnh cho bà Hoàng Văn Hoan, chiều 4-7-1990, Giang Trạch Dân tới Ngọc Tuyền Sơn thăm Hoàng Văn Hoan và gia đình. Ngày 7-7-1990, “Hoàng Lão” được mời vào Trung Nam Hải hội kiến với “đồng chí Giang Trạch Dân”, ông Hoàng Nhật Tân và “đích tôn”, Hoàng Thái, cũng được đưa vào để tối ấy Giang Trạch Dân đãi tiệc.

Ngày 12-8-1990, hai ngày sau khi về tới Hà Nội, ông Hoàng Nhật Tân viết thư cho TBT Nguyễn Văn Linh, hôm sau, TBT Nguyễn Văn Linh cho xe Lada tới tận nhà đón ông lên Văn phòng gặp. Tinh thần “cuộc hội đàm” giữa Giang Trạch Dân và Hoàng Văn Hoan đã được Hoàng Nhật Tân chuyển về Hà Nội. Ông Tân sau đó còn tiếp xúc với Nguyễn Cơ Thạch, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng… 

Ngày 3-9-1990, TBT Nguyễn Văn Linh đi Trung Quốc, một cuộc gặp cấp cao diễn ra bí mật, về sau được biết với tên gọi, “Hội nghị Thành Đô”.

Chúng ta không biết hết những con đường dẫn đến bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, nhưng, con đường Hoàng Văn Hoan là rất trực tiếp.  

Rồi ai “định luận”.

Trương Huy San

Sunday, February 18, 2024

Bắc Kinh và lực lượng Khmer Đỏ

(Chuyện ngoài lề): thêm sự kiện và con số theo dòng thời gian cho những bác quan tâm (trích nhiều tư liệu từ sách Brother Enemy của Nyan Chandra): 

...

Campuchia, đất nước có đến 10 tỉnh chung biên giới với Việt Nam trải dài trên cả ngàn km, từ lâu đã âm ỉ mầm mống bất hòa với láng giềng :

-Tháng 6/1969 lúc QĐNDVN đang khó khăn nhất, Lon Nol vừa nhậm chức Thủ tướng đã đâm nhát dao vào lưng Việt Nam bằng lệnh ngưng toàn bộ gạo và nhu yếu phẩm tiếp tế cho Việt Nam qua đường Campuchia.

- Ngay từ khi Mặt trận Khmer Đỏ mới hình thành, thủ lĩnh Khmer Đỏ là Pol Pot, vốn là du học sinh ngành điện thi rớt ở Paris, đã ngấm ngầm bất hợp tác với VN. Pol Pot bác bỏ thẳng thừng đề nghị của VN thành lập bộ chỉ huy quân sự hỗn hợp, trong cuôc thương thảo ở Hà Nội với TBT Lê Duẩn năm 1970, 

-1970-71, quan hệ giữa lính Khmer Đỏ và QĐNDVN ở những vùng mới giải phóng ngày càng căng thẳng. Quân Khmer Đỏ nổ súng vào sau lưng lực lượng QĐNDVN đang tấn công quân Lon Nol tại Kompong Thom (Theo báo cáo của CIA tháng 9 năm 1970,.(29) 

-Sang 1973, không những tàn sát kiều dân Việt Nam, mà họ gọi là “gián điệp”, Khmer Đỏ còn giết cả những đảng viên Campuchia có thiện cảm với VN. Trước khi Mỹ và Việt Nam ký Hiệp định Paris , Khmer Đỏ đã trục xuất những đơn vị quân đội Việt Nam từng giúp Campuchia đánh Lon Nol) đóng trên đất Campuchia về nước. Hiệp định Paris 1973 cũng đánh dấu thời kỳ Khmer Đỏ bắt đầu tấn công các vị trí quân sự Việt Nam, bệnh viện, và các căn cứ trong nội địa Campuchia. Phía Pol Pot giải thích đó là do sự “hiểu lầm và vô kỷ luật” của binh lính cấp dưới. 

-Hai nhân viên của Thông tấn xã Việt Nam bị “giết nhầm” khi đang tham quan tỉnh Kompong Cham tháng 10/1973.

-Tháng 8/1974, 71 cán bộ vùng phía Đông Campuchia từng tập huấn tại Hà Nội bị “tập trung học tập”, bị khiển trách nghiêm khắc phải trốn qua Việt Nam, 10 người mất tích. Số còn lại bị bắt, bị cưỡng bức lao động có giám sát. Tại Tây Nam Campuchia, 91 cán bộ từ Hà Nội về đã bị hành quyết tháng 9/1974. Một ít trong số đó sống sót, trốn thoát và chạy qua Việt Nam. 

-Tháng 2/1975, một nhóm cán bộ văn hóa của Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã bị phục kích bắn chết hết

-Ngay khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia ngày 17-4-1975, , Pol Pot, kẻ dân tộc cực đoan và thù hận sâu sắc với Việt Nam đã ra lệnh trục xuất tức khắc người Việt  khỏi CPC và phái quân đội tới sát biên giới. Bị Việt Nam phản ứng quyết liệt, hắn thừa nhận có hành động xâm lấn, tuy nhiên giải thích sự “đụng chạm đẫm máu và đau lòng” đó là do binh lính không biết rõ tình hình địa lý địa phương. 

-Từ 3- 5/5/1975, Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Phú Quốc. Việt Nam yêu cầu rút, nhưng Khmer Đỏ không chấp nhận buộc Việt Nam phải phản công. Khmer Đỏ thanh minh “không biết đó là đảo của Việt Nam”. 

-Ngày 8/5/1975, Khmer Đỏ liên tiếp xâm nhập từ Hà Tiên, An Giang, Tây Ninh, Gia Lai, Kon Tum. 

-Ngày 10/5/1975, Khmer đỏ đánh phá đảo Thổ Chu bắt 500 dân Việt Nam. Khi Việt Nam trao trả 400 tù binh bị bắt ở Phú Quốc, Khmer đỏ hứa sẽ trao trả dân Việt Nam nhưng sau đó thủ tiêu hết. 

-Ngày 20/5/1975, Hội nghị Trung ương Khmer Đỏ họp đề ra ba chủ trương lớn: 1.”Làm trong sạch nội bộ nhân dân”, 2. xác định Việt Nam là kẻ thù số một truyền kiếp, và 3. xây dựng “xã hội mới” ở Campuchia: không chợ, không tiền bạc, không tri thức, không trường học, không tôn giáo, không đô thị. 

Một chương trình cưỡng bách lao động để tiến nhanh tới xã hội chủ nghĩa, mục đích làm cho Campuchia mau lớn mạnh để có thể “ngăn chặn kẻ thù làm hại chúng ta”. Chính sách kinh tế hợp tác xã nông nghiệp, thủ tiêu thương nghiệp ngày càng siết chặt triệt để. Mười ngàn người bị đưa về trại khổ sai công cộng nông thôn, bị buộc làm việc như súc vật, thiếu ăn, bị trừng phạt tới chết nếu hé răng than phiền vất vả. Dân thành thị bị coi là tiêm nhiễm tư tưởng tiểu tư sản, phải được thanh lọc bằng lao động chân tay. Những ai yếu sức thì coi như không ích lợi gì cho cách mạng Campuchia. “Có họ (dân thành phố) cũng chẳng được gì, không có họ cũng chẳng mất gì.”-là câu mà cán bộ Khmer Đỏ thường nhắc đi nhắc lại trong các buổi nói chuyện. Angka tuyên bố thà chỉ giữ lại từ một đến hai triệu người thật sự trung thành còn hơn duy trì từ sáu đến tám triệu “kẻ thù giai cấp”. Theo Pol Pot, những ai chống lại hoặc thắc mắc cũng là tay sai đế quốc hay gián điệp Việt Nam, cố ý phá hoại bước đại nhảy vọt của Campuchia. 

Theo nhà báo Nyan Chandra, “tháng 2/1976, một nhóm các nhà ngoại giao Âu, Ả Rập, Phi có cơ sở ở Bắc Kinh được cho phép thăm Phnom Pênh, họ thấy một thành phố ma, một nền kinh tế không có tiền tệ lưu hành, ngân hàng quốc gia đóng cửa và những chứng phiếu rãi rác, bay theo gió trên các đường phố. Họ không thể quên được khung cảnh này kinh hoàng như thế nào”. [425]. Hơn 2 triệu người dân Campuchia, bằng 1/3 dân số đất nước thời đó đã bị giết chỉ trong vòng hơn ba năm từ 1975-1978, Người dân bị xử tử, tra tấn cực hình như thời trung cổ . 

Đối với nước Việt Nam láng giềng, sự thù địch của CPC nhận được cổ vũ hết lòng của ông lớn đồng minh phương Bắc với lịch sử cả ngàn năm đô hộ Việt Nam. Chiến thắng năm 1975 dường như đem lại cho Trung hoa cơn ác mộng về một nước Việt Nam hùng mạnh và thống nhất. 

Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã rạn nứt từ lâu, nhất là sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Nixon năm 1972. Giữa lúc chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, thì thỏa thuận bắt tay “anh không động đến tôi, tôi không động đến anh” giữa Mỹ và Trung Quốc như dao đâm sau lưng, tạo điều kiện cho Mỹ đánh B52 Hà Nội, Hải Phòng. Năm 1974, Trung Quốc cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trước sự làm ngơ của Hoa Kỳ. Tuy giúp đỡ trong kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc một mực không muốn cho Việt Nam thống nhất đất nước. Rất nhiều lần Mao, Chu Ân Lai khuyên lãnh đạo Việt Nam không nên tấn công giải phóng miền Nam, ”phải trường kỳ mai phục, chổi ngắn không quét được dài”. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi lãnh đạo tai Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước.[426]) Sau chiến thắng 30-4-1975, nước Việt Nam đầy tự tín, quân đội hùng mạnh, được coi là đang bớt dần nghĩa vụ tôn kính với kẻ khổng lồ phía Bắc. 

Vào tháng 9-1975, vì những bất đồng trong xung đột biên giới, quan hệ thỏa thuận tay đôi với Liên Xô, và vấn đề Hoa kiều ở Việt Nam, TBT Đảng LĐVN Lê Duẩn đã rút ngắn thời gian thăm hữu nghị Trung Quốc. Đoàn rời Bắc Kinh hai ngày, ngay trước lễ kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc (1-10) mà không tổ chức tiệc đáp lễ, cảm tạ lòng hiếu khách của Trung Hoa như thông lệ ngoại ngoại giao, cũng không ký thỏa thuận chung, không đưa ra bất cứ phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. [427]. Đối với một Trung Hoa Đại Hán đã quen  quan hệ ngoại giao kiểu phục tùng triều cống từ ngàn năm của Việt Nam, thì những biểu hiện này bị coi là sự xấc láo bướng bỉnh khó dung tha. Việc Việt Nam củng cố mối quan hệ với Liên Xô, kẻ thù phương Bắc của Trung Quốc là một sự coi thường đặc biệt gây khó chịu. Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện tiên quyết Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.

Ngày 6/2/1976, trong khi đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội chính thức bày tỏ “quan ngại” về việc VN buộc nhóm thiểu số người Hoa ở miền Nam nhập quốc tịch, thì một quan chức quân sự hàng đầu của Trung Hoa lên đường thăm Phnom Pênh để bàn bạc thỏa thuận viện trợ quân sự. Wang Shangrong, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa báo với Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Son Sen, quyết định của Trung Hoa về việc cung cấp bộ phận rời cho pháo binh, thuyền tuần phòng, và trang bị phòng không. Ngày 2/10i, một thỏa ước viện trợ quân sự không hoàn lại cho Campuchia được ký kết. Việt Nam, một lần nữa, đứng trước đe dọa một cuộc chiến tranh. Tuy cố gắng kiềm chế, tránh xung đột, nhưng từ giữa những năm 1976, quan hệ Việt - Trung đã xấu đi rất nhanh chóng.

Đêm 30/4/ 1977, Khmer Đỏ bất thần mở cuộc tấn công lớn thứ hai vào các làng Việt Nam dọc toàn tuyến biên giới. Riêng ở An Giang, chúng tấn công 13/15 xã và 13 đồn biên phòng, tàn sát dân thường, đốt nhà cửa. Chỉ riêng cuộc tấn công vào Tịnh Biên cũng đã giết một trăm dân thường. Không một lý do nào được đưa ra. Chọn đúng ngày Việt Nam mới kỷ niệm thống nhất đất nước được hai năm, Khmer Đỏ muốn “chứng minh rằng người Campuchia có đủ khả năng đánh vào lãnh thổ Việt Nam" [428]

Dân Sài Gòn từ lâu đã nghe phong thanh từ những người sống sót trốn thoát về kể những vụ thảm sát rùng rợn của Khmer Đỏ dọc biên giới. Khi một nhà báo Hungary được cho phép tới tận nơi thuộc biên giói Tây Ninh lần đầu tiên, anh ta đã qua sốc vì không chuẩn bị tình thần để chứng kiến một quang cảnh kinh khủng như vậy. Từ nhà này qua nhà khác, những xác đàn ông, đàn bà bị cháy đen, sình to và xác trẻ em rải rác đây đó. Có xác bị chặt đầu, bị mổ bụng, có xác thì mất chân tay, bị móc mắt….Những hình ảnh đó chẳng có cơ hội được đăng tải do phóng viên đã bị công an Việt Nam tịch thu máy ảnh, cấm đưa tin. Việt Nam vẫn không tiến hành một cuộc phản công đáp trả nào. Thế giới bên ngoài chỉ biết rất mơ hồ về cuộc thảm sát này. 

Theo một số tài liệu (cần kiểm tra để xác nhận chi tiết này). thì tháng 7, Đại tướng Võ Nguyên Giáp công khai đi thị sát vùng biên giới, như một lời cảnh cáo ngầm cho phía Campuchia phải ngừng tiến công  Nhưng, theo nội dung của Sách đen, Pol Pot lại xem đó là một dấu hiệu của việc Việt Nam đang lựa chọn một chiến lược mới nhằm nuốt chửng Campuchia;

Ngày 28/9/1977, chuẩn bị kỷ niệm lần 28  Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hàng trăm ngàn dân Bắc Kinh được huy động đứng hai bên đường từ phi trường để chào đón thượng khách đặc biệt.  Khi chiếc Boeing 707 của Trung Quốc dừng hẳn, những lãnh tụ Khmer Đỏ trong trang phục áo đen cổ Mao tươi cười xuất hiện ở cửa máy bay. Pol Pot, lãnh tụ Khmer Đỏ lần đầu tiên ra mắt thế giới, nồng nhiệt bắt tay tám nhân vật lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc, tức là gần một phần ba các yếu nhân quyền lực trong Bộ chính trị, gồm cả Phó Thủ tướng mới được phục chức Đặng Tiểu Bình, đều chờ ở chân cầu thang máy bay, để bày tỏ tình thân hữu của Trung Hoa với nước Campuchia dân chủ. Pol Pot cùng Thủ tướng kiêm chủ tịch đảng Hoa Quốc Phong đứng trên xe mui trần chạy từ sân bay giữa đám đông khua chiêng trống, vẫy cờ giấy Campuchia, thả hàng trăm hàng ngàn bong bóng lên trời. 

Không mấy ai biết năm ngày trước đó, đêm 24 rạng ngày 25-9-1977, Khmer Đỏ huy động bốn sư đoàn mở một cuộc tấn công đẫm máu thứ ba dọc tất cả biên giới Tây Ninh (phía Bắc Mỏ Vẹt) và một số làng bên trong Việt Nam. Tại xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, 592 người dân Việt Nam bị giết hại. Chọn thời điểm trước chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Trung Quốc, các cuộc tàn sát ở Tây Ninh là món quà Pol Pot mang dâng cho Bắc Kinh cho chuyến đi hai ngày sau đó, chứng tỏ cho Trung Hoa thấy quyết tâm của Campuchia chống lại Việt Nam.

Ảnh tư liệu (từ trái qua: Đặng Tiểu Bình, Chu Ân Lai, Pol Pot, Ieng Sary

(Từ Hồi Ức Về Tướng Cao Văn Khánh)

Wednesday, November 23, 2022

Vai trò của người lãnh đạo và mục đích chiến lược trong quan hệ với người láng giềng mang bộ mặt chí tình

 LÊ DUẨN (1907 – 1986) –34 năm trước, Kádár János dẫn đầu Đoàn Đảng MSZMP và Chính phủ Hungary đã đến viếng tang Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tháng 10 năm 1975, Lê Duân đã đến Budapest trong chuyến thăm và hội đàm chính thức với các nhà lãnh đạo Hungary. Hai sách của ông đã được xuất bản (một về Cách mạng Việt nam, một tuyển chọn các bài viết và nói về các chủ đề khác).  

„Tư liệu ít và không chi tiết!” Sanyi bảo vậy.  Anh là cháu của bạn BME cùng năm Feri – lo tìm kiếm tư liệu cho một luận văn lịch sử VN cận đại. Đã mừng chuyển cho Sany bài viết này. „Khá hấp dẫn, nhưng rất cần phân tích thêm các luận điểm khoa học với luận cứ xác thực! – Sanyi trả lới. „Thế mới cần đến sử gia tương lai. Cố gắng và Chúc thắng lợi!”

Chợt nhớ về 34 năm trước …hôm nay ghi lại đây.

Lê Duẩn  một trong số ít nhân vật có tầm vóc, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của Vietnam đương đại:  nổi bật trong ba nội dung: (1) Xây dựng miền Bắc làm “hậu phương lớn” (2) giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc; (3) hóa giải nhiều mưu đồ và đập tan cuộc xâm lược quy mô lớn của Trung Quốc, thoát khỏi giấc ngủ dài, đầy ác mộng bởi tình bạn “thắm thiết, chí tình” với người láng giềng phương Bắc!

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, Lê Duẩn (1907 – 1986) là một trong số ít nhân vật có tầm vóc, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đất nước.

Không giống với các mẫu nhân vật được phản ánh qua sách báo, truyền thông có phần lý tưởng hóa, mang nhiều yếu tố huyền thoại, có vẻ như ông là con người hiện thực hơn, chung đúc, hội tụ được nhiều phẩm chất, tính cách của con người Việt Nam. Điều đó khiến cho ở ông thể hiện rất rõ bóng dáng dân tộc: Vừa gan lì, ý chí, lại vừa giàu cảm xúc, dễ tha thứ. Có vẻ như ông là nhân vật thuần Việt, ít chịu ảnh hưởng bởi nước ngoài, mặc dù vẫn phải chịu tiếng rằng có lúc thân Trung hay thân Xô. Ông cũng là người không có thiên hướng che dấu tình cảm, mà để tính cách bộc lộ. Ông là một trong số hiếm lãnh đạo tối cao ở Việt Nam không để lại hồi ký. Ông mặc cho lịch sử tìm hiểu, phán xét mà không tự cung cấp hay định hướng thông tin cho người đời, cho hậu thế đánh giá về mình. 

Tầm ảnh hưởng của ông không chỉ bởi cương vị Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, rồi sau là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi cương vị này có nhiều người từng nắm giữ, mà bởi khả năng kiểm soát quyền lực, làm chủ tình thế và dẫn dắt lịch sử đi theo mình. Ông là người chủ động, quyết đoán và quyết định vận mệnh của đất nước trong toàn bộ những năm tháng dài lâu (ít nhất là từ năm 1960 đến năm 1986) mà ông nắm giữ quyền lực tối cao.

Vai trò lịch sử của Lê Duẩn

Vai trò của ông trong lịch sử đất nước khiến người ta nghĩ đến những Hồ Quý Ly hay Minh Mạng, thậm chí là Trần Thủ Độ hay Nguyễn Ánh – Gia Long… Mặc dầu mỗi nhân vật có một bối cảnh, sứ mệnh lịch sử riêng, mà sự so sánh có thể là khập khiếng, song cũng giúp ta hình dung tầm vóc, vị trí của họ. Ông không phải là một nhà lập quốc nhưng ông có bản lĩnh và tầm vóc của kiểu người như thế. Ông luôn luôn là một thủ lĩnh thực sự, đúng với nghĩa của từ này, dù ở chiến trường miền Nam (trước năm 1957), hay khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị ký thác, trao giữ cương vị cao nhất của Đảng, kể từ năm 1960.

Nhắc đến Lê Duẩn, người ta thường nhắc đến những sự kiện, những dấu ấn của lịch sử như Đề cương Cách mạng miền Nam (1956), Nghị quyết 15 của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam tháng 1/1959 về đường lối cách mạng miền Nam, Chiến dịch Mậu thân – 1968, Chiến dịch Xuân – Hè năm 1972, Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, giải quyết “Vấn đề người Hoa” (1977-1982) và đến cả lý thuyết “Làm chủ tập thể” đầy “ảo vọng” (mà nay không còn được nhắc tới nữa) của ông, trong bão lốc quay cuồng của chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nước (1975-1978, 1979), của tình thế đất nước bị bao vây cấm vận và đói khổ tột cùng sau sự nghiệp Thống nhất và trước Đổi mới. Dấu ấn của ông là hiện thực, ngồn ngộn và nổi trội, đầy tính thuyết phục nhưng cũng nhiều luồng dư luận khen, chê, không trộn lẫn với ai được. Song vượt lên trên tất cả, ông là một nhân vật lớn, một tầm vóc lịch sử chỉ đứng sau Hồ Chí Minh ở Việt Nam khoảng giữa và nửa sau thế kỷ 20.

Trên lĩnh vực đối ngoại, Lê Duẩn nổi lên như một nhân vật hàng đầu trong những quyết sách của đất nước, từ những năm 60 của của thế kỷ 20. Nét điển hình trong tư tưởng và hành động của ông, ở phương diện đối ngoại, đặt trên nền cảnh lịch sử đất nước những năm 60, 70 và 80 của thế kỷ 20 có thể tổng kết là: Không sợ Mỹ; không sợ các các nước lớn (gồm cả Liên Xô, Trung Quốc); đặc biệt cảnh giác và kiên quyết với Trung Quốc.

Không sợ Mỹ bởi ông tin vào dân tộc đã từng đánh thắng những đế quốc hung bạo nhất của mọi thời đại, bởi ông rất hiểu Mỹ trong những tình thế cụ thể nhất của tên đế quốc này. Chính những người lãnh đạo như ông, cùng với nhân dân anh hùng, đã tạo nên trên chiến trường miền Nam những câu khẩu hiệu, những phong trào thi đua “giết giặc lập công” nổi tiếng: “Tìm Mỹ mà giết”, “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”… độc nhất vô nhị trên hành tinh này. Hãy thử tìm ở những nơi quân Mỹ tham chiến gây tội ác trên thế giới xem, chẳng đâu có những phong trào như vậy. Những tư liệu lịch sử cho thấy, cái khó khăn của Lê Duẩn và nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đối đầu với Mỹ không hoàn toàn bởi vũ khí và sức mạnh Mỹ, mà bởi thái độ của những nước đứng sau cuộc chiến của chúng ta, đó là Liên Xô, và đặc biệt là Trung Quốc với những tính toán khó lường của nước này. Song, khó khăn đó đã được ông hóa giải một cách ngoạn mục và mãi mãi là đề tài cho giới nghiên cứu lịch sử về sau.

Không ngại các nước lớn, không chỉ là Mỹ, mà còn là cả Liên Xô và Trung Quốc, hai bậc “đàn anh” trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ vị thế và lợi ích của mình, mỗi nước đều tìm cách tác động trực tiếp lên cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Trước đây, mặc dù có những giúp đỡ không nhỏ cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam nhưng Liên Xô và Trung Quốc đã hạn chế nền độc lập của nước ta chỉ ở phần phía Bắc vĩ tuyến 17. Khi Mỹ thay Pháp can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, Liên Xô, Trung Quốc lại một lần nữa tìm cách kiềm chế Việt Nam đánh Mỹ, để “đốm lửa nhỏ” Việt Nam không bùng lên thành “đám cháy lớn” nguy hại cho tham vọng của các đàn anh.

Là người thực sự nắm cương vị chủ chốt nhất của Đảng kể từ sau Đại hội III (1960), Lê Duẩn luôn hiểu sâu sắc tình thế bất lợi của cách mạng nước ta, nhưng vẫn tìm được cách tranh thủ sự ủng hộ cao nhất của cả hai nước đứng đầu khối Xã hội chủ nghĩa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bên cạnh thước đo về tình đồng chí và tinh thần quốc tế vô sản, ông nắm được chìa khóa của sự giúp đỡ từ Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam chính là những lợi ích của mỗi nước này trong cuộc mặc cả với Mỹ và phương Tây. Khó khăn lớn của cách mạng Việt Nam không chỉ bởi phải đối đầu với Mỹ, mà còn bởi những toan tính của mỗi nước Liên Xô, Trung Quốc trước cuộc chiến ở Đông Dương, và đặc biệt là mối bất hòa ngày càng nghiêm trọng, đi tới thù địch sâu sắc giữa hai nước. Lê Duẩn hiểu rất rõ tình thế ấy và ông đã thông thái đưa ra những xử lý quyết đoán, dũng cảm để hoàn thành mục tiêu độc lập, thống nhất cho nước nhà.

Xử lý mối quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc trong tình thế hai nước mâu thuẫn, thù địch nhau là một bài toán vô cùng khó của những người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Giống như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn không cực đoan, cũng không hữu khuynh. Khi trong phong trào Cộng sản quốc tế, người ta cô lập Trung Quốc thì ông gần Trung Quốc, người ta bài Liên Xô thì ông không ngại đứng cạnh Liên Xô. Gần giống với Hồ Chí Minh khi đi tìm đường cứu nước, dù Quốc tế Hai, Hai rưỡi hay Ba cũng được, miễn đó là tổ chức cách mạng bênh vực các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập, ông thân thiện với cả Liên Xô, Trung Quốc đúng nghĩa chủ nghĩa quốc tế vô sản, đồng thời với một mục tiêu duy nhất: Tìm kiếm sự ủng hộ lớn nhất để đánh Mỹ, giải phóng miền Nam.

Cảnh giác và kiên quyết với Trung Quốc, đó cũng là thái độ rõ rệt của Lê Duẩn với sứ mệnh người đứng đầu hệ thống chính trị của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ.

So với nhiều nhà cách mạng Việt Nam khác, ông trưởng thành từ cơ sở và là thủ lĩnh của cuộc chiến gian khổ ở miền Nam, hơn là ở chiến khu Việt Bắc. Kỷ niệm Việt Bắc của ông không nhiều, chủ yếu là khoảng thời gian tham dự Đại hội II của Đảng (1951). Ông muộn tiếp xúc với Trung Quốc và không có “duyên nợ” gì với Trung Quốc trong những ngày đầu cách mạng, nhưng lại là người nếm trải sớm nhất cùng với đồng bào miền Nam những đau khổ của cuộc chiến chống Mỹ dai dẳng, mà một trong những kẻ can thiệp để duy trì sự đau khổ đó chính là Trung Quốc thông qua Hiệp định Giơ-ne-vơ. Sau này, qua cuộc tiếp xúc đầu tiên của ông với Mao Trạch Đông tại Vũ Hán năm 1963 và qua nhiều cuộc tiếp xúc về sau với Mao và các nhân vật hàng đầu khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…), ông càng nắm rõ tham vọng và dã tâm của Bắc Kinh đối với Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Vì sao Hồ Chí Minh chọn Lê Duẩn?

Có người cho rằng Lê Duẩn được Hồ Chí Minh giao trọng trách Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam là muốn gửi gắm ước nguyện giải phóng miền Nam cho ông, bởi ông quyết liệt chống Mỹ (trong khi nhiều người khác quá thận trọng và e ngại Mỹ), đồng thời muốn cân bằng quyền lực Nam – Bắc để người miền Nam yên tâm đánh Mỹ. Song, có lẽ Hồ Chí Minh còn nhìn xa hơn thế, bởi nhận thấy Lê Duẩn không chỉ dám đánh Mỹ, mà còn dám đối diện với Trung Quốc. Ông không mắc nợ gì với Trung Quốc trong những ngày “rau măng cháo bẹ”, và tính cách của ông quyết liệt, lòng tự tôn dân tộc ở ông sáng rõ, mà đó lại là những tố chất cần nhất của một nhà lãnh đạo trong cuộc đối diện với Trung Quốc sau này.

Kinh nghiệm lịch sử cho ta bài học: Gia Long nhờ người Pháp (các sĩ quan hải quân), nhờ giáo sĩ Thiên Chúa để giành lại vương quyền từ tay Nhà Tây Sơn, nhưng cũng dùng Minh Mạng để ngăn chặn Pháp và kiên quyết với đạo Thiên chúa. Với Trung Quốc, Hồ Chí Minh vừa phải dựa vào để cứu nước, vừa lại nhìn rõ tim đen của những người đứng đầu Trung Nam Hải, không khác gì các Hoàng đế Thiên triều khi xưa. Nhưng ông đã quá thân với nhân dân Trung Quốc và bị ràng buộc bởi quá khứ đó. Ông cũng không thể tin tưởng những người đã ít nhiều duyên nợ cách mạng với Trung Quốc, bởi thế ông đã quyết định lựa chọn Lê Duẩn – một nhân cách thích hợp cho cuộc ứng phó với nước láng giềng vĩ đại phía Bắc sau này.

Đó là một sự lựa chọn có tính toán kỹ lưỡng và mang tính lịch sử cuối cùng của Hồ Chí Minh. Sau này, chính Lê Duẩn không chỉ là người lãnh đạo quyết liệt nhất cho ba cuộc tấn công nhằm giải phóng miền Nam: Cuộc tấn công Mậu thân – 1968 (nhưng chưa thành công), cuộc tấn công Xuân – Hè năm 1972 (góp phần buộc Mỹ rút quân) và cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1975 (thành công); mà chính Lê Duẩn cũng là người đứng đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Quốc năm 1979, để dạy lại cho Bắc Kinh bài học về bá quyền nước lớn.

Trong những ngày tháng này, khi mà quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn luôn luôn nóng và cực kỳ nhạy cảm, nguy cơ chiến tranh chưa bao giờ  nguộn tắt, chúng ta lại càng thấm thía sâu sắc khi đọc lại những gì về Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói, đã hành động kiên quyết với Trung Quốc từ cách đây hơn 3 thập niên.

Có thể nói, Lê Duẩn là nhân vật hàng đầu của Lịch sử Việt Nam hiện đại,  nổi bật trong ba nội dung lớn (theo cách nói của sử học trong nước), đó là: (1) Xây dựng (thành công?) miền Bắc (Xã hội chủ nghĩa) làm “hậu phương lớn” cho cách mạng cả nước; (2) giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc; (3) hóa giải nhiều mưu đồ và đập tan cuộc xâm lược quy mô lớn của Trung Quốc, (đưa dân tộc trở về với tâm thế lịch sử vốn có của nghìn năm trước, thoát khỏi giấc ngủ dài, đầy ác mộng bởi tình bạn “thắm thiết, chí tình” với người láng giềng phương Bắc).

Tư tưởng chiến lược và sách lược đối ngoại của ông, đặc biệt là việc xử lý mối quan hệ với Tam cường: Liên Xô – Mỹ – Trung Quốc cho mục tiêu cứu nước và giữ nước là bài học vô giá, còn nguyên độ nóng cho giới lãnh đạo và cho dân tộc Việt Nam hôm nay.

Tuy nhiên, đánh giá về ông là một công việc lớn và khó, đòi hỏi một tinh thần sử học nghiêm cẩn và dũng cảm.

Phạm Quốc Sử

(copy từ FB-Peter Nagy)

Saturday, October 8, 2022

Tin nóng: NHỮNG MỐI QUAN HỆ MỜ ÁM

Chồng bà Trương Mỹ Lan là Chu Nap Kee Eric, một doanh nhân người Hồng Kông. Bà Trương Mỹ Lan là người đứng đầu tập đoàn Vạn Thịnh Phát, một tập đoàn rất lớn nhưng khá kín tiếng. Ở Việt Nam, nếu không dựa vào chính trị thì không thể làm ăn lớn như vậy được. 

Các dự án bất động sản của Vạn Thịnh Phát đều có dấu ấn của một công ty kiến trúc tại Hồng Kông, quê hương ông Chu Nap Kee Eric. Đấy là công ty Kent Lui. Công ty này đã thiết kế hầu hết các dự án cho Vạn Thịnh Phát như Sai Gon Penisula, Sai Gon Times Square vv... Công ty này có trụ sở chính tại Hồng Kông và có chi nhánh tại toà nhà VTP Building, 193-203 Trần Hưng Đạo, Phường Cô Giang, Quận 1, TPHCM và nơi đây cũng là trụ sở chính của Vạn Thịnh Phát. Điều đáng nói là Công ty Kent Lui chỉ có một trụ sở chính và một chi nhánh duy nhất tại TP. HCM.

Công ty Kent Lui của Kiến trúc sư cùng tên vào năm 2002 đã từng thiết kế dự án Tuyến Metro Olympic Bắc Kinh. Để thiết kế được dự án cực lớn như vậy ở Trung Quốc Đại Lục ắt là có quen biết đến hàng Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Và đến năm 2010, công ty Kent Lui đã thiết kế rất nhiều dự án cho Việt Nam như Thủ Thiêm, Cảng Sài Gòn, cảng Bạch Đằng, Quảng Trường Times Square, đặc khu kinh tế Vân Đồn, Đặc khu kinh tế Vân Phong. Chính công ty Kent Lui hiện nay đang thiết kế 3 đại dự án cho Sunny World (công ty con của Vạn Thịnh Phát) tại Vân Đồn, Quảng Ninh trị giá lến đến hàng chục tỷ đô la.

Có vẻ như Vạn Thịnh Phát chỉ là cái vỏ cho một cánh tay nào đó từ nước ngoài, bà Trương Mỹ Lan và con cháu của bà đứng tên pháp lý, người có quyền lực thực sự ở tập đoàn này là ông Chu nap Kee Eric, chồng bà Lan. Chính ông này là cầu nối để những công ty có mối quan hệ với Bắc Kinh sang hỗ trợ. Việc Kent Lui nhúng tay vào Thủ Thiêm, Vân Đồn và Vân Phong cho thấy công ty này không đơn giản chỉ là doanh nghiệp thông thường. Có thể nó là một bình phong cho thế lực chính trị thì mới hốt được những dự án nhạy cảm như thế. Ai cũng biết, đụng tới Vân Đồn và Vân Phong và Thủ Thiêm là đụng tới ổ kiến lửa lòng dân Việt Nam, rất rủi ro.

Sự lớn mạnh của Vạn Thịnh Phát gắn liền với những ưu ái từ ông Lê Thanh Hải. Từ thời ông Lê Thanh Hải làm bí thư Quận 5 cho đến Bí thư Thành ủy thành phố. Cấp bậc của ông ông Lê Thanh Hải lớn lên thì Vạn Thịnh Phát cũng lớn lên. Đáng chú ý là năm 2008, ông Chu Vĩnh Khang lúc đó là Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc tới thăm TP. HCM. Một ông Bộ trưởng đáng lý ra làm việc với đồng cấp bên Việt Nam chứ thăm người đứng đầu chính quyền địa phương làm gì? Tiếp ông Chu Vĩnh Khang có Lê Thanh Hải và Nguyễn Văn Đua, hai trong ba nhân vật gây ra nỗi oan khuất cho bà con Thủ Thiêm. Ông Chu Vĩnh Khang được biết là trùm mật vụ của Trung Quốc là cánh tay phải của Hồ Cẩm Đào, tuy nhiên đến thời Tập Cận Bình ông Chu bị thất sủng. 

Càng ngày càng lộ ra là Vạn Thịnh Phát đang bị điều hành bởi thế lực nước ngoài. Ông Lê Thanh Hải khi còn nắm quyền lãnh đạo thành phố cũng có mối liên hệ với trùm mật vụ Trung Quốc, và ông Lê Thanh Hải hỗ trợ Vạn Thịnh Phát. Mối liên hệ quyền - tiền này dường như không giới hạn trong nước mà nó vượt ra ngoài biên giới Việt Nam. Việc bắt bà Trương Mỹ Lan không hẳn là vụ án kinh tế, kinh tế chỉ là lý do.

Liên quan đến Vạn Thịnh Phát có hai cái chết. Chắc mọi người còn nhớ cái chết của ông Phạm Quý Ngọ. Tại phiên tòa ngày 7 Tháng Giêng 2014, bị cáo Dương Chí Dũng đã khai tại tòa là vào năm 2010, ông đã giúp bà Trương Mỹ Lan của Công ty Vạn Thịnh Phát ở TP Hồ Chí Minh khoản tiền hối lộ 1 triệu USD cho Phạm Quý Ngọ - Thứ trưởng Bộ Công an. Và không lâu sau, ông Phạm Quý Ngọ chết rất kịp lúc vì bệnh “ung thư”. Cái chết thứ nhì là Chủ tịch Chứng khoán Tân Việt, thành viên Hội đồng Quản trị độc lập SCB Nguyễn Tiến Thành mới diễn ra cách đây vài ngày. Ông này chết đột ngột trong khi có thông tin bà Trương Mỹ Lan bị bắt là một dấu hỏi to tướng. Được biết, ông Thành là chồng của bà Tống Thị Thanh Hoàng - phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát.

Chết là không đối chứng, để cắt mạch điều tra một cách an toàn thì từ hàng ngàn năm trước, các thế lực chính trị đã biết cho người đó ngậm miệng vĩnh viễn là các tốt nhất để họ an toàn. Không biết nguyên nhân cái chết ông Phạm Quý Ngọ và Nguyễn Tiến Thành có phải là do bệnh hay không? Chỉ biết những người này chết thì sẽ đứt mạnh điều tra của Bộ Công an. Đặc biệt cả hai cái chết đều dẫn đến một cái tên duy nhất – Trương Mỹ Lan.

Việc chết làm đứt mạch điều tra chỉ có thể diễn ra với những vụ án cực lớn và liên quan đến những nhân vật cực khủng trong hệ thống chính trị, vì chỉ có những nhân vật làm to hay có mối quan hệ lớn có thể bí mật cho người khác ngậm miệng vĩnh viễn phải có quyền lực chính trị lớn mới làm được để không bị lộ. Trước đây, cái chết của ông Trần Bắc Hà cũng na ná với hai cái chết kể trên. Biết rằng, đã chết vì bệnh thì không ai có thể chọn được thời gian nhắm mắt, tuy nhiên cái chết là làm đứt mạch điều tra thì không thể không làm người ta nghi ngờ.

Rất nhiều người thắc mắc rằng, ông Lê Thanh Hải đã mất hết quyền lực chính trị, tại sao đã 7 năm sau khi không còn quyền lực mà ông Trọng chưa tống được ông này vào lò trong khi tội chứng đã hai năm rõ mười ở đại án Thủ Thiêm? Và mối quan hệ phức tạp của ông này cũng có thể cho người ta hiểu được phần nào ông Trọng lại cứ mãi vờn mà không tóm. Liệu lần này có tóm được ông Lê Thanh Hải hay không thì cứ đợi mà xem./.

Đỗ Ngà

Tuesday, May 3, 2022

Khmer đỏ và Tàu đỏ

Campuchia, đất nước có đến 10 tỉnh chung biên giới với Việt Nam trải dài trên cả ngàn km, từ lâu đã âm ỉ mầm mống bất hòa với láng giềng :

-Tháng 6/1969 lúc QĐNDVN đang khó khăn nhất, Lon Nol vừa nhậm chức Thủ tướng đã đâm nhát dao vào lưng Việt Nam bằng lệnh ngưng toàn bộ gạo và nhu yếu phẩm tiếp tế cho Việt Nam qua đường Campuchia.

- Ngay từ khi Mặt trận Khmer Đỏ mới hình thành, thủ lĩnh Khmer Đỏ là Pol Pot, vốn là du học sinh ngành điện thi rớt ở Paris, đã ngấm ngầm bất hợp tác với VN. Pol Pot bác bỏ thẳng thừng đề nghị của VN thành lập bộ chỉ huy quân sự hỗn hợp, trong cuôc thương thảo ở Hà Nội với TBT Lê Duẩn năm 1970, 

-1970-71, quan hệ giữa lính Khmer Đỏ và QĐNDVN ở những vùng mới giải phóng ngày càng căng thẳng. Quân Khmer Đỏ nổ súng vào sau lưng lực lượng QĐNDVN đang tấn công quân Lon Nol tại Kompong Thom (Theo báo cáo của CIA tháng 9 năm 1970,.(29) 

-Sang 1973, không những tàn sát kiều dân Việt Nam, mà họ gọi là “gián điệp”, Khmer Đỏ còn giết cả những đảng viên Campuchia có thiện cảm với VN. Trước khi Mỹ và Việt Nam ký Hiệp định Paris , Khmer Đỏ đã trục xuất những đơn vị quân đội Việt Nam từng giúp Campuchia đánh Lon Nol) đóng trên đất Campuchia về nước. Hiệp định Paris 1973 cũng đánh dấu thời kỳ Khmer Đỏ bắt đầu tấn công các vị trí quân sự Việt Nam, bệnh viện, và các căn cứ trong nội địa Campuchia. Phía Pol Pot giải thích đó là do sự “hiểu lầm và vô kỷ luật” của binh lính cấp dưới. 

-Hai nhân viên của Thông tấn xã Việt Nam bị “giết nhầm” khi đang tham quan tỉnh Kompong Cham tháng 10/1973.

-Tháng 8/1974, 71 cán bộ vùng phía Đông Campuchia từng tập huấn tại Hà Nội bị “tập trung học tập”, bị khiển trách nghiêm khắc phải trốn qua Việt Nam, 10 người mất tích. Số còn lại bị bắt, bị cưỡng bức lao động có giám sát. Tại Tây Nam Campuchia, 91 cán bộ từ Hà Nội về đã bị hành quyết tháng 9/1974. Một ít trong số đó sống sót, trốn thoát và chạy qua Việt Nam. 

-Tháng 2/1975, một nhóm cán bộ văn hóa của Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã bị phục kích bắn chết hết

-Ngay khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia ngày 17-4-1975, , Pol Pot, kẻ dân tộc cực đoan và thù hận sâu sắc với Việt Nam đã ra lệnh trục xuất tức khắc người Việt  khỏi CPC và phái quân đội tới sát biên giới. Bị Việt Nam phản ứng quyết liệt, hắn thừa nhận có hành động xâm lấn, tuy nhiên giải thích sự “đụng chạm đẫm máu và đau lòng” đó là do binh lính không biết rõ tình hình địa lý địa phương. 

-Từ 3- 5/5/1975, Khmer Đỏ đánh chiếm đảo Phú Quốc. Việt Nam yêu cầu rút, nhưng Khmer Đỏ không chấp nhận buộc Việt Nam phải phản công. Khmer Đỏ thanh minh “không biết đó là đảo của Việt Nam”. 

-Ngày 8/5/1975, Khmer Đỏ liên tiếp xâm nhập từ Hà Tiên, An Giang, Tây Ninh, Gia Lai, Kon Tum. 

-Ngày 10/5/1975, Khmer đỏ đánh phá đảo Thổ Chu bắt 500 dân Việt Nam. Khi Việt Nam trao trả 400 tù binh bị bắt ở Phú Quốc, Khmer đỏ hứa sẽ trao trả dân Việt Nam nhưng sau đó thủ tiêu hết. 

-Ngày 20/5/1975, Hội nghị Trung ương Khmer Đỏ họp đề ra ba chủ trương lớn: 1.”Làm trong sạch nội bộ nhân dân”, 2. xác định Việt Nam là kẻ thù số một truyền kiếp, và 3. xây dựng “xã hội mới” ở Campuchia: không chợ, không tiền bạc, không tri thức, không trường học, không tôn giáo, không đô thị. 

Một chương trình cưỡng bách lao động để tiến nhanh tới xã hội chủ nghĩa, mục đích làm cho Campuchia mau lớn mạnh để có thể “ngăn chặn kẻ thù làm hại chúng ta”. Chính sách kinh tế hợp tác xã nông nghiệp, thủ tiêu thương nghiệp ngày càng siết chặt triệt để. Mười ngàn người bị đưa về trại khổ sai công cộng nông thôn, bị buộc làm việc như súc vật, thiếu ăn, bị trừng phạt tới chết nếu hé răng than phiền vất vả. Dân thành thị bị coi là tiêm nhiễm tư tưởng tiểu tư sản, phải được thanh lọc bằng lao động chân tay. Những ai yếu sức thì coi như không ích lợi gì cho cách mạng Campuchia. “Có họ (dân thành phố) cũng chẳng được gì, không có họ cũng chẳng mất gì.”-là câu mà cán bộ Khmer Đỏ thường nhắc đi nhắc lại trong các buổi nói chuyện. Angka tuyên bố thà chỉ giữ lại từ một đến hai triệu người thật sự trung thành còn hơn duy trì từ sáu đến tám triệu “kẻ thù giai cấp”. Theo Pol Pot, những ai chống lại hoặc thắc mắc cũng là tay sai đế quốc hay gián điệp Việt Nam, cố ý phá hoại bước đại nhảy vọt của Campuchia. 

Theo nhà báo Nyan Chandra, “tháng 2/1976, một nhóm các nhà ngoại giao Âu, Ả Rập, Phi có cơ sở ở Bắc Kinh được cho phép thăm Phnom Pênh, họ thấy một thành phố ma, một nền kinh tế không có tiền tệ lưu hành, ngân hàng quốc gia đóng cửa và những chứng phiếu rãi rác, bay theo gió trên các đường phố. Họ không thể quên được khung cảnh này kinh hoàng như thế nào”. [425]. Hơn 2 triệu người dân Campuchia, bằng 1/3 dân số đất nước thời đó đã bị giết chỉ trong vòng hơn ba năm từ 1975-1978, Người dân bị xử tử, tra tấn cực hình như thời trung cổ . 

Đối với nước Việt Nam láng giềng, sự thù địch của CPC nhận được cổ vũ hết lòng của ông lớn đồng minh phương Bắc với lịch sử cả ngàn năm đô hộ Việt Nam. Chiến thắng năm 1975 dường như đem lại cho Trung hoa cơn ác mộng về một nước Việt Nam hùng mạnh và thống nhất. 

Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã rạn nứt từ lâu, nhất là sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Nixon năm 1972. Giữa lúc chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, thì thỏa thuận bắt tay “anh không động đến tôi, tôi không động đến anh” giữa Mỹ và Trung Quốc như dao đâm sau lưng, tạo điều kiện cho Mỹ đánh B52 Hà Nội, Hải Phòng. Năm 1974, Trung Quốc cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trước sự làm ngơ của Hoa Kỳ. Tuy giúp đỡ trong kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc một mực không muốn cho Việt Nam thống nhất đất nước. Rất nhiều lần Mao, Chu Ân Lai khuyên lãnh đạo Việt Nam không nên tấn công giải phóng miền Nam, ”phải trường kỳ mai phục, chổi ngắn không quét được dài”. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi lãnh đạo tai Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước.[426]) Sau chiến thắng 30-4-1975, nước Việt Nam đầy tự tín, quân đội hùng mạnh, được coi là đang bớt dần nghĩa vụ tôn kính với kẻ khổng lồ phía Bắc. 

Vào tháng 9-1975, vì những bất đồng trong xung đột biên giới, quan hệ thỏa thuận tay đôi với Liên Xô, và vấn đề Hoa kiều ở Việt Nam, TBT Đảng LĐVN Lê Duẩn đã rút ngắn thời gian thăm hữu nghị Trung Quốc. Đoàn rời Bắc Kinh hai ngày, ngay trước lễ kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc (1-10) mà không tổ chức tiệc đáp lễ, cảm tạ lòng hiếu khách của Trung Hoa như thông lệ ngoại ngoại giao, cũng không ký thỏa thuận chung, không đưa ra bất cứ phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. [427]. Đối với một Trung Hoa Đại Hán đã quen  quan hệ ngoại giao kiểu phục tùng triều cống từ ngàn năm của Việt Nam, thì những biểu hiện này bị coi là sự xấc láo bướng bỉnh khó dung tha. Việc Việt Nam củng cố mối quan hệ với Liên Xô, kẻ thù phương Bắc của Trung Quốc là một sự coi thường đặc biệt gây khó chịu. Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện tiên quyết Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.

Ngày 6/2/1976, trong khi đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội chính thức bày tỏ “quan ngại” về việc VN buộc nhóm thiểu số người Hoa ở miền Nam nhập quốc tịch, thì một quan chức quân sự hàng đầu của Trung Hoa lên đường thăm Phnom Pênh để bàn bạc thỏa thuận viện trợ quân sự. Wang Shangrong, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa báo với Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Son Sen, quyết định của Trung Hoa về việc cung cấp bộ phận rời cho pháo binh, thuyền tuần phòng, và trang bị phòng không. Ngày 2/10i, một thỏa ước viện trợ quân sự không hoàn lại cho Campuchia được ký kết. Việt Nam, một lần nữa, đứng trước đe dọa một cuộc chiến tranh. Tuy cố gắng kiềm chế, tránh xung đột, nhưng từ giữa những năm 1976, quan hệ Việt - Trung đã xấu đi rất nhanh chóng.

Đêm 30/4/ 1977, Khmer Đỏ bất thần mở cuộc tấn công lớn thứ hai vào các làng Việt Nam dọc toàn tuyến biên giới. Riêng ở An Giang, chúng tấn công 13/15 xã và 13 đồn biên phòng, tàn sát dân thường, đốt nhà cửa. Chỉ riêng cuộc tấn công vào Tịnh Biên cũng đã giết một trăm dân thường. Không một lý do nào được đưa ra. Chọn đúng ngày Việt Nam mới kỷ niệm thống nhất đất nước được hai năm, Khmer Đỏ muốn “chứng minh rằng người Campuchia có đủ khả năng đánh vào lãnh thổ Việt Nam" [428]

Dân Sài Gòn từ lâu đã nghe phong thanh từ những người sống sót trốn thoát về kể những vụ thảm sát rùng rợn của Khmer Đỏ dọc biên giới. Khi một nhà báo Hungary được cho phép tới tận nơi thuộc biên giói Tây Ninh lần đầu tiên, anh ta đã qua sốc vì không chuẩn bị tình thần để chứng kiến một quang cảnh kinh khủng như vậy. Từ nhà này qua nhà khác, những xác đàn ông, đàn bà bị cháy đen, sình to và xác trẻ em rải rác đây đó. Có xác bị chặt đầu, bị mổ bụng, có xác thì mất chân tay, bị móc mắt….Những hình ảnh đó chẳng có cơ hội được đăng tải do phóng viên đã bị công an Việt Nam tịch thu máy ảnh, cấm đưa tin. Việt Nam vẫn không tiến hành một cuộc phản công đáp trả nào. Thế giới bên ngoài chỉ biết rất mơ hồ về cuộc thảm sát này. 

Theo một số tài liệu (cần kiểm tra để xác nhận chi tiết này). thì tháng 7, Đại tướng Võ Nguyên Giáp công khai đi thị sát vùng biên giới, như một lời cảnh cáo ngầm cho phía Campuchia phải ngừng tiến công  Nhưng, theo nội dung của Sách đen, Pol Pot lại xem đó là một dấu hiệu của việc Việt Nam đang lựa chọn một chiến lược mới nhằm nuốt chửng Campuchia;

Ngày 28/9/1977, chuẩn bị kỷ niệm lần 28  Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hàng trăm ngàn dân Bắc Kinh được huy động đứng hai bên đường từ phi trường để chào đón thượng khách đặc biệt.  Khi chiếc Boeing 707 của Trung Quốc dừng hẳn, những lãnh tụ Khmer Đỏ trong trang phục áo đen cổ Mao tươi cười xuất hiện ở cửa máy bay. Pol Pot, lãnh tụ Khmer Đỏ lần đầu tiên ra mắt thế giới, nồng nhiệt bắt tay tám nhân vật lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc, tức là gần một phần ba các yếu nhân quyền lực trong Bộ chính trị, gồm cả Phó Thủ tướng mới được phục chức Đặng Tiểu Bình, đều chờ ở chân cầu thang máy bay, để bày tỏ tình thân hữu của Trung Hoa với nước Campuchia dân chủ. Pol Pot cùng Thủ tướng kiêm chủ tịch đảng Hoa Quốc Phong đứng trên xe mui trần chạy từ sân bay giữa đám đông khua chiêng trống, vẫy cờ giấy Campuchia, thả hàng trăm hàng ngàn bong bóng lên trời. 

Không mấy ai biết năm ngày trước đó, đêm 24 rạng ngày 25-9-1977, Khmer Đỏ huy động bốn sư đoàn mở một cuộc tấn công đẫm máu thứ ba dọc tất cả biên giới Tây Ninh (phía Bắc Mỏ Vẹt) và một số làng bên trong Việt Nam. Tại xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, 592 người dân Việt Nam bị giết hại. Chọn thời điểm trước chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Trung Quốc, các cuộc tàn sát ở Tây Ninh là món quà Pol Pot mang dâng cho Bắc Kinh cho chuyến đi hai ngày sau đó, chứng tỏ cho Trung Hoa thấy quyết tâm của Campuchia chống lại Việt Nam.

(trích từ Hồi ức về TƯỚNG CAO VĂN KHÁNH)