Showing posts with label Érdekes világ. Show all posts
Showing posts with label Érdekes világ. Show all posts

Monday, August 11, 2025

Nơi thời gian là cuộc sống

Ở Ý, tiết kiệm không đơn thuần là một chiến lược tài chính – đó là một thói quen đã ăn sâu vào đời sống, phản chiếu một cách nghĩ hài hòa giữa tận hưởng hiện tại và gìn giữ cho tương lai. Từ những vùng quê với hũ tiền xu giấu kỹ sau tủ gỗ, đến các gia đình thành thị cẩn trọng gửi từng khoản vào ngân hàng địa phương, người Ý từ lâu đã xem việc tích lũy là một phần của danh dự gia đình. Thói quen này được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ, bắt nguồn từ những thời kỳ khó khăn như hậu Thế chiến, khi tiết kiệm đồng nghĩa với sinh tồn và bảo đảm cho con cháu một khởi đầu tốt hơn.

Thế nhưng, khi lối sống này chạm mặt với mô hình tiêu dùng và đầu tư đậm chất Mỹ – nơi đồng tiền được thúc đẩy quay vòng nhanh, tìm kiếm lợi nhuận tức thời qua cổ phiếu, quỹ và đòn bẩy tài chính – sự đối lập hiện ra rõ rệt. Người Mỹ thường xem tiền là công cụ để gia tăng giá trị qua rủi ro tính toán, còn người Ý xem tiền là một thành quả cần được gìn giữ an toàn trước khi nghĩ đến việc mạo hiểm.

Sự khác biệt này không chỉ nằm ở con số trên bảng cân đối mà còn ở triết lý sống: bên kia Đại Tây Dương, “thời gian là tiền bạc”, còn ở Ý, “thời gian là cuộc sống” – nơi một bữa trưa kéo dài, một kỳ nghỉ gia đình hay ly espresso bên quán quen cũng là khoản “đầu tư” vào hạnh phúc. Trong khi thị trường tài chính toàn cầu ngày càng đòi hỏi sự linh hoạt, bản sắc tiết kiệm kiểu Ý vẫn kiên định, như một nhịp đập chậm rãi giữa bản hòa tấu gấp gáp của Wall Street.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Thursday, November 21, 2024

Nhân vật điện ảnh

Michael Corleone, do Al Pacino thủ vai trong bộ ba phim The Godfather, là một trong những nhân vật phản diện quyến rũ nhất trong lịch sử điện ảnh. Ban đầu, Michael được giới thiệu như một người bên lề trong gia đình Corleone, nhưng sự biến đổi của anh thành người đứng đầu gia đình tội phạm này vừa bi kịch vừa lạnh lùng. Ngay từ đầu, Michael quyết tâm sống tách biệt với các hoạt động phi pháp của gia đình, thể hiện hình mẫu Giấc mơ Mỹ với tư cách là một anh hùng chiến tranh được tôn vinh và hình ảnh gọn gàng.

Tuy nhiên, khi các tình huống diễn ra, sự tham gia của anh trở thành điều không thể tránh khỏi, và dần dần, Michael gánh vác trọng trách mà cha mình, Vito Corleone, đã để lại. Hành trình của Michael được thúc đẩy bởi cảm giác trách nhiệm đối với gia đình và khao khát quyền kiểm soát, điều này cuối cùng đã tiêu diệt anh. Những quyết định tính toán của anh và sự loại bỏ tàn nhẫn đối thủ, thậm chí là những người thân cận, cho thấy anh đã rời xa phương hướng đạo đức mà mình từng có.

Xung đột nội tâm của Michael, được đánh dấu bằng những khoảnh khắc hối tiếc thoáng qua, tạo thêm chiều sâu cho nhân vật, khi anh liên tục vật lộn với gánh nặng từ những hành động của mình. Điều khiến Michael Corleone trở nên không thể quên chính là sự phức tạp của anh. Anh không phải là một kẻ ác điển hình; sự thăng tiến của anh gắn liền với sự sống còn của gia đình, nhưng những hành động của anh lại dẫn đến sự cô lập và mất mát những người mà anh yêu thương nhất.

Cuối bộ ba phim, Michael trở thành một người đàn ông tan vỡ, bị đè nặng bởi những lựa chọn của mình. Câu chuyện của anh là một bài học sâu sắc về ảnh hưởng suy đồi của quyền lực và cái giá của tham vọng, khiến anh trở thành một trong những nhân vật bi thảm nhất trong lịch sử điện ảnh.

Bên cạnh đó, The Godfather không chỉ nổi bật nhờ vào diễn xuất của Al Pacino mà còn bởi cách xây dựng cốt truyện tinh tế, những cảnh quay đẹp mắt và các nhân vật phụ sâu sắc. Phim đã khắc họa rõ nét những mối quan hệ gia đình, lòng trung thành và sự phản bội, thể hiện bối cảnh xã hội phức tạp của thế giới tội phạm. Di sản của The Godfather và nhân vật Michael Corleone đã ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa đại chúng, trở thành biểu tượng của cuộc chiến giành quyền lực và cuộc đấu tranh nội tâm.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Sunday, September 1, 2024

Tản mạn về cung bậc khác của âm nhạc

PHƯỜNG BÁT ÂM VỢ CHỒNG LUYẾN DỤNG
- Cảm ơn cô Tấm đã cung cấp những câu ca trong bài này.
Giăng mắc cái sợi tơ mành
Cho muôn nỗi vấn Vương 
Giăng mắc cái sợi tơ mành
Cho trăm nhớ ngàn thương...
Tôi ấn tượng với lão về một câu chuyện hóm hỉnh lão kể cho tôi hôm uống bia cùng lão ở nhà ông Thìn. Một lần lão đang phóng xe thì bị cảnh sát giao thông tuýt còi, dừng xe, lão nói thản nhiên đến lạnh gáy: “Mẹ, các cậu thổi còi thì nộp phạt là cùng, tớ mà thổi thì có thằng chết !”, tay cảnh sát trợn tròn mắt, thấy là lạ và huyền bí, tò mò hỏi: “ Anh cho em biết anh thổi gì ạ?”, gã trả lời, vẫn lạnh tựa xác chết:” Thổi kèn đám ma! ”.
Cả đời lão không đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở phạm vi tỉnh Bắc Ninh rồi thả hồn ở cái làng Báng ( Đình Bảng), Từ Sơn, từ khi lọt lòng mẹ. Khắp cái tỉnh Bắc Ninh đều biết tên lão, bởi tiếng kèn đám ma gia truyền từ đời ông cha truyền lại. “Sống dầu đèn, chết kèn trống”, người dân ở cái xứ Bắc Kỳ này vẫn cứ giữ được cái tục “nghe” kèn khi chết, cứ làm như không có tiếng kèn tiễn mình thì không cất được cái linh hồn để thăng thiên vậy.
Lão Dụng, tên trong giấy khai sinh là Nguyễn Công Dụng, thật là khéo với hai chữ “ Công Dụng”, công dụng trong thuốc men thì không nói, công dụng trong tiếng kèn đám ma thì thật khó tả. Nó như liều thuốc tinh thần lần chót của hạ giới ban tặng cho kẻ xấu số để rồi người ra đi được sung mãn “ Tinh thần” trước khi phiêu diêu nơi cực lạc.
Thanh niên trong làng khi trưởng thành thì theo nhau đi học các trường lớp học nghề này nọ, riêng lão từ năm 6 tuổi đã bị tiếng kèn của ông bố thôi miên, suốt ngày mê mẩn với kèn. Hồi nhỏ, cậu thường giắt một cây kèn tiểu trong cặp quần, đi chăn trâu thì ngồi chễm chệ trên lưng trâu thổi lên những tiếng kèn ai oán đến trâu nghe xong, cũng phải đỏ ngầu đôi mắt, trời nghe xong thì khóc đến hồng rực chân mây. Nhiều khi ở trường, trong giờ nghỉ giải lao ra chơi ở sân, cậu bé cũng ngứa mồm đem kèn ra thổi, làm ông hiệu trưởng phải thốt lên:” Có thầy cô nào chết đâu mà em lại cứ thổi vậy?”. Con Thảo ở lớp thầy Thắng gào lên như nói giúp Công Dụng: “ Có thằng Lực con ông Hiểm chết đuối sáng nay thầy ơi !”, thầy hiệu trưởng kinh ngạc, rơi mịa cả kính...
Lần mà tôi lại “hân hạnh” được gặp lão là vào tháng trước, trong đám tang một bà cô vợ bên ngoại ở thôn Đoài. Khi cùng đoàn phúng viếng bước vào sân để viếng người quá cố, điệu nhạc nổi lên bài “Lưu Thủy Hành Vân” làm tôi giật mình! Vốn dĩ tôi cũng là một cây hơi sành điệu về nhạc điếu phúng, dân gian, nên tự hỏi:” Lão chơi bài này ở đây liệu có hợp?”, hay “ Bài này gồm có cả lời xưa mà tôi không thuộc?”, còn lời mới mà tôi thuộc lại là:
Anh chớ vội phiền lo lắng chi, 
Giờ có em bên mình,
Anh nên cố gắng sớm hôm miệt mài kinh sử
Ngày lên kinh xứng danh trên bảng vàng.
Lạ nhỉ, tôi bâng khuâng thắp nén nhang rồi cắm vào cái lư hương ở trên bàn thờ đặt ở đầu quan tài, cho đến khi bàn tay bị một nén hương đang cháy châm vào tôi mới sực tỉnh...
Tôi lùi ra, đứng bên cạnh dàn bi nhạc, ngắm ngía phường bát âm của lão, trống kèn nhị mõ phách đầy đủ cả, nhưng chỉ có lão và ba đệ tử bao sân. Dàn nhạc ngồi sau một cái phông bằng vải bạt màu đen có in nội dung quảng cáo bằng những dòng chữ màu trắng: “Đoàn nhạc hiếu Luyến Dụng là một ban nhạc đám ma được thành lập từ xa xưa với kinh nghiệm nhạc hiếu lâu đời. Chúng tôi chuyên phục vụ các đám tang ở Bắc Ninh Và các Khu vực lân cận. Liên hệ: 09XXXXXXXX.”
 Lão Dụng thổi kèn và kiêm cả nhị, dứt tiếng kèn ở một điệp khúc bi ai là lão cầm ngay cây nhị để lao vào điệp khúc thảm thiết, rồi chân lão kẹp mõ, lốc ca lốc cốc lấy điệu cho các đệ tử vừa chơi nhạc, vừa khóc lóc...Đệ tử “biểu diễn” khóc của phường hỏi ra chính là mụ Luyến, vợ lão. Mụ này vừa bỏm bẻm miếng trầu trong miệng vừa khóc lóc, kể lể cứ như người quá cố chính là mẹ mình, thỉnh thoảng mụ dừng lại nhổ toẹt nước trầu vào bình, hai ngón tay xoẹt hai mép, lau đi nước trầu đỏ rực đang dập dình phọt ra ở vìa mép rồi lại tiếp tục nghe theo điệu nhạc của lão mà khóc. Khi nhạc chơi tông cao, mụ cất giọng cao, khóc thét lên thảm thiết, khi nhạc dạo bè thấp, mụ về tông trầm, kể lể tâm tình với kẻ đã khuất rất thấu đáo, rất bi hùng, cứ thế mụ diễn cho đến khi giá trị tiền “Bo” vừa mãn...Phải công nhận, mụ nghe nhạc mà khóc phối một cách thần kỳ, “Thiên Y Vô Phùng” ( Áo trời may vừa vặn khít...).
Tôi nhìn lão Dụng, tuổi độ ngũ tuần, để hai ria mép, da mặt vàng vọt...tôi nghĩ rằng lão làm nghề này tiếp xúc với người chết và âm khí quá nặng nên da vàng là phải, nhưng định thần ngắm kỹ, thấy một luồng khí đen bao phủ trên đầu lão, tôi giật mình đánh thót, lo sợ cho lão, nhưng nghĩ lại, phải chăng âm hồn người xấu số bám lấy lão để tạ ơn hay sao? 
Ngắm qua loa vẻ ngoài của lão rồi tôi tập trung vào kỹ thuật “ Biểu diễn” của lão, lão phùng mang trợn mắt, thực sự là chuyên tâm hành nghề, tiếng kèn, tiếng nhị của lão nghe bi ai, mùi mẫn, lúc thăng thì như lời tấu than thân phận xấu số vọng lên tận cửa thiên đình, khi trầm thì như lời thỉnh cầu thống thiết chui tận xuống chín suối đến tận điện Diêm Vương, để rồi mong mỏi các Ngài thương tình tha cho những hình phạt kinh hồn, như cắt tai, moi mắt, luộc thân thể trong vạc dầu sôi sùng sục...Hơi lão quả là dầy dặn, hơn mịa nó tất cả những thằng nhạc công thổi kèn Saxophone ở khắp các dàn nhạc trong nước, à quên, trừ Quyền Văn Minh, đệ tôi. Tiếng kèn lên xa, bay bổng, trầm luân, liền một mạch dài không ngắt, nhưng kỳ lạ thay, ngực lão lép kẹp, cái phổi của lão chắc cũng chẳng to là mấy, mà sao hơi lại nhiều thế ?
Tuy rằng chưa đến nỗi già, nhưng tóc lão đã bạc trắng, những nếp nhăn vạch ngang dọc tự do trên khuôn mặt mỏng với cái mũi hếch nhìn trời, hàm răng lởm chởm tranh nhau làm đại ca mà màu răng thì vàng khè như tờ giấy vàng trong lễ tang. Thổi một hồi lần lượt các bài Lâm Khốc, , Xuân bắc, Xuân Nữ, Ngũ Hổ, Lưu Thủy xong lão gõ vào cái mõ ba tiếng:” Cốc, cốc, cốc” báo hiệu nghỉ giải lao, cả bọn dừng tay, cả bầu trời trở nên im ắng, một đồ đệ của lão bưng đến cho lão bát nước chè xanh, lão tợp một hụm rồi hỏi cái điếu cày để đâu?, Tên đệ tử ngó ngang ngó ngửa rồi phát hiện cái điếu nằm ngay dưới cỗ quan tài, nó chạy đi lấy về cho lão, lão vừa tiêm thuốc vừa nói, con mắt bâng quơ xa vời:” Chắc ông Sự thầy cúng hút xong lại đút mẹ nó vào chỗ ấy...”. Thằng Hiếu, con cậu Luận em trai vợ tôi chạy tung tăng đến nhìn lão hút thuốc lào, lão rít mà hơi cũng dài như khi lão thổi kèn, thằng Hiếu chẳng hiểu trời cao đất dầy, nó tán tỉnh ngây ngô:” Ông ơi, ông lấy kèn thổi bài “ Nổi lửa lên em” đi !”, lão trừng mắt:“ Mai mới đem đến lò hóa thân Hoàn Vũ, bây giờ nổi lửa cái con mẹ khỉ !”, kakaka, xem ra lão đúng là hóm hỉnh.
Thế rồi tin như sét đánh, hôm thứ năm tuần trước, tôi có nghe hung tin lão bỗng từ trần, còn ba đám tang đã đặt lịch mời phường kèn của lão đến thổi, thế mà lão lại ra đi. Trọng cái tình cái nghĩa của lão, đồng thời cũng là anh em trong giới " Âm" nhạc, , nên cậu em tôi là nhạc sĩ Nguyễn Trí Dũng cựu giám đốc dàn nhạc giao hưởng quốc gia cũng đến đưa tang lão cho thêm phần long trọng. Hôm qua sinh nhật Dũng, ngồi uống rượu thì Dũng có kể lại tình hình hôm đưa tang, vợ lão khóc thảm thiết: “Ới anh ơi, vợ chồng tình nghĩa keo sơn. Giờ đây đứt gánh giữa đường, em trông cậy vào ai, ối anh ơi...”. Oái oăm thay, vừa lúc ấy, một đám múa lân, sư tử ở làng bên đi qua, tiếng trống múa lân vang trời:” Tùng, tùng, tùng, tùng. Tùng, tùng, tùng, tùng, tùng tùng, tùng tùng...”, bỗng âm điệu tiếng khóc của mụ liền thay đổi ngay theo điệu trống sư tử:” Anh, anh, anh, anh ơi, anh, anh, anh, anh ơi, anh ơi, anh ơi, anh ơi, anh ...” .
Hahaha, đáng nể cái nghề khóc mướn theo nhạc điệu của mụ Luyến, một nghệ sĩ nhân gian bậc thánh. Ờ, mà mình viết thế đéo nào lại biến mụ Luyến thành nhân vật chính? Huhuhu, chỉ tại cái lão Dụng cưỡi Hạc qui tiên quá sớm !
“Tùng, tùng tùng, tùng  tùng, tùng tùng tùng, tùng tùng, tùng tùng' tùng tùng, tùng tùng...” “Anh, anh anh, anh ơi, anh, anh anh, anh ơi, anh ơi, anh ơi, anh ơi...” Tiếng khóc mụ Luyến thấu tận trời xanh.
Sau khi đưa chồng ra ngoài đồng, về đến nhà thì trời đã xẩm tối, bà con đi đưa đám chỉ ngồi lại được một lát rồi ai cũng đã về nhà nấy, mụ Luyến nằm vật vã trên chiếc phản lim kê giữa nhà. Sau lưng mụ là bàn thờ tổ và mới thêm cái ảnh của ông Dụng và cái lư hương mới, mụ nhìn cái kèn dăm đã dính môi chồng mụ vài chục năm nay đặt sau tấm hình của lão mà bùi ngùi, chua xót rồi lẩm bẩm: “ Con cái thì chẳng có, mỗi hai vợ chồng quấn quít bên nhau vui vầy với phường với bày, mới hôm trước thôi, ông còn hớn hở nhận lời thằng Hiển con lão Vạn, cho nó về theo phường để thổi kèn thay ông, giờ đã âm dương cách biệt. Ông bỏ lại gánh nặng cho tôi, làm sao mà tôi gánh nổi, hỡi ông Dụng ơi, ông Dụng ơi...”
Mụ bần thần cứ đăm đăm nhìn cái hình độc nhất của ông để lại trên bàn thờ, mà bức hình này chính tay thằng Hiển chụp cho ông cách đây chỉ hai tháng trước, với lời khuyên: “ Thầy nên chụp lại bức hình, phòng khi dùng đến”. Chẳng nhẽ thằng Hiển là đứa do nhà trời phái đến để đảm đương công việc thổi kèn ma chay thay cho chồng mình? Đôi mắt bà như kẻ vô hồn, nhìn mấy ngọn nến chập chờn trên bàn thờ:” Nghĩ mà tội cho cái thân ông, từ bé đã theo cái nghiệp này, vật lộn với người chết, với ma chay, chưa một ngày nào thảnh thơi ...” . Thì đã biết, ai ai cũng đều phải đi đến đoạn đường kết, con người sinh ra, sướng khổ, vẻ vang, quyền lực hay nghèo hèn đói rách đều giống nhau. Cuộc đời như một gánh hát tạm bợ, khi tàn canh, thần chết rồi cũng sẽ đến triệu mình đi…Suy nghĩ cứ miên man, miên man rồi mụ thiếp đi...
Hồn mụ chơi vơi giữa đất trời, bỗng bên tai vọng lại bản nhạc mà mụ quen thuộc nhất, bài “Lưu thủy kim tiền”. Bản nhạc này mụ nghe từ lúc còn ấu thơ, bởi mụ và lão Dụng cùng làng, cùng xóm, hai nhà cách nhau chỉ một cái vườn chuối. Có thể nói họ là một đôi thanh mai trúc mã, lớn lên cùng nhau từ khi còn mặc quần thủng đũng. Hồi đó, cứ buổi chiều, sau khi ăn tối xong. Ông Thiệp, bố lão Dụng thường hay tập hợp bọn phường kèn của ông ra sân tập rượt. Cô bé Luyến, đầu còn để chõm đang chặt rau lợn dở tay cũng bỏ đấy chạy sang, đứng lấp ló sau bụi chuối để nghe họ chơi nhạc. 
Bài” Lưu Thủy Kim Tiền” là một bài mà cô thích nhất, nó lên cao xuống thấp, véo von trầm bổng nhuần nhuyễn hài hòa giữa trống, kèn, nhị, phèng, rồi bỗng chốc tiếng sáo trúc cất lên xé tan mảnh trời đang chuyển thành màu đen, bản hợp tấu quá hay, quá da diết, da diết một tình quê, da diết một nỗi lòng, da diết một tình yêu đang lớn dần theo thời gian giữa Luyến và Dụng, hai hồn quê thơ ngây, dại khờ, từ bé đã đẵm mình trong cái hồn của bát âm dân gian, trong chốn đi về thiên cổ.
Thời gian thoi đưa, rồi một buổi sáng mùa xuân, khi những nhánh Đào nở hồng ở đầu cổng nhà nàng, trong lúc nàng đang nước mắt nước mũi ê chề trên khuôn mặt nhọ nhem bởi vừa vùi đầu trong bếp đốt lửa cho nồi cám lợn thì bỗng nghe tiếng xôn xao ngoài ngõ. Bà Hồng, một bà mai mối chuyên nghiệp của khu làng Báng bỏm bẻm miếng trầu, thướt tha trong bộ cánh mớ ba mớ bảy xuất hiện ở cổng nhà nàng rồi gọi vọng vào:” Bố mẹ con Luyến có nhà không?”, rồi một đoàn người sùng sục đi thẳng vào gian giữa nhà nàng, bố mẹ nàng chạy ra đon đả mời mọi người ngồi. Khi mọi người đã yên vị, bà Hồng đứng dậy, đặt một mâm gỗ đã sắp sẵn trầu, cau, chè, thuốc, bánh kẹo, hoa quả lên bàn thờ gia tiên họ Lý, bà thắp nén nhang cắm vào lư hương , vái ba vái rồi quay sang ông bà Thiệp nói:” Thưa ông, thưa bà, số là thằng Dụng, con Luyến chúng nó phải lòng nhau từ bé, nay cũng đã nhớn khôn, chúng tôi đại diện họ nhà giai hôm nay sang để thưa với ông bà xin phép ông bà cho con cháu Luyến về làm dâu họ Nguyễn Công vào ngày mười tư âm lịch tháng sau, xin phép ông bà phê duyệt cho ạ !”. Bố mẹ Luyến chỉ biết gật đầu, ông bà chỉ có một mụn con gái, họ sống thật thà, hiền lành như đất, họ biết được nhà ông Thiệp có nghề bát âm, công việc cũng bề bộn, ngữ con Luyến có gả sang nhà ấy thì không sợ bị đói, còn có công có việc mà làm.
Hồn mụ tiếp tục phiêu du, tiếp tục nhìn thấy những kỷ niệm đã khuất...Mụ nhớ nhất hôm mười tư tháng Chạp, lễ cưới được tổ chức cũng nổi đình nổi đám lắm, nhưng mụ cũng chẳng tỏ tường cho lắm, bởi nhà họ Lý mụ vẫn theo phong tục cổ xưa, cô dâu trang điểm xong, cùng bẩy chị em thân thiết ngồi trong phòng tối, đợi đến giờ nhà giai sang đón dâu. Đúng giờ hoàng đạo, vào lúc chập tối. đám rước bên trai tưng bừng kéo đến, đi đầu là cụ Chánh, năm nay đã ngoại chín chục cái mùa nóng lạnh, cụ là người nhiều tuổi nhất làng, hôm nay, nhà giai mời cụ đóng vai chủ hôn để thừa hưởng phúc ấm của cụ.
Sau các nghi lễ bên nhà gái, cô dâu Luyến ngây thơ được bên chú rể rước về nhà chồng, cô liếc mắt nhìn bố mẹ, thấy nước mắt tràn trề trên khuôn mặt mẹ, bố cô mắt cũng hoen đỏ, bỗng một nỗi niềm cảm xúc trào dâng, cô chạy đến ôm mẹ mình khóc nức nở. Chú rể Công Dụng đứng ngẩn người nhìn, tay mân mê cái Calavat màu đỏ thắt hơi khít trên cổ…bịn rịn một hồi rồi Luyến cũng cùng đoàn đón dâu về nhà chồng. Bước qua một chảo than đỏ để ở trước cửa nhà, cô dâu Luyến như bước qua một quãng đời mới, cô đi vào nhà, làm tiếp các thủ tục vợ chồng và từ hôm ấy, Luyến trở thành vợ Dụng.
Về nhà chồng rồi thì nhẽ ra cô dâu chú rể phải động phòng, nhưng Luyến chờ đợi một đêm, hai đêm, ba đêm...một tháng, hai tháng ba tháng...một năm hai năm ba năm...Cũng chẳng thấy mẩy may một giọi tình đến từ cái anh chàng Dụng. Luyến chỉ mong được đẻ cho chồng một tấm con, ý nghĩ này cứ xoay vòng quanh trong đầu Luyến mãi cho đến khi một hôm Công Dụng nói rõ ngọn nguồn...Hồi bé, đi chăn trâu, cái lần mà Dụng không may trượt chân từ bờ đê cao rơi tận xuống chân con đập bằng xi măng, đã làm gẫy cả cái củ tình, sống được đã là may...
Luyến nghe xong ngậm ngùi...Nàng hứa sẽ yêu chồng hơn, chăm sóc chồng hơn, rồi nàng theo chồng bắt đầu học các nhạc cụ, nhưng Dụng phát hiện năng khiếu của Luyến trong cách bộc lộ tình cảm nên khuyên Luyến đảm nhiệm công việc “ Khóc” trong dàn nhạc hiếu của gia đình. Lúc đầu nàng chỉ khóc lóc theo cảm xúc, rồi dần dà biết lấy những câu khóc thực tế vận dụng vào hoàn cảnh của gia chủ. Sau này, Luyến làm chuyên nghiệp hơn, khi nhận đám thì tất tưởi đến tận nơi, hỏi thăm cặn kẽ từng người thân với người đã mất mà phác họa trong óc những lời khóc khác nhau. Hai vợ chồng bàn nhau, để Dụng soạn sẵn nội dung, Luyến cứ căn cứ theo tiếng nhạc mà khóc cho nó chuẩn. Thế nên mọi người đã “may mắn” nghe được phần biểu diễn của mụ Luyến ngày nay đã xuất quỉ nhập thần, lúc nỉ non, lúc réo rắt thắt lòng thắt dạ, ngắt nghỉ theo nhịp điệu nhạc, ngân nga giống hơn cả khóc thật. Vậy nên mới có chuyện mụ khóc chồng theo nhịp điệu trống sư tử cái hôm đưa lão Dụng ra đồng.
Đời mụ không phải chỉ có tiếng khóc, lão Dụng tuy rằng bên ngoài lạnh băng như xác chết, đặc biệt là khi đang “chỉ huy dàn nhạc”, khó mà nhìn thấy lão nhoẽn miệng cười, dù chỉ là một nụ cười nhỏ tí ti. Nhưng khi về đến nhà, lão hay đùa vui với vợ, biết vợ bị thiệt thòi trong việc sinh nở, rồi lại làm cái nghề chết tiệt này, nên cứ có dịp là lão lại kể cho vợ nghe những mẩu chuyện vui mà lão thu thập được. Ấn tượng nhất với mụ là khi lên giây cho cây nhị, lão hay lặp đi lặp lại một đoạn thơ tục mà lão thích nhất:
Đang đêm vác súng (chứ) lên đồn
Anh bắn một phát (ấy) nó mới dồn xuống khe
Hát đến đây, lão liếc mắt âu yếm nhìn mụ Luyến rồi tiếp tục:
Ơi hỡi cô nàng, nhổm dậy mà nghe
Anh bắn phát nữa,(chứ) tóe loe cả ...ồn
Chữ ...ồn cuối cùng lão luôn nhấn mạnh, rồi nhìn bà Luyến, hai vợ chồng lại cười như nắc nẻ...
Một luồng gió lạnh đánh thức mụ dậy trong lúc mụ đang chìm đắm với những kỷ niệm ngọt ngào...Mụ lại nhìn lên ảnh lão Dụng trên bàn thờ, ứa lệ, mũi cay cay...ngoài kia, mưa bắt đầu rơi...mụ nhớ lại bài hát hai vợ chồng hay hát đối với nhau...
Vì sao? Tính trước có a gặp tình
Vì sao? Tính trước có a gặp tình
Giăng mắc cái sợi tơ mành
Cho muôn nỗi vấn vương
Giăng mắc cái sợi tơ mành
Cho trăm nhớ, ngàn thương...
Ới ông Dụng ơi, là ông Dụng ơi, nhớ quá ông ơi, sao ông nỡ bỏ tôi mà đi???...Dụng ơi ! Nước mắt mụ lại dàn dụa tuôn trào, ừ mà lạ, khi khóc cho người dưng thì mụ lại kể lể đâu ra đấy, khóc cho chồng mình, mụ cứ như bị nghẹn ở cổ, phải chăng thiếu mất đi tiếng nhạc của chồng mụ???
Thương cho cái nhà chị Luyến, thương quá cơ !
Giăng mắc cái sợi tơ mành
Cho muôn nỗi vấn vương
Giăng mắc cái sợi tơ mành
Cho trăm nhớ ngàn thương...

PP

Saturday, July 27, 2024

Jó érzés

"Jó érzés egyben lenni. Semmitől sem félni, csak hinni abban, hogy amíg a szíved után mész, minden rendben van, és bármi rád szakadhat, úgyis túléled. Nem árthat senki, mert aki belül erős, annak egy pletyka, mások rosszindulata nem árthat. Egyébként is...Egyetlen mosollyal mindent agyon lehet verni...Mindent."


Márai Sándor

Thursday, July 4, 2024

Ngày Quốc khánh Mỹ và những chuyện trong thế giới mafia

Trí tuệ của Mafia

Tối qua, thằng con nuôi gốc Việt Lão Lò A Dính mời bố An, bố Đỗ Vũ đi ăn tối rồi uống rượu ở quán Sky36 - Lounge, Sky Bar & Event Venue kỷ niệm ngày quốc Khánh Mỹ cùng bố. Ngồi trên không nhìn thành phố Đà Nẵng lại nhớ New York, nhớ cảnh đêm hoành tráng, nhưng nhớ nhất những người anh Ý gốc Mỹ. 

Một lần trở về New York đưa cô Tấm về thăm Little Italy. Hai vợ chồng vào ăn ở quán ăn Ý Paesano, 136 Mulberry St. Vừa hay nhìn thấy Al Pacino ngồi một mình lặng lẽ uống rượu ở quầy bar. Trông anh già đi quá nhiều, tiều tụy và mệt mỏi, khác hẳn với nửa thế kỷ trước khi anh trong vai Michael Corleone, trẻ trung, điển trai và rất Ý. Al Pacino là một diễn viên mà lão rất ưa thích và hâm mộ từng bộ phim anh đóng. 

Nhờ tiếp xúc nhiều với các đàn anh Ý nên lão PP cũng học được nhiều tính cách ưu việt của họ trong cuộc sống. Không bê tha hạ đẳng, yêu gia đình, vợ con, ga lăng với phái nữ, tôn sư trọng đạo, kính trọng các bậc tiền bối, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp. Và một nguyên tắc mà thủy tổ Vito Cassio Ferro đã đặt ra khiến tính cách của một người đàn ông Ý thêm chất quý ông, cao sang mà lạnh lùng. Đấy là Omerta - The Order of Silence, hay còn gọi là “secrecy sworn to by oath” hay “code of silence”. Chính vậy nên các bạn cũng đã từng thấy lão PP tức giận nổi xung với những đàn em không có tôn ti trật tự, hống hách, kiêu căng và ồn ào.

Quy tắc im lặng (Omerta) là một trong những điều răn cao nhất trong Mafia, bất kỳ thành viên nào cũng không được xâm phạm hay vi phạm. Và quy tắc này không chỉ đơn giản là giữ im lặng.

Các thành viên Mafia đều biểu hiện điềm tĩnh một cách siêu nhiên mà người bình thường không thể có được khi gặp bất kỳ hình thức thẩm tra nào. Ngay cả khi đối mặt với những mối đe dọa nguy hiểm nhất và sự sỉ nhục tàn khốc nhất, họ vẫn có thể bình chân như vại, tĩnh lặng và tự tin, không bao giờ sợ hãi hoặc bị lăng nhục mà giận dữ. Họ không tự ti cũng không kiêu ngạo, lời nói thâm sâu khiến đối phương phải e dè. Đặc điểm nhân cách nhẫn nhịn kiềm chế bản thân này chính xác là khí phách đặc trưng của người đàn ông lý tưởng trong nền văn hóa Sicilia Địa Trung Hải của châu Âu.

Anthony Vigoda, một người anh đã nâng đỡ lão nhiều nhất, anh cao ráo lịch thiệp, và có những ưu điểm đặc trưng kể trên. Anh từng đưa cả lão đi dự một cuộc họp nội bộ của các ông chủ trong hiệp hội thương mại Mỹ - Ý nhưng theo lão đây vẫn là một cuộc họp hàng tháng của các bang phái Mafia còn sót lại. Cuộc họp dưới sự chủ trì của một “Chủ tịch hiệp hội” có lẽ là một Đường Chủ (bang chủ) của một bang phái xã hội đen Ý. Đường chủ có khuôn mặt đẹp như Chúa Giê Su, đầy sâu lắng, ân huệ và tự tin. Ông mặc một bộ đồ màu đen, ngồi trên một chiếc ghế cổ trông ông vững vàng như núi Thái Sơn, ánh mắt ông sắc lạnh, nhìn bao quát mọi người, khi ánh mắt bắt gặp một cậu bé Việt Nam ngồi bên Anthony Vigoda thì trở nên dịu dàng và đầy thiện cảm. Ngoại hình và khí chất của ông gần giống như nam thần Hollywood Keanu Reeves. Ông hầu như trầm lặng ít nói trong suốt quá trình, ngay cả khi ông ta nói cũng nhẹ nhàng, từ tốn, không có chút gì bốc đồng vô nghĩa, xem ra ông là một Đường chủ có vẻ rất khôn ngoan, tinh tế và đầy năng lượng. 

Những điều cấm kỵ

Trong Mafia Mỹ và Sicilia, “Made man” là một người đã hoàn toàn được công nhận là thành viên chính thức của Mafia. Để trở thành "made", một điều kiện đầu tiên phải là người Ý hoặc người gốc Ý và được bảo lãnh bởi một người “Made man” khác.

Có những quy tắc nghiêm ngặt cho các thành viên chính thức trong Mafia. Một trong những nguyên tắc là: Phải tuyệt đối tôn trọng vợ của mình, đồng thời không bao giờ được thèm muốn chim cò vợ của người khác. Theo như Anthony Vigoda kể lại, đã từng có một Made man bị chứng thực có ăn nằm với cô em dâu mình và bị hành quyết. Khi phát hiện cơ thể bị vứt ven sông Hudson, trạng thái vô cùng ghê tởm, bộ phận sinh dục của anh ta bị cắt và bị nhét vào mồm. Hy vọng các nông hộ hãy nhìn gương này, đừng có ý định chim cò các phu nhân của nông hộ khác, bởi lão đã giao nhiệm vụ hành xử theo tiêu chuẩn trên vào đôi cánh tay lông lá của Tạ Trí…kkk

Ngoài ra, hầu như không có phụ nữ trong mafia mà thường có những trường hợp phụ nữ làm thủ lĩnh tạm thời. Những người phụ nữ này thường là con gái hoặc vợ của các thủ lĩnh cấp cao trong Mafia, họ sẽ tạm thời đảm nhiệm vị trí lãnh đạo khi chồng họ vào tù hoặc gặp chuyện bất hạnh.

Huyết thống Sicily

Trong thế giới của mafia, máu mủ (bloody) luôn là điều kiện tiên quyết cho tình anh em (brotherhood), một người phải mang dòng máu Ý mới có thể trở thành người của mafia. Có nghĩa là, ngay cả khi một người đã làm việc cho Mafia trong nhiều năm, vẫn có khả năng "không phải người của mình" hoặc ở lại trong gia tộc chỉ với tư cách là một cộng sự.

Trong bộ phim "Bố già", người quân sư của gia đình Corleone là người con nuôi gốc Đức. Ở đây, có một chút chân thực và chút kịch tính. Mọi người xem và tự nhận ra, nhưng phải nói rằng, từ góc độ tâm lý xã hội, lịch sử đẫm máu và nước mắt của những người Sicilia từng bị các chủng tộc ngoại lai khác nhau cai trị hàng nghìn năm khiến họ có xu hướng tin tưởng vào đồng bào hoặc dòng tộc của mình, và họ không quan tâm đến các giá trị khác có cùng tầng lớp. Quy luật im lặng (Omerta) nói trên thực sự có thể được tạo ra theo tâm lý văn hóa như vậy.

Gia tộc và danh dự

Cơ cấu tổ chức của Mafia dựa trên các đơn vị gia tộc, điều này trong phim “Bố già” biểu hiện tương đối rõ nét. Trên thực tế, ngoài 5 gia tộc nổi tiếng, ở Mỹ còn có hàng vạn Mafia lớn nhỏ và 9 gia tộc lớn nhất hợp thành một ủy ban tối cao để đưa ra phán quyết cuối cùng.

Mỗi gia tộc có một Boss, tương đương với người đứng đầu của hội tam hoàng “Long đầu tọa quán”, và là người đứng đầu gia tộc Mafia. Cấp dưới trực tiếp của BOSS là UnderBoss, tương đương với CEO, chịu trách nhiệm lập kế hoạch và thực hiện các quyết định của Boss. Vị trí thứ ba là Consigliere, tương đương với một quân sư, có nhiệm vụ hoạch định chiến lược, đưa ra các đề xuất, các quyết định trong tình hình hỗn loạn, hàng ngày đứng đàng sau hỗ trợ Boss về mọi mặt. Những người này đa số là bậc quỷ tài, mưu sâu kế hiểm, thông minh tuyệt đỉnh. 

Cấp dưới của ba tầng ra quyết sách hàng đầu là một số hội đoàn lớn. Mỗi đội quân được dẫn đầu bởi một Capo (Đường chủ), người chịu trách nhiệm chỉ huy bang phái mình thực hiện các cuộc tấn công và chấp hành nhiệm vụ. Cấp dưới của Capo là Soldier, để đạt được cấp độ này cũng khá là vinh dự đối với người bình thường. Tiền đề để trở thành một Soldier là phải trở thành một Made man chính thức. Quá trình này sẽ rất khó khăn và lâu dài, và sẽ mất ít nhất đến tám hoặc mười năm để có cơ hội đạt được. Hơn nữa, có sự kiểm soát chặt chẽ về số lượng, và phải được Underboss đề cử, và sự chấp thuận cuối cùng của Boss mới có thể trở thành thành viên chính thức.

Khi một người trở thành Made Man, đồng nghĩa với việc người đó có rất nhiều tiền, có quyền lực lớn và xuất thân thâm hậu mà người bình thường không thể sánh bằng. Hầu hết các cộng sự đều ở cấp thấp nhất và phải tuân theo Soldier. Họ có số lượng đông đảo, trải rộng khắp nơi trong xã hội và đang phấn đấu để trở thành thành viên chính thức. Những người không phải là người Ý cũng có thể trở thành cộng sự (Associate), nhưng không thể trở thành thành viên chính thức.

Trong thế giới của mafia, cấp dưới phải phục tùng cấp trên của họ hoàn toàn và vô điều kiện, họ phải cố gắng hết sức mình để thực hiện các quyết sách của cấp trên, ngay cả khi bản thân phải hy sinh cũng không hề tham sống sợ chết. Những kẻ không phục tùng đều bị trả giá. Mô hình quản lý với quyền hành pháp siêu mạnh và hành động quyết đoán này đã cho phép Mafia, với tư cách là một tổ chức thiểu số, mở ra một cục diện lớn không thể tưởng tượng và khối tài sản khổng lồ ở Hoa Kỳ.

Lão nhắm mắt cũng có thể nghĩ đến hàng chục doanh nghiệp quy mô lớn thành công do các thành viên của Mafia điều hành, hoặc dưới mô hình quản lý của Mafia. Ví dụ, một ngân hàng đầu tư đa quốc gia lớn, cơ cấu quản lý và phong cách điều hành của nó có thể thành công như vậy, gần như hoàn toàn nhờ vào sự khôn ngoan của Mafia.

Ngoài ra, hàng trăm năm nay, có một số sản nghiệp, luật bất thành văn đều được khống chế dưới bàn tay của Mafia mà nhà nước cũng đồng thuận để họ làm. Đơn cử như vệ sinh môi trường, đổ rác chẳng hạn. Hàng ngày New York và các thành phố lớn thải ra vô vàn tấn rác thải. Điều hành và làm công việc này nằm trong tay người Ý. Không có một sắc tộc khác có thể tranh giành về mình công việc này. Tất nhiên lợi nhuận từ công việc này vô cùng lớn và cũng cần đến một sự quản lý thông minh và khoa học. Thêm một ví dụ nữa, người Ý khống chế cả việc nuôi và cung cấp thịt gia cầm chủ yếu như gà, lợn, bò. Lão biết một anh bạn người Việt ở New York, lớ ngớ mua vào một trại chăn nuôi gà, hòng cung cấp thịt gà cho thị trường. Bởi không biết rõ tương quan bên trong ngành này nên anh ta đã sạt nghiệp một cách ngoạn mục. Mỗi ngày gà sinh sôi nẩy nở hàng triệu con, thịt ra không ai mua, đổ rác vô vàn tấn gà xong mới tìm hiểu ra, thịt gà nằm trong khung khống chế của dân Ý, phải là người Ý mới có thể kinh doanh mảng này. Vậy là chỉ ngồi đấy mà khóc với gà. Điên tiết, anh ta cho vài mồi lửa đốt mẹ nó hết thảy những kho chuồng trại nuôi gà rộng lớn mênh mông và chuyên tâm cảnh tác rau xanh cung cấp cho các siêu thị người Việt. Tính ra thiệt hại về tiền về sức lực và thời gian khôn lường. 

Lão PP nhờ lực đẩy của các đại ca, sau mười năm đến Mỹ đã là một doanh nhân tương đối có tiếng ở phố Tầu New York. Ngoài công việc làm ăn riêng, lão còn quản lý một rạp chiếu bóng của công ty Golden Harvest Ltd. Rạp chiếu bóng nằm cách Little Italy chỉ hai con phố, địa chỉ chính xác là số 91 Bowery Street. Hàng ngày phải phát hành phim của hãng đến toàn nước Mỹ và Canada, và phải trông coi đối nội như máy móc, phim nhựa, nhân viên, đối ngoại với các xã đoàn, khách khứa, và cả các bang phái ở Chinatown. Nếu không có các đàn anh Ý, lão không thể làm tốt được công việc của mình. Những rạp chiếu phim khác thành tụ điểm của các bang phái vào đấy hút sách, rượu bia, xem phim miễn phí rồi cà khịa thanh toán lẫn nhau. Nhưng ở rạp lão, tất cả đều nằm trong nội quy của rạp. Như lão đã kể, có lần phải nhờ đến Mafia Ý dắt những con chó  Pit Bull hung dữ và súng ống ập vào rạp dọa cho các con giời đái ra quần. Từ đó bất kể bang phái Tầu nào đều ngoan ngoãn xếp hàng mua vé vào rạp và giữ trật tự yên lặng xem phim. 


Tạm dừng ở đây. Nếu các nông hộ vẫn muốn đọc thêm về bang phái và xã hội đen thì lão sẽ chiều tới bến. Đèo, tiền thì không nhiều, nhưng mối duyên tình với xã hội đen thì rất nhiều. Bởi lão đã từng chấp bút chuyên viết về đề tài này cho báo chí Hồng Kông. Một người biết tiếng Hồng Kông, suýt mất mạng khi chơi với lửa, ra vào chốn thâm cung, ngồi đàm đạo với Đường Chủ các bang phái khác nhau nhưng qua được những cơn hiểm nguy bởi đằng sau là các đại ca gốc Ý. Lại một nữa xin cúi đầu cảm tạ các huynh trưởng Italian mà lão đã dựa bóng.

PP

Saturday, June 29, 2024

Nữ hoàng Cleopatra

Năm 17 tuổi, Cleopatra trở thành Nữ hoàng Ai Cập và trị vì cho đến năm 39 tuổi. Bà ấy là một người đa ngôn ngữ, vì bà ấy nói được chín thứ tiếng, bao gồm tiếng Ai Cập cổ đại và các ngôn ngữ của người Parthia, tiếng Do Thái, tiếng Medes, tiếng Troglodytes, tiếng Syria, tiếng Ethiopia và tiếng Ả Rập. Điều này có nghĩa là bà ấy có thể đọc bất kỳ cuốn sách nào trên thế giới.

Bà cũng rất am hiểu nhiều môn học như địa lý, lịch sử, thiên văn học, ngoại giao quốc tế, toán học, thuật giả kim, y học, động vật học, kinh tế, v.v. Mặc dù nhiều cuốn sách của bà đã bị thiêu hủy trong một trận hỏa hoạn nhưng một số phương thuốc thảo dược và mẹo làm đẹp của bà vẫn tồn tại.

Ngoài ra, kiến ​​​​thức về ngôn ngữ của bà cho phép bà tiếp cận được nhiều giấy cói hiện đã bị thất lạc. Ảnh hưởng của bà đối với khoa học và y học được đánh giá cao trong những thế kỷ đầu của Cơ đốc giáo, khiến bà trở thành một nhân vật vô song trong lịch sử nhân loại.

Sưu tầm onl

Friday, January 12, 2024

Lời Của Gió

NGÔN NGỮ TỪ NHỮNG VÌ SAO

Chiêm tinh học là một loại ngôn ngữ. Nếu bạn thông hiểu nó, bầu trời sẽ nói chuyện với bạn.

Dane Rudhyar

Tất cả chúng ta đều mang trong từng tế bào của mình những mẫu thức của những vì sao đã tắt. Về cơ bản, con người là hậu duệ của những vì sao, gắn bó mật thiết với bầu trời. Tìm hiểu khoa học về mối liên hệ này là học cách hiểu ngôn ngữ của các vì sao và ngôi sao của mình, đánh thức & giúp chúng toả sáng mạnh mẽ nhất trong suốt cuộc đời mình, thắp sáng số phận của mỗi người và giúp ích cho những người khác*.

Cung mệnh của các vì sao đã trở thành 1 phần thuộc về thế giới của chúng ta. Trong cuộc sống, những người bình thường cho rằng: kiến thức cao siêu về khoa học của các vì sao chẳng liên quan gì đến họ. Họ chỉ quan tâm đến những câu chữ rõ ràng về cuộc sống của mình ntn khi thuộc về cung mệnh của chòm sao đó để thay đổi bản thân theo cách nào sao cho tương lai tươi sáng hơn.

Người đời chưa tin vào các cung hoàng đạo, nhưng lại muốn biết về ảnh hưởng của khoa học liên quan đến các vì sao trong cuộc sống của mình. Họ ko muốn tìm hiểu sâu xa về các thuật ngữ, các cung vị trong chiêm tinh học, song lại muốn biết tất cả những gì liên quan đến cung hoàng đạo của mình bằng phương thức đơn giản nhất là mua sách hoặc tìm thông tin từ net.** 

(*): Viết theo Giải Mã Ngôn ngữ 12 Chòm Sao của Đinh Trần Tuấn Linh & Nhóm tác giả Chiêm tinh số (Hoàng Thuý Hiền, Minh Phương, Nguyễn Vân)-Asbooks & Nhà Xuất Bản Thế Giới phát hành (2022)

(**): Trích từ 12 Mảnh ghép Vũ Trụ (Asbook & NXB Lao Động phát hành-2013)

Hình ảnh: Chọn từ net

Friday, January 5, 2024

Lẽ sống - Cách giải quyết khó khăn sẽ giúp ta sống ý nghĩa hơn

Ta trao ý nghĩa cho cuộc đời không chỉ thông qua những hành động khi đáp lời, mà còn có thể đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống như một người đại diện tích cực, vừa như một người tràn đầy tình thương trong sự dâng hiến dành cho cái đẹp, cái vĩ đại, cái thiện. Nhưng tại sao việc trải nghiệm cái đẹp lại có thể khiến cuộc đời trở nên ý nghĩa.

Hãy hình dung bạn đang ngồi trong một khán phòng, lắng nghe bản giao hưởng yêu thích nhất, âm nhạc khiến bạn xúc động đến nỗi như có cơn run rẩy chạy dọc sống lưng. Bây giờ hãy hình dung trong khoảnh khắc ấy có ai đó hỏi rằng cuộc đời bạn có ý nghĩa gì không. Chắc chắn trong trường hợp này, bạn chỉ có thể đưa ra một câu trả lời đại loại: “Cuộc đời tôi có ý nghĩa vì đã được sống trong chính khoảnh khắc này!”.

Những người không thưởng thức nghệ thuật mà tận hưởng thiên nhiên có lẽ cũng có cảm giác tương tự như vậy, và cả những người trải nghiệm việc tìm hiểu người khác cũng vậy. Ta không biết được thứ cảm giác bất thình lình ập đến với sự hiện diện của một người đặc biệt là gì, và ta diễn dịch cảm giác ấy một cách đại khái: việc người ấy tồn tại trong thế giới này, chỉ việc ấy thôi đã khiến cho thế giới và cuộc đời trở nên có ý nghĩa.

First News Trí Việt

Saturday, December 23, 2023

Tìm hiểu về thế giới nhà Phật

 PHẬT PHỐI NGẪU 

“Ấy vậy mà Phật giáo Nepal có tạo tác một pho tượng gây ra nhiều tranh cãi thị phi vì liên quan đến tính dục. Pho tượng Phật miêu tả một người nam và một người nữ ở tư thế làm tình, có nhiều lý giải rằng đó phương pháp tu đặc biệt của những bậc du già thượng thừa trên vùng Hy Mã Lạp Sơn, thông qua tính dục để đạt tới sự chứng đắc giác ngộ… Quả thật nhìn pho tượng này hầu hết mọi người đều phê phán nặng nề. Tôi thật sự không dám lạm bàn gì về pho tượng cũng như phương pháp tu thượng thừa của các bậc du già. Ở đây chỉ nói về phong cách nghệ thuật của pho tượng qủa là thật táo bạo, độc đáo, rất đặc biệt, rất hiếm có thể nói là pho tượng Phật độc nhất vô nhị trên thế giới này” (trích từ Steven Nguyên).

Tôi nhớ cách nay mấy ngày, tôi có đọc một bài viết của anh Steven Nguyễn giải thích sự khác biệt về hình tượng Phật của các tông phái Phật Giáo; đặc biệt có đề cập đến hình tượng “Phật phối ngẫu” (hai vị Phật nam nữ ôm nhau); nhưng tác giả không dám bàn đến vì sợ nhiều phật tử “ném đá” do nghĩ đây là bức tượng phỉ báng PG chăng? mặc dù ta vẫn thường thấy các chùa mật tông Tây Tạng hay Nepal đều có thờ hình ảnh vị Phật “phối ngẫu” trong các chùa mật tông với khói hương nghi ngút. Vì thế, tôi mạo muội viết vắn tắt về đề tài này dù biết là đề tài khá tế nhị được chỉ dạy trong giáo lý của Phật Giáo mật tông.

Tôi cảm ơn tác giả đã giải thích rõ ràng về các hình tượng khác nhau thờ cúng tại các chùa nam tông, bắc tông hay mật tông. Thông thường, cách thờ cúng trong chùa ở các quốc gia, các tông phái PG cũng khác. Thí dụ, chùa VN, TH có chánh điện thờ Phật Thích Ca, phía sau là phòng thờ cúng hương lịnh với tượng Địa Tạng Bồ Tát. Chùa nam tông có chánh điện thờ Phật Tích Ca; đặc biệt có thêm phòng “sima” (giới luật) để chư tăng cùng làm lễ sám hối, tụng giới mỗi tháng. Chùa mật tông có chánh điện thờ Phật có hình tướng hiền như Thích Ca, các vị tổ mật tông như Liên Hoa Sinh, Tống Lạt Ba; phía sau thờ các vị Phật mật tông có hình tướng dữ, nam hay nữ như Phật Heruka hay Phật nữ Vajrayogini hoặc là Phật phối ngãu mà không phải bất cứ ai cũng có thể vào phòng thờ này vì đã gọi là mật thì không dành cho đại chúng.

Hầu như các vị tu sĩ PG nam tông hay bắc tông đều rất bất bình về hình tướng các vị Phật mật tông do nhiều sự ngộ nhận. Nơi đây không thể trình bày đầy đủ về giáo lý mật tông mà chỉ đề cập đến tượng Phật “phối ngẫu”. Có nhiều tông phái mật tông; đại khái chia làm hai gọi là mũ vàng và mũ đỏ (hay đen). 80% PG mật tông theo mũ vàng thuộc tông phái Gelupa có nghĩa là giới đức. Chư tăng thuộc tông phái giới đức thọ giới tỳ khưu (+250 giới) mà một trong đại giới là sống đời độc thân. 20% PG mật tông theo mũ đỏ thuộc các tông phái khác không có thọ giới tỳ khưu nên có thể lập gia đình, có con như người cư sĩ tại gia. Mặc dù Đức Đạt Lai Lạt Ma đứng đầu các tông phái mật tông do ngài có thọ pháp (initiation) của các tông phái mật; nhưng trên thực tế, ngài là vị tu sĩ thuộc tông phái “giới đức” sống đời độc thân.

Vậy hình tượng Phật “phối ngẫu” là gì trong PG mật tông? đặc biệt là cho chư tăng thuộc tông phái giới đức sống đời độc thân? Theo PG nói chung, dù nam tông hay bắc tông, điều kiện “cần” và “đủ” để hành giả giác ngộ là thực hành đầy đủ 2 pháp “từ bi” và “trí tuệ” ví như con chim có hai cánh để bay. Từ bi thuộc về thế gian pháp, nhân duyên là chân lý tương đối (relative truth) cứu độ chúng sanh; đôi khi hiểu là pháp “phương tiện” tượng trưng cho “động” biểu tượng dương, nam. Trí tuệ thuộc về tâm, giác ngộ lý vô ngã, tánh không là chân lý tuyệt đối (absolute truth) nên có tính “tịnh” còn hiểu là âm, nữ. Nếu theo đạo Lão là lưỡng nghi (âm dương). Sự hợp nhất cả hai là trở về trạng thái ban đầu “thái cực” hay trạng thái an vui cực lạc Niết Bàn trong PG. Vì thế, hợp nhất “âm dương” diễn tả qua hình tượng “phối ngẫu”.

Phương pháp tu tập mật tông cũng khác với nam tông và bắc tông. Thí dụ, các tông phái PG thường áp dụng thiền chỉ (samadhi=concentration) và thiền quán (vipassana=meditation) thì mật tông vừa dùng pháp “phương tiện” (dương, nam) đưa "thần thức" di chuyển trên các mạch từ trên đầu và hạ bộ cùng vào nơi tim với trí tuệ tánh không (âm, nữ). Sự hợp nhất này làm cho hành giả đạt tới trạng thái cực lạc an vui Niết Bàn (great bliss) mà chỉ có người chứng đắc mới cảm nhận được. Phương pháp tu tập này có thể thực hiện được trong nhiều trường hợp. Thí dụ, lúc thiền, lúc ngủ và lúc chết. Đó là lý do mật tông PG có pháp thiền định lúc lâm chung dành cho hành giả tu theo mật tông mà nhiều người thường hiểu “Bardo” là “thân trung ấm” sau khi lâm chung. Thực ra, Bardo là “các giai đoạn thân-tâm thay đổi chuyễn tiếp” liên tục trong đời sống; kể cả khi chết hay sau khi chết và tái sanh. 

Tóm lại, hình tượng “Phật phối ngẫu” là “cụ thể hóa” khái niệm về sự hợp nhất của 2 chân lý tương đối (relative truth) và tuyệt đối (absolute truth); nói cách khác là hợp nhất “từ bi” và “trí tuệ”, là sự chứng đắc Niết Bàn, an vui cực lạc (great bliss). Hành giả muốn thực hành pháp này phải dự lễ truyền pháp (quán đảnh) “tối cao” gọi là du già tối thượng (highest tantra) từ một vị thầy có đầy đủ phẩm hạnh làm lễ quán đảnh với nhiều “nghi lễ phức tạp” qua nhiều ngày và thực hành 100% thời giờ tối thiểu ít nhất là 3 năm “nhập thất” thì mới gọi là có một chút hiểu biết, kinh nghiệm về sự tu tập “phối ngẫu” bằng không thì chỉ có tính cách tham dự cho biết qua nghi lễ hình thức bên ngoài có tính cách “cầu xin Phật gia hộ”.

Hau Dang Tan (Trang Văn Chương Miền Nam)

Saturday, February 11, 2023

Bước chân đầu tiên

Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân. Với người Việt, bước chân đầu tiên là bước tới đại sứ quán để xin Visa. Muốn đi Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ, Úc mình đều phải xin visa, Và chờ đợi có khi hàng tháng trời để được biết kết quả, đôi khi có thể là sự từ chối. Khác nào mình bị đang cầm tù không thể bay ra thế giới ngoài kia. 

Sống ở Nhật bản, đất nước có cuốn hộ chiếu quyền lực nhất thế giới. Mình có chút chạnh lòng không thể mua những vé máy bay giá rẻ khi vừa nhìn thấy như lũ bạn mà còn phải chờ kết quả visa, thường là rất sát với ngày bay. Tất nhiên, thêm vào đó còn là những khoản phí để có được những visa đắt đỏ, có nơi lên đến gần 200 đô. Mình còn phải mất thời gian đi xin giấy tờ và cung cấp cho họ bất kì những thông tin gì họ cần: xác nhận ngân hàng, xác nhận công ty, xác nhận lí lịch, xác nhận thu nhập, đôi khi là kết quả khám sức khỏe, trình độ tiếng anh vvv. 

Thật mệt mỏi phải không, nhưng mình vẫn làm vì mình biết rằng mình xứng đáng được nhìn thấy nhiều thứ tuyệt vời trong cuộc đời này.

Q U Y E N J A V I (FB)

Thursday, May 6, 2021

Dòng sông linh thiêng

 Nước sông Hằng từ trời đổ xuống

Tạm biệt Delhi với tâm trạng đầy mâu thuẫn xen lẫn thương cảm cùng ức chế, lão đi tiếp trạm sau trong chuyến phiêu lưu này. Lão nghĩ, đã gọi là hành hương thì phải chịu chút gian khổ. Như Đường Tam Tạng vậy, phải trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn. Lão cũng muốn nếm mùi gian khổ nên quyết định ngồi tầu hỏa đến Varanasi. Mục tiêu của chuyến tới này là tắm nước sông Hằng và viếng thăm vườn Sarnath (Lộc Uyển). Từ Delhi đến thành Varanasi dài 682 km nhưng phải đi mất gần 12 tiếng đồng hồ.

Trên tầu, có lẽ thượng đế an bài. Lão ngồi cùng khoang với một phụ nữ trung niên Ấn Độ rất dịu dàng, thanh lịch và trí tuệ. Bà từ Anh quốc về đây và cũng đi tắm sông Hằng dịp này. Cử chỉ, ngôn từ của bà khi nói chuyện, đều toát ra một vẻ cao sang. Lão đoán bà thuộc tầng lớp trên của xã hội Ấn Độ. Khi biết lão là người Việt Nam sống ở New York nhiều năm, bà rất tôn trọng. Bà nói con gái bà cũng lấy chồng New York có vài công ty phần mềm ở Thung lũng Silicon, gần trăm công nhân, đa số là người Ấn Độ và có mướn nhiều người Việt làm việc.

Khi lão hỏi bà ta rằng, tại sao nước sông Hằng ô nhiễm và bẩn như vậy mà mọi người vẫn đổ xô đến đấy tắm rửa thậm chí uống, còn chứa vào chai lọ đem về khắp nơi trên thế giới? Bà ta điềm tĩnh, đầy tự tin nói một câu mà khiến đầu óc đang tối tăm của lão bừng sáng: ”Anh không thể lý giải sông Hằng từ bề mặt vật chất. Sự thánh khiết của sông Hằng nằm ở khía cạnh tinh thần, không phải vật chất”. Ôi, sao lại có một lời giải thích nhẹ như làn gió nhưng làm thức tỉnh sự nghi vấn phàm trần trong lão. Lão thấy mình kém thật sự, có vậy mà không nghĩ được ra...kkk

Đến ga Varanasi, vừa bước ra khỏi toa tầu đã thấy cậu bé của khách sạn đứng ngay đúng toa để đón lão, tài thật. Cậu bé tay cầm một cái bìa viết tên một người và ngơ ngác nhìn xung quanh. Đọc tên lão đoán đây là một đàn ông da trắng. Quả nhiên là vậy, một ông Tây béo phệ vất vả lê bước, trên lưng còn địu một ba lô to đùng lừ lừ tiến lại. Ba người ốp vào nhau trên chiếc xe Tuktuk bé tí và lao đi.

Trời vừa tờ mờ sáng, hàng quán hai bên đường dần dần tấp nập. Nhìn kỹ thấy đường phố cũng chẳng khác gì một số nơi ở Delhi, bẩn thỉu, nhếch nhác, thậm chí kinh tởm hơn. Ông Tây chắc ngửi thấy mùi hôi thối nên rút ra một điếu thuốc xì gà nhưng không có bật lửa. Cậu bé dừng xe, chạy vào một cửa hàng mượn diêm. Lão Tây ngắm nhìn người đứng trong quầy hàng và hỏi cậu bé, người kia là nam hay nữ hay between? Cậu bé ừ à một hồi chẳng biết nói gì trong họng rồi bật ra một câu “No English”. Thôi xong, xe đi tiếp, lão Tây phì phò điếu thuốc có vẻ khoái chí. Lão PP lúc ấy mới lên tiếng :”Xem người ấy như ái nam ái nữ, ông có thích không?”. Lão Tây giật mình “You speak English?”. Rồi hai người tán chuyện tùm lum về các em chuyển giới ở Thái Lan. Lão Tây này người Úc, quanh năm chỉ đi du lịch, lão kể đã từng bị người chuyển giới ở Thái Lan “xâm phạm tình dục”. Lão PP hỏi đùa, thế lỗ nhị của cậu có “nở hoa” không? Cười đùa một hồi lâu thì nhìn thấy sông Hằng và đã đến khách sạn.

Đây là một khách sạn nhỏ nằm bên bờ sông Hằng, đứng ở ban công bạn có thể ngắm cảnh sông rất rõ ràng. Khách ở đây đa số là người nước ngoài, những Tây ba lô đùm to đùm nhỏ dáng trông mệt mỏi, có lẽ họ mới trở về đây từ Nepal. Lão đặt vali trong phòng rồi nóng lòng bước xuống, mở cửa đi ra vài bước đã đứng bên bờ sông. Đây chính là con sông mà người theo đạo Hindu vô cùng tin yêu vào sự thánh khiết trong lành được hình thành bởi những giọt nước từ tóc thần Shiva nhỏ xuống.

Lão bước theo bậc tam cấp xuống tận bên sông, mặt nước vẩn đục, những tảng rác lững lờ trôi, mặt sông cũng không rộng như bạn tưởng, rõ ràng đây không phải là dòng sông để ngắm cảnh, mà để dùng vào việc tâm linh. Nước sông nơi đây có đoạn chuyển hướng rất thần kỳ, hướng chảy chuyển từ Nam sang Bắc và chỉ ở đoạn Varanasi. Bờ tây của sông là Ghat kéo dài vài km. Ghat là các bậc tam cấp bằng đá kéo từ bờ đến ven sông. Hầu hết các Ghat là bãi tắm, và một số là bãi hỏa táng. (burning ghat), một số để đi đến đền thờ và một số dùng để phơi quần áo. 

Lão đang loay hoay xem liệu mình có can đảm lao xuống tắm không, bởi đã thấy nhấp nhô người đến tắm. Bờ tắm phía Tây đông người hơn bởi đa phần các tín đồ đều ngoảnh mặt về hướng đông khi tắm. Lão thấy một số người kính cẩn khoát nước lên đầu cho nước từ từ chảy xuống, họ còn đưa nước lên miệng kính cẩn uống từng ngụm. Một số người nhìn lão có vẻ như nhìn một thằng ngốc, chắc họ nghĩ “Hắn đến đây làm gì? Sao không đẫm mình xuống đây?”. Lão đang lúng túng thì một chàng trai bản địa bước xuống, cậu ta nói nếu anh sợ tắm ở đây tôi lấy thuyền đưa sang bờ Đông tắm, ở đấy sạch hơn. Lão nghĩ, mình còn ở đây hai hôm, tạm gác lại chuyện tắm, tính sau.

Lão lên đường đi về hướng Nam, một em bé bán hoa lẽo đẽo đi theo nài mua hoa. Lão nói “No”, cô bé nói “Yes”, cứ thế giằng co một đoạn dài, lão móc túi cho cô bé hai tờ 1 Đô la, cô bé rời đi. Lập tức một ông lão gầy gò quấn một chiếc khăn vàng trên đầu bước thấp bước cao đuổi theo lão phun ra một tràng tiếng Nhật lục cà lục cục. Lão PP trả lời bằng tiếng Anh, giọng dứt khoát, tớ không phải người Nhật, không xem đâu. Lão già tưng hửng bỏ đi.

Chim câu bay lượn trên bầu trời, những chú bò thong dong rảo bước, mấy chú dê núp dưới bóng râm, còn những con khỉ lượn lờ tìm xem liệu có quả chuối nào đâu đây. Varanasi quả như một vườn thú. Chính thế nên bước đi cần cẩn trọng, nhìn kỹ mặt đất để tránh không giẫm chân lên “bom”. Không khí hầm hập sặc mùi nước đái của loài vật, loài người. Mặt đất loang lổ những vết phân chưa quét sạch. Một cậu thanh niên bịt kín đầu chỉ hở đôi mắt đang cầm chổi quét mặt đường như đang múa kungfu. Một trưởng lão râu tóc trắng xoá quấn trên đầu chiếc khăn đỏ chót, quàng trên người mảnh chăn cũng đỏ chót đang ngồi trên bậc đá giở báo ra xem. Những kiến trúc lộn xộn nhưng đủ màu sắc, những con người đủ kiểu, mỗi người một vẻ, công nhận ở đây có vẻ riêng biệt của nó.

Buổi chiều lão quyết định đi thăm vườn Lộc Uyển, Sarnath  cách Varanasi 10 cây số. Sarnath là thánh địa nơi Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp đầu tiên, có thánh tích và bảo tàng Phật giáo. Lão gọi một chiếc xe Tuktuk để đi đến đó. 

Bảo tàng được bảo vệ chặt chẽ, khách tham quan phải đi qua cổng an ninh. Ở đây có nhiều tượng phật còn lại trong thời cực thịnh của Phật giáo và vẫn còn khá tinh xảo . Trong phế tích nhìn thấy Bảo tháp Dhamek cao 34 mét đầy ấn tượng, lão thấy tim đập mạch, nơi đây Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu bài giảng đầu tiên. Vào lúc hoàng hôn, những tín đồ sùng đạo ngồi trên bãi cỏ dưới bóng râm của chiếc tháp khổng lồ, họ đối mặt với bảo tháp và im lặng thiền định. Liệu họ có nghe thấy lời thuyết pháp của Đức Phật cách đây hơn 2500 năm đang vọng về ? Cái gọi là phế tích thực ra đã biến thành một công viên với thảm cỏ xanh rờn. Lão thực sự rất thích nơi đây.

Tại sao lại gọi nơi này là “Lộc Uyển”? Tương truyền, ngày xửa ngày xưa, có một vị vua thích săn bắn hươu nai nên Hươu đại vương mới ra lệnh cho những con hươu bốc thăm, hàng ngày có một con phải hiến thân để vua bắn giết, làm vậy để bảo vệ những con hươu khác. Bằng cách này, nhà vua dễ dàng bắn được một con hươu mỗi ngày và trở về cung điện một cách mãn nguyện. Một hôm, khi đang chuẩn bị giương cung nhắm bắn, bỗng nhà vua ngắm thấy con hươu đực khí chất lộng lẫy phi thường, mắt con hươu ngấn lệ buồn bã. Nhà vua ngạc nhiên, kìm lại cất cung tên đi và ngắm nhìn con hươu thật kỹ. Lúc này, con hươu đột nhiên thốt lên bằng tiếng người tâu với vua rằng mình là đại vương của loài hươu, vì hôm nay một con hươu cái bắt phải thăm để vua bắn chết và con hươu đó đang mang thai. Hươu đại vương không nỡ để con hươu cái kia hiến mạng, như vậy sẽ chết thêm một con hươu bé trong bụng. Chính vậy, con hươu đại vương này mới quyết định chết thay cho hươu cái kia. Nhà vua nghe xong rất cảm động và kể từ đó ra lệnh không bao giờ được phép săn bắn hươu trong khu vực này nữa, vì thế Sarnath đã trở thành thiên đường của loài hươu, cái tên Lộc Uyển cũng từ đấy mà có. Rõ một câu chuyện nhân văn trên đất Phật.

Tối nay hơi mệt nên lão hoãn đi xem lễ hiến tế sông Hằng mà muốn đi ăn một bữa ngon lành, uống một chút rượu và nghỉ ngơi. Lão truy tìm trên “Tripadvisor” thấy giới thiệu nhà hàng Ganga Fugi có những món ngon được bình luận nhiều điểm và quyết định đến đấy xơi một chầu cho sướng cái thân. Nhà hàng này cũng gần khách sạn lão ở, nằm gọn giữa những tòa nhà cổ kính chen chúc trên một con đường độc đáo tuyệt đẹp trong khu phố cổ. 

Lão thấy cũng gần nên đi bộ đến đấy. Bước đi trong lúc trời xẩm tối, mò mẫm trong những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, nhưng cứ thót tim nhìn kỹ mặt đất sợ trúng “bom”, lão thấy một ông Tây tay xách nách mang, mắt đăm đăm nhìn mặt đất chân bước như đang nhẩy điệu múa sạp để tránh những đống cứt khiến lão nực cười. Đi vào một cái hẻm nhỏ, bỗng lù lù một cái bóng to tướng phò phè từ sau đi đến chạm vào lão, nhìn kỹ hoá ra “Bò đại nhân”. Lão đi nép sát vào tường để chú bò đi qua những vẫn bị cụ ta cho một chưởng bằng quất cái đuôi cứng cáp suýt vào chỗ hiểm của lão. Lão hết hồn kêu lên, ông Tây đi sau cười ha hả có vẻ khoái nhưng lại quan tâm hỏi “ Are you ok?”. Mẹ, chuối thật!

Đến nơi, lão gọi một xuất cơm gà nấm và hai chai bia. Ăn uống no nê xong lão ra đường trèo lên một xe Tuktuk để về khách sạn. Trời tối quá không dám đi bộ, sợ lại gặp ông bò, nhưng sợ những trái bom sống dưới mặt đường hơn. Nhìn bên bờ sông Hằng, thấp thoáng bóng người lô nhô đang ngồi xổm thả “bom”. Ớn thật, quả là một kỳ quan khó hiểu.

Xe đến khách sạn, lão chưa vội lên phòng ngủ mà đi ra bậc đá ngồi đấy ngắm nhìn sông Hằng vĩ đại. Bây giờ là lúc lão tĩnh lặng trong tâm để nghĩ sâu về Hằng Hà. 

Theo lão được biết, ở Ấn Độ, hầu hết các tín đồ Ấn Độ giáo có bốn thú vui lớn mà họ ước mơ trong đời là: Sùng kính Thần Shiva, tắm và uống nước thánh của sông Hằng, kết bạn với các vị thánh nhân, và được sống ở thánh địa Varanasi. Sông Hằng nuôi dưỡng người dân hai bên bờ những dòng sữa ngọt ngào ( nghĩ về phần hồn của nó), cùng với tín ngưỡng sùng đạo, họ coi đây là dòng sông thiêng liêng và thánh thiện. Họ tin rằng sông Hằng là hóa thân của thần và bao ngàn năm nay, lòng tôn thờ sông Hằng của họ bất di bất dịch. 

Sự tôn thờ này nghe nói bắt nguồn từ một câu chuyện huyền thoại. Thuở xa xưa, sông Hằng dữ dằn và thường xuyên gây ra lũ lụt, tàn phá ruộng đồng màu mỡ, giết hại sinh mạng. Để cầu mong được bình an, vị vua thời bấy giờ đã nhờ thần Shiva giúp thuần hóa sông Hằng và tạo phúc cho nhân gian. Thần Shiva đến chân núi Himalaya, xõa tóc, cho dòng nước hung tợn chảy chầm chậm qua đầu và trở nên hiền dịu. Nước bắt đầu tưới mát cho những cánh đồng hai bên bờ sông và người dân có thể sinh sống thanh bình và yên ổn làm ăn. Kể từ đó, Ấn Độ giáo coi sông Hằng là thánh thiện, tôn thờ thần Shiva và tắm nước thánh là hai hoạt động tôn giáo chính của người theo đạo Hindu. 

Một cơn gió mát lạnh thổi vào mặt khiến lão rùng mình, nhìn đồng hồ đã khuya rồi,  bên bờ sông vắng lặng, tiếng tụng kinh lầm rầm theo gió lúc to lúc nhỏ. Tư duy bị đứt quãng, lão đứng dậy đi vào khách sạn.

Có lẽ một ngày mệt mỏi, cũng có lẽ nằm bên dòng sông thần tiên nên lão nằm xuống là ngủ say sưa. Tiếng chuông tay của một Lạt Ma đi ngoài đường làm lão thức giấc, nhìn đồng hồ đã 6 giờ sáng. Lão rửa mặt bước ra khỏi khách sạn định ngồi bên sông ngắm mặt trời lên, nhưng vừa bước ra ngoài đã bị một cậu bé nhà thuyền bám lấy khăng khăng đòi đưa lão đi du thuyền trên sông buổi sáng. Lão trả giá xong theo cậu bé đi lên thuyền. Cậu ta chỉ mới 15 tuổi tên là Ali. Ali người đen chắc khỏe mạnh, chèo thuyền thoăn thoắt. Cậu ta muốn lão mua cho một vài tấm khăn lụa để kiếm thêm nhưng lão từ chối và nói:”Em cứ phục vụ ta cho tốt, khi xuống thuyền cho thêm”. Nghe vậy Ali vô cùng mừng rỡ, cậu ta vừa chèo lái vừa giới thiệu cảnh tượng hai bên bờ, đây là ghat để tắm giặt, kia là ghat để thiêu đốt tử thi. Giọng tiếng Anh pha tiếng Ấn của cậu bé rất khó nghe nhưng lão hiểu cả. Những làn khói nghi ngút bốc lên từ bên bờ đốt tử thi, không có tiếng gào khóc, cảnh tượng an nhiên cát tường. Mặt trời lúc ấy cũng đã ló mặt nhìn xuống, bắt đầu một ngày huy hoàng của sông Hằng. 

Khi thuyền đi đến một đoạn bên bờ Đông, lão thấy ở đây vắng vẻ ít người, liền bảo Ali ghé vào ghat và cột thuyền lại đợi lão tắm một cái để thỏa mãn nỗi lòng bấy lâu. Tuy rằng dòng nước vẫn lững lờ những rác thải và mùi khai tanh nồng nàn trên bờ tạt vào mũi. Nhưng chí đã quyết, lão hình dung ra trước mắt là dòng sữa trong sạch của nữ thần Sông Hằng và nhắm mắt nhẩy xuống. Kỳ lạ thay, khi đã đẫm mình dưới dòng sông mới thấy người nhẹ bỗng, thấy tim đập êm dịu, hồn lâng lâng chìm trong một trạng thái thanh thản, thoát tục, hoan hỉ. Lúc này nhìn dòng sông thấy đẹp đẽ, lộng lẫy lạ kỳ. Lão vẫy vùng dưới sông, cảm giác thân thương, cảm động như thu mình trong lòng mẹ. 

Lênh đênh trên dòng sông đã hơn hai tiếng, lão ra ý cho Ali quay đầu về bến. Mỗi tiếng đồng hồ Ali lấy 40 Rupee. Lão đưa hẳn cho cậu ta 200 Rupee, cậu bé cười tít mắt.

Háo hức mong cho ngày dài trôi mau để đêm về. Và đây, lão được hoà mình cùng buổi lễ tế đêm. Lễ tế đêm sông Hằng (Ganga Aarti) có lịch sử hơn ba nghìn năm, nó được tổ chức hàng đêm bất kể mưa hay nắng. Dù đêm nào cũng có nhưng khán đài nghi lễ vẫn chật kín người. Đây là một sự tôn vinh đối với dòng sông Hằng thiêng liêng, đồng thời đây cũng là một nghi lễ để giao tiếp và kết nối giữa con người và thần linh.

Cốt lõi của Lễ tế đêm là lửa. Các thầy cúng sử dụng các dụng cụ khác nhau để diễn tả các hình thức khác nhau của ngọn lửa, từ que hương, chân nến cho đến chậu lửa. Bởi vì bản thân đây là "lễ tế lửa" -Agni Pooja, hiến tế cho thần Shiva, thần mặt trời (Surya), thần lửa, nữ thần sông Hằng, và cả vũ trụ. Agni là thần lửa trong Ấn Độ giáo, và Pooja có nghĩa là cầu nguyện và hiến tế.

Dù là du khách hay người Ấn Độ, đều có rất nhiều người dự trực tiếp lễ hội này, mọi người đều yên lặng và trang nghiêm, ngồi hoặc đứng trước bậc thềm sông. Ngoài ra vô số thuyền chở du khách trên sông Hằng, và mọi người đều nhìn hướng về nơi lễ đàn ở bờ sông. Buổi lễ được tiến hành với nhịp độ chậm rãi, hiện trường chỉ có những lời ca bằng tiếng Phạn ngân dài, giai điệu an nhiên của chuông tay và bảy nam tư tế Bà la môn trẻ tuổi có đẳng cấp cao nhất, đang thì thầm khẽ hát.

Trước khi làm lễ, bảy vị tư tế đi xuống sông Hằng múc nước thánh, sau đó xếp thành hàng trước bàn thờ, họ thổi pháp khí bằng ốc biển để báo hiệu buổi lễ bắt đầu. Xuyên suốt Lễ tế đêm sông Hằng, các thầy tế lần lượt dùng chuông tay, đèn bảo tháp bảy tầng, pháp khí ốc biển, đèn dầu hình rắn đuôi chuông, quạt lông công, phất trần và các nhạc cụ khác để cúng trời đất tứ phương. Toàn bộ buổi lễ xướng tụng thánh ca bằng tiếng Phạn cổ để bầy tỏ sự tôn kính với sông Hằng. Sau khi các nghi lễ khác nhau lần lượt xuất hiện trên lễ đàn, các tư tế rưới nước thánh vào những lẵng hoa xung quanh, sau đó đổ nước sông Hằng còn lại trở về sông để báo hiệu sự kết thúc của buổi Lễ tế đêm.

Từ đầu đến cuối, lão đắm mình trong không khí lễ tế, vừa thành kính, vừa kinh ngạc. Lão đúc kết ra rằng, Ấn Độ giáo có thể nói là dung hòa hoàn hảo giữa hai nguyên tố đối lập là nước nước và lửa. Nước và lửa vừa là sức mạnh hủy diệt, vừa là sức mạnh thanh tẩy, đồng thời là sức mạnh của tạo hóa. Thật đáng kính nể! 

Mặc dù buổi lễ đã kết thúc nhưng bảy vị tư tế nam Bà La Môn vẫn không rời đi, họ trở lại bàn thờ và chuẩn bị phân phát lương thực của thánh cho mọi người. Đấy là các loại hạt như gạo, ngô, đậu, lạc, mọi người đều đưa tay ra đón lấy. Có nhiều người đứng trước ngọn đèn dầu, hai lòng bàn tay hơ trên nguồn lửa, rồi vò đầu vò tai cầu phúc. Một số nhặt những bông hoa trên tế đàn thả xuống sông Hằng hoặc mua những đèn thuỷ đăng thả xuống sông chắp tay cầu nguyện. Sau đó họ còn lấy tay múc nước uống vài ngụm ngon lành rồi mới lưu luyến ra về. 

Chỉ khi chứng kiến những cảnh tượng này mới cảm nhận được lòng mộ đạo tuyệt đối của tín đồ Hindu và đạo đức đẹp đẽ của họ đối với truyền thống văn hoá tôn giáo đã được lưu truyền hàng ngàn năm. Sự thành tín của họ thực sự đã cảm động đến thần linh, cảm động đến trời đất, cảm động đến con tim bé bỏng của lão PP. 

Đêm hôm ấy, có những ngọn đèn trong cõi u minh của tâm hồn lão được thắp sáng, lão ngộ ra nhiều điều và hoàn thiện mình hơn. Tiện đây cũng xin nhắc nhở các bạn, khi các bạn đến đây trải nghiệm lễ tế đêm, hãy hoà mình vào đấy như một giọt nước của dòng sông và mở lòng thành khẩn đón lấy tất cả mọi chi tiết buổi lễ, như vậy bạn sẽ thu được những nguồn năng lượng tuyệt vời. Nếu chỉ đứng xem như để biết thì rất phí, rất đáng tiếc, bạn sẽ ra ngoài rìa những sự kỳ diệu và bổ ích đem lại cho tâm linh của bạn.

Lão trở về phòng, trằn trọc mãi không ngủ được. Lão khiêng một chiếc ghế ra ban công ngắm nhìn sông Hằng về đêm và suy nghĩ miên man...

Người ngoại đạo khi nhắc đến Varanasi, nhắc đến sông Hằng đều rùng mình khiếp đảm. Sông Hằng trở thành đại từ thay cho hai từ Ô nhiễm. Dòng sông bị ô nhiễm trầm trọng, nước thải công nghiệp, cứt đái con người con vật, xác chết chưa thiêu hết, rác rưởi bồng bềnh trôi...Trên bờ thì cứt đái tràn lan, bò dê chó khỉ ung dung sống cùng con người, lừa lọc ăn xin khắp nơi...Những điều đó là thật, nhưng ẩn chứa nơi đây là phần hồn của một đạo giáo già cội. Dựa trên sức mạnh của nó, con người bao dung chấp nhận mọi khiếm khuyết kể trên. Nhưng dù có lập luận đến đâu với tầm nhìn đương đại đều thấy mâu thuẫn và khó chấp nhận. Chỉ khi bạn cho rằng, cuộc đời là cõi tạm để bước đến một thế giới khác, sống với tâm linh chứ sá chi tiền nhãn. Nghĩ vậy chắc bạn thấy yên tâm hơn và chấp nhận hoàn cảnh nơi đây hơn...kkk

Nhưng với một người như lão, hỗn tạp mọi kiến thức của đời thì vẫn muốn mổ xẻ để thấu hiểu nền văn hoá sông Hằng, khám phá bí ẩn nằm phía sau của nó. Hiểu được văn hoá sông Hằng như một chìa khoá mở ra để lý giải thế giới quan của Ấn Độ giáo. Và chỉ khi bạn hiểu được vì sao sông Hằng trở thành một dòng sông thánh thiện, thì lúc đó bạn mới lý giải được những điều quái dị của xã hội Ấn Độ.

Xuyên ngược về hàng ngàn năm trước, bạn hỏi một người dân ở xứ sở này rằng dòng sông này đến từ đâu? Anh ta sẽ trả lời một cách đanh thép rằng, sông Hằng là nước trên trời đổ xuống! Trí tưởng tượng của họ là chủ nghĩa lãng mạn, kém chi câu thơ Đường của Lý Bạch:

Quân bất kiến:

Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!

Dịch nghĩa:

Anh thấy chăng:

Nước sông Hoàng Hà chảy từ trên trời xuống,

Trôi ra biển và không quay trở lại!

 Hằng hà là dòng sông thần thánh mang nặng màu sắc văn hoá dân gian, vô vàn huyền thoại và truyền thuyết tôn giáo thiết lập nên cảnh tượng đặc biệt về phong tục nhân tình hai bên bờ sông.

Ngoài huyền thoại về thần Shiva trị thuỷ kể trên, còn một câu chuyện rất lý thú. 

Có một đoạn trong sử thi Ấn Độ "Ramayana" nói về "Nguồn gốc của sông Hằng". Câu chuyện kể rằng vị thần Hindu vĩ đại Shiva và Uma đã giao hợp với nhau trong 100 năm mà không hề gián đoạn. Các thần linh kinh hoàng với khả năng “chiến đấu” bất tận của Ngài và thỉnh cầu thần hãy xả tinh dịch của Ngài xuống sông Hằng. Chính vì truyền thuyết cổ xưa này mà người dân xưa đã trả lời rằng: Nước sông Hằng từ trời đổ xuống. Trong cuốn sách “Mỹ học”, Friedrich Hegel từng nói khi nhắc đến câu chuyện này: “Cảm giác hổ thẹn của chúng ta gần như đã bị xáo trộn”.

Là một dòng sông thiêng liêng, ý nghĩa tôn giáo của sông Hằng trong Ấn Độ giáo chủ yếu thể hiện ở những điểm sau:

1. Sông Hằng từ trên trời đổ xuống, vì vậy nó là kênh kết nối giữa thế giới phàm trần và thiên giới, thông qua sông Hằng có thể thiết lập mối liên hệ với các vị thần, và có thể nhận được phước lành và quyền năng từ thiên giới.

2. Sông Hằng cuối cùng cũng sẽ chìm xuống âm phủ dưới đáy đại dương nên nó cũng là kênh kết nối giữa thế giới phàm trần và âm phủ, có sức mạnh cứu chuộc người chết. Sự chuộc tội có thể nhận được bằng cách thủy táng người chết hoặc thả tro của họ xuống sông Hằng. Thông qua sông Hằng, mối quan hệ giao tiếp với tổ tiên có thể được thiết lập.

3. Kết hợp hai điểm trên, Ấn Độ giáo tin rằng sông Hằng đồng thời tuôn chảy trong ba thế giới là thiên đàng, trần gian và âm phủ, trở thành "sứ giả của ba thế giới" (Triloka-patha-gamini) trong truyền thống Ấn Độ. Phạn ngữ Triloka là ba thế giới, Patha là con đường, gamini là du khách, Tirtha là ngã ba điểm tiếp giáp của thế giới thần linh, người phàm tục và linh hồn người chết.

4. Ấn Độ giáo tin rằng nước chảy có sức mạnh thanh lọc nhất, nó có thể hấp thụ bụi bẩn, rác rưởi và mang chúng đi. Sức mạnh thanh tẩy của sông Hằng không chỉ giới hạn ở vật chất, nó còn có thể thanh lọc tâm linh và tinh thần, rửa sạch tội lỗi cho người tắm rửa ở đấy. 

5. Việc thần Shiva dùng chính mái tóc của mình để tiếp nhận nguồn chảy của sông Hằng không phải chỉ xảy ra một lần mà nó đã và đang diễn ra đến tận ngày nay. Là một nguồn năng lượng liên tục, chuyển động và không thể dự đoán được, sông Hằng được coi là biểu hiện sức mạnh của thần hủy diệt Shiva ở cõi trần gian. Sông Hằng là một kênh kết nối trực tiếp với thần Shiva. Thông qua nước sông Hằng, người ta có thể cảm nhận, thưởng ngoạn và hấp thụ năng lượng của thần Shiva.

6. Nữ thần sông Hằng có phẩm chất như một người mẹ trong Ấn Độ giáo, Ngài chấp nhận mọi thứ, bao dung mọi thứ và tha thứ cho mọi thứ. Ngài còn được coi là mẹ của các vị thần, với thần tính vĩnh hằng.

Lão PP cho rằng, trước đây, người Ấn Độ xưa không hiểu nguyên lý của vòng tuần hoàn nước trong khí quyển, do đó, biết bao câu chuyện kỳ ​​vĩ và mộng mơ đã được thêu dệt nên cho một dòng sông một cách ngoạn mục như vậy đấy.

Có thể thêu dệt nhiều câu chuyện nổi tiếng như vậy liên quan mật thiết đến thuyết vật linh (Animism) của Ấn Độ giáo. Bằng cách tìm hiểu về tín ngưỡng tôn thờ sông Hằng, bạn có thể hiểu thêm lý do tại sao người Ấn Độ thờ một cái cây, một hòn đá, bò, khỉ, chuột và những thứ khác trong giới tự nhiên. Trong Ấn Độ giáo, chúng có thể được coi là biểu hiện của một năng lượng nhất định, hóa thân của một vị thần nào đó, hoặc như một cây cầu dẫn đến một thế giới khác.

Chúng ta luôn cảm thấy Ấn Độ là một đất nước rất kỳ lạ, và nó dường như không tương thích với nền văn minh hiện đại. Ấn Độ giáo là tôn giáo lớn lâu đời nhất. Nó có thể có nguồn gốc từ bốn nghìn năm trước. Thế giới quan của người Hindu cũng dựa trên một số cách hiểu tương đối sơ khai về thế giới. Điểm cốt lõi có thể được tóm tắt thành bốn điểm - linh hồn là tồn tại vĩnh viễn, vạn vật đều có hồn, thiện ác quả báo, và luân hồi chuyển kiếp. Dưới sự chỉ dẫn của loại thế giới quan này, chắc chắn sẽ có một số hành vi và hiện tượng mà người ngoại đạo không hiểu được, đứng trên quan điểm của thuyết vô thần, chúng ta sẽ đánh giá họ là những hiện tượng quái dị. 

Hàng ngàn năm lắng đọng của lịch sử đã tạo nên đất nước kỳ diệu này. Ấn Độ có thể được mô tả như một nơi mà người ta vừa yêu vừa ghét. Nền văn hóa tôn giáo giao thoa phức tạp đã hình thành một cảnh quan nhân văn đầy màu sắc, và dòng chảy văn minh kéo dài hàng nghìn năm đã để lại những chùa chiền, cung điện với khung cảnh nguy nga ngoạn mục. Với sự quy tụ của các chủng tộc khác nhau, va chạm vào nhau tạo thành ánh sáng văn hoá đặc trưng ở đây. Khiến vùng đất chưa bao giờ yên tĩnh này trở nên đông đúc, lộn xộn, thánh thiện và đầy màu sắc.

Lão tựa vào ban công cứ thế triền miên suy tưởng và thiếp đi lúc nào không biết. Tiếng chuông tay của một kẻ hành khất lại đánh thức lão. 10 giờ sáng nay phải ra sân bay trở về Hồng Kông. Lão sẽ ghi nhớ trong tâm can mình dòng sông này, mảnh đất này và những con người nơi này.

 Tạm biệt nhé Varanasi! Tạm biệt nhé Hằng hà mến yêu trong tim tôi!

Peter Pho

Tuesday, May 4, 2021

CHUYỆN XỨ LÀO...!

 Nhiều người hay đem những đức tính cao quý của người Nhật ra để so sánh, để thấy người Việt mình tệ biết chừng nào.

Rồi nhiều người khác kêu rằng so sánh như vậy là khập khiễng...

Khập khiễng vì nước Nhật giàu có và văn minh từ lâu, sao bì được.

Tui thấy vầy: Có thể phú quý sinh lễ nghĩa; rách quá, đôi khi cũng khó mà thơm, thế nhưng văn minh là chuyện khác. Không phải cứ giàu là văn minh, và ngược lại (tui, và chắc các bạn cũng vậy, đã nhiều lần chứng kiến lắm kẻ giàu nứt đố nhưng văn minh vẫn là zero đó thôi).

Không nói đâu xa xôi, sát bên nách mình thôi, nước Lào nè....! Trời ơi, họ văn minh khủng khiếp. Chân đã đi nát mặt địa cầu nhưng nếu hỏi tui yêu quý dân tộc nào nhất, câu trả lời sẽ là Lào....!

Người Nhật văn minh vì đôi khi họ buộc phải gồng lên làm điều đó để thỏa mãn những chuẩn mực tối thiểu của một nền văn hóa khắt khe, dần dà thành bản tính đặc hữu giống nòi....

Người Lào thì khác, họ văn minh một cách rất hồn nhiên, như máu họ sẵn có, như ngàn đời nay vẫn vậy, chẳng cần cố gắng gì....!

Nước Lào tươi đẹp, tươi đẹp vì xanh mát, trong lành và bình yên....!

Người Lào hồn nhiên, hiền hậu, chân thật, lịch sự và điềm đạm. Từ lao động chân tay đến trí thức, cảnh sát hay doanh nhân, ai ai cũng toát lên một thần thái an lạc...

Nước Lào ít có người giàu, phần lớn những người giàu nhất là doanh nhân Hoa kiều và Việt kiều. Vì người Lào ít kinh doanh. Nếu có, họ cũng đóng cửa sớm lắm. Khi thấy mới 5 giờ chiều họ đã đóng cửa hàng, tui hỏi sao sớm quá, không bán thêm vài tiếng nữa, anh chị cười cười “Thôi, nhiêu đó đủ rồi, về ăn cơm rồi xem ti vi”. Là không phải họ lười biếng là không phải họ hổng biết kinh doanh, là không phải họ chê tiền, chỉ là họ biết đủ....!

Làm được điều này như họ khó, khó lắm....!

Ở Lào, rất rất hiếm có chuyện cướp giật hay mất trộm ngoài đường. Chiếc xe máy dựng trước thềm nhà không khóa, sáng ra vẫn y nguyên. Nửa khuya, giữa ngã tư thênh thang vắng, người ta vẫn dừng đúng vạch đèn đỏ. Giao thông bên ấy rất tuyệt vời, thỉnh thoảng giữa thủ đô cũng có kẹt xe giờ tan tầm nhưng tuyệt nhiên không có chen lấn hay bóp còi, không có cáu gắt hay bực dọc. Khi bạn băng qua đường, dù không trên vạch trắng, xe cộ thấy bạn từ xa, họ đã hãm tốc. Thành phố lúc nào cũng lằng lặng, ngày cũng như đêm. Đi mua sắm, lựa chọn đã đời, xách đít không đi ra, họ vẫn vui vẻ chắp tay chào. Và còn nhiều nữa...!

Vũ trường ở Lào, nói thiệt, như cái quán hủ tíu bên mình vậy, sơ sài, nghèo nàn và vắng vẻ. Nhưng bảo tàng và thư viện rất to, nhà hát rất đẹp, lúc nào cũng đông...!

Tự suy ra nhé...!

Để tui kể chuyện này cho nghe, hồi SEA Games 25, lúc biết bóng đá Việt Nam vào được chung kết và cơ hội thắng Malaysia để vô địch là rất cao, tui rủ thằng bạn bay qua Viêng Chăn để ủng hộ đội nhà, để sướng với cảm giác vô địch. Trần ai kiếm được vé máy bay, qua tới nơi, khách sạn sang hèn, nhà trọ lớn nhỏ không còn một chỗ trống. Dân Việt Nam ngập tràn bên đó, phần lớn đi đường bộ qua cửa khẩu Lao Bảo.

Anh taxi cũng khốn đốn tới khuya để chở tụi tui đi tìm nơi ở, rồi anh xin lỗi vì không giúp được. Thì thôi, kiếm chỗ nào có mái che, lăn ra ngủ vậy, cổ động viên bóng đá chứ có phải doanh nhân đi nghỉ dưỡng đâu. Nghe vậy, anh taxi hổng chịu. Anh nói ở đây an toàn, không sợ gì con người nhưng anh sợ nửa đêm gió sương... Rồi anh mời tụi tui về nhà, gọi vợ mình dậy nấu mì cho ăn. Khách tắm rửa xong, vợ chồng anh nhường cho họ phòng ngủ của mình. Sáng ra, anh chở đi tìm vé vào sân vận động (ui trời, dân bán vé chợ đen toàn Việt Nam tràn qua). Gửi biếu anh chị tiền, họ nhất mực không nhận, chỉ lấy tiền taxi.

Vậy đó...!

Ai mơ ước người Việt được như người Nhật thì cứ việc...

Tui, thằng đã mòn đít ở Nhật, chai chân ở Việt Nam, bạc đầu ở Đức,... lại mơ ước dân mình được như... dân Lào...!

Hồng Hải

Thursday, March 19, 2020

Coffee time: Dấu vết của lục địa Atlantide*?

Người ta biết đến Atlantide từ 2 tác phẩm Timée và Critias của Platon vào năm 355 TCN. Platon kể lại câu chuyện ông giáo sĩ già người Ai Cập đối đáp với Solon (640-558 TCN), nhà lập pháp thành Athène. Theo ông lão: 9.000 năm trước, thành cổ Athène xung đột với Atlantide, 1 quốc đảo rất cường thịnh do thần Poseidon sáng lập cho những đứa con Atlantes của mình. Người Atlantide mang thuyền bè từ Địa Trung Hải đến, đụng độ với quân đội Athène. Tp này thắng trận, nhưng 1 trận đại hồng thủy đã quét qua cả hai. Atlantide bị chìm dưới đáy biển, ngày nay vẫn còn mang tên Atlantic Ocean (Đại Tây Dương). Athène sống sót, nhưng chỉ còn là đống đổ nát. Platon quả quyết: "Lời nói có vẻ kỳ lạ, nhưng tuyệt đối là có thực".
-----------

Tại đảo Crète, thảm kịch xảy ra liên tục, lúc nào cũng giống nhau: những ngôi đền bị phá hủy, xây dựng lại, bị phá hủy, rồi lại tiếp tục xây dựng cho đến khi biến mất. Fernand Braudel ko giới hạn trong suy luận của mình về sống và chết của nền văn minh Minos (trên đảo Crète của Hy Lạp hiện nay, khoảng năm 2700-1450 TCN). Trong quyển Ký ức về Địa Trung Hải, xuất bản năm 1998 sau khi qua đời, ông nhấn mạnh vào sự bất đồng của các chuyên gia về thời điểm và nguyên nhân sụp đổ của nền văn minh rực rỡ mà dấu vết của ngôi đền Knossos trên đảo hiện nay còn là chứng cứ.

Ngôi đền Knossos và đống đổ nát của nó (Ảnh: Timofeev Vladimir/shutterstock)

Có người cho rằng nguyên nhân do thiên tai, kẻ khác lại bảo do nhân họa. Còn Braudel gần như chắc chắn: "Do núi lửa từ trên đảo Théra gần đó (nay là Santorini) gây ra. Sự bùng nổ của núi lửa ko chỉ làm thay đổi dòng lịch sử thiên niên kỷ 2 TCN, mà còn làm thay đổi cả cái nhìn lịch sử về nó nữa."

Đảo/núi lửa Santorini ngày nay (Ảnh: Strangesounds)

Ý tưởng này ko mới. Nó xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1939, dưới ngòi bút của nhà khảo cổ Hy Lạp Spyridon Marinatos trên tạp chí Antiquity, qua 1 bài báo gây xúc động. Vị giáo sư trẻ của ĐH Athène này cũng là người bản địa, giải thích sự biến mất của nền văn minh Minos vào khoảng giữa thiên niên kỷ 2 TCN bằng cuộc bùng nổ núi lửa trên hòn đảo Santorini cách đó hơn 200 km. Đó là 1 trận thiên tai lớn nhất mọi thời đại, dẫn tới sự sụp đổ của Đế chế Crète và trung tâm chính trị của nó là Knossos.

Bước đi của Spyridon Marinatos gần giống Heinrich Schliemann hay Arthur Evans. Trước khi đào bới và chứng minh bằng những chứng cứ xác thực, 2 nhà khảo cổ này đã phát triển giả thuyết ban đầu vốn bị các nhà khảo cổ học đã thành danh xem thường. Schliemann dựa vào 2 sử thi cổ đại IliadeOdyssée, muốn khôi phục sức sống của thế giới vàng son trong thời đại Homère. Còn Evans dựa vào dữ liệu ngôn ngữ, xác định sự hiện hữu của 1 nền văn minh tại Địa Trung Hải, ko phải Ai Cập, cũng chẳng phải Phénicie. Khai quật qua nghiên cứu khảo cổ đã chứng minh họ hoàn toàn đúng: 1 người tìm thấy thành Troie và Mycènes, người kia tìm thấy cung điện Knossos, tức nền văn minh Minos.

Một Pompei thời tiền sử

Hy Lạp cổ đại qua thời gian đã phát triển nhiều tỉnh mới. Lịch sử của nó ko phải bắt đầu với ngày khai mạc Thế vận hội đầu tiên vào năm 776 TCN, mà là đầu thiên niên kỷ 2 TCN, khi những ngôi đền Minos đầu tiên được xây dựng trên đảo Crète.

Spyridon Marinatos tỏ ra quyết tâm và kiên trì. Năm 1967, ông đã bắt đầu đào bới tại Akrotiri trên hòn đảo núi lửa Santorini và phát hiện ngay 1 Pompei thời tiền sử. Chôn vùi trong nham thạch là cả 1 tp bị lâm nạn vào khoảng 1.500 TCN do núi lửa phun trào. Nó nằm ngay ở cạnh sườn núi. Một con đường rộng từ dưới biển đi lên, 2 bên có những quảng trường nhỏ và nhà cửa. Nhà với sân thượng có 2-3 tầng, đi lên bằng cầu thang đá và gỗ. Để chống chọi với động đất, những căn nhà vách gỗ được gia cố bằng tường đá hay tô vữa. Mặt tiền của những căn nhà rộng, nằm kẹt bên dưới lớp tro nham thạch 6-7m. Tầng trệt được chiếu sáng bằng những cửa sổ mở ra đường, dùng làm xưởng và nhà kho, trùng khớp với những hình vẽ trên bình gốm khai quật được. Dù ko có đồ đạc, do người ta mang theo lúc chạy trốn, nhiều căn phòng khách ở tầng trên vẫn còn nguyên những bức tranh tường.

Tranh tường còn sót lại tại Akrotiri: The Fisherman'; fresco from Akrotiri on Santorini (Ảnh: ResearchGate)

Trong phạm vi khai quật rộng 10.000m2, người ta đã tìm thấy hàng chục ngôi nhà. Đó là khu giàu có của 1 tp trải rộng khoảng gấp 20 lần hơn thế. Chứng cứ cho thấy: người dân có đủ thời gian để bỏ chạy trước khi tai họa giáng xuống. Rất nhiều tranh tường và đồ gốm được tìm thấy.

Giống như Schliemann và Evans, Marinatos giữ độc quyền làm sống lại 1 trong những nền văn minh lớn của thiên niên kỷ 2 TCN chịu nhiều ảnh hưởng của Hy Lạp về xây dựng và nghệ thuật. Trước khi đào bới, ông cũng đưa ra 2 giả thuyết quan trọng. Thứ nhất, núi lửa Santorini đã làm cho nền văn minh Minos phải bị tiêu diệt. Thứ hai, Santorini chính là huyền thoại Atlantide của thời cổ!

Trước tiên, hãy xem giả thuyết thứ nhất. Các văn bản cổ vẫn ko đề cập đến tai họa này, phải chờ Marinatos tìm kiếm cách khác để xác nhận ước đoán của mình. Đó là so sánh với 1 vụ núi lửa phun khác tại Krakatoa thuộc Indonesia vào năm 1883. Trong suốt 3 tuần lễ, những dấu hiệu báo trước - động đất và phun khói - lặp lại nhiều lần. Rồi chính thức phun trào qua 2 đợt cực mạnh trong những ngày 20/5 và 28/8. Cột khói lửa cao mấy chục km, đám mây tro bốc cao, tỏa rộng trên trời, che lấp Mặt Trời khiến cho toàn vùng tối đen hơn 1 ngày.
Sau đó, đỉnh núi đổ sập xuống, 1 cơn sóng thần cao 30m ập vào bãi biển Java và Sumatra. Có gần 40.000 người chết. Thế mà khoảng lõm của Santorini (miệng núi lửa, hiện nay bị nước biển tràn ngập) lại lớn gấp 4 lần miệng núi lửa Krakatoa. Marinatos kết luận sự khủng khiếp của núi lửa Santorini còn gấp nhiều lần tai họa ở Indonesia. Nó cho phép tưởng tượng 1 đợt sóng thần cao ít nhất 200m xuất hiện, để phá tan thành trì và chiến thuyền của người Minos trên đảo Crète gần đó. Cho đến khi quân Mycénien (người Hy Lạp từ lục địa) đến tấn công thì họ đành phải bó tay.

Tuy nhiên, Marinatos nhanh chóng nhận ra nó ko trùng khớp với việc rời bỏ Akrotiri trên đảo Santorini và sự tàn phá các tp trên đảo Crète. Hiện vật tìm thấy trên đảo Santorini có niên đại 1.500 năm TCN, còn ở đảo Crète lại sau năm 1450 TCN. Để bảo vệ giả thuyết của mình, ông nói tiến trình diễn ra trong 2 giai đoạn: trước tiên, động đất tàn phá Santorini, rồi sau đó Crète mới bị sóng thần tàn phá do núi lửa phun. Trong khoảng giữa đó, tp Akrotiri được tái chiếm mà ông có 1 số chứng cứ ở đó. Nhưng ông cũng gặp phải nhiều chỉ trích, hầu hết đều cho rằng giả thuyết của ông là bất ổn.

Sự hiện diện của đá ong tại Crète trong thời gian trước khi các ngôi đền sụp đổ chứng tỏ núi lửa phát nổ trước khi thế giới Minos diệt vong. Các đền đài tại Akrotiri ko bị phá hủy vì động đất. Rơi xuống đầu dân chúng như bom, những tảng đá dường như khoét sâu xuống đất và lấp đầy những chỗ bị nóng chảy. Giả thuyết của Marinatos bị nhiều nhà khảo cổ nghi ngờ bởi khi nham thạch phun trào, chỉ kéo theo động đất cường độ nhỏ. Giống như khói và các loại khí, chúng cảnh báo dân chúng Akrotiri để họ có đủ thời gian mang theo tài sản trước khi rời bỏ những căn nhà. Trong đống đổ nát ko có xác người và đồ vật quý giá là bằng chứng. Theo xác định niên đại bằng carbon 14, núi lửa phun trong khoảng năm 1700-1520 TCN. Ngày nay, người ta thống nhất thời gian là 1628-1626 TCN dựa theo kỹ thuật khảo sát lõi cây cổ thụ (dendrochronologie).

Mặt khác, sóng thần từ Santorini có thể gây ra thiệt hại bờ biển phía Bắc đảo Crète, nhưng vì những chướng ngại vật như núi non, đã ko tàn phá đến phía Nam. Dù sao, hiện tượng cũng ko đủ kinh hoàng như Marinatos mong muốn. Sóng thần chỉ cao chừng vài mét.

Sau cùng, quan sát các lớp núi lửa cho thấy thời gian sập đỉnh phải kéo dài nhiều tuần, thậm chí vài tháng. Năng lượng phát ra từ từ và ko bất ngờ như với Krakatoa. Dù núi lửa Santorini bùng nổ vào giữa thiên niên kỷ 2 TCN là dữ dội, nhưng ko gây nên sức tàn phá quá xa, con người vẫn có thể quay lại để sống 2 thế kỷ sau đó.

Đáy biển trong vịnh Naples chôn vùi những tàn tích cổ đại

Phần kết 

Hỗ trợ cho giả thuyết của mình, Marinatos đã khai thác từ nguồn của Platon: văn bản về Atlantide và sự biến mất của nó. Từ năm 1950, Marinatos xem nền văn minh tiền sử tại Crète chính là lục địa Atlantide mà Platon đã mô tả.

Tuy nhiên, nhiều người khác lại cho rằng: ý nghĩa ẩn dụ trong các huyền thoại và tài liệu cổ chỉ nhằm để giáo dục và nêu gương. Pierre Vidal-Naquet đọc lại những văn bản của Platon trong tinh thần này. Ông cho rằng: "Atlantide là một phản diện, ảo ảnh, của Athène. Bằng sự mỉa mai theo phong cách của Socrate, Platon muốn nói câu chuyện ảo của mình bằng cách diễn tả y như thật. Hãy quên đi những kẻ ngây thơ muốn tìm kiếm trong CritiasTimée những sự thật lịch sử hay trên địa hình đích xác".

Tuy nhiên, về sự tàn phá của núi lửa từ năng lượng bùng nổ tại Santorini liệu có đủ tàn phá cả vùng biển Égée? Một số nhà nghiên cứu nói đến sóng thần, số khác nói đến sóng chấn động tàn phá bờ biển phía Bắc đảo Crète. Còn ngày nay, người ta nói đến ảnh hưởng từ môi trường thiên nhiên. Khí độc và mây tro chắc chắn gây ô nhiễm nặng. Cũng có thể do khan hiếm nước uống, mùa màng thất thu, gây hậu quả nghiêm trong cho nền kinh tế. Mua bán với phương Đông bị rối loạn cũng có thể dẫn đến loạn lạc và những thay đổi chính trị sau đó.

Tóm lại, ko phủ nhận hậu quả gián tiếp lâu dài, ngày nay ko ai còn tin có mối liên hệ giữa núi lửa Santorini phun trào và sự sụp đổ của nền văn minh Monos trên đảo Crète. Đúng là các hiện tượng thiên nhiên ko bao giờ dừng lại. Chắc chắn, những trận động đất vào khoảng năm 1700 TCN đã làm sập những ngôi đền đầu tiên tại Crète, nhưng chúng đã được xây dựng lại, to lớn hơn. Sau đó, những ngôi đền này lại biến mất vào khoảng năm 1450 TCN, rất lâu sau khi tai họa giáng xuống Akrotiri, cũng do động đất, nhưng ko phải núi lửa.

Đảo Santorini vào thời tiền sử đúng là 1 trong những xh rực rỡ nhất vào thiên niên kỷ 2 TCN. Cái nhìn xuyên thấu lịch sử của Marinatos cho phép công nhận nó và định hướng nghiên cứu.

Hãy quên đi nỗi ám ảnh mơ hồ về lục địa Atlantide để tìm hiểu về cuộc sống của cư dân trên đảo Crète thuộc quần đảo Cyclades. Vào khoảng năm 1450 TCN, người Hy Lạp từ lục địa, tức Mycénien đã tiến đánh và chiếm đảo Crète trong tay người Minos bằng vũ lực, ko cần biết đến núi lửa Santorini đã phun trào trước đó 50 năm, và họ đã gây nên thảm họa cho Akrotiri, ko kém gì núi lửa.

Atlantide qua mô tả của Platon

*: tiếng Anh là Atlantis

Đinh Công Thành (KTNN No.1066)

Sunday, March 3, 2019

Về 2 quê hương (10)

Xem xong Triển lãm ảnh về người Vân Kiều của DR. Vargyas Gábor lại nghĩ đến sự khao khát mạo hiểm của người Hung xuất phát từ đâu? Có phải trong họ có dòng máu du mục của tổ tiên chảy ko ngừng, hay do đất nước chật hẹp, ko có biển cả, núi cao làm nảy sinh ý muốn chu du thiên hạ để thỏa lòng khám phá thế giới?
---------------------------
Dấu chân của người Hung để lại khá nhiều nơi. Thế giới ko thiếu những chỗ như thế. Chẳng hạn, hãy đến vùng Madagascar hoang dã, nơi bá tước Benyovszkiy Móric[1] từng là Toàn quyền đầu tiên (1774). Himalaya cũng vậy, vì ở đó một nhà khoa học Hungary, người châu Âu đầu tiên, đã hệ thống hóa ngữ pháp ngôn ngữ Tây Tạng (Kőrösi Csoma Sándor[2], 1827), trong khi run lập cập và uống thứ trà pha bơ lên men của dân bản địa. Đó cũng có thể là vùng Caucasus, nơi các vị thần nổi giận đã xích Prometheus, bởi 1 người Hung đã khám phá, vẽ bản đồ các đỉnh núi đá dốc và sắc cạnh của vùng này (Déchy Mór[3], 1884). Hay tới vùng sông băng màu xanh nhạt, vùng của những chú gấu và cáo Bắc Cực, của những con moóc ria quặp, nơi 1 đoàn thám hiểm Áo-Hung đã hài ước lấy tên Ferenc József[4] đặt cho 1 cụm 191 hòn đảo hoang ở gần những người Svalbard[5] (Kepes Gyula[6], 1871). Hay đến cội nguồn sông Nil ở châu Phi nóng bỏng, theo dấu chân của nữ thám hiểm người Hung đầu tiên, người khởi đầu con đường gập ghềnh của mình như 1 nô lệ, người sau này được dân các bộ tộc bản xứ gọi là Sao Mai bởi nước da trắng của bà (Sass Flóra[7], 1864). Chúng ta hãy leo lên đường biên tuyết phủ của đỉnh Kilimanjaro, nơi lần đầu tiên 1 người Hung đã tới (Teleki Sámuel[8], 1888), tên ông đã được đặt cho 1 ngọn núi lửa ở gần đó. Chúng ta hãy khám phá sông Congo, nơi 1 người Hung khác đã đi tàu ngược lên thượng nguồn bằng tiền tài trợ Bồ Đào Nha, để sau này tới những năm cuối đời ông phải sống trên bãi biển bằng việc gom nhặt những con gizellazuzmó[9] (Magyar László[10], 1848). Hay ta giả trang làm thầy tu đạo Hồi hành hương từ Constantinople tới Teheran để thuyết phục cả hoàng thân xứ Samarcand[11] về niềm tin đích thực của mình (Vámbéry Ármin[12], 1863). Hay ta lùng sục khắp vùng Alaska và châu Phi, mang về hàng tấn da báo và ngà voi rồi viết hàng chồng sách về những hồi ức của chúng ta (như Széchenyi Zsigmond[13], 1927-1938). Hay ta dùng ô tô khám phá ốc đảo Zarzura gần nơi gặp gỡ của 3 thung lũng cổ tích ở vùng sa mạc Libia, như nhân vật trong phim “Bệnh nhân người Anh” (The English Patient), kẻ ko tồn tại trong thực tế, và dân Beduin[14] gọi là Cha Cát (Almásy László[15], 1931).
Chúng ta cũng có thể theo dấu chân của những nhà cách mạng thất bại, một phần trong số họ sau “mùa xuân của các dân tộc” đã sang Thổ Nhĩ Kỳ sung làm lính đánh thuê. Một số người đã chết như những tín đồ đạo Hồi. Một bộ phận khác tới Pháp hay Ý, mơ tưởng về một cuộc cách mạng Hungary mới, trong khi một số khác thi thố tài năng quân sự trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ.
Khi người Hung hứng thú, nhiều khi họ huýt sáo điệu Nước cộng hòa hay là chết? Tự do hay nấm mồ? Các trích đoạn này xuất phát từ quốc ca Uruguay và Paraguay, phần nhạc của cả hai đều do người Hungary soạn[16]…
Ảnh: A “Magyar Tenger” (Pinterest)
------------
[1]: Benyovszkiy Móric (1746-1786) là quý tộc Hungary và Balan, nhà thám hiểm, nhà văn.
[2]: Kőrösi Csoma Sándor (1784-1842) là nhà ngôn ngữ, người sáng lập ra ngàng Tây Tạng học, người biên soạn từ điển Tây Tạng-Anh.
[3]: Déchy Mór (1851-1917) là nhà thám hiểm, nhà bản đồ học người Hungary.
[4]: Ferenc József (theo tiếng Đức là Franz Joseph, 1830-1916) là Hoàng đế Áo, vua Hungary, người đứng đầu nền quân chủ Áo-Hung từ 1867 đến 1916.
[5]: Svalbard là tộc người sống trên quần đảo Spitsbergen, nằm gần Bắc Cực, thuộc Thụy Điển.
[6]: Kepes Gyula (1847-1924) là bác sĩ, nhà thám hiểm Bắc Cực người Hungary.
[7]: Sass Flóra (1841-1916) là nữ thám hiểm, nhà nghiên cứu châu Phi người Hungary.
[8]: Teleki Sámuel (1845-1916) là nhà thám hiểm châu Phi, ông là người phát hiện ra các hồ Rudolf và Stefania.
[9]: gizellazuzmó là tên loài linh dương do Magyar László đặt bằng cách ghép "gizalla" (linh dương) và "zu zmo" (địa y).
[10]: Magyar László (1818-1864) là nhà địa lý, nhà thám hiểm Hungary, người đầu tiên khám phá sông Congo.
[11]: Samarcand là tp cổ nhất ở vùng Trung Á, nay thuộc Uzbekistan.
[12]: Vámbéry Ármin (1832-1913) là nhà Đông phương học người Hungary, giáo sư, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.
[13]: Széchenyi Zsigmond (1898-1967) là nhà văn, nhà săn bắn, nhà thám hiểm người Hungary.
[14]: Beduin là tên gọi người Ả Rập ở vùng Cận Đông và Bắc Phi.
[15]: Almásy László (1895-1951) là nhà thám hiểm, nhà nghiên cứu châu Phi người Hungary.
[16]: Phần nhạc của quốc ca Uruguay do Erkel Ferenc (1810-1893), nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà sư phạm âm nhạc Hungary soạn.
Phần nhạc của quốc ca Paraguay do Francisco Jósé Bebali (tên gốc Hung: Debály Ferenc József, 1791-1859), nhà soạn nhạc gốc Hungary soạn.
(còn nữa)
viết theo Lackfi János: Thế giới Hung (Giáp Văn Chung dịch)