Showing posts with label Trăn trở. Show all posts
Showing posts with label Trăn trở. Show all posts

Monday, April 28, 2025

Suy tư tháng 4

 Lại đến tháng Tư

Cứ đến dịp này hàng năm là tôi lại chia sẻ những suy tư về ngày 30.4.1975, ngày đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. 

Gần đây tôi không hay viết lên mạng về nhiều đề tài mà người ta quan tâm, từ kẻ mà tôi biết là bất lương đang phá hoại nước Mỹ và thế giới, từ nhà tu hành chân đất đang làm cho nhiều người nghĩ lại về đức tin của họ gửi vào Phật giáo, rồi việc kỷ niệm ngày 30.4 thế nào cho hợp đạo lý... 

Đầu tiên vì tôi còn nhiều việc khác phải làm trong phần còn lại của cuộc đời đang chuyển sang đoạn kết. 

Thứ đến là tôi không muốn sa vào các cuộc cãi vã vô bổ với những người luôn nghĩ là họ đang nắm chân lý. 

Lý do nữa là: Mạng xã hội đem lại „tự do thông tin“ cho con người, nhưng cũng là nơi nuôi trồng  và truyền bá những virus độc hại. Đám virus này đã đem lại những đại dịch đầu tiên. Đó là lối sống  tiêu xài vô bờ bến của con người đang phá hoại tài nguyên trái đất (ngay cả trên mạng). Đó là chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã đưa những kẻ như Trump, như Milei (Argentina) lên cầm quyền, đã giúp cho AfD, đảng tôn sùng Hitler trở thành chính đảng lớn thứ hai ở Đức v.v và v.v. 

Tôi đã bớt sử dụng Facebook vì nó đã bị các thế lực đen tối thao túng.

Tôi đã tập trung để phát hành một cuốn sách nhằm góp phần hàn gắn những vết thương chiến tranh. Tôi đã dành rất nhiều thời gian trong 3 năm qua để tìm hiểu các nhân chứng sống, truy tìm các nguồn tư liệu, đã chuẩn bị tài chính cho việc xuất bản sách vào dịp 30.4 năm nay.

Khi viết cuốn sách này tôi đã trên 70 tuổi, trong đó, nửa cuộc đời sống ở nước ngoài. Tôi đã trải qua cuộc chiến tranh Việt Nam trong những năm 1960-1970 ở miền Bắc, đã sống giữa cuộc chiến tranh lạnh ở CHDC Đức bên cạnh bức tường Berlin, đã chứng kiến cuộc sống của người miền Nam những ngày đầutiên sau 30 tháng Tư năm 1975, cũng như cuộc sống ở Đức ngay sau ngày thống nhất đất nước. Tất cả các trải nghiệm đó đã giúp tôi hiểu được sự vật vã của cả hai dân tộc sau mỗi bước ngoặt đầy đau khổ, tuy khác nhau về cách giải quyết và kết cục.

Tôi sinh ra ở miền Nam, trong khi gia đình vợ là người Bắc. Hai cuộc chiến tranh vừa qua đã để lại những vết xé trong hàng triệu gia đình, bất kể vùng miền, thành phần giai cấp. Sự chia rẽ đến từ hận thù do đạn xả sang nhau, do tuyên truyền và bóp méo lịch sử, do vắng bóng lòng vị tha…

Vì vậy tôi đã tập hợp những nhân vật và sự kiện lịch sử liên quan đến người thân bạn bè. Những con người này,  với lòng nhân ái, sự bao dung và hy sinh vô tận đã góp phần hàn gắn những vết thương do hận thù gây ra, đã làm cho gia đình hạnh phúc, cho xã hội không bị tan rã. Tất cả mọi câu chuyện đều được thẩm định và chứng giám bởi chính nhân vật hoặc thân nhân, có nguồn gốc từ các tư liệu quốc tế và nước nhà.

Bài viết của ông Tô Lâm cách đây vài hôm đang được dư luận chú ý. Đúng, lịch sử không thể viết lại, nhưng phải viết cho đúng. 

Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Chính xác! Bài học đúng chỉ rút ra được từ sự thật.

Đáng tiếc, nền kiểm duyệt ở Việt Nam đã khiến cho cuốn sách không ra kịp trước ngày 30 tháng Tư như dự định. Lý do chỉ là vì nó muốn đi đến tận cùng của sự thật. Một số bạn đang đọc bài này đã chứng kiến số phận long đong của quyển sách từ nhiều tháng qua.

Hôm nay một nhà xuất bản ở Hà Nội đã thống nhất với tôi về nội dung  và đang xin phép xuất bản cuốn ký sự tư liệu „Xuyên Qua Mọi Chiến Tuyến“ trong thời gian tới.

Hiện tại tôi chưa thể nói bao giờ sách được cấp phép in. Nhưng với những gì mà người lãnh đạo cao nhất Việt Nam tuyên bố hôm rồi, tôi hy vọng:  Một công dân như tôi cũng phải được đóng góp vào quá trình xây dựng kỷ nguyên mới của dân tộc.

Nguyễn Xuân Thọ

Wednesday, January 17, 2024

Vì sao nghèo? Chiến tranh. Vì sao sau chiến tranh không tăng trưởng?

 Tác động của chiến tranh lên nền kinh tế

    1. Tôi thường nghe câu nói cửa miệng "Nước ta nghèo, khó khăn là do hậu quả chiến tranh". Nghe riết thành quen, tưởng thật. Đến nỗi, chiến tranh qua đến nửa thế kỷ, nhiều người vẫn tưởng là ta nghèo là do chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Lãnh đạo thì lấy đó làm lý do biện hộ: chúng ta lãnh đạo tốt, đúng hướng, nhưng do chiến tranh nên .... 

    2. Chúng ta hãy thử suy nghĩ một chút xem điều đó có đúng không. Trong lịch sử thế giới, sau chiến tranh, thường kinh tế phát triển phồn thịnh. Ở nước ta, sau khi bị đô hộ và chiến tranh 10 năm, đầu đời Hậu Lê, kinh tế phát triển 

                "Đời vua Thái Tổ, Thái Tông 

           Gạo trắng đầy đồng trẻ chẳng chịu ăn"

     Các nước Nhật, Mỹ, Nga, Đức,... sau chiến tranh đều có những phát triển thần kỳ về kinh tế, mặc dù trừ Mỹ, đều bị tàn phá nặng nề. Từ thời Chu, ngay sau chiến tranh là Thành Khang chi trị, tới thời Thanh, đều thấy sau thời chiến tranh, lập quốc là thời phát triển mạnh. Nước ta sau khi chống Nam Hán, Nguyên Mông,...phân tranh Tây Sơn-Nguyễn đều hưng thịnh ngay sau chiến tranh. 

   3. Thực ra, nền kinh tế chậm phát triển là do thiếu động lực, bị ngăn cản bởi cơ chế già nua, những con người trì trệ bảo thủ, các thể chế hết thời. Chiến tranh thay đổi thế hệ, tạo ra khát vọng, phá hủy cơ chế cũ, và có một thị trường lớn làm lực đẩy. Có thể nói chiến tranh là động lực đẩy bánh xe kinh tế quay, khi quay sẽ tạo ra của cải, sức mua, cơ chế mới. Nước Mỹ từ sau chiến tranh lạnh luôn phải có các cuộc chiến tranh nhỏ cục bộ để kích hoạt nền kinh tế.   

   4. Vậy tại sao Việt Nam lại không có tăng trưởng hậu chiến như vậy: Có thể là do một số ngành kinh tế bị đứt gãy về cả nhân lực và tri thức, không có tiếp nối, do đó khát vọng không có đất gieo. Điều quan trọng hơn là sự cô lập với thế giới và với sự tiến bộ. Cũng có thể lực lượng chủ lực của bộ máy chiến tranh quá mạnh, không thể tự thay đổi. Cho đến nay vẫn còn đơn vị kinh tế, KHCN, giáo dục đào tạo của quân đội, công an, đảng và ....

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, May 29, 2023

Thái độ: Nói về cái mình muốn

Ly Hoang chinh: Người Trí thức là ai ? Theo tôi đó là người biết gắn tri thức của mình với trách nhiệm xã hội và khai sáng dân trí!🌺 

GS Ngô Bảo Châu là một trong những nhà khoa học danh tiếng tầm cỡ thế giới, bận trăm công ngàn việc xong Ông luôn trăn trở với những vấn đề lớn của đất nước. 

Việt Nam ta có đến hàng triệu GSTS, VNS, NKH...những người được cho là có tri thức và được coi là giới tinh hoa của đất nước, nếu họ đều là những Trí thức như Ông thì lo gì đất nước này ko hóa rồng!? Nhưng thật buồn thay!!!😪

YÊU NƯỚC! - GS Ngô Bảo Châu🌺

( Tôi nghĩ chắc Ông đã khóc khi viết bài này!!!? )😪

K. là giáo sư toán ở Đại học Yale, có quốc tịch Mỹ nhưng gốc là người Nga, nói tiếng Mỹ vẫn đặc sệt giọng Nga. Có lần tôi hỏi anh ấy lần cuối anh về Nga là khi nào. Anh ấy nói từ khi tôi đi Mỹ tôi chưa quay lại Nga bao giờ. 

Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, K. nói rằng đối với anh ấy nước Nga cũng giống như bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, anh không cảm thấy liên quan đến những gì hiện giờ đang xảy ra ở Nga. 

Trường hợp của K. không phải là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng không phải là một trường hợp cá biệt.

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng tôi cảm thấy cái lý trong những chia sẻ rất thẳng thắn của K. Nói cho cùng thì tại sao mỗi người phải gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra.

Một vài lần quá cảnh ở sân bay Hàn Quốc hoặc Nhật Bản, tôi bắt gặp vài tốp thanh niên Việt Nam, có vẻ như đến từ nông thôn, có vẻ như nói giọng Nghệ An, họ tụm năm tụm ba, ngồi bệt uống bia, đánh bài, có vẻ như không quan tâm đến xung quanh, nhưng kỳ thực mắt vẫn nhìn quanh với một vẻ nửa hoang mang, nửa thách thức. 

Những lúc đó bỗng dưng tôi thấy quặn lòng thương đồng bào của mình. Ai trong số họ đã nợ ngập cổ để mua cho bằng được một suất đi xuất khẩu lao động, ai trong số họ sẽ phải làm lụng vất vả mấy năm trời để trả hết số tiền đã vay, ai trong lúc bần cùng, nghe bạn bè rủ rê, sẽ đi ăn trộm ăn cắp.

Tại sao lại đồng cảm với họ? Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ có thể dùng để hiểu nhau, ngoài nơi sinh Hà Nội và Nghệ An cách nhau vài trăm cây số, tôi có gì chung với họ? Tại sao tôi vẫn cảm thấy “liên quan” đến số phận của họ? 

Tôi thấy chỉ có một câu trả lời hợp lý duy nhất: sự “liên quan” đó chính là lòng yêu nước. Nếu đó là tình yêu thì có lẽ không cần tìm cách lý giải nữa.

Chắc chắn mỗi người yêu nước, hoặc không, theo một cách khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình.

***

Tôi rất thích xem bản đồ. Nhìn cái quả cầu xanh xanh nhớ lại chỗ này chỗ kia mình đã đi qua. Nhớ cánh đồng lúa xanh mướt, nhớ con đường nho nhỏ chạy thẳng ra biển mà ở ven ven thấp thoáng những tháp chuông nhà thờ. Nhớ những đỉnh núi hùng vĩ quanh năm tuyết trắng, nhớ những cánh rừng thông xào xạc chạy dọc bờ biển Đại Tây Dương. 

Chỗ nào cũng cảm thấy như nhà mình, trái đất là nhà mình, dù rằng có một vài điểm hình như thân thương hơn các điểm khác.

Nếu hay xem bản đồ thế giới, đến một lúc nào đó, bạn sẽ có một phát hiện rất lạ lùng. Hóa ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất. Đi tiếp sang phía đông, hay xuống phía nam là biển rộng, là đại dương.

Văn minh nhân loại được mở rộng và phát triển nhờ vào những cuộc viễn chinh, những làn sóng di dân. Chiến tranh và những cuộc di dân, vừa là tai họa cho cuộc sống con người, lại vừa là phương tiện chuyên chở tôn giáo, những tư tưởng nhân văn, những kiến thức về tổ chức xã hội, những phát kiến khoa học và kỹ thuật. 

Những cuộc chiến tranh, những cuộc di dân, những thảm họa đã từng cầy xới châu Âu cũng đã là một nguyên nhân làm cho nó trở nên phồn thịnh, văn minh.

Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa của văn minh nhân loại. 

Chiến tranh, thực ra không nhiều, hầu như đều đến từ phương Bắc, người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, văn minh Trung hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc bộ.

Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung hoa, họ cũng hiểu rõ họ cần thoát ra ngoài cái khung đó để mưu cầu hạnh phúc, và họ muốn thoát ra bằng mọi giá.

***

Mấy tuần gần đây, dù muốn hay không, mà thực ra là không muốn, tôi cảm thấy rất quan tâm đến diễn biến chính trị ở Việt Nam. 

Tôi nhận thấy rất nhiều người cũng quan tâm như tôi, có lẽ quan tâm đến đại hội lần này hơn hẳn so với những đại hội lần trước, dù rằng về cơ bản, chúng ta không “liên quan” gì đến đại hội của “họ”.

Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.

Tôi không định nói chúng ta phải quay lưng lại với cốt cách của con người Việt Nam truyền thống. Đối với tôi, cậu thanh niên Nghệ An quần áo xộc xệch dáng vẻ lấm lét ở sân bay Narita, dường như thân thương hơn nhiều so với các nam thanh nữ tú Hong Kong đang dán mắt vào cửa kính các quầy hàng duty free.

Nhưng tôi mong muốn một khế ước xã hội như những khế ước xã hội đã là nền tảng cho những nước phát triển. 

Tôi muốn một xã hội công bằng được đảm bảo bởi một nhà nước pháp quyền.

Tôi muốn một nền kinh tế lành mạnh, phồn thịnh hoạt động trên nguyên tắc thị trường. 

Tôi muốn một xã hội mà ở đó người dân có thể tự tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình mà không bị cản trở, đó là xã hội dân sự.

Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ súy cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự.

***

Ngay cả khi không có lá phiếu, người dân cũng cần nói rõ về xã hội mà mình muốn. 

Nói được cái mình muốn không hề dễ, nó khó hơn nhiều so với nói cái mình không muốn. Nếu không nói được cái mình muốn, nó sẽ không bao giờ xảy ra.🌲☘🌺

N.B.C.

Tuesday, November 29, 2022

VIẾT NGẮN

 1

   Ta khoái lạm dụng khi nói : Có làm có sai! Sai thì sửa!... 

   Mới nghe có lý, có vẻ biện chứng. Nhưng thực chất chỉ bao biện. Ta quên, có những việc không được sai. Và, sai thì không sửa được!? 

2

   Ông bà mình có câu : Sai thì phải đền! "Bắn súng không nên phải đền đạn" cũng là! 

   Ngày xưa, ông thợ may nhà quê, đo sai, cắt sai thì móc tiền túi ra đền. Không mè nheo! Không nói nhiều! Còn biết xấu hổ,... 

3

   Quốc gia đại sự làm sân bay, cảng biển, cao tốc, khai thác tài nguyên, hoá chất, lọc dầu, thuỷ điện,... Nói chung là đầu tư công thì không được phép quyết định sai.

   Quyết định sai gây lãng phí quá sức. Chính lãng phí làm tổn thương, làm nghèo đất nước ghê gớm nhất. Nó đẻ ra trăm ngàn thứ bệnh tật kể cả tâm thần (?!). 

4

   Ước gì...!!! 

   Huống hồ,...!!!

... 

(Saigon, 29.11.2020 - 29.11.2022. Vẻ đẹp vốn không xa hoa - Ảnh internet, xin miễn thứ bản quyền và nhân vật)

Chiêm Lưu Huy

Thursday, October 20, 2022

Hiểu ntn

 ĐỘC LẬP 

Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi Ủy ban Nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” và đăng bài báo “Bỏ cách làm tiền ấy đi!” trên tờ Cứu Quốc, phê phán tệ bán chức và buộc dân góp quỹ. Trong thư, người đứng đầu nhà nước tuyên bố: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Với hạnh phúc và tự do như ngày nay, ý nghĩa của độc lập là gì?

Ngô Mạnh Hùng

Tuesday, September 27, 2022

Tại sao VN: Về những cái ngoại lệ (cái nước mình nó thế)

 Vì sao không có sản phẩm khoa học công nghệ, 

    1. Có một số lý do trực tiếp: a) Năng lực tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu ứng dụng,  b) Nhận thức, đánh giá sản phẩm (coi mấy ông shark thì biết, cứ KHCN là các ông ôm đít chạy, mấy thứ thịt chua, cơm lam, quán cà phê thì lao vào) c. Văn hóa khởi nghiệp d) Hệ sinh thái chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên đều không phải là lý do chính. Bởi lẽ hễ có thị trường, tiền thì kém mấy cũng ngóc dần lên được chứ không đến nỗi èo ọt thế này. 

    2. Lý do sâu xa là thực tế không có thị trường. Nhà nước cũng chỉ nói là sẽ đặt hàng, doanh nghiệp lớn cũng nói muốn làm nọ làm kia "nhu cầu xã hội lớn". Họ nói như vẹt, đều vì chính trị và truyền thông cả. "Lớn" là bao nhiêu, tôi đố họ đưa ra con số có sở cứ. Nhà nước cần quái gì khoa học công nghệ ngoài thành tích và lý do biện minh cho tiêu ngân sách. Ứng dụng CNTT phần lớn là giải ngân. Làm mấy Web service thì cần gì công nghệ, đừng nói khoa học. Doanh nghiệp ông nào cũng nói cần, nhưng thực ra họ không cần KHCN. 

     3. Mà điều đó cũng đúng thôi, doanh nghiệp cần nhất là kiếm tiền. Ở VN các doanh nghiệp đều muốn kiếm tiền nhanh, thu tiền về, xóa dấu vết sạch sẽ để làm quả khác. Nếu vậy thì cần gì sản phẩm KHCN. Ứng dụng KHCN là để kéo dài chu kỳ tăng trưởng, chỉ thích hợp với các mô hình kinh doanh đầu tư vào chất lượng sản phẩm, có lượng khách hàng trung thành, tin tưởng vào thương hiệu. Ở Việt Nam một mô hình kinh doanh thu hồi vốn 5-7 năm, tăng trưởng 20%, các đại gia không ai quan tâm. Bởi vì có nhiều trò ăn nhanh hơn. 

    4. Muốn có sản phẩm khoa học công nghệ trước hết thì phải tác động vào 2 thứ: i) Phát triển Thị trường IP ii) Động lực ứng dụng. Nói cho cùng động lực là cái căn nguyên sâu xa. Khi nào vẫn có những thứ "lướt sóng", "siêu lợi nhuận", không ai cần KHCN. KHCN sẽ lên ngôi khi các nhà đầu tư quan tâm tới các mô hình kinh doanh 7 năm thu hồi vốn, tăng trưởng 15% liên tục trong 7-10 năm, chứ không nói chuyện tăng trưởng 30-50% như hiện nay một cách dễ dàng.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, September 5, 2022

Thư gửi người đầu ngành

 KÍNH GỬI BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

Thưa Bộ Trưởng NGUYỄN KIM SƠN,

Tôi là Mạc Văn Trang, nhà giáo, 84 tuổi. Tôi đi dạy học từ lúc 22 tuổi, rồi sau này vừa học, vừa nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn Nghiên cứu sinh cho đến 80 tuổi. Cả một đời yêu nghề, gắn bó với giáo dục. Giờ đây vẫn rất trăn trở với nhiều chuyện của Ngành ta. Trong Thư này, tôi chỉ xin thưa với Bộ trưởng về vấn đề GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG.

1. Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục

Ngày xưa, các ông Đồ, các Thầy dạy tư có khi chả biết Bộ giáo dục là gì, tự họ dạy học trò nên người, người dân tin tưởng gửi con đến nhờ các Thầy dạy dỗ. Thời phong kiến, thực dân, thời Việt Nam Cộng hòa, người Thầy giáo vừa được trọng vọng vừa có lương bổng nuôi sống cả vợ con.

Thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ 1954 đến 1960, các giáo viên “Lưu dung" từ chế độ cũ vẫn được trọng dụng, hưởng nguyên lương như trước, cao gấp 2 - 3 lần giáo viên “cách mạng". Từ năm 1961 tiến lên CNXH, rồi sau đó chiến tranh, đời sống dân miền Bắc vô cùng khó khăn, nhưng nền giáo dục XHCN cùng với Y tế luôn được coi là “Hai Bông hoa” đáng tự hào của chế độ.

Tất cả những giai đoạn nêu trên, Nhà trường và Thầy giáo luôn có vị trí được xã hội tôn kính. Chính quyền, nhất là cấp Xã/ Phường không có chuyện can thiệp thô bạo vào nhà trường hay vô lễ với các Thầy, Cô giáo.

Từ những năm 1961 - 1962 tôi làm Hiệu trưởng trường cấp 2; lúc đó không có chuyện Chủ tịch, Bí thư xã đến “huấn thị" cho nhà trường. Họ lên phát biểu chỉ cảm ơn các Thầy, Cô và mong các Thầy, Cô thông cảm, địa phương còn nhiều khó khăn, chưa chăm sóc được cho nhà trường đầy đủ… Khi một giáo viên có chuyện gì, Công an báo cáo với Hiệu trưởng để xem xét giải quyết và thông báo cho họ…

Các giáo viên dù được đào tạo Chính quy hay Hàm thụ, khi đã tốt nghiệp đi dạy, không ai phân biệt, và như vậy đã ĐỦ ĐIỀU KIỆN để làm giáo viên. Việc đánh giá giáo viên chỉ có học sinh, đồng nghiệp, cha mẹ học sinh đánh giá là chính xác; cho nên mỗi giáo viên không ngừng TỰ học hỏi, trau dồi nghề nghiệp để mình xứng đáng làm Thầy, để có uy tín…

Càng yêu cầu cao với người giáo viên thì càng phải tôn trọng họ cao hơn và tạo điều kiện để họ sống đàng hoàng, xứng đáng với vị trí người Thầy…

Phải biết trân trọng lao động của Giáo viên và tôn trọng Nhân cách người Thầy, vì họ là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục.

Khi các cơ quan quản lý phình to, quan liêu, hống hách, còn vị trí Nhà trường và người giáo viên nhỏ bé đi thì hỏng rồi! Nên nhớ từ những năm 1960 người giáo viên “có giá" lắm, “coi thường" các cơ quan quản lý, không giáo viên giỏi nào chịu về các cơ quan quản lý, vì bị “mất dạy"! Lúc đó anh em giáo viên bông đùa: “Ho lao thối phổi về Ty/ Tham ô, hủ hoá thì đi về Phòng/ Những người già lão có công/ Thì đưa về Bộ cho xong cuộc đời”! Người giáo viên đàng hoàng, tự tin lắm, không phải xun xoe, khúm núm trước các cơ quan quản lý.

Hãy hình dung Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục “tự nhiên biến mất", nhưng nhà trường còn, giáo viên còn, thì mọi hoạt động giáo dục vẫn diễn ra như thường!

Vậy thì Bộ, Sở, Phòng giáo dục sinh ra để làm gì? Để phục vụ giáo viên thực hiện tốt nhất sứ mệnh thiêng liêng của mình. Cục Nhà giáo sinh ra là để chăm lo cho các Nhà giáo lao động nhẹ nhàng hơn mà hiệu quả hơn; Chế độ, chính sách lương bổng, đời sống giáo viên ngày càng cải thiện, sung sướng hơn, để nhà giáo thêm yên tâm cống hiến…

2. Vậy mà các cơ quan quản lý giáo dục đang làm khổ giáo viên đủ trò

Bao lâu nay bày trò “Thi giáo viên dạy giỏi” cấp trường, cấp huyện/quận, cấp tỉnh...rồi “Thi đua" đủ mọi thứ; bình bầu, đánh giá giáo viên theo bao nhiêu tiêu chí, khiến hoạt động giảng dạy của giáo viên bị rối nhiễu; người thầy giáo phân tán tâm trí, hao phí thời gian, sức lực vào những chuyện vô bổ, thậm chí gian dối... Những hoạt động đó thường gây không khí căng thẳng, tiêu cực trong môi trường sư phạm của nhà trường.

Nghe nói nhiều Phòng giáo dục, nhiều Hiệu trưởng trở thành “quan lớn" ức hiếp giáo viên, gây nhiều nỗi bức xúc cho các Thầy, Cô giáo. Nghe nói có nơi bắt các cô giáo đi “tiếp khách" hầu hạ quan chức(?). Hỏng quá!

Đặc biệt là Bộ, rồi các Sở quy định giáo viên phải học thêm bao nhiêu chứng chỉ mới được công nhận là giáo viên chính. Đây là trò làm khổ giáo viên, làm nhục giáo viên và làm giàu cho “nhóm lợi ích” ăn tiền trên mồ hôi nước mắt của giáo viên. Tôi đã nói ở trên, người đã tốt nghiệp Trường/Khoa Sư phạm ra làm giáo viên, sau thời gian tập sự, họ đã đủ điều kiện, không cần bất cứ Chứng chỉ nào nữa. Họ thiếu, yếu cái gì thì sẽ tự bồi dưỡng tại cơ sở…

Tôi có rất nhiều bằng chứng các giáo viên cung cấp: Họ bị bắt buộc đi học một cách qua loa, để nộp tiền và nhận mấy cái Chứng chỉ về vứt xó…

Tất nhiên cần những Tiêu chuẩn Nhà giáo, ai không còn xứng đáng thì đưa ra khỏi ngành, nhưng không vì thế mà làm như “khủng bố" tất cả cả đội ngũ giáo viên!

3. Mấy kiến nghị

3.1. Đề nghị Bộ trưởng TINH GIẢN BỘ MÁY các cơ quan quản lý giáo dục; càng lắm người, họ càng nghĩ ra nhiều trò có hại: Họ soạn ra bao nhiêu văn bản sai trái, có hại; họ tổ chức nhiều cuộc họp hành vô bổ… Đặc biệt xin Bộ trưởng kiến nghị các cấp có thẩm quyền bỏ ngay các Phòng giáo dục Quận/Huyện đi! Thêm cấp quản lý này chỉ bày việc ra làm khổ giáo viên, nhiều chuyện tồi lắm, không muốn kể ra đây! Thời đại 4.0, Bộ, Sở giáo dục thông tin trực tiếp đến các trường, vừa nhanh, vừa chính xác, không cần cấp trung gian.

3.2. Bãi bỏ ngay việc bắt giáo viên HỌC CÁC CHỨNG CHỈ và CẢI TIẾN CÁCH ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN. Nên bỏ việc Thi giáo viên giỏi các cấp; không bỏ được Thi đua thì tinh giản các tiêu chuẩn càng ít càng tốt; nghiên cứu việc đánh giá giáo viên sao cho nhẹ nhàng, thực chất. Cần thấy rằng, dẫu là Chiến sĩ Thi đua, Tiên tiến xuất sắc, Tiên tiến hay Bình thường không có giá trị gì, nếu học sinh và đồng nghiệp không tín nhiệm.

Người Thầy giáo không cần danh hiệu nào, ngoài sự kính trọng, yêu mến của học sinh và sự tin tưởng của Cha mẹ học sinh, của đồng nghiệp. Đó mới là điều người giáo viên cần tu dưỡng, rèn luyện, chứ không phải bày đặt mấy cái danh hiệu thi đua tào lao!

3.3. Việc học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên là việc thường xuyên và hết sức quan trọng, nhưng hãy tiến hành BỒI DƯỠNG TẠI TRƯỜNG bằng hình thực trực tiếp hay trực tuyến, hoặc qua các băng hình… Tránh hết sức bắt giáo viên tập trung nghe giảng bồi dưỡng rồi "mua" Chứng chỉ!. Mỗi trường học, Tổ bộ môn là một đơn vị tự bồi dưỡng hiệu quả nhất. Qua hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mỗi giáo viên, mỗi nhà trường.

3.4. Một trong những dấu ấn của nhiệm kỳ này, mong Bộ trưởng hãy CẢI THIỆN HÌNH ẢNH và ĐỜI SỐNG CỦA NHÀ GIÁO. Như Cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên nói, nhiều giáo viên yêu thích nghề vì “được nghỉ hè ba tháng" và là “nghề Tự do"... Hãy tôn trọng lao động sư phạm có tính độc lập, tự do của người giáo viên và do đó người giáo viên càng có ý thực tự chủ vươn lên xứng đáng với trách nhiệm của mình; càng o ép, kiểm soát làm người giáo viên nhỏ bé đi, hèn mọn đi, thì sự nghiệp giáo dục càng hỏng.

Bộ trưởng hãy tìm cách cải thiện đời sống cho giáo viên, nhất là các Thầy, Cô giáo ở những vùng khó khăn. Không thể để xã hội nhìn nhà giáo tội nghiệp như những kẻ cần được bố thí! Hãy kiên quyết làm sao để giáo viên được tăng lương.

Thưa Bộ trưởng,

Tôi tâm đắc với câu Bộ trưởng nói: “Bỏ văn mẫu", “Dạy THẬT, Học THẬT, Nhân tài THẬT", nhưng trước hết toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh phải NÓI THẬT đã!

Thư này tôi nói rất THẬT, và xin nhắc lại: Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy từ Bộ trưởng đến Hiệu trưởng hãy kính trọng các Thầy, Cô giáo đang đứng lớp.

Kính Chúc Bộ trưởng Mạnh khoẻ, Hạnh phúc!

Mạc Văn Trang

Wednesday, January 5, 2022

CHUNG MỘT GIẤC MƠ VIỆT NAM!

 Nước  ta có khả năng trở thành một nước lớn và giàu mạnh nếu động viên được  mọi trái tim, mọi khối óc, mọi bàn tay trong sự nghiệp xây dựng tương  lai chung. Tuy vậy thực tế đáng buồn là ngày hôm nay chúng ta vẫn còn  đang phải đấu tranh cam go để có được điều mà hầu hết các dân tộc đã có:  dân chủ.

 Cuộc đấu tranh đã dài hơn chúng ta mong muốn vì  ngoài những khó khăn đã được nhận diện còn thêm một lý do khác: đây là  cuộc đấu tranh hoàn toàn mới trong lịch sử nước ta. Từ trước đến nay  chúng ta đã chỉ có những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các  thế lực thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại xâm mà mục đích, xét  cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy một ách nô lệ  bản xứ. Chúng ta chưa bao giờ là một dân tộc tự do. Lần này chúng ta  chiến đấu để mở ra cả một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thứ hai của lịch sử  nước ta, kỷ nguyên của những con người Việt Nam tự do và của một nước  Việt Nam dân chủ.

 Đó là cuộc chiến đấu để đưa người Việt Nam  và đất nước Việt Nam từ bóng đêm của nô lệ và nghèo khổ sang ánh sáng  của tự do và phồn vinh. Lần đầu tiên chúng ta có một cuộc chiến đấu thực  sự xứng đáng để chiến đấu. Như vậy những con người Việt Nam hôm nay cần  ý thức rằng họ đang đứng trước cơ hội để tạo ra biến cố lịch sử lớn  nhất và vinh quang nhất, cơ hội mà các thế hệ mai sau sẽ không thể có.

 Thử  thách trước mặt chúng ta tuy rất lớn, nhưng hy vọng thôi thúc chúng ta  còn lớn hơn bởi vì cuộc chiến đấu này không chỉ xứng đáng và vinh quang  mà còn tất thắng. Chúng ta được chuyên chở và thúc đẩy bởi cả một làn  sóng dân chủ toàn cầu và bởi nguyện ước chung của một dân tộc đã dần dần  hồi phục sau những thương tích. Chúng ta đang được tiếp viện của cả một  thế hệ mới đã tự khai phóng và quyết tâm làm những con người tự do.  Đằng sau những trở ngại là cả một tương lai rực sáng.

 Chúng ta  nhất định thành công. Dân tộc Việt Nam đã thức tỉnh sau khi đã phải trả  giá rất đắt cho hận thù và chia rẽ, cho óc độc quyền lẽ phải, cho sự  cuồng tín và tôn thờ bạo lực. Chúng ta đã hiểu bằng máu và nước mắt và  đã chấp nhận trong da thịt những giá trị giản dị nhưng mầu nhiệm như tự  do, dân chủ, hòa bình, công lý, bao dung, cố gắng. Chúng ta đã nhuần  thấm tình dân tộc nghĩa đồng bào trong sự tủi nhục chung vì thua kém.  Chúng ta đã nhận ra rằng tất cả mọi người Việt Nam đều ràng buộc với  nhau trong một số phận chung. Chúng ta đang có một đồng thuận dân tộc  lớn nhất kể từ ngày ông cha mở nước. Đồng thuận ấy sẽ là vũ khí vô địch  giúp chúng ta vượt mọi trở ngại.

 Bài học lớn nhất của lịch sử  thế giới là một dân tộc muốn vươn lên chỉ cần ba yếu tố: một xã hội tự  do, những con người cần mẫn và đồng thuận dân tộc. Chúng ta là một dân  tộc cần mẫn đã có đồng thuận dân tộc và sắp có tự do. Chúng ta sẽ vươn  lên. Chúng ta có quyền lạc quan trong cuộc hành trình về tương lai.

 Lạc  quan và hãnh diện vì cuộc đấu tranh của ta trong sáng. Nó không nhắm  tiêu diệt hay hạ nhục một ai, nó là cuộc đấu tranh để tôn vinh mọi  người, tôn vinh quyền làm người và quyền được hưởng hạnh phúc như một  dân tộc lớn mà dân tộc ta rất xứng đáng để có.

 Chế độ độc tài  này sẽ là chế độ độc tài cuối cùng tại Việt Nam. Rũ bỏ được nó chúng ta  sẽ vĩnh viễn đi vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, dân chủ, bao  dung, đùm bọc, kỷ nguyên vinh quang của những cố gắng chung và của  thành công chung.

 Chúng ta hãy nắm tay nhau cùng cất cao một lời nguyền:

 Nước Việt Nam sẽ là một nước lớn.

 Làm người Việt Nam cho tới nay đã là một điều bất hạnh thì làm người Việt Nam trong một tương lai gần sẽ phải là một niềm vui, một may mắn và một nguồn hãnh diện.

 Thế giới đã biết đến Việt Nam như là nạn nhân của hận thù và chia rẽ, của óc độc quyền lẽ phải ​thì thế giới sẽ phải biết đến Việt Nam sau này như là vùng đất của sự bao dung, như là một mẫu mực thành công của tình anh em tìm lại, của sự hồi sinh từ điêu tàn và đổ nát. 

 Đó  là lý tưởng của thời đại chúng ta. Đó là di sản mà chúng ta sẽ để lại  cho các thế hệ sau. Đó là giấc mơ Việt Nam mà các chí hữu của Tập Hợp  Dân Chủ Đa Nguyên cùng theo đuổi và muốn chia sẻ với mọi người Việt Nam,  trong cũng như ngoài nước, hôm nay và ngày mai.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

- Trích Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai (Dự Án Chính Trị của THDCĐN - https://bitly.com/KSKNTH)

Monday, May 24, 2021

Thuật cầm đầu thiên hạ

 LÀM CÁCH NÀO ĐỨA NGU THỐNG TRỊ ĐỨA KHÔN?

Ông hàng xóm hỏi tôi: "Người ta hay nói đứa ngu thống trị đứa khôn. Tôi vắt tay lên trán nghĩ mãi không ra. Làm gì có chuyện đó?" 

Tôi trả lời:  "Có chứ. Trong lịch sử nhân loại có đầy. Từ "hôn quân" có nghĩa là ông vua tăm tối, ngu dốt".

Ông hàng xóm lại thêm thắc mắc: "Nó đã có cái đầu tăm tối ngu dốt thì bằng cách nào mà thống trị được đứa khôn?"

Quả nhiên, câu hỏi này khó đối với nhiều người. Tôi thì hiểu đơn giản và trả lời luôn: "Nên hỏi Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ Không nổi tiếng thông minh, thần thông biến hoá, nhãn tuệ thấu suốt cả cõi ma quỷ lẫn thánh thần. Nhưng đành phải chịu sự thống trị của Đường Tam Tạng!"

Ông hàng xóm ồ lên: "Hoá ra bí mật nằm ở cái vòng kim cô!"

Tôi khen ông hàng xóm thông minh. "Ban đầu con khỉ kia bất trị, đến Ngọc Hoàng và cả Thiên đình cũng khiếp sợ. Nhưng sau khi bị Quán Thế Âm lừa cho vào đầu cái vòng kim cô. Thế là... Mà chưa hẳn con khỉ kia hàng phục ngay đâu. Chủ nhân của nó là Đường Tăng cũng chẳng biết gì hơn ngoài câu thần chú được Quán Thế Âm ban cho. Mỗi lần chờ con khỉ cãi là ông ta niệm chú. Thế là con khỉ kia loạn não, đau đớn đến điên loạn và chỉ biết cầu xin. Sau mấy lần như vậy, con khỉ chỉ cần thấy Đường Tăng chắp tay miệng lảm nhảm là tha thiết gọi sư phụ tha cho và tự động làm theo lệnh."

Ông hàng xóm mắt sáng lên: "Hoá ra, đứa ngu nhất thường không cần lý lẽ. Chỉ cần cái bửu bối chụp mũ là thống trị cả đứa khôn nhất. Tài thật. Tiên sư lão Ngô Thừa Ân!"

Tôi gật đầu: "Nhưng ông nên nhớ, đứa ngu ấy lại được tiếng từ tâm, tức nhân văn, nhân đạo đấy. Bọn ma quỷ sống được là nhờ sự từ tâm, nhân đạo, nhân văn theo cách ấy."

Chu Mộng Long 

Thursday, April 15, 2021

TRÍ THỨC VÀ TIẾNG NÓI PHẢN BIỆN

 Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào.

     Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó, trở thành những kẻ xu nịnh hèn mạt.

     Trong khi đó, trí thức là “kho trí khôn” là “túi càn khôn”, là “mỏ trí tuệ” của những xã hội văn minh, nơi đề cao tiếng nói phản biện. Tại đó, trí thức và giới trí thức không chỉ là những người cung cấp ý tưởng, tư tưởng, các sáng kiến, vạch ra kế sách, can dự vào các chính sách, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn những giá trị tinh thần cao quý như đạo đức, lẽ phải, sự tiến bộ, định hình chiến lược giúp quốc gia hướng tới tương lai.

     Vậy trí thức thực chất là ai?

     Có khá nhiều định nghĩa thế nào là một trí thức? Theo tiêu chí học vấn và có vẻ cũng dễ được chấp nhận nhất, thì trí thức là người có bằng cấp, có học hàm học vị. Theo tiêu chí công việc, thì trí thức là những người chuyên nghiên cứu, phát minh, sáng chế, quản lý, truyền thụ kiến thức....nghĩa là làm việc bằng cái đầu. Rồi với mỗi chế độ xã hội lại có những định nghĩa khác nhau, theo quan niệm riêng của mình, về trí thức.

     Một trí thức lớn (mà tôi không nhớ tên) có một cách nói rất hay, làm nổi bật chân dung của một trí thức. Ông bảo rằng: Người nghĩ ra bom hạt nhân, chắc chắn phải là một bác học. Nhưng nếu anh ta không thấy trước để cảnh báo về tai họa của bom hạt nhân với nhân loại, thì anh ta chưa phải là một trí thức!” 

     Một người học đầy mình, có đủ kiến thức đông tây kim cổ nhưng nếu thiếu trách nhiệm với cộng đồng, thiếu đạo đức, vô cảm với nỗi đau đồng loại, thì vẫn chưa phải là một trí thức.

     Sự quan trọng của trí thức trước hết bởi họ vốn là những người luôn có óc hoài nghi. Người bình thường, những kẻ ít học, có thể yên phận tin theo số đông, nhưng một trí thức thì không, hoặc không dễ tin theo. Thậm chí anh ta sẵn sàng chống lại tất cả để bảo vệ quan điểm, chính kiến của mình. 

     Nhưng giá trị đích thực, giá trị lớn nhất của trí thức lại ở chính cái phẩm chất ấy? 

     Thứ hai, trí thức là những người có tầm nhìn xa, có tư duy sắc bén, nhạy cảm với mọi thay đổi. Họ là những người đoán định được tương lai dựa trên những suy tưởng mang tính triết học. 

     Nhưng có lẽ quan trọng nhất, trí thức là nguồn ánh sáng dẫn dắt sự phát triển lành mạnh của xã hội. Một xã hội không phát triển, chắc chắn là một xã hội không có tương lai. Nhưng sự phát triển thiếu dẫn dắt, thiếu trí tưởng tượng lại rất dễ gây thảm họa, tạo ra thứ chúng ta gọi là nhân tai, thậm chí còn nguy hiểm cả hơn thảm họa thiên tai, như chúng ta vẫn thấy.

     Chính vì những điều đó mà tiếng nói của trí thức luôn vô cùng quan trọng. Nó cần thiết vào mọi thời điểm, mọi không gian quyền lực chính trị, văn hóa, với mọi thể chế xã hội. Trước mỗi vấn đề lớn của quốc gia, liên quan đến hàng triệu người, thì tiếng nói của trí thức càng phải được lắng nghe một cách nghiêm túc và chân thành.

     Trên thực tế, thì tiếng nói quan trọng nhất của trí thức thể hiện ở những ý kiến phản biện.

     Tuy được nhắc đến hàng ngày, nhưng không nhiều người hiểu thấu đáo từ phản biện, hành động phản biện. Vì nó có từ “phản” (luôn được hiểu là chống lại) nên thường phản biện bị gán cho nghĩa tiêu cực. Tiêu cực nhất mà người ta hay quy cho phản biện, là nó làm thất tán sự tập trung, phá rối, gây mất đoàn kết của cộng đồng khi thực hiện một công việc, một chính sách nào đó!

     Vậy phản biện cần được hiểu thế nào? 

     Trước hết, phản biện là một tư duy, một thái độ và một quyền. Trong từ điển Đào Duy Anh, thì phản có nhiều nghĩa: Trái; Trả lại; Trở về; Tự xét. Còn từ biện có các nghĩa: Xét rõ để phân biệt; Tranh luận phải trái; …Ghép hai từ lại với nhau thành Phản biện, có thể hiểu là đưa ra một cái nhìn trái chiều mang tính tranh luận, trên cơ sở học thuật và trách nhiệm, để tìm ra những chỗ sai, những chỗ chưa hợp lý, những chỗ chưa chuẩn xác, chưa khôn ngoan, chưa hợp thời… (của một quan điểm, một chính sách nào đó) rồi cùng nhau đạt đến mức hoàn thiện nhất có thể. Như vậy từ sâu trong bản chất, phản biện mang tính trách nhiệm và tinh thần xây dựng, chứ không như nhiều người cho rằng nó nhằm chống lại, phá rối? 

     Đã phản biện thì đòi hỏi đầu tiên phải có chính kiến. A dua, nói theo thì còn phản biện nỗi gì! Bởi vì a dua là một hình thức xu thời, chắc chắn mang động cơ vụ lợi cá nhân. 

     Tiếp theo, muốn phản biện, phải có nền tảng học vấn tốt, có tư duy độc lập, không chấp nhận bất cứ CHỈ ĐẠO định hướng nào, của bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào. 

     Cuối cùng, người đưa ra ý kiến phản biện phải là người có tư cách đạo đức, có tinh thần tự do.

(Chiếu theo các tiêu chí này, thì liệu chúng ta có bao nhiêu trí thức, bạn đọc hãy tự trả lời. Rất nhiều người có bằng cấp đầy mình, có hàng chục danh hiệu sang trọng về học vấn đi kèm nhưng thực sự họ chỉ là KẺ GIÚP VIỆC).

     Vì sao cần tiếng nói phản biện?

     Trên thực tế không có bất cứ thứ gì là hoàn hảo, vì thế bất cứ thứ gì muốn tiến tới hoàn hảo, cũng cần được soi xét nhiều chiều. Một mô hình phát triển, một đường lối, một chính sách, một điều luật, một chủ trương… có ảnh hưởng lớn đến xã hội, cho dù nhóm soạn thảo có tài giỏi đến đâu, cá nhân nào đó có là thiên tài, thì vì đặc tính “nhân vô thập toàn” của con người, không thể nào bao quát được toàn bộ sự đúng đắn. Sự giới hạn về mặt không gian, thời gian, văn hóa… cũng luôn là một vật cản chắn tầm mắt của những người trong cuộc. 

     Khi đó nó cần các nhà phản biện, như những người có thể giúp họ thoát ra khỏi vấn đề để nhìn nó từ bên ngoài, từ nhãn quan khác, từ phía ngược lại. Bởi vì mục tiêu cuối cùng của phản biện không phải là để tranh hơn tranh kém về tầm vóc học vấn, không phải nhằm tìm cách bôi nhọ, giễu cợt nhau, không nhằm xóa bỏ vô lối, vô lý mà để hoàn thiện thứ bị phản biện.

     Viết đến đây tôi lại nhớ đến lời của một vĩ nhân: “Dân tộc nào thiếu vắng những nhà phản biện lớn, thì đó là dân tộc đại vô phúc”. 

     Một đảng phái, một chính thể luôn tuyệt đối hoá mình, tự coi mình là đỉnh cao trí tuệ, là chân lý thời đại để từ đó coi mọi ý kiến không giống mình là sai trái rồi tìm mọi cách đàn áp bằng bạo lực, sẽ không bao giờ có tương lai.

Lao Ta

Monday, April 5, 2021

Tại sao VN lẹt đẹt?

 Không biết việc Việt Nam mãi lẹt đẹt nhược tiểu thì lỗi phần lớn ở tầng lớp elite hay ở tầng lớp bình dân, hay ở một lớp người cơ hội mà ta hay gọi là Việt gian?

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, October 23, 2020

Câu hỏi của rừng

 PHỤC HỒI RỪNG ĐỂ CHỐNG LŨ LỤT CÓ DỄ KHÔNG ?

Xin thưa là : Không dễ ! Và xin thưa, rừng nguyên sinh mà phá thì vĩnh viễn mất, không bao giờ có thể hồi phục lại được. Nhưng chúng ta vẫn có thể phục hồi thành rừng tái sinh, dù thiên nan vạn nan. Thiên nan vạn nan nhưng không phải là bất khả.

Cho đến năm 1975, sau nhiều năm bị bom đạn và chất hóa học cùng với việc phá rừng làm rẫy lấy lương thực nuôi quân, nhưng dãy Trường Sơn và rừng đầu nguồn ở miền trung phần lớn vẫn còn rừng nguyên sinh. Sau đó, tốc độ phá rừng đã diễn ra chóng mặt. Ngày nay, rừng nguyên sinh không còn nữa, chỉ còn ở một số khu bảo tồn nhưng luôn luôn bị đe dọa.

31 năm trước, tôi viết bút ký “Rừng vẫn chưa xanh lá” nói về vụ kỷ luật thất đức dành cho nhà lâm sinh kiệt xuât kiêm Trưởng ty Lâm nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng Hoàng Đình Bá, cùng với thảm cảnh phá rừng, đăng trên tạp chí Đất Quảng. Vì bài viết đó, sau khi tôi ra Hà Nội, vẫn bị Tỉnh ủy gọi về thi hành kỷ luật “Cảnh cáo” do đã dám lật lại một quyết định của Đảng. Là một nhà lâm sinh yêu rừng như yêu vợ con mình, là người mà cố chủ tịch Hội đồng nhà nước Võ Chí Công sinh thời đánh giá là con chim đầu đàn về lâm sinh không chỉ của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á, ông Hoàng Đình Bá với tư cách là Trưởng ty Lâm nghiệp, đã đem hết tài năng của mình ra tổ chức phục hồi rừng của tỉnh này. Chỉ trong vòng 3 năm sau hòa bình, dưới sự điều hành của ông, toàn bộ đất trống đồi núi trọc mấy trăm ngàn ha đã được phủ xanh thành rừng. Nhưng tất cả công lao của ông đã biến thành tội lỗi, ông bị kết tội là “tù binh của giai cấp tư sản” vì đã sử dụng kinh tế tư nhân để phục hồi rừng. Ông bị cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng, kéo theo đó là toàn bộ rừng do ông tổ chức phục hồi lại biến thành đồi núi trọc, và sự kiêu ngạo tham lam của con người cứ thế tấn công vào rừng rậm. 

Trước đó, khi còn ở miền Bắc, ông là tác giả dự án bảo tồn Rừng Quốc gia Cúc Phương, nơi được đánh giá là khu bảo tồn rừng nguyên sinh tốt nhất nước ta hiện nay. Ông vào Nam trong chiến tranh, vẫn là người kiên quyết bảo vệ rừng giữa bom đạn. Ông phản đối việc tổ chức những binh đoàn phá rừng sản xuất lấy lương thực nuôi quân mà ông cho rằng không hiệu quả, chỉ có rừng bị phá còn sản xuất thì không đủ nuôi chính những người sản xuất. Cũng giữa chiến tranh, ông cảnh báo, nếu giữ cung cách quản lý quan liêu như miền bắc hồi ấy, thì sau hòa bình sẽ diễn ra tình trạng “chảy máu chất xám”, ông thẳng thắn nói điều đó giữa Đại hội Đảng bộ Khu 5. Giám đốc Công an Khu hồi ấy đã ký lệnh bắt ông, nhưng nhờ Bí thư Khu ủy Võ Chí Công can thiệp nên ông mới không bị làm sao. Sau hòa bình, ông đã từ chối chức vụ Thứ trưởng để đem hết tâm huyết khôi phục rừng và ông đã trả giá. 

Từ mấy chục năm trước, ông đã cảnh báo tần suất lũ lụt sẽ ngày càng nghiêm trọng và nguồn nước ngầm sẽ cạn kiệt nếu như không giữ được rừng. Mỗi khi lũ lụt diễn ra, tôi lại nhớ tới ông. Những ngày này, khi đồng bào miền trung phải oằn mình đau thương chết chóc trong cơn lũ trầm trọng nhất trong 10 năm trở lại đây thì bạn tôi báo tin ông đang rất yếu, ông đã gần 90 tuổi rồi còn gì. Ông đã làm tất cả những gì mà một con người có thể làm được để giữ rừng, ông chính là vị Thần Rừng mà đồng bào Quảng Nam quê tôi ngưỡng mộ mỗi khi nhắc đến. Người ta đã không nghe ông, không nghe những người có tâm huyết với rừng như ông, để cho người dân lương thiện bây giờ phải trả giá thay cho họ.

Đối với tôi, đây là Bút ký đầu tiên để chuẩn bị bước chân vào nghề báo chuyên nghiệp. Ông đã dạy cho tôi rất nhiều điều về cây cỏ, về sông suối, về sự khiêm tốn của con người trước thiên nhiên và về hậu quả của sự ngạo mạn. Mất rừng, không chỉ có thảm họa do lũ lụt. Mất rừng, mạch nước ngầm cũng sẽ cạn kiệt, sự sống của con người và cỏ cây sinh vật cũng bị thu hẹp. Ở quê tôi, rừng đầu nguồn bị mất cộng với một loạt dự án thủy điện đầu nguồn sông Thu Bồn – Vu Gia, phố cổ Hội An cũng sẽ không còn, ông đã cảnh báo từ hơn 30 năm trước, giờ thì sự sạt lở đang hiển hiện. Nếu không phục hồi rừng đầu nguồn thì phố cổ Hội An không bao lâu nữa sẽ chỉ còn là phế tích điêu tàn. 

Gần 10 năm nay, nhớ lời ông mà tôi đã đi trồng cây để tạo một cái vườn rừng be bé nơi tôi ở. Và thương mến biết bao những bạn trẻ đang bỏ phố về quê để trồng cây tạo vườn rừng. Không thể khôi phục lại rừng nguyên sinh, nhưng mỗi người trồng ít nhất một cái cây, rừng sẽ tái sinh, tại nơi chúng ta ở, lan tỏa ra những nơi khác. Hy vọng sẽ có một phong trào tình nguyện trồng cây gieo hạt ở rừng đầu nguồn, chắc chắc nhiều bạn trẻ sẽ tham gia, người lớn tuổi như tôi cũng nhất định sẽ tham gia. 

Mỗi người một cái cây, ngay từ bây giờ. Sẽ không ngăn được thảm họa trong hiện tại và tương lai gần, nhưng sẽ ngăn được thảm họa trong tương lai cho con cháu. Nếu thực hiện nghiêm ngặt việc đóng cửa rừng và cấm sử dụng gỗ rừng tự nhiên, thực hiện nghiêm ngặt Chỉ thị cấm săn bắt tiêu thụ động vật hoang dã, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc trừ sâu diệt cỏ và mỗi người trồng một cái cây, thì rừng nhất định sẽ tái sinh. Tất nhiên phải trồng những loài cây có bộ rễ sâu mới có thể tái sinh rừng. Không chỉ có chúng ta trồng cây gieo hạt, động vật hoang dã, nhất là chim chóc và côn trùng cũng sẽ làm nhiệm vụ gieo hạt. Và gió lành cũng làm nhiệm vụ gieo hạt với chúng ta.

HOÀNG HẢI VÂN

Tuesday, September 1, 2020

Những điều làm cụ Phan Chu Trinh phải trăn trở vì nước nhà

 Diễn văn của cụ Phan Chu Trinh năm 1925 tại SG, sau khi Pháp thấy cụ gần chết vì lao phổi nên đưa cụ từ Pháp về Sài Gòn (để chết). Đến lúc gần chết cụ vẫn đau đáu về tương lai của Việt Nam. 

Thưa các anh em, chị em, đồng bào ! 

Từ khi tôi biết cái học mới đến bây giờ, thì trong trí tôi bực tức, ngẫm nghĩ lấy làm lạ quá. Lạ vì trong xứ Á Đông này có bốn nước đồng văn, mà đều sùng bái cái chính thể quân chủ, đều sùng thượng Nho Giáo. Vậy làm sao mà từ hồi cái văn minh bên Châu Âu tràn sang cõi Á Đông đến nay thì chỉ có người Nhật Bản bỏ ngay cái học cũ mà theo lối mới, thì sự giàu mạnh trông thấy liền trước mắt, chừng trong bốn năm mươi năm mà đã sánh vai với liệt cường? Còn nước Xiêm [Thái Lan] ở gần bên ta, thì nó chẳng có đạo Nho gì hết, nó chỉ có đạo Phật mà thôi, mà nay nó cũng đứng vào hàng Vạn quốc bình đẳng. Tại làm sao mà được như thế? 

Chẳng có sự gì thế, hễ người Anh lại nó cũng cho vào, người Pháp lại nó cũng cho vào, người Mỹ, người Đức lại nó cũng đãi tử tế, để nó theo học cái hay của mấy nước đó. Chỉ chừa ra có ba nước là nước Tàu, nước Cao Ly [Triều Tiên] và nước ta, dân thì nghèo, nước thì yếu, cái phần người dốt nát thì chiếm đến 80%. Còn gọi là thượng lưu, chẳng qua là trong bọn “bát cổ” đã chiếm hai phần ba trong nước; thật chẳng biết biết cái Nho Học là gì, mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh mới là mọi rợ! (đây tôi nói Cao Ly và Tàu, còn Việt Nam ta để tôi nói lại sau). 

Nhưng mà nay cái phong trào trong thế giới nó mãnh liệt lắm: ai thuận theo nó mà đi thì thuận buồm xuôi gió, ai không thuận theo nó thì cũng bị xô đẩy mà đổ lướt đi như cỏ rác. 

Vậy cho nên bọn thiếu niên Cao ly họ đã tỉnh dậy, mới có cái hồi vận động năm 1919, làm cho Nhật Bản phải bỏ lòng hổ lang đi, mà trả cái tự do lại cho họ; nước Tàu thì có sự vận động bọn thanh niên năm 1925, làm cho liệt cường thể nào cũng phải lấy sự công bình mà đối xử lại với họ. 

Khốn nạn thay cho cái dân tộc nước Việt Nam ta, đến bây giờ trong dân tộc mà gọi là các ông Nho học tức là các ông có học được ít chữ Tàu, mà nhất là các ông đã đậu được Cử Nhân Tiến Sĩ; các ông đó tôi dám chắc rằng không hiểu Nho Giáo là gì hết; vậy mà mở miệng ra là cứ đem Nho Giáo ra để làm chỗ dựa,để bài bát cái văn minh kim thời, tức là cái văn minh mà các ông tuyệt nhiên không hiểu được một chút nào cả. 

Còn nói về các anh thiếu niên tân học, trừ ra có đôi anh tự cái sức thông minh của mình mà tìm kiếm ra thấy được nhiều ít, kỳ dư thì chỉ theo cách học cũ; mong kiếm lấy cái chức phẩm gì, hay là coi cho rộng để viết lách khoe khoang mà thôi. Không có ông nào chịu đem cái sự học của Âu Tây để so sánh lại với cái cũ của ta, xem điều gì hay, điều gì dở cho người ta xét đoán mà tìm lấy đường tiến tới về sau này. 

* * * 

Tôi xin lỗi các anh chị em đồng bào, cái đề mà tôi lựa diễn thuyết bữa nay, Quân Trị Chủ Nghĩa (tức nhân trị chủ nghĩa), Dân Trị Chủ Nghĩa (tức là pháp trị chủ nghĩa), cái đề mục đó thật là lớn lao quá, không phải là sức tôi có giải quyết ra cho minh bạch được. Muốn giải quyết ra cho minh bạch thì phải tìm về Âu Á lịch sử chính học và chính trị triết học, mới có thể nói ra cho tinh tường được. 

Các anh em chị em có lạ gì tôi: cái học về đường lịch sử chính trị Tàu thì tôi cũng hiểu được ít nhiều, còn về đường Tây học thì thật là kém lắm. Nhưng mà tôi cũng ráng hết sức, đem cái việc mà tôi đã biết xin nói ra cho anh em nghe, còn cái việc gì cao xa không thấu, thì để phần ông nào hiểu hơn tôi diễn giải ra cho anh chị em rõ. 

NÓI VỀ CÁI LỊCH SỬ QUÂN TRỊ CHỦ NGHĨA 

Cuộc quân chủ đến ngày nay thì cũng như một cái hoa tàn lá héo phất phơ trong đời bây giờ. 

Xem như trong một cõi Á Đông này, không kể những ông vua mất nước rồi mà những nước mạnh họ chỉ để làm con nộm, con bồ nhìn để đè dân bổn xứ, thì chỉ có Vua Xiêm và Vua Nhật đủ quyền phép đáng xưng là Ông Vua mà thôi. Âu Châu bây giờ dân chủ đã đến 14 nước mà quân chủ chỉ xót lại có 12 nước. Còn bên Mỹ Châu thì chẳng có một nước nào quân chủ. Vậy thì ta có thể nói rằng: trong trái đất này chỉ có 8.000 triệu người, mà số dân có vua thì không được một phần trong số mười. 

Vẻ vang thay cái oai quyền dân chủ! Gớm ghê thay cái dục vọng của quân chủ! Đang hồi Thượng cổ, Trung cổ, dân chúng còn hèn yếu ngu dốt, cho nên bất câu loài dân nào cũng phải có cái quyền quân chủ để bao bọc cho dân, dạy dỗ cho dân, che chở cho dân; đang cái thời đó thì quân chủ thật là một vị thuốc hay cho loài người hồi đó. 

Khốn nạn thay cái tính loài người; thấy người ta tôn trọng mình bao nhiêu thì mình lại thêm kiêu hãnh bấy nhiêu; thấy người ta kính nể mình bao nhiêu thì mình lại càng tự thần tự thánh bấy nhiêu; thấy người ta chiều chuộng mình thì mình lại muốn ngồi lên đầu người ta! Không những thế lại muốn truyền cho con cháu từ đời này qua đời khác, như cái gia tài riêng của mình. Đất muốn cho ai thì cho như là bán ruộng, còn dân thì làm như bọn mọi vậy. 

Ta thử xem từ xưa đến nay, bất cứ vua nào, hễ cướp được nước lên làm vua thì tìm đủ cách để truyền cho con cháu cho lâu dài, mà rốt cuộc lại họ nào lâu lắm là ba trăm năm, còn mấy họ vắn thì năm mười năm thôi. Cái cuộc đó thì ở Á ở Âu gì cũng như thế cả. Nhưng mà ở Âu Châu thì đến thế kỷ mười bảy, mười tám, các bậc hiền triết ra xướng lên cái chủ nghĩa dân quyền. Mấy ông vua nào hung dữ chuyên chế, phản đối lại cái phong trào dân chủ thì bị nhào cả; còn anh nào điều hòa với dân thì còn ngoắc ngoải đến bây giờ. 

Về cái vấn đề này thì tôi cốt chỉ cho rõ cái quân trị chủ nghĩa bên Á Đông này thật không phải là gốc tự Nho Giáo. Tôi xin chỉ vẽ rõ ràng cái tư tưởng sai lầm từ xưa đến nay cho anh chị em đều hiểu. 

Cứ theo các ông triết học Âu Châu bàn về lịch sử nhân loại: kể từ loài người mới sinh, rồi làm sao mà có tù trưởng, làm sao rồi thành vua thành chúa; cứ nói như thế thì mất hết thì giờ, mà các Ngài nghe cũng vô ích. Vậy nên tôi cứ sử Tàu mà cắt nghĩa để các Ngài dễ hiểu hơn. 

Tàu thì tôi cứ nói từ vua Hoàng Đế là một ông vua mạnh nhất ở nước Tàu. Từ ở núi Côn Lôn (phía Tây nước Tàu) tràn xuống phía Bắc Tàu, rồi đánh với dân bản xứ Tàu là dân Hữu Miêu ở miền Dương Tử Giang, giết được tướng nó là Xuy Vưu; ông ta thật là một ông vua lớn của nước Tàu. Nhưng vậy mà đến khi ông Khổng Tử làm sách, Ngài không muốn để tên ông Hoàng Đế đầu, vì ông thấy thượng binh thượng võ lắm. Ngài chỉ chép từ vua Nghiêu vua thuấn mà thôi. Vì hai ông vua ấy không có lòng gì muốn làm vua hết, chỉ bị các nước chư hầu bắt buộc, họ bầu cử lên mà thôi, cũng nối nghiệp ông Hoàng Đế đi đánh Hữu Miêu, nhưng trong một tháng không được thì rút binh về để lo sửa việc học hành, dạy dỗ dân mà thôi. 

Đời đó thì bày ra những là dạy dân có ngũ luân, làm ra lịch có ngày tháng thì giờ, cho tiện người làm ruộng, đặt ra cân ra thước, ra lường để cho tiện dân buôn bán, bày ra có áo xiêm, có lễ phục v.v… còn nhiều nữa tôi không có kể ra đây cho hết được. Đây các Ngài nghe cho rõ: cái dân tộc Á Đông mà có Nho Giáo ra là từ hai ông. Nên ông Khổng xưng là “tổ thuật Nghiêu Thuấn”. Thầy Mạnh nói cũng chỉ khuyên Nghiêu Thuấn. Mà bây giờ ở nước ta những ông có học được một hai chữ Tàu, hễ mở miệng ra là nói đạo Nho cũng vì cái lịch sử lờ mờ đó. 

Đây tôi xin nhắc lại cái đời Nghiêu Thuấn, lúc đó thế nào? Cái đời đó vua Nghiêu vua Thuấn chẳng qua là một anh thủ lĩnh của đám tù trưởng ở trong dân tộc Trung Hoa hồi đó mà thôi. 

Cứ theo cái dấu tích lịch sử mà suy, thì lúc đó chư hầu nước Tàu có ít cũng là đến mười lăm ngàn nước; về sau trong hai trăm năm rồi vua Võ hội chư hầu ở Đồ Sơn còn lại một vạn nước, tính theo số đó, thời đó thì không sai sút mấy. Vậy thì cái nghi vệ và cái quyền lợi của Thiên Tử hồi đó ra thế nào? Thiên Tử cũng ở trong một nước nhỏ như các nước chư hầu vậy thôi, chỉ có lập ra triều nghi để cho các chư hầu triều cống. Cái quyền to nhất là cái quyền được tế trời đất, còn chư hầu chỉ được tế những núi những sông ở xứ mình mà thôi. Thiên Tử có đi xem xét ở các nước chư hầu thì chư hầu phải đón rước, Thiên Tử được cử lên làm quan, có tội thì phạt, có công thì cũng được phong làm chư hầu. 

Vậy thì nói lược qua đó, anh em chị em đủ biết ông Thiên Tử cũng như ông Tổng Lý Hội Vạn Quốc đời nay. Chỉ có được lễ triều cống, được cầm quyền chinh phạt, là theo cái số nhiều chư hầu mà phạt nước này mà thưởng nước kia. 

Thương hại thay các ông học chữ Tàu, nghe nói cái tên Nghiêu Thuấn thì các ông tưởng là nhà Ngũ Phụng Lâu, cỡi xe lục long xa, tưởng là cũng ra vào hò hét như các vua ta bây giờ. Nhưng mà ai có độc địa dư hay là có đi du lịch đến chốn Bình Dương Bồ Bản, thì mới biết rằng cái kinh đô của hai Ngài bằng hai cái thành con bây giờ, nghĩa là không đầy hai ba dặm vuông. 

Từ đó vua Võ nối vua Thuấn, truyền ngôi cho con trị những nước chư hầu lớn mà cứng đầu nhất, nghĩa là nó muốn giành ngôi Thiên Tử: như là đời ông Võ thì giết ông Phòng Phong, đời ông Khải thì giết Hữu Hộ, đời ông Thiếu Khang thì giết Hậu Nghệ ở nước Hữu Cùng. Ấy tôi tạm đặt đó là cái thời kỳ thứ hai của Thiên Tử. 

Từ đó về sau đến 400 năm, đến đời ông Kiệt. Ông Kiệt thì tôi không cần nói những cái lỗi của ông ấy ra, các Ngài cũng đã hiểu rồi. Đến khi đó thì các nước chư hầu nhỏ nhất làm đầu, mà đánh đuổi ông Kiệt đi, rồi thay vào ngôi Thiên Tử. Cái việc đã mấy nghìn năm rồi, có thật hay không, không biết, nhưng mà tôi cũng thuật lại cho mà nghe. Khi ông Thang đã được chư hầu cử lên làm Thiên Tử, thì ông cáo với dân và các nước chư hầu rằng: “Ông lấy cái sự đuổi vua Kiệt đó làm thẹn, nhưng vì ông muốn cứu dân nên phải ra làm”. Tuy ông nói thế nhưng chư hàu vẫn cứ tôn ông lên ngôi Thiên Tử. Ấy là cái oai quyền Thiên Tử tấn tới về nước thứ ba. 

Từ đó con cháu ông đến sáu bảy vua giỏi nối nhau làm vua, truyền đến 600 trăm năm. Đến đời ông Trụ, dân không phục nữa mới mất nước. Hồi ấy dân ông Trụ ba phần thì đã hai phần phục theo ông Văn Vương rồi, thế mà ông Văn Vương cũng không chịu đuổi Trụ, đến đời con ông Văn Vương là ông Võ Vương mới giết ông Trụ mà lên làm vua. Đến hồi đó thì trong sự đánh dẹp, thấy luyện tập cũng đã ghê lắm rồi, thấy quân lệnh cũng nghiêm trang, binh giáp cũng dữ dội, cũng lấy giết người chảy máu làm nhiều danh giá, giết được tướng giặc thì cũng chặt đầu bêu lên, cũng đã làm cách dã man như lối bây giờ vậy. Cho nên ông Khổng Tử khen ông Văn Vương là chí đức, chê ông Võ Vương là vị tận thiện là thế. 

Từ ông Võ đến đây là hơn một nghìn năm, ông tức là vua đầu nhà Hạ. Khi ông lên làm vua thì dưới quyền ông còn hơn một vạn nước; đến hồi vua Thang nhà Thương đuổi vua Kiệt, thì còn mấy nước chư hầu sử không thấy nói. Đến đời ông Võ Vương nhà Chu đánh ông Trụ thì thấy chư hầu không hẹn mà tới hội được 800 nước. Vậy thì trong độ một nghìn năm mà tuyệt mất hơn 9000 nước . Đời ông Võ Vương nhà Chu thì oai quyền lắm, nên có thể nói rằng đến đời này thì cái oai quyền Thiên Tử tấn tới bước thứ tư. 

Bây giờ tôi xin nói tóm lại: Khổng, Mạnh, và Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Võ tức là những ông đã làm ra cái gương để cho các vua đời sau gọi là Nho Giáo đó. Ta phải xem xét cái thời thế phong tục của các vua đời sau so lại với Nho Giáo thì có giống chút nào không? 

Từ sau Võ Vương giết vua Trụ, dân đã không phục, duy có đời vua Văn, vua Võ, vua Thành, vua Khang thì dân phục mà chư hầu cũng phục. Đến đời vua U vua Lệ thì dân nó nổi lên giết các vua ấy, rồi ngôi Thiên Tử của nhà Chu từ đó mà mất theo. Một đoạn lịch sử tốt đẹp như Tàu từ Nghiêu Thuấn cho đến Văn, Võ, thật như là cái khí mùa xuân, như là cái ánh sáng mặt trời êm ái, ai thấy không khen ngợi. Ai thấy mà không ước ao. Vậy cho nên Đức Khổng, Thầy Mạnh nhân đó mà lập ra cái đạo để bình trị thiên hạ thì cũng phải lắm. 

Lạ thay cho đến đời Xuân Thu là nữa đời Chu thì năm nước Bá ra, chẳng cần gì đạo đức nhân nghĩa như trước cả, chỉ lấy cái giả dối thay nhau, còn Thiên Tử chỉ để lấy cái huy hiệu mà thôi. Từ lúc đó thì còn được 300 nước; hơn một trăm năm nữa rồi chỉ còn bảy nước; không đầy một trăm năm nửa thì rút cuộc lại thống nhất về nhà Tần.

copy từ FB-Góc nhìn

Sunday, June 16, 2019

Người Việt Nam lãng phí nhất thế giới

Tôi thường tự hỏi tại sao đất nước mình nghèo. Phải chăng ông cha ta chỉ biết cúi đầu kiếm ăn không biết xây cho mình những đền đài tráng lệ như Hermitage, Versaille, Tử Cấm Thành, Angkor, Pyramid, Colloseum,... chỉ để lại cho con cháu đất bạc màu và sỏi đá. 
Sau mới vỡ ra, sự giàu có phải tích luỹ nhiều thế hệ và người Việt không chỉ không biết thừa hưởng, tích luỹ mà còn lãng phí nhất thế giới:
1. Người Việt đã từng có Cửu trùng đài, cung vàng điện ngọc thời Lý Trần, nhà Trịnh đều do tay người Việt phá thành bình địa. Người Pháp từng cam chịu đầu hàng người Đức chỉ vì tiếc một Paris diễm lệ. Điều đó hoàn toàn xa lạ với người Việt có thể vì một tín điều, ý thức, ý tưởng đạo đức có thể đốt cả rừng đại ngàn.
2. Ngườu Việt lãng phí tài nguyên và nguồn nhân lực.
3. Người Việt lãng phí thời gian và cơ hội


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Thursday, October 4, 2018

NỖI ÁM ẢNH CỦA QUÁ KHỨ.

Nước Việt Nam ta hiện là một quốc gia kém phát triển về mọi mặt, vừa lạc hậu, vừa lạc điệu với một thế giới nhìn chung đã và đang phát triển rất nhanh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ 20.
Tạm bỏ qua một bên mọi sự “giải thích”, nào đổ tội cho phong kiến đế quốc, thực dân bành trướng, thiên tại, địch hoạ, chiến tranh, cách mạng, nào viện dẫn sai lầm chủ quan của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia mấy chục năm qua, v.v… tình trạng ấy là không bình thường, gây nên một bức xúc tâm lý, một nỗi đau thân thể, một nhức nhối thân xác và tâm linh, buộc KẺ SĨ và NGƯỜI DÂN, vừa gian khổ kiếm sống, vừa suy nghĩ đêm ngày, tìm cách khắc phục và vượt qua tình trạng tủi nhục này…
Có ĐỘC LẬP rồi chăng, nhưng hoạ LỆ THUỘC vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế…
Có THỐNG NHẤT rồi chăng, nhưng mầm CHIA RẼ mọc rễ sâu xa, nào Bắc/Nam, nào Cộng sản/không Cộng sản…
Điều chắc chắn, là NHÂN DÂN chưa có HẠNH PHÚC, TỰ DO thực sự.
Với biết bao hệ luỵ của một cuộc chiến kéo dài, buộc ràng tới 3 thế hệ người Việt Nam (và rất nhiều quốc gia liên đới), lạ một điều (mà sao lại là lạ nhỉ ?), là từ “người thua” đến “kẻ thắng”, giờ đây, ai ai cũng mang một mặc cảm hoành đoạt (complexe de frustration), nói nôm na mà MẤT MÁT. Trước hết là NGƯỜI DÂN THƯỜNG.
Người ra đi hàng triệu, bỏ xác ngoài biển khơi hàng ngàn, vạn, biết bao em gái ta, chị ta, cả mẹ ta nữa… bị kẻ hải tặc khốn kiếp dày vò làm nhục! Chưa nói đến của cải, ai còn sống thì đều cảm thấy mất quê hương!
Người ở lại, hàng chục triệu nông dân bỗng dưng cảm thấy mất đất, không có quyền tự do hành xử trên “mảnh đất ông bà”, trong khuôn viên do chính tay mình tạo dựng; hàng triệu công nhân mất việc, thất nghiệp hay bị kém sử dụng (sous-emploi), sống ngất ngư, lây lất qua ngày…
Trí thức, thì tản mác, bị lãng phí thảm hại, trừ một số rất ít kẻ xu thời (đời nào chẳng có?), người nào cũng cảm thấy mất tự do tư tưởng và sáng tạo.
Một tình trạng như thế, chỉ có lợi cho lũ gian manh. Một cuộc “đổi đời” kỳ cục như thế, mà nếu cứ nhất định muốn gọi nó, muốn gọi đó, là “cách mạng”, thì là một cuộc cách mạng đã mất phương hướng. Phương hướng là cái tiêu ngữ trên mỗi đầu trang giấy, từ sau Tháng Tám 1945: ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.
Cho nên phải nghĩ lại, phải bình tâm mà nghĩ lại, nói theo thời thượng từ giữa thập kỷ 80, là phải ĐỔI MỚI TƯ DUY.
Tư duy là công việc của mỗi CON NGƯỜI, vì về bản chất, con người là một sinh vật có tư duy, có ý thức và vì có tư duy, có ý thức mà được/phải có quyền tự do lựa chọn mô hình hành động, cho chính mình (tự do cá nhân), cho chính cộng đồng mình (nhà mình, làng mình, nước mình…) và phải/được chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn đó.
Tôi rất thân và rất quí Nguyễn Huy Thiệp, hẳn thế, nhưng chính vì thế mà tôi không thể nào đồng ý với anh khi anh trả lời phỏng vấn báo Libération là “Tôi đã sống như một con thú”. Con thú làm sao mà biết viết, biết in “Tướng về hưu”, “Phẩm tiết”…? Lẽ tất nhiên là tôi hiểu cái “ý tại ngôn ngoại” của anh: Cái mặt bằng kinh tế xã hội của một Việt Nam hiện nay trên đó “anh phải sống”, sự ràng buộc của “cơ chế”? v.v…
Tôi nhớ lại, ngày 12-1-1983, trong buổi họp kỷ niệm 40 năm ra đời “Đề cương Văn hoá Việt Nam”, ông Trường Chinh – tác giả chính của cái “Đề cương” đó – đã nói với các “nhà khoa học xã hội” Việt Nam: “Nếu không có một điều kiện tối thiểu về vật chất để sinh sống thì con người có thể trở thành con thú!”.
Điều đó chẳng có gì mới lạ, vì bằng kinh nghiệm nghiệm sinh, nhiều nhà trí thức chúng tôi đã nghĩ và nói thế từ lâu; điều mới và lạ, là cho đến tận lúc ấy, một vị lãnh đạo cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam mới nói ra như thế!
Mà con người, nhất là người trí thức Việt Nam, đâu chỉ đói rét vì miếng cơm manh áo? Đói tự do tư tưởng cũng có thể trở thành con thú! Vì con thú, như con trâu, con bò, dù co no cỏ thì cũng chỉ biết theo đuôi! Theo đuôi con đầu đàn!
Bao năm qua, có biết bao con người Việt Nam chỉ biết theo đuôi kẻ cầm quyền, hoặc khốn khổ thay, là chỉ được theo đuôi người lãnh đạo và lại được “khen” là “có ý thức tổ chức, kỷ luật” và vì vậy được vào Đảng, được “đề bạt” làm kẻ “cầm quyền” bậc sơ trung cấp, để, nói cho cùng, cũng chỉ thành kẻ “chấp hành”, “thừa hành”, nhưng có được chút “quyền”: dối trên và nịnh trên, là dưới và nạt dưới!
Tôi nhớ lại, khoảng mười năm trước đây, một người học trò và là bạn bè của tôi, trước khi đi Nga làm luận án Phó tiến sĩ sử học, trong buổi “tiệc bia” tiễn biệt thầy trò, bè bạn, đã ngỏ với tôi lời “khuyên” tâm sự: “Nếu như thày mà cũng “đầu hàng cơ chế” nữa là bọn em mất nhờ đấy!”. Anh ấy ở Nga 4 năm, về nước với bằng xanh phó tiến sĩ, thẻ đỏ đảng viện và, gia nhập “cơ chế”, trở thành “người lãnh đạo” của tôi hôm nay!
Tôi chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Tôi chọn lựa cho mình một hướng đi: Gia nhập “Câu lạc bộ những người thích đùa”.
Tôi thường nói đùa như người Hà Nội vẫn thường đùa anh ấy:
– Cậu là đảng viên nhưng mà tốt!
Câu nói đùa, mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” và hơn nữa, với câu nói ấy, có thể bị “quy chụp” là “phản động”.
Tôi có một anh bạn, phải nói là rất thân, học với nhau từ thuở “hàn vi”, lại cũng làm việc dưới một mái trường Đại Học trên ba chục năm trường, cùng “leo thang” rất chậm, từ “tập sự trợ lý” đến full professor, chair-department; anh là con “quan lớn”, em của “ngụy lớn” nhưng “có đức có tài”, được chọn làm “hàng mẫu không bán” kiểu như ông Bùi Tín vừa làm ồn ào giới truyền thông một dạo – nhưng khác ông ta là cho đến nay anh không gửi “kiến nghị” kiến nghiếc gì, nói năng với TRÊN, với DƯỚI bao giờ cũng “chừng mực”, chẳng “theo đuôi” mà cũng chẳng là “dissident” của chế độ. Anh thường bảo tôi: thì về cơ bản cũng nghĩ như cậu thôi. Nhưng cậu thông cảm, mỗi người một tính một nết, một hoàn cảnh. Cậu “thành phần tốt”, ăn nói táo tợn thì quá lắm người ta chỉ bảo cậu là “bất mãn cá nhân” thôi. Tớ “thành phần xấu”, ăn nói bằng 1/10 cậu thôi cũng đủ bị “quy” là “phản ứng giai cấp” rồi! O.K.! Anh cứ sống kiểu anh, tôi cứ sống kiểu tôi. Chỉ có mỗi một điều thôi, là vì vậy và vì nhiều lý do sâu xa khác nữa – nên nước ta chỉ có những nhà trí thức (intellectuals) chứ không có giới trí thức (intelligentsia).
Vậy thua thiệt thì Dân ráng chịu!
Bi kịch, nỗi bất hạnh của trí thức Việt Nam, của nước Việt Nam là ở đó…
*
Báo Đoàn Kết của một cộng đồng người Việt Nam bên Pháp đưa tin: Vào cuối năm ngoái (1990), có một ông uỷ viên Bộ Chính trị kiêm bí thư thường trực Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhân sang Paris dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, có tập hợp Việt kiều lại để nói chuyện. Trong khoảng 2 tiếng, ông chỉ “nói” mà không “nghe”, lại còn bảo: “Sống ở nước ngoài, biết gì chuyện trong nước, tuổi 40-50 trở xuống – nghĩa là vào hạng tuổi con cháu ông – biết gì mà góp ý kiến!”. Xem chừng bà con Việt kiều, nhất là anh chị em “trí thức”, bực mình với ông lắm.
Tôi là “trí thức” ở trong nước, ở Hà Nội nữa, nghe những lời lẽ ấy “quen tai” rồi.
Cũng ông ấy, lúc còn làm “Bí thư thành uỷ” Hà Nội, khi thấy báo “Quân Đội Nhân Dân” 1987 công bố “Bức thư ngỏ gởi ông chủ tịch thành phố Hà Nội” của tôi, nói về việc “Phá hoại các di tích lịch sử của Thủ đô” đã cho triệu tôi lên trụ sở Thành uỷ và “thân mật” bảo – Nếu anh là công nhân, anh nói (nôm na, tục tằn) kiểu đó tôi còn hiểu được, đằng này anh là giáo sư, là trí thức, sao lại nói kiểu đó (nôm na, “toạc móng heo, treo móng giò”). Nếu anh nói thế, “tôi” thì “tôi” nghe được, nhưng những “người khác”, họ không nghe được! Từ nay anh nên “thay đổi” cái “giọng nói” của anh đi!
– Đảng bảo: “Trí thức là của Công Nông và cũng là Công Nông”, vậy nếu công nhân – theo ông – nói được như vậy thì trí thức cũng nói được như vậy. Có gì – theo ông – là khác nhau giữa giọng “trí thức” và giọng “công nhân” ?
– Ông không khác gì người khác. Nếu theo ông, ông “nghe được” vậy thì người khác cũng phải nghe được. Vậy tôi chả việc gì phải “đổi giọng” cả!
Thực ra, tôi biết thừa cái “giọng tôi” chính ông nghe không được nên ông mới “góp ý” cho tôi, nhưng ông lại cố tình đổ cho là người khác nghe không được, hơn nữa ông lạicố tách “tôi” ra khỏi công nhân, “đề cao” tôi là “trí thức”, để chỉ cốt răn dạy tôi: Với vị thế của anh, anh không được ăn nói với chúng tôi (những nhà lãnh đạo) bằng cái giọng như vậy! Bà xã tôi lúc ấy còn sống và là giáo viên trường Trung học Trưng Vương nổi danh ở Hà Nội – nghe tin tôi được/bị phải gọi lên thành uỷ, lấy làm lo lắng lắm, bảo tôi (“giọng” bà ấy bao giờ cũng vậy, con gái nhà “tư sản Hà Nội” mà): Anh lên đấy, liệu mà ăn mà nói! Anh có sao, chỉ khổ vợ con! Chùa Một Cột có bị phá để làm Bảo tàng Lăng Bác, nếu có hại thì hại cả nước, đâu dính gì đến riêng anh mà anh cứ “la làng” lên, một con én chẳng làm nổi mùa xuân, “ăn cái giải gì” mà cứ nói, chỉ khổ vào thân; có cái giấy Úc mời sang kỷ niệm 200 năm nước “nó” đấy, khéo các “bố” ấy lại không cho đi, vợ con Ôi, làm “thằng người Việt Nam”, làm “trí thức Việt Nam” biết bao là “hệ luỵ”.
Tôi đưa chuyện HỌC TRÒ, BÈ BẠN, VỢ CON dàn trải trên mặt giấy đâu phải để “nói xấu” họ, nhất là nói về vợ tôi – nay đã mất, cầu cho linh hồn bà ấy tiêu diêu miền cực lạc – mà trong tâm khảm tôi, bao giờ tôi cũng cảm thấy mình xấu tính hơn bè bạn – vợ con – học trò. Tôi chỉ muốn nói về thân phận trí thức ở cái nước Việt Nam mang cái nhãn hiệu Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa mà thực ra là còn đang rất kém phát triển này: ông uỷ viên Bộ chính trị ấy, kiêm bí thư Trung ương này, kiêm bí thư thành phố này… ai chả nghĩ là ông ấy cộng sản hơn ai hết nhưng thực ra thì ứng xử của ông ấy từ Hà Nội đến Paris lại “gia trưởng”, “nho giáo cuối mùa” hơn ai hết!
Khổ vậy đó, cho nên giáo sư Alexander Woodside, từ góc trời Tây bắc của xứ tuyết Canada mới hạ một câu về cách mạng Việt Nam: “The spiritual and cultural milieu from which the vietnamese revolution sprang was both confucian and comunist” (Cái môi trường tâm linh và văn hoá mà từ đấy cách mạng Việt Nam phóng tới là cả Khổng Nho và Cộng sản).
[Chương 17, TRONG CÕI]
GS Trần Quốc Vượng

Wednesday, August 15, 2018

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO [1]

Tại sao đất nước ta mãi nghèo? Tại sao Việt nam mãi mãi thua kém các đất nước khác kể cả các nước có cùng điều kiện khí hậu, địa lý trong khu vực như Singapore, Thailand, Malaysia, Indonesia, Philippines...? Thậm chí gần đây nhiều mặt cả Cambodia và Laos đều đã vượt Việt Nam.
Tôi biết rất nhiều bạn sẽ đổ lỗi cho thể chế, đổ lỗi cho chính quyền, các bạn cho rằng thể chế, chính quyền đã kéo đất nước tụt hậu, nhưng các bạn cứ bình tĩnh, bởi trong suốt 4000 năm lịch sử, dù ở bất cứ thể chế nào, chính quyền nào, chưa bao giờ Việt Nam phát triển hơn các dân tộc khác. Đấy là một thực tế. Nếu bất cứ thể chế nào, bất chứ chính quyền nào, trong giai đoạn lịch sử nào Việt Nam cũng thua kém các dân tộc khác thì nguyên nhân hiển nhiên phải từ những điểm yếu cố hữu của dân tộc Việt.
TRONG LỊCH SỬ CHƯA BAO GIỜ VIỆT NAM HƠN CÁC DÂN TỘC KHÁC
Chỉ cần nhìn các di tích, công trình lịch sử từ thời cổ cũng đủ thấy chưa có công trình kiếm trúc nào do con người xây dựng nên của Việt Nam có thể sánh ngang các công trình cổ của các nước khác.
Không so sánh với các nước Âu, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, bởi nó quá cách biệt, chỉ cần so sánh với Thailand, Myanmar, Indonesia, Cambodia... Cũng dễ dàng nhận ra điều đó.
Các công trình kiến trúc cổ lớn của Việt Nam chỉ có thành nhà Hồ, kinh thành Thăng Long (chỉ còn lại dấu vết), kinh thành Huế. Các công trình ấy không thể so sánh được với chùa Vàng (Golden Buddha), chùa Phật Ngọc, chùa Doi Suthep, cung điện Hoàng Gia của Thái Lan; Càng không thể sánh được với Chùa Vàng (Yangon), chùa Vàng Shwezigon, đền Shwesandaw, đền Mahamuni (Mandalay) của Myanmar; Càng không thể sánh được với đền thờ Prambanan, quần thể đền thờ phật giáo Borobudar (lớn nhất thế giới) của Indonesia; Càng không thể sánh được với quần thể Angkor Thom, Angkor Wat của Cambodia (Angkor Wat có diện tích 40.000 ha ~ 401 km2). Đến cả dân tộc Chăm (nay đã thành một phần của nước Việt). Công bằng mà nói về lịch sử chúng ta hơn dân tộc Laos.
(các bạn xem ảnh các công trình kiến trúc của Thailand, Myanmar, Indonesia, Cambodia ở dưới sẽ thấy rõ điều đó).
Trong 4000 năm lịch sử, chúng ta luôn luôn kém, chưa bao giờ hơn, vậy thì làm gì có chuyện chúng ta tụt hậu, làm gì có ai đó kéo chúng ta tụt hậu.
ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN
Nếu bất cứ thể chế nào, bất chứ chính quyền nào, trong giai đoạn lịch sử nào Việt Nam cũng thua kém các dân tộc khác thì nguyên nhân hiển nhiên phải từ những điểm yếu cố hữu của dân tộc Việt.
Theo tôi dân tộc Việt có 4 điểm yếu cố hữu sau đã cản trở sự phát triển:
(1) Lười biếng - Dễ hài lòng
(2) Tư duy nhỏ - Quanh quẩn xó nhà
(3) Áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác
(4) Nền tảng triết học yếu lại không chuẩn
Tôi sẽ lần lượt phân tích chi tiết 4 điểm yếu cố hữu trên.
(1) LƯỜI BIẾNG - DỄ HÀI LÒNG
Cuối tháng 6, tôi vừa qua Singapore, từ sân bay Changi về trung tâm tôi quan sát thấy một sự thực là tất cả các công việc giản đơn như kéo xe đẩy, dọn vệ sinh, lau chùi nhà WC đều do những ông cụ, bà cụ cỡ 65-75 tuổi làm. Đi taxi thì hầu hết lái xe đều do các cụ ông tóc bạc tuổi từ 65-75 lái. Trong thành phố tất cả những người nhặt rác, dọn vệ sinh đều do các cụ bà tuổi từ 65-75 làm. Hiển nhiên là tất cả những việc nặng nhọc, công nghệ cao đều do những người trẻ tuổi và trung niên làm (kể cả dưới 65 tuổi).
Trong khi đó người Việt Nam ta 60 tuổi đã lên lão, nữ 55 tuổi, nam 60 tuổi đã về hưu và về hưu là không làm việc. Người Việt rất hứng thú "vui thú tuổi già", "vui thú điền viên", "sum vầy bên con cháu"...
Không biết từ bao giờ quân đội có qui định độ tuổi về hưu cho quân nhân chuyên nghiệp vô cùng bất hợp lý như sau
- Cấp Uý: 50 tuổi (nếu không lên được Thiếu tá)
- Thiếu tá: 52 tuổi (nếu không lên được Trung tá)
- Trung tá: 54 tuổi (nếu không lên được Thượng tá)
- Thượng tá: 56 tuổi (nếu không lđen được Đại tá)
Với qui định này, chúng ta có hàng vạn cán bộ về hưu tuổi mới chỉ 50, 52, 54, 56 tuổi không làm việc, không lao động.
Ở Nông thôn (chiếm 70% dân số) thì chỉ lao động vất vả mấy tháng mùa vụ còn phần lớn thời gian trong năm là không có việc làm và rất nhiều người coi đấy như một sự hiển nhiên.
Ở Thành phố số thanh niên thất nghiệp, không việc làm, ngày ngày la cà quán sá, cà phê, chơi bài cả ngày. Họ than thở, oán trách đổ lỗi cho chính quyền mà ít người có ý chí lập nghiệp Star-up. Rất ít người nghĩ mình tự lập nghiệp, tự tạo ra công ăn việc làm cho chính mình và cho xã hội. Những người có việc làm ở công sở thì hoặc sáng đến muộn giờ, hoặc đến đúng giờ chỉ để điểm danh rồi đi ăn sáng, giữa giờ làm việc thì lại chốn ra quán cafe giải khát ngồi tán gẫu. Không ở đâu lại có nhiều quán cafe, giải khát, quán nước vỉa hè nhiều như Việt Nam mà quán nào cũng đông khách cả trong giờ làm việc.
Lười lao động, thích ăn chơi thể hiện rất rõ trong câu ca dao:
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè
Như vậy trong quá khứ ông cha ta một năm ít nhất đã chơi, không lao động 3 tháng. Ngày nay có khá hơn chút ít, các công nhân xây dựng, cầu đường, giao thông... vẫn giữ nếp là nghỉ hết tháng giêng. Có lẽ nghỉ cả tháng tết hiện chỉ có ở Việt Nam mà thôi.
Trong xu thế tuổi thọ con người ngày càng tăng, hầu hết các nước đều nâng tuổi về hưu (Mỹ 67 tuổi, Nhật 68 tuổi, Pháp 62 tuổi...) thì Việt Nam vẫn giữ nữ 55, nam 60 từ cách đây 62 năm khi mà tuổi thọ thấp hơn hiện nay 10 tuổi. Khi có dự thảo nâng dần tuổi về hưu thì nhất loạt phản đối, họ gán ngay cho lãnh đạo tham quyền cố vị muốn ngồi ghế lâu nên sửa luật, họ bất chấp luật hưu trí qui định khi tuổi thọ của Việt Nam chỉ có 62.5, trong khi hiện tại tuổi thọ đã tăng lên đến 72.5, bất chấp xu thế tăng tuổi nghỉ hưu của cả thế giới.
Một đất nước đã có nhiều lợi thế như Singapore (HUB của khu vực) mà lại chăm chỉ lao động, ai ai cũng làm việc, kể cả những người già 65-75 tuổi thì họ giầu có là điều hiển nhiên.
Một đất nước đã không có nhiều lợi thế mà lại lười lao động, thanh niên không chịu lập nghiệp, nằm chờ người khác tạo công ăn việc làm cho mình, giờ làm việc thì bớt xén giờ giấc, người còn sức lao động, chưa già đã muốn nghỉ "an nhàn tuổi già", "xum vầy bên con cháu" thì mãi mãi nghèo cũng là chuyện không thể khác.
Không chỉ lười lao động, người Việt còn lười học, lười suy nghĩ, lười vận động.
Trên Facebook hoặc trên các diễn đàn không ít bạn "bàn phím" nhanh hơn "mắt", chưa kịp đọc hết nội dung, chưa kịp hiểu hết ý người khác đã vội vã comment, vội vã bình luận, thậm chí chửi bới. Cuộc sống là của mình, hạnh phúc là của mình mà rất nhiều người luôn trông chờ vào "nhà nước" vào "chính quyền".
Trừ các học sinh trường chuyên, đa số những trường khác, học sinh rất chi là lười, đặc biệt là rất lười đọc sách, rất lười tự học. Cứ nhìn số lượng các hiệu sách, số lượng độc giả đến hiệu sách thì sẽ hiểu người Việt lười đọc sách thế nào.
Người Việt rất lười vận động, họ rất lười đi bộ, chỉ cần khoảng cách 100 mét họ cũng đi xe máy thay vì đi bộ (chúng ta đều biết ở nước ngoài đi bộ 500 m - 1 km là chuyện bình thường). Không chịu vận động làm cho người thiếu sức dẻo dai, ảnh hưởng đến năng xuất lao động. Đi xe máy khi không cần thiết sẽ làm tăng ùn tắc giao thông, tăng ô nhiễm môi trường, tăng tai nạm giao thông, lãng phí tiền xăng.
(2) TƯ DUY NHỎ - QUANH QUẨN XÓ NHÀ
(3) ÁP ĐẶT SUY NGHĨ CỦA MÌNH CHO NGƯỜI KHÁC
(4) NỀN TẢNG TRIẾT HỌC YẾU LẠI KHÔNG CHUẨN
(5) LỜI GIẢI NÀO ĐỂ THOÁT NGHÈO
(đến giờ xem bóng đá Ngoại hạng Anh MU - Bournemouth, mai viết tiếp)
(FB-Thai Do)

Monday, July 30, 2018

THỜI NÀY LÀ THỜI GÌ?

Chúng ta đang sống thời đại gì đây ? Có lẽ trong lịch sử của dân tộc, đây là một thời kỳ khó đặt tên.
Ngành giáo dục thì có Bộ Trưởng ngọng và câm. Có Cô Giáo quỳ, Cô Giáo giẻ lau, Cô Giáo đéo, Cô Giáo câm, Cô Giáo đi hầu rượu như gái bia ôm. Có Thầy Giáo ấu dâm, Giáo Viên bán chỗ dạy, Giáo Viên ăn chận tiền Giáo Viên, Lãnh Đạo ngủ với Cô Giáo để cho biên chế. Có Sinh Viên ngủ với Thầy để xin điểm, có Học Sinh bóp cổ Cô Giáo, Học Trò đâm Thầy lủng ruột.
Bộ Y Tế thì có Thứ Trưởng ký nhập đủ loại thuốc gây tai hoạ khôn lường. Có Lãnh Đạo tiếp tay nhập thuốc giả bán giá cao . Có bệnh nhân 4người một giường, có người cấp cứu sắp chết phải đóng tiền mới khám. Có Bác Sĩ, Y Tá bị dí chạy quanh, bị đấm đá túi bụi. Có viện phí thì tăng mà phẩm lượng lại giảm. Có bệnh viện vào nằm không xem TV cũng đóng tiền , không dùng nước nóng cũng trả tiền, đêm không được bật đèn. Bệnh nhân bị xem như những con thú trong chuồng, bị đối xử nhẫn tâm, là đối tượng để tận dụng làm giàu .
Bộ Giao Thông Vận Tải làm đường chưa xài đã lún , chưa chạy đã nát, giá thực hiện cao nhất Thế Giới mà phẩm lượng thấp nhất trái đất. Cầu làm cốt tre, đường lót bằng mút. Cầu chưa đi đã sập, đường chưa chạy đã lắm ổ voi. BOT nơi nào cũng có, thu giá trên trời, đặt không đúng chỗ, làm một đoạn thu cả đường. Thu tiền quá niên hạn quy định. Bộ Trưởng phớt lờ dư luận, xem thường ý kiến nhân dân.
Bộ Tài Nguyên Môi Trường đào hết tài nguyên đem bán. Biển ô nhiễm vìFormosa, lãnh đạo tìm mọi cách bênh vực, làm đủ trò chối tội. Cấu kết với doanh nghiệp bán đất, bán rừng. Ao hồ, sông ngòi khô hạn,ô nhiễm, lãnh đạo bình chân như vại, quẩn quanh không lối thoát. Các thành phố lớn khí độc nằm trong khí thở, nhân dân sống chung với ô nhiễm môi trường, cái mầm bệnh về hô hấp lúc nào cũng chục chờ xâm nhập lá phổi của người dân .
Bộ Tài Chính suốt ngày tìm đủ cách để rút ruột người dân vô tội vạ. Thuế môi trường, thuế tài sản, hàng trăm thứ thuế dội lên đầu dân, xứ nghèo mà mua gì cũng đắt vì thuế quá cao. Chính sưu thuế làm dân nghèo đi. Thuế cao mà an sinh xã hội thì quá tệ lậu, người già, trẻ em chẳng được quyền lợi ưu tiên nào trong đời sống. Thuế cản trở doanh nghiệp, thuế khiến dân không lối thoát.
Lãnh Đạo từ trung ương đến địa phương chạy theo thu lợi bằng mọi cách. Họ làm giàu một cách nhẹ nhàng, dễ dàng và nhanh chóng khiến các đại gia của các nước tư bản phải thèm thuồng .
Thứ gì họ cũng ăn, đặc biệt là ở lãnh vực đất đai. Vì lợi nhuận quá lớn đưa đến mỗi địa phương là một Lãnh Chúa, bỏ ngoài tai những quyết định của trung ương, trên bảo dưới chẳng cần nghe. Tìm đủ mọi cách để lừa dối kiếm lời. Sửa luôn quy hoạch của trung ương để cướp đất dân, bỏ túi hàng ngàn tỷ. Bắt tay những doanh nghiệp bán đất, bán rừng, bán biển, bán đảo, đuổi dân đi, khiến dân trở thành kẻ tha phương cầu thực. Di tích, đền đài, kiến trúc lâu năm đều được quy thành tiền, có giá là đập là xoá để xây dựng mới, vừa bán đất có tiền vừa được chia chác từ dự án mới.
Lãnh đạo cấu kết với nhau, bắt tay với những doanh nghiệp ma đầu tạo ra những nhóm lợi ích chia nhau lợi tức bất kể đạo lý, thần linh, lịch sử, ký ức những thứ theo họ nghĩ là không sinh lợi. Họ bán rẻ đất nước này, họ không cần quan tâm dân sẽ sống như thế nào mà chỉ nghĩ họ thu lợi được bao nhiêu. Càng lúc họ càng phi nhân tính , quay cuồng với đồng tiền mà quên hết và vứt bỏ hết mọi giá trị để làm một con người. Họ tha hoá, trụy lạc trong cách sống, tìm đủ mọi cách để hưởng lạc. Họ mua sắm, xây dựng nhà cửa nguy nga, sân vườn như Vua Chúa. Họ gởi tiền ra nước ngoài, mua những khu đất lớn, những lâu đài, những chuỗi nhà hàng, siêu thị. Con cái sinh hoạt, vui chơi như những trẻ dòng dõi hoàng gia. Và lúc cần, họ rời đất nước trở thành những đại gia định cư ở xứ người. Họ trang bị cho mình nhiều bằng cấp, nhiều học hàm, học vị nhưng mở miệng toàn nói ngu, nói ngược với ý kiến nhân dân nên chẳng bao giờ được lòng dân .
Thời mà miếng ăn bỏ vào mồm cứ sợ là thuốc độc, bệnh uống viên thuốc cứ nghi là thuốc giả.Thời mà ở đâu cũng có thể bị đe doạ, ở trong nhà sợ kẻ cướp, ra đường sợ lũ giật dọc, sợ cây rơi, điện giật, sập hố, sẵn sàng bị giết chỉ bởi một lời nói, một ánh nhìn .
Thời mà trong sinh hoạt chẳng biết tin ai , chẳng biết tin vào cái gì? Thời mà những lời rao giảng đạo đức, những lời dạy dỗ, những tuyên ngôn trở thành như những câu thoại của một vở kịch hài. Thời mà người ta ngang nhiên chiếm đất công . Một bên là hàng ngàn người lũ lượt chen nhau để làm thủ tục lên máy bay, máy bay không còn chỗ đậu, đường băng kẹt như xa lộ kẹt xe. Một bên là bãi cỏ xanh biếc mênh mông hàng trăm héc ta, dành cho một vài kẻ thừa tiền nhởn nhơ giải trí. Thế mà dư luận, ý kiến của cả xã hội chẳng làm gì được, cả chính phủ cũng chỉ đưa mắt nhìn .
Thời mà kẻ cướp vào nhà ta không dám hé môi, nếu phản ứng có thể bị cướp giết, nếu đánh trả ta trở thành tội phạm, phải đi tù. Nếu chống trả gây hậu quả cho kẻ cướp, ta có thể bị kết án tử hình. Thế luật pháp đứng về phía nào ? Luật pháp bảo vệ ai ?
Xã hội chứa toàn mầm ác, con người đối xử với nhau tệ hơn thú vật. Trọng vật chất hơn con người. Suốt ngày các phương tiện truyền thông quảng cáo một lối sống chú trọng bề ngoài, đề cao lối sống vật chất, thiếu tình người. Các chương trình giải trí nhảm nhí, thiếu văn hoá, chỉ toàn là kiểu làm trò của các anh hề.
Văn hoá vỡ nát, phong tục bị bôi bẩn, lịch sử bị bóp méo, truyền thống bị đánh mất. Mọi giá trị tinh thần bị đảo lộn, ông thằng bị đánh tráo. Con người dựa sức mạnh vào đồng tiền, dùng đồng tiền chi phối và lèo lái luật pháp, đứng trên luật pháp. Nén bạc đâm toạc tờ giấy .
Nền nếp gia phong bị đảo lộn, những khuôn phép bị bẻ gãy, người lương thiện hoang mang và gánh chịu thiệt thòi. Trẻ con bị nhồi nhét vào đầu một lối sống thực dụng hoang dã , ích kỷ, chỉ biết thu vén cho bản thân và vô cảm với mọi thứ chung quanh. Chúng bị nhồi vào đầu những kiến thức vô bổ trong khi thiếu trang bị kỹ năng sống và sáng tạo. Một thế hệ nói và làm như một con vẹt. Một thế hệ chỉ biết cúi đầu thiếu ý thức phản kháng. Chúng như một cơ thể thiếu sức đề kháng nên cái xấu dễ xâm nhập và tung hoành.
Con người mất lòng tin nên chạy theo thần linh, ma quỷ. Họ mê tín đến độ cuồng si, họ tin vào Thế Giới ảo vọng một cách cực đoan. Họ không còn lòng tin vào cuộc sống nên dễ bị dẫn vào con đường tà đạo, tin vào quỷ ma. Ngay những người chăn dắt linh hồn cũng trở thành kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt Thầy Tu, mượn áo Nhà Dòng để làm điều bất chính. Chùa Đình xây lên to lớn, bề thế để kiếm lời. Nó không còn là chỗ tu hành linh thiêng mà trở thành nơi kinh doanh Thần Phật.
Cả xã hội nhốn nháo vì đồng tiền, cả đất nước sôi sục vì lợi lộc. Không còn chỗ để nói chuyện nhân từ, không còn thời gian để bàn chuyện lễ giáo. Người ta kinh doanh cả chuyện làm từ thiện, người ta cướp cả chén cơm của người già và bình sữa của em bé, viên thuốc của người bệnh. Ngang nhiên ăn cướp và ngang nhiên hưởng thụ, luật pháp ngoảnh mặt làm ngơ . Họ xô đẩy, chen lấn nhau để sống nên bỏ mặc văn minh, đánh rơi văn hoá .
Tôi không bôi đen xã hội, tôi không bêu xấu thời tôi đang sống, nhưng đau đớn thay nó là sự thật , một sự thật tàn nhẫn không kể hết được, tôi chỉ là người ghi chép lại.
Những điều này báo chí, dư luận nói nhiều rồi. Nhưng tôi vẫn tin rằng xã hội vẫn còn có những ánh sáng le lói để ta còn chút tin. Vẫn còn một ít người tốt để ta còn trông cậy. Thế nhưng ánh sáng không diệt hết đêm đen, người tốt thành cô đơn trong Thế Giới hỗn loạn này. Nhưng rồi phải có lòng tin để sống. Tin rồi cái thiện sẽ thắng cái ác. Người tốt sẽ diệt kẻ xấu. Kẻ bán nước phải bị nêu tên, người yêu nước phải được ca ngợi.
Nhưng giờ đây, ta gọi thời ta đang sống đây là thời kỳ gì nhỉ ? Lưu Quang Vũ đã có lần gọi là thời kỳ đồ đểu. Nhưng bây giờ, cái đểu đó, cái đốn mạt đó đã tiến xa lắm rồi, gọi là thời kỳ đồ đểu e là còn nhẹ quá chăng ?./.

P.C.Lin (Đỗ Thái st)