Showing posts with label Ký ức. Show all posts
Showing posts with label Ký ức. Show all posts

Saturday, June 7, 2025

Câu chuyện dịch thuật: Tiếng Hung và tiếng Việt

Đồng chí Ác-đen là ai ?

Năm 1974 đoàn đại biểu Tòa án tối cao Hungary do ông chánh án Szakács Ödön (1912 - 1983) dẫn đầu sang thăm VN. Tôi đi dịch cho đoàn. Trong ban đón tiếp của VN có bác Phan Hữu Chi, là cha của Phan Nguyên Khánh (SV sang Hung khóa 1972), và là chú ruột của Phan Quốc Khánh (SV khóa 1974).

Đoàn Hungary được nhiều cơ quan đón tiếp (Tòa án tối cao, Quốc hội, Viện Kiểm sát tối cao, Hội Luật gia, một số tòa án địa phương). Mọi việc đều suôn sẻ. Chuyện đáng nhớ là trong một buổi gặp gỡ, có bác VN phát biểu như sau: 

“Chúng tôi vui mừng vì VN và Hungary có quan hệ anh em rất gắn bó thân thiết. Báo Nhân dân vừa đăng tin: Đồng chí Ác-đen đã tiếp đoàn đại biểu cấp cao VN”.

Tôi dịch như cái máy: “ÁRDEL elvtárs ...”. Mọi người gật gù vui vẻ. Nhưng sau đó, mấy bác Hungary hỏi tôi: "Ác-đen là ai vậy ?". Các bác VN cũng hỏi: "Ông ấy giữ cương vị gì ?". Tôi chịu không trả lời được.

Tôi suy nghĩ: Ardel có vẻ là họ gốc Anh hoặc Đức-Áo, vì thế tạm bỏ qua. Chỉ nên xem xét họ tên Hungary. Họ tên gì mà đã Ác lại Đen. Nếu Ác là họ, Đen là tên thì có thể là Gonosz Dénes / Deli. Nếu Ác là tên, Đen là họ thì có thể là Ákos / Árkos Fekete. Nhưng trong các vị lãnh đạo Hungary không ai có họ tên gần như vậy. Thật khó đoán quá. Hồi đó lại chưa có mạng để tra cứu. 

Mấy hôm sau có một nhà báo VN hỏi tôi về ông trưởng đoàn Szakács Ödön. Thấy phiên âm phức tạp, anh tự tách Szakács thành Za-kác, rồi Việt hóa (thay Z bằng D, thay K bằng C) thành Da-các.   

Nhờ vậy tôi tìm ra lời giải thích. Hungary có ông ủy viên bộ chính trị là ACZÉL György (1917 – 1991). Một nhà báo VN nào đó tách ACZÉL thành AC-ZEL, rồi Việt hóa thành ÁC-DEN. Trong quá trình đưa tin một người khác lại chuyển DEN thành ĐEN. Thế là đồng chí Ác-đen ra đời.

Vũ Hoài Chương (Hội Hữu nghị Việt-Hung)

Tuesday, October 8, 2024

Chuyện U80: Trở lại hồi ức tuổi thanh niên (tiếp theo)

 Về Königs Wusterhausen (2)

Thời kỳ đầu của thanh niên Việt nam ở Đông Âu, đa số các vụ kỷ luật, thậm chí bị đuổi về nước là do tội trai gái. Các tội hình sự, kinh tế, buôn lậu sau 1980 mới xuất hiện, khi Việt Nam xuất khẩu ồ ạt lao động sang đây. Thời chúng tôi, ai cũng ngoan đạo, „căm thù địch“ nên không có tội chính trị. Suốt bốn năm ở Đức tôi chỉ biết một vụ. 

Trong chuyến tàu hỏa 14 ngày từ Việt  Nam sang Đức chúng tôi đi cùng các đội khác. Khi đi qua Trung Quốc, anh Chương trong đội kỹ thuật dây cáp nói tiếng Hoa rất thạo. Té ra chàng trắng trẻo, đẹp trai, vui tính và hay giúp mọi người này là người gốc Hoa. Sau này sang Đức thỉnh thoảng tôi lại gặp anh trong các đợt sinh hoạt chính trị do sứ quán tổ chức. Vậy mà đùng một cái, chúng tôi được thông báo là anh Chương bị bắt, giải về nước về tội phản quốc. Anh bị bắt khi trốn vào đại sứ quán Nam-Tư (Yugoslavia) ở Berlin để xin chạy sang phương tây.

Người Việt sinh ra sau 1980 chắc không biết Nam-Tư là nước nào. Nhưng Liên bang Cộng hòa XHCN Nam Tư từng là một quốc gia hùng mạnh ở châu Âu, với hơn 20 triệu dân và 7 nước cộng hòa. Chủ tịch là ông Tito, người có tầm cỡ như Hồ Chí Minh ở Việt Nam hoặc Ghandi ở Ấn Độ. Nam Tư tự hào là quốc gia duy nhất đã tự giải phóng đất nước mình khỏi ách phát xít Hitler mà không nhờ một người lính đồng minh nào. Sau 1945 ông cộng sản Tito xây dựng quê ông thành nhà nước XHCN cởi mở, khác hẳn các nước khác theo mô hình Stalin. Tuy Liên đoàn Cộng sản Nam Tư độc quyền lãnh đạo, nhưng kinh tế thì không bao cấp, các xí nghiệp quốc doanh tự quản, lãi hưởng lỗ chịu. Báo chí tư nhân vẫn có và công dân được tự do đi lại khắp thế giới. Nam-Tư có quan hệ lãnh sự mở với tất cả các nước tư bản cũng như các nước XHCN. Thế là dân các nước XHCN muốn chạy đi Tây đều tìm cách sang Nam-Tư du lịch rồi đến các sứ quán Phương Tây ở Belgrad xin visa, khỏi cần vượt biên. Dân chúng Đông Đức, Tiệp khắc, Ba-Lan… ai cũng có hộ chiếu nên việc đó không nguy hiểm lắm.

Tụi chúng tôi sang đến Đức là bị sứ quán thu hộ chiếu ngay và chỉ trả lại một ngày trước khi lên tàu về nước. Trong suốt bốn năm tôi chỉ có mảnh bìa xanh của Đông Đức chứng nhận là đang học nghề ở đây. Vì vậy nên chàng Chương khi vào đến sứ quán Nam Tư thì kẹt luôn trong đó, không ra được nữa. Cuối cùng thì sứ quán Nam-Tư phải trao anh công dân không xác đinh được tổ quốc (vì không có hộ chiếu) này cho công an Đông Đức. Sứ quán Việt Nam áp giải về nước.

Kể như vậy chỉ để người đọc hiểu bối cảnh khi đó. Bọn chúng tôi từ Việt nam đói khổ sang đến Đông Đức thì coi như lên thiên đàng, đâu có suy nghĩ như anh Chương. Mà người dân ở Königs Wusterhausen thì thương chúng tôi lắm. Ngày nghỉ cuối tuần các thầy cô giáo đều đón về nhà riêng chơi, chăm bẵm đủ kiểu. Bà Inge Lanzke dạy tiếng Đức lúc đó ngoài 30, là dân chính gốc ở đây. Bà thường kéo cả 12 đứa trong nhóm về nhà bà. Đó là một cái nông trại nhỏ của bố mẹ bà, lúc nào cũng có mùi phân gà, phân lợn, vườn toàn là táo, mơ, anh đào. Bà Inge không lấy chồng nên ở chung với bố mẹ. Chúng tôi gọi hai cụ là Opa, Oma (ông,bà ngoại). Trong sách „Hai Quê Hương“ tôi có kể về đoạn ông cụ mang gà nhà nuôi, đã mổ sẵn đến ký túc xá tặng cho tụi con Việt Nam.

Hè 1967 ở nhà bà Inge Lanzke, cậu bé Volker đứng trước mặt bà ngoai. Mẹ cậu, bà Ursula đứng bên phải bà ngoại, rồi đến ông ngoai và tôi

Mỗi lần chúng tôi đến chơi là gia đình bà Ursula, chị gái bà Inge, ở gần đó cũng kéo sang. Ông Schmidt, chồng bà Ursula là một ông công an tốt bụng, vui tính. Cậu Volker, con trai bà Ursula lúc đó mới 8 tuổi thì luôn bám theo tôi. Bà Inge còn có cô em gái út tên là Judith, xinh nhất nhà. Judith là cảnh sát hình sự ở tận Schwerin cách xa 200km. Mỗi khi Judith về Königs Wusterhausen thăm bố mẹ là gia đình lại mời tụi tôi đến. Tôi coi cả đại gia đình đó như người thân. Năm 1971 sau tôi về nước thì Judith mới sinh cậu con đầu lòng tên là Uwe.

Mấy chục năm sau tôi quay trở lại đây, ông bà cụ đã mất, cả ba chị em đều đã về hưu. Bà Inge sau khi dạy chúng tôi thì không làm ở ngành giáo dục nữa mà chuyển sang làm nhân viên văn phòng huyện ủy thị trấn. Bà Ursula cũng làm nhân viên ở đó. Mỗi lần tổ chức liên hoan gặp mặt, tôi đều mời bà Ursula Schmidt cùng dự. Chúng tôi đã đến thăm căn hộ mới của bà, thấy bà thỏa mãn với cuộc đời.

Bà Ursula Schmitz

Năm nay bà Inge mất rồi, chỉ còn bà Matter là cô giáo cuối cùng còn sống. Tôi mời bà Ursula và cả cậu con trai là Volker đến gặp mặt cho vui, nhân dịp có chị Hiền từ Việt nam sang thăm lại trường cũ. Địa điểm tôi chọn là quán ăn „Riedels Gasthof“, một quán ăn nổi tiếng ở Königs Wusterhausen từ thế kỷ 18. Sau 1945 quán này trải qua thời kỳ XHCN với cái tên gọi quốc doanh „HO Gaststätte Neue Mühle“. Sau khi nước Đức thống nhất, quán lại lấy tên cũ và ông chủ hiện tại không phải ai khác, chính là thằng bé Uwe, con trai của Judith, em út trong gia đình. Lâu nay tôi và Uwe vẫn liên hệ với nhau. Uwe coi tụi Viêt Nam chúng tôi là một loại keo dính, vì đã có vài cuộc gặp gỡ thầy cô được tổ chức ở quán cậu ta.

Cậu bé Uwe, cháu bà giáo Inge Lanzke, chủ quán ăn

Nâng cốc mừng hội ngộ

Lần này tôi gọi cả Volker, anh họ Uwe đến đây vì tôi muốn tìm hiểu một sự thật: Tại sao thanh niên Đông Đức ủng hộ bọn cực hữu AfD và tay đồ tể Putin?

Uwe cưới cô Alla, con gái một cựu sỹ quan Hồng quân Liên Xô từng đóng quân ở Königs Wusterhausen. Từ trẻ Alla đã giúp mẹ buôn bán các đồ hàng hiếm từ doanh trại Liên Xô ra ngoài cho dân Đức (giống như lính Mỹ đem hàng PX ra bán chợ đen ở Sài Gòn trước 1975). Sau khi Liên Xô rút quân về nước 1994, Alla ở lại và cưới chàng Uwe. Từ đó hai vợ chồng mở quán ăn Nga, rồi quán ăn truyền thống Đức. Câu chuyện nhà Uwe chỉ là một trong những mối liên hệ chằng chịt Đông Đức-Nga mà không phải ai cũng thấy. Uwe khoe với tôi: „Còn lâu mới cấm vận được Nga. Gia đình bên đó cần gì, tao mua, chở xe hơi qua Ba-Lan,  Litva rồi mang sang Nga.“

Chuyện Uwe ta thần tượng Putin không có gì khó hiểu. Mỗi lần gặp hắn là tôi hay tranh luận về Nga, về bọn cực hữu AfD. Cuối cùng hắn luôn xoa dịu bằng câu: „Mẹ tôi vẫn nhắc đến ông, bà ấy quý ông lắm.“

Cậu anh họ Volker thì chất phác hơn, vốn là công nhân cơ khí đường sắt, nay đã về hưu và cũng có cuộc sống dễ chịu với dàn cháu nội ngoại. Cậu ta cũng happy vì ông bố công an và bà mẹ làm công tác đảng đều trải qua quá trình chuyển đổi chế độ một cách êm ấm.

Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng. Volker và Uwe tuy là anh em họ nhưng ít có dịp gặp nhau. 

Thằng bé Volker sau 57 năm

Trong khi bà Ursula ngồi nói chuyện với bạn Nga và chị Hiền thì Volker và bà Matter trao đổi một số chuyện liên quan Trường Bưu điện. Königs Wusterhausen là một thị trấn nhỏ nên có vẻ ai cũng biết ai. Kể chuyện một lúc thấy hai người dừng lại ở một cái tên: Ông Paris. Thì ra đó là một cán bộ của Trường Bưu điện từng làm mật vụ cho STASI. Ông Paris ở cùng nhà với bố mẹ Volker và về sau này họ biết là ông ra đã theo dõi và báo cáo về họ. Thì ra bà cán bộ đảng và ông cảnh sát cũng không thoát khỏi tầm ngắm của STASI. Volker bức xúc lắm.

Tôi hỏi: 

- Vậy mà cậu sẽ bầu cho AfD, những kẻ muốn đưa những điều tồi tệ như vậy quay lại Đông Đức?

- Nước Đức giờ tệ lắm rồi, không thể tệ hơn nữa. Dân thất nghiệp không đủ ăn mà tiền thì chi cho bọn ngoại quốc vô đây làm loạn. 

- Mấy chục năm trước, khi nạn thất nghiệp ở mức 8-9%, người ta tiên đoán là sẽ đến lúc một nửa dân sô thất nghiệp. Giờ đây khủng hoảng chính của Đức là không có người làm, là thiếu nhân lực. Tỷ lệ thất nghiệp dưới 5% đâu có phải là vấn đề chính. Mày bị nhiễu thông tin rồi. Còn dòng người tỵ nạn là vấn đề của cả nhân loại, của cả châu Âu. Cứ chiến tranh, loạn lạc thế này người ta càng nhào vô chỗ yên ấm. Vụ này thì chính phủ nào cũng sẽ loay hoay thôi, đừng nghĩ là AfD lên là có thể dùng súng máy chặn người ta ở biên giới. 

- Nhưng ông thấy bọn cầm quyền bây giờ đang để cho kinh tế Đức đi xuống. Xuống đến mức mà cái gì cũng thua đồ Tàu.

- Ngày xưa khi tôi cầm cái kìm, cái tuốc nơ vít của Đông Đức về Việt nam, cả cơ quan tròn mắt nhìn, ai cũng thèm. Bây giờ chả nói gì Trung Quốc ,mà nước nghèo nào cũng làm ra được những dụng cụ tốt như thế, giá lại rẻ hơn gấp 10 lần. Tàu cao tốc Trung Quốc giờ chạy nhanh hơn tàu Transrapid của Đức. Cái điện thoại di động mày cầm trên tay là sản xuất ở Việt nam đấy. Điều đó không có nghĩa là nước Đức kém đi, mà là các nước khác đã và đang giỏi lên. Đó là một thực tế mày phải chấp nhận. Vì vậy chớ có hy vọng bằng cái trò Make Germany Great Again hay MAGA có thể giúp mình ngồi trên bọn khác được. Tất nhiên Đức, Mỹ hay Pháp vẫn là các quốc gia đi trước và muốn không bị vượt thì đừng quay lại làm những trò đã khiến bọn đuổi theo lạc hậu mất cả trăm năm. Dân chủ và Tự do luôn tạo ra sự ưu việt. Xe Mercedes, BMW đã thắng xe Trabi nhờ điều đó. Giờ đây Mercedes, BMW thất thế vì thời đại đã thay đổi. Vậy hãy tìm ra con đường mới chứ đừng quay lại xe Trabi.

Bà Matter ngồi cạnh nghe vậy cười khúc khích. Tôi hỏi: Tuần tới bà bầu ai?

Nhún vai: Khó quá, bọn nào cũng trì trệ. Nhưng chắc chắn không phải là AfD!

Volker và Uwe thì quyết bầu cho AfD. 

Hè 2024,từ trái sang: Hồ Nga, bà Ursula Schmitz, chị Hiền, bà Matter, Thọ và Volker Schmitz

Nguyễn Xuân Thọ

Wednesday, October 2, 2024

Chuyện U80: Trở lại hồi ức tuổi thanh niên

Về Königs Wusterhausen (1)

Thị trấn nhỏ Königs Wusterhausen ở phía đông nam Berlin là nơi tôi hay trở về, vì nó gắn bó với tuổi thanh niên của tôi (1967-1971).

Cứ mỗi lần tôi trở về, lại vắng thêm một thầy giáo cô giáo. 

Đến hôm nay chỉ một cô giáo duy nhất còn sống, đó là bà Rosemarie Matter. Khi tôi 17 tuổi, bước vào học nghề vô tuyến điện tôi đã thích vẻ đẹp của bà giáo 27 tuổi mới về trường. Bà có khuôn mặt thanh tú, mái tóc bạch kim, cổ cao ba ngấn. Khiếu hài hước của bà khiến các bài giảng về kỹ thuật vi sóng trở nên dễ hiểu. 

Năm 1971 chúng tôi về nước. Hai mượi sáu năm sau tôi trở về Königs Wusterhausen tìm lại các thầy cô. Lúc này thời thế đã đổi thay. Nước Đức thống nhất tiếp nhận toàn bộ số nhân viên cũ của trường Bưu điện CHDC Đức và mọi người tiếp tục được  làm việc cho đến lúc về hưu. Năm 2006 các bạn Thái, Nga cùng tôi tổ chức một cuộc họp mặt các thầy cô cũ. Việc đó không đơn giản vì nhiều thầy cô không muốn gặp nhau. Bị quá khứ STASI ám ảnh, họ không muốn gặp lại những đồng nghiệp cũ từng theo dõi tố giác nhau. 

Tuy bất đồng với nhau nhưng tất cả họ đều quý cái tình của đám trò VIệt chúng tôi và điều đó khiến nhiều cuộc gặp gỡ đã thành công. Tôi mừng nhất là dù trải qua mọi thăng trầm của lịch sử, tất cả đều có lương hưu tử tế. Đa số họ đều mạnh khỏe và sống khá giản dị. 

Nổi bật trong số các ông bà giáo thanh đạm đó là bà Rosemarie Matter. Năm 2006, bà vẫn đẹp như xưa, lại cưỡi xe BMW mui trần đến dự liên hoan, giọng nói sang sảng. Là giáo viên giỏi lâu năm, lương hưu của bà khá cao, lại thêm lương hưu của ông chồng, vốn là đại tá Quân đội Nhân dân Quốc gia CHDC Đức, nay được hưởng hưu tương đương với đồng cấp Tây Đức nên ông bà sống khá giả lắm.

Năm đó bà có việc buồn là ông mới từ trần vài tháng trước, nhưng vẫn thu xếp đến gặp đám trò cưng của bà. Rồi bà tâm sự là tiền hưu của ông để lại dành cho bà góa nay chỉ được 86% so với viên quan năm Tây Đức. Tôi chẳng biết nói sao, chỉ an ủi bà rằng:

- Ngày trước ông nhà chỉ có nhiệm vụ là tiêu diệt người ta. Nay thời thế thay đổi ông được người ta chu cấp lương hưu cao như vậy rồi ông qua đời bà tiếp tục hưởng, tuy thấp hơn bên kia thì kể cũng buồn. Nhưng chắc chắn là không khổ như mấy ông sỹ quan Việt Nam Cộng hòa thua trận ở quê tôi. Họ đi tù mút mùa.

Bà nhìn tôi một lúc, không nói gì. Nhưng về sau bà và tôi trở nên thân thiết. Có chuyện gì buồn vui bà vẫn kể với tôi. Lần nào tôi về trường mở liên hoan với các thầy cô bà cũng đến dự. 

Rồi bà rủ tôi tham gia nhóm „Nhà lưu niệm đài phát sóng Königs Wusterhausen“.  Đài phát sóng trên đồi điện tín này chính là nơi khai sinh của ngành vô tuyến viễn thông Đức từ năm 1920. Nỗ lực của chúng tôi gìn giữ những chứng tích cũ trên nền đất của đồi điện tín đã thành công. Năm 2020 chính phủ Đức đã biến „Nhà lưu niệm đài phát sóng Königs Wusterhausen“ thành „Bảo tàng quốc gia về vô tuyến viễn thông“. Kinh phí đã đổ về để mở rộng diện tích. Vật trưng bày từ khắp mọi miền nước Đức được tập trung về đây. Rainer Suckow, người đang phụ trách dự án bảo tàng này cũng là trò cưng của bà Matter. Cậu ta vào trường bưu điện sau tôi 15 năm, khi ra trường làm ngay tại đài phát sóng. Cậu nói với tôi. 

- Có được cái bảo tàng này cũng nhờ công lao của bà Matter nhiều lắm. Vì bà ấy tập hợp được tụi mình.

Hôm rồi tâm sự qua Whatsapp bà có vẻ bi quan về sức khỏe và lo lắng rằng tuần sau sẽ phải đi mổ, Thế là tôi quyết sang thăm bà.

Tôi lại rủ bạn Nga, chị Hiền, những trò cũ của trường Bưu điện hiện đang ở Berlin cùng về đó. 

Sáng thứ bảy 14.09 chúng tôi ghé nghĩa trang viếng mộ hai bà giáo đã mất trong những năm vừa qua. Hai bà Inge Lanzke và Inge Henk về già sống cô đơn trong nhà dưỡng lão nên khi qua đời gia đình chôn cất họ ở một khu mộ vô danh. Tất cả những người không có con cái thường xuyên đi tảo mộ được chôn ở đó, không ai có bia mộ. Ai đến thăm người thân thì mua hương hoa viếng cho tất cả.

Sau đó cả bọn lại đưa nhau về thăm trường cũ trên „Đồi Điện tín“. Trường Bưu điện đã trở thành trường dạy nghề của bang từ mấy năm nay. Chúng tôi không được vào, chỉ loay hoay đi bên ngoài chụp ảnh. Nói chung cảnh quan không thay đổi nhiều. May sao bỗng gặp tay quản lý đang loay hoay sửa xe ngoài sân sau. Anh ta nhìn là biết tụi tôi. Chuyện đám học sinh Việt Nam gần 60 năm trước hay quay về đây thì cả thị trấn đều biết. Thế là anh ta mở cửa tầng hầm để cho chúng tôi vào thăm lại bên trong.

Điên thoại di động được khởi động để live stream „sự kiện“ này về Việt Nam cho các vị về hưu bên đó „hồi xuân“.  Ho Nga Hue quay camera vào từng cửa sổ: Đây là phòng chị Hien Nguyen, kia là phòng anh Trần Văn Thái...

Rồi điện thoại quét qua phòng bóng bàn trong hầm, dừng lại ở cánh cửa phòng cuối cùng, vốn là phòng tối in tráng ảnh (Fotolabor). Cả bọn cười bò ôn lại những bi kịch của thời kỳ „L..tù, cu hãm“.

Thời đó sứ quán cấm đoán mọi chuyện yêu đương. Nước CHDC Đức là cường quốc photo-kino nên chúng tôi ai cũng mua máy ảnh chụp lung tung. Nhà trường có phòng lab rửa ảnh dưới tầng hầm. Ai muốn in tráng phim, ảnh cứ đến lấy chìa khóa mà xài. Hóa chất và máy móc thì đảng bạn cấp cho miễn phí. Học sinh Đức ít xài phòng này hơn quân ta, vì họ còn có nhiều trò tiêu khiển khác. Quân ta thich chụp ảnh đã đành, nhưng cũng thích rủ nhau vào phòng tối, có khóa cửa được "chính quyền đảm bảo".

Thế là từ cái phòng tối có đèn đỏ đó đã xảy ra vài câu chuyện ái tình bi hài của đội chúng tôi. 

Có người tố cáo bị ôm hôn, sờ soạng trái phép trong đó, ít nhất là hai vụ! 

Thế là chi bộ tổ chức kiểm điểm anh nọ, chị kia. Mỗi cuộc họp kéo dài cả vài buổi. Tôi tức nhất là mất mấy trận bóng đá và các chương trình ca nhạc „DDR-Schlager“ để ngồi nghe các anh chị hành hạ nhau.

Nhưng nhiều người lại thích được họp để ép các đối tượng phải kể chi tiết các động tác của thủ phạm. Sống trong cảnh tù hãm, người ta thích đọc các tiểu thuyết khiêu dâm là vậy. Nay không được mua tiểu thuyết thì bắt chúng kể chuyện xảy ra trong phòng rửa ảnh. Chi bộ đã bắt thì kiểu gì cũng phải khai!

Giờ đây các cụ U80 live tream cho nhau, nghĩ đến những „vụ án phía sau cánh cửa cái phòng tối“ đó để hồi xuân. Cười vui vẻ chứ không còn bí bách như xưa.

Hè 2006 trước cổng trường. Bà Matter đứng thứ tư từ trái sang

(Còn tiếp)

Nguyễn Xuân Thọ

Friday, September 13, 2024

ARANYDIPLOMÁS- BME-1975

Đăng ký ở Các Khoa Đại học BME Mong sao 75 Sinh viên Viêtnam tốt nghiệp 1975 của BME được nhận ARANYDIPLOMA trong năm 2025.

Số SV VN tốt nghiệp 1975 theo 6 Khoa như sau:

1. Khoa Kỹ sư Xây dựng: 1 người 

2. Khoa Ks Máy: 8

3. Khoa Kiến trúc: -

4. Khoa Hóa: 13

5. Khoa Điện: 47

6. Khoa Giao thông: 6

Tống cộng: 75 sv Việt năm trong tổng số 1800 sv tốt nghiệp năm 1975 của BME.

Peter Nagy

Saturday, January 27, 2024

Đọc thơ Đường vào Tết

 Có lẽ cha tôi để lại cho tôi cái thú đọc thơ Đường vào những ngày Tết. Điều đó chẳng liên quan gì với việc nệ cổ, phụ thuộc vào văn hóa Trung Hoa hay mê Mao như ngày nay chúng ta hay nghĩ theo một công thức nào đó. Trái lại, cha tôi là một người Tây học, thuộc làu văn học và triết học phương Tây, thích công nghệ, kỹ thuật, làm thơ, rốt cuộc lại viết tiểu thuyết. Ông luôn ghét Mao, vào những năm 60, chỉ có ông là chăm chỉ mượn Temp Nouveau, Humanité về xem thường xuyên, không bị chụp mũ là xét lại đã là giỏi. Truyện Tàu ông đọc trước quên sau, phải nhờ tôi nhắc điển cố. Nhưng thơ Pháp ông nhớ và đọc thuộc lòng nguyên bản vanh vách.

Một năm hai lần, cha tôi lại dở tập thơ Đường đọc. Cha tôi có một giọng ngâm thơ không ai có. Nữ ca sĩ Tân Nhân nhiều lần đến để cha tôi dạy cho vài bài làm tủ biểu diễn. Cha tôi giải thích đó là kiểu ngâm thơ cổ, học lại của ông nội tôi. Hồi bấy giờ Đài tiếng nói Việt Nam có mục Tiếng Thơ phát vào lúc 11g đêm, với hay giọng ngâm nổi tiếng của Châu Loan ngâm theo lối miền Trung và Trần Thị Tuyết ngâm theo giọng Bắc. Hai bà ngâm đều hay, như rót mật pha vị đắng vào lòng người nghe, quặn thắt. Có điều chúng quá đều đặn, giống nhau, tuần hoàn theo một kiểu kéo dài ra vô tận. Nếu ngâm một bài dài, lại phải lặp lại giai điệu từ đầu. Không có chỗ sáng tạo cho người ngâm. Như bài trường ca Chim Chơ rao, ngâm theo lối Châu Loan và Trần Thị Tuyết đều dở, vì các điểm cao trào không theo cái vòng tuần hoàn của lối ngâm đó. Cha tôi làm thơ cũng như vậy, tiết tấu âm điệu đều bất ngờ, vút lên hoặc đột nhiên đứt đoạn, chơi vơi. Ông nói "Âm điệu của Thơ là quan trọng, nhưng quá vần điệu sẽ kém tư duy, vì ru ngủ."

Cách ngâm của cha tôi khá ngẫu hứng, giọng và âm điệu thì rất cổ nhưng không hề đóng khuôn. Nhiều đoạn lên xuống giọng, ngắt, luyến rất đột ngột. Chính vì vậy mà tôi không thể học được. Kể cả cô Tân Nhân cũng chỉ học được từng bài. Quyền điều tiết nhịp điệu là theo cách giải nghĩa bài thơ của cha tôi.

Cha tôi nhớ lại, khi bà tôi còn sống. Mỗi buổi sáng, từ 5g, trời còn tối đất, bà tôi (chắc hồi đó mới hai mấy) dậy sớm chỉ bảo công việc cho người nhà, không quên nhóm lò đun nước cho ông. Ông ngồi trên sập, tự tạy pha trà, bà trang điểm, chải tóc, mặc đồ nghiêm trang đến ngồi đối ẩm. Ông tôi mời trà đưa tận tay vợ và ngâm thơ Đường, bà thành kính say mê ngồi nghe. Cứ thế cho tới mờ sáng. Ngày nào cũng như ngày nào.

Bà tôi mất sớm, có lẽ chưa tới 30, cha tôi mới chừng 7 tuổi, cô Thanh Hương khoảng 4-5 tuổi, cô Vân Hòa mới chừng hơn 1 tuổi. Ông tôi vẫn mỗi ngày pha trà, vẫn rót ra hai chén, chén đối ẩm để không. Ông ngâm thơ Đường, nhiều đoạn nức nở, nước mắt chảy ròng ròng trên má. Có lẽ ông tôi nhớ vợ, nên ôm cha tôi còn ngái ngủ ngồi cùng. Cha tôi nói "Nước mắt của đàn bà tuy phiền nhiễu nhưng dễ dãi. Người đàn ông khóc là một cảnh tượng đáng sợ." Có lẽ cha tôi đã học cách ngâm thơ trong hoàn cảnh như thế. Giọng ngâm của ông tôi tự thấm vào cha. Chắc chắn có sáng tạo của cha.

Giọng ngâm cổ này thật lạ, nhưng có những cái tự nhiên nguyên sơ và táo bạo. Giống như xem bảo tàng Chàm, thời kỳ cựu thịnh, khi độ tinh xảo đên cao độ, thành công thức là sắp suy tàn. Thời kỳ suy tàn, nghệ thuật đã thành công thức, không thể chê vào đâu ở mỗi chi tiết, nhưng rập khuôn, tẻ nhạt. Thời kỳ hình thành nghệ thuật Chàm là khi người ta đang tìm tòi, phá cách để tìm ý, tràn ngập ý tưởng mới, tuy có chỗ còn thô sơ, nhưng lớn lao, kỳ vĩ. 

Đến tôi, có lẽ môi trường sống đã khác, giọng ngâm của cha, tôi đã để mai một, không thể tiếp nối. Nhưng tới ngày Tết tôi vẫn có cái thú đọc 2-3 bài cổ thi. Đọc bằng nguyên bản, đọc lên theo âm Hán-Việt, rồi tra từng từ, từng điển tích, rồi lại đọc lần nữa. Cả một khung cảnh cũ hiện lên theo từng mỗi chữ. Chữ Hán, có sự cô đọng thích hợp với Thơ vô cùng. Tôi cũng đọc không ít Thơ Tây, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hung và phần nào tiếng Nga, nhưng thấy ý tứ vẫn bị ràng buộc vào văn phạm, không thể bay lên được như thơ Đường. Điều lạ nhất khi đọc bằng nguyên văn chữ Hán, dù chưa hiểu gì trong đầu đã có một bức tranh mờ ảo nào đó. 

Khoảng chục năm gần đây, bên cạnh thú đọc thơ Đường, tôi có thêm thú dịch Tam Quốc vào ngày Tết. Khi người ta tất bật, tấp nập bên ngoài, tự nhiên thấy yên tĩnh trong lòng, giống như được tạm quên đi, trở về với quá khứ, nhớ đến ông nội và cha tôi.  Đọc thư tịch cổ làm hồn người thư thái, hiểu thêm ý nghĩa của thời gian. Lòng chợt quặn thắt, trái tim như có cái gì đó từ từ chạm vào đau nhói tâm can. Tất cả những cảm giác đau đớn lại sinh ra một khoái cảm. Có lẽ mọi mỹ cảm đều sinh ra từ cảm giác đau.

Năm nay, tình cờ đọc lại bài "Đề đô thành nam trang" của Thôi Hộ.

題都城南莊  

去年今日此門中, 

人面桃花相映紅。 

人面不知何處去? 

桃花依舊笑東風。

Đề đô thành nam trang 

Khứ niên kim nhật thử môn trung, 

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng. 

Nhân diện bất tri hà xứ khứ, 

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Dịch ý

Đề ở ở một ấp nhỏ ở phía Nam đô thành

Năm ngoái cũng ngày này ngay tại cổng này

Mặt người hoa đào cùng hồng lẫn nhau

Người nay không biết đã về đâu

Hoa đào như cũ đang cười gió đông

Bài này khó nhất là ý "tương ánh hồng" Các bản dịch đều dịch theo ý là cùng hồng, không có ý liên quan tương hỗ với nhau. Câu hay nhất là "Đào hoa y cựu tiếu đông phong". Có người suy luận dịch là "hoa đào áo cũ còn cười gió đông". Thực ra chữ "y" ở đây không phải là áo như trong "y thường".

Phùng Mộng Long, tác giả Đông Chu Liệt Quốc, sáng tác thành câu chuyện. Thi sĩ Thôi Hộ đời Đường vào tiết Thanh minh, đi chơi về phía nam đô thành, ghé một trang ấp nhỏ xin nước uống. Có một người con gái đẹp, bưng nước cho uống, duyên dáng kín đáo. Năm sau, Thôi Hộ ghé trang ấp đó thấy cửa đóng then cài bèn viết bài thơ này đề lên cửa. Người con gái đọc thơ nhớ thương Thôi Hộ, ốm tương tư, gần chết cũng vào tiết Thanh Minh. Thôi Hộ quay trở lại, người con gái khỏi bệnh và được cha mẹ gả cho Thôi Hộ.

Tôi nghĩ rằng câu chuyện của Phùng Mộng Long rất tầm thường, trong khi bài thơ hàm chứa một ý gì đó xót xa nhân thế trước xoay vần của thời gian.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

28 Jan 2017

Sunday, January 21, 2024

Ngày đặt chân lên đất Hungary

50 ÉV- 1968.08.12- Hajrá Hungaria - Tầm giờ này đúng 50 năm trước chúng tôi xuống ga Keleti pu...Theo Yen Victor: "Đoàn AE chúng tôi khoảng 300 học sinh đặt chân xuống sân ga phía đông ( Keleti) Budapest. ra đón chúng tôi ngoài mấy anh nhân viên Đại Sứ Quán, còn có anh Quang The...

Anh Lê Hữu Hiệu nhớ thêm  „có đoàn thiếu niên khăn quàng xanh và nhiều quan chức người Hung .. Szirmai Ernő mãi mấy chục năm sau „rất ấn tượng với đoàn (thiếu niên) đồng phục mà mặt ai cũng tưng bừng hớn hở!”

Nguyễn Minh Ánh thì cứ đứng ngây ngửa mặt say sưa mãi mấy ngày sau vẫn không tin tận mặt đã thấy nhà ga mà lại lớn lộng lẫy như ni! Chàng trai trong nhóm mấy bạn từ Quảng Bình đang tơi bời khói lửa, những ngày ở Bần Yên Nhân đã cuốc bộ mấy cây số ra tận ga Lạc Đạo xem tầu hỏa ....

Peter Nagy (BME.vidi68)

Thursday, January 18, 2024

Học bạ Trường Y Dược

Hôm nay lục lọi ra quyển học bạ thời đẹp nhất tuổi thanh xuân mà sao trường mình lại bọc màu đen nhỉ! Không biết mọi người còn giữ không vì trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt,bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt,hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên.

Tăng Kim Đoan (ĐH SEMMELWEIS.vidi69)

Monday, January 1, 2024

BME-GTK

 Chúc mừng ACE Khoa Máy ngày mai gặp nhau vui tưng bừng và đầy hoài niệm. Nhân đây xin gửi Cả Nhà mấy tấm hình cũ gợi nhiều kỷ niệm.. một thời xa xưa.. vẫn như mới toanh trong chồng sách cũ!! Tiện bổ sung vắn tắt về phần Kinh tế (chữ G) trong BMGE. Nhiều ACE đã hỏi bởi con cháu có ý tới BME nhưng không thích học kỹ thuật, vả lại ngày càng nhiều thí sinh VN trúng tuyển vào học kinh tế, quản lý ở BME.

Thời 68- đến cuối 80- đa phần chúng ta chỉ (được phân công) học kỹ thuật:  Bởi lẽ sau khi tách phần Kinh tế ra thành trường riêng bên kia sông, BME tập trung vào Kỹ thuật ở 6 Khoa Máy, Kiến trúc, Xây dựng, Hóa, Điện, Giao thông… Những môn cơ bản như Vật lý lý thuyết, Toán phân tích… rồi Chính trị kinh tế học, Triết học, Chủ nghĩa Marx… do các Bộ môn khoa học cơ bản thuộc Bộ phận Központi Oktatási Egységek. Do những cải cách kinh tê, từ sau 1968, BME đã đổi mới dần các chương trình xhcn và đưa vào dạy những tri thức quản lý kinh tế thị trường: các giáo trình như  GAZDASÁGTAN MẺRNÖKÖKNEK do Gs KERÉKGYÁRTÓ GYÖRGY chủ biên là những nội dung luôn đổi mới từ cuối nhũng năm 80. Năm 1998, từ Bộ phận này hai khoa: Természettudományi Kar TTK  và Gazdaság-és Társadalomtudományi Kar –GTK chính thức ra đời..do  Gs Ts KÖVESI JÁNOS làm Chủ nhiệm Khoa … Hai năm sau (1/1/2000) Trường chính thức mang tên BMGE.. mở ra nhiều ngành học… và các kỹ sư cũng được bổ sung các kiến thức kinh tế, quản lý thị trường…tương ứng do  8 khoa của Trường và Hệ thống học phần của ngành đào tạo đại học Hungary.

HY VỌNG sẽ nhiều ACE cổ vũ con cháu đến học ở BME ở tất cả các ngành …Hơn nữa, VN ta chưa dùng hết 100 suất học bổng toàn phần (cả Cao học, Đại học, sau đại học) của Chính phủ Hung đài thọ…. mà số này có lkhả năng sẽ tăng theo yêu cầu.. của VN ta.

50 ÉV- Các lớp M1-2-3-4 trước cửa Trường Ngoại ngữ ngày đông năm 1968. Đa số năm sau theo học ngành máy ở BME và Đại học Công nghiệp nặng MISKOLC. Ngày mai gặp nhau hãy tag tên mình vào ảnh nhé...Mong hội ngộ...50 év múlva! with Xuyen Nguyen Thi and 
3 others @ at Budapest University of Technology and Economics.

Anh Khuê @  Budapest University of Technology and Economics

Peter Nagy

04 August 2017

Wednesday, October 18, 2023

Thursday, August 3, 2023

Azok a szép napok: Kỷ niệm WC-1974

Hàng đứng (từ trái qua): 1. Jongbloed, 2. Rijsbergen, 3. Haan, 4. Neeskens, 5. Krol, 6. Suurbier
Hàng ngồi (từ trái qua): 1. Rep, 2. Cruyff, 3. Rensenbrink, 4. Jansen, 5. Van Hanegem

Đây là 1 trong những tấm hình trong cuốn tạp chí Bóng đá của Pháp (Futbol Mundial) phát hành ngay sau WC-74. Tôi rất thích những tấm hình in màu rất đẹp (nguyên khổ giấy) của các cầu thủ nổi bật nhất ở giải này. Riêng hình của đội tuyển HL được in 2 mặt (trang giữa) là hình lớn nhất. Tôi vẫn nhớ giá của nó là 50Ft với trang bìa là hình của "Gerd" Müller 2 tay giơ cao khẩu đại pháo (1 biểu tượng của Müller lúc đó). Tôi đã mua nó ở Quảng trường Tròn và cắt hình của các cầu thủ treo lên tường trong phòng của mình (ktx @ Pécs).

Với những cầu thủ tiêu biểu cho sức mạnh của bóng đá tổng lực, đội HL được giới hâm mộ kỳ vọng sẽ chứng tỏ được vị thế số 1 của mình trước những đại diện mạnh nhất của thế giới: là ứng cử viên lớn nhất cho ngôi vị vô địch tại sân đấu WC ở Tây Đức năm 1974.

Tuy vậy, tại WC-1974 HL ko thi đấu với đội hình mạnh nhất của mình. Hàng thủ của HL bị yếu đi do sự vắng mặt của Barry Hulshoff (libero của Ajax, bị chấn thương đầu gối). Một cầu thủ khác, tiền vệ Gerrie Muhren cũng ko thể thi đấu. Đây cũng là 1 mất mát của HL vì Muhren là cầu thủ quan trọng trong lối chơi tổng lực của Rinus Michels.
Thủ môn Jan van Beveren của PSV Eindhoven từng là sự lựa chọn số một trong suốt vòng loại WC nhưng cũng đã dính chấn thương nên Rinus Michels buộc phải chọn Jongbloed thay thế.
Michels đã tìm cách thay đổi hệ thống với hàng tấn công ba người. Cruyff đóng vai trò trung phong linh hoạt, Rob Rensenbrink của Anderlecht ở bên trái và ngôi sao 22 tuổi của Ajax, Johnny Rep ở bên phải.

''Đội tuyển Hà Lan giữa những năm 1970 là một trong những đội bóng đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá. Cuộc cách mạng của Bóng đá tổng lực, bộ đồ adidas màu cam mang tính biểu tượng cùng đội hình của những cầu thủ với đẳng cấp thế giới, tất cả kết hợp lại để biến họ trở thành một trong những đội bóng vĩ đại nhất từ trước đến nay của môn thể thao này."
Trích từ 'THE STORY OF THE NETHERLANDS AT THE 1974 WORLD CUP' (C.F. CLASSICS)

Thursday, July 6, 2023

Ký ức Trường tiếng @ Budaörsi út

 Csinos lányok NEI-ben, 

      Nekem emlékezetes benyomás volt NEI-ben, hogy nagyon csinosak voltak a lányok. 

      Legjobban szerettem egy boliviai-t, egy bolgar-t és egy mongol-t. Mindig kerestem õket a szünetben hogy bámulhattam õket csodálva. 

       A boliviai lány kicsi termetü volt, diszes ruhákban járt, táncolt és énekelt rengeteget (és jól is) egy dél amerikai diák csoportban. Öröm volt nézni (föleg a lányt) és hallgatni öket. A balatoni és egri kiránduláson folyton muzikáltak egy profi szinten. 

        A bolgár lány fekete szemü és hajú volt. Ugy nézett ki mint egy török eredetü. Nagyon szép és nagy szemei voltak.  Nagyon szerettem a szép szemeit. Sokat dohányzott és csendesen bámulta a felemelkedõ füstöt. Ugy viselkedett mintha nem törödött semmivel. De mindig ült a központban az éterem elött, így vonzhatott figyelmet mindenki-tõl. Nem csak én csodáltam õt, mert volt egy állandó társasság körülötte.

       A mongol lány egyszerüen és különösen bájos volt. Gyönyörü és sugárzó volt a mosolya. Nem unatkozhat senki a társaságában. Nagyon barátságos volt. Pinpongoztam vele néhányszor is.

       Legjobb barátnöm volt egy kubai lány. Azt hiszem Annamaria volt a neve. Õ is szép volt mint egy ókori görök sportoló szobora. Jó fizikumú és ízmos volt Szoktunk együtt futni esteként. Néha lusta voltam, a szobámba jött és kihivott. Emlékszem hogy néhányszor édességet is adott nekem. Jó szivű lány volt. Nagyon sajnáltam, hogy a második félévben nem futottam vele, mert feliratkoztam az algol nyelv tanfolyamra a városban. Õ is ment Debrecenbe tanulni Orvos Tudományi Egyetemen. Sokszor láttam õt szurkolni amikor fociztam. Hevesen kiabálta "Hajrá Viet, nagyon jól csináltál, te a legjobb vagy". Pedig nem fociztam olyan jól. 

      Nagyon jó lenne ha tudhatnék valamit a sorsaikról. Nagyon szép emlékek voltak.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, March 29, 2022

Hà Nội của tôi

 Thưa các bạn trang ảnh HN xưa. Tôi rât hạnh phúc khi được thưởng thức những bức ảnh của các bạn post lên. Tôi ko có điều kiện sưu tập ảnh như các bạn. Hôm nay tôi xin phép được chia sẻ với các bạn tình cảm của tôi, một người con của HN. Rất mong các ad thông cảm cho đăng để góp vui cùng các bạn với những kỷ niệm xưa về Hà Nội.

Tôi xin trân trọng cảm ơn.

HÀ NỘI TUỔI THƠ TÔI

Hà nội của tôi phố cũ vẫn gầy

Vẫn những hàng cây đợi ai trong nắng

Vang đâu đó

Tiếng rao quà ngõ vắng

Cho âm thanh ngày rơi …

Hà nội trong tôi

Ôm sắc trời thu xanh cao 

Nơi Tháp bút , đài nghiên chào đón

Mặt hồ 

Có bóng gươm thiêng chìm lắng 

Liễu rủ nỗi chờ 

Thê húc đợi trong thơ …

Tuổi học trò theo gió sông Hồng mơ 

Gửi cánh diều thả bao khát vọng

Hoài theo mãi một màu lam xa ngái

Để nặng lòng

Trăn trở nỗi phù sa …

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà nội . Hiện nay , cuộc sống của tôi lại gắn bó với thành phố Hồ Chí Minh . Cho dù cuộc sống giữa chốn phồn hoa này sôi động , đầy bộn bề nhưng thẳm sâu trong tôi vẫn lưu giữ một nguồn tình cảm thiêng liêng - nguồn hoài niệm da diết về Hà nội. Với tình cảm một người con của Hà nội thân thương đang ở xa Hà nội , qua trang viết này tôi xin được chia sẻ những kỷ niệm của tôi về Hà nội – nơi có khung trời ký ức riêng ,lưu giữ “ một thời thơ thiếu nhỏ “ của tôi với tất cả các bạn là người Hà nội và với tất cả các bạn ở khắp nơi có tình yêu hướng về Hà nội.

Hà nội ký ức tuổi thơ tôi là những ngày rong chơi cùng lũ trẻ trong Khối ( tương tự như Cụm bây giờ ) . Đó là những buổi trưa hè chốn ngủ rủ nhau đi theo lũ đàn anh câu cá cờ ( có nơi gọi là cá săn sắt ) , Đó là những hôm lang thang đi kiếm nút chai bia ( hình như bia Trúc Bạch thì phải ) và những nút chai xi – rô ở những cừa hàng bán nước giải khát về gõ phẳng ra làm “ xèng “ , cùng với đồng “ cái chì “ chơi đánh đáo mà chúng tôi thường gọi là “ chơi xèng “ . Tôi còn hình dung được mùi cháy khét của mặt đường nhựa giữa trưa hè chang chang đổ nắng . Lũ trẻ con chúng tôi mang những cọc “ xèng “ ra đường ray tàu điện rải lên chờ tàu điện chạy qua để bánh tàu nghiến thành những đồng “ xèng “ phẳng lì , trông rất đẹp . Tôi rất ham đánh “xèng “ và chơi cũng rất “ mả “ , thường thắng được nhiều “xèng “ và bán cho lũ bị thua cứ 5 xu là 30 đồng “xèng “ . 5 xu ngày ấy rất giá trị vì chỉ có 2 xu là mua được một phích nước đun sôi ở cửa hàng phục vụ thôi ! Rồi những cuộc chơi bi “ hầm “ . Bị hầm om lâu đến giờ ăn cơm mà vẫn chưa được tha cho về nhà . Cay cú lắm nhưng mà rất vui . Chúng tôi còn nhiều trò chơi với nhau vào thời đó như : “ Trồng nụ trồng hoa “ , “ Thả đỉa ba ba “ , “ Rồng rắn lên mây “ , “ Chi chi chành chành “ … với những bài đồng dao ngộ nghĩnh , chẳng biết có tự thuở nào . Ngày nay , chẳng hiểu sao lũ trẻ lại tự nhiên quên đi và hầu như không còn chơi nữa .

Tuổi thơ êm đềm của lứa tuổi chúng tôi cùng Hà nội chẳng kéo dài được lâu . Cuộc chiến leo thang phá hoại bằng không quân của Mỹ đã khiến những lũ trẻ chúng tôi phải rời xa Hà nội đi sơ tán . Những chiều buồn nơi thôn quê tôi nhớ nhà , nhớ Hà nội của tôi ghê lắm . Trong trại trẻ chúng tôi đã có đứa trốn trại bỏ về Hà nội bị các cô , chú tìm lại đánh phạt đòn đến tím mông trước toàn trại để làm gương và răn đe . Chúng tôi biết Hà nội là trung tâm oanh tạc của máy bay Mỹ . Lo cho gia đình và Hà nội , đêm đêm chỉ biết mang nỗi nhớ nhìn về phía có ánh đèn vàng – nơi đó là Hà nội của tôi .

Rồi Mỹ cũng chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc ( hình như cuối năm 1968 ) , chúng tôi trở về Hà nội . Hà nội tuổi thơ tôi thời gian này là những năm tháng của tuổi học trò với những bước chân tôi hàng ngày đi học dọc theo con phố Ngô Quyền , một con phố có nhiều cây me , cây sấu cổ thụ và nhiều khu nhà biệt thự có sân rải sỏi trong vườn với những ô cửa màu xanh lúc nào cũng đóng im ỉm như nuôi giấu những bí mật , để tuổi thơ tôi cứ phải thả trí tưởng tượng tò mò mà chẳng bao giờ được biết . Còn nhớ , có lần đi học về chúng tôi cùng nhau cởi dép cao su để ném me và một chiếc dép của tôi đã vụt qua bức tường bay vào … thăm khu nhà biệt thự . Thế là chiều hôm ấy , còn một mình tôi cứ phải ngồi chờ , chờ mãi đến xẩm tối mới có một chiếc ô tô con vào biệt thự . Thu hết can đảm cho đỡ run , tôi mới dám gọi bà lão vừa ra mở cổng cho tôi vào lấy chiếc dép . Bà lão nhìn tôi như móc thịt , rồi cũng lấy cho tôi chiếc dép và không quên tặng tôi mấy cái cốc đầu đau điếng , kèm theo lời đe doạ lần sau sẽ tịch thu chứ không cho vào lấy lại . 

Phố Ngô Quyền còn là nơi toạ lạc của toà nhà Bắc Bộ Phủ ( nay là Nhà Khách Chính Phủ ) , phía đối diện với vườn hoa Con Cóc . Tôi còn nhớ ở hàng rào sắt bên ngoài nơi gần cổng chính toà nhà này có rất nhiều vết đạn. Còn có cả một viên đạn đồng vẫn găm vào một thanh sắt . Những lần đi học qua , tôi vẫn thích … sờ vào viên đạn ấy .

Có lẽ , sẽ có nhiều người Hà nội như tôi vẫn còn nuối tiếc về khu nhà Bách Hoá Tổng Hợp Hà nội . Cứ mỗi lần có dịp đi qua phố Hàng Bài , Tràng Tiền là tôi lại ngậm ngùi nhớ về khu nhà Bách hoá to nhất của Hà nội thời “ Bao cấp “ ấy . Tôi nhớ , có lần vào những ngày giáp tết , lũ trẻ học sinh chúng tôi rủ nhau vào chơi trong Tổng Hợp để … đốt pháo .Chúng tôi chia nhau mỗi đứa mấy quả pháo tép ( loại pháo thân bé như quê hương nhưng nổ rất đanh ) rồi tản ra thi nhau đốt và chạy thục mạng vì có đứa hô : “ Bảo vệ đuổi “ . Đến giờ , tôi cũng vẫn còn nhớ tiếng pháo đốt ngày ấy , tuy là pháo tép nhưng nổ trong nhà Tổng Hợp nó khác – to và đanh hơn rất nhiều. 

Tổng hợp ngày ấy nhộn nhịp lắm. Khách hàng là những anh bộ đội vai còn đeo ba lô , là các bác các anh chị công nhân trong bộ bảo hộ lao động , là những người dân Hà nội và những người dân tỉnh lẻ đi mua sắm và tranh thủ … ngắm hàng . Từ tầng 1 lên tầng 2 , nơi nào có những mặt hàng hiếm đang bán là có cảnh chen chúc , rồng rắn xếp hàng để mua . Đã nhiều lần tôi được mẹ và chị gái cho cùng đi mua sắm ở Tổng Hợp. Tôi được thoả sức ngắm nghía cơ man nào là hàng hoá đủ các loại . Được ngắm các cô nhân viên bán hàng .Cô nào cũng ăn mặc đẹp , da mặt và tay cứ … trắng muốt !

Nhiều người , kể cả những người ở Hà nội vẫn quen gọi những phố trong khu phố cổ là phố Tàu . Thực ra , người Tàu ở đây không nhiều . Đa phần ở những phố này là những người tỉnh lẻ mang nghề thủ công truyền thống quê nhà lên Hà nội định cư sinh sống lâu đời , tập chung theo từng dòng họ . Câu “ Hà nội 36 phố phường “ chỉ cho ta thấy sự quần tụ của nhiều đại diện làng nghề thủ công xưa tập trung nơi đất Kinh kỳ đô hội này . Những cửa hàng buôn bán ở khu phố cổ rất thấp , thường không cao quá hai tầng . Tôi còn nhớ thời “ Bao cấp “ , cứ vào khoảng 9 đến 10 giờ tối là hầu như các nhà hàng phố đã đóng kín hết cửa rồi . Điểm đặc trưng của những khoang cửa ở khu phố cổ là cửa được ghép bằng những tấm gỗ đánh số , có hèm âm dương . Tôi vẫn nhớ hình ảnh những bà cụ ngồi bán hàng , đầu vấn khăn nhung the , tay nghiền cối trầu , mắt rất lanh lợi đon đả chào mời khách hàng . Những năm tháng đổi mới sau này , hầu như những tấm cửa gỗ hèm âm dương này đã được thay thế bằng những cánh cửa sắt kéo , cửa cuốn cho tiện dụng . Nhưng với tôi , những cánh cửa sắt kia đã xoá đi một hình ảnh đặc trưng rất rõ nét cho bộ mặt của một cửa hàng khu phố cổ - những tấm cửa gỗ hèm âm dương !

Chúng tôi lớn lên trưởng thành cùng Hà nội khi chế độ bao cấp làm chủ đạo trong nền kinh tế đất nước . Tuổi trẻ của chúng tôi ôm nhiều hoài bão cho lý tường vào đời . Trong những năm tháng tôi đi học xa Hà nội , lần nào trở về tôi cũng mang trong mình nỗi khát khao sớm được nhìn thấy phố . Từ xa , khi nhìn thấy cầu Long Biên là tôi đã thấy tim mình đập rộn rồi ; lên đến trên cầu lại nhìn về Hà nội tiếp , cứ hướng theo nóc toà nhà Bác Cổ và sau này là hộp đèn đồng hồ Bưu điện Bờ hồ là thấy mình đang càng về rất gần Hà nội . 

Rồi những “ trai thanh , gái lịch “ Hà nội chúng tôi đã biết yêu Hà nội không chỉ là những con phố nhỏ lưu dấu những kỷ niệm tuổi thơ . Chúng tôi yêu Hà nội theo những vòng xe đèo nhau lên Hồ tây ăn bánh tôm , ăn ốc nóng . Hồ tây rất rộng và chúng tôi “ khai thác “được nhiều chỗ để bơi lội , trò chuyện . Những đêm trăng thanh gió mát , dạo xe trên đường Cổ Ngư , ngồi trên bãi cỏ ngắm các đôi tình nhân , ngắm mặt hồ ảo huyền trong đêm rất thú vị .Cũng từ khi tôi biết đến những vùng ngoại ô , tôi mới cảm nhận Hà nội của mình thật đẹp .

Còn rất nhiều những kỷ niệm về Hồ tây trong tôi . Đặc biệt nhất là những dấu ấn của tình cảm lứa đôi mà cứ mỗi độ thu về , trong tôi lại không khỏi bâng khuâng , man mác khi nhớ về Hà nội .Tôi có ghi lại những cảm xúc đó trong ca khúc THU VÀNG - ca khúc tôi sáng tác khi còn ở Hà nội , và tôi cũng đã post lên blog này để chia sẻ cùng các bạn .

Nhớ về Hà nội không thể tôi không nhớ đến Sông Hồng , con sông gắn bó với ký ức tuổi thơ của tôi rất nhiều. Tôi có những buổi chiều được bố dắt ra hóng mát dưới triền sông , theo những bãi ngô , dẫm lên những con sóng nhẹ gợn cát phù sa mát lịm dưới chân .Tôi có những chiều mê mải theo lũ trẻ bãi sông đi chao tôm bằng những cái rá trên những bè nứa chạy dài , làm bố mẹ tôi phải phiền lòng lo lắng . Tôi cũng có những chiều tắm trên những mảng bè nứa , ngắm ánh hoàng hôn trải trên sóng sông Hồng soi bóng cầu Long Biên vắt qua lung linh lộng gió . Những khoảnh khắc ấy vẫn mãi in đậm trong tôi về một Hà nội của tôi - thanh bình lắm ! êm đềm lắm ! …

Hà nội đã không còn Bách Hoá Tổng Hợp . Cả cái nhà 12 Bờ Hồ chuyên bán đồ chơi cho thiếu nhi cũng không còn nữa . Dạo quanh Bờ Hồ tìm về ký ức những năm tháng tuổi thơ , lần nào tôi cũng không khỏi thấy lòng mình nao nao mất mát . Đâu rồi tiếng leng keng của tàu điện vào , rời bến . Đâu rồi tiếng khua kéo vui tai của ông lão bán nộm “ thịt bò khô “ khu vực nơi Tháp Bút . Đâu rồi những ông già Tàu thắt Tạp - dề bên những khay gỗ luôn lau sạch bóng , trên có tảng bánh “ Chín tầng mây “ với những xắt bánh hình thoi quyến rũ đủ sắc màu , mềm mại bên tháp Hoà Phong ( một bến tàu điện lẻ bên bờ hồ phía đối diện nhà Bưu điện thành phố bây giờ ) và những ông bán “ Táo dầm “ với những cóng táo ngâm nước đường đặc sánh cùng những xiên táo vàng bóng nhẫy như phủ mật ngọt lịm bên hồ … Rồi bà bán Thạch đá ở vườn hoa Chí Linh chỉ xuất hiện trong những đêm hè và dường như cũng chỉ để phục vụ cho những đôi nam thanh , nữ tú đi chơi về khuya tạt vào giải khát . Đâu rồi , bóng chú lùn quày quả bên xe kem Hàng Vôi dưới gốc me ngày ấy …

PHỐ

Một sáng về ngỡ lạ hình bóng phố

Không … phố vẫn ồn ào , vẫn đáng yêu sao

Phố - ánh hào hoa , phố - bước lạ quen

Vẫn thấy phố ấm lên từng góc phố …

Lũ trẻ tung tăng phố nắng cười

Chẳng gió đùa nhưng mắt phố vui

Ông vá xe ngồi đâu - gốc bàng côi

Dăm gánh rau tươi xanh ngời cổng chợ

Em chẳng thấy quán trà giờ cửa hé

Sáng ánh duyên nhà bóng mẹ thoáng qua

Cây Bằng lăng chùm quả gọi về thơ

Hạ tím nhớ một mùa ai thả nhớ …

Phố vẫn đong đưa gánh quà nẻo phố

Thả trôi rơi hương phố mỗi mùa qua

Chật chội quá – mà lòng ta giữ phố

Bước hàng rong - phố gánh những kiếp đời …

Phố thương ơi lối cũ tuổi thơ rời

Còn đứng đó hàng cây thầm nhắc nhớ

Vẫn đợi em mơ một lần về phố

Đọng nỗi chờ tình bên phố trong thơ …

Các bạn ơi ! Vẫn biết chẳng có gì là tồn tại mãi với thời gian . Kỷ niệm của tuổi thơ giờ chỉ còn trong ký ức . Nhưng , những gì thuộc về Hà nội xưa đã gắn bó với tuổi thơ tôi , khi lớn lên phải đi xa Hà nội tôi mới thực sự thấy nhớ , thấy cuộn dâng trong tôi một tình yêu mang một nỗi niềm riêng khao khát : Mơ … một ngày tôi được trở về ...

Lamca Pham

Monday, January 10, 2022

NEI & Tôi

Thời gian đã xóa dần rất nhiều kỷ niệm của ngày xưa, kể cả những điều tưởng chừng ko thể quên được. Với trí nhớ đã lu mờ và đóng đầy bụi thời gian, tôi cố gắng nhớ lại và suy nghĩ về những gì mình đã làm, đã có và đã mất... về 1 giai đoạn mà như 1 người anh học Vật lý lý thuyết ở Debrecen gọi là thời kỳ 'học sinh cấp 4'.

-------------

Hồi ấy chúng tôi bắt đầu học năm đầu tiên ở Nemzetközi Előkészítő Intézet (NEI). Nước Hung là điều vô cùng mới lạ. Tôi vẫn nhớ cảnh tượng mà tôi nhìn thấy vào đêm đầu tiên ở ký túc xá trên đường Budaörsi. Khi kéo rèm che cửa sổ phòng của tôi để nhìn ra ngoài, Budapest hiện ra trước mắt tôi thật ấn tượng với vẻ đẹp từ những ánh đèn làm tôi ngây người sửng sốt vì chưa bao giờ được thấy một thành phố rực rỡ đến thế.

Lúc ấy, cả lũ chúng tôi ngờ nghệch lắm, nhìn anh Quang Việt  (con trai của tướng Đồng Sĩ Nguyên) và các bạn của anh ấy (Hòa "kều", Thành "nhái" …) tôi nghĩ: “họ đã biến chất mất rồi, ăn mặc và tư cách… lố lăng quá, không thể chấp nhận được”. Tôi không thể ngờ rằng không lâu sau mấy anh ấy đều trở nên thân quen với tôi. Tôi hay la cà ở phòng anh Việt (đối diện với phòng của Phan Nguyễn Khánh & Trung) dù trong bụng chê cái phòng bề bộn và dơ dáy quá, bù lại tôi biết được nhiều thứ mà đứa nào mới đến Hungary cũng muốn biết từ những câu chuyện tào lao bên cây ghi ta mà Thành nhái đánh rất hăng hái những lúc cao hứng hoặc những lúc cả đám xúm nhau ăn uống khi rủng rỉnh tiền cũng như lúc cạn kiệt phải chui gầm giường moi lại những mẩu thuốc thừa để hút… Trong những chuyện về Hungary mà tôi biết được ở NEI có nhiều chuyện là từ nhóm của anh Việt, kể cả chuyện gái gú. Có điều, những chuyện thuộc loại tán gái ấy phần lớn nghe giống truyện cười nhiều hơn là chuyện tình… Dần dần, tôi nhìn nhóm anh Quang Việt với con mắt dễ chịu hơn, tôi tự thấy mình đang biến đổi và sẽ phải đối diện với chính mình trước đây để loại bỏ cái gì và tiếp nhận cái gì vì không muốn là một người tẻ nhạt và quá khuôn khổ.

Trường Ngoại ngữ (NEI) là nơi tôi bắt đầu cuộc sống của mình ở Hungary. Tôi rất yêu thích ngôi trường này, từ kiến trúc hiện đại của tòa nhà cho đến các thầy cô giáo và cuộc sống ở đó. Đây là lần đầu tiên tôi được học trong một lớp học chỉ có hơn mười trò nên tiếp thu rất tốt những gì được học. Những người Hung đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là các giáo viên với phong cách sống rất thoải mái và phóng khoáng: bao giờ cũng rõ ràng trong mọi vấn đề, không "ấm ớ hội tề" như người Việt. Họ cũng là những người châu Âu đầu tiên mà tôi có dịp được gần gũi và học hỏi. Tôi cũng rất thích và hãnh diện với các bạn khác vì cô Mária, giáo viên chủ nhiệm dạy tiếng Hung của chúng tôi, là 1 phụ nữ trẻ đẹp và lôi cuốn nhất trường.Tôi còn may mắn hơn khi được sống trong tòa nhà chính của trường, số 73-75 Budaörsi út, vì nó được thiết kế rất tiện lợi cho học sinh. Chúng tôi được ăn ở và học ngay trong tòa nhà này trong khi rất nhiều bạn phải ở chỗ khác và đến đây học. Tôi còn nhớ phòng của tôi số 517 (nằm ở lầu 5), phía trên các lớp học (bố trí ở lầu 1 và tầng Trệt). Phòng được thiết kế cho 2 học sinh, có tủ áo, bàn học, lavabo rửa mặt và giường đệm tươm tất. Toilet và chỗ tắm giặt ở 2 đầu hành lang. Mùa đông có hệ thống sưởi bằng hơi nước. Nhà ăn được bố trí ở tầng dưới cùng, nếu muốn tập tành thì xuống phòng gym (tornaterem). Tuy lúc đó chưa biết bóng bánh là gì nhưng mấy cái sân bóng thật cuốn hút, có điều, lúc đó tôi không biết rằng: chúng sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi sau này.

Các trò lớp M12 (Mérnök szakirány, NEI, 1972) và cô giáo Tallér Mária (Ảnh: Bá Bình, người đứng đầu tiên từ trái sang)

     Khi so sánh giữa trường học ở Hungary và trường học VN, cũng phải nói đến một chi tiết nhỏ là cuốn Leckekönyv ở NEI. Nó làm tôi phải so sánh với cuốn Học bạ của Việt Nam. Giữa 2 nền giáo dục là 1 khoảng cách rất xa trong việc theo dõi học sinh bằng hồ sơ lưu trữ. Tôi không thắc mắc về cuốn Học bạ của Hungary nhìn rất giá trị với bìa cứng bọc vải vì họ có điều kiện hơn ta về mặt vật chất, nhưng tôi suy nghĩ về kích thước và nội dung nhiều hơn. Với kích thước chỉ 11cm x 19cm, bên trong cô đọng những dữ liệu về học sinh và quá trình học tập với điểm số và nhận xét (rất ngắn) của giáo viên và những con tem... Học bạ của Hungary khác xa với cuốn học bạ rườm rà, khổ lớn chiếm nhiều không gian lưu trữ của Việt Nam; muốn theo dõi đầy đủ phải đọc mất nhiều thời gian và còn mất thời gian nhiều hơn để ghi chép tất cả những nội dung đó.

Tôi vẫn còn giữ được Thời khóa biểu của năm học đầu tiên @ NEI. Đây là cái Thời khóa biểu tôi tự làm, trên đó có thể nhận ra các môn học được ghi bằng chữ viết tắt, con số là số phòng học của từng môn:

Cuối năm, nhà trường cho chúng tôi đi tham quan/tìm hiểu về đất nước Hungary. Đó là những cảnh tượng khó quên với chúng tôi. Rời NEI, chúng tôi ko thể quên các thầy cô giáo đầu tiên của mình ở đây. Những bước đi đầu tiên của chúng tôi trên đất Hungary là từ đây. Chúng tôi rất biết ơn những người đã tạo cho chúng tôi có cơ hội để hoàn thành được giấc mơ của chúng tôi và biến nó thành hiện thực trên đất nước tươi đẹp này.

Qua những thành phố, những miền quê khác nhau của Hungary, chúng tôi được biết một nước Hungary muôn màu, muôn vẻ. Những chuyến đi ôtô đường trường, những buổi lao động vất vả nhưng vui vẻ giúp chúng tôi hiểu thêm được vị trí của mình trong xã hội, về khả năng của chúng tôi trong những việc có thể làm được đồng thời thêm tự tin vào khả năng đóng góp trong việc thay đổi quê hương của mình sau này, dù chỉ là một phần rất nhỏ.

Cho đến bây giờ, các bạn của tôi vẫn cho rằng: những kiến thức cơ bản mà chúng tôi nhận được trên đất Hungary là những điều quý báu vô giá để vận dụng trong công việc và cuộc sống. Thời gian sống và học tập ở Hungary đã giúp chúng tôi mở nhiều cánh cửa và nhiều cơ hội hơn, nhiều người trong chúng tôi đã thành công. Bây giờ, khi nhìn lại, Hungary là nơi ko thể quên trong cuộc du hành vạn dặm của cuộc đời. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là “make the best of what you have” - luôn luôn cố gắng vươn tới dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và thay đổi môi trường xung quanh chứ đừng chỉ để hoàn cảnh của mình quyết định số phận của bản thân.

Đó là tinh thần mà tôi đã được tiếp nhận từ những thầy cô giáo Hungary, những người đã có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với chúng tôi về nhận thức và quan điểm từ học tập và cuộc sống.

Nhưng xen vào đó, cho đến bây giờ, tôi vẫn không quên được hình ảnh lẻ loi của một anh chàng Việt Nam trong lần đi tham quan Hungary vào cuối năm học ở NEI (Khánh, Bình "to", Trung và tôi đi với nhau trong đoàn thăm vùng Đông Bắc - Miskolc - Eger). Anh này vì muốn "phô diễn" bản thân và văn hóa Việt Nam bằng bài "Lý Hoài Nam" nên lúc nào cũng ôm ấp cái máy hát bên mình và khúc sáo trúc này suốt cả chặng đường dài. Anh nghe mà không thấy nhàm (hoặc dù nhàm nhưng vẫn cố gắng "thể hiện" cho bà con thấy cái tình yêu âm nhạc của mình) đến nỗi cứ nhìn thấy anh với cái dáng ôm ấp cái máy hát và lắng nghe "vô cùng tha thiết" một cách quá đáng bản nhạc "tội nghiệp" bị đem ra làm trò diễn thì tôi lại ngao ngán vô cùng. Cô Mária, giáo viên chủ nhiệm của tôi còn phải chịu đựng khổ sở hơn nhưng vì lịch sự nên cũng kiên nhẫn tôn trọng hiện tượng "nổi trội" vô cùng này cùng với những người khác để không lộ vẻ khó chịu ra mặt. Nếu không có chuyện này thì chuyến đi của chúng tôi toàn những kỷ niệm đẹp về những gì chúng tôi được thấy và cảm nhận. Đó là một chiều hoàng hôn tuyệt vời trên thành Eger, những đỉnh núi và những hang ngầm tuyệt đẹp... những bữa ăn tối thịnh soạn và những giấc ngủ tuyệt vời ở những khách sạn sạch sẽ tinh tươm sau những ngày chất đầy những điều thú vị...

Và một ngày đáng nhớ khác khi chính tôi là kẻ lẻ loi/lạc lõng. Đó là ngày hội quốc tế dành cho học sinh ở NEI với buổi tối diễn ra rất vui vẻ và tưng bừng. Sau những lời phát biểu và chương trình văn nghệ với nhiều tiết mục do học sinh của các nước tham gia (hình như Đỗ Bá Khang hát bài "Nhạc rừng") là chương trình tánczene do một ban nhạc được nhà trường mời đến biểu diễn. Hội trường được thiết kế với một phần sàn bằng phẳng phía trước sân khấu lập tức được dọn hết các hàng ghế ngồi để trở thành một sàn nhảy. Tây trắng, Tây đen, trai gái Nam Mỹ đều có đôi có cặp, chỉ mình tôi lẻ loi giữa đêm hội giương mắt dỏng tai nghe nhìn (tôi không biết đêm ấy có ai là Việt Nam tham dự cho đến cuối chương trình không?). Đó là lần đầu tiên tôi được nghe trực tiếp bài "Beautiful Sunday" do một ban nhạc trình diễn. Tuy không uống rượu nhưng tôi cảm thấy rất phấn khích cho tới bài hát điệu nhảy cuối cùng, nhưng cũng chỉ đứng một chỗ để enjoy chứ không hề nhúc nhích nhún nhảy theo nhạc một chút nào. Bây giờ thì tôi chỉ ước là đêm ấy ở bên mình là em Bình Dương (tạm "tuyển"/mượn từ những gì Ái Việt mô tả ở bài Tàu liên vận 1) cũng "máu me" như tôi thì tôi đã không trơ trọi vô duyên như thế (nhưng đấy cũng là chuyện bây giờ mới nói, chứ lúc đấy thì chắc là chưa đủ "tư cách" để bước ra sàn nhảy đâu). Về chuyện "nhảy nhót", nhân đây cũng xin hỏi học giả giáo sư kiêm Hoàng tử Bé Ái Việt (và cả các bạn khác nữa) rằng: nếu đã từng bôn ba nhiều năm nơi đất lạ xứ người thì tới nay trình độ của bạn trên sàn nhảy có tiến triển vượt bậc so với hồi trại hè Baja không? có tương xứng với hiểu biết về ẩm thực, về các loại tiêu khiển theo kiểu Tây phương của bạn không? Nếu bây giờ bạn đã là chuyên gia nhảy múa thì mình muốn được làm học trò "nhỏ" của bạn, vì thú thực một điều là: cho tới nay, ngoài khả năng "tự biên tự diễn" khua khoắng loạn xạ thì khiếm khuyết đáng trách của 1 thằng mê chuộng Tây phương như mình là không biết nhảy cho đúng điệu một kiểu thức nào, từ nhạc van/waltz cho đến tango, cha cha cha...mình đều mù tịt nên rất cần được chỉ giáo. Thật là một thiếu sót quá lớn! Tại sao mình lại không biết nhảy nhỉ?

Một trong những chuyển biến lớn của tôi về nhận thức cũng phải kể đến vấn đề biểu hiện nam tính. Xã hội Hungary cho tôi thấy sự phân biệt rất rõ: nam giới và nữ giới biểu lộ rất rõ sự khác biệt về đặc tính của giới. Nam giới phải mạnh mẽ và dứt khoát chứ ko nhì nhằng, ẻo là (bánh bèo). Bây giờ nếu xem lại ảnh chụp sinh viên thời đó sẽ thấy rõ tình trạng này của nhiều LHS nam.

Như đã nêu ở trên: Cho đến năm 1972, với tôi, con gái Hung cũng như người châu Âu rất xa lạ và đầy bí ẩn. Các thầy cô giáo Hung đã giúp tôi có được cái nhìn rõ ràng và hiểu về họ nhiều hơn. Đặc biệt là thầy Jurányi István. Thầy từng là giám đốc KTX Nándor, sau này là thầy giáo chủ nhiệm lớp của Nguyễn Ngô Việt (1973-74). Theo Ái Việt kể: Về khoản sinh đẻ có kế hoạch thì cụ có 2 truyền nhân đều tên là Việt, thỉnh thoảng cụ đưa về nhà cho ăn rồi dạy cách tán gái Hung và cách phòng tránh thai. Tôi cũng có diễm phúc được cụ đưa về nhà, dạy dỗ như con tất tần tật, kể cả những cái mà Ái Việt nói.

Tôi cũng ko đến nỗi vô duyên lắm. Bằng chứng là cô bán đồ ăn ở kantin (trước nhà ăn của NEI) luôn tươi cười với tôi, có khi còn nháy mắt nói: "Lányok nagyon szeretnek, ugye?" làm tôi ngớ người chẳng biết phải đối đáp thế nào. Rồi những lần đi Építőtábor mùa hè nhiều kỷ niệm khó quên với các cô bạn Hung, và những cơ hội khác... Nhưng cho đến khi về nước, tôi vẫn là thằng nhóc tóc dài và nhát gái. Ko biết thực hành các giáo huấn của cụ Jurányi István, và những điều quý báu này vẫn chỉ là lý thuyết mà tôi ko thể vận dụng và biến chúng trở thành hiện thực như các bạn của mình.

Bây giờ, tất cả chỉ đọng lại trong ký ức vỏn vẹn những gì còn lại, có lẽ ko bao giờ phai nhạt. Những cái mà chúng tôi từng bị cấm đoán thì nay đã mở ra và thanh niên học sinh được khuyến khích nhập cuộc (hội nhập) vào cuộc sống nơi mình đến, hòa nhập vào nó.

Nhiều người nhìn nhận rằng: cộng sản bây giờ cũng ko còn hẹp hòi và khắt khe như trước. Tuy nhiên, về bản chất phản động đang bộc lộ thì tôi lại thấy có sự nguy hiểm lớn hơn. Ko bao giờ tôi gọi tầng lớp mới nổi đua chen làm giàu và ngạo mạn này là 'quý tộc đỏ' bởi trong tầng lớp này ko có bản chất quý tộc.

Sunday, October 17, 2021

Trở về ký ức với cảnh hồ từng gắn với nhiều kỷ niệm thời sv

 Feneketlen tó - Hồ Không Đáy- những kỷ niệm Năm đầu học tiếng ở NEI-Zsomboly- Nándorfehérvári út... rồi BME và sau này.

Hồ... không đáy, ko phải vì không có đáy! Hồ sâu chỉ 4-5 m, nhưng tù xưa đã nhiều chuyện lạ đồn thổi...sâu tới 3-40 m, cả bài báo "về nhiều xe tăng chìm nghỉm" ở đây! 

Xưa là một nhà máy gạch, vét đất đủ xây xong Nhà Thờ...thì nước ngầm tràn lên.. thành hồ ko đáy!

Từ Kör Tér tản bộ đến đây thư dãn, ngẩn ngơ, từ đây dạo tiếp đến Hanoi Park  ngắm tượng Bác Hồ từ sau Quốc khánh 1970..

Tất cả...thành dĩ vãng...Nắng cuối Thu vẫn ươm vàng ..như Xưa!

Anh Khuê (Gépész.BME)

Saturday, September 4, 2021

Mãn hạn tù đày

 C H U YỆ N  N H À  12 _  N G À Y  V Ề

1

Tôi yêu lắm bài “Ngày Về” của Hoàng Giác. 

Thế mà ở cùng một thành phố mà tôi lại không được gặp ông lấy một lần, để được bắt tay ông một cái, để được nhìn vào mắt ông mà nói một lời câm rằng tôi yêu lắm lắm bài hát ấy. 

Người với người gặp nhau là ở cái duyên. Tôi không được gặp Hoàng Giác là do không có duyên, tệ thế. 

“Ngày Về” được người nghe đón nhận ngay lập tức khi nó ra đời, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Các đoàn Tuyên truyền Xung phong khi lang thang ở ”hậu phương”, tức vùng không bị Pháp chiếm đóng, bao giờ cũng dùng nó làm “bài tủ” để diễn đạt nỗi lòng người chiến sĩ xa nhà. 

Ấy là vào giai đoạn biên giới với Trung Quốc chưa thông thương, các bậc đạo cao đức trọng lãnh đạo cuộc kháng chiến chưa kịp húp cả cặn món tạp pí lù mao-ít để cấm những bài hát như thế, dè bỉu gọi chúng là nhạc vàng. Vàng ở đây dính với cờ hiệu có bệnh tả trên những con tàu đại dương chứ không phải cái kim loại quý chính các vị cũng yêu mến. 

Trong những năm xa xưa tôi mới chỉ thích nó. Chứ để yêu nó, để thấy nó là bài hát nói thay lòng mình, là tâm sự của mình, thì phải đến khi chính mình bị rơi vào hoàn cảnh không thể biết khi nào mới được trở về với mái ấm gia đình. 

Những người từng ở tù nhiều năm như tôi đều mơ có một ngày được “Tung cánh chim tìm về tổ ấm”. 

Trong tù, nhiều hơn bất cứ bài hát nào khác, Ngày Về được người tù hát ở mọi lúc mọi nơi. Nó vẳng tới tai tôi trong phòng thẩm vấn, nó vang lên giữa chiều nắng quái đầm đìa mồ hôi hay trong cái lạnh căm căm của ngày lao động khổ sai, trong xà lim biệt giam - chân trong cùm, tay trong xích. Lần nào cũng như lần nào, bài hát làm tôi xúc động. So với các danh ca chuyên nghiệp, những ca sĩ tù đủ mọi giọng, từ nam trầm tới nam cao, hay là giọng vịt đực, giọng ống bơ rỉ, tất thảy đều giàu nhạc cảm khi họ cất tiếng hát tác phẩm để đời của Hoàng Giác.

Liên quan tới cái ước mơ ấy, tôi phải nhắc tới một đạo luật do Ban Thường vụ Quốc Hội ban hành, do chính ông vua mất ngai Trường Chinh ký, là luật “tập trung cải tạo”.  Tân vương Lê Duẩn tỏ ra không hẹp hòi với kẻ ngã ngựa. 

Luật này được ban hành năm 1961 dưới hình thức nghị quyết của Quốc Hội chứ không phải sắc lệnh do chủ tịch nước ký, như thường lệ. Theo cái nghị quyết này Bộ Công an (hay Bộ Nội vụ, một tên gọi khác của nó) được trao toàn quyền thi hành: bất cứ công dân nào mà nó coi là “có hại cho an ninh xã hội” là a lê hấp tống vào tù. Người tù loại này ở trong các “trại cải tạo” ít nhất ba năm, gọi là một lệnh. Hết ba năm mà chưa “cải tạo tốt” thì ở thêm một lệnh ba năm nữa, cứ thế kéo dài. Không mấy người được trở về sau một lệnh. Người ở ba bốn lệnh là bình thường, ở năm sáu bảy lệnh cũng không phải chuyện lạ. Người tù có án biết ngày nào họ sẽ ra tù. Người tù “tập trung cải tạo” chỉ có thể mơ về cái ngày ấy. Xem ra cái nghị quyết này không chỉ có ích ở miền Bắc. Sau cuộc xâm chiếm miền Nam thành công, Tân vương Lê Duẩn kế nghiệp cựu vương Trường Chinh khoái cái luật bất nhân ấy lắm. Bèn dùng nó ngay lập tức cho những người bại trận. Thế là những người tù “tập trung cải tạo” vì bị coi là dân bất xứng được ở chung với những chiến binh đã buông súng.

Nhưng không phải mọi người tù đều có tâm trạng mong ngày trở về. 

Có những người không mong, hay nói cho đúng, không thèm quan tâm cái sự ở tù sẽ được trở về một ngày nào đó. 

Tôi không thích chính trị. Cái tạng tôi vốn thế. Nhưng không thể không đụng tới nó khi nói về ước mơ của những người tù không có án. 

Ngày về của tôi đến đột ngột.

Một buổi sáng như mọi buổi sáng, tù tập họp ở sân trại để đi lao động thì bất ngờ được nghỉ làm để nghe lệnh tha. 

Mặt những người tù “tập trung cải tạo” lâu năm sáng bừng, tiếng rì rầm lan khắp sân trại. 

Mấy cái bàn được bày ra từ sáng sớm, trên đó là những tập hồ sơ dày cộm. Cán bộ trại mặt mũi nghiêm trang, lăng xăng đi lại. 

Những người tù chưa lâu, mới ở có một lệnh hoặc hai lệnh, thì ngán ngẩm ngồi thừ - còn lâu mới tới lượt họ. 

Người của ban giám thị trại lần lượt đọc tên từng phạm nhân được tha gồm các mục: tên, tuổi, nguyên quán, trú quán, can tội, án phạt (nếu có án), số tù vv… Gọi đến tên ai thì người đó dạ to một tiếng, đứng vụt lên, bỏ cái nón mê rách xuống, cắp nó trước bụng, mắt tràn trề hy vọng ngước nhìn các thiên thần màu hoàng thổ, chờ đợi các vị thay mặt thượng đế chính quyền tuyên đọc ân sủng. 

Tôi đứng đấy, vì phải đứng đấy, nhưng hoàn toàn dửng dưng. 

Cảnh này chẳng phải chuyện đặc biệt. Có năm tha ít thì người ta không bày vẽ rình rang, cho “trật tự trại”gọi tù nhân lên văn phòng nhận lệnh giấy tha rồi cho cút. 

Tôi dửng dưng vì tôi thuộc thứ tù không giống ai. Không phải mình tôi biết điều này. Những bạn tù của tôi cũng biết. Mọi người đều có số tù, tôi thì không. Khi một đội trưởng ở trại Tân Lập lải nhải đòi tôi phải nói cho anh ta biết số tù để ghi vào sổ đội thì tôi phát bực, mới phát ra một con số chợt đến trong đầu: 111. Số tù ngẫu hứng ấy rồi được cả các “quản giáo”, tên chữ của chức cai tù, mặc nhiên thừa nhận.

Từ lúc tôi bị bắt vào Hoả Lò rồi chuyển qua mấy trại cho tới khi lên trại Phong Quang, tôi đã được nghe đủ thứ lời giải thích cái sự tù của tôi. Khi thì người ta bảo tôi được đặt trong chế độ tạm giữ thuộc một vụ án “xử lý nội bộ”, tôi khai báo xong thì cho về. Khi thì họ doạ tôi sẽ chuyển tôi sang dạng tập trung cải tạo nếu tôi không ngoan ngoãn khai báo. Khai báo ở đây là tố cáo những người có ý nghĩ không chịu giống đường lối của đảng. 

Đó là cách đảng cộng sản xử lý những người bị bỏ tù trong cái vụ án có tên dài thòng là: “Vụ án tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”. Thế tất tôi chỉ là tù của đảng cộng sản, không xứng với bất cứ tội danh nào của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Nói tóm lại, dạng gì thì dạng, tôi đã ở tù tới năm thứ chín. 

Buổi đọc lệnh tha kết thúc. 

Các cán bộ sắp xếp giấy tờ đứng lên. Sân trại như bị một cơn lũ quét, phút chốc vắng tanh. Tôi đang trên đường trở về phòng giam thì bỗng nghe người ta xướng tên tôi.

Tôi dừng bước, nghĩ mình nghe nhầm. Nhưng không phải. Tên tôi được xướng lên một lần nữa, rõ hơn.

Viên phó giám thị, một anh chàng xương xẩu, mặt quắt xám xịt, quần áo lúc nào cũng bảnh choẹ, ra dáng người đại diện của nhà nước hơn bất kỳ “quản giáo” nào khác, đưa tay vẫy tôi:

- Phải, là anh!

Tôi đứng sững, nhìn y. 

Khác các lệnh tha được đọc trước đó, sau phần tên, tuổi, nguyên quán, trú quán… mà y đọc bằng giọng trịnh trọng tôi không thấy có mục can tội, án phạt, không có cả số tù.

Tôi kể dài dòng văn tự ngày tôi được ra tù để những người quan tâm đến những chi tiết biết nó diễn ra như thế nào. Cũng là tiện dịp cung cấp cho tên lãnh tụ lưu manh của một tổ chức nguỵ dân chủ ở Paris, kẻ không mệt mỏi tố cáo tôi là tình báo cộng sản, có thêm mắm muối cho vào vở khổ nhục kế, trong đó tôi là nhân vật chính. 

Tôi rời trại Phong Quang ngày 7 tháng Chín năm 1976, sau 9 năm bị giam cầm. 

Cuộc giã biệt đời tù của tôi, trái với hình dung thông thường, diễn ra không êm ả. 

Chuyện là thế này. 

Theo lệ, người tù ra trại (tức là được tha, mãn hạn hoặc không có hạn để mà mãn) phải viết một bản nhận tội, một bản cam đoan không tái phạm, không tiết lộ bí mật của trại giam. Bản nhận tội, bản cam đoan đã được soạn sẵn thành mẫu, chỉ việc chép lại, ký tên, là xong. 

Những người tù được tha làm thủ tục ấy cái roẹt, nộp Ban Giám thị rồi xéo. Không ai nấn ná thêm một phút. 

Không hiểu sao vào đúng cái thời khắc sung sướng nhất đời tù của bất cứ ai tôi lại nổi điên, nhất định không chịu làm cái việc đối với người khác chỉ có giá trị hình thức. 

Tôi nói với những cán bộ bàn giấy của trại giam rằng tôi sẵn sàng ở tù thêm, ở bao lâu nữa cũng được, nhưng tôi sẽ chờ cho tới khi việc giam giữ tôi được làm cho sáng tỏ. Tôi nói: tôi không có tội. Mà đã không có tội thì không thể ký nhận tội được. 

Nhùng nhằng một hồi, người ta hỏi nhau, người ta chụm đầu lại bàn tán, rồi chạy đi thỉnh thị cấp trên. 

Viên phó giám thị chạy đến, gãi đầu suy nghĩ, rồi rủ tôi về phòng anh uống trà. 

Đó là một anh công an đứng tuổi, tốt bụng, dễ thương, được tù mến. 

- Chúng tôi chẳng qua chỉ là thủ kho thôi, anh ơi! Lệnh trên bảo nhập thì chúng tôi cho hàng vào, lệnh trên bảo xuất thì tôi cho hàng ra - anh phân trần, giọng phiền não - Trên lệnh xuống bảo xuất anh ra mà anh không chịu ra thì rồi khổ mấy thằng tôi. Ai biết được các ông ấy tính cái gì, không thực hiện được việc các ông ấy bảo thì rồi không yên được với các ông ấy đâu. Sẽ có hỏi han kiểm điểm, rắc rối lắm.

Tôi ái ngại nhìn anh. 

Hoàn cảnh anh đúng là khó. Anh là người tử tế. Mấy hôm trước chính anh chạy vào trại ra hiệu gọi tôi ra chỗ vắng rồi thì thào báo có tin đồn Mao Trạch Đông sắp chết: 

- Anh được về đến nơi rồi! – anh nói, giọng hồ hởi - Mao chết là xong. 

Tôi cười, bảo: 

- Chớ vội mừng. Con cháu Mao còn đông lắm! 

Trà thuốc xong, chúng tôi thỏa thuận với nhau: mỗi bên nhân nhượng một ít. Tôi không viết bản nhận tội nữa, tôi mặc, anh làm thế nào thì làm, tự anh xoay xỏa, tìm cách mà chống đỡ với trên. Đổi lại, tôi nhận tờ Lệnh Tạm Tha, trong đó tội của tôi được ghi rõ "phản động chống chế độ".

Phó giám thị dỗ tôi:

- Anh đi đường phải có giấy tờ. Không có là lôi thôi lắm đấy. Trại không có thứ giấy nào khác để cấp cho anh, chúng tôi không có quyền. Thôi thì cứ cầm tờ tạm tha, thủ tục nó thế. Rồi anh còn cần đến nó để làm thủ tục hộ khẩu nữa cơ đấy.

Nhà nước muốn người được ra tù phải luôn nhớ rằng anh ta chỉ được tạm tha thôi, anh mà vớ vẩn là sẽ bị tống lại vào tù ngay tức khắc, không oong đơ gì hết. 

Cái Lệnh Tạm Tha ấy tôi giữ được hơn một tuần. Anh công an khu vực, lại cũng một anh chàng đẹp trai và dễ thương, ăn nói nhỏ nhẹ, đến thăm tôi, đòi xem. Xem xong anh ta nhét luôn vào xà-cột, bảo để làm chứng từ cho việc nhập hộ khẩu sau này. 

Hoàng Minh Chính tiếc mãi: "Bằng ấy anh em, mỗi mình cậu nắm được tờ giấy quý như thế làm bằng mà để xổng mất. Tài liệu lịch sử đấy!" 

Đó là nguyên văn trích trong hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày viết xong hơn ba mươi năm về trước. 

Hoàng Minh Chính tiếc là phải - đúng là chỉ mình tôi có tờ Lệnh Tạm Tha, anh em khác trong vụ án chỉ được công an đọc cho nghe chứ không cho giữ. Họ đều được đưa ra khỏi trại giam, bỏ lên xe đưa thẳng tới nơi bắt buộc cư trú và lao động chứ không được về nhà. Nó là bằng chứng chúng tôi từng bị đảng cộng sản bỏ tù. Các thế hệ sau sẽ không tìm đâu ra một bằng chứng văn bản học. Nhưng nếu nhà cầm quyền đã quyết không muốn chúng tôi giữ nó thì họ chẳng thiếu gì cách.

Do lằng nhằng việc giấy tờ, tôi thành ra là người cuối cùng cuốn xéo khỏi trại. 

Tôi còn ra chậm hơn nữa vì anh em tù tự giác đã chờ tôi ở bên ngoài văn phòng trại bắt tôi phải nán lại ăn một bữa tươi với anh em gọi là tiệc chia tay. Tiệc có gà béo, có rượu sắn đổi chác với dân mấy làng gần đấy. 

Những người chưa từng ở tù đã không ít lần chê tôi không tả chi tiết cái sự ở tù nó thế nào. Tôi phải nói ngay lập tức rằng tôi không thích văn học tố khổ. Những tác phẩm kể lể đủ mọi cảnh khổ trong tù nhiều vô kể, cái nọ đầy đủ hơn cái kia, cái nọ tả hay hơn cái kia, nhưng chúng không hấp dẫn tôi. Tù là khổ rồi, khổ lắm, nhất là vào thời tôi, khi dân chúng ở bên ngoài nhà tù cũng khổ, ăn uống so với tù cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tù có đói không? Có, và đói nhiều. Có rách không? Cũng có, nhưng không nhiều lắm. Cái khổ nhất của người tù là ở chỗ họ không biết ngày về. 

Cái sự tù mù ấy mới là cái khổ nhất.

Trong tù cũng có một số người sống sướng hơn những người cùng cảnh. Ấy là tù “tự giác”, tù “nhà bếp”. Tù “tự giác” là những người tù được tin tưởng sẽ không trốn, theo nhận định của ban giám thị. Những người được cho làm tù “tự giác” phần nhiều là tù có án sắp mãn hạn, tù tập trung cải tạo không có gia đình hoặc quê quán ở quá xa để có thể trốn về, vân vân. Tù “tự giác” nghĩa là tù được làm việc bên ngoài trại mà không có lính áp giải. Nhờ thế, họ kiếm chác được nhiều thứ - trà trên đồi, thú trên rừng, cá dưới suối, chưa kể những đồ vật mua bán đổi chác với tù mới còn nhiều đồ mang theo, đem bán lại cho dân lấy tiền mua thịt, mua gà. Tôi dùng chữ linh đình để gọi bữa tiệc chia tay mà anh em “tự giác” dành cho tôi không phải là phóng đại, càng không phải bịa đặt. 

Trung uý Bưởi phụ trách giáo dục trại bịn rịn tiễn tôi. 

Chúng tôi có thời gian khá dài làm việc cùng nhau. Tôi đang làm ở đội xẻ gỗ thì bất ngờ được gọi lên làm “văn hoá trại” dưới quyền Bưởi. Không phải tự nhiên mà tôi được hưởng ân huệ ấy. Ông Lê Giản, nguyên tổng giám đốc Nha Công an thời kháng chiến chống Pháp, đồng chí cách mạng và là bạn thân của cha tôi, nói với ông Lê Hữu Qua, cục trưởng Cục Quản lý Trại giam là cán bộ cũ dưới quyền ông, nhờ ông tìm cách cho tôi được làm công việc không đến nỗi quá nặng nhọc. 

Cái nước mình nó thế. Bên cạnh những quy định khe khắt đôi khi vẫn còn chỗ cho sự nể nang. 

Tôi nhận công việc này có mà cả. Thứ nhất, tôi không làm “ăng ten” (chỉ điểm). Thứ hai, tôi sẽ không tuân lệnh các “quản giáo” trói cánh tiên tù, đánh tù. 

Bưởi đồng ý. Không biết có phải do ban giám thị e ngại lời uỷ nhiệm của ông cục trưởng hay người ta cho rằng đề nghị của tôi là phải mà trong suốt thời gian làm “văn hoá trại” tôi không khi nào phải làm những việc mà “trật tự trại” hoặc “văn hoá trại’ thường phải làm. 

Công tác giáo dục trong nhà tù cũng na ná công tác tuyên giáo ngoài nhà tù. Tuyên giáo là tên gọi tắt việc tuyên truyền và giáo dục nhằm bắt dân chúng tuân phục mọi đường lối chính sách của đảng.

Làm công tác tuyên giáo trong nhà tù dễ ợt - chỉ việc bắt tù vào khuôn vào phép, bắt tù tuân theo những quy định của trại. Không phải một mình Bưởi làm công việc này. Mọi cán bộ trại giam đều làm nó, nhưng bằng cách dễ hiểu hơn – phạt lao động, đánh bằng roi, trói “cánh tiên”, quỳ ngoài nắng, tống vào biệt giam. Bưởi hiền lành: không mấy khi anh trực tiếp thi hành kỷ luật tù như các “quản giáo” khác. Việc của anh là thỉnh thoảng đăng đàn diễn thuyết ở hội trường trại về chính sách nhân đạo trị bệnh cứu người của đảng. Anh nói, tù nghe, bằng hai tai cũng được, bằng một tai cũng xong, anh không quan tâm.

Chúng tôi nhanh chóng tìm được sự hợp tác. Bưởi xin ban giám thị cho tôi một phòng riêng gọi là “phòng văn hoá”, cho phép tôi được treo báo Nhân Dân và Văn Nghệ tuần tự trong các phòng giam cho tù đọc, tổ chức trường học trong trại. Thành tích lớn nhất mà chúng tôi đạt được là trại Phong Quang có sĩ số đỗ phổ thông cao nhất tỉnh Hoàng Liên Sơn, tham chiếu còn được Cục quản lý trại giam trao cờ luân lưu về bổ túc văn hoá. 

Làm việc lâu với đám tù “vâng dạ ngoài mặt đấm c… sau lưng” anh hiểu rằng những người tù chẳng những không hề sợ hãi mà còn coi thường những biện pháp kỷ luật. Dần dà rồi anh cũng hiểu ra rằng chỉ với lòng nhân ái anh mới có thể đi vào lãnh địa tâm hồn họ, mới có thể cảm hoá họ, giúp đỡ họ làm lại cuộc đời. Gần gụi những người tù, anh hiểu có rất nhiều vụ oan ức. Những người bị bắt liên quan tới tôn giáo hoặc viên chức chế độ cũ, chẳng hề làm gì nên tội. Họ bị rơi vào tù đơn thuần chỉ vì cái gọi là cảnh giác cách mạng, hoặc do tư thù. Tất nhiên, anh không nói ra miệng điều anh nghĩ, nhưng qua câu chuyện trao đổi tôi có thể đoán được aa nghĩ gì.  

Tôi kéo Bưởi vào dự tiệc. Anh nói anh không được phép ngồi ăn cùng phạm nhân. Tôi bảo: anh ngồi bên tôi, tôi bây giờ là người tự do. Bưởi ngần ngừ rồi chặc lưỡi, ngồi vào chiếu. Chắc chắn đó là lần duy nhất anh phá lệ. Tiệc vui, có anh tham dự càng vui hơn, mọi cười nói ầm ầm. 

Bưởi tiễn tôi rất xa, tới tận ranh giới đất của trại với đất của dân, cách trại cả cây số. Ranh giới là ranh giới quy ước, không cột mốc, không rào chắn. 

Phút chia tay, Bưởi bỗng đổi cách xưng hô:

- Anh về nhé – Bưởi nắm tay tôi - Em mừng cho anh. Nhưng em sẽ nhớ anh lắm đấy. Em không quên anh đã giúp em hiểu biết nhiều khi anh em mình làm việc với nhau.

Ấy là Bưởi nhắc chuyện tôi giúp Bưởi giải quyết những vụ xung đột xảy ra trong trại thuộc phần việc anh phụ trách. Không kể những lần tôi giúp Bưởi giải toả những thắc mắc về triết học mác-xít mà anh không hiểu khi học hàm thụ cao học công an. Tôi thận trọng khi giảng giải, nhưng khéo léo dẫn dụ Bưởi tới những suy nghĩ nên có. 

Tôi ôm lấy Bưởi:

- Khi nào về Hà Nội, chú rảnh thì đến chơi với anh, địa chỉ anh chú có rồi. Anh rất vui được đón chú.

Bưởi rồi còn đến tôi nhiều lần. Anh trở thành người thân của tôi. 

Chế độ nào cũng cần có công an. Nhưng phải là công an tốt. 

Không phải chỉ mình Bưởi tỏ cảm tình với tôi. 

Biết tôi được thả, mấy cán bộ khác trước kia có bề ngoài lạnh lùng bỗng nhiên tỏ ra lưu luyến, vỗ vai tôi, nắm chặt tay tôi mà lắc. 

2

Trả công cho chín năm ở tù của tôi, trại phát cho tôi sáu chục đồng, gần bằng một tháng lương cán sự 3 tôi vẫn lĩnh trước khi bị bắt. Cầm mấy tờ bạc ong tay lại nhớ có lần ông bạn tù Tôn Thất Tần hỏi tôi: “Đồng bạc bây giờ trông nó thế nào hở ông?”. Cái ông “Jean Valjean gọi bằng cụ” này không một ngày bước ra ngoài nhà tù suốt 30 năm thỉnh thoảng lại bật ra một câu hỏi đến là buồn cười. 

Ga Lào Cai thời chiến không lớn hơn nhiều lắm so với một cái đình làng, nhưng là cuộc sống đã lâu không được thấy – có hàng, có quán, có người đi kẻ lại nườm nượp. Tôi tự thưởng cho mình một cốc xi-rô (sirop), một thứ nước ngọt pha phẩm đỏ. Chẳng hiểu nó giá bao nhiêu, tôi đưa tờ tiền lớn chờ người bán hàng trả lại. 

Mới ở tù có 9 năm mà tôi cũng ngớ ngẩn không kém “Jean Valjean gọi bằng cụ”. 

Tàu về tới Hà Nội vào buổi tối, tôi không thấy ga Hàng Cỏ, thấy người ta ra thì tôi ra theo. 

Thì ra có một cái ga mới trước đó tôi không hề biết là ga Trần Quý Cáp. Lần mò từ phố Sinh Từ mà đi tôi tới nhà ông bạn tù vốn là cán bộ ngoại giao được tha mấy năm trước. Nghe tôi gọi, ông thức dậy mắt nhắm mắt mở đón tôi. Chúng tôi ôm lấy nhau, vỗ lưng nhau đồm độp. Ông ngẩn ra, không tin ở mắt mình. Ông biết vụ án của chúng tôi, ông coi sự trở về đột ngột của tôi như một phép lạ. Tôi trân trân nhìn bàn trà được dọn ra, có ấm đun nước, có ấm sứ chén sứ hẳn hoi, nhớ đến cái ca sắt tráng men đun bằng giẻ quấn ni-lông với chén là ống nứa tép gọt. 

Hai thằng cựu tù hàn huyên đủ mọi chuyện, cho tới gần sáng. 

Tôi tính sẽ ra phố Tràng Thi cắt tóc cạo râu, tắm nước nóng ở một hiệu quen cái đã rồi mới về nhà. Tôi quyết định không về nhà ngay ban đêm. Tôi sợ sự xuất hiện của mình sẽ gây choáng váng cho mẹ tôi, vợ tôi và các con tôi. Tôi hình dung mình sẽ bước vào nhà trong bộ cánh đàng hoàng như thể vừa trở về từ một chuyến công tác xa. Anh em tù số chẵn, tức tù thường phạm, tiễn tôi bằng món quà sang trọng – áo sơ mi pô-pơ-lin Thuỵ Sĩ xanh nhạt đã tẩy sạch hai chữ CT (cải tạo) bị đóng bằng hắc ín, quần xi-mi-li xanh đậm. Đôi giày da theo tôi vào tù chín năm trước mà tôi không nỡ vứt đi ở dưới chân, chỉ tội không có tất. Hành lý của tôi chỉ có một cái túi vải buộc túm, trong đó có bộ cánh pi-gia-ma vá đi vá lại, cái thìa nhôm tù gò lấy làm kỷ niệm. Ra khỏi nhà tù có gì đâu mà mang. 

Tôi chưa kịp thực hiện dự định trong đầu thì đã thấy em gái Thu Hoà và con gái lớn My Lan đèo nhau lên đón tôi về. Thì ra vợ ông bạn tù sốt ruột đã phóng xe tới nhà tôi báo tin mừng. 

Khỏi phải tả niềm vui của cả nhà tôi như thế nào. Sau chín năm đằng đẵng nay mới có một ngày cả gia đình họp mặt đông đủ, không thiếu ai. Cha tôi được thả trước tôi bốn năm còn bị đi đầy biệt xứ ở Nam Định cuối cùng cũng đã được phép trở về Hà Nội. 

Sau bữa cơm đoàn tụ, tôi ngồi vào bàn làm việc ngay buổi chiều hôm ấy. 

Tôi không thể không làm việc khi nhìn thấy vợ tôi gày còm, xanh mướt, các con tôi cũng lỏng khỏng loẻo khoẻo trong quần áo vá chằng với đụp. Tôi có việc làm ngay là nhờ anh Dương Tường, bạn tôi, chạy ngay đến Viện Thông tin khoa học xã hội tìm gặp chị Đỗ Thuý Hà nhận việc cho tôi làm: dịch tài liệu, làm tổng thuật các sách về chính trị, triết học, ngôn ngữ học…

Tôi vui. Bạn bè còn đấy, không quên mình. Người chưa là bạn nhưng biết mình, sẵn sàng giúp đỡ mình. 

Công việc Đỗ Thuý Hà giao cho, tôi làm được. Nó thích hợp. Sau chín năm không được đọc sách, tôi say sưa được đằm mình trong biển kiến thức mới. 

3

Khép lại câu chuyện ngày về của tôi trong Chuyện Nhà, tôi đưa vào đây đoạn con gái út của tôi viết về kỷ niệm với bố:

“Đêm Noel không đi đâu vì sợ kẹt xe, ở nhà ăn bánh và nghe mẹ kể chuyện.

Mẹ kể: Sáng Noel 1967, mẹ nấu xôi sắn cho bố ăn, món xôi ngon nhất của mẹ, ngay cả đến bây giờ vẫn là món tủ của mẹ. Bố ăn xong đến nhà bác bạn, thế rồi đi biền biệt chín năm không về.

Mẹ kể: Cả ngày Noel năm đó, rồi đêm Noel, rồi mấy ngày sau cho đến Tết Tây, cả nhà lùng sục khắp các bệnh viện, các nhà xác ở Hà Nội, lo lắng bố bị tai nạn mà người ta không tìm được người nhà. Nhưng cũng không thấy bố đâu. 

Mẹ kể: Đúng tháng đó mẹ bắt đầu có con trong bụng mà không biết, bố cũng chưa biết là có con. Để rồi mẹ đẻ ra con bé ương bướng trần đời thế này.

Mẹ kể: Tới tận mấy tháng sau cũng không có tin gì của bố, cả nhà lờ mờ biết chuyện gì đã xảy ra với bố, nhưng đến cơ quan họ cũng trả lời chắc là bố bỏ đi không xin phép.

Mẹ kể: Noel năm đó lạnh lắm, bố đi chỉ mặc mỗi một cái áo bông khoác lên người. Sau này mới biết đến cái áo ấy cũng bị lột mất, cùng cành hoa hồng bạn bố cho, khi bố trên đường mang về cho mẹ ngày Giáng sinh.

Mẹ kể: Giáng sinh năm đó thật là buồn!

“Sinh nhật note:

Tặng bố mẹ Vũ Thư Hiên Vũ, Đặng Kim Ân với cả tình yêu! 

Bố viết: "Nhớ ngày này con ra đời không có bố ở bên. Mong con cứng rắn như đã cứng rắn, không trông chờ mà tự tạo lấy niềm vui". 

Mẹ viết: "Mẹ chúc mừng ngày con ra đời , ngày con mang thêm niềm vui và thêm cả ... gian truân cho mẹ ! Bây giờ thì mỉm cười được rồi, tất cả đã qua, do tự con cố gắng là chính"

Nhớ lại những ngày xa xưa chỉ được nghe kể qua câu chuyện của bà, của mẹ, của các cô chú, nó suýt nữa thì đã không có mặt ở trên đời nếu bà nội không phát hiện ra mẹ uống thuốc bỏ nó mà vứt thuốc đi kịp thời. 

Nó không hề giận mẹ, mẹ đã bị áp lực kinh khủng khi chồng bị tù, hai con còn nhỏ quá với một đứa bị bệnh bẩm sinh, nếu thêm một đứa nữa sẽ vô vàn khó khăn, chồng chất lên đôi vai gầy của mẹ. 

Nhờ thế nó được sinh ra, sau thời gian ngang ngược trong bụng mẹ, nhất quyết không chui đầu xuống như những bào thai khác, sinh ra với một hình hài không lấy gì làm đẹp, y như cái tuổi khỉ của nó, với một cái tên hay nhưng buồn: HOÀI THU. Bà nội nó đặt tên cho nó, nếu theo ý nghĩa thường thì đơn giản chỉ là nhớ mùa thu năm ấy, tuy nhiên bà còn nói cho nó ý nghĩa sâu sa về cái tên của nó, về một thời gian không thể nào quên.

Và nó khóc, bắt đầu tỉnh dậy là nó khóc, khóc rỉ rả cho đến chiều tối, nổi tiếng cho đến bây giờ về khả năng khóc dai trong đại gia đình. Tuy nhiên biện minh cho việc khóc đấy, khi lớn lên nó được nghe nói rằng, trẻ con khóc nhiều khi bé là do mẹ buồn trong giai đoạn mang thai, vậy cho nên nó khóc không phải tại nó xấu tính, tại ông Trời thôi. 

Nó vẫn còn một tí trí nhớ về thời gian ấy, nó mở mắt là đã không thấy mẹ nó rồi, nó bé tí, chẳng mấy khi được có mẹ ở bên, vì mẹ nó sáng sớm tinh mơ đã phải đạp xe tận Hà Đông, để đi làm nuôi 3 chị em nó. Thế là nó tủi thân, nó khóc, khóc thương cho cái thân nó, khóc chán rồi lại nhớ ra khóc tiếp, cứ ngày này qua ngày khác. 

Lớn lên chút nữa, bắt đầu đi học, nó mới lờ mờ thấy sự khác biệt của nó và các bạn. Các bạn có bố, vậy bố nó đâu? Mẹ đưa cho nó xem ảnh của bố, toàn là ảnh xa xưa khi bố còn đang học ở Nga, và nó tự hào vì có một ông bố rất đẹp trai, nhưng đi công tác xa lắm, mãi chả về. Sau đó, cứ mỗi lần bạn bè hỏi nói bố nó đâu, nó vênh mặt nói bố tớ đi công tác nước ngoài, xa lắm nên không về được. 

Nó cứ yên tâm sống yên bình với mẹ và gia đình to của nó, cả nội và ngoại ở bên, mà không biết cả nhà giấu nó, giấu mỗi lần đi thăm ông nội, thăm bố, chắt chiu từng đồng cho mỗi chuyến thăm tù, và của nả nhà nó cứ mỗi năm một mất dần đi. Nó chả hề có cảm giác là nhà nó đã khổ cực thế nào, khi vẫn được sống trong một biệt thự to ở trung tâm của Hà nội, nó vẫn được mẹ cố gắng cho anh chị em nó một cuộc sống bình thường nhất có thể, một tuổi thơ yên bình, cho dù vì thế mà mẹ nó càng ngày càng gầy, có được tí thức ăn nào nhường hết cho con, cho dù nó vẫn biết là nhà nó nghèo, khi mà được cô giáo tuyên dương trước lớp là nhà nghèo học giỏi, khi mà quần áo của nó vá chằng vá đụp, quần hoa đi học của nó sau khi vá mông đít thì được quay ngược lên để mặc đằng trước, kỷ niệm để lại là tấm hình hồi lớp 1 với cái quần thủng đít nhưng ở phía trước, trong ảnh chụp cùng cả lớp. 

Cứ như thế nó sống với mẹ và anh chị em nó, cho đến một ngày, khi nó 8 tuổi, đi học về, nó thấy nhà có khách, một ông khách tóc bạc trắng, gầy gò, đen đủi. 

Mẹ gọi nó lại và mẹ khóc nói với nó: bố của con đấy. 

Ôi, nó không thể tin được, ông bố đẹp đẽ trong ảnh của nó đâu, chắc là mẹ nó nói dối nó đây mà, bố nó không thể là người đang ở trong nhà nó thế kia. 

Nó lén mở ngăn kéo bàn, nơi tấm ảnh bố nó luôn được mẹ nó cất giữ, đem ra so sánh với người đàn ông già nua khắc khổ kia. Và nó nhất quyết không chịu gọi bố nó bằng bố, cho đến mãi bao lâu sau... 

Thế là bố bắt đầu bước vào cuộc sống của bốn mẹ con, còn cả gia đình nó thì bước vào một khoảng thời gian thay đổi hoàn toàn khi có bố, vẫn đầy gian truân thử thách, nhưng quyết chí đương đầu”.

Thượng đế, hay số phận, không quá tệ với tôi. 

Sau những cái chết lướt qua bên cạnh – trong chiến tranh, trong đời tù, tôi vẫn còn sống được tới hôm nay để có thể kể lại một đoạn đời với những khúc nhôi từng nếm trải cho con cháu và những người mà tôi yêu mến. 

Thế đã là một may mắn hơn người.

Còn may mắn hơn nữa, tôi vẫn còn một gia đình toàn vẹn với người bạn đời chung thuỷ đi bên tôi bất kể mọi gian khó và những đứa con có hiếu, lương thiện, lớn lên trong tự lực. 

Vũ Thư Hiên (Paris 2018)