Showing posts with label Tam Quốc. Show all posts
Showing posts with label Tam Quốc. Show all posts

Monday, February 6, 2023

Bạt núi cử đỉnh

 1. Người chiến thắng là người viết lịch sử. Tuy vậy, viết khéo mấy cũng có điểm không khớp nếu không trung thực. Có nghĩa là nếu như có nhiều điểm sẽ chìm xuồng, thì cũng có những điểm không hợp lý sẽ lộ ra. Tôi không phải người ngây thơ cho rằng lịch sử phải là một khoa học hoàn toàn. Sẽ có những vấn đề không bao giờ ngã ngũ, và vì thế người ta luôn viết lại sử, không phải để cho nó khoa học hơn, mà để truyền tải một thông điệp về thời đại người viết sử sống, qua cách nhìn nhận lịch sử. 

   2. Tôi thích Hạng Vũ hơn Lưu Bang. Nhưng điểm thích nhất không phải là "võ công trác tuyệt" hay sức mạnh "bạt núi cử đỉnh". Các sử gia phong kiến hay mô tả Hạng Vũ như một anh chàng võ biền, đầu đất, tốt tính kiểu đàn bà, sử dụng nhân sự vụn vặt. Tất nhiên hình tượng Hạng Vũ đã bị bóp méo bởi ý thức hệ của nhà Hán. 

   3. Nhưng có một điểm mâu thuẫn lớn là chi tiết về thời thơ ấu của Vũ. Chi tiết này kể rằng "Chú của Vũ là Lương dạy chữ cho Vũ, học chẳng nên. Lương bèn dạy võ nghệ cho Vũ, học cũng chẳng nên. Lương nổi giận. Vũ nói "Học chữ thời này chỉ cần viết được họ tên là đủ.  Võ nghệ dẫu giỏi cũng chỉ đánh được vài người, nhiều lắm là vài chục người. Tôi muốn học cái đánh được vạn người kia." Lương giật mình lấy làm lạ. Bèn dạy binh pháp cho Vũ. Vũ mừng lắm. Nhưng cũng chỉ học đại khái qua loa cho biết ý nghĩa chứ không chuyên sâu." 

   4. Câu chuyện trên chứng tỏ Vũ là một người có suy nghĩ lớn, không phải là thất học hay võ biền. Chắc chắn, Vũ học chữ không dở, nói là "chỉ cần đủ viết tên họ"  chỉ là một cách nói, ý nói thời chiến tranh loạn lạc cần gì học theo lối hủ nho, thơ phú, trường ốc. Nếu Vũ chỉ biết dăm chữ làm sao đọc được binh pháp. Việc Vũ chểnh mảng học võ, có vẻ mâu thuẫn với việc Vũ chỉ giỏi đem quân và tự mình lao vào đâm chém. Thực ra Vũ quan tâm tới điều binh khiển tướng hơn. Thậm chí, bày binh bố trận cụ thể Vũ cũng chỉ cần có các tướng và mưu sĩ lo, chỉ cần ra quyết định. 

     5. Một người như thế là có tầm suy nghĩ lớn, vượt thời đại, không thể võ biền, thiếu suy nghĩ. Thắng thua còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Nhưng chắc chắn, tư tưởng "học cái đánh vạn người" mới là điểm hay của Vũ, cái gọi là "bạt núi cử đỉnh" có thể chỉ là hư cấu. 

     6. Gần đây có nhiều người đưa ra chứng cớ về việc mô tả Lã Bố là "hữu dũng vô mưu", "thất học" có vẻ không đúng. Lã Bố vốn là quan văn, gặp thời thế trở thành quân phiệt chữ không phải là loại không có chữ nghĩa. Hay Trương Phi vốn vẽ rất đẹp, giỏi thư pháp, nho nhã và ... đẹp trai.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, August 14, 2022

Đọc Tam Quốc & bình luận về mưu sự tranh quyền đoạt lợi của người xưa

 [Bình Tam Quốc] Lỗ Túc trung hậu tính xa, 

      1.  Lỗ Túc, tự Tử Kính, người  Đông Thành, Lâm Hoài, vẻ người nho nhã, tướng mạo khôi ngô kỳ lạ.  Túc khi trẻ ham đọc sách, thích mưu kế kỳ lạ. Mỗi lần đọc đến truyện Trương Tử Phòng, Khương Tử Nha, lại buông sách ngẩng đầu nhìn trời tư lự, nghĩ đến thời thế lại thở dài. Sau này, thấy thời loạn lạc, tự mình học võ, tinh thông binh pháp, sử dụng cung kiếm kích đều tuyệt luân. Bèn tụ tập gia nhân vài trăm người, lập đội ngũ, bày trận, cắm cờ, đánh 

trống, điều binh khiển tướng, luyện tiến thoái, công thành, hãm trận, hợp vây, phá hiểm, phục binh trong núi. Các bậc phụ lão đất Đông Thành đều lắc đầu than thở "Nhà họ Lỗ ngày nay lại sinh ra một thằng cuồng."

   2.  Mấy năm sau, thiên hạn đại loạn, giặc giã nổi lên khắp nơi, nhưng đều không dám phạm tới Đông Thành và Lỗ Gia, mọi người đều phục ở tài tiên kiến.  Viên Thuật nghe tiếng, bèn cử Túc làm huyện lệnh Đông Thành, đợi dùng vào việc lớn.  Túc thấy Thuật tầm thường, nên nhiều lần mượn cớ trì hoãn chưa nhận. Bấy giờ, Chu Du đang làm trưởng lại ở Cư Sào, nghe danh Túc bèn đem vài trăm người tới thăm. Hai người trẻ tuổi tài cao, chí lớn, đẹp như rồng phượng, bình thế lớn thiên hạ, tâm đầu ý hợp, bèn kết thành đôi bạn tâm giao tri kỷ. Du nói: "Loạn thế là khi anh hùng dựng nghiệp. Không cần đợi chúa chọn tôi, anh hùng nên chọn chủ. Đất bắc, nhiều người tranh giành, khó mưu sự lâu dài. Phương nam, đất rộng, giàu có, nhân tình trung hậu, chọn một người làm minh chủ có thể mưu việc lớn." Túc hỏi ai có thể làm minh chủ. Du chơi thân với Tôn Sách bèn nói "Bá Phù dũng lực trùm đời lại có chí lớn. Trước phải khuất thân theo Viên Thuật. Nay đã về nam có thể làm việc lớn." Túc nói "Tôn Sách có uy với tướng sĩ, giỏi về đánh dẹp. Nhưng cố chấp, không thích dùng người lạ, không nghĩ xa. Đó là tài của một vị tướng soái. Tôi muốn tìm một bậc có chân mệnh Đế Vương".  Du nói "Nay thời loạn, không thể tính xa. Nay tôi muốn theo Bá Phù về nam, cần lương tiền, xin huynh giúp đỡ." Nhà Túc bấy giờ có hai kho thóc lớn, mỗi kho chứa tới ba nghìn hộc, Túc bèn trỏ tay tặng Du một kho, lại cho thêm tiền tài và binh khí. Du ứa nước mắt vì cảm phục và xúc động, bèn dẫn mấy trăm người về nam theo Tôn Sách. Sách bèn cử Du trấn thủ Sài Tang, chống với Hoàng Tổ, mưu thôn tính Kinh Châu. 

      3. Túc ở lại Đông Thành đến khi bà nội mất. Lo việc tang xong, bèn quyết chí về nam tìm Chu Du, bèn sai gia nhân đưa mẹ gửi gắm cho Du. Du chăm sóc và phụng dưỡng mẹ Túc như mẹ mình. Sau đó, Túc gói ghém đồ đạc cùng hơn ba trăm gia nhân, xếp thành đội ngũ, xe ngựa tiến về phương nam, bỏ lại toàn bộ gia sản. Quan châu nghe chuyện, sợ bị Viên Thuật trách tội bèn cử một đội khinh kỵ đổi theo bắt Túc. Quân khinh kỵ đuổi kịp, Túc dàn trận, sắp xe ở phía trước, người cưỡi ngựa ở hai bên, mọi người nấp sau trận, cung tên giáo mác sẵn sàng và bảo chúng "Nay nước nhà loạn lạc. Người có công cũng không được thưởng. Các ngươi còn muốn chèn ép người vô tội ư. Hãy xem liệu có bắt được ta không." Bèn sai người dựng khiên cách xa hơn trăm bộ, dương cung bắn liền mười phát không sai phát nào, đều xuyên qua khiên. Quân kỵ thấy Túc nói đúng, lại liệu chừng không đánh được Túc bèn tan chạy.

        4. Túc về Sài Tang phụng dưỡng mẹ, kết giao hào kiệt, nhìn khắp việc thiên hạ, nhưng việc Tôn Sách không hề hỏi tới. Du biết ý, chiều theo ý Túc. Sách bị ám sát chết, em là Quyền lên thay làm chúa Giang Đông. Du vẫn trấn giữ Sài Tang. Túc bèn nói với Du: Tôi nghe, Quyền là người hào sảng, đang tìm người tài trong thiên hạ. Tôi muốn huynh giới thiệu để ra mắt. Du bèn viết một phong thư giới thiệu Túc với Quyền. 

          4. Quyền vốn trọng Du như anh, bèn tiếp đãi trọng hậu, thấy hợp ý, bèn mở tiệc ăn mừng. Khi tiệc rượu tan, khách đã về hết, Quyền giữ Túc ngủ lại trong phủ để cùng nói chuyện. Quyền nói "Nay nước nhà đang cơn nghiêng ngửa, ta muốn nối nghiệp cha anh làm việc lớn, khuông phò Hán thất, theo gương Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công khi xưa. Xin túc hạ chỉ giáo." Túc nói "Tôi thấy nhà Hán không thể dựng lại. Anh hùng thiên hạ sẽ chỉ còn Tào Tháo. Tháo như Hạng Vũ ngày xưa vậy. Khi xưa Cao Tổ chần chừ, muốn tôn phù Nghĩa Đế, không sớm lập chí đế vương, cho anh hùng thiên hạ đi theo, để Hạng Vũ làm loạn. Nay tướng quân phải có chí Đế Vương, không khuất phục Tào Tháo, mới có thể làm việc lớn." Quyền lấy làm đẹp ý, nhưng không dám nhận bèn nói "Ta chỉ lo nghiệp bá, rồi đợi thời." 

       Sau đó, Quyền đem mưu của Túc bàn với Trương Chiêu. Chiêu cho là Túc tuổi trẻ ngông cuồng.

       5. Lưu Biểu chết, hai con tranh giành. Hào kiệt Kinh Châu người theo Tông, người theo Kỳ, nhiều người lại muốn Lưu Bị, bấy giờ đang nương nhờ Lưu Biểu ở Tân Dã, là người kiêu hùng lên thay. Túc bèn nói với Quyền "Biểu chết là thời cơ mưu tính Kinh Châu. Kinh Châu đất rộng, thế hiểm, lắm nhân tài, giàu có, là nơi dựng được nghiệp đế vương. Xin ngài cho tôi qua điếu tang Biểu, nhân dịp tìm hiểu tình hình. Nếu nhân tâm theo Bị, chúng ta sẽ giúp Bị nắm lấy Kinh Châu, liên kết chống Tào. Nếu không, chúng ta cũng giúp Bị, chia rẽ làm suy yếu Kinh Châu, rồi thừa cơ chiếm lấy, dùng quân ấy chống Tào." Quyền nghe theo bèn cử Túc đi Kinh Châu. Túc vừa đến nơi, Tào Tháo đã mang quân đánh Kinh Châu, bắt Lưu Tông, Lưu Bị và Lưu Kỳ thua trận chạy về Giang Lăng, mưu chống đỡ lâu dài.  Túc bèn đuổi theo và gặp Bị tại Đương Dương, Trường Bản. Túc thuyết phục Bị liên kết với Ngô kiên quyết chống Tào. Bấy giờ Gia Cát Lượng là em Gia Cát Cẩn đang giúp việc cho Bị, Túc bèn nói "Ta là bạn thân với Tử Du." Lượng bèn kính trọng Túc như anh, khuyên Bị liên kết với Ngô. Bị bèn viết thư cho Quyền xin liên kết và cam kết chống Tào. 

      6. Túc về gặp Quyền, nói tình thế rất gấp, quân Tào sẽ đến nay mai, xin liên kết với Lưu Bị để chống Tào và chuyển thư cam kết liên minh của Bị. Quyền bèn cho hội họp đông đủ các quan văn và võ tướng để bàn mưu. Hầu như tất cả mọi người đều bàn việc đón Tào Tháo, chỉ có một số tướng trẻ bất bình nhưng không dám nói ra. Túc im lặng không nói một câu nào. Sau hội nghị, Quyền cho gọi Túc hỏi ý " Nay các mưu sĩ và các tướng đều nói hàng Tào, người nghĩ sao?" Túc khích Quyền  "Ngài có thể đem gia quyến về phương bắc, sống ở Hứa Đô, ngày chầu chực ở phủ Thừa tướng, không nhòm ngó tới mộ phần của tổ tiên nữa chăng?" Quyền nổi giận mà rằng "Ta sao có thể sống như thế, nhưng đang suy tính lời của mưu sĩ và các tướng". Túc nói "Mọi người nói như vậy đều là tính cho mình. Túc và chư tướng đều có thể theo Tào, chức vụ, nhà cửa, bổng lộc đều không mất gì. Riêng minh công theo Tào, chắc không còn được ở Giang Đông." Quyền chợt tỉnh ngộ, bèn nắm chặt tay Túc "Nhưng Tào Tháo thế lớn, ta phải làm thế nào?" Túc nói "Tôi xem quân Tào như một cây cung, căng hết cỡ rồi cũng có lúc chùng, quân tướng đánh đâu thắng đó, đều kiêu ngạo. Nay ngai gọi Chu Du về cho toàn quyền thống lĩnh các tướng, ai không nghe chém đầu. Lại có tôi phụ tá, chỉ cần 3 vạn quân, xuất kỳ bất ý, giáp công thủy bộ, đánh một trận phủ đầu, lại liên kết cùng với Lưu Bị, đánh liên hoàn không cho quân Tào tập hợp lại được đội ngũ, quân Tào sẽ mất nhuệ khí tan như ngói lở." Quyền nói "Ngươi thật là Trương Tử Phòng của ta." Bèn sai Túc cầm thư ra Sài Tang gọi Chu Du về cùng mưu việc lớn.

      7. Túc đem thư của Quyền ra Sài Tang, gặp Du. Hai người trù tính kỹ càng mưu đánh Tào, cách thuyết phục Quyền và  đối phó nội bộ, rồi về yết kiến Quyền. Chu Du gặp Quyền nói rõ quyết tâm đánh Tào. Quyền mừng rỡ nói "Nay chỉ có hai người cùng với ta quyết đánh Tào. Mọi người nhút nhát vô mưu làm ta thất vọng quá." Quyền bèn cho đại hội chư tướng, phong Chu Du làm Đại Đô Đốc, toàn quyền điều động, nói rõ quyết tâm chống Tào, lại giao cho kiếm lệnh, ai dám nói đến việc hàng Tào sẽ dùng kiếm đó chém đầu. Quyền, Túc và Du lại cùng bàn định kế sách. Theo đó, Du và Túc sẽ đem 5 vạn quân lập trận đón quân Tào ở Xích Bích, quyết đánh một đòn phủ đầu. Quyền sẽ đem 3 vạn quân chặn đường lui về phía Đông của quân Tào, không cho hợp quân với Hợp Phì. Riêng phía Tây, quân của Du ở Sài Tang phải rút về Xích Bích nên không đủ sức công kích quân Tào sau trận Xích Bích.  Ước tính sau trận Xích Bích, tuy quân Tào sẽ bị tản mát, nhưng vẫn còn 7-8 phần, nếu tập hợp lại được, thế trận vẫn sẽ cân bằng. Túc nói "Tôi xin sang kết ước với Lưu Bị. Quân Bị hiện nay không còn lối chạy, chỉ còn cách tử thủ Giang Hạ, nên sẽ phải liều chết mà đánh, sĩ khí sẽ rất mạnh. Chỉ cần ta thắng một trận nhỏ ở Xích Bích, quân Tháo rối loạn đội ngũ thoái lui, sau lưng có quân ta công kích, quân  Lưu Bị sẽ phục binh chỗ hiểm đánh liên hoàn, sẽ toàn thắng."

       8.  Quyền bèn cử Túc đem kế hoạch liên minh chống Tào sang Giang Hạ. Túc lại bày thế trận liên hoàn cho các cánh quân của Lưu Bị  do các tướng Lưu Kỳ, Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Ngụy Diên, My Phương, Lưu Phong,...chỉ huy bày trận đón quân Tào từ phía Xích Bích chạy về. Sắp đặt xong xuôi, Túc đưa Lượng về Ngô làm tin. 

       9. Trận Xích Bích xảy ra đúng như sắp đặt, liên quân Tôn-Lưu thắng lớn, quân Tào đại bại, chỉ còn giữ được Tương Dương, Phàn Thành, nhờ mưu của Mãn Sủng. Quân Ngô mở tiệc ăn mừng. Khi Lỗ Túc tới, Quyền sai các tướng và các mưu sĩ sắp hàng hai bên đón Túc. Quyền cưỡi ngựa đích thân ra đón. Hai đầu ngựa cách nhau hơn trăm bước, Quyền xuống ngựa đi bộ cầm tay Túc dẫn vào tiệc rượu cho ngồi ghế trên bên cạnh mình. Các lão thần như Trương Chiêu, Trương Hoành, Trình Phổ, Hàn Đương, Hoàng Cái đều dẫn các quan văn và tướng võ tới chúc rượu. Giữa tiệc rượu Quyền hỏi Túc "Ngươi lập được công đầu, được ta tôn vinh trọng vọng, ngươi đã thấy vinh hiển thỏa lòng chưa." Túc nói "Bẩm, chưa thấy thỏa lòng, chưa thấy đủ vinh hiển." Các quan và các tướng đều tái mặt, cho là Túc kiêu căng xấc xược. Quyền cười và hỏi "Nếu vậy phải thế nào ngươi mới thấy vinh hiển và thỏa lòng." Túc thưa "Nếu chúa công đem quân Bắc tiến, diệt Tào, lên ngôi cửu ngũ, bấy giờ Túc mới thấy vinh hiển và thỏa lòng." Quyền cười lớn, sảng khoái rót rượu cho Túc. Túc bèn khuyên Quyền cho Bị mượn Kinh Châu, để làm lá chắn cho Ngô chống Tào. Du đem quân đánh Tương Phàn nhiều lần với Tào Nhân nhưng không hạ được thành.

     10. Túc biết Bàng Thống là người có tài bèn đưa vào tiến cử với Tôn Quyền. Thống cậy tài ngông nghênh, ăn nói không giữ gìn phép tắc, không kiêng nể ai. Quyền không thích Thống lại cho rằng bên Ngô đã có Túc không cần đến Thống. Túc lo Thống sẽ về Bắc theo Tào, bèn tiến cử Thống với Bị. Sau này Thống bày mưu cho Bị lấy Ích Châu, cũng có công của Túc. Túc đối với Bị luôn chân tình như đã cam kết. 

     11. Chẳng bao lâu Du mất, Lỗ Túc là Đại Đô Đốc, thống lĩnh quân Giang Đông. Phía Bắc chống Tào tại Hợp Phì và Tương Phàn. Phía Nam thu phục các quận nam Kinh Châu, Giao Châu, dẹp yên các thế lực ở Giang Nam. Bấy giờ ở Giang Nam có câu "Đánh thủy có Công Cẩn, đánh bộ nhờ Tử Kính" chính để nói tới tài cầm quân chinh phạt của Du và Túc. Phía Tây, Quan Vũ giữ thành Kinh Châu, Công An và Giang Lăng, nhiều lần gây hấn phá hiệp ước liên minh. Túc nhiều lần hội họp trách mắng, Vũ đuối lý không nói được câu nào. Quan Vũ rất kiêu ngạo, xúc phạm sứ Ngô, cả bọn Lã Phạm cũng không nể mặt, làm nhục. Riêng đối với Túc, do tính tình trung hậu, Vũ luôn kính trọng. Quyền nóng lòng thu phục Kinh Châu, thường giục Túc. Túc cho rằng giữ quan hệ liên minh với Lưu Bị quan trọng hơn về đại thể, nên chỉ thường trách Quan Vũ, không muốn đem vũ lực đánh Kinh Châu.  Đến khi Túc qua đời, Lã Mông mới dùng mẹo đánh úp lấy Kinh Châu. 

       12. Tôn Quyền sau này có luận về công thần dựng nên nước Ngô với Lục Tốn xếp theo thứ tự  Du, Túc và Mông cho rằng: Công Cẩn hùng tráng, võ công oanh liệt, mưu trí có thừa, đáng xếp thứ nhất. Tử Kính nhìn xa trông rộng, bày binh bố trận, sắp đặt chu đáo, nhưng có điều kém là cho Lưu Bị mượn Kinh Châu, không có kế sách lấy lại. Tuy vậy, điều kém không thể làm mờ điều hay, xếp thứ hai. Tử Minh vốn thất học, được ta khuyên đọc sách, trở thành trí tướng, phá Kinh Châu, bắt Quan Vũ, xếp thứ ba. 

     13. Lệnh Lỗi Dương nói: Cầm quân đánh giặc như Du chỉ là nanh vuốt của vua, được vua nâng đỡ nghĩ mưu sâu báo đáp như Mông chỉ là trò của vua. Bày mưu dựng nghiệp đến vương, thực đánh bậc đế sư, đó là Túc vậy. Quyền hẳn cũng nghĩ thế nên mới xếp công tích của Túc có thể xóa đi việc "cho mượn Kinh Châu" và xếp hạng hai. Tuy vậy, chắc chắn Quyền đánh giá Túc là công thần dựng nước số 1. Chỉ vì Chu Du được coi như anh. Vả lại muốn động viên bọn Lã Mông,  Lục Tốn ra sức đánh dẹp. Công lao sao bằng tính toán xa có tầm chiến lược như Lỗ Túc. Giả sử Túc không bày mưu cho Quyền để Lưu Bị mượn Kinh Châu, làm bàn đạp lấy Ích Châu  chia ba thiên hạ. Khi đó, Quyền có thể được 7 quận Kinh Châu, Tháo giữ 2 quận, chiếm Hán Trung và Ích Châu, thiên hạ chia đôi, Ngô liệu có thể giữ được cho đến Quyền lên ngôi Hoàng Đế chăng? Biết đâu việc mượn Kinh Châu lại là mưu lớn trong ván bài đế vương của Túc.

      14. Có người nói: Lỗ Túc là người trung hậu bậc nhất thời Tam Quốc. Nhiều người cho rằng người trung hậu ít mưu kế.  Tôi cho rằng: chính người trung hậu mới có thể có mưu cao kế lớn. Quyền thành nghiệp Đế, ấy là do Túc bày mưu.  Nghe Du thắng trận Xích Bích, nghe Mông lấy Kinh Châu, sao so được với nghe Túc.

      15. Trong ba người thấy đại cục bày mưu chia ba thiên hạ cho ba nhà là Tuân Úc, Lỗ Túc và Gia Cát Lượng, Túc là người thấy đại thể sớm và rõ ràng nhất. Túc giống Úc ở tính trung hậu, mưu kế sâu xa, lòng ngay thẳng đại lượng. Tuy vậy Úc không thấy được nhà Hán không thể khôi phục, bị Tháo ép chết, đó là không sáng suốt. Úc cũng ít khi tổng đốc binh mã đánh trận.  Lượng bày mưu chia ba thiên hạ sau Úc và Túc cho Lưu Bị, là người giỏi cai trị, nhưng không thạo việc binh. Cuối cùng thành đạt nhất làm tới Thừa Tướng. Nhưng về tài không thể bằng Túc. 

    16. Lỗ Túc mất sớm mới có 42 tuổi, đang là Đại Đô Đốc. Quan Vũ  năm mất 50 tuổi. Như thế Túc nhỏ tuổi hơn Vũ, nhưng vẫn làm Vũ kính trọng vì lòng trung hậu, đủ biết tài thu phục người của Túc. Nếu Túc còn sống đến lúc Quyền lên ngôi, chắc có thể làm Thừa tướng bên Ngô. 

       Thời Tam Quốc, mọi người nháo nhác tranh quyền đoạt lợi, chỉ chú trọng tới mưu tranh đoạt, không tính xa. Người trung hậu, tài cao chí lớn, mưu kế sâu xa như Túc thật hiếm thay. Quyền gặp và dùng được Túc, thật đáng mặt đế vương.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Thursday, February 3, 2022

Tào Sảng

    1. Tào Sảng tự Chiêu Bá, con trai Đại Tướng Quân Tào Chân. Nhều người nghĩ rằng Chân và Sảng là tông tộc họ Tào. Do đó họ cho rằng việc Tào Duệ để di chiếu quyền nhiếp chính lại cho Tào Sảng và Tư Mã Ý là cân bằng giữa hoàng thất và tài năng của Tư Mã Ý. Nếu vậy thì tranh đoạt giữa Sảng và Ý là tranh đoạt giữa họ Tào và họ Tư Mã, họ Tào thất bại nên họ Tư Mã thắng thế. 

   2. Thực ra không phải vậy. Tào Chân là con của Tần Bá Nam, một tướng của Tào Tháo. Một lần Tháo bị Viên Thuật truy sát, bao vây, Bá Nam đã tự nhận mình là Tháo, bị quân của Thuật giết. Sau này Tháo nhớ ơn Bá Nam, nhận Chân là con nuôi trong phủ cho đổi họ Tào. Chân chơi thân với Tào Phi, lại tài trí hơn người, nên được thăng làm Đại tướng quân thời Văn Đế Tào Phi và Minh Đế Tào Duệ. 

Sảng chơi thân với Tào Duệ từ nhỏ, được tin cẩn làm tới Tán Kỵ Thường Thị, rồi thay cha làm đến Đại tướng quân. 

    3. Vốn Tào Duệ định cử 5 người phụ chính là Tào Vũ, Hạ Hầu Hiến, Tào Triệu, Tào Sảng, Tần Lãng. Trong số đó, Tào Vũ là hoàng thúc, chú ruột, Hạ Hầu Hiến là họ Hạ Hầu (họ gốc của Tung cha Tháo), Tào Triệu là con Đại Tư Mã Tào Hưu. Ba người này đều thuộc về tông thất của Tào Tháo. Lãng là con Tần Nghi Lộc, làm tướng cho Lã Bố, mẹ là Đỗ Thị, Quan Vũ say mê nhiều lần xin cưới, Tháo đã ưng thuận. Nhưng sau thấy Đỗ Thị có nhan sắc, Tháo bèn lấy làm vợ, nuôi Lãng trong phủ như con.  Các quan đại thần là Lưu Phóng và Tôn Tư xúc xiểm, Duệ khi đó bệnh nặng, sợ người tông thất làm phản thì khó dẹp, bèn cho đuổi Tào Vũ, Hạ Hầu Hiến và Tào Triệu. Nhân đó bãi truất Tần Lãng mà lấy Tư Mã Ý cùng Tào Sảng nhiếp chính. 

     4. Sảng nắm quyền Đại Tướng Quân, truất Tư Mã Ý, gây phe cánh, mưu đồ cướp quyền nhà Tào Ngụy, chuyển sang họ Tần. Nhưng trí lực và khí độ của Sảng đều thấp kém như chó lợn không bì được với Ý. Tông thất họ Tào đều ủng hộ Ý diệt Sảng để trừ hậu họa.

     5. Như vậy, Tư Mã Ý không ngu gì tranh đoạt với họ nhà Tào ngay từ đầu. Đến giai đoạn này ông vẫn đứng về phía Tào, giúp nhà Tào trừ Tào Sảng, và mối họa của họ Tần. Thành tâm hay không thì chưa biết. Tuy vậy dù Tư Mã Ý có thành tâm phò Tào, các con ông là Chiêu và Sư cũng phải nắm quyền nếu không bị họa sát thân. 

    6. Người làm nhà Tào yếu đi thực sự là Tào Phi. Phi vì mải lo đối phó với các em là Thực, Chương mà đặt ra các luật lệ đè nén làm yếu tông thất họ Tào.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, December 28, 2021

2 ông vua

 [Luận Tam Quốc] Nghiêu và Thuấn, 

    1. Nghiêu và Thuấn là hai ông vua thời thượng cổ của Trung Quốc, có lẽ ngang thời các vua Hùng. Quốc hiệu của Nghiêu là Đường. Quốc hiệu của Thuấn là Ngu.  Đường và Ngu là hai thị tộc khác nhau.

    Trong giáo điều của Trung Quốc, Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn, Thuấn nhường ngôi cho Vũ. Vì thế hai ông vua này được tôn vinh là vua vừa sáng vừa hiền. Sáng vì biết nhường ngôi cho ông vua sáng khác. Hiền là vì biết nhường ngôi.

   2. Động lực nhường ngôi được cho là vì thiên hạ, vì nước, vì dân. Nếu suy nghĩ thật kỹ, thiên hạ, nước và dân là những khái niệm sau này, thời thượng cổ chưa từng có. Thời đó, các bộ lạc còn tranh giành đồ ăn vốn còn ít ỏi do nông nghiệp kém phát triển. Nghề sắn bắn, hái lượm, ắt phải tranh giành. Nghiêu là người đứng đầu một thị tộc, Thuấn đứng đầu thị tộc khác, Vũ lại đứng đầu thị tộc khác nữa. Khi thị tộc này mạnh, các thị tộc khác phải phục tùng, đem đến nhiều quyền lợi. Khi thị tộc khác mạnh lên, lợi quyền sẽ chuyển cho họ. Vì vậy không có chuyện nhường ngôi, nhất là cho thị tộc khác. Bác có lú, chú sẽ khôn. Nghiêu hay Thuấn có muốn nhường ngôi, chắc chắn quần thần hay các trưởng lão trong thị tộc chắc chắn không chịu. Thời đó chưa có Lễ, nên chắc chắn sẽ dãy đành đạch khóc mếu, không thể không mủi lòng. Quyền lực chỉ có thể chuyển giao bằng đấu đá, mà thời đó là vũ lực, do xã hội loài người còn chưa có mưu mẹo chính trị.

     3. Thuyết "nhường ngôi" là do chế độ phong kiến đời sau mà cụ thể là Chu Đáng và Khổng Khâu chế tác ra. Nhiều sách cổ còn sót những đoạn văn ghi lại việc Thuấn đày Nghiêu, Vũ đày Thuấn. Điều đó hợp lý. Đất cai trị của Thuấn ở vùng Sơn Tây, sau này mộ lại ở đất Ngô, Việt, có lẽ là đất đày. Vũ là con của Cổn, Cổn bị Thuấn giết, không có lẽ Vũ ngoan ngoãn theo Thuấn, Thuấn lại hiền từ nhường ngôi cho con của kẻ mà mình sát hại, không nghĩ đến sự trả thù. 

     4. Không phải cứ sách vở chép là đúng. Người viết sử chính là nhà cầm quyền, vì thế sự kiện lịch sử được ghi lại phải có lợi cho họ. Tuy vậy, những điều bất nhất sẽ sáng tỏ. Tuy vậy, có những hư cấu "mượt mà" mãi mãi sẽ không thể phân định được. Chúng ta sẽ chấp nhận lịch sử như một phần của văn hóa, và có nhiều cái không thể đúng như nó đã từng xảy ra. Niềm tin lịch sử phải là chân lý như khoa học tự nhiên có phần ngây thơ.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, September 19, 2021

Bài mở đầu: Lâm Giang Tiên

 Mở đầu tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa là một bài từ tên là Lâm Giang Tiên, mỗi lần đọc tới lại thấy cảm khái, bùi ngùi, chảy nước mắt. 

      Tác giả của bài từ là Dương Thận, sinh sau La Quán Trung ngót một trăm năm, vào đời Minh. Thành thử nhiều người suy đoán bài từ này của La Quán Trung, mà người đời sau gắn lầm cho Dương Thận. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất đoan chắc Lâm Giang Tiên là của Dương Thận, do ông có một loạt các bài từ sử luận trong một tác phẩm gọi là "21 sử đàn từ" trong đó có Lâm Giang Tiên, về văn phong, ý tứ đều tương hợp với nhau. 

      Sự thực đến đời Thanh, nhà phê bình Tam Quốc là Mao Tôn Cương mới đưa Lâm Giang Tiên vào đoạn đầu Tam Quốc Diễn nghĩa nó phù hợp đến nỗi người ta cho rằng Mao Tiên sinh đã " thêm mắt cho rồng". Tôi thấy hình ảnh này không phù hợp lắm. Bản thân Tam Quốc Diễn nghĩa đã hay không cần Lâm Giang Tiên.       

       Bản thân Lâm Giang Tiên là một bài thơ khá mộc mạc, ý tứ và hình ảnh đều đã có đâu đó. Trong thơ Trung Quốc cũng có tới chục bài nổi tiếng cùng tên là Lâm Giang Tiên. Tuy vậy được đặt vào đầu bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa, bài thơ như một viên ngọc thô chưa ai biết, bỗng trở nên óng ánh, triết lý cao siêu, vừa xúc động lạ thường.

         Bài này được phổ nhạc khá hay trong phim Tam Quốc Diễn Nghĩa. Thực tình tôi xem phim khá lớt phớt mà chỉ nghe bài nhạc. Có cảm giác giống như một điệu hát vỗ mạn thuyền của một người lính già, cảm khái hoài cổ, có cảm giác bát ngát sóng vỗ xung quanh, bài hát bay lên, tan vào không trung. Nhưng khi đọc bài thơ tôi lại có cảm giác khác, chậm rãi, nho nhã, buồn man mác, triết lý hơn và không có vẻ hào hùng, chỉ mang tâm sự chua xót nhiều hơn. Vì vậy tôi liên tưởng tới Tháp Rùa ở Hồ Gươm. Bản thân Tháp Rùa khá mộc mạc, nhưng nó phù hợp với Hồ Gươm đến mức nó trở thành kiệt tác. Nếu đặt một công trình nghệ thuật phức tạp, tuyệt mĩ ở đó chưa chắc hay.

       Bất giác đọc lại và diễn ca Lâm Giang Tiên cho đúng nhịp điệp và tâm sự của nó, mặc dù nhiều cao thủ đã dịch rất hay. Vì dịch là cách thưởng thức tốt nhất. Tôi cố gắng giữ số chữ, thể và vận, hy vọng giữ được hơi thở và nhịp tim của bài từ.

Nguyên văn:

臨江仙

滾滾長江東逝水,

浪花淘盡英雄。

是非成敗轉頭空。

青山依舊在,

幾度夕陽紅。

白發漁樵江渚上,

慣看秋月春風。

一壺濁酒喜相逢。

古今多少事,

都付笑談中。

Phiên âm:

Lâm giang tiên

Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ,

Lãng hoa đào tận anh hùng.

Thị phi thành bại chuyển đầu không.

Thanh sơn y cựu tại,

Kỷ độ tịch dương hồng.

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,

Quán khan thu nguyệt xuân phong.

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.

Cổ kim đa thiểu sự,

Đô phó tiếu đàm trung.

Dịch nghĩa:

Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông,

Sóng bạc đầu cuốn hết thảy mọi anh hùng.

Đúng sai, thành bại cũng chuyển thành không.

Núi xanh vẫn y nguyên ở đó,

Bao lần bóng tà dương chiếu hồng.

Ngư tiều tóc bạc trên bến sông,

Đã quen nhìn trăng thu, gió xuân.

Một bầu rượu đục vui tương phùng.

Cổ kim biết bao chuyện,

Đều gửi vào trong tiếng cười.

Diễn ca:

    Trường giang về đông cuồn cuộn chảy

    Sóng xô cuốn sạch anh hùng

    Thị phi thành bại thoắt hư không

    Núi xanh còn như cũ

    Mấy độ tịch dương hồng 

    Ngư tiều đầu bạc trên bến nước

    Dãi dầu thu nguyệt xuân phong 

    Một bầu rượu nhạt vui tương phùng

    Cổ kim bao nhiêu chuyện 

    Gửi vào chuyện thung dung

Lệnh Lỗi Dương

Sunday, May 2, 2021

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân ...

 [Luận Tam Quốc] Khoái Việt, 

    Lưu Biểu được phong làm Mục Kinh Châu, đeo ấn tới Dĩnh Xuyên-Tương Phàn, cả 9 quận Kinh Tương đều nằm trong tay Viên Thuật. Thuật sai Tôn Kiên đánh dẹp các quận, chúng đều phải hàng phục. Các hào trưởng nổi dậy như ong, đều chiếm đất, thu thuế, trưng quân, tự phong là tướng, làm lệnh, đều không phục tùng lệnh triều đình. Biểu là Mục mà quân không có một tên, đất không có một tấc, bèn tìm các danh sĩ Kinh Sở là Khoái Lương, Khoái Việt, Sái Mạo, Phó Tốn và Hàn Tung hỏi kế. 

       Lương nói "Viên Thuật có dũng cảm mà thiếu quyết đoán, lại ưa xa xỉ, sớm muộn cũng diệt vong. Tôn Kiên tuy hung tợn, nhưng liều lĩnh, sẽ đoản mạng. Ngài nêu cao nhân nghĩa, giữ chữ tín, thiên hạ sẽ bồng bế nhau theo ngài."

      Việt nói "Nhân nghĩa là để trị bình. Nếu ngài làm chủ Kinh Châu hãy nói đến nhân nghĩa. Quyền mưu là để trị loạn. Xin cho mời các hào trưởng đến, trị những tên hung tợn để lấy uy, chọn kẻ thuộc lại thay thế làm nanh vuốt, từng bước nuốt Kinh Châu".

      Biểu bèn phát hịch nhân danh thiên tử mà hiệu triệu bọn hào trưởng. Sai Khoái Việt phục sẵn vũ sĩ, một buổi sáng chém năm mươi tên hào trưởng, cả châu run sợ. Lại lấy bọn thuộc cấp lên thay thể sai đánh dẹp, thu lại cả chín quận Kinh Châu. Lại bắn chết Tôn Kiên, Thuật không dám động.

     Sau này Tào Tháo lấy được Kinh Châu, gặp Khoái Việt, tâm đầu ý hợp viết thư cho Tuân Úc nói "Ta được Kinh Châu chẳng lấy làm mừng, chỉ mừng có được Dị Độ." Bèn bái Việt làm quân sư. Chẳng may Việt mất sớm, Tháo thương tiếc bèn chăm sóc vợ con rất tử tế.

     Việt dòng dõi Khoái Thông. Thông cũng nổi danh hiểu đại cuộc thiên hạ thời Hán Sở tranh hùng. Hàn Tín chiếm được đất Tề bèn sai người mời Thông. Thông bày mưu cho Tín chia ba thiên hạ. Tín không nghe theo và nói "Ta tin Hán không phụ ta." Khi Hán lấy được thiên hạ bèn giết Tín, lại bắt Thông. Thông nói "Tiếc thay thằng nhãi ranh không nghe lời ta. Tuy vậy, kẻ bày mưu chỉ biết đến người nghe, nào biết ai là vua thiên hạ." Bang vì vậy mà tha tội cho Thông.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, February 21, 2021

Quách Gia, Quản Trọng giữ mình

  1. Quách tự Phụng Hiếu Gia người quận Dĩnh Xuyên, Kinh Châu là nơi có nhiều danh sĩ. Nổi tiếng thì có Bàng Đức Công, Tư Mã Huy, bọn trẻ thì có Bàng Thống, Gia Cát Lượng, Thôi Châu Bình, Thạch Thao, Từ Thứ đã nổi tiếng khắp thiên hạ. Quách Gia tự cho mình sắc sảo hơn cả, bèn tự dấu mình, nên người đương thời không ai biết. Có người hỏi "Ngài mai danh ẩn tích thế này há chẳng mai một tài năng ư?" Gia cười đáp "Tài của ta chỉ một người dùng được, ý đang đợi minh chủ."

        Viên Thiệu khởi binh ở U Ký, Hà Bắc, binh lắm, lương nhiều, tướng đông, mưu sĩ như nấm, lại được tiếng là ba đời tam công, làm minh chủ chư hầu, là thế lực mạnh nhất, coi như nắm thiên hạ trong tay. Gia nghe tiếng, bèn lên Ký Châu ra mắt Thiệu. Thiệu thích nghe mưu kế lạ, lại trọng người tài bèn đãi Gia rất hậu. Được chừng nửa năm Gia bèn bỏ đi. Trước khi đi gặp bạn đồng liêu là Quách Đồ và Tân Bình. Bình và Đồ hỏi:"Chúa công đãi túc hạ rất hậu, lại là người nhún mình trọng kẻ sĩ, lại chịu khó nghe mọi người. Sao lại bỏ đi." Gia nói "Kẻ sĩ tìm được người xứng đáng để theo mới gọi là trí. Nay Viên Thiệu nhún nhường nhưng không thực tâm. Thích nghe mưu kế nhưng chẳng dám thi hành. Ai cũng trọng đãi nhưng cuối cùng chẳng nghe ai. Thiệu có lòng nhân đức của công tử con nhà giàu chưa hề biết khổ. Không phải là người chia ngọt xẻ bùi trong hoạn nạn. Theo Thiệu, thực lòng bày mưu cao sẽ mang họa. Tả hữu sau này sẽ giết hại lẫn nhau. Ta há lãng phí thân nam tử ở đây. Chẳng thà để thời gian với phong hoa tuyết nguyệt" Bèn dứt áo ra đi, tay gươm tay đàn, lang thang chốn giang hồ, biệt tăm tích, không màng chuyện đời. 

     Bấy giờ mưu sĩ của Tào Tháo là Hí Chí Tài, chẳng may bệnh nặng qua đời. Tháo lo lắm bèn hỏi ý Tuân Úc. Úc nói "Để bày mưu sâu, thiên hạ chỉ có hai người Giả Hủ và Quách Gia thôi. Này Hủ đang ở trong quân Lý Thôi, Quách Tỵ. Còn Gia trước theo Viên Thiệu nay không biết đi đâu. Tháo bèn bỏ ngàn vàng sai người tìm Quách Gia. Tháo gặp Gia nói chuyện suốt đêm nói "Tuân Lệnh Quân là Trương Tử Phòng, nhà ngươi mới là Trần Bình của ta." Gia cười đáp "Chúa công cần kế lớn của Trương Lương, Quản Trọng, Nhạc Nghị, Khương Thượng tôi cũng có sẵn. E rằng chưa cần gấp mà thôi." Tháo nói "Người hiểu bụng ta chỉ có Phụng Hiếu." Gia lui ra ngửa mặt lên trời cười "Người này thực đáng làm chủ của Gia". 

      Rồi Gia bày mưu cho Tháo lần lượt bình Lã Bố, Viên Thuật, Viên Thiệu. Kế nào cũng khác cách nghĩ của người khác, lần nào cũng thành công, chủ yếu dựa vào cách nhìn người, nắm được tâm lý và chỗ yếu của kẻ địch như trong lòng bàn tay, vô cùng xác đáng. Trần Quần nói với Gia "Nay trong triều có ông và Tuân Lệnh Quân, tài cao át chúng. Tuân Lệnh Quân mực thước, ai cũng mến. Ông lại phóng túng, chẳng giữ gìn, lại chẳng giao du với ai." Gia chỉ cười không đáp. Quần bèn chỉ trích Gia giữa triều. Gia nghe được lại càng làm quá lên. Tháo thấy vậy lại càng trọng đãi và tin Gia, coi như cật ruột.

    2. Quản Trọng được Hoàn Công trọng dụng cho giữ quyền tướng quốc, còn tôn làm Trọng Phụ, ý kính trọng như cha. Khi Hoàn Công làm bá chủ chư hầu, nước Tề hùng mạnh, Trọng bèn xây nhà rực rỡ, đàn sáo suốt ngày. Có người trách. Trọng cười "Tôi xa xỉ chơi bời là để che tiếng cho chúa công xa xỉ chơi bời đó thôi". Người đó không cho là phải. Hoàn Công nghe nói, yên tâm giao hết quyền cho Trọng. 

    3. Lệnh Lỗi Dương nói: " Mưu kế có hai đường dương và âm. Dương mưu là kế lớn, theo đạo lý, lâu mới có kết quả, it người dám bày, vì các nhà chính trị hay sốt ruột, muốn nhìn thấy kết quả ngay. Vì thế dương mưu thường bị cho là viển vông. Vì nghe ra hợp lý nên nghĩ rằng ai cũng biết. Nhưng chỉ lệch một chân tơ kẽ tóc là dương mưu không thành. Âm mưu là kế sâu, dùng cho việc khẩn cấp, chủ yếu dựa vào tâm tính người. Vì vậy các nhà chính trị thích âm mưu nhưng lại nghi ngại người bày ra nó. Kẻ bày âm mưu phải tự giữ mình. Giả Hủ bày mưu nhỏ làm Tào Tháo khốn đốn. Sau theo Tháo, bày mưu nhỏ đốt lương Viên Thiệu, chia rẽ Mã Siêu Hàn Toại, nhưng rốt cuộc cũng luôn kiệm lời để giữ mình. Vì thế dương mưu có thể bàn, âm mưu phải chờ minh chúa."

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, July 26, 2020

Thục trung vô đại tướng

Vào cuối đời Thục Hán, các danh tướng như Quan, Trương, Mã, Hoàng, Triệu, Nguỵ đều lần lượt qua đời. Các đại tướng lớp thứ hai như Hướng Sủng, Mã Trung, Hoắc Tuấn cũng rơi rụng. Võ tướng trụ cột là Liêu Hoá, Mã Đại, Vương Bình,... Chỉ có hai tướng trẻ mới nổi là Phó Thiêm và Tưởng Thư thì một ông nông nổi, cậy khoẻ chết dại dột. Một ông thì quá khôn ngoan mà thành hèn nhát mở cửa ải đầu hàng giặc. Thi sĩ đời sau than thở
“Thục trung vô đại tướng
Liêu Hoá lĩnh tiên phong”
Ý nói Thục Hán thiếu nhân tài mà phải dùng tới Liêu Hoá. Nói như vậy có phần bất công với Liêu Hoá. Quan Vũ xuất thân là cửu vạn, từng làm mã cung thủ hầu cận quan huyện, Trương Phi bán thịt, trải làm bộ cung thủ rồi mới thành danh tướng. Liêu Hoá xuất thân là giặc Khăn Vàng, theo Quan Vũ khi đã làm tướng cướp, trẻ nhất cũng phải 16 tuổi vào năm 201. Quan Vũ thất thế bị vây ở Mạch Thành, sai Liêu Hoá phá vây xin cứu viện vào năm 2020. Liêu Hoá trẻ nhất cũng là 36 tuổi. Như vậy thời Khương Duy cửu phạt Trung Nguyên, Liêu Hoá cũng gần 80 không thể lĩnh ấn tiên phong. Thời Gia Cát lượng Lục Xuất Kỳ Sơn, Liêu Hoá là U50 sức lực đang thịnh, kinh nghiệm cũng chín. Nhưng khi đó ấn tiên phong do Nguỵ Diên và Mã Trung thay nhau giữ, Hoá không có cửa làm tiên phong.
Như vậy Liêu Hoá có thể làm tiên phong giai đoạn Tưởng Uyển và Phí Vĩ làm Đại tướng quân kiêm Thừa tướng. Khi đó Hoá khoảng U60-U70, như ngày nay chúng ta nói là hết tuổi quy hoạch. Điều kiện sinh hoạt y tế thời đó người tuổi đó càng lụ khụ. Tất nhiên Liêu Hoá cũng như Liêm Pha, Hoàng Trung vẫn có thể ra trận nhưng giá có được tướng trẻ vẫn hơn. Vì vậy, câu nói trên không hàm ý chê Liêu Hoá kém tài mà ý nói Hoá đã già mà nhân tài trẻ chưa mọc. Đó cũng là tội của Gia Cát Lượng, Tưởng Uyển, Phí Vĩ không biết bồi dưỡng nhân tài. Trong bài Xuất sư biểu Gia Cát Lượng có than phiền nhân tài theo Lưu Bị từ Trung Nguyên ngày một thưa thớt, nên không nhanh chóng thu phục Trung Nguyên, Thục sẽ mỗi ngày một yếu, hết hi vọng phục hồi Hán thất.
Thực ra, khi Lưu Bị thu phục Ích Châu, nhân tài trong Thục còn đông như kiến. Văn có Trương Tùng, Pháp Chính, Bành Dạng, Hứa Tĩnh, ... võ có Hoắc Tuấn, Trương Nhiệm, Nghiêm Nhan,... Kiêm tài văn võ có Lý Nghiêm, Mạnh Đạt, Hoàng Quyền, Mã Trung,... Bị lấy được Hán Trung là do dùng được nhân tài Ích Châu và các tướng cũ một cách hài hoà. Lượng, Uyển, Vĩ có vẻ như không những không dùng được nhân tài cũ của Ích Châu mà còn không tài bồi được người trẻ, nên Thục sụp đổ là đáng lắm.
Nhiều người tiếc là giá Quan Trương Hoàng Mã còn sống thì nhà Thục Hán sẽ mạnh. Thể chế phụ thuộc vào vài ba người cũng như đội bóng phụ thuộc vào 1-2 siêu cầu thủ là thế chế, đội bóng sớm muộn cũng thất bại. Thời Khương Duy, Chung Hội, Đặng Ngải hình thức tác chiến đã khác. Lớp trẻ đều đã xuất sắc hơn, đồng đều hơn, chiến đấu có binh pháp, mưu mẹo nên không có siêu thủ kiểu chém tướng trước trận, hay phục binh chẹn đường hẻm đổ máu dê máu chó. Xem như Văn Ương dũng mãnh có kém gì Triệu Vân, Mã Siêu, nhưng đến thời đó cũng chỉ múa may như một tên vũ phu trước mưu mẹo của Tư Mã Sư, Tư Mã Chiêu. Vũ hay Phi còn sống cũng lạc hậu mà thôi. Vì thế đào tạo lớp trẻ là quan trọng và không thể ăn này dĩ vãng lấy thước đo của thế hệ cũ làm tiêu chuẩn đào tạo.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, May 22, 2020

Quản Trọng đầu tư theo danh mục

Quản Trọng nhà lãnh đạo quốc gia là ông tổ của tài chính, thương nghiệp và dịch vụ đặc biệt
      Quản Trọng tự là Di Ngô, thời trẻ hay đọc sách lại chẳng chuyên tâm vào mục nào. Từng quán thông Kinh Thư Lễ Nhạc, chính trị quân sự địa lý cũng bàn, kinh tế công kỹ đều thạo. Nghề cung kiếm cũng học qua, nhưng đặc biệt có tài bắn trăm phát trăm trúng. Luôn mang theo cây cung gia bảo bên mình để hộ thân.
Trọng kết nghĩa anh em với Bão Thúc Nha hùn vốn làm ăn. Trọng chỉ bàn phương hướng làm ăn với Bão Thúc Nha rồi nằm khểnh đọc sách, phó mặc việc tính toán chạy vạy cho họ Bão. Nhưng đến khi chia lãi Trọng luôn lấy phần hơn. Mọi người đều bất bình riêng Bão Thúc Nha cho là công bằng.
    Vừa đi buôn vừa đọc sách vài năm, hai người trở nên cự phú giàu ức vạn. Riêng Trọng lãnh ngộ được thuật “mượn lực người chế ngự người” là tiền thân của ngành tài chính sau này. Bèn bảo với Thúc Nha “Giàu vì buôn trong xã hội này cũng không giữ được. Chỉ béo bọn sai nha. Anh em mình làm chính trị mới giữ được giàu sang.”
    Bấy giờ nước Tề đang loạn to, các con vua người thì lập đảng tranh giành ngôi báu, người thì chạy ra nước ngoài tránh nạn.  Bão Thúc Nha hỏi “ Ta nên theo ai?”  Trọng nói “Em xem chỉ có Củ và Tiểu Bạch là người đáng theo. Củ lớn tuổi, chín chắn, Tiểu Bạch rộng lượng bao dung. Ai nhanh chân sẽ làm vua. Chi bẳng hai anh em rút thăm mỗi người giúp một người. Bên nào thành công thì tiến cử người kia.” Cái này sau này gọi là đầu tư theo danh mục luôn đảm bảo lãi chắc chắn.
    Rốt cuộc Bão Thúc Nha bắt thăm trúng Tiểu Bạch. Quản Trọnh bắt trúng Củ. Hai người đem hết gia sản buôn, chu cấp cho hai vị công tử và trở thành tâm phúc của hai người này.
    Vua nước Tề mất, trong nước vô chủ, Quản Trọng nói với Công tử Củ “Ai về trước sẽ làm vua. Tôi đi trước chặn đường Tiểu Bạch. Chúa công về cho nhanh.” Trọng bèn nai nịt gọn ghẽ xách theo cây cung tuỳ thân.
    Bão Thúc Nha nói với Tiểu Bạch trên
đường về nước “Tôi lo Quản Trọng sẽ ngăn trở. Trọng bắn giỏi lắm trăm phát không sai một. Chúa công hãy mặc nhuyễn giáp vào. Nếu Trọng bắn chúa công hãy nằm lăn ra. Hắn sẽ không bắn tiếp”.
    Quả nhiên về đến biên giới nước Tề Tiểu Bạch đã gặp Quản Trọng. Trọng giương cung bắn một phát. Tiểu Bạch trúng tên giữa bụng lăn quay ra xe. Trọng bèn quay ngựa về đón Củ. Bão Thúc Nha ôm Tiểu Bạch về nước Tề trước lên ngôi vua. Đó là Tề Hoàn Công.
Bão Thúc Nha tự làm tướng mang một đạo quân đón đường giết chết Củ. Quản Trọng bảo vệ Củ đến phút cuối. Nhưng khi Củ bị chém chết Quản Trọng bèn bỏ trốn. Bão Thúc Nha  cho người tìm kiếm đón về nuôi trong nhà.
    Hoàn Công muốn phong Thúc Nha là tướng quốc. Thúc Nha bèn tiến cử Trọng là tướng quốc, tự mình làm á Khanh. Cả hai đều quý hiển.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Thursday, May 21, 2020

Quản-Nhạc, Khương-Trương và Chu-Thiệu đời nay

 Nhân kỳ nhân sự của cả hệ thống chính trị, thấy tiêu chí tuyển chọn có vẻ  để lấy một loạt người giống nhau. Hôm nay bình về 3 loại nhà lãnh đạo kỳ tài trong lịch sử.
      Thuỷ Kinh tiên sinh Tư Mã Huy khi bình về Gia Cát Lượng với Lưu Bị nói rằng Lượng tự ví mình với Quản-Nhạc. Bị giật nảy mình nói “Đời nay mà có Quản-Nhạc ư, sao Bị chưa từng nghe?”. Huy nói “Theo tôi, Lượng còn hơn thế. Lượng có thể như Khương Tử Nha giúp Vũ Vương làm nên cơ nghiệp 800 năm nhà Chu hay như Trương Tử Phòng giúp Cao Tổ làm nên cơ nghiệp 400 năm nhà Hán”
       Nhận định của Tư Mã Huy có hai điểm đều sai. Thứ nhất Lượng không hề có tố chất như Quản-Nhạc như tự ví von, và cũng không giống như Khương-Trương như Huy nói. Lượng có tố chất như Chu-Thiệu nếu nhà Thục Hán thành công, hay Bàng-Pháp-Bành còn sống. Nhưng tiếc thay, năng lực của Lượng không được một phần của Chu-Thiệu.
      Quản-Nhạc là loại lãnh đạo toàn quyền thay mặt nhà vua biết người tài và biết mình nhưng năng lực hạn chế. Hai người này đều có khả năng đảo lộn tình thế từ một đống đổ nát tạo nên nên một thế lực bá chủ lất át quần hùng trong thời nhiều thế và lực tranh giành. Quản Trọng vốn là kẻ thù của vua Tề được người anh kết nghĩa bảo lãnh nên được vua Tề giao quyền tướng quốc. Khi đó nước Tề tan hoang do nội loạn, bị nước ngoài giật dây xâu xé, kho tàng trống rỗng, lòng người ly tán, kinh tế tan hoang, binh lực yếu hèn, quan lại tham lam ngu dốt. Trọng từng bước chấn hưng đất nước. Bước 1 chấn hưng kinh tế, có chính sách liên kết khôn ngoan dần đưa Tề lên ngôi bá chủ. Nhạc Nghị cầm quyền nước Yên sau loạn Tử Chi, nước Yên cũng tan hoang nghèo đói, nhà vua cũng ăn cơm gạo hẩm, quần áo không đủ ấm như dân. Nghị đánh bại kẻ thù truyền kiếp là nước Tề đã từng dày xéo nước Yên biến cả nước Tề thành quận huyện của Yên.
    Tư Mã Huy nhìn vào kết quả mà đánh giá Khương-Trương hơn Quản- Nhạc là sai lầm. Khương Thượng phụ tá cho ông vua tài năng, sáng suốt và vũ dũng đích thân cầm quyền. Trương Lương cũng vậy. Lưu Bang là thủ lĩnh quyết đoán tụ tập được nhiều nhân tài, nên Lương chỉ có một số mưu kế trong những thời điểm quyết định. Mưu mẹo quân sự, chính trị đã có Hàn Tín và Trần Bình. Thế cạnh tranh thời Khương- Trương lại chỉ có một đối thủ duy nhất, có sức mạnh tương đương. Vì vậy năng lực của của Khương- Trương không cần toàn diện, đa dạng, linh hoạt và chủ động bằng Quản-Nhạc.
     Chu Công Đán và Thiệu Công Thích là em của Vũ Vương nhà Chu. Vũ Vương sớm qua đời sau khi diệt Ân Trụ và lên ngôi Thiên tử. Di sản để lại là giang sơn một dải, nhưng lòng người chưa yên, dư đảng nhà Ân vẫn rục rịch trở lại, chư hầu cát cứ, có xu hướng không tuân lệnh thiên tử, đám công thần cậy thế, thái tử đảng lũng đoạn chính trường, xâu xé quyền lực. Chu-Thiệu đều giao lại đất phong của mình là nước Lỗ và nước Yên để ở lại kinh đô phò tá ấu chúa. Hai ông giết hai cháu là Quản Thúc, Thái Thúc là thái tử đảng làm loạn cấu kết với kẻ thù bên ngoài. Sau đó nêu uy danh Thiên tử, trấn nhiếp chư hầu. Các ông còn có công phát triển văn hoá rực rỡ, san định lại Lễ Nhạc, chấn hưng giáo dục, bồi dưỡng nhân tài làm nhà Chu vững mạnh.
    Quản-Nhạc gặp thời nước nhà nhiễu nhương, bên ngoài rối loạn, đe doạ trùng trùng, nước yếu, quân hèn, tích lực, tạo thế, tay không dựng cơ đồ, biến có thành không, Gia Cát Lượng tiếp thu đất Thục của bậc chúa anh hùng Lưu Bị, gồm đất Ba, đất Thục, đất Hán chia ba thiên hạ, vốn là công lao của Bàng-Pháp-Bành bày mưu có được, mà làm mòn sức dân, không khơi mạch cho nhân tài, ra Kỳ Sơn 7 lần đều vô công, nướng quân vô số. Như thế sao dám ví với Quản- Nhạc.
     Khương-Trương là bậc quân sư bày mưu nơi hậu trường, là nanh vuốt đắc lực cho bậc chân chúa, nhưng chưa hề bộc lộ tài cai trị, ngoại giao, cầm đầu. Chu-Thiệu là bậc hiền tài, xây dựng thể chế văn hoá cho muôn đời lại là một loại tài năng khác. Các ông có lúc không được đắc chí, bị tiểu nhân vu hãm, đóng cửa viết sách, súc tích tri thức, rèn giũa nghị lực rút cuộc ra giúp đời.
      Ngày nay chúng ta cần Quản-Nhạc, Khương-Trương hay Chu-Thiệu. Tôi có anh bạn tạm dấu tên, tạm gọi là Quách Ngỗi, phò tá một minh chủ tạm gọi là Yên Vương nhưng tài như Quản-Nhạc lại có khí độ như Vũ-Cao. Yên Vương nghe chuyện cổ nhân mua xương ngựa bèn trao quyền cho Quách Ngỗi, đãi tân khách đông như kiến, ngựa hay cũng đã thấy mua được vài con, nhưng chưa thấy ai là Quản-Nhạc. Hay còn đợi Chu-Thiệu?

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, May 6, 2020

Cái chết lãng xẹt của Bành Dạng

Bành Dạmg tự Vĩnh Niên thân cao 8 thước, dung mạo khôi ngô kỳ vĩ, là tài đất Thục. Dạng lại cậy tài, ăn nói không kiêng dè, trọng lời độc đáo, những lời của thế gian hay nói cho dù nghị luận đúng hay lời đãi bôi lịch thiệp, Dạng đều cho là không đáng nói. Vì thế mỗi lời thốt ra đều khác nguòi, vì thế ai nấy đều nể phục nhưng đều ghét Dạng. Dạng xa lánh đám đông, trí lự càng thâm sâu, nhưng lời lẽ càng ngông nghênh chua chát, nhân sĩ Thục chỉ nể mặt Tần Mật.
    Lưu Chương nghe danh Dạng bèn vời ra làm quan. Có người nói “Người ta nói dao mổ trâu cắt tiết gà thế nào cũng hỏng việc. Tài như Tiên sinh không những phải theo minh chúa biết mình, mà còn phải là người tự mình cắt
cử người tài. Dưới gầm trời này chắc chỉ có Tào Công dùng được ngài. Tôi xem Quý Ngọc không biết người tài lại hay nghe người xung quanh, chắc ngài không được như ý.” Dạng cười “Tôi xem thiên tượng chuyến này ra làm quan chắc phải làm đến Trị Trung hay Biệt Giá”
    Chương không biết tài Dạng chỉ cho làm một chức quan nhỏ. Dạng khinh bạc coi thường chức trách thường chểnh mảng công việc mà rượu chè bê tha. Lại thường tỏ ý coi thường Chương ngu dốt, nói chờ đợi chân chúa xuất hiện. Có người ton hót với Chương, Chương bắt Dạng đeo gông, lột sạch chức tước, lại sai cắt tóc, cắt râu để làm nhục.
      Đến khi Lưu Bị và Bàng Thống vào Xuyên, Dạng cho rằng chân chúa đã xuất hiện bèn tìm cách theo. Lại nghe nói Bàng Thống làm lệnh Lỗi Dương cũng coi thường việc bé, rượu chè bí tỉ giống mình lại được Bị tin dùng lấy làm hâm mộ. Một hôm Dạng vào dinh của Thống, Thống đang tiếp khách, Dạng bèn leo lên giường của Thống mà ngủ, ngáy rung nhà. Thống lấy làm lạ bèn ngồi đợi Dạng thức dậy. Hai người uống ruọu trò chuyện suốt đêm vô cùng tương đắc. Hôm sau Thống bèn giới thiệu Dạng với Pháp Chính. Chính biết tiếng Dạng đã lâu, ba người bàn chuyện thiên hạ rất hợp. Chính và Thống lại hết sức tiến cử Dạng với Bị.
Bị được Dạng bày mưu tính kế, lại giao quyền phối hợp các đạo quân, có nhiều kế sách hay. Khi Bị lấy được Ích Châu tự lĩnh chức Mục bèn dùng Dạng làm Trị Trung, là chức quan phụ tá đứng đầu Ích Châu.
    Khi đó trong Thục người ta đều nói Chính, Dạng và Lượng là ba mưu thần hàng đầu, là nanh vuốt của Bị. Khi đó Bàng Thống và Pháp Chính mất, Dạng thiếu người bênh vực, tính lại phóng túng kiêu bạc. Lượng bèn gièm pha nói với Bị nhiều lần cho là Dạng làm loạn. Dần dần Bị sinh ra chán ghét và xa lánh Dạng. Cuối cùng cho Dạng làm Thái Thú một quận xa.
    Trước khi nhậm chức Dạng ghé qua nhà Mã Siêu uống rượu theo lời mời của Siêu. Rượu được vài tuần Siêu bắt đầu gợi chuyện “Ngài cùng với Hiếu Trực và Khổng Minh bày mưu cho chúa công. Bọn võ biền chúng tôi vẫn mong các ngài có mưu lớn bình thiên hạ để có chút công lao. Nay Hiếu Trực mất rồi Ngài và Khổng Minh đứng đầu trăm quan mới phải. Nay lại đi quận xa làm mọi người đều thất vọng.” Dạng lúc đó đã ngà ngà say bèn nói “ Anh nói phải. Ta bày mưu bên trong. Anh cố sức bên ngoài, bình thiên hạ là chuyện nhỏ.” Lại nói “Mấy tên lính già bây giờ đều hồ đồ không còn chí lớn. Không bõ nói chuyện. Ta dfi chuyến này rồi sẽ về cùng nhau bình thiên hạ.”
    Siêu lúc mới hàng Lưu Bị vẫn ngông nghênh cho mình dòng dõi công hầu thường cho mình trên bọn Hoàng Trung, Trương Phi, Nghiêm Nhan, Triệu Vân,... thường gọi Bị bằng tên tự như cùng hàng. Phi và Trung giận lắm muốn giết Siêu. Sau có người nói cho Siêu biết, Siêu có ý sợ mới gọi Bị là chúa công lòng vẫn không yên muốn tìm cách chứng tỏ lòng trung thành với Bị bèn lượm lặt lời nói của Dạng thêu dệt thành tội gọi Bị là “lính già” và có ý lôi kéo mình làm phản để làm chúa thiên hạ.
    Lượng đem thư tố giác của Siêu và gặp Bị, Bị nổi giận bèn đem Dạng tống ngục. Dạng ngồi trong ngục nghĩ chỉ có Lượng mới cứu được mình bèn viết thư phân trần nói lính già không ám chỉ Bị, và Bị cũng chưa hề già. Lại phân trần chỉ muốn động viên Siêu ra sức vì quốc gia. Lượng dấu lá thư không cho Bị biết.
Bị tuy giận Dạng nhưng nghĩ lại tình xưa, nhớ đến Thống và Chính thấy bùi ngùi chưa muốn hạ thủ bèn hỏi Lượng. Lượng nói “Dạng ngông nghênh làm loạn tội đáng chết. Tha cho hắn, hắn làm loạn sợ không ai dẹp nổi.”  Bị bèn sai người đưa cho Dạng uống. Dạng chết năm 37 tuổi.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, April 19, 2020

Số phận của tư vấn,

Trong Tam Quốc các quân sư tự tiến cử đều không tốt. Tào Tháo giết Tuân Úc, Lưu Bị giết Bành Dạnh, Viên Thiệu giết Điền Phong. Vua Tần đọc sách cúa Hàn Phi than rằng “ được nói chuyện với người dù chểt cũng cam lòng” kết cục cũng giết Phi vì lời gièm pha.
     Bàng Thống tự tiến cử thì cho làm Huyện lệnh. May mà Lưu Bị cử Trương Phi là người yêu kính nhân tài đi điều tra, chứ không may cử Quan Vũ là người ghét sĩ đại phu thì đã mất mạng.
    Điều này cũng có đạo lý của nó bởi vì trong số tư vấn tự tiến cử đa số là bất tài vô tích sự. Vì thế bậc sư biểu cũng không nên dễ dãi tự bộc lộ, thà mai danh ẩn tích như Lý Đam, Vương Hủ hay như Gia Cát Lượng ban lần mới ra khỏi lều tranh mà dùng ngay làm Quân Sư trung lang tướng.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, April 8, 2020

Quỷ Cốc Tử và Đông Phương Sóc

Quỷ Cốc Tử là học giả có ảnh hưởng lớn nhất thời Chiến Quốc. Học trò ông như Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tẫn, Bàng Quyên, đeo ấn tướng quốc 6 nước, làm quân sư hay nguyên soái đánh dẹp chư hầu.
     Cuộc đời ông đầy huyền hoặc, người ta đoán tên ông là Vương Hủ, thời trẻ chu du thiên hạ, giao du với các danh sĩ, tầm sư học đạo, nhưng không theo môn phái nào. Mỗi nhà tinh lọc được chút điều bổ ích, nhưng không đắc ý với nhà nào. Khi kiến văn đã uẩn súc, ông bèn tìm nơi núi thẳm dạy học. Ông giỏi về nhiều môn, nhưng học trò của ông chỉ học được mấy môn ứng dụng như du thuyết, binh pháp và quyền nghi. Bộ sách “Tam thập lục kế” để lại cho đời cũng là học trò hay người đợi sau viết ra ghi tên ông. Còn lại triết học, đạo đức, tâm linh, y học, bác vật, chế khí không ai học nổi đều thất truyền. Ông cũng quyết không truyền lại cho bọn tục tử. Duy chỉ có Tôn Tẫn sau khi nổi danh về núi mai danh ẩn tích cùng thầy.
    Đông Phương Sóc là bác học thời Hán Vũ Đế. Ông được vua yêu vì tài, nhưng tính tình phóng túng, không chịu quản thúc, nên vua không giao trọng trách chỉ cho chức bác sĩ tha hồ ăn nói trong triều. Ông thường châm biếm hoạt kê pha trò trêu chọc cả vua. Có lần vua phong chức Đại tướng quân, ông nói “Bệ hạ dùng người như xếp củi. Ai đến sau thì ở trên.” Có lần vua hỏi “Ngươi có cho mình là cao sĩ chăng.” Ông nói “Kẻ hạ thần ngông cuồng tự cho mình là cao sĩ bậc nhất đời nay.” Vua cười “Ta nghe cao sĩ phải ở rừng cao núi thẳm để súc tích kiến văn rèn giũa ý chí” Sóc nói “Ẩn sĩ hạng thường phải mượn rừng cao núi thẳm lấy tịch mịch rèn chí. Sóc ẩn sĩ giữa triều đình, say khướt nơi chợ búa há phải so sánh.” Vua nhiều lần có việc không ai biết đều hỏi Sóc, ông đều trả lời thoả đáng. Ông thường nói “Vua yêu ta nhưng không biết tài ta thì cũng như nuôi thằng hề mua vui thôi.” Nhưng ông cũng không lấy đó làm điều. Sau này không biết số phận của ông ra sao. Nghe nói ông lên Dao Trì gặp Vương Mẫu ăn trộm đào tiên và thành ngôi Mộc Tinh. Sử chép Vũ Đế gửi nhiều bác sĩ ra hải đảo tìm Dao Trì cầu thuốc trường sinh. Có lẽ Đông Phương Sóc cũng trong số đó và tiêu dao nơi hoang đảo khi đã chán thị thành.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, April 6, 2020

Vương Tiễn xin nhà cửa ruộng vườn

Vương Tiễn là danh tướng nước Tần, ông cùng con trai là Vương Bí diệt 6 nước chư hầu, giúp nhà Tần thống nhất thiên hạ. Ông cùng Bạch Khởi (Tần), Liêm Pha và Lý Mục (Triệu) là 4 danh tướng cuối đời Chiến Quốc. Bạch Khởi và Lý Mục đều bị dèm pha rồi bị vua giết. Liêm Pha bị dèm pha, tước binh quyền, may trốn được, phải lưu lạc chết ở xứ người.
    Vương Tiễn sau khi diệt Hàn Ngụy, cùng Lý Tín đem binh diệt Triệu. Vua Triệu ngu dốt, giết Lý Mục. Tiễn và Tín bèn phá Triệu, bắt Triệu Vương. Em của Triệu Vương là Gia chạy về đất Đại, tự lập làm Đại Vương chống nhau với Tần. Tiễn đem binh vây Đại bắt sống Gia cùng toàn thể triều đình nhà Triệu. Nước Triệu diệt vong.
    Tần Vương Chính nói: Tam Tấn đã diệt, nay chỉ còn Sở là mối lo lớn nhất, ai dám vì ta diệt Sở. Quần thần đều nhìn Vương Tiễn. Tiễn nói "Bệ hạ muốn đánh Sở, phải giao cho thần 60 vạn quân." Tần Vương nói "Cả nước Tần, có 80 vạn quân, phia Bắc phải lo Yên, phía đông phòng Tề. Tam Tấn mới bình định, chưa yên. Nay tướng quân đưa 60 vạn quân gấp 3 quân còn lại. Tần biết phòng bị ra sao." Tiễn nói "Chính vì vậy mà thần không dám nhân.". Lý Tín bước ra thưa "Lão tướng quân tuổi đã cao, mỏi mệt. Xin cho thần lĩnh 20 vạn quân diệt Sở. Nước Sở chỉ là đốm lửa tàn thoi thóp mà thôi.".
     Tần Vương đẹp ý bèn sai Tín lĩnh 20 vạn quân đánh Sở. Bấy giờ nước Sở rối ren, quan lại ngu dốt. Tướng quân là Hạng Yên chạy về phía Nam, tôn vua mới lên làm chủ, tổ chức lại quân đội, đánh tan 20 vạn quân của Lý Tín, đem binh tiến về phía Tây thu lại đất cũ của Sở đã mất, rồi tiến đánh Tần. Khí thế rất hăng.
     Tần Vương lo lắm bèn cho cho mời Vương Tiễn. Tiễn nói: "Đất Sở rộng, dân mạnh mẽ, thạo việc binh. Một người phất cờ là có ngay 100 vạn quân tinh nhuệ. Nếu không có 60 vạn quân quyết không xong." Tần Vương bèn giao 60 vạn quân cho Tiễn.
     Trước khi lên đường, Tiễn lại xin vua Tần ban cho rất nhiều ruộng đất nhà cửa ở Hàm Dương. Tần Vương cười "Khanh làm nguyên soái của ta. Cầm 60 vạn quân diệt 4 nước lại sợ nghèo hay sao." Tiễn nói "Làm tướng của bệ hạ công cao cũng không dám mong được phong hầu. Chỉ mong giàu có êm ấm tuổi già." Chính bèn thuận cho.
     Có người nói với Tiễn "Nguyên soái sao lại tham mấy thứ lặt vặt." Tiễn nói "Ta cầm quân cả nước ra ngoài, ắt vua nghi ngờ. Nay ta tỏ ra tham lam để vua cho rằng ta vì lợi nhỏ không có tham vọng cao xa."
      Bèn cầm quân vào đất Sở, đánh bại Hạng Yên, diệt Sở, rồi dâng biểu xin về hưu. Tần Vương thuận cho. Lại giao binh quyền cho con Tiễn là Bí. Bí bèn diệt nốt Tề và Yên. Vương Tiễn sống lâu thọ 90 tuổi.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, April 4, 2020

Nhạc Nghị và Kỵ Khiếp

Nước Yên gặp loạn Tử Chi, miếu xã tan tành. Vua Yên mặc áo thô, đội mũ xấu, ăn cơm gạo hẩm, thức khuya dậy sớm lo việc nước, nhưng chiêu hiền đãi sĩ, bỏ nghìn vàng cầu một lời nói hay. Trong mấy năm đất nước giàu mạnh, nhưng vua vẫn không một ngày lo cho nước.
     Nhạc Nghị là cháu nội danh tướng Nhạc Dương, nghe tiếng vua Yên yêu kẻ sĩ, mưu việc lớn bèn đội nón cầu mặc áo vải đến cung vua Yên xin yết kiến.
     Nhạc Nghị hỏi "Xin cho biết chí của bệ hạ". Vua Yên nói "Yên bị Tề làm nhục, tàn phá xã tắc, hủy tông miêu, đào xương cốt mấy đời. Quả nhân nằm gai nếm mật chục năm nay, nước nhà đã được thịnh vượng. Nhưng nhục tiên tổ không thể quên. Nếu tiên sinh có kế giúp quả nhân rửa nhục cho nước, quả nhân và dân Yên quyết theo."
     Nghị nói "Dẫn Vương đánh đâu được đấy. Bắt phá Yên, Nam lừa Sở, Tây hiếp Hàn, Triệu, Ngụy. Bội ước với Tần. Nay kiêu căng xa xỉ mất lòng người, mạnh mà không khó đánh. Tôi có thể diệt Tề vì bệ hạ."
     Quần thần đề cho là Nghị nói quá lời, can vua Yên đừng dùng Nghị. Vua Yên không nghe, giao hết quyền chính cho Nhạc Nghị và bàn mưu đánh Tề.
      Nghị nói "Tề mạnh gấp 10 Yên. Nay Tề mới diệt hơn 10 nước chư hầu, lại cướp đất của Sở, Ngụy. Ta ước với chư hầu đánh Tề cướp đất, hẹn cho họ tất cả đất của chư hầu mà Tề đã cướp được".
     Vua Yên nghe theo bèn xuất ra vạn lạng vàng, sai biện sĩ mang lễ vật tới 5 nước thuyết phục. Các nước đang hận Tề đều nghe theo. Chỉ có Sở chưa chịu xuất quân, chỉ sai Trác Xỉ làm đại tướng đem quân áp tới biên giới nghe ngóng. Nhạc Nghi bèn thống soái liên quân 4 nước Yên, Triệu, Hàn, Ngụy đánh tan quân Tề ở Hà Ngoại, thu toàn bộ đất Tề cướp của chư hầu và chia toàn bộ đất đai cho chư hầu. Các nước được đất xong đều hài lòng và bãi binh.
      Nghị bèn đem quân Yên tiến vào Tề. Binh Yên khí thế như chẻ tre, Nghị lại bày nhiều trận tinh xảo, chiếm liền một lúc 70 thành. Còn hai thành Cử và Tức Mặc, thành cao hào sâu, lương thực dồi dào, lại có Điền Đan tổ chức phòng thủ tốt, không phá được. Nghị bèn cho vây kín và cử quan cai trị nước Tề, thu thuế, mang lợi cho nước Yên. Cứ thế trong vòng 10 năm.
      Bấy giờ có một viên tướng là Kỵ Khiếp, làm việc dưới quyền Nhạc Nghị, thắng được vài trận tự cho mình là giỏi, bèn xin Nghi đem 1 vạn quân cảm tử dùng chiến thuật biển người lấy thành Tức Mặc. Nghị gạt đi:
     "Tức Mặc và Cử trơ trọi, nằm trong tay ta, cớ gì phải hy sinh vạn người, Nay ta cai trị đất Tề đủ cho Yên mạnh. Nếu lòng người mệnh trời ở ta, sớm muộn cũng lấy được."
      Bèn cho quân vây thành như cũ. Lại ghét Kỵ Khiếp có tính gian manh, tắt mắt, bèn sai về Yên. Khiếp bèn yết kiến thế tử con vua Yên nói rằng có kế lấy Cử và Tức Mặc và nói Nhạc Nghị chuyên quyền muốn làm Tề Vương. Thế tử bèn vào nói với vua cha, nói Nghị mưu phản muốn làm vua nước Tề.
     Nhà vua nổi giận đùng đùng nói "Nhạc tướng quân thay ta rửa nhục cho nước. Làm dân giàu nước mạnh. Nay dù muốn làm Tề Vương cũng đáng. Mày muốn ly gián vua tôi để nước nhà sụp đổ hay sao." Bèn sai nọc thế tử đánh 30 mươi roi, lại giam trong cung hối tội, và sai trung sứ đem ấn Tề Vương phong cho Nhạc Nghị.
       Nghị nghe sứ đọc chiếu tuyên phong, nhất định không nhận nói "Tôi vì Yên thu phục Tề, há vì ham làm Tề Vương. Nay quyết vì nhà vua hết lòng." Vua Yên nghe tin lại càng trọng đãi Nhạc Nghị.
       Chẳng bao lâu vua Yên chết, thế tử lên ngôi vua. Cận thần lại xúc xiểm: "Nếu nghe Ky Khiếp thì nước Tề đã về tay ta rồi. Đánh mãi không thắng, Nhạc Nghị tài năng chỉ vậy thôi."
      Vua mới nghe lời cử Ky Khiếp thay Nhạc Nghị. Nghị biết rằng bị gièm pha sợ nguy tới tính mạng bèn không về Yên mà sang làm khách khanh ở Triệu.
      Kỵ Khiếp thay Nghị sai cấp tốc công thành chết hàng vạn người, tinh thần quân sĩ xuống thấp. Điền Đan lại bày mưu phá tan quân Yên, giết Kỵ Khiếp thu lại 72 thành.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, March 30, 2020

Liêm Pha và Lý Mục,

Cuối đời Chiến Quốc có 4 danh tướng, Vương Tiễn và Bạch Khởi của nước Tần, Liêm Pha và Lý Mục nước Triệu. Liêm Pha và Lý Mục tài năng không kém, lại ở thế yếu, vua thì ngu dốt dở hơi, không chuyên dùng, nên cuối cùng Triệu thất bại mất nước.
    Liêm Pha là danh tướng Triệu, bắt đầu nổi lên khi cầm quân nước Triệu dưới quyền chỉ huy của Nhạc Nghị, đánh thắng quân Tề. Sau đó ông được cử cầm quân nhiều lần đánh Tề, Ngụy, đều thắng, nên được phong làm thượng khanh.
    Sự nghiệp của ông bắt đầu sáng chói khi được trao binh quyền thay danh tướng Triệu Xa chống quân Tần. Ông biết quân Tần mạnh, chỉ cố thủ không đánh. Tướng Tần là Vương Hột bèn phao tin "Liêm Pha không đáng kể, Tần chỉ sợ Triệu Quát (con Triệu Xa)". Vua Triệu bèn cách chức Liêm Pha, thay bằng Triệu Quát. Tần cử Bạch Khởi, đánh bại và giết Triệu Quát, chôn sống 40 vạn quân Triệu ở Trường Bình.
    Sau trận Trường Bình, thừa tướng nước Yên là Lật Phúc, cho là nước Triệu suy yếu, bèn cử đại binh đánh Triệu. Liêm Pha được cử làm tướng, đánh bại quân Yên, giết chết Lật Phúc. Sau đó, Liêm Pha mang quân đánh Ngụy chiếm được đất Phồn Dương. Sau đó, vua Triệu lại nghe lời cận thần, cho rằng Liêm Pha già, thay ông bằng Nhạc Thừa, con Nhạc Nghị. Liêm Pha nổi giận đánh Nhạc Thừa, và phải lưu vong, chết ở đất khách.
     Khi đó Tần Vương Chính lại sai Lý Tín, Vương Tiễn đem quân đánh Triệu ráo riết. Vua Triệu đành cử Lý Mục làm đại tướng quân, cầm quân cự quân Tần.
     Lý Mục vốn là tướng cầm quân Triệu chống quân Hung Nô ở phía Bắc nhiều năm. Ông cho rằng nếu chỉ đánh thắng một vài trận mà không tiêu diệt được thực lực của Hung Nô sẽ không bao giờ kết thúc được chiến tranh. Ông giả thua nhiều trận nhỏ, giữ chặt biên giới, khi Hung nô vào thực hiện vườn không nhà trống, khiến Hung Nô phải rút lui, bào toàn biên giới. Nhưng triều đình Triệu cho Lý Mục là nhát gan, kém tài. Vua Triệu gửi thư quở trách. Nhưng Lý Mục vẫn giữ nguyên chiến thuật cũ. Nhà vua nghe cận thần dèm pha bèn cách chức của Lý Mục cử người khác thay. Viên tướng mới đem quân tập kích Hung Nô, kết quả đại bại, quân Triệu tổn thất lớn. Nhà vua lại cho mời Lý Mục. Ông giao ước phải được theo ý mình mới nhận chức. Nhà vua phải nghe theo. Sau vài năm huấn luyện quân sĩ thành thục, Lý Mục dụ cho Hung Nô đem toàn bộ binh lực tấn công. Ông giả vờ thua trận đầu, để Hung Nô đem toàn bộ quân đội vào chiến trường. Lý Mục bày nhiều trận liên hoàn, tiêu diệt gần như toàn bộ quân Hung Nô. Sau đó Hung Nô khiếp vía và không còn thực lực để xâm lấn nước Triệu.
     Sau khi Liêm Pha lưu vong, Triệu phải mời Lý Mục thống lĩnh quân đội chống Tần. Lý Mục nhiều lần đánh bại quân Tần. Tuy vậy do quân Triệu yếu nên nặng về phòng thủ. Một lần nữa các cận thần lại gièm pha Lý Mục với vua Triệu. Vua Triệu tước binh quyền của Lý Mục, nhưng Lý Mục nói "Ta đang cầm quân chống giặc, không thể giao binh quyền". Vua Triệu bèn sai vũ sĩ ám sát giết chết Lý Mục để giành binh quyền. Mất tướng tài, quân Triệu bị quân Tần đánh tan, nước Triệu diệt vong.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, March 20, 2020

Trì hoãn chiến

Người sử dụng trì hoãn chiến hay nhất Tam Quốc là Pháp Chính. Khi đối trận, Hạ Hầu Uyên muốn đánh nhau ngay, Pháp Chính khuyên Hoàng Trung không tiếp chiến. Đợi khi quân Uyên hết nhuệ khí, quân Trung tiến lên, chém Uyên tại trận. Đây có lẽ là võ công lớn nhất Tam Quốc, tiêu diệt một tập đoàn quân, giết Tư lệnh Mặt trận.
   Người thứ hai sử dụng trì hoãn chiến, lâu dài và tạo thế thắng cuối cùng là Tư Mã Ý. Quyết tâm không đánh, giữ giằng  dai làm bên Thục mất nhuệ khí, dần suy yếu. Về lâu dài, Thục lụn bại có mầm diệt vong ngay từ khi đó.
   Hai bên đối trận, sẽ có bên thua bên được. Trì hoãn chiến tốt cho một bên và xấu cho bên kia. Như vậy khi nào thì nên trì hoãn khi nào thì nên tốc chiến tốc thắng,
    Mã Tốc giữ Nhai Đình, chiếm cao điểm, tình thế giống như Hoàng Trung-Pháp Chính ở Hán Trung, bèn bị Trương Cáp vậy khốn, đánh cho tan tác. Điều thú vị, chính Cáp là tướng dưới quyền của Hạ Hầu Uyên ở Hán Trung.
    Gia Cát Lượng, đem quân ra Kỳ Sơn, đánh bại Trần Thái, Quách Hoài, lại đủng đỉnh không nghe lời Ngụy Diên tốc chiến tốc thắng, để thời cơ qua mất, phải gặp Tư Mã Ý còn trì hoãn hơn, nên thất bại.
   Xem ra "trì hoãn chiến" là một nghệ thuật, tùy trường hợp mà dùng. Đặc biệt, khi yếu tố bên ngoài ủng hộ, nguồn trợ lực lâu dài dồi dào, trì hoãn chiến là chiến lược đúng.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, March 15, 2020

Ngựa trắng Đích Lư

Lưu Bị khi còn ở Kinh Châu, được Lưu Biểu tặng cho một con ngựa  trắng, bờm lớn, dáng cao, ngực nở, bụng thon, chạy êm và nhanh lắm. Thực là một con tuấn mã. Có người nói, con ngựa này trước là của Hoàng Tổ, phải cử người đem nghìn vàng sang Tây Vực mua về.
    Tư Mã Huy, hiệu là Thủy Kính tiên sinh, khi đó thường hay đi lại giao du với Bị, xem con ngựa rồi nói: "Con ngựa này thực là thần mã. Tuy nhiên, dưới khóe mắt có một vũng lệ, nên gọi là Đích Lư. Đích Lư là giống ngựa hại chủ. Hoàng Tổ là tay kiệt hiệt, cưỡi ngựa này mà bị Tôn Sách giết. Sách cũng thích con ngựa này mà không dám cưỡi. Nay Lưu Kinh châu tặng tướng quân ngựa này, nếu không phải bản ý, thì cũng do người xung quanh xúi bẩy, không phải hảo ý. Sao tướng quân lại cưỡi ngựa này, để hại đến thân?"
    Lưu Bị biến sắc và nói "Người ta sống chết là do ở mệnh trời và lòng người, cớ sao lại đổ lỗi cho một con ngựa. Tôi coi con ngựa này là thần mã. Đại huynh có lòng yêu mới ban tặng, ông chớ nói nhiều." Bèn nhất định không nghe lời Huy, vẫn cưỡi Đích Lư.
   Quan Vũ và Trương Phi nghe chuyện bèn vào thưa riêng với Bị "Chuyện Đích Lư hại chủ hay không, không cần biết. Nhưng trong muôn một, nếu đó là sự thực, tổn hại tấm thần ngàn vàng của chúa công, là hại đến việc lớn. Xin chúa công bỏ Đích Lư."  Bị nhìn quanh thấy không có ai bèn nói "Ta long đong bốn biển, không có nơi nương thân. May được Cảnh Thăng cho nương nhờ. Tiếng là đồng tông, nhưng chưa từng qua lại. Ta xem các tướng bên Cảnh Thăng toàn những người  mắt như cú vọ nghi ngại, chắc sẽ dèm pha. Quan hệ nóng lạnh trong quan trường, đều do những chi tiết nhỏ. Ta bỏ con ngựa, ấy là nghi Cảnh Thăng. Ai cũng biết lời của Thủy Kính, ta còn ở lại Kinh Châu được hay sao. Huống hồ, ta đây trí dũng đều hơn người, phòng bị cẩn mật là được. Các ngươi chớ nói ra ngoài." Vũ và Phi đều chịu phục.
     Có bữa Lưu Biểu mời Bị tới chơi, làm tiệc khoản đãi. Sái Mạo và Trương Doãn cho phục 100 vũ sĩ, đợi hiệu lệnh là đổ ra chém Lưu Bị. Có người biết mưu, báo trước cho Bị. Bị nói "Cảnh Thăng đã gọi, ta không thể không đi. Đây chắc là mưu riêng của Mạo và Doãn. Ta cứ trông cậy vào Cảnh Thăng, chắc không sao." Bèn sai Tôn Càn và Giản Ung tháp tùng tới Kinh Châu dự tiệc. 
    Tiệc được vài tuần rượu. Giản Ung mật báo với Bị "Tôi thấy hai bên vách đầy vũ sĩ của Doãn và Mạo, sát khí đằng đằng. Chắc chỉ đợi Biểu đi thay áo là sẽ hạ thủ. Thành chuyện đã rồi." Bị bèn giả bộ làm đổ rượu ướt áo và đứng dậy xin phép Biểu vào nhà xí thay áo. Nhân đó ra tàu ngựa cưỡi Đích Lư ra khỏi Kinh Châu. Quân canh cửa biết Bị thân với Biểu, nghe nói có công vụ, bèn mở cửa thành cho Bị.
     Doãn và Mạo được tin bèn mang 500 quân đuổi theo, quyết chém đầu Bị để trừ họa cho Kinh Châu. Bị chạy tới một con suối gọi là Đàn Khê, rộng bát ngát, đánh ngựa tới rồi lại lui 3 lần, lòng nôn nao, hoảng loạn, bèn quất mạnh vào Đích Lư quát "Đích Lư. Mệnh ta ở trời. Ngươi dám hai ta ư?" Vừa dứt lời, Đích Lư phóng thẳng như bay sang bờ bên kia. Bị bèn trốn thoát. Tiện đường chạy qua nhà Tư Mã Huy, kể đầu đuôi câu chuyện. Huy tắc lưỡi nói "Đúng là mệnh tướng quân ở trời."
   Sau này, khi Bàng Thống theo Lưu Bị ở Kinh Châu, khi yết kiến thấy ngựa Đích Lư mà nói "Sao tướng quân lại cưỡi ngựa Đích Lư." Bị nói "Đức Tháo cũng nói với ta như vậy. Nhưng ngựa này đã cứu người." Bèn kể lại câu chuyện Đàn Khê. Thống nói "Ngựa này tuy cứu người nhưng rồi thế nào cũng sẽ hại người. Tôi có cách chữa." Bị nói "Xin ngài cho nghe cao kiến." Thống nói "Tướng quân có thể đem tặng con ngựa trắng này cho ai đó. Đợi nó hại người xong sẽ đem về cưỡi." Bị biến sắc mặt "Ông tới đây chưa khuyên ta làm việc gì hay đã khuyên ta hại người. Ta quyết không theo." Thống bèn sụp lạy xin lỗi "Tướng quân thật là người nhân, Thống xin theo suốt đời."
      Trong chiến dịch Ích Châu, Bị cưỡi Đích Lư ra trận, quân Thục khiếp sợ, đồn nhau về thần Bạch Mã. Thống theo Bị chinh phạt, bày nhiều mưu lạ, lấy gần hết Ích Châu, chỉ còn Lạc Thành do đại tướng Thục là Trương Nhiệm đóng giữ. Thống bày mưu dụ Nhiệm ra khỏi thành để Bị đánh úp thành. Buổi sáng xuất quân, con ngựa của Thống bị ốm, Bị bèn nhường ngựa của mình cho Thống cưỡi. Nhiệm ra khỏi thành đánh nhau với quân của Thống, Bị bèn bọc hậu, chiếm lấy thành. Nhiệm thua to phải bỏ chạy, Thống đem quân đuổi theo, bắt được Nhiệm, nhưng lại bị một tên hàng quân trong tàn quân của Nhiệm bắn lén, chết ngay trên lưng ngựa Đích Lư.
      Sau này, Bị lên ngôi Hán Trung Vương, rồi lên ngôi hoàng đế, nhắc đến Thống không lần nào không hối hận và chảy nước mắt, thương tiếc khôn nguôi.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, March 10, 2020

Ninh và Liêu

Tào Tháo đem trăm vạn hùng binh hạ Giang Nam. Quân đội và thủy trại dựa vào nhau trùng điệp. Chu Du thống lãnh 5 vạn quân thủy bộ đối địch. Lỗ Túc có 3 vạn quân bộ làm lực lượng dự trữ. Ngô chúa Tôn Quyền còn 5 vạn quân đóng tản mát từ Hợp Phì tới Trường Sa. Lực lượng chênh lệch rõ rệt.
Quyền triệu tập các tướng tới thương nghị. Cam Ninh nói: "Kẻ kia mạnh, đang kiêu. Xin cho tôi đem 100 quân kỵ vào quấy phá trại Tào để giảm bớt nhuệ khí quân địch, tăng nhuệ khí quân ta." Quyền nói "100 quân khác nào trứng chọi Thái Sơn." Ninh thưa "Ta tập kích ban đêm. Địch mạnh nên không ngờ. Dẫu không phá được địch, Cũng làm cho chúng hoảng sợ một phen. Nếu mất một người tôi xin không lĩnh thưởng."
Quyền bằng lòng.
Ninh bèn đem 100 quân kỵ hăng hái nhất, ăn no, nai nịt gọn ghẽ, nhân lúc canh ba phóng thẳng vào trại Tào giết lính canh. Ninh lại cho quân nhóm vài chục đống lửa đốt cháy bùng lên rồi phóng ngựa hò reo giết mấy tên quân đang chạy ra khỏi lều. Quân Tào náo loạn, kêu la ầm ĩ, chực tan vỡ, bỏ trại mà chạy. Trương Liêu nghe cấp báo, bèn cầm đao lên ngựa, đứng trước trại, truyền quân sĩ không được náo loạn, ở nguyên tại chỗ, ai chộn rộn sẽ chém. Phút chốc Liêu đã chém hơn chục quân Tào. Trại Tào phút chốc yên ắng, chỉ còn tiếng hò reo thưa thớt của 100 ky binh của Ninh, lúc chạy sang đông lúc sáng tây, chẳng giết thêm được ai, vì quân Tào đều cầm sẵn binh khí nấp trong lều. Ninh quân ít không dám xuống ngựa vào các lều để tàn sát. Đuốc lửa lại cháy sắp kết. Ninh bèn cho quân rút lui.
Tháo thấy Liêu vững như núi đá, biến nguy thành yên, bèn cho làm đại tướng, trấn thủ Hợp Phì để cự nhau với Ngô.
Ninh về trại quân không mất một tên. Quyền mừng rỡ bèn trọng thưởng cho Ninh và nói "Ta có Cam Ninh, sợ gì Tào". Lỗ Túc nói "Ninh có công. Nhưng cách này chỉ làm được một lần. Đánh trận là do mưu kế, Quấy rối là cách của bọn cướp, há có thể làm binh pháp."

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, February 10, 2020

Thái tử Quan Bình

Quan Vũ khi sống chỉ được phong hầu. Đời sau được phong thần cấp “đế quân” nên Quan Bình cũng được phong Thái tử. Con tập tước nối nghiệp của Vũ là Hưng không tôn phong Thái tử ?
La Quán Trung theo lời truyền thuật lại Bình là con Quan Định, làm con nuôi cho Vũ. Thực tế khi còn trẻ lấy vợ người Hồ (tên chung người Trung Quốc gọi người không phải người Hoa kể cả Mãn, Mông, Hồi, Tạng và các chủng Ấn Âu một cách kỳ thị).
Khi Hồ nữ có thai sinh ra Bình thì Vũ bỏ rơi nàng. Sau này khi đã nên phú quý, Vũ chưa bao giờ công nhận nàng là vợ, nhưng nhận Bình làm con. Để che miệng đời đàm tiếu ông nhận Bình làm con nuôi, cho dù Bình là con đẻ.
Có thể việc Vũ ruồng rẫy Hồ nữ xảy ra vào khi Vũ giết người rồi lang bạt xa xứ, gặp được Trương Phi, một doanh nhân thích đọc sách binh pháp, thích võ nghệ và trượng nghĩa, bao bọc. Có thể vụ giết người đó liên quan tới Hồ nữ nên Vũ không muốn nhớ tới nàng. Cũng có người nói thời đó người Hán kỳ thị người Hồ, nên Vũ thấy xấu hổ. Thực ra có lẽ không phải vậy. Người Hán và người Hồ thông hôn từ rất sớm. Quý tộc Hán lấy vợ Hồ từ thời Chu. Đến thời Hán, hoàng tộc cũng kết hôn với người Hồ rất nhiều. Có lẽ sau này mới có chuyện kì thị.
Bình trắng trẻo, đẹp đẽ, cao lớn, võ nghệ tài giỏi, rất mực hiếu thuận và biết thị phi. Thánh Thán cho rằng Bình là tôi trung, con hiếu đề cao hết mực. Bình làm bộ tướng và mưu sĩ của Vũ, lập nhiều công lao, nhưng vì là con nên ý kiến của ông ít được xem trọng. Bình lấy Triệu Thị, con gái Triệu Vân. Tương truyền khi Kinh Châu thất thủ Triệu Thị ẵm con Bình chạy trốn, lưu lạc trong dân gian, đổi họ tên.
Khi Bàng Hội con Bàng Đúc vào Thục, bèn tru di cả gia tộc Quan Vũ để báo thù cho cha. Vì thế dòng dõi chính của Vũ ở Thục bị tuyệt diệt. Đầu đời Tấn, con trai của Bình mới đổi lại họ Quan, nhận là con cháu của Vũ. Ngày nay hội họ Quan khá đông, nhiều người thành đạt, đều nhận là dòng dõi của Bình và Vũ.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)