Showing posts with label Tư liệu chiến tranh. Show all posts
Showing posts with label Tư liệu chiến tranh. Show all posts

Monday, May 12, 2025

Xem phim: Charlie Wilson's War

 Trong nửa cuối thế kỷ 20, có hai sự kiện đã làm thay đổi thế giới: sự sụp đổ của LX và sự trỗi dậy của Hồi giáo cực đoan. Bộ phim dựng theo cuốn sách đầu tiên giải thích mối liên hệ giữa hai sự kiện này. George Crile đã dành gần một thập kỷ để nghiên cứu và viết nên bản tường thuật gốc này về cuộc chiến bí mật lớn nhất và tốn kém nhất trong lịch sử: việc trang bị vũ khí cho lực lượng kháng chiến Afghanistan chống lại sự chiếm đóng của LX. Chuyển từ các phòng bí mật trong trụ sở CIA sang các cuộc đối đầu ở đèo Khyber, Charlie Wilson’s War là một trong những mô tả chi tiết và sống động nhất về các hoạt động của CIA từng được viết. Đây là chương còn thiếu trong địa chính trị của thời đại chúng ta.

Bìa sách

Cảnh phim: Một lần gặp gỡ với các nhân viên CIA

Câu chuyện địa chính trị vẫn là truyện cổ trang lâu đời của các đế chế xưa nay. Hiện đang tiếp diễn với Putin và phương Tây ở Ukraina.

Với đế quốc LX và Nga thì ko chỉ có Afghanistan. Lịch sử DT cũng từng có câu chuyện về 1 nhà nước DT XHCN (thời Stalin). Trung Đông còn ghi nhận vai trò hậu thuẫn của LX (như là thế lực thù địch của nhà nước Israel) khi giúp đỡ cho Ai Cập và các nước Ả-rập chống Israel sau khi Israel ko đi theo con đường XHCN.

Thiết lập vùng đỏ và hệ thống thân LX sau Thế chiến thứ 2 là thắng lợi to lớn với 1 loạt các nước xhcn Đông Âu, Mông Cổ và TQ ở châu Á. Sự ra đời của Cu Ba (1949) là sự kiện cho thấy ảnh hưởng của LX tiếp tục lan đến châu Mỹ trong khi các cuộc chiến tranh/proxy wars ở Triều Tiên và VN đem lại thêm các thành quả dở dang (do sắp đặt) cho thấy những xung đột trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1947-1991) để chiếm ưu thế/vị thế chính trị giữa LX và Mỹ.

Wednesday, May 7, 2025

Viết về ngày chiến thắng

Viết cho Ngày Chiến thắng Phát xít Đức:

6 TRIỆU NGƯỜI UCRAINE RA TRẬN, 3 TRIỆU NGƯỜI KHÔNG TRỞ VỀ

Người Ukraine đã cống hiến hơn sáu triệu quân nhân, hàng triệu sinh mạng và những tướng lĩnh kiệt xuất cho chiến thắng phát xít Đức, nhưng trong suốt nhiều thập niên, công lao ấy dường như 

ít được nhắc đến dưới cái bóng quá lớn của người Nga.

Khi nhắc đến chiến thắng của Liên Xô trước phát xít Đức trong Thế chiến thứ hai, không ít người mặc định đó là chiến thắng của “người Nga”. 

Hình ảnh nguyên soái Zhukov tiếp nhận lễ đầu hàng của phát xít tại Berlin hay những đoàn xe Hồng quân tiến vào châu Âu thường bị đồng nhất với nước Nga, trung tâm quyền lực của Liên bang Xô viết khi đó. 

Nhưng nếu lần lại lịch sử bằng các con số, bằng máu và nước mắt đổ trên chiến trường, một sự thật khác hiện ra: Ukraine chính là một trong những quốc gia chịu hy sinh lớn nhất, đóng góp quyết định nhất cho thắng lợi năm 1945.

Trong số hơn 34 triệu dân Ukraine trước chiến tranh, có khoảng 6 triệu người được huy động vào Hồng quân Liên Xô, tương đương gần 18% dân số toàn quốc- một tỷ lệ khổng lồ. 

Trong số đó, hơn 3 triệu người đã ngã xuống, chiếm một phần ba tổng số thương vong quân sự của Liên Xô trong toàn cuộc chiến.

Thống kê từ Bộ Quốc phòng Ukraine cho thấy: hơn 2.000 binh sĩ Ukraine được phong danh hiệu “Anh hùng Liên Xô”, trong đó 32 người được phong hai lần và ba người được phong ba lần, con số cao nhất trong số 15 nước cộng hòa Liên Xô.

Nhưng không chỉ ở chiến tuyến, người dân Ukraine còn chịu tổn thất nặng nề trong các vùng bị chiếm đóng. Các cuộc tàn sát hàng loạt của phát xít Đức ở Kyiv, Kharkiv, Donetsk và đặc biệt là hẻm núi Babyn Yar, nơi hàng chục nghìn người Do Thái, Ukraine và Roma bị giết hại, đã biến Ukraine thành một trong những mặt trận đẫm máu nhất châu Âu.

Lật lại danh sách các chỉ huy mặt trận của Hồng quân, người ta không thể bỏ qua những cái tên mang dòng máu Ukraine:

- Rodion Malinovsky, người giải phóng Budapest, Vienna và sau này là Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô;

- Semyon Tymoshenko, chỉ huy nhiều mặt trận lớn ở Belarus và Ukraine;

- Ivan Chernyakhovsky, chỉ huy mặt trận Belorussia, vị tướng trẻ nhất lịch sử Hồng quân được phong hàm đại tướng khi mới 37 tuổi;

- Grigory Kulik, người đứng đầu pháo binh Hồng quân thời kỳ đầu chiến tranh.

Tính ra, trong 15 mặt trận chính của Hồng quân trên chiến trường Xô- Đức, hơn một nửa từng được chỉ huy bởi các tướng lĩnh người Ukraine hoặc gốc Ukraine. 

Đó không phải là một sự tình cờ, mà phản ánh vai trò chiến lược của Ukraine trong tổng thể nỗ lực chiến tranh.

Ukraine- chiến trường sinh tử của cuộc chiến:

Về mặt địa lý, Ukraine nằm trên trục xâm lược chính của phát xít Đức trong chiến dịch Barbarossa. 

Từ năm 1941 đến 1944, gần như toàn bộ lãnh thổ Ukraine bị chiếm đóng và trở thành nơi diễn ra những trận chiến ác liệt nhất: Kyiv thất thủ, Kharkiv ba lần bị chiếm và tái chiếm, Donbas trở thành trung tâm của các cuộc tấn công mùa hè đẫm máu.

Trận chiến Kharkiv năm 1943 và trận giải phóng Kyiv vào tháng 11 cùng năm là hai trong số những chiến dịch lớn nhất và tốn kém nhất của Hồng quân. 

Nhiều nhà sử học cho rằng Ukraine chính là “nghĩa trang” của các sư đoàn Đức, nơi bước ngoặt quyết định cho cuộc phản công của Liên Xô bắt đầu.

Ngoài ra, Ukraine cũng là nơi tiếp nhận và phân phối phần lớn viện trợ vũ khí từ Mỹ trong chương trình Lend-Lease qua tuyến đường Iran- Kavkazơ

Theo tài liệu từ Viện Lịch sử Quân sự Nga, Liên Xô đã nhận được từ Mỹ hơn 14.000 máy bay, 7.000 xe tăng, 400.000 xe tải, hàng nghìn đầu máy xe lửa, tàu chiến và hàng triệu tấn lương thực, nhiên liệu, vải vóc- phần lớn tập kết và vận hành qua các kho hậu cần ở vùng Krym, Odessa và Kharkiv.

Lịch sử cần nhiều hơn một tiếng nói:

Không ai phủ nhận vai trò to lớn của nước Nga và người Nga trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. 

Thủ đô Moscow từng đứng bên bờ vực thất thủ, thành phố Leningrad chịu vây hãm suốt gần 900 ngày, và người Nga là dân tộc có số thương vong nhiều nhất: khoảng 13 triệu người.

Nhưng chiến thắng không bao giờ là một nỗ lực đơn độc. Đó là kết quả của 15 nước cộng hòa, hàng trăm dân tộc, triệu triệu gia đình hy sinh xương máu cho một lý tưởng chung. 

Nếu chỉ gắn chiến thắng với một dân tộc, một quốc gia, thì không chỉ là bất công, mà còn là sai lệch lịch sử.

Thực tế là, sau khi Liên Xô sụp đổ, trong nhiều bài phát biểu chính thức của giới lãnh đạo Nga, vai trò của Ukraine thường bị làm mờ đi, thậm chí bị lãng quên. 

Năm 2010, khi còn là Thủ tướng, ông Vladimir Putin từng phát biểu: “Ngay cả khi không có sự giúp đỡ của Ukraine, chúng ta vẫn chiến thắng”. 

Câu nói ấy đã gây phẫn nộ trong giới cựu chiến binh Ukraine, những người từng sát cánh trong hầm hào Stalingrad, từng mất cha mẹ trong các trại tập trung Đức quốc xã.

Việc nhìn nhận lại vai trò của Ukraine trong Chiến tranh Thế giới thứ hai không mang mục tiêu chính trị, càng không phải để hạ thấp người Nga. 

Đó là một nhu cầu đạo lý và học thuật, nhằm tái lập công lý cho những ai đã ngã xuống nhưng không được gọi tên.

Lịch sử luôn có xu hướng được viết lại bởi kẻ chiến thắng – nhưng ở một thời đại mà thông tin ngày càng được mở rộng, những khúc xạ bị bóp méo cần được hiệu chỉnh.

Thế hệ sau có quyền được biết: trong chiến thắng năm 1945 ấy, có máu của người Ukraine – không kém gì người Nga.

Lê Thọ Bình

Wednesday, April 30, 2025

TBT Lê Duẩn và cuộc chiến tranh VN: Giai đoạn chống Mỹ

 Ông Lê Duẩn là vị tổng chỉ huy đánh thắng Mỹ Ngụy và thống nhất đất nước. (copy từ FB-Nguyen Leanh)

NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN

Những dòng này, tôi xin viết cho ông trong ngày kỷ niệm 50 năm này. Bởi vì ông xứng đáng được lịch sử cúi đầu. 

Tiêu đề bài viết được lấy cảm hứng từ bài trả lời phỏng vấn của tiến sĩ Lê Kiên Thành tròn 10 năm về trước: “Cha tôi không bao giờ biết vì sao mình là người được lựa chọn!” Người cha đó của tiến sĩ Lê Kiên Thành là Cố tổng bí thư Lê Duẩn. Vị tổng bí thư được đặt cho tên con đường chính của lễ đài diễu binh sáng nay: đường Lê Duẩn, con đường nối từ đường Thảo Cầm Viên đến dinh Độc Lập, con đường dài chưa tới 2km nhưng hiện thân cho 30 năm khói lửa của dân tộc để đi đến cái ngày non sông thống nhất. Và hành trình ấy được dẫn dắt bởi tài năng, sự quyết liệt, nỗi đau, nước mắt, nụ cười, thương tâm, hạnh phúc, gan dạ, lì lợm, khí phách của một con người gánh trên vai cả lịch sử nhưng đã chiến thắng ngoạn mục: Lê Duẩn.

Ông sinh ra ở Triệu Phong, Quảng Trị. Khi hiệp định Genevo 1954 chia cắt đất nước, quê hương của ông thuộc về bên kia vĩ tuyến. Cho nên câu nói “Giải phóng quê hương” với người khác có thể là lời nói mang tính biểu tượng. Nhưng còn với tổng bí thư Lê Duẩn, đó chính là trách nhiệm của người con Quảng Trị không thể để quê hương nằm trong tay giặc. Và ông là người con nói được làm được, dù việc ấy trong mắt thế giới chẳng khác gì “đội đá vá trời”, khi đó là 30 năm một dân tộc bé nhỏ đấu với Hoa Kỳ, bên cạnh sự kèm cặp của Liên Xô và Trung Quốc (tôi sẽ nói ở đoạn sau bài viết).

Từ năm 1930 đến 1946, ông hai lần bị thực dân Pháp bắt, hai lần bị đày ra Côn Đảo. Từ năm 1946 đến năm 1957, Lê Duẩn là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, là người tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Đến năm 1957, ông tập kết ra Bắc theo lệnh của chủ tịch Hồ Chí Minh để điều hành cuộc cách mạng Giải phóng dân tộc từ bộ máy trung ương. Cho nên hai chữ “Đồng đội” với một vị lãnh đạo khác có thể vừa xa, vừa gần, nhưng còn với tổng bí thư Lê Duẩn, đó chính là trách nhiệm của người đồng đội: “Tôi không thể bỏ rơi đồng đội ở trong Nam”.

Khát vọng thống nhất non sông của ông đến từ vũ lực, bằng khẩu súng, bằng nắm đấm không chỉ đi từ nước mắt quê hương, mà còn đi từ nước mắt đồng đội. Đó là sự khác biệt rất lớn của tổng bí thư Lê Duẩn. Cho nên nếu ta không đặt mình vào trong con người của ông, xuất thân của ông, nước mắt của ông, nỗi đau đớn khôn nguôi của ông, ta sẽ dễ dàng phán xét lố bịch về ông. Văn hào Nga Ylia Erenbua đã từng viết: “Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu con phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh... Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê đã trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

Yêu quê hương đồng đội đi đến nắm đấm sắt đánh địch để giải phóng quê hương, cứu lấy đồng đội, đó là Lê Duẩn. 

Và để làm được điều đó, Lê Duẩn xác định, muốn đánh Mỹ thì trước tiên phải có ba cái không sợ: không sợ Mỹ, không sợ Liên Xô, và không sợ Trung Quốc

Không sợ Mỹ là tất nhiên, tại sao phải không sợ Liên Xô và Trung Quốc, hai đồng minh của ông khi ấy? Ngay từ năm 1954, khi hiệp định Geneva được ký kết, Lê Duẩn đã đánh giá: “Nam Bộ không tán thành, đây là do Trung Quốc và Liên Xô ép”. Năm 1955, khi bộ đội và cán bộ cách mạng tập kết ra Bắc, ông xin ở lại miền Nam. Ngày chia tay theo lời kể lại, Lê Duẩn đã nói với Lê Đức Thọ: “Anh ra báo cáo với Bác, không phải hai năm, mà có thể phải hai mươi năm nữa, tôi mới được ra gặp Bác”. Ngay thời điểm mà nhiều người ở cả miền Nam và miền Bắc vui mừng về Hiệp định Geneve. Nhưng Lê Duẩn đã khóc rất nhiều khi nhìn những gia đình miền Nam trước khi ra Bắc tập kết hẹn 2 năm sau gặp lại. Khi được Hồ Chủ Tịch giao cho nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng miền Nam. Những người thân cận của tổng bí thư Lê Duẩn đã kể lại rằng: “Anh Ba mất ba đêm không ngủ để suy nghĩ về thái độ của Liên Xô, Trung Quốc, rằng họ giúp mình nhưng có chi phối đường lối chiến tranh của mình không? Đó là cái gay gắt nhất”. 

Và đó là lý do TBT Lê Duẩn hành động.

Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, chiến tranh bắt đầu leo thang, quân đội chính quy của miền Bắc cũng bắt đầu vượt vĩ tuyến 17, đi qua đường Hồ Chí Minh để vào nam bắt đầu trận chiến giải phóng dân tộc. Người dẫn đầu cuộc chiến này chính là vị tướng đứng đầu trong phái chủ chiến tại Quân Đội miền Bắc: tướng Nguyễn Chí Thanh. Đi sau lưng tướng Thanh là vị tướng đánh trận giỏi nhất lịch sử Việt Nam thời hiện đại: Lê Trọng Tấn. Chưa kể còn có Hoàng Cầm và Trần Độ. Bản thân TBT Lê Duẩn cũng vạch ra kế hoạch táo bạo của mình được gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy”, sau này là “Chiến dịch Quang Trung” năm 1968. Về đối nội trong Đảng, ở cương vị nắm quyền lực cao nhất Đảng, và được Bác Hồ chọn làm người kế nhiệm, TBT Lê Duẩn gần như cũng thay thế hoàn toàn nhóm “quá thân với Trung Quốc”, hoặc nhóm “quá thân với Liên Xô”. Đương nhiên cũng giống cuộc cách mạng ở ngoài chiến trường, thì cuộc cách mạng nhung này cũng có thương đau, vụ án “Xét chống lại Đảng” năm 1964 ấy về sau có lẽ cũng là một trong những lý do đẩy ông đi vào trong sự phán xét của hậu thế. Nhưng tôi nghĩ, ông chấp nhận tất cả. Chỉ có như thế, ông mới chấm dứt được những khác biệt trong quan điểm về đường lối cách mạng sau này về chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường đấu tranh vũ trang, chỉ có như thế chiếc tăng 390 mới có thể húc được cổng Dinh Độc Lập mà không bị ngăn lại bởi một cuộc điện thoại nào khi đoàn quân đang thần tốc về Sài Gòn. Nhắc lại, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Lê Duẩn, chứ không phải chọn Phạm Văn Đồng, Trường Chinh hay Võ Nguyên Giáp kế vị mình. Tướng Võ Nguyên Giáp khi lịch sử cần, cũng đã gác hết tất cả để nắm lấy binh phù, vạch binh chiến lược cho Đại thắng mùa xuân 1975. 

Quay lại câu chuyện, tất cả đều đúng với những gì TBT Lê Duẩn nhận định. Đến năm 1972, dưới bàn tay đạo diễn của Henry Kissingger, tổng thống Mỹ Nixon sang thăm Trung Quốc. Chuyến thăm không chỉ gây phẫn nộ từ Sài Gòn, mà từ Hà Nội, TBT Lê Duẩn cũng xác định được sự sáng suốt trong những hy sinh của ông từ năm 1964 (và kéo dài cho đến cả hôm nay), ông đã nhìn được lá bài của các nước lớn dành cho các nước nhỏ: họ chỉ cần lợi ích, sẵn sàng bỏ rơi đồng minh, và một Việt Nam bị chia cắt sẽ vĩnh viễn ở mãi thế chư hầu mới là điều họ cần.

Nhưng cái hay của Lê Duẩn là không vì sự nóng giận đó mà đánh mất đại cục. Suốt 30 năm chinh chiến ấy, ông không để mất lòng cả Trung Quốc lẫn Liên Xô. Vẫn tận dụng được viện trợ của cả hai cường quốc này, vẫn giữ được tính chất độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Mà nên nhớ đây là điều cực kỳ khó, tất cả các cuộc hội đàm của VN với các nước xã hội chủ nghĩa khi ấy đều chỉ nhận về những ánh mắt nghi ngờ: họ không tin VN thắng Mỹ, họ sợ chiến tranh thế giới thứ III sẽ xuất phát ở đây. Nhưng họ không đặt mình vào trong cảm giác của người Việt Nam, của Lê Duẩn, của Nguyễn Thị Bình…. Và đó là cái sai của họ. 50 năm sau, họ vẫn sai, họ vẫn phán xét TBT Lê Duẩn trong sự dũng cảm can trường mà ông và những người đồng chí của ông đi trong hành trình đầy xương máu đó, trong những mất mát của 30 năm và cả Mậu Thân 1968 để rồi lấy những Hàn Quốc, hay CHLB Đức để lên mặt dạy dỗ. Nhưng nếu nhìn cảnh cả hàng nghìn con người xếp hàng qua đêm để xem diễu binh hôm nay, để ôm lấy lá cờ tổ quốc, để khóc và được cười thì họ sẽ hiểu hơn về những con người nhỏ bé, yêu đất nước nhỏ bé này tha thiết đến dường nào. TBT Lê Duẩn âm thầm đi một con đường giữa, gai góc, nguy hiểm, đầy máu và nước mắt, đầy súng đạn gươm đao, và cả bia miệng cuộc đời, nhưng ông đã đi được. Ngoài ông, không có ai đi nổi con đường khó khăn ấy.

50 năm đủ dài để thấy TBT Lê Duẩn đã không sai, non sông đã lựa chọn ông để lèo lái dân tộc qua khúc ngoặt lịch sử ấy. Còn ông thì công lao khủng khiếp mà nhường cho người khác, chấp nhận mọi đánh giá, vẫn ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Và những bi thương lịch sử cứ để ông gánh, im lặng, không giải thích. 

Con gái ông Lê Duẩn, bà Lê Thị Muội, viết trong hồi ký: “Gần trưa 30/4/1975, tôi hay tin là ta đã chiếm Dinh Độc Lập. Tôi hấp tấp ra khỏi Viện Di truyền, phóng xe máy về nhà và lao thẳng vào phòng ba tôi. Ở đấy, một mình ba tôi đang ngồi lặng lẽ. Người ngước mắt cười với tôi, rồi nước mắt bỗng trào ra. Đột nhiên, tôi thấy thời gian như ngưng lại và ánh sáng trong căn phòng cũng không còn là thứ ánh sáng thông thường của trời đất nữa…”

Người đã mang những gánh nặng khủng khiếp đè trĩu lên vai ông, vẫn dám cõng lấy nó, để dìu dắt non sông đi đến ngày khải hoàn.

Xin kết bài bằng 2 câu thơ này, lịch sử dân tộc ta, anh hùng thì nhiều nhưng người xứng đáng với 2 câu thơ này chắc chỉ lơ thơ vài người, trong đó có TBT Lê Duẩn:

“Trả món nợ non sông trước mắt

Mặc đời sau thiên hạ luận bàn”.

(Dũng Phan, 30/4/2025)

Friday, April 25, 2025

Bên thắng cuộc của trận chiến lớn

GÓC KHUẤT LỊCH SỬ: AI LÀM NÊN CHIẾN THẮNG THẾ CHIẾN II?

80 năm trôi qua, chiến thắng chủ nghĩa Quốc xã vẫn là kỳ tích vĩ đại của nhân loại. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: Ai thực sự đứng sau chiến thắng đó? Một quốc gia "anh hùng đơn độc"? Hay hàng triệu con người từ khắp thế giới, cùng máu, mồ hôi và nước mắt? Hãy cùng lật mở những góc khuất lịch sử, nơi sự thật bị che mờ bởi tuyên truyền, để hiểu rõ hơn về công lao của cả nhân loại và để không ai bị lãng quên.

Một chiến thắng không của riêng ai

Thế chiến II là cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử, cướp đi hàng chục triệu sinh mạng. Để đánh bại cỗ máy chiến tranh của Hitler, cả thế giới đã chung tay:

Liên Xô với máu và lửa trên mặt trận phía Đông.

Hoa Kỳ với nguồn lực hậu cần khổng lồ, là "lá phổi" của chiến tranh.

Vương quốc Anh với những phi công quả cảm và chiến dịch trên không, trên biển.

Ukraine, trái tim quả cảm của Hồng quân, với hàng triệu người hy sinh.

Và hàng chục quốc gia khác, từ du kích Pháp đến lính Australia, từ công nhân Canada đến dân quân Trung Quốc.

Nhưng tại sao, 80 năm sau, nhiều người vẫn chỉ nghe về "chiến thắng của một quốc gia"? Tại sao công lao của Ukraine, của Mỹ, của Anh bị lu mờ? 

Hiểu rõ về sự thật không phải để chỉ trích, mà để khai sáng và tôn vinh tất cả những người đã hy sinh.

Sức mạnh liên minh: Công lao của cả thế giới

1. Liên Xô – Bức tường thép bất khuất

20 triệu người Liên Xô thiệt mạng, từ binh sĩ đến dân thường. Các trận chiến như Stalingrad hay Kursk đã trở thành biểu tượng của lòng quả cảm.

Người dân Liên Xô không chỉ chiến đấu vì quê hương, mà vì cả thế giới tự do. Họ là ngọn lửa không bao giờ tắt trước mũi súng Đức Quốc xã.

2. Hoa Kỳ - "Nhà máy" của chiến thắng

Chương trình Lend-Lease (cho vay - cho thuê): Mỹ cung cấp cho Liên Xô, viện trợ trị giá 10,8 tỷ USD (tương đương 160 tỷ USD hiện nay), bao gồm:

* 22.150 máy bay (như P-39 Airacobra, giúp Hồng quân chiếm ưu thế trên không).

* 12.700 xe tăng (Sherman, Valentine, tăng cường sức mạnh cơ giới).

* 375.883 xe tải (Studebaker, "con ngựa thồ" của Hồng quân).

* 4,5 triệu tấn thực phẩm, cứu đói hàng triệu binh sĩ và dân thường.

Lời thú nhận từ Liên Xô: Stalin từng nói tại Hội nghị Tehran (1943): "Không có Lend-Lease, chúng tôi đã thua cuộc chiến." Nguyên soái Zhukov cũng thừa nhận: "Không có xe tải và thép Mỹ, chúng tôi không thể tiếp tục chiến tranh."

Mặt trận Thái Bình Dương: Mỹ ngăn Nhật Bản tấn công Liên Xô từ phía Đông, giúp Hồng quân tập trung vào Đức.

3. Vương quốc Anh và các đồng minh – Những chiến trường thầm lặng

Trận chiến Đại Tây Dương: Hải quân Anh và đồng minh tiêu diệt tàu ngầm Đức, bảo vệ các tuyến vận chuyển Lend-Lease đến Liên Xô.

Ném bom chiến lược: Máy bay Anh-Mỹ phá hủy nhà máy, cầu đường Đức, làm suy yếu hậu cần của Hitler.

Chiến dịch châu Phi và Ý: Làm phân tán lực lượng Đức, giảm áp lực cho mặt trận phía Đông.

4. Ukraine – Trái tim bị lãng quên của Hồng quân.

10 triệu người Ukraine (nửa tổng số người Liên Xô thiệt mạng) đã ngã xuống. 6 triệu binh sĩ và sĩ quan Ukraine chiến đấu trên khắp các mặt trận.

Hơn nửa số mặt trận Liên Xô do các nguyên soái Ukraine chỉ huy, như:

Semyon Tymoshenko, người dẫn dắt các chiến dịch then chốt.

Rodion Malinovsky, bậc thầy chiến thuật.

Ivan Chernyakhovsky, vị tướng trẻ tuổi tài ba.

Danh hiệu Anh hùng: 2.069 binh sĩ Ukraine được phong Anh hùng Liên Xô, chiếm 1/3 số người được phong nhiều lần.

Góc khuất lịch sử: Sự thật bị tuyên truyền che mờ

1. Tuyên truyền của Liên Xô và Nga hiện nay

Liên Xô không muốn thừa nhận công lao của các nước tư bản như Mỹ hay Anh, vì điều đó mâu thuẫn với câu chuyện "chủ nghĩa xã hội chiến thắng"- Ý thức hệ Chiến tranh Lạnh

Niềm tự hào dân tộc: Sau chiến tranh, Liên Xô và Nga hiện đại xây dựng hình ảnh "người hùng đơn độc', giảm nhẹ vai trò của Lend-Lease và các đồng minh.

Kết quả: Các tài liệu chính thống hiếm khi nhắc đến 76% đồng hay 106% nhôm từ Mỹ, hay vai trò của các chiến dịch Anh-Mỹ ở châu Phi, Ý.

2. Công lao Ukraine bị xóa nhòa

Sự thật lịch sử: Ukraine là lực lượng nòng cốt của Hồng quân, nhưng công lao của họ bị xem nhẹ sau chiến tranh.

Tuyên bố gây sốc của Putin (2010): "Nếu không có Ukraine, chúng ta vẫn chiến thắng."  Phát ngôn này không chỉ phủ nhận 10 triệu người Ukraine hy sinh, mà còn xúc phạm hàng triệu tướng sĩ đã dẫn dắt Hồng quân.

Hậu quả: Lịch sử bị bóp méo, tạo ra huyền thoại "chiến thắng của riêng Nga", trong khi Ukraine – trái tim của Liên Xô – bị đẩy vào bóng tối.

3. Những mảng tối khác

Hiệp ước Molotov-Ribbentrop (1939): Stalin từng bắt tay Hitler chia đôi Ba Lan, vô tình châm ngòi cho Thế chiến II. Sự thật này hiếm khi được nhắc đến trong sách giáo khoa Liên Xô.

Tuyên truyền hậu chiến: Liên Xô cố tình giảm nhẹ vai trò của đồng minh để củng cố vị thế chính trị, tạo ra một câu chuyện lịch sử "một chiều".

Bài học lịch sử: Tôn vinh sự thật, tránh lặp lại sai lầm

Chiến thắng là của cả nhân loại: Không có Hồng quân, không có Lend-Lease, không có phi công Anh hay du kích Pháp, chiến thắng có thể đã không xảy ra. Mỗi người, từ người lính Ukraine trên chiến hào đến công nhân Mỹ trong nhà máy, đều là một mảnh ghép của kỳ tích.

Khi lịch sử bị bóp méo, nó không chỉ xúc phạm những người hy sinh, mà còn gieo mầm chia rẽ, hận thù.

Mỗi chúng ta cần có trách nhiệm khám phá để hiểu, đừng chỉ tin vào một câu chuyện lịch sử. Hãy khám phá các góc khuất để hiểu toàn cảnh: Từ người lính Ukraine đến phi công Anh, tất cả đều xứng đáng được nhớ đến.

Cảnh giác với "anh hùng đơn độc". Những câu chuyện thần thánh hóa thường che giấu sự thật.

80 năm sau Thế chiến II, hãy cùng nhau ghi nhớ: Chiến công không thuộc về một quốc gia nào, mà thuộc về cả nhân loại. Đừng để tuyên truyền che mờ sự thật. Hãy tôn vinh tất cả những người đã hy sinh – người lính Nga, người lính Ukraine trên chiến trường, công nhân Mỹ trong nhà máy, phi công Anh trên bầu trời.

Cùng nhau, chúng ta có thể khai sáng nhận thức, để lịch sử không chỉ là câu chuyện của kẻ mạnh, mà là bài ca của cả nhân loại.

Duc Tu Duong

Sunday, November 3, 2024

Bộ trưởng Hoàng Minh Giám - Một tấm gương vì Tổ quốc

Nhớ lại ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh có lẽ không ai có thể quên cái tên Hoàng Minh Giám - trợ thủ tin cậy của Bác Hồ về đối ngoại và là một trong những “tư lệnh” đáng kính của ngành Ngoại giao.

Những ngày cuối Thu, sắp đến kỷ niệm 120 năm Ngày sinh cố Bộ trưởng Hoàng Minh Giám (4/11/1904-4/11/2024), câu chuyện về vị “tư lệnh” ngành đáng kính bình dị lại ùa về…

Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám đón tiếp đại diện Đảng Cộng sản Pháp Leo Figuene tại Việt Bắc, năm 1950. (Ảnh tư liệu)

“Mối duyên” khởi nguồn từ niềm tin của Bác

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, lúc chưa họp Quốc hội khóa I, Bác Hồ là Chủ tịch Chính phủ lâm thời kiêm luôn chức Bộ trưởng Ngoại giao.

Văn phòng của Bác cần một người giúp việc phụ trách quan hệ với Pháp. Vì vậy, ông Võ Nguyên Giáp (khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ) tiến cử ông Hoàng Minh Giám. Sắc lệnh đầu tiên mang số 01 do đồng chí Võ Nguyên Giáp thừa lệnh Chủ tịch Chính phủ lâm thời ký ngày 30/8/1945 là bổ nhiệm ông Hoàng Minh Giám làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ.

Tuy chưa từng chính thức đảm nhiệm chức vụ về ngoại giao nhưng trong những tháng ngày giúp việc Bác Hồ tại Văn phòng, ông Hoàng Minh Giám nhiều lần làm công tác đối ngoại. 16 giờ 30 phút ngày 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội, sau những ngày đêm thương lượng khó khăn, quyết liệt, Hiệp định sơ bộ Việt Nam - Pháp được ký kết. Ông Hoàng Minh Giám là người đã tham gia tổ chức và đọc dự thảo bản Hiệp định bằng tiếng Pháp trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Jean Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp ký. Đây là bản điều ước quốc tế đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã giúp cho Việt Nam tạm hòa hoãn với Pháp để quét sạch 200.000 quân Tưởng và bè lũ tay sai về nước, dành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến.

Ngày 10/9/1946, Hội nghị Fontainebleau kết thúc trong bế tắc do lập trường ngoan cố của phía Pháp. Trước khi lên đường về nước, Bác Hồ cử ông Hoàng Minh Giám làm Trưởng Phái đoàn đại diện của Chính phủ Việt Nam cùng hai ông Dương Bạch Mai và Trần Ngọc Danh tiếp tục ở lại Pháp. Thời gian này, ông Hoàng Minh Giám đã có nhiều hoạt động ngoại giao quan trọng, tranh thủ sự ủng hộ của Đảng Xã hội Pháp, đại diện cho Đảng Xã hội Việt Nam đặt quan hệ với Công đảng Anh. Để làm nhiệm vụ do Bác Hồ giao, ông có một số thuận lợi, lúc đó ở Pháp nhiều người biết ông là Thứ trưởng Bộ Nội vụ và được Bác Hồ tín nhiệm. Trong hồi ký của mình, Sainteny ví ông Hoàng Minh Giám là “cái bóng” của Hồ Chủ tịch.

Sau khi thành lập Chính phủ mới, tháng 11/1946, lần thứ hai, Bác Hồ là Chủ tịch nước kiêm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Quốc hội và Bác cử ông Hoàng Minh Giám làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tháng 3/1947, trên đường lên chiến khu Việt Bắc, ông Hoàng Minh Giám nhận được tin làm Bộ trưởng Ngoại giao qua báo Cứu quốc. Mối duyên với ngoại giao của ông Hoàng Minh Giám được nối dài từ chính sự tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và có thêm nhiều cơ hội để phát huy tài năng trời phú trong hoạt động ngoại giao.

Tài năng ngoại giao trời phú

Những hoạt động đối ngoại của Bộ trưởng Hoàng Minh Giám ở núi rừng chiến khu Việt Bắc cũng là những trang sử đầy ý nghĩa của ngành Ngoại giao trong những năm tháng khó khăn của đất nước. Bộ trưởng từng tiếp ông Léo Figuère, đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Pháp sang thăm khu căn cứ kháng chiến Việt Bắc ngày 15/5/1950. Ông đã tham gia tích cực Đại hội thành lập Liên minh Việt – Miên – Lào tháng 3/1951. Trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hoàng Minh Giám đã chỉ đạo ngành Ngoại giao làm tốt chức năng tham mưu, hoàn thành xuất sắc việc thiết lập những mối quan hệ ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thế giới, thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và Liên Xô tháng 1/1950.

Tháng 5/1947, Bộ trưởng Ngoại giao tháp tùng Bác Hồ tiếp Giáo sư Paul Mus, Đặc phái viên của Cao ủy Emile Bollart tại thị xã Thái Nguyên. Đây là cuộc tiếp xúc ngoại giao chính thức cuối cùng giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp cho đến Hội nghị Geneva 1954 về chấm dứt chiến sự lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tháng 10/1954, theo ủy quyền của Bác Hồ và Trung ương, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Bắc Kinh dự kỷ niệm lần thứ V Quốc khánh Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1/10/1949–1/10/1954). Bộ trưởng Hoàng Minh Giám đã góp phần tích cực xây dựng tổ chức ban đầu Bộ Ngoại giao trên an toàn khu Việt Bắc.

Các cơ quan bộ ở Việt Bắc lúc đó có rất ít người. Bộ Ngoại giao cũng chỉ có vỏn vẹn bảy cán bộ, đông nhất là Văn phòng của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khoảng 30 đến 40 người. Phần lớn các bộ đóng trụ ở A.T.K Sơn Dương, một số bộ phận khác đóng rải rác ở các tỉnh xung quanh. Trụ sở Bộ Ngoại giao lúc đó đóng gần một làng hẻo lánh cách huyện lỵ Sơn Dương khoảng 11km. Từ Bộ Ngoại giao đi một quãng thì tới con suối Lê, qua suối Lê đi tiếp một đoạn nữa thì tới xã Tân Trào, nơi có đình Tân Trào – địa điểm Bác và Trung ương Đảng triệu tập họp Quốc dân đại hội và ra Lệnh tổng khởi nghĩa tháng 8/1945.

Sau ngày miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, ông Hoàng Minh Giám đã tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nhiều nước ở Đông Nam Á và ở các châu lục Á – Âu, tham dự nhiều hội nghị quốc tế, qua đó đóng góp tích cực vào việc tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa nước ta và các nước bạn bè, anh em.

Vị tướng bốn sao của Pháp Raoul Salan từng viết trong hồi ký những dòng cảm phục tài năng của nhà ngoại giao Hoàng Minh Giám rằng: “Ông Giám là nhà ngoại giao có tài tranh luận ứng khẩu tại bàn hội nghị, mẫu mực về sử dụng tiếng Pháp đạt đến mức tinh tế, thấu lý, đạt tình và đối phương chỉ có thể chấp nhận mà không thể phản bác nếu còn muốn thảo luận nghiêm túc”.

Hội nhập quốc tế về văn hóa

Hơn 20 năm trên cương vị Bộ trưởng Văn hóa (1954-1976), với tài năng và đức độ, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám đã gìn giữ và phát huy hồn cốt của dân tộc. Ông chính là người đặt nền móng trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ông đã phát triển văn hóa ở các địa phương, đơn vị sản xuất ở miền Bắc, trở thành vũ khí để cổ vũ, động viên công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, khích lệ khát khao giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Nhà thơ Huy Cận từng nhấn mạnh: “Giáo sư Hoàng Minh Giám là người có công lớn trong việc phục hồi các loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương mà đến hôm nay trong hội nhập phát triển ta mới thấy tầm vóc, tư tưởng đó là hoàn toàn đúng đắn”.

Đặc biệt, Giáo sư Hoàng Minh Giám có tầm nhìn sâu rộng về hội nhập quốc tế về văn hóa, ngoại giao văn hóa. Ông đã ký 54 nghị định thư về trao đổi văn hóa giữa nước ta với các nước, cử 98 đoàn văn hóa ra nước ngoài công tác và biểu diễn, đón tiếp 110 đoàn văn hóa nghệ thuật của nước ngoài vào công tác, biểu diễn, đưa văn hóa Việt Nam tới các nước để giới thiệu và quảng bá.

Có thể nói, ông Hoàng Minh Giám đã cùng đất nước đi trọn chặng đường lịch sử, ở cương vị nào ông cũng tận lực, tận tâm phụng sự Tổ quốc và đồng bào. Chúng ta sẽ mãi nhớ về ông như một tấm gương sáng của trí thức Việt Nam, một nhà văn hóa kiệt xuất, một người cộng sản chân chính, một trợ thủ đắc lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một nhà ngoại giao tài năng, kiên định với tầm nhìn sâu rộng. Những cán bộ ngoại giao hôm nay luôn khắc ghi những trang sử ngoại giao trong những giai đoạn gian khó nhưng vẻ vang và hào hùng của thế hệ ngoại giao Hồ Chí Minh, trong đó có vị “tư lệnh” ngành Hoàng Minh Giám, để viết tiếp những khát vọng Việt Nam.

Phương Hà (Thế Giới & Việt Nam)

Friday, November 1, 2024

Cuộc chiến tranh VN (Giai đoạn Chiến tranh đặc biệt)

Hoàng Giang: Kỷ niệm ngày 1/11/1963, ngày các tướng lĩnh VNCH lật đổ và giết chết ông Diệm theo lệnh của CIA và sau đó viên sĩ quan CIA Lucien Emile Conein đã trao 3 triệu đồng “thù lao” cho việc ám sát này. Vâng, Judas bán Chúa được 30 đồng đó thôi.
Về lý do để lật đổ ông Diệm ông Nhu thì lý do thuyết phục nhất là cả 2 ông quyết định bắt tay với VNDCCH để cùng chung tay xây dựng đất nước và chấm dứt sự can thiệp của Mỹ tại miền Nam VN.
Thật tiếc cơ hội hoà bình đã bị bỏ lỡ để rồi 5 triệu đồng bào ngã xuống vì bom đạn của các bên và nên nhớ đến những pháo đài bay B52 đã rải số bom đạn 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima.
Chúng ta có tha thứ nhưng đừng bao giờ quên.
Hôm nay nên có tưởng niệm cho cái chết của 2 ông Diệm và Nhu.

NGƯỜI TA NÓI GÌ VỀ CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM? 

Những nhận xét từ các phía khác nhau vào những thời điểm khác nhau giúp chúng ta hiểu phần nào nguyên nhân và hậu quả của cuộc đảo chính năm 1963 đối với Việt Nam và thế giới.
***
1 - Ông Rufus Phillips, một nhân viên CIA, nhưng phản đối đảo chính, đã vào Dinh Gia Long; ông đau buồn và phẫn uất thốt lên rằng: “Tôi muốn ngồi xuống và khóc. Và tôi rất buồn khi nghe tin ông ấy đã bị giết ... Đó là một quyết định ngu xuẩn! Chúa ôi! Chúng con phải trả giá! Họ phải trả giá! Mọi người phải trả giá!”.

2 - Ông Trần Kim Tuyến, Nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị, một cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng Hoà, nói: “Ai ở gần Ngô Đình Diệm cũng đều biết rằng đối với ông, vấn đề chủ quyền của Việt Nam là vấn đề căn bản. Không có chuyện đánh đổi chủ quyền để lấy viện trợ ngoại quốc”. 

3 - Ông Hoàng Ngọc Thành, sử gia, nói: “Người yêu nước thực sự Ngô Đình Diệm có thái độ quyết liệt trong việc bảo về chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Thái độ này làm chính quyền Mỹ John F. Kenedy mưu toan đảo chính và sát hại ông và biến Miền Nam thành một “xứ bảo hộ” của Hoa Kỳ”.

4 - Ông Geoffrey Shaw, sử gia, nói: “Đúng là ông Diệm, gia đình ông ta và chế độ của ông còn lâu mới hoàn hảo; tuy nhiên, ông là hạng người hiếm có ở Miền Nam Việt Nam thời bầy giờ: Ông là một lãnh tụ hợp pháp, một lãnh tụ thuần Việt, có óc bảo tồn truyền thống và có tinh thần quốc gia. Kẻ thù của ông biết rằng một cuộc khủng hoảng lớn là cần thiết để hạ bệ ông khỏi vai trò làm rường cột của quốc gia”.

5 - Tướng Dương Văn Minh, Trưởng nhóm tướng lãnh đảo chính và là người được cho là đã trực tiếp ra lệnh giết ông Diệm, cho biết nguyên nhân như sau: “Chúng tôi không có giải pháp nào khác. Các ông ấy phải bị giết. Chúng tôi không thể để ông Diệm sống được vì ông được những người dân quê mộc mạc, chất phác quá sùng kính, đặc biệt là những người Thiên Chúa giáo di cư. Chúng tôi phải giết ông Nhu vì ông ta quá đáng sợ và ông đã tạo nên những tổ chức làm khí giới cho quyền lực riêng của ông”.

6 - Ông Trần Văn Hương, Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà: “Các tướng lãnh lãnh đạo cuộc đảo chánh đã quyết định ám sát TT Diệm và bào đệ của ông vì họ sợ chết. Các tướng lãnh này biết rõ ràng họ không có tài, không có đức, không có hậu thuẫn chính trị nào cả, họ không thể ngăn cản sự trở lại cầm quyền ngoạn mục của TT và ông Nhu nếu các vị này còn sống”.

7 - Bà Ngô Đình Nhu nói ngày 5 tháng 11 năm 1963 với báo chí Hoa Kỳ: “Ai là đồng minh của Mỹ thì không cần kẻ thù nào nữa! Tôi có thể tiên đoán với quý vị rằng câu chuyện ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu!”. Theo sử gia B. Shaw thì “lời nói của bà đã được chứng minh là có tính tiên tri.”.

8 - Đại uý Đỗ Thọ, sĩ quan tuỳ viên của ông Diệm, nói: “Lịch sử sẽ viết rằng: Hoa Kỳ đã mượn tay tướng lãnh giết Tổng thống Ngô Đình Diệm. Mai hậu công lao của Tổng thống Diệm to tát sẽ được người người ca tụng như Tổng thống Lincoln của người Hoa Kỳ”.

9 - Linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng tiên khởi Viện Đại học Huế, nói: “Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam. Những hỗn loạn chính trị, những thất bại quân sự sau ngày 1.11.1963 đã trả lời cho câu hỏi đó”.

10 - Ông Ngô Đình Châu, một viên chức Việt Nam Cộng Hoà và là một chứng nhân, nói: “Cuộc đảo chánh mở cửa cho cuộc chiến tranh toàn diện; cuộc chiến quốc - cộng trở nên lằn ranh hằn sâu lên tâm trí và thân xác con người Việt Nam cho đến hôm nay. Biến cố đó đã mở toang cho thú tính hoành hành, cho thói vô chính phủ lên ngôi”.

11 - Tổng thống Lyndon B. Johnson nói: “Chúng ta đã giết ông ấy! Chúng ta đã liên kết với nhau và với bọn côn đồ trời đánh thánh vật để âm mưu ám sát ông ấy. Và kể từ đó đến giờ chúng ta không còn sự ổn định chính trị thực sự nữa”.

12 - Tổng Thống R. Nixon: “Tổng thống Diệm ổn định Miền Nam như viên đá đỉnh vòm giữ cho vòm nhà đứng vững. Chỉ khi nào tảng đá đỉnh vòm kia bị lấy đi, người ta mới thấy nó quan trọng”.
 “Chúng ta đã không lường được hậu quả của việc chúng ta đã trợ giúp cho một cuộc đảo chánh quân sự để lật đổ nhà lãnh đạo có tài năng của Miền Nam Việt Nam là Tổng thống Diệm; điều đó đã dẫn đến những năm đầy bất ổn, suy yếu về chính trị. (…) Ít nhất ông Diệm đã điều khiển đất nước ông theo một chiều hướng đúng đắn”.

13 - Tổng thống Tưởng Giới Thạch nói: “Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề về sự ám sát xấu xa này, Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp. Tôi khâm phục ông Diệm, ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm nữa mới tìm được một người lãnh tụ cao quý như vậy”.

14 - Tổng thống Pakistan: Ayub Khan, nói với Tổng thống R. Nixon sau này: “Cuộc thảm sát Tổng thống Ngô Đình Diệm đã khiến cho các lãnh tụ Á châu rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng minh với Hoa Kỳ thật nguy hiểm. Có lợi hơn là đứng ở thế trung lập. Có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ”. 

15 - Nhà thơ-Giáo sư Nguyên Sa (Trần Bích Lan) nói: “Ngay khi ông Diệm bị ám át cùng với bào đệ của ông, quan niệm phổ biến là một chế độ độc tài gia đình trị đã sụp đổ. Sự sụp đổ của những người kế tiếp ông Diệm, với vóc dáng bé nhỏ của những Thiệu, những Kỳ, những Quang, những Có, những Minh, những Đôn bên cạnh ông Diệm, bỗng dưng mang lại cho Cố Tổng thống Diệm những hào quang mới. Các sử gia, những nhà bình luận chính trị Mỹ bỗng khám phá ra rằng người Mỹ có dính dáng trong vụ lật đổ ông Diệm, có dính dáng trong cuộc đảo chánh đó, chính là một sự sai lầm. Người Mỹ gần như thú nhận rằng, nếu ông Diệm không bị vật ngã từ phía sau, nước Mỹ hẳn đã không bị sa lầy trong cuộc chiến tranh đầy buồn phiền, Miền Nam không có một triệu chứng nào cho thấy đương nhiên rơi vào tay cộng sản”.

16 - Ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nói với nhà báo cộng sản Wilfred Burchett khi nghe tin ông Diệm bị giết chết: “Tôi không thể ngờ rằng tụi Mỹ ngu đến thế”.

17 - Tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nói: “Chính sách Kennedy ở Việt Nam sai lầm hết chỗ nói. Ngô Đình Diệm là một người có tinh thần quốc gia, không khi nào ông chịu để cho người Mỹ dành quyền điều khiển chiến tranh, và sự người Mỹ dành quyền đã đưa người Mỹ đến thất bại đắt giá. Cho nên, kết quả của cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 là sự kết thúc sớm [sự hiện diện] Hoa Kỳ ở Việt Nam, một điều đáng làm cho người ta ngạc nhiên!”.

18 - Ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam nói: “Sự lật đổ Diệm là một món quà mà Trời ban cho chúng tôi”.

19 - Ông Trần Nam Trung, Uỷ viên Trung ương Cục Miền Nam, Uỷ viên Quốc phòng Mặt trận Giải phóng Miền Nam nói: “Tụi Mỹ quyết định đổi ngựa giữa dòng. Chúng sẽ không khi nào tìm được một người hữu hiệu hơn Diệm”.
Cha Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT
—————
HỒ SƠ MẬT VỀ VIỆC MỸ CHỦ MƯU ĐẢO CHÁNH

Tiền thưởng của Mỹ đã được chia chác như thế nào?



Phóng ảnh số 2 không được rõ nên chúng tôi xin đọc và ghi lại như sau:

Tất cả số tiền 1.550.000$ trên đây đều có biên nhận, (đính kèm).
Như vậy còn lại 1.450.000$ Trung Tướng cũng tặng cho anh em nhưng không có ký nhận.
Nếu tôi nhớ không lầm thì Trung Tướng đã tặng cho các ông sau đây:
Trung Tướng Dương Văn Minh
Trung Tướng Lê Văn Kim
Trung Tướng Tôn Thất Đính
Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có
Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám
Trung Tướng Nguyễn Khánh
Trung Tướng Đỗ Cao Trí.

Đó là những ai đã nhận tiền của Mỹ qua trung gian Trần Văn Đôn vì đã "có công lớn" trong cuộc đảo chánh. Tại sao mãi đến năm 1971 Trần Văn Đôn mới làm sáng tỏ việc này? Tại vì lúc đó Đôn ra tranh cử vào Quốc Hội, bị chất vấn nên Đôn ra lệnh cho sĩ quan chánh văn phòng làm phiếu đệ trình này cho Đôn để Đôn phân bua với công luận.

Rất nhiều chiến hữu của tôi đã nói với tôi rằng quân nhân các cấp trong vụ đảo chánh chỉ thừa hành mệnh lệnh thượng cấp. Vậy nên khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ rồi thì đáng được đền bù công lao một cách tương xứng, và những kẻ nói trên nhận tiền của Mỹ là để khao quân.
Xin hỏi, nếu muốn khao quân thì tuỳ ý, nhưng tại sao phải nhận tiền của Mỹ để khao quân? Nuốt vào bụng những thứ do đồng tiền nhuộm máu mà Mỹ ban cho, liệu có để lại nợ máu cho con cháu mình hay là không?

Chúng ta còn nhớ rằng sau khi Thiếu Tướng Trình Minh Thế đã đồng ý về hợp tác với Chính Phủ Quốc Gia, Edwad Lansdale đã đem một số Mỹ-kim lên Tây Ninh trao cho ông để giúp thêm về trang bị. Được tin này, ông Ngô Đình Nhu đã chỉ trích Lansdale một cách gay gắt, rằng Lansdale làm như thế có ý muốn nói rằng Tướng Trình Minh Thế vì ham lợi mà về hợp tác với chính quyền.

Khiet Nguyen

Sunday, September 15, 2024

Tin buồn


Thủ Trưởng Đặng Quốc Bảo đã ra đi. 

Nếu không có bộ trưởng Tạ Quang Bửu và thiếu tướng Đặng Quốc Bảo, thì tôi có thể đã nằm ở một trong những nghĩa trang liệt sĩ. Tôi đã không chết, tức là có ai đó đã chết thay. 

Ngày ấy chiến tranh rất khốc liệt. Chúng tôi ai cũng phải vào lính. Tôi không bị gửi ra chiến trường mà lại được học những kiến thức cơ bản về toán và được gửi ra nước ngoài để đào tạo. Ngày ấy, Thủ Trưởng nói với tôi: "có một số người, tổ chức không đủ khả năng để phân công, nên tôi phải tự chọn ngành để học, và tự chọn nước để học". Tôi có thể tới bất kể nước nào trong số các nước XHCN ngày ấy để học bất kể ngành gì. 

Thời gian trôi đi, đất nước hòa bình và phát triển. Nhiều thứ lùi về dĩ vãng. Nhắc lại những kỷ niệm tuổi trẻ thì bị cho là lẩm cẩm. Thủ trưởng ra đi, nhiều kỷ niệm cũng ra đi theo. Cuộc sống nó thế. 

Lúc nào em cũng là người lính.

Xin vĩnh biệt Thủ Trưởng.

Nguyen Le Anh

Friday, August 30, 2024

Chiến tranh thông tin và Tác chiến điện tử

Chiến tranh Việt Nam đã mang lại cho người Mỹ hai món quà quý giá. Món quà thứ nhất là "Chiến tranh thông tin", và món quả thứ hai là "Tác chiến điện tử". 

Chiến tranh thông tin là tìm cách thay đổi nhận thức của số đông người dân, làm cho họ mất khả năng nhận biết ra sự thật, khiến họ hoang mang mà dẫn đến biểu tình náo loạn buộc chính quyền phạm sai lầm, thậm chí bị lật đổ. "Tổng tấn công Mậu Thân 68" là cuộc chiến tranh Thông Tin đầu tiên trong toàn bộ lịch sử của nhân loại, và nó được thực hiện thành công! 

Cụ thể như sau. 

Do có năng lực kinh tế lớn nên Mỹ thực thi chiến lược xây dựng các khu định cư cho nông dân. Bằng cách này Mỹ sẽ phân tách người dân miền Nam ra khỏi quân đội chủ lực Bắc Việt. Bộ đội Bắc Việt vào tới miền Nam thì đồn trú ở trong rừng. Hậu cần và trinh sát thường là phụ thuộc vào người dân địa phương. Việc thực thi kế hoạch Bình Định và việc đánh phá các tuyến đường tiếp tế (hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh -- Binh đoàn 559 được Bác Hồ cho thành lập tháng 5 năm 59. Đây là binh đoàn có nhiệm vụ xây dựng và vận chuyển quân cũng như lương thực, trang thiết bị vũ khí từ Bắc vào Nam) đã khiến cho các đơn vị chủ lực của Bắc Việt bị cô lập ở trong rừng sâu. Vào thời điểm này Trung Quốc và Liên Xô đánh nhau lớn ở biên giới. Trung Quốc ngừng hoàn toàn tiếp viện cho Bắc Việt Nam. Các chuyến tàu tiếp viện tới từ Liên Xô bị Trung Quốc chặn lại. 

Ở bước đường cùng "cá nằm trong lưới", vào năm 1968 Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp được đưa ra nước ngoài dưỡng bệnh, Lê Duẩn ra lệnh thực hiện tổng tấn công. Đó là trận tổng tấn công mang tên "Tổng tấn công Mậu Thân 68". Đây là sự kiện bất đắc dĩ, không đánh cũng chết, mà đánh thì rõ ràng là chết. "Tổng tấn công Mậu Thân 68" đã khiến cho lực lượng Giải Phóng bị thiệt hại nặng. Toàn bộ các quân đoàn chủ lực của Bắc Việt ém ở các vùng rừng núi bị quân Mỹ và quân Ngụy Sài Gòn đánh cho tan nát. Tất cả các lực lượng thân Cộng Sản Bắc Việt nằm vùng bị bại lộ, bị tiêu diệt, và bị bắt nhốt tù. 

Tuy nhiên vào thời gian ấy, nhằm giành thị phần người xem (để quảng cáo lấy tiền), các hãng truyền thông của Mỹ đã đua nhau đưa tin chiến sự "Mậu Thân 68". Cứ vài phút một lần các ti vi của Mỹ lại đưa đi đưa lại clip "Lực lượng Việt Cộng đánh chiếm Đại Sứ Quán Mỹ". Tiếng trực thăng cặp... cặp... cặp... cặp, gây ra cảm giác hoảng hốt, cứ như là chiến tranh lan tới Mỹ. Điều này đã khiến cho các đối tượng trốn lính và những kẻ vô gia cư tạo ra các cuộc tuần hành phản đối chiến tranh. Các cuộc tuần hành bùng phát trên khắp nước Mỹ. Người dân Mỹ nghi ngờ sự trung thực của chính quyền Mỹ trong việc thực thi chiến tranh ở Việt Nam. Hạ Viện và Thượng Viện Mỹ đã buộc chính quyền Mỹ chấm dứt chiến tranh. 

Như thế Mỹ đã thua do không thể ngờ được đòn đánh lại từ sức mạnh tổng hợp. Mỹ đã nhanh chóng học được công nghệ Chiến Tranh Thông Tin và vận dụng thành công ở dạng cách mạng Màu, và đã lật đổ được chính quyền ở hàng loạt các nước, trong đó có các nước XHCN Đông Âu.  

Khái niệm tác chiến điện tử xuất hiện khi máy bay Mỹ bị lính Bắc Việt sử dụng tên lửa của Liên Xô bắn cho rơi quá nhiều. Vào thời gian giữa những năm 60 của thế kỷ trước, cứ thấy chớp tên lửa bắn lên là phi công Mỹ bấm nút nhảy dù, vì không có đủ thời gian suy nghĩ. Máy bay Mỹ bị bắn rơi quá dễ và nhiều tới mức các tỉnh thành tính chuyện đếm máy may bay vào tỉnh mình để khai báo số máy bay rơi. Trước bối cảnh như vậy người Mỹ đưa ra ý đồ "tác chiến điện tử". Trên thực tế thì bản thân tác chiến điện tử cũng là một khái niệm mới. Vào thời gian đầu người Mỹ hình dung nó gồm 4 công đoạn. Công đoạn thứ nhất là thu thập dữ liệu thực tế, công đoạn thứ hai là truyền về trung tâm tính toán để xử lý dữ liệu, công đoạn thứ ba là đưa ra phương án tối ưu và truyền phương án tới phi công, và công đoạn cuối cùng là do chính phi công quyết định. Tất cả các công đoạn được tiến hành song song để có thể trợ giúp tốt nhất cho phi công.

Vào cuối những năm 60, các nhà khoa học Việt Nam và Liên Xô đã nhận thấy có mạch tích hợp trên các máy bay Mỹ bị rơi. Tuy nhiên nó chưa phải là các vi mạch có hiệu năng tính toán cao như ngày nay. Do có công nghệ thông tin mà khái niệm tác chiến điện tử ngày nay đã có nhiều thay đổi. Thời gian truyền tin qua mạng Internet vệ tinh rất nhanh, gần như thời gian thực, và công nghệ tính toán quá nhanh, đã tạo ra một phương pháp cho phép giải các bài toán tìm vị trí tên lửa bắn ra từ việc so sánh các bức ảnh chụp địa hình. Các bức ảnh chụp địa hình được chụp và gửi về máy tính lớn liên tục trong khoảng 1/1000 giây mỗi bức. Các bức ảnh này được so sánh liên tục với nhau để tìm điểm khác biệt. Từ chuỗi các điểm khác biệt theo thời gian này mà người ta phát hiện ra vị trí tên lửa vừa được phóng ra. Việc so sánh được thực hiện bằng lệnh XOR cho mọi bit. Các tính toán đơn giản này cho phép thực hiện song song. Nó là tư tưởng của hệ thống vi xử lý GPU. Khác với CPU, cấu trúc của GPU dựa trên việc cung cấp tài nguyên cho các tiến trình chạy song song. Ngoài ra các phép toán số học được đơn giản hóa với độ chính xác chỉ tới 32 bít nhưng thời gian tính nhanh gấp nhiều lần các thanh ghi dịch ở CPU. Do có cấu trúc song song chuẩn nên các GPU có thể ghép song song với nhau để thực hiện vệc cùng tính toán.

 

Vào tháng 3 năm 2014, Nvidia đưa ra cấu trúc bộ xử lý đa luồng, thế hệ Pascal. Cấu trúc Pascal là đóng gói bao gồm 128 lõi CUDA, trong khi Maxwell có 128, Kepler 192, Fermi 32 và Tesla chỉ có 8 lõi CUDA. GPU Pascal được thiết kế trên công nghệ 14nm và sử dụng CUDA Cores làm công nghệ chính trong việc xử lý pixel và Rasterization. Volta (2017) kế thừa kiến trúc GPU Pascal dựa trên công nghệ 12nm. Turing là sự kế thừa của kiến trúc GPU Volta. Turing GPU được xây dựng trên công nghệ FinFET 12nm và hỗ trợ bộ nhớ GDDR6 hoạt động ở tốc độ rất cao. Tensor Cores trong Turing GPU được thiết kế đặc biệt cho Artificial Intelligence (AI) và Deep Learning để thực hiện các loại tính toán phức tạp khác nhau. CUDA hỗ trợ tới 16 nghìn tỷ phép toán điểm động song song với 16 nghìn tỷ phép tính nguyên trong mỗi giây. 

Như vậy nền tảng cơ bản của GPU là cấu trúc đảm bảo cho việc tính toán song song của nhiều tiến trình (thread) có chương trình giống nhau. Lẽ đương nhiên đây không phải là cấu trúc VLSI-Very Large Scale Integration (tích hợp quy mô rất lớn) hàng triệu đến hàng tỷ phần tử đơn giản mà là cấu trúc có rất nhiều vi xử lý cho phép chạy song song các thread. GPU được tối ưu để các tiến trình (thread) có thể sử dụng bộ nhớ chung cũng như tận dụng hết tài nguyên tính toán. Khi cần tăng tốc độ tính cũng như khả năng phục vụ người ta chỉ cần cắm thêm GPU vào bảng mạch. Trong chiến tranh hiện đại, mỗi thiết bị, ví dụ như drone được thể hiện là một thread trong hệ thống máy tính chủ. Mỗi thread có thể chạy một trình khác nhau và thậm chí chúng có thể có cơ chế trí tuệ nhân tạo. Các drone tham gia tác chiến theo nhiệm vụ chung. Chúng có thể trực tiếp tấn công mục tiêu, hay trinh sát. Mặc dù các drone bay ngoài thực địa nhưng cuộc chiến lại xảy ra ở bên trong máy chủ, hay cụ thể hơn là hệ thống các GPU. Hiện nay tác chiến bày đàn đang là chủ đề nóng hổi. Mỗi một máy bay hay tàu chiến có thể có một đàn drone hàng chục, hàng trăm hay hàng nghìn chiếc, hộ tống để từ xa có thể thực hiện được các nhiệm vụ nguy hiểm. Các drone của nhiều máy bay khác nhau cũng có thể phối hợp với nhau thành bầy đàn. Tất cả sự kiện này được thể hiện bên trong bộ não của máy chủ được các GPU liên kết với nhau. 

Công nghệ vi mạch của Nga đang kém so với Phương Tây. Đây là nguyên nhân vì sao công nghệ lập trình của Nga không thể đáp ứng được các vụ tấn công hay chống lại các cuộc tấn công bầy đàn.  

Người Nga có lẽ đang cảm nhận được sự khó của việc mấy chục năm qua đã dừng việc phát triển công nghệ vi mạch. Thời gian để cho Nga đạt được các thành công trong công nghệ vi mạch, trong bối cảnh bị bao vây triệt để, là rất nhiều năm.

Nguyen Le Anh

Saturday, August 17, 2024

Những người sao Hỏa và bom nguyên tử

Tôi thăm Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima ở Nhật, nơi đây vừa diễn ra lễ tưởng niệm lần thứ 79 các nạn nhân bom nguyên tử. Quả bom đầu tiên ném xuống Hiroshima ngày 6/8/1945 làm chết 140 nghìn người, 3 ngày sau (9/8/1945) Nagasaki hứng chịu quả thứ 2 với số nạn nhân là 70 nghìn ! Và tự nhiên tôi nhớ đến những nhà khoa học nổi tiếng gốc Hung có vai trò quan trọng nếu không nói là then chốt trong quá trình tạo ra thứ vũ khí hủy diệt này:


- Ngày 2/8/1939 Albert Einstein ₫ã giúp và ký vào bức thư do Leo Szilárd thảo ra để gửi đến Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt.

Nội dung của bức thư cảnh báo về tiềm năng của việc phát triển một quả bom nguyên tử và sự nguy hiểm nếu Đức Quốc xã đạt được loại vũ khí này trước. Einstein và Szilárd khuyến nghị chính phủ Mỹ cần bắt đầu nghiên cứu phát triển bom nguyên tử để tránh bị tụt hậu so với Đức.

Bức thư đã thúc đẩy Roosevelt thành lập Ủy ban Tư vấn về Uranium (Uranium Committee) và cuối cùng dẫn đến việc khởi động Dự án Manhattan năm 1942. Kết quả của dự án:  ngày 16/7/1945 thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên ở sa mạc New Mexico, và mấy tuần sau vào đầu tháng 8 thì xẩy ra sự kiện thảm khốc ở Nhật Bản, nạn nhân đầu tiên của thứ vũ khí hủy diệt mới.

Tác giả soạn bức thư định mệnh trên Leo Szilárd là nhà vật lý sinh năm 1898 tại Budapest, mất 1964. Szilárd  học đại học tại Berlin, năm 1933 khi Hitler nắm quyền Szilárd rời sang Anh rồi đến Mỹ. Szilárd là một trong những người đầu tiên nhận ra tiềm năng của phản ứng dây chuyền, 1934 ông đã đăng ký bằng sáng chế cho một lò phản ứng ứng hạt nhân. Szilárd còn tham gia phát triển lò phản ứng hạt nhân đầu tiên tại Phòng thí nghiệm Chicago Pile-1, cùng với Enrico Fermi. Lò phản ứng này là tiền đề cho việc sản xuất plutonium, một nguyên liệu chính cho bom nguyên tử được sử dụng sau này.

(Leo Szilárd không chỉ là một nhà khoa học xuất sắc mà còn là một người có tầm nhìn về trách nhiệm xã hội của khoa học. Ông đã thúc đẩy ý thức về nguy cơ của vũ khí hạt nhân. Sự đóng góp của ông trong khoa học và hòa bình thế giới đã được công nhận rộng rãi, và ông được nhớ đến như một trong những nhà khoa học quan trọng nhất của thế kỷ).

- Nhà vật lý Edward Teller sinh năm 1908 tại Budapest, mất 2003. Teller học đại học tại Đức, 1935 ông di cư sang Hoa Kỳ và trong thế chiến 2 cũng tham gia vào Dự án Manhattan. 

Teller được xem là "cha đẻ" của bom khinh khí (bom hydrogen)  loại  bom có sức mạnh lớn hơn nhiều so với bom nguyên tử.

 Dưới sự chỉ đạo của Teller và các nhà khoa học khác trong Dự án Ivy thuộc phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Mỹ đã thử nghiệm thành công quả bom khinh khí đầu tiên có tên mã là "Ivy Mike". Vụ thử diễn ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1952 trên đảo san hô Enewetak ở Thái Bình Dương.

- John von Neumann (Neumann János) sinh năm 1903 tại Budapest, mất 1957. Ông là một nhà toán học và nhà vật lý lý thuyết xuất sắc, đã góp phần vào việc phát triển các kỹ thuật tính toán quan trọng được sử dụng trong Dự án Manhattan. Ông đã tham gia vào việc tối ưu hóa thiết kế của bom nguyên tử, đặc biệt là trong việc tính toán cách thức nổ hiệu quả nhất để tối đa hóa sức mạnh phá hủy.

- Eugene Paul Wigner (Wigner Pál Jenő)  sinh năm 1902  tại Budapest (mất 1995) là nhà vật lý lý thuyết đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế và phát triển các lò phản ứng hạt nhân. Ông đã làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Chicago, nơi ông nghiên cứu về các quá trình hạt nhân và tính toán cách thức điều khiển phản ứng dây chuyền trong các lò phản ứng. Wigner sau này được trao giải Nobel Vật lý năm 1963 cho những đóng góp của ông trong lý thuyết hạt nhân.


P/s. Không phải ngẫu nhiên tôi nhớ nhiều đến các nhà khoa học Hung liên quan đến vũ khí hạt nhân. Cách đây gần 50 năm 3 chúng tôi vừa tốt nghiệp vật lý ở Hung về (tôi từ Eötvös Loránd - ELTE, Thành và Long - Tổng hợp Debrecen) thì lớ ngớ được phân vào một đơn vị nhỏ khoảng10 mống mang tên B21 thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự. Và khi ấy chúng tôi bắt đầu tìm hiểu về lò hạt nhân Đà Lạt lúc đó do quân đội quản lý, đọc các thông tin về chương trình Manhattan được lãnh đạo bởi tướng Leslie Groves và nhà vật lý Robert Oppenheimer, về Dự án số 1 được giám sát bởi Ủy ban Đặc biệt thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô do Igor Kurchatov, một nhà vật lý lỗi lạc phụ trách....!


Ảnh chụp tại Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima

BinhTran (Bài đăng trên Hội Hữu Nghị Việt - Hung/FB ngày 14 Aug. 2024 với tựa đề Sự "dính dáng" của Hung)

Wednesday, May 8, 2024

Câu chuyện "Đại thắng" và vai trò của Đại tướng

ĐIỆN BIÊN PHỦ, CÔNG & DANH

Phải công nhận, câu chuyện hai chị em bà Nguyễn Thị Oanh đi tìm “tên” của bố trong hàng nghìn ngôi mộ ở Điện Biên Phủ là một trường đoạn rất thành công về lấy nước mắt của VTV tối qua. Chỉ có rất ít bia mộ có tên trong 3 nghĩa trang liệt sĩ ở đây. Trên thực tế, tất cả các ngôi mộ ở đây đều vô danh.

Nhưng, sau trường đoạn ấy, một ông anh từng đứng đầu một cơ quan quan trọng ở Trung ương, từ Điện Biên Phủ, gửi về hai tấm hình dưới đây [hình 3 và 4, chụp trong khuôn viên Đền thờ liệt sĩ trên đồi A1]. 



Từ lâu, người ta đã khao khát lưu danh ở những nơi như Điện Biên Phủ. 

Trong “30 năm dân chủ cộng hòa”, Kháng chiến chống pháp là cuộc kháng chiến mang đầy đủ ý nghĩa và đúng tính chất chống ngoại xâm, giành độc lập nhất [cho dù, muốn đánh giá hết ý nghĩa của công cuộc đó phải đứng trên quan điểm của Hồ Chí Minh: “Nước có độc lập mà dân không có tự do hạnh phúc thì độc lập ấy cũng không có ý nghĩa”(Thư gửi già làng trưởng bản, 1946)].

Người ta đã từng muốn có một chiến thắng tầm cỡ “lừng lẫy Điện Biên” mà không có Hồ Chí Minh, không có Tướng Giáp.

Khi bắt đầu Chiến dịch Mậu Thân, nhiều chỉ huy tài năng của Tướng Giáp bị bắt, kể cả đại tá Lê Trọng Nghĩa, Cục trưởng Cục Quân báo. Tướng Giáp bị giữ ở Hungaria cho tới 29 Tết, với sự can thiệp của Hồ Chí Minh mới có thể về Hà Nội. 

Hàng chục vạn con dân Việt Nam đã bỏ mình trong Chiến dịch ít chuẩn bị và nhiều tham vọng này.

Theo Tướng Giáp: “Lúc đầu mục tiêu đề ra là tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Giấy bạc đã được in và đã được chuyển vào Nam. Đồng phục cho công an vào tiếp quản thành phố cũng đã được chuẩn bị. Đồng chí Đàm Quang Trung ở Quân khu IV đã chuẩn bị một đoàn xe chở quân và quân trang vào tiếp quản thành phố. Sau này giải thích tổng công kích, tổng khởi nghĩa xảy ra là một quá trình là không đúng với thực tế”.

Sau 1975, Thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố, “500 năm sau, khi nói tới thời đại ngày nay, người ta chỉ nhớ tới Hồ Chí Minh và Tướng Giáp”. Lịch sử chắc sẽ không quá khắt khe như Tướng Trà nhưng vào thời điểm đó, ta hiểu vì sao Tướng Trà nói thế.

Các hoạt động kỷ niệm “30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” không có tên Tướng Giáp. Các bài viết đăng trên báo Nhân Dân từ tháng 3 đến tháng 5-1984, trong khi nói rất kỹ về Henri Navarre và Christian de Castries, đã không hề nhắc tên Võ Nguyên Giáp. Hồi ký của Đại tướng Hoàng Văn Thái đăng nhiều kỳ trên báo QĐND tên của Tướng Giáp cũng bị cắt đi dù Tướng Thái nổi giận đòi rút bài. 

Năm 1994, khi phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi đặt câu hỏi: “Thưa Đại tướng, ở thời điểm Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra, Đại tướng đang là Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh các Lực lượng Vũ trang, tại sao trong “Đại Thắng Mùa Xuân”[của Văn Tiến Dũng] vai trò của Đại tướng được nhắc rất ít?” 

Tướng Giáp, mặt đanh lại, quay sang phía thiếu tướng Lê Phi Long, “Long, cậu biết, nhật ký Tổng hành dinh ghi rõ, tôi lệnh gì, anh Ba lệnh gì. Các nhà báo và các nhà sử học nếu muốn biết sự thật lịch sử thì nên đọc Nhật ký Tổng hành dinh chứ không nên căn cứ vào tuyên bố của một ai đó.”

Đến năm 1991, người ta còn dựng lên vụ “Năm Châu, Sáu Sứ” để hạ bệ Tướng Giáp. Nếu ở thời điểm trước Đại hội VII, TBT Nguyễn Văn Linh đưa báo cáo của Trung tướng Võ Viết Thanh ra Bộ Chính trị, các tướng sẽ không tha thứ cho Lê Đức Anh, lịch sử đổi mới đã có thể thuận lợi hơn và chính trị của Việt Nam cũng bớt được những khuyết tật khó mà khắc phục. 

Cho dù Tướng Giáp sống lâu hơn những người ganh ghét mình, “Trời” vẫn để cho Lê Đức Anh sống ở phía đối diện nhà 30 Hoàng Diệu và giữ ông ta minh mẫn cho đến khi Tướng Giáp qua đời. 

Không biết, khi “gặp lại Lê Duẩn, Lê Đức Thọ”, Lê Đức Anh có tường thuật tang lễ này và ba ông Họ Lê sẽ nói gì về những “quốc tang” nhạt nhẽo của mình so với dòng dân chúng xếp hàng nhiều ngày trời để vào thắp hương cho Tướng Giáp. 

Trong số những người nghiêng mình trước Tướng Giáp, tôi nghĩ, không chỉ có những người ngưỡng mộ tài năng và tên tuổi lẫy lừng của ông. Sau nhiều thập niên tụt hậu và thất sủng của dân tộc này, người dân tìm thấy ở Tướng Giáp biểu tượng vĩ đại của người thất sủng nhất.

Vị tướng nào lưu danh mà không để lại “vạn cốt khô”; nhưng không phải ai biến hàng vạn trai tráng thành cốt khô cũng có danh trong lịch sử.

Trương Huy San

Tuesday, May 7, 2024

Điện Biên Phủ 1: Lịch sử đã xảy ra ntn

Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến công vang dội của một dân tộc nhỏ bé vốn là thuộc địa nhưng vẫn kiên cường, bất khuất đánh thắng quân đội hiện đại của một đế quốc phương Tây. 

Chiến thắng của người dân Việt Nam cũng là chiến thắng biển tượng,  điển hình nhất trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống quân xâm lược nước ngoài, góp phần mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. 

Nhân 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng tôi xin phép được trích lại một chương của bài viết trong cuốn sách Điện Biên Phủ của đại tướng Võ Nguyên Giáp để chúng ta có thể hiểu thêm về chủ trương tác chiến của quân ta trong chiến dịch lịch sử vĩ đại này.  

Ảnh: Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt đầy hy sinh, gian khổ kéo dài suốt 9 năm. Nguồn: TTXVN

CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN CỦA TA TRONG CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ* 

Đối với mặt trận Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là: tập trung đại bộ phận chủ lực của ta mở cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch với sự phối hợp của các chiến trường; hay là chỉ tiếp tục bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giam chân chủ lực của địch ở đây, để tạo điều kiện cho quân ta tiêu diệt quân địch ở các hướng khác. Đó là vấn đề hướng chiến lược chủ yếu của chủ lực ta trong cục diện cụ thể lúc bấy giờ. 

Khi đã hạ quyết tâm mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là phải đánh như thế nào để bảo đảm cho chiến dịch lịch sử này giành được toàn thắng. Đó là vấn đề nghệ thuật chiến dịch và vấn đề chiến thuật. 

Chúng ta đều biết rằng, các vấn đề chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật nói trên chính là nội dung chủ yếu của nghệ thuật quân sự. Và nghệ thuật quân sự không phải cái gì khác là nghệ thuật tạo nên một sức mạnh áp đảo nhằm cuối cùng tiêu diệt quân địch, đánh thắng chúng mà ta thì hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất. 

Nghệ thuật tạo nên sức mạnh ấy bao giờ cũng phải tính đến điều kiện cụ thể của ta và của địch về binh lực và hoả lực, về địa hình của chiến trường, về bảo đảm hậu cần, bảo đảm kỹ thuật; phải tính đến điều kiện mọi mặt trên chiến trường chính và cả trên chiến trường phối hợp; lại còn nhất thiết phải tính đến ý đồ chiến lược của địch và những biện pháp chiến thuật và kỹ thuật mà địch có thể sử dụng để thực hiện ý đồ ấy. Ngay sau khi chủ lực của địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ thì Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm bám sát địch, bao vây địch, tạo điều kiện để tiêu diệt chúng. 

Cho đến khi lực lượng của địch ngày càng tăng thêm, bao gồm nhiều đơn vị tinh nhuệ của khối cơ động chiến lược của chúng, tập đoàn cứ điểm được xây dựng và củng cố ngày càng vững chắc, Trung ương Đảng ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. 

Chúng ta đã căn cứ vào tình hình địch, ta như thế nào để hạ quyết tâm chiến lược quan trọng ấy. 

Một là, vì chúng ta đã sớm xác định chiến trường chính là chiến trường Bắc Bộ, hướng tiến công chủ yếu của chủ lực ta phải là chiến trường miền núi, cụ thể lúc bấy giờ là chiến trường Tây Bắc. Chúng ta đã chọn hướng chiến lược chủ yếu như vậy là xuất phát từ nhiều lý do; một trong những lý do quan trọng là vì trong điều kiện địch có hoả lực không quân, pháo binh và cơ giới mạnh, quân ta trang bị và kỹ thuật còn kém hơn thì tác chiến ở địa hình rừng núi đối với ta tương đối có lợi hơn so với địa hình đồng bằng. 

Hai là, vì kẻ địch ở Điện Biên Phủ, tuy mạnh nhưng ở vào thế bị cô lập; việc tiếp tế và bảo đảm hậu cần bằng đường hàng không có thể bị ta hạn chế và cắt đứt. Đó là chỗ yếu chí mạng của chúng. 

Ba là, vì bộ đội chủ lực của ta lúc bấy giờ đã có những tiến bộ lớn về chiến dịch và chiến thuật. Quân ta đã có kinh nghiệm đánh công sự vững chắc và đã được rèn luyện một bước để tiêu diệt địch trong tập đoàn cứ điểm. 

Bốn là, vì tuy Điện Biên Phủ ở xa hậu phương ta, nhưng ta đã chuẩn bị một phần các tuyến đường nhằm sử dụng chủ lực trên hướng Tây Bắc; vấn đề tiếp tế hậu cần tuy khó khăn nhưng có thể giải quyết được. 

Năm là, vì thế chiến lược chung ngày càng ở thế có lợi cho ta, lực lượng cơ động của địch ngày càng bị phân tán, quân ta đang tiếp tục đẩy mạnh hoạt động trên khắp các chiến trường. Như vậy, nếu đối với các hướng chiến lược khác trên cả nước, chúng ta tiến công vào những nơi hiểm yếu mà địch tương đối sơ hở, thì trên hướng chiến lược Điện Biên Phủ, chúng ta đã hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch. Đó cũng là sự biểu hiện sinh động của sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Trung ương Đảng ta. 

Trong chỉ đạo chiến tranh, có được một quyết định chiến lược chính xác là một nhân tố quan trọng vào bậc nhất. 

Nhưng khi đã có quyết định chiến lược chính xác, muốn bảo đảm giành được thắng lợi thì còn phải giải quyết đúng đắn các vấn đề nghệ thuật chiến dịch, về chiến thuật nữa. Có thể nói rằng, trong một trận đánh, lực lượng hai bên ra trận như thế nào chỉ mới là điều kiện, là khả năng cho mỗi một bên để giành lấy thắng lợi. Thắng lợi ấy còn do cách đánh quyết định. 

Trước một kẻ địch nhất định, với một lực lượng nhất định của ta, đánh như thế này có thể thắng to, đánh như thế kia có thể thắng nhỏ, thậm chí có khi bị thất bại. Rõ ràng cách đánh có tầm quan trọng quyết định để biến khả năng thắng lợi thành hiện thực. Đứng về chiến dịch mà nói, trên mặt trận Điện Biên Phủ, lúc đầu chúng ta đã quyết định vận dụng phương châm đánh nhanh thắng nhanh, tập trung toàn bộ chủ lực, tổ chức hiệp đồng giữa các binh chủng, mở cuộc tiến công từ một số hướng, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thời gian ba đêm hai ngày. 

Theo phương châm ấy, một kế hoạch tác chiến cụ thể đã được đề ra; mọi mặt công tác chuẩn bị đã được triển khai rất khẩn trương; các sư đoàn chủ lực của ta đã được giao nhiệm vụ; các đơn vị pháo binh đã được kéo vào trận địa; công tác bảo đảm hậu cần trên hỏa tuyến đã được đẩy mạnh; mạng thông tin liên lạc đã được tổ chức. 

Công tác chính trị đã động viên bộ đội và dân công nêu cao quyết tâm giành toàn thắng cho chiến dịch. Quân ta chỉ đợi lệnh là bắt đầu nổ súng. 

Trong suốt thời gian chuẩn bị, chúng ta đã bám sát quân địch, theo dõi từng động tĩnh của chúng, phát hiện hệ thống phòng ngự của chúng ngày càng được xây dựng vững chắc hơn. 

Đến ngày 26 tháng 1 năm 1954, khi kiểm tra lại tình hình địch, ta về mọi mặt thì chúng ta đi đến kết luận: tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố rất nhiều so với trước; trong tình hình đó, kế hoạch đánh nhanh không thể bảo đảm chắc thắng được. Sáng ngày 26, vào lúc 11 giờ, ta quyết định thay đổi cách đánh, bỏ kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh chuyển sang phương châm đánh chắc tiến chắc. 

Chiều ngày 26, toàn bộ lực lượng ta đã được lệnh rút ra khỏi trận địa, trở về nơi tập kết; các đơn vị pháo binh trước đây đã được lệnh kéo pháo vào đến nay lại được lệnh kéo pháo ra. Và để yểm trợ cho cuộc tạm thời thu quân, Sư đoàn 308 đã được lệnh phối hợp cùng Quân giải phóng Pathét Lào, lập tức mở cuộc tiến quân về hướng Luông Prabăng, vừa tiêu diệt sinh lực của địch, vừa thu hút hầu hết không quân của địch về hướng đó. 

Một công cuộc chuẩn bị mới với một khối lượng công tác tham mưu, chính trị và hậu cần rất lớn lại được triển khai. Cho nên khi mọi công tác chuẩn bị đã được hoàn thành, quân địch tưởng rằng ta đã bỏ ý định mở cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, thì ngày 13 tháng 3, quân đội ta mở đầu cuộc tiến công lớn vào tập đoàn cứ điểm. Thắng lợi của chiến dịch chứng tỏ rằng, sự thay đổi phương châm là hoàn toàn chính xác. Nó đã có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của chiến dịch. 

Vận dụng phương châm đánh chắc tiến chắc hoàn toàn không có nghĩa là khi điều kiện mọi mặt đã thay đổi có lợi cho ta, khi các thắng lợi liên tiếp của quân ta đã từng bước tạo nên thời cơ mới, thì ta không chuyển sang đánh nhanh thắng nhanh. 

Thực tế, chiều ngày 7 tháng 5, khi tình hình địch đã có dấu hiệu rối loạn, tinh thần suy sụp, thì quân ta lập tức được lệnh nắm lấy thời cơ, vào 15 giờ đã mở cuộc tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm, đến 17 giờ 30 phút thì tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. 

Ở đây, tôi muốn phân biệt rõ giữa một quyết định tác chiến chính xác với tinh thần kiên quyết chiến đấu của quân đội. Một quyết định tác chiến chính xác là một chủ trương tác chiến thể hiện đầy đủ tính cách mạng và tính khoa học, xuất phát từ một sự đánh giá đúng đắn và toàn diện về ta và địch. Còn tinh thần kiên quyết chiến đấu lại là quyết tâm chiến đấu anh dũng của quân đội, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ đã được giao cho. Phải nói rằng, tinh thần quyết chiến là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Nhưng chỉ có tinh thần quyết chiến cũng chưa đủ. 

Tinh thần quyết chiến chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng của nó trên cơ sở một kế hoạch tác chiến chính xác, một quyết tâm đúng đắn về chiến dịch, chiến thuật và những khả năng hiện thực về tổ chức và chỉ huy. Khi đã có đường lối cách mạng đúng đắn thì phương pháp cách mạng là vấn đề quyết định. 

Khi đã có chủ trương tác chiến đúng đắn thì phương pháp tác chiến là vấn đề quyết định. Đó là một trong những nội dung chủ yếu của nghệ thuật chỉ huy. Vấn đề phương pháp tác chiến đã được phát huy đến trình độ mới với nội dung hết sức phong phú và sáng tạo trong suốt những năm chống Mỹ, cứu nước sau này và là một trong những nhân tố đã đưa cuộc kháng chiến ấy đến thắng lợi cuối cùng. 

* Trích dẫn từ sách: Điện Biên Phủ - Đại tướng Võ Nguyên Giáp

The X-File of History

Friday, March 15, 2024

Những ngày cầm súng

CHIẾN TRANH

Ngày này, 15-3, của 45 năm trước, tôi nhập ngũ. Hôm 5-3-2024, ngồi uống rượu ở nhà bác sĩ Nguyễn Thái Long [tác giả cuốn sách nói về cuộc chiến của các anh, E 567, trong ngày 17-2-1979, Tiếng Vọng Đèo Khau Chỉa], giật mình nhớ, 5-3-1979 là ngày Chủ tịch Nước phát lệnh Tổng động viên; giật mình nhận ra, trong 7 người đàn ông có mặt hôm ấy có đến 6 người từng là lính. 

5-3-2024, nâng li nhớ ngày "Tổng Động Viên 5-3-1979", 6 người đàn ông trong ảnh đều phải cầm súng

Người còn lại, PGS Văn Giá Ngô, khi ấy đang có 4 người anh ở trong quân ngũ nên xã cho ở nhà học lên đại học.

Tôi không biết con số thương vong của người Việt trên Biên giới phía Bắc trong cuộc chiến giằng co 10 năm, 1979-1989, là bao nhiêu. Ở chiến trường Campuchia, có không ít hơn 60 nghìn liệt sĩ và hơn 200 nghìn thương binh. Phạm Xuân Minh, em trai của một người ngồi chung bàn hôm ấy, Nguyen Pham Xuan, cũng hy sinh ở Campuchia khi vừa tròn 20 tuổi.

Tại Nghĩa tran Tây Ninh, 2015, lễ tự làm đưa hài cốt Phạm Xuân Minh, em trai Phạm Xuân Nguyên về quê. Minh hy sinh năm 20 tuổi "Ngã vào lòng đất vẫn con trai"

1985 ở Campuchia

Nhà tôi gần cả "Ngã Ba Đồng Lộc", gần cả “đường Khe Giao” nên tôi đã sống với đạn bom từ khi chưa vào lớp Một. Những quầng lửa trên lưng Truông Bát. Những chiếc xe tải cháy gục ven đường. Những cáng thương đầy máu. Và, những chị thanh niên xung phong gào thét, cào cấu vì hội chứng hysteria. 

Ngày 7-11-1972, B52 băm nát xóm tôi, 6 người làng bị giết.

Về sau, khi nhiều lần đi trên “đường 20 quyết thắng”, dừng lại thắp hương ở “Hang 8 Cô”, “Hang Y Tá”, tôi thường tự hỏi, ai mới thực sự là “những người không tiếc máu xương” của nhân dân; làm sao có thể đưa những cô gái 18, đôi mươi ném vào những nơi thâm sơn cùng cốc ấy.

Cuộc chiến tranh mà chúng tôi phải cầm súng diễn ra khi, về đối ngoại, Việt Nam chọn “Nhất Biên Đảo” với Liên Xô; về đối nội, công cuộc ảo tưởng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH” làm kiệt quệ sức dân, sức nước. Hình ảnh bộ đội không còn như trước; “chúng tôi” những người lính đang “cầm súng bảo vệ Biên cương” vẫn gieo rắc cả nỗi sợ hãi cho phụ nữ và cho cả các chuồng gà, nương sắn của dân vùng Biên giới.

Trưa 12-3-2024, khi ngồi bên bờ sông Đuống, cũng lại chỉ có 1 trong 4 thằng đàn ông không phải mặc áo lính, chúng tôi nói với nhau, “Những ngày đó chúng ta đã không được sống như những con người”.

Ngày 14-3-2022, tôi viết: 

“Không có quốc gia nào lựa chọn được hàng xóm, nhưng một dân tộc có phẩm giá không bao giờ biến mình thành ‘tù nhân địa lý…’ Đứng trước những thế lực bất chấp đạo lý và pháp lý, bất chấp chủ quyền quốc gia, nếu hèn nhát thì không những không thể giữ được hòa bình, không thể giữ được bờ cõi mà phẩm giá của dân tộc ấy cũng muôn đời bị lăng nhục”.

Nhưng, mỗi dân tộc cho dù đã hy sinh để bảo vệ phẩm giá cũng cần biết lượng giá xương máu. Lịch sử không có chữ nếu nhưng luôn có bài học. 

Tối qua, nằm coi xong bộ phim “20 Ngày ở Mariupol”[Một phim tài liệu mục kích tội ác và sự dối trá của Mascova], lại bàng hoàng tự hỏi, tại sao trong thời đại ngày nay, thế giới vẫn bất lực trước những tên tội phạm như Putin.

Đáng sợ nhất là có những cuộc chiến tranh nổ ra chỉ vì cơn nghiện quyền lực của những kẻ đứng đầu, những kẻ không coi dân mình là con người. Đáng sợ hơn là những kẻ thích sử dụng chiến tranh xâm lược để thỏa mãn quyền lực cá nhân ấy luôn có một bọn người đồng lõa, bọn người cho dù ở rất xa ấy, luôn muốn dùng máu của người khác diểm tâm cho các lạc thú của mình.

1989, khi đã là phóng viên Báo Tuổi Trẻ, tường thuật "cuộc rút quân cuối cùng" của "Quân tình nguyện Việt Nam" khỏi Campuchia

Trương Huy San

Sunday, August 27, 2023

Ghi chép về Hội nghị Geneve -1954

ĐẠI TÁ TRONG MUÔN VÀN ĐẠI TÁ 

(copy từ FB-anh Nguyễn Văn Hôt)

Tại hội nghị Giơ-ne-vơ 1954,  ông Hà Văn Lâu đã biết được âm mưu thâm độc của phía bên TQ ép ta chọn vĩ tuyến 17 làm khu phi quân sự , chia cắt Bắc_Nam . Âm mưu thâm nho đó của TQ là "chia để trị " VN ta , Nam vĩ tuyến  để cho Mỹ quản lý dưới chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm . Ý đồ của TQ viện trợ cho Bắc VN về kt , quân sự là để ta phụ thuộc vào họ , họ sẽ thao túng mọi mặt của Bắc VN . TQ chưa bao giờ muốn đất nước ta thống nhất , họ muốn VN chia cắt thành 2 miền như Triều Tiên . Nhưng với sự sáng suốt lãnh đạo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và cố TBT Lê Duẩn đã đập tan âm mưu thâm độc của TQ , cuối cùng với bao hy sinh xương máu ta đã giải phóng miền Nam thống nhất đất nước .

Trong hồi ký của mình ông Hà Văn Lâu có viết về hội nghị Giơ-ne vơ :

"Để nắm tình hình chủ trương của đối phương . Ta phải nhờ cậy đến LX và TQ , không đủ người để tiếp xúc bạn bè quốc tế đến gặp đoàn ta ủng hộ . Khó khăn nhất là quan hệ thông tin với lãnh đạo trong nước vì  ta không có phương tiện . Phải nhờ đoàn TQ dịch điện và gửi đi . Đường lối của LX và TQ là nhất định phải lập lại hoà bình . Vấn đề tạm chia đôi đất nước là để tách quân đội 2 bên tránh xung đột trở lại, ta không còn cách nào khác đành phải chịu ".

Đại tá kiêm nhà ngoại giao kỳ cựu Hà Văn Lâu chụp hình bên cháu nội là hoa hậu Hà Kiều Anh . Hà Kiều Anh được thừa hưởng vẻ đẹp trời ban từ bên nhà nội , cô đoạt vương miện hoa hậu năm 16t (1992)


Wednesday, June 7, 2023

Giữa 2 cuộc chiến tranh

Câu chuyện lịch sử: 

Con đường tự do 1954

Điều khoản 14(d) của Hiệp Định Geneva thỏa thuận cho phép người dân hai miền Nam-Bắc được tự do di chuyển và cư ngụ trong vùng kiểm soát của hai bên quốc gia và cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam, được ngăn đôi tạm thời bởi vỹ tuyến 17 cho đến khi tổng tuyển cử vào năm 1956.

Điều khoản này có hiệu lực trong 300 ngày, bắt đầu từ mùa Hè 1954 cho đến ngày 18 tháng 5 năm 1955.

Các dự đoán ban đầu từ chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Pháp cho rằng sẽ chỉ có vài chục ngàn người sẽ quyết định di cư, phần lớn là những người làm việc cho Pháp. Tuy nhiên con số cuối cùng đã lên đến gần một triệu người Bắc đã di cư vào Nam và khoảng 100 ngàn người Nam tập kết ra Bắc, theo các số liệu từ các nhà sử học Pháp. 

Ba phần tư người di cư vào Nam là công giáo vì lo sợ việc đàn áp tôn giáo và hầu hết người tập kết ra Bắc từng là Việt Minh lo sợ sẽ bị trả thù.

Hải quân Hoa Kỳ đã tham gia giúp đỡ người di cư miền Bắc, đưa được hơn 300 ngàn người vào Nam và số còn lại do Pháp, Anh và một số quốc gia đồng minh thực hiện. Cũng có khoảng trên dưới 100 ngàn người đã tự vào Nam, không thông qua các chương trình di tản.

Chính phủ Hoa Kỳ cũng đã viện trợ cho chính phủ Nam Việt Nam nhằm giúp tái thiết cho đồng bào miền Bắc.

Người Mỹ đã giúp người tị nạn Việt Nam vào năm 1954, giúp người tị nạn 1975 và rồi giúp đỡ cho hàng triệu người Việt vượt biển, qua các chương trình nhân đạo trong những năm sau này. 

Hành trình tự do của người Việt xem ra không tách rời với người Mỹ trong câu chuyện lịch sử. 

Đinh Yên Thảo (Trang Văn chương Miền Nam)

Monday, June 5, 2023

VN: Cuộc chiến tranh thứ 2 trong thế kỷ 20

Tháng 9 năm 1965, Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ cập bến Qui Nhơn. 

Đây là nhóm quân Mỹ cấp sư đoàn đầu tiên đến Việt Nam và hai tháng sau, tháng 11 họ đụng độ trận đánh đầu tiên với quân chính quy Bắc Việt tại thung lũng Ia Drang Valley, từng được dựng thành phim We were soldiers do tài tử Mel Gibson thủ diễn (có Đơn Dương đóng vai Trung Tá bộ đội).

Những người lính trẻ đầu tiên đến Việt Nam mang theo cả guitar, không lường trước sự khốc liệt của cuộc chiến để rồi hơn 58 ngàn lính Mỹ đã nằm xuống trên mảnh đất xa lạ hình chữ S.

Đinh Yên Thảo (Trang Văn chương Miền Nam)

Ảnh từ Getty