Showing posts with label Legends. Show all posts
Showing posts with label Legends. Show all posts

Monday, June 2, 2025

Những bức thư của cha

 Vào cuối những năm 1980, Lieserl — con gái của thiên tài nổi tiếng — đã hiến tặng 1.400 bức thư, do Einstein viết, cho Đại học Hebrew, kèm theo điều kiện không được công bố nội dung cho đến hai thập kỷ sau khi ông qua đời. Đây là một trong số những bức thư đó, gửi cho Lieserl Einstein:

“…Khi cha đề xuất thuyết tương đối, rất ít người hiểu được. Và những điều cha sắp tiết lộ để truyền lại cho nhân loại cũng sẽ vấp phải sự hiểu lầm và thành kiến của thế giới.

Cha mong con giữ gìn những bức thư này bao lâu cũng được — nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ — cho đến khi xã hội tiến bộ đủ để tiếp nhận những gì cha sẽ giải thích dưới đây.

Có một lực vô cùng mạnh mẽ mà cho đến nay, khoa học vẫn chưa tìm ra được lời giải thích chính thức. Đó là một lực bao trùm và chi phối mọi lực khác, thậm chí đứng sau mọi hiện tượng vận hành trong vũ trụ, nhưng chúng ta vẫn chưa nhận diện được nó.

Lực phổ quát đó chính là **Tình Yêu**.

Khi các nhà khoa học tìm kiếm một lý thuyết thống nhất cho vũ trụ, họ đã quên mất lực vô hình nhưng mạnh mẽ nhất.

**Tình yêu là ánh sáng**, soi rọi cho người trao đi và người nhận được.

**Tình yêu là trọng lực**, khiến con người bị hút về phía nhau.

**Tình yêu là sức mạnh**, vì nó nhân lên những gì tốt đẹp nhất trong ta, và cho phép nhân loại không bị diệt vong trong sự ích kỷ mù quáng của mình. Tình yêu mở ra và hé lộ.

Vì tình yêu mà ta sống và chết.

**Tình yêu là Thượng Đế, và Thượng Đế chính là Tình Yêu.**

Lực này giải thích mọi thứ, mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Đây chính là biến số mà ta đã bỏ quên quá lâu — có lẽ vì ta sợ tình yêu, bởi đó là nguồn năng lượng duy nhất trong vũ trụ mà con người chưa học cách điều khiển theo ý mình.

Để giúp tình yêu được nhìn thấy rõ hơn, cha đã thực hiện một sự thay thế đơn giản trong phương trình nổi tiếng nhất của mình.

Nếu thay vì **E = mc²**, ta chấp nhận rằng **năng lượng có thể chữa lành thế giới** là tình yêu nhân với vận tốc ánh sáng bình phương, thì ta sẽ đi đến kết luận rằng **tình yêu là lực mạnh mẽ nhất**, vì nó **không có giới hạn**.

Sau khi nhân loại thất bại trong việc sử dụng và kiểm soát các lực khác trong vũ trụ — những lực giờ đây đang quay lại chống lại chúng ta — thì **việc nuôi dưỡng bản thân bằng một loại năng lượng khác trở nên cấp thiết…**

Nếu ta muốn loài người tiếp tục tồn tại, nếu ta muốn tìm ra ý nghĩa cuộc sống, nếu ta muốn cứu lấy thế giới và mọi sinh linh đang sống trong đó, thì **tình yêu là câu trả lời duy nhất**.

Có lẽ chúng ta vẫn chưa sẵn sàng để tạo ra một **quả bom tình yêu** — một thiết bị đủ mạnh để hủy diệt toàn bộ hận thù, ích kỷ và tham lam đang tàn phá hành tinh này.

Tuy nhiên, **mỗi con người đều mang trong mình một máy phát nhỏ nhưng đầy quyền năng của tình yêu**, mà năng lượng của nó đang chờ được giải phóng.

Khi chúng ta học được cách cho đi và đón nhận nguồn năng lượng phổ quát này, **Lieserl yêu dấu**, chúng ta sẽ khẳng định rằng tình yêu **chinh phục tất cả**, có thể vượt lên mọi thứ, bởi **tình yêu là tinh hoa của sự sống**.

Cha vô cùng tiếc vì đã không thể bày tỏ hết những gì trong tim mình — nơi luôn âm thầm thổn thức vì con suốt cả cuộc đời. Có thể giờ đã quá muộn để nói lời xin lỗi, nhưng vì thời gian là tương đối, cha vẫn cần nói với con rằng **cha yêu con**, và chính nhờ con mà cha đã tìm ra **câu trả lời tối thượng!**

Cha của con,

**Albert Einstein**

Nguồn: Walks With Thunder, Shaman (Chau Doan)

Monday, April 7, 2025

Có những cuộc đời như thế

Alfredo James Pacino, hay còn được biết đến với cái tên Al Pacino, đã không có một con đường trải đầy hoa hồng để trở thành huyền thoại của Hollywood. Sinh ra tại East Harlem, New York, Pacino lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn khi cha bỏ đi từ lúc ông còn là một đứa trẻ, và mẹ ông làm mọi cách để nuôi nấng ông bằng tình yêu và nghị lực.

Cuộc sống khi ấy chẳng có gì là dễ dàng. Có những ngày thức ăn là điều xa xỉ. 17 tuổi, ông bỏ học và lao vào cuộc sống mưu sinh với đủ nghề: giao hàng, làm ở rạp chiếu phim, dọn dẹp văn phòng. Nhưng trong sâu thẳm, ông biết mình thuộc về sân khấu.

Pacino tìm đến mọi trường diễn xuất mà ông biết, kiên trì thử vai, và nhận lại vô số lời từ chối. Ông từng ngủ nhờ nhà bạn, lang thang qua đêm ngoài trời, sống trong một căn hộ nhỏ ẩm thấp và đầy côn trùng. Nhưng mỗi buổi sáng, ông lại thức dậy với niềm hy vọng – rằng một ngày ai đó sẽ nhìn thấy ông trên sân khấu.

Và rồi khoảnh khắc ấy đến. Khi Francis Ford Coppola tìm kiếm người vào vai Michael Corleone trong The Godfather, nhiều người phản đối Pacino vì ông quá thấp, thiếu vẻ uy nghi. Nhưng Coppola đã tin tưởng. Quyết định ấy đã thay đổi vận mệnh Pacino.

Tiếp nối sau The Godfather là những vai diễn kinh điển trong Scarface, Scent of a Woman, Heat… Mỗi nhân vật ông hóa thân đều mang dấu ấn của một đời sống từng trải, từng chịu tổn thương và đầy đam mê. Diễn xuất với ông không phải là trò diễn. Đó là cách ông sống, thể hiện, và dốc hết linh hồn mình cho nghệ thuật.

“Al Pacino không được sinh ra với một con đường rõ ràng… Ông tự khắc nên con đường đó bằng từng lần bị từ chối, từng giọt mồ hôi, và từng đêm chỉ còn niềm tin nơi sân khấu.”

“Có những cuộc đời không được cứu bởi may mắn… mà được cứu bởi đam mê.”

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Friday, March 21, 2025

Thiên tài huyền thoại

Leonardo da Vinci: The Most Mind-Blowing Human in History!

Ever heard of someone who could paint with one hand while writing with the other? Meet Leonardo - who couldn't even read Latin but revolutionized EVERYTHING he touched!

His teacher quit painting after seeing Leonardo's angel - too perfect to compete!

Had such a big heart, he bought caged birds just to free them... while also being history's most famous anatomist!

Called out that the Sun doesn't move (sorry Galileo, Leo knew first!)

Found out how to date trees by their rings

Discovered arteriosclerosis while secretly studying anatomy in morgues

His perfectionism was so intense, he kept the Mona Lisa for 16 years and STILL thought it wasn't finished!

Designed tanks, helicopters & submarines... in the 1400s!

His last words were basically, 'Sorry, my work wasn't good enough.' Meanwhile, he'd already revolutionized... everything? 

Florence With Locals Group

Saturday, March 8, 2025

Những huyền thoại đoạt giải Oscar

 Robert De Niro là một trong những diễn viên vĩ đại và có sức ảnh hưởng nhất của Hollywood. Sinh ngày 17 tháng 8 năm 1943 tại New York trong một gia đình nghệ thuật, cha mẹ ông đều là họa sĩ nổi tiếng. Từ nhỏ, De Niro đã bộc lộ niềm đam mê với nghệ thuật biểu diễn. Khi chỉ mới 10 tuổi, ông đã tham gia vai diễn đầu tiên trong vở kịch "The Wizard of Oz" của trường học.

Tuổi thơ của De Niro gặp không ít khó khăn khi cha mẹ ông ly hôn. Dù vậy, tình yêu dành cho điện ảnh và sân khấu đã giúp ông vượt qua mọi thử thách và tiếp tục theo đuổi đam mê diễn xuất. Những năm sau đó, ông theo học tại nhiều trường diễn xuất danh tiếng như Stella Adler Conservatory và Actors Studio dưới sự dẫn dắt của huyền thoại Lee Strasberg.

Bước ngoặt sự nghiệp của De Niro đến khi ông hợp tác với đạo diễn Martin Scorsese trong loạt phim kinh điển như "Taxi Driver," "Raging Bull," và "Goodfellas." Vai diễn Travis Bickle trong "Taxi Driver" đã khẳng định tài năng xuất chúng của ông và trở thành biểu tượng của điện ảnh thế giới. De Niro nổi tiếng nhờ sự tận tâm cho vai diễn, sẵn sàng tăng cân hay thay đổi ngoại hình để hóa thân trọn vẹn vào nhân vật.

Qua nhiều thập kỷ, De Niro không phải chỉ đóng vai trong các bộ phim gangster mà còn thể hiện xuất sắc trong các vai hài như "Meet the Parents" và "The Intern." Với khả năng diễn xuất đa dạng và phong cách biến hóa, ông đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá, trong đó có hai tượng vàng Oscar.

Ngày nay, Robert De Niro được xem là huyền thoại điện ảnh và là hình mẫu cho sự nỗ lực và cống hiến bền bỉ. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng cho sức mạnh của niềm đam mê và ý chí kiên cường.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Thursday, May 5, 2022

Người giàu có

Ảnh: Time

Trong 1 lần Elon Musk làm diễn giả cho một hội nghị ở Hoa Kỳ về đầu tư và tài chính, phần hỏi đáp, ông nhận được một câu hỏi khiến mọi người phải bật cười.

- Thưa ông, là người giàu nhất thế giới, ông có thể chấp nhận việc con gái mình kết hôn với một người đàn ông nghèo và bình thường không?

Ông nói: Trước hết, hãy hiểu rằng “Giàu có” không có nghĩa là có một tài khoản ngân hàng hoành tráng. Giàu có trước hết là khả năng tạo ra của cải.

Ví dụ: Một người nào đó trúng xổ số hoặc thắng bạc. Ngay cả khi anh ta thắng 100 triệu thì anh ta cũng không trở thành người giàu: Anh ta chỉ là người nghèo với rất nhiều tiền. Đó là lý do tại sao 90% triệu phú xổ số trở lại nghèo khổ sau 5 năm.

Ta có thể gặp những người giàu có nhưng không có tiền. Ví dụ: Hầu hết các doanh nhân. Họ đã và đang trên con đường trở nên giàu có ngay cả khi họ chưa có tiền, bởi vì họ đang phát triển trí thông minh tài chính của mình và với tôi đó chính là sự giàu có.

Người giàu và người nghèo khác nhau như thế nào?

Nói một cách đơn giản: Người giàu có thể chết để trở nên giàu có, trong khi người nghèo có thể giết người để có tiền.

Nếu bạn thấy một người trẻ quyết định rèn luyện, học hỏi những điều mới, luôn cố gắng cải thiện bản thân không ngừng, hãy tin rằng anh ta là một người giàu có.

Nếu bạn thấy một người trẻ tuổi nghĩ rằng anh ta nghèo là do nhà nước, rằng người giàu toàn là người xấu, kẻ trộm và luôn chỉ trích người khác, hãy tin rằng anh ta là một người nghèo.

Tóm lại, khi tôi nói rằng con gái tôi sẽ không lấy một người đàn ông nghèo, tôi không nói về tiền bạc. Tôi đang nói về khả năng tạo ra của cải ở người đàn ông đó.

Xin lỗi vì đã nói điều này, nhưng hầu hết tội phạm đều là những người nghèo. Khi đứng trước đồng tiền, họ mất lý trí, đó là lý do họ cướp giật, trộm cắp… Đối với họ đó là lối thoát vì họ không học hỏi được kỹ năng tự mình kiếm tiền.

Như chuyện về người bảo vệ nghèo của một ngân hàng, một lần anh tìm thấy một chiếc túi đầy tiền, anh ta đã lấy chiếc túi và đi đưa cho giám đốc ngân hàng.

Mọi người gọi người đàn ông này là đồ ngốc, nhưng thực tế người đàn ông này chỉ là một người giàu chưa có tiền.

Để cám ơn, ngân hàng mời anh làm lễ tân, ngoài giờ làm anh đi học. Ba năm sau anh được đề cử làm giám đốc khách hàng và 10 năm sau anh trở thành quản lý khu vực của ngân hàng này, dưới quyền anh có hàng trăm nhân viên. Thu nhập của anh bây giờ gấp nhiều lần số tiền anh trả lại ngày nào, lại có vị trí xã hội và lòng tự hào mà việc giấu diếm số tiền không thể đem lại!

HÃY CHỌN NGƯỜI CÓ TƯƠNG LAI BẠN NHÉ!

Từ FB Minh Tran

Tuesday, March 15, 2022

EINSTEIN VÀ ĐỨC TIN

By Walter Isaacson

Einstein biết nói chậm. “Cha mẹ tôi lo lắng đến nỗi phải hỏi ý kiến một bác sĩ,” sau này ông nhớ lại. Thậm chí sau khi bắt đầu biết nói, vào khoảng hơn hai tuổi, Einstein phát triển một dị tật khiến cô giúp việc tặng cậu biệt hiệu “der Depperte,” thằng trì độn. Mỗi lần muốn nói một điều gì, cậu bé thường tự thử qua thính giác của mình trước, nói thì thầm trong miệng cho đến khi nghe thuận tai mới phát âm lớn. Cô em gái vốn coi Einstein như thần tượng nhớ lại, “Bất cứ câu nào anh ấy thốt ra, dù thông thường đến đâu, anh cũng mấp máy môi lặp đi lặp lại thì thầm trong miệng trước.” Tật này khiến mọi người hết sức lo lắng, cô nói. “Anh ấy gặp khó khăn với ngôn ngữ khiến mọi người chung quanh sợ rằng anh sẽ không bao giờ học hành gì được.”

Sự phát triển trì trệ đi kèm với tính bất trị và ngỗ nghịch đối với quyền trên [authority] đã khiến một hiệu trưởng đuổi Einstein ra khỏi trường và một hiệu trưởng khác tuyên bố thẳng thừng rằng tương lai của cậu bé sẽ không ra gì. Những cá tính này làm cho Albert Einstein trở thành thánh bổn mạng của các học sinh lơ đảng ở khắp mọi nơi. Nhưng chúng cũng giúp ông trở thành thiên tài sáng tạo nhất trong thời hiện đại, hay mãi về sau ông mới suy đoán ra điều này.

Tính ngông nghênh khinh mạn quyền trên đã thúc đẩy Einstein đặt nghi vấn đối với trí tuệ được tiếp thu trong những cung cách các đệ tử thành thục của giới hàn lâm không bao giờ nghĩ đến. Còn về khả năng ngôn ngữ chậm phát triển của ông, ông tin rằng điều này đã cho phép ông quan sát các hiện tượng thường ngày bằng đôi mắt ngạc nhiên trong khi người khác lại coi thường. Thay vì thắc mắc về những điều bí nhiệm, ông chỉ thắc mắc về chuyện tầm thường. “Mỗi lần tự hỏi vì sao chỉ một mình tôi tìm ra thuyết tương đối, tôi cảm thấy hình như việc đó đã rơi vào trường hợp sau đây,” Einstein có lần giải thích. “Người lớn bình thường không bao giờ bận tâm về các vấn đề không gian và thời gian, mặc dù đây là những điều họ từng nghĩ đến khi còn bé. Nhưng trí óc tôi đã phát triển chậm đến nỗi tôi chỉ bắt đầu tra hỏi về không gian và thời gian vào lúc tôi đã hoàn toàn khôn lớn. Do đó, tôi đã nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này hơn bất cứ một đứa trẻ bình thường nào có thể làm được.”

Nhìn lại đời ông, gần như ta có thể lý giải rằng sự kết hợp giữa thái độ kinh ngạc và sự nổi loạn của Einstein đã giúp ông trở thành một nhà khoa học xuất chúng. Nhưng một điều ít ai biết đến là hai đặc điểm này còn kết hợp lại để ảnh hưởng lên hành trình tâm linh và xác định bản chất đức tin của ông. Phần nổi loạn [the rebellion part] trong ông bắt đầu diễn ra ngay từ đầu đời: trước tiên, ông bác bỏ chủ nghĩa thế tục [secularism] của cha mẹ mình và về sau ông bác bỏ luôn các quan niệm về lễ nghi tôn giáo và về một Thượng đế mang hình bóng con người [a personal God] thường xuyên can thiệp vào các vận hành hàng ngày của thế giới. Phần kinh phục [the awe part] trong ông diễn ra vào tuổi ngũ tuần khi ông chấp nhận một thái độ hữu thần [a deism] dựa vào điều mà ông gọi là “tâm linh hiển hiện trong các qui luật của vũ trụ” và một đức tin thành khẩn đặt vào một “Thiên chúa mặc khải chính Mình [Himself] trong sự hài hòa của mọi điều hiện hữu.”

Einstein là hậu duệ, bên nội cũng như bên ngoại, của những chủ cửa hàng và những người bán hàng rong Do Thái đã kiếm sống khiêm tốn trên hai thế kỷ tại các làng quê vùng Swabia miền Tây Nam nước Đức. Với mỗi thế hệ trôi qua, họ ngày càng hội nhập vào văn hóa Đức mà họ đem lòng yêu mến – hay họ tin như thế. Mặc dù là người Do Thái trên danh nghĩa văn hóa và bản năng đồng loại, họ ít quan tâm đến chính tôn giáo của dân tộc mình.

Trong những năm về già, Einstein thường kể một câu chuyện đùa xưa cũ về một ông bác theo chủ nghĩa bất khả tri [agnostic]1 vốn là người duy nhất trong gia đình đi nhà thờ Do Thái giáo. Khi được hỏi vì sao ông làm như vậy, ông bác trả lời ỡm ờ, “À… mà biết đâu lại có Thượng Đế.” Cha mẹ của Einstein, trái lại, “hoàn toàn vô tín ngưỡng.” Họ không ăn kiêng mà cũng chẳng đi nhà thờ Do Thái giáo. Theo lời kể của một người bà con, cha của ông là Hermann coi các lễ nghi Do Thái là “những điều mê tín thời cổ.”

Vì thế, khi Albert lên 6 đến tuổi phải đi học, cha mẹ cậu không mấy bận tâm về việc không có trường Do Thái gần nhà. Thay vào đó, cậu đến học tại một trường Công giáo lớn nằm trong khu láng giềng của họ. Là người Do Thái duy nhất trong 70 học sinh cùng lớp, Einstein theo học lớp giáo lý tiêu chuẩn dành cho người theo đạo Công giáo và rốt cuộc cậu thích thú vô cùng.

Bất chấp khuynh hướng thế tục của cha mẹ mình, hoặc có lẽ chính vì điều này, Einstein đột nhiên phát triển một nhiệt tình sâu sắc với Do Thái giáo. “Tình cảm của ông nồng nàn đến nỗi ông tự mình giữ lấy giới luật Do Thái giáo đến từng chi tiết,” em gái ông kể lại. Ông tránh ăn thịt heo, chịu kiêng cử và giữ giới luật của ngày Xa-ba [ngày thờ phượng Chúa của người Do Thái giáo, tức ngày thứ Bảy, DG]. Ông còn đặt cả những bài thánh ca để tự hát thì thầm trên đường đi học về.

Kích thích trí tuệ lớn nhất đối với Einstein đến từ một sinh viên nghèo tới dùng bữa với gia đình ông mỗi tuần một lần. Mời một đạo sư nghèo [a religious scholar] đến chia sẻ bữa ăn gia đình vào ngày Xa-ba là phong tục lâu đời của người Do Thái; thay vì như vậy, gia đình Einstein cải biên truyền thống này bằng cách mời một sinh viên y khoa đến dùng bữa vào ngày thứ Năm. Tên anh là Max Talmud, và anh bắt đầu ghé lại hàng tuần khi anh 21 tuổi và Einstein 10 tuổi.

Talmud mang cho Einstein các sách khoa học, gồm cả một bộ sách có hình ảnh minh họa nổi tiếng được gọi Sách Khoa học Tự nhiên của Đại chúng, “một tác phẩm tôi đọc chăm chú gần như nín thở,” Einstein kể lại.  21 tập của bộ sách này được Aaron Bernstein soạn ra, trong đó ông nhấn mạnh các tương quan giữa sinh học và vật lý đồng thời ghi lại rất chi tiết các thí nghiệm được thực hiện lúc bấy giờ, đặc biệt tại Đức.

Talmud còn giúp Einstein khám phá các điều kỳ lạ trong toán học bằng cách tặng cậu bé một cuốn sách giáo khoa hình học hai năm trước khi cậu có thời biểu học môn này ở nhà trường. Cứ mỗi thứ Năm vào lúc Talmud ghé lại nhà, Einstein thích thú đưa cho anh xem những bài toán cậu đã giải xong tuần đó. Thoạt đầu, Talmud còn đủ sức kèm cậu bé, nhưng chẳng bao lâu anh bị người học trò qua mặt. “Sau một thời gian ngắn ngủi, chỉ vài tháng, Einstein đã làm hết các bài tập trong sách,” Talmud kể lại. “Chẳng bao lâu đường bay của thiên tài toán học Einstein vươn tới một chiều cao tôi không còn theo dõi được nữa.”

Việc Einstein có cơ hội tiếp cận khoa học và toán học đã tạo ra một đột biến [a sudden transformation] ở tuổi 12, đúng vào thời điểm lẽ ra cậu phải chuẩn bị để làm lễ thành niên [bar mitzvah]. Einstein đột nhiên bỏ Do Thái giáo. Quyết định này không có vẻ gì là phát xuất từ các sách của Bernstein, vì tác giả đã giải thích là ông không thấy có mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo. Bernstein viết: “Thiên hướng tôn giáo nằm trong ý thức lờ mờ có sẵn trong con người, rằng tất cả thiên nhiên, kể cả con người trong đó, chắc chắn không phải là một trò chơi ngẫu nhiên [an accidental game], mà là một tác phẩm của tính qui luật, ngụ ý có một nguyên nhân cơ bản cho mọi hiện hữu trong vũ trụ.”

Về sau, Einstein sẽ tiến gần đến những cảm nghĩ này. Nhưng vào lúc này, bước nhảy vọt tránh xa đức tin tôn giáo là một bước nhảy vọt cực đoan. “Qua quá trình đọc các sách khoa học thịnh hành loại này, chẳng bao lâu tôi đi đến chỗ tin chắc rằng phần lớn những câu chuyện trong Thánh kinh có thể không có thật. Hậu quả là một sự hồ hởi cuồng tín tích cực về tự do tư tưởng kết hợp với cảm nghĩ rằng tuổi trẻ bị Nhà nước cố tình lừa bịp thông qua các chuyện láo khoét; đó là một cảm tưởng cực kỳ ác liệt [a crushing impression].”

Tuy nhiên, Einstein vẫn giữ lại tàn dư của thời ngoan đạo niên thiếu, một đức tin sâu sắc và lòng sùng kính đối với sự hài hòa và vẻ đẹp của cái mà ông gọi trí tuệ của Thượng đế, được biểu lộ trong việc tạo dựng vũ trụ và các qui luật của nó. Khoảng thời gian ông bước qua tuổi ngũ tuần, Einstein bắt đầu phát biểu rõ ràng hơn – trong các bài tiểu luận, các phỏng vấn và thư từ khác nhau-- về nhận thức ngày càng sâu sắc đức tin của mình đối với Thượng Đế, mặc dù đó là một phiên bản Thượng Đế không mang hình bóng con người [a rather impersonal version of God]. Một buổi tối đặc biệt của năm 1929, năm ông đến tuổi ngũ tuần, đã đánh dấu dấu đức tin hữu thần ở tuổi trung niên của Einstein. Ông và vợ đang dự một bữa tiệc tại Berlin thì một thực khách bày tỏ sự tin tưởng của mình vào khoa chiêm tinh [astrology]. Einstein nhạo báng quan niệm này là hoàn toàn mê tín. Một thực khách khác xen vào và chê bai tôn giáo một cách tương tự. Tin vào Thượng đế, người khách nhấn mạnh, cũng là một mê tín không hơn không kém.

Nhân lúc đó, chủ nhà cố gắng bịt miệng ông ta bằng cách nêu lên sự thể là, ngay cả Einstein cũng ấp ủ trong lòng một đức tin tôn giáo. “Không thể nào có chuyện ấy!” người khách vô thần nói tiếp, đồng thời quay về phía Einstein để hỏi có thật là ông tin vào tôn giáo không. “Vâng, bạn có thể nói như vậy,” Einstein bình tỉnh trả lời. “Hãy thử xâm nhập vào các bí mật của thiên nhiên bằng các phương tiện giới hạn của chúng ta, bạn sẽ thấy rằng, đằng sau các qui luật và các mối tương quan có thể nhận ra được, vẫn còn một cái gì rất tế nhị, không thể nắm bắt, không thể cắt nghĩa được. Sự sùng kính đối với lực tác động này vượt lên trên mọi điều mà chúng ta có thể hiểu được, đấy là tôn giáo của tôi. Ở mức độ đó, tôi thật sự là người có tôn giáo.”

Chẳng bao lâu sau ngày sinh nhật thứ 50 của ông, Einstein cũng trả lời một cuộc phỏng vấn rất kỳ thú, trong đó ông bày tỏ rõ ràng hơn bao giờ cả tình cảm tôn giáo của mình. Người phỏng vấn là George Sylvester Viereck, vốn sinh ra ở Đức, di cư sang Mỹ khi còn bé và về sau dành hết cuộc đời để làm những bài thơ hoa mỹ khiêu dâm, phỏng vấn các vĩ nhân và bày tỏ tình yêu ngổn ngang đối với Tổ quốc [Đức] của mình. Einstein tưởng Viereck là người Do Thái. Trên thực tế, Viereck rất tự hào truy cứu dòng họ của mình đến tận hoàng gia Kaiser của Đức, và sau này trở thành một cảm tình viên của Đức Quốc xã, bị giam giữ tại Mỹ trong Thế chiến II về tội tuyên truyền cho Đức.

Viereck bắt đầu cuộc phỏng vấn bằng cách hỏi Einstein ông tự coi mình là người Do Thái hay là người Đức. “Có thể cả hai,” Einstein đáp. “Chủ nghĩa dân tộc là một căn bệnh trẻ con, bệnh sởi của loài người.”

Người Do Thái có nên cố gắng để hội nhập [vào xã hội Đức] không?  “Người Do Thái chúng tôi quá sẵn sàng hi sinh mọi thứ lập dị của mình để chịu tòng phục.”

Ông chịu ảnh hưởng Ki tô giáo đến mức độ nào? “ Thuở nhỏ, tôi học giáo lý từ Kinh thánh lẫn Luật luận Do Thái giáo [the Talmud]. Tôi là một người Do Thái, nhưng tôi say mê hình ảnh sáng ngời của Giê su.”

Ông có nhìn nhận sự hiện hữu của Giê su trong lịch sử không? “ Không thắc mắc! Không ai có thể đọc Phúc âm mà không cảm thấy sự hiện diện có thật của Giê su. Nhân cách của ông sống động trong từng con chữ. Không có gì huyền thoại chứa đựng trong cuộc đời ấy.”

Ông có tin Thượng đế không? “Tôi không phải là người vô thần. Tôi không nghĩ tôi có thể gọi mình là một kẻ phiếm thần [pantheist]2. Vấn đề được nêu ở đây quá rộng lớn đối với trí óc hạn hẹp của chúng ta. Chúng ta chỉ ở vị trí của một đứa bé đi vào trong một thư viện khổng lồ chứa đầy sách bằng nhiều ngôn ngữ. Đứa bé biết rằng chắc có một người nào đó đã viết những sách ấy. Bé không biết sách đã được viết ra bằng cách nào. Bé không hiểu ngôn ngữ trong những sách ấy. Bé chỉ mù mờ nửa tin nửa ngờ rằng có một trật tự huyền bí trong việc sắp đặt những cuốn sách đó nhưng không biết rõ trật tự đó là gì. Hình như đối với tôi, đó là thái độ cần có của ngay cả một người thông minh nhất đối với vấn đề Thượng đế. Chúng ta nhận thấy vũ trụ được sắp xếp một cách kỳ diệu và tuân theo một số qui luật nhất định, nhưng chúng ta chỉ hiểu lờ mờ những qui luật này.”

Có phải đây là một quan niệm Do Thái về Thượng đế? “Tôi là một người tin vào thuyết tất định [determinist]. Tôi không tin có ý chí tự do [free will]. Người Do Thái tin vào ý chí tự do. Họ tin rằng con người quyết định lấy cuộc đời của chính mình. Tôi bác bỏ một lý thuyết như vậy. Trong khía cạnh này, tôi không phải là một người Do Thái.”

Phải chăng đây là Thượng đế của [triết gia] Spinoza? “Tôi say mê chủ nghĩa phiếm thần của Spinoza, nhưng tôi thậm chí ngưỡng mộ hơn nữa đóng góp của ông cho tư tưởng hiện đại vì ông là triết gia đầu tiên coi linh hồn và thể xác là một, chứ không phải hai vật tách rời nhau.”

Ông có tin vào tính bất tử của linh hồn không? “Không. Một đời là đủ với tôi.”

Einstein cố gắng diễn tả những cảm nghĩ này một cách rõ ràng, vừa cho chính bản thân ông vừa cho tất cả những người đòi hỏi một câu trả lời vắn gọn từ chính ông về đức tin của ông. Vì thế vào mùa Hè 1930, ông soạn một bản tuyên bố tín lý [a credo] nhan đề “Những điều tôi tin tưởng” [What I Believe], một tác phẩm ông ghi âm cho một nhóm nhân quyền và về sau cho xuất bản. Bản tuyên bố kết thúc bằng cách cắt nghĩa điều ông muốn nói khi gọi mình là một người có tôn giáo: “Cảm xúc đẹp nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là những điều huyền bí. Đó là cảm xúc cơ bản đứng ngay ở chiếc nôi của tất cả mọi nghệ thuật và khoa học chân chính. Người nào xa lạ với cảm xúc này, không còn ngỡ ngàng hân hoan trong niềm kính sợ, thì người đó coi như đã chết rồi, như một ngọn nến đã bị dập tắt. Ý thức rằng ở đằng sau bất cứ điều gì có thể trải nghiệm được, đều có một cái gì trí óc chúng ta không thể nắm bắt được, trong khi vẻ đẹp và sự cao siêu của nó chỉ đến với chúng ta một cách gián tiếp: đó chính là sự mộ đạo (religiousness). Trong ý nghĩa này, và chỉ trong ý nghĩa này thôi, tôi là một người rất mộ đạo.”

Người ta nhận thấy tác phẩm này đầy ý nghĩa, vì thế nó được in liên tiếp qua nhiều ngôn ngữ khác nhau. Song chẳng đáng ngạc nhiên, nó vẫn không thoả mãn được những người muốn có một câu trả lời giản dị là ông có tin vào Thượng Đế hay không. “Hậu quả của thái độ hoài nghi này và sự suy đoán mù mờ về thời gian và không gian là một lớp áo choàng che dấu bóng ma hãi hùng của chủ nghĩa vô thần,” Hồng y William Henry O’Connell tại Boston nói như vậy. Việc một Hồng y lên tiếng công khai đả kích Einstein đã thúc đẩy vị lãnh đạo Do thái giáo Chính thống tại New York, Giáo sĩ Herbert S. Goldstein, gửi Einstein một tin điện hỏi rất thẳng thắn: “Ông có tin Thượng đế không? Stop. Trả lời trong 50 từ. Phí được trả.” Einstein chỉ dùng một nửa số từ được ấn định. Nó trở thành phiên bản nổi tiếng nhất của một câu trả lời ông thường đưa ra: “Tôi tin Thượng đế của Spinoza, một Thượng đế mặc khải trong sự hài hoà có qui luật của tất cả những gì hiện hữu, chứ không tin vào một Thượng đế bận tâm với số phận và công việc của loài người.”

Một số người Do Thái mộ đạo phản ứng bằng cách vạch ra rằng Spinoza đã bị rút phép thông công từ cộng đồng Do Thái tại Amsterdam vì ôm ấp những tín lý này, và rằng ông còn bị Giáo hội Công giáo lên án. Trong khi đó, một giáo sĩ tại Bronx [New York] phát biểu: “Hồng y O’Connell có thể đã hành xử đúng đắn nếu ông không đả kích lý thuyết của Einstein. Einstein có thể đã hành xử khá hơn nếu ông không tuyên bố mình thiếu đức tin ở một Thượng đế bận tâm với số phận và việc làm của từng cá nhân. Cả hai đã đưa ra những tuyên bố chính thức [dicta] nằm ngoài thẩm quyền của mình.”

Song suốt đời ông, trước sau như một, Einstein luôn luôn bác bỏ lời kết án ông là một người vô thần. “Có nhiều người cho rằng không có Thượng đế,” Einstein nói với một người bạn. “Nhưng điều làm cho tôi thật sự tức giận là họ thường trích dẫn tôi để bênh vực cho quan điểu vô thần của họ.” Và khác với Sigmund Freud hay Bertrand Russell hay George Bernard Shaw, Einstein không bao giờ cảm thấy thôi thúc cần phải phỉ báng những người tin có Thượng đế; thay vì như vậy, ông có khuynh hướng chế nhạo những người vô thần. “Điều tách rời tôi ra khỏi hầu hết những người được gọi là vô thần là một tấm lòng hoàn toàn khiêm cung đối với những bí mật không thể nắm bắt được trong vũ trụ,” ông giải thích.

Trên thực tế, Einstein thường chỉ trích những kẻ phỉ báng tôn giáo, những kẻ tỏ ra thiếu khiêm cung hay kính sợ, chứ ít khi chỉ trích những người có đức tin. Ông viết trong một lá thư: “Những người vô thần cuồng tín [fanatical atheists] là những người nô lệ đang còn cảm thấy sức nặng của những xích xiềng mà họ đã vất bỏ sau một cuộc tranh đấu gay go. Họ là những kẻ vì hằn học chống lại tôn giáo truyền thống, mà họ gọi là ‘thuốc phiện của nhân dân, nên không nghe được âm nhạc của các tầng trời.”

Về sau, Einstein đã giải thích quan điểm của mình về mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo ở một hội nghị tại Chủng viện Thần học Thống nhất (the Union Theological Seminary) tại New York. Ông nói rằng, lãnh vực khoa học tìm hiểu hiện tượng đó là gì, chứ không đánh giá tư duy và hành động của con người về hiện tượng đó phải là như thế nào. Tôn giáo có sứ mệnh ngược lại. Tuy vậy, nỗ lực của hai lãnh vực này đôi khi hợp tác hài hòa với nhau. “Khoa học có thể được sáng tạo chỉ bởi những người ôm ấp nguyện vọng thiết tha đối với chân lý và tri thức,” ông nói. “Song nguồn cảm hứng này phát xuất từ lãnh vực tôn giáo.” Buổi nói chuyện đã được các báo đưa lên trang nhất, và kết luận súc tích của ông trở nên nổi tiếng. “Tình cảnh này có thể được diễn tả bằng một hình ảnh: khoa học không có tôn giáo thì què, tôn giáo không có khoa học thì mù.”

Nhưng, Einstein nói tiếp, có một quan niệm tôn giáo duy nhất, mà khoa học không thể chấp nhận: một thượng đế có khả năng xâm lo tùy thích vào các biến cố trong vũ trụ ngài đã tạo hóa. “Nguồn gốc chính của những xung đột ngày nay giữa các lãnh vực tôn giáo và khoa học nằm trong quan niệm về một Thượng đế mang hình bóng con người [a personal God],” ông tranh luận. Các nhà khoa học nhắm vào việc khám phá những qui luật bất di bất dịch chi phối thực tại, và trong khi làm điều này họ phải bác bỏ quan niệm cho rằng ý chí của thượng đế, hoặc ý chí con người, đóng một vai trò có thể vi phạm tính nhân quả trong vũ trụ.

Sự tin tưởng của Einstein vào tính tất định nhân quả [causal determinism] xung khắc với khái niệm ý chí tự do [free will] của con người. Nói chung, các nhà thần học Do Thái giáo cũng như Ki-tô giáo tin tưởng rằng con người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Người ta thậm chí có cả tự do lựa chọn việc chống lại các điều răn của Thiên Chúa, như Kinh thánh cho thấy, mặc dù việc này có vẻ xung đột với một tín điều cho rằng Thiên Chúa biết hết mọi chuyện và có toàn năng [all knowing and all powerful]. 

Trái lại, cũng như Spinoza, Einstein tin tưởng rằng các hành động của một người cũng được định đoạt [determined] giống chuyển động của một hòn bi-da, một hành tinh hay một vì sao. “Con người không có tự do trong tư duy, tình cảm và hành động của mình, mà bị ràng buộc vào tính nhân quả [causually bound] như các tinh tú trong các chuyển động của chúng,” Einstein phát biểu trong một tuyên bố trước Hội Spinoza [Spinoza Society] năm 1932. Đó cũng là một khái niệm ông đã rút ra từ việc nghiền ngẫm các tác phẩm của Schopenhauer. “Mọi người hành động không chỉ do cưỡng bức từ bên ngoài [external compulsion], mà còn tuân theo tính tất yếu ở bên trong [inner necessity],” ông viết trong bản tín điều nổi tiếng của ông. “Câu nói bất hủ của Schopenhauer, ‘Một người có thể hành động theo ý mình, nhưng không muốn gì được đó’ [A person can do as he wills, but not will as he wills] đã là một khích lệ chân chính đối với tôi từ thời thanh niên; nó luôn luôn là một nguồn an ủi khi đối mặt với những gian khổ trong đời, của chính mình và của người khác’, và là một suối nguồn bất tận của lòng bao dung.”

Chủ nghĩa tất định [determinism] này làm choáng váng một số bạn bè của ông như Max Born, người cho rằng quan niệm này hoàn toàn làm suy yếu nền tảng đạo lý của con người. “Tôi không thể hiểu làm sao bạn có thể kết hợp một vũ trụ hoàn toàn có tính cơ học với tự do của một cá nhân có đạo đức,” Born viết cho Einstein. “Đối với tôi, một thế giới có tính tất định [deterministic world] là rất hãi hùng. Có lẽ bạn đúng, và thế giới vận hành như vậy, như bạn nói. Nhưng trong ngành vật lý hiện đại, thế giới không hẳn là như vậy – và thậm chí càng không phải như vậy trong các lãnh vực khác của thế giới.”

Theo Born, tính bất định của lượng tử [quantum uncertainty] mở ra một lối thoát cho nan đề này. Cũng như một số triết gia thời đó, Born bám vào tính bất định [indeterminacy] trong cơ học lượng tử để giải quyết “sự khác biệt giữ tự do đức lý [ethical freedom] và các luật thiên nhiên nghiêm khắc.” Born giải thích vấn đề này với vợ mình là Hedwig, một người luôn luôn muốn tranh luận với Einstein. Bà nói với Einstein rằng, giống như ông, bà “không không thể tin vào một Thượng Đế chơi ‘súc sắc.’” Nói cách khác, tương phản với chồng, bà bác bỏ quan điểm cơ học lượng tử cho rằng vũ trụ đặt cơ sở trên các bấp bênh và xác suất [uncertainties and probabilities]. Nhưng, bà nói thêm, “tôi cũng không thể tưởng tượng nổi ông tin tưởng rằng – theo lời kể lại của chồng tôi – “sự ngự trị hoàn toàn bằng qui luật” [complete rule of law] ngụ ý mọi việc trong vũ trụ đều do tiền định [predetermined], chẳng hạn đến cả việc tôi có muốn chích ngừa cho con tôi hay không.” Bà vạch ra rằng quan điểm này đồng nghĩa với sự kết thúc mọi hành vi đạo lý. Nhưng Einstein trả lời rằng người ta nên coi ý chí tự do như một cái gì hữu ích, thật sự cần thiết cho một xã hội văn minh, vì nó sẽ thúc đẩy người ta nhận lấy trách nhiệm cho hành động của mình. “Tôi buộc phải hành động như thể mình có ý chí tự do,” ông lý giải, “vì nếu tôi muốn sống trong một xã hội văn minh tôi phải hành động có trách nhiệm.” Einstein thậm chí qui trách nhiệm cho người ta về điều thiện và điều ác, vì đó là cách tiếp cận cuộc đời thực tiễn và hợp lý, mặc dù về mặc tri thức ông vẫn tin rằng hành động của mọi người đều được tiền định [predetermined]. “Tôi biết rằng trên bình diện triết lý một kẻ giết người không có trách nhiệm về tội ác của hắn,” ông nói, “nhưng tôi không thích ngồi uống trà với hắn ta.”

Einstein tin tưởng rằng nền tảng của đạo lý là, vượt lên trên “lãnh vực thuần túy cá nhân” để sống có ích cho loài người. Ông dâng hiến đời mình cho chính nghĩa hoà bình thế giới và, sau khi khuyến khích Hoa Kỳ chế tạo bom nguyên tử nhằm đánh bại Hitler, mải mê làm việc để tìm ra các phương cách kiểm soát loại vũ khí này. Ông vận động tài chính để giúp đỡ những người tị nạn như ông, lên tiếng đòi hỏi công lý cho người da màu và công khai bênh vực các nạn nhân bị phong trào chống cộng cực đoan McCArthy chụp mũ. Và, Einstein cố gắng sống bằng thái độ dí dỏm, khiêm nhượng, giản dị và vui vẻ ngay cả khi ông đã trở thành một trong người nổi tiếng nhất hành tinh.

Đối với một số người, các phép lạ được dùng để chứng minh sự hiện hữu của Thiên chúa. Đối với Einstein, chính sự vắng mặt các phép lạ lại phản ánh sự quan phòng của Thượng đế. Sự thể thế giới có thể được cắt nghĩa và tuân theo các qui luật là điều đáng kinh phục. 

Nguồn: Time Magazine, Thursday, Apr. 05, 2007.

Trần Ngọc Cư dịch

Chú thích của dịch giả: 

1. Agnostic: Người tin rằng người ta không thể biết được có hay không có thượng đế hoặc bất cứ điều gì nằm ngoài các hiện tượng vật chất; một người không muốn đặt vấn đề có thượng đế hay không.  

2. Chủ nghĩa phiếm thần (pantheism) cho rằng vũ trụ và thượng đế là một, hoặc trong mọi hiện tượng đều có thượng đế. Người theo chủ nghĩa phiếm thần không tin vào một thượng đế riêng biệt, mang nhân hình nhân ảnh.

Tuesday, January 15, 2019

XẾP HẠNG 10 THIÊN TÀI HÀNG ĐẦU CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI:

10. Albert Einstein (nhà vật lý người Mỹ gốc Đức – Do Thái, phát minh ra Thuyết Tương đối); 
9. Phidias (kiến trúc sư thành Athen);
8. Alexander Đại Đế (vua xứ Macedonia, là một trong những nhà chỉ huy quân sự thành công nhất trong lịch sử);
7. Thomas Jefferson (Tổng thống thứ ba của Mỹ);
6. Isaac Newton (nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học tự nhiên và nhà toán học vĩ đại người Anh);
5. Michelangelo (nhà điêu khắc, kiến trúc sư, họa sĩ và thi sĩ Roma);
4. Johann Wofgang von Goethe (nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia, nhà văn, nhà khoa học, họa sĩ của Đức);
3. Người chỉ huy xây Đại Kim Tự Tháp Ai cập;
2. William Shakespeare (nhà thơ và nhà soạn kịch người Anh).
1. Leonardo da Vinci. ( Nhà bác học người Ý xuất sắc trên mọi lĩnh vực)


FB-Hung Ngo Manh

Sunday, September 2, 2018

Great people of our time: CHARLIE CHAPLIN (tiếp theo và hết)

Ông đã phát hiện ra nhân vật "người lang thang nhỏ bé" hầu như là tình cờ. Hồi còn trẻ, ông và anh ông đã đến Mỹ cùng với một nhóm nhỏ các nghệ sĩ và đã biểu diễn ở vài thành phố. Một lần, Chaplin đã được mời gia nhập một đoàn mới chuyên làm phim hài. Ông chấp nhận lời mời và sớm trở nên nổi tiếng.

Rất nhanh chóng, ông đã làm hàng tá phim ngắn cho đoàn làm phim này. Song trong bộ phim thứ hai, ông đã mặc bộ quần áo khiến ông trở thành danh tiếng - mũ đen, áo khoác khít người, quần của kẻ ăn mày, giày quá khổ, bộ ria và cái gậy. Ông chỉ có ý định đơn giản là gây cười cho mọi người, nhưng cái bộ điệu kỳ cục này đã khiến ông có được cả chất bi và chất hài. Trong những bộ phim tiếp theo, nhân vật người lang thang nhỏ bé tiếp tục phát triển cùng với bộ trang phục mà ông đã quyết định mặc.

Diện mạo của ông đã đạt mức thành công phổ biến ngay từ đầu. Song những bộ phim đầu tiên của ông không có nhiều tình huống lắm. Những bộ phim ấy cũng có đủ các hành động. Người lang thang nhỏ bé đóng vai người chơi trốn tìm chạy xa kẻ thù chạy vào thành phố, nhảy lên tàu, trôi nổi trên những dòng sông hoặc anh ta ráng sức làm một việc gì đó nhưng chẳng có kết quả. Một phim có cảnh anh chàng Chaplin bé tí cố níu một mụ béo khổng lồ đu trên chiếc ván trượt. Cái dung mạo đau khổ của Chaplin khi ông ngã xuống và cố bấu lấy một cái gì đó lặp đi lặp lại, là một trò đùa khủng khiếp khiến mọi người phải la lối và cười phá ra.

Đến lúc Chaplin 30 tuổi, ông trở thành một nghệ sĩ hài vĩ đại nhất, nổi tiếng nhất, được yêu mến nhất trên thế giới. Ông thu được hàng ngàn đô-la cho mỗi phim ông làm.Ông đã xây dựng được hãng làm phim riêng, đã biên kịch và đạo diễn chính những bộ phim của mình. Ông được những đám đông hâm mộ chào đón vây quanh bất cứ nơi nào ông tới. Nhưng ông làm việc miệt mài và rất hiếm bạn thân.

Phải chăng đó là lý do mà mặt bi của người lang thang bé nhỏ phát lộ ngày càng rõ trong những bộ phim ông làm. Người lang thang bé nhỏ bắt đầu mong muốn có chỗ nương thân và có người che chở cho cái đầu của ông. Ông bắt đầu khao khát tình yêu.

Một trong những bộ phim nổi tiếng nhất của ông: Tìm vàng, một cô gái "chơi khăm" người đàn ông bé nhỏ, rồi cô bắt đầu cảm thấy thương anh và đối xử tốt với anh. Chàng trai lại hiểu lầm tình thương của cô là tình yêu. Cô gái trong Ánh sáng thành phố bị mù, vì cô không thể nhìn thấy anh nên cô nghĩ anh là người tuyệt vời nhất mà cô đã gặp, nhưng sau đó cô đã được chữa khỏi bệnh và đã "đọc" được những điều ngu ngốc nơi anh. Nỗi bi kịch như vậy đã làm cho phim Chaplin có chiều sâu với sự từng trải của con người mà chút hài ước có thể làm cho cân bằng.

Chaplin cưới vợ vài lần. Song cho dù ông đã giàu có và nổi tiếng vượt quá cả những ước mơ dữ dội nhất của ông, ông đã là một người già trước khi những mộng ước về tình yêu được thỏa mãn. Rồi ông lấy Oona, con gái nhà văn Mỹ Eugene O'Neill, và cuộc hôn nhân đã kéo dài.

Ông không ưa nước Mỹ, nơi ông đã sống đến bốn mươi năm và trở thành một vĩ nhân. Ông cùng với vợ và gia đình chuyển đến Thụy Sĩ. Ông tự coi mình là một công dân của thế giới, hơn là của một đất nước riêng biệt nào. Những bộ phim nổi tiếng của ông làm trong những năm 20 và 30, thời của phim câm. Nhưng, đối với nhiều người trên thế giới, Charlie Chaplin vẫn là một Vua Hề.

Trong những năm cuối cuộc đời trường thọ của ông, ông đã trở về Mỹ và đến Anh để nhận những danh hiệu dành cho toàn bộ sự nghiệp điện ảnh của mình. Ông chết ở Thụy Sĩ vào ngày Giáng Sinh năm 1977, thọ 88 tuổi. Cả thế giới buồn đau trước tin ông từ trần.

Thursday, August 30, 2018

Thủ lĩnh của "cơn lốc màu da cam"

Cái tên Johan Cruyff đủ để người ta cảm nhận được giá trị to lớn mà ông đã tạo dựng cho bóng đá thế giới. Ông không phải ngôi sao sân cỏ đơn thuần!


Giữa tháng 5/1984, chương trình thời sự của Hà Lan dành hẳn nửa thời lượng để nói về Johan Cruyff. Điều này chưa từng xảy ra trong lịch sử vì lúc ấy, các đài truyền hình vẫn phải thượng tôn chính trị, ưu tiên các vấn đề an ninh thế giới. Nhưng người Hà Lan đón nhận điều này một cách trang nghiêm, như thể thời khắc ấy là đỉnh điểm của bầu cử toàn dân. Hôm đó, Johan Cruyff chia tay sân cỏ.

Một tuần sau, Liên đoàn bóng đá Hà Lan công bố, họ quyết định tạo ra giải thưởng Cruyff Award để trao cho Cầu thủ xuất sắc nhất giải quốc nội. Đặc biệt hơn, Cruyff Award được trao liền cho giải hạng Nhất (Erdivisie) và giải hạng Nhì (Erstedivisie) – tức là hai giải đấu hàng đầu của Hà Lan. Đấy cũng là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử bóng đá nước này. 
Cái tên Cruyff đủ để người ta cảm nhận được giá trị to lớn. Ông không phải ngôi sao sân cỏ đơn thuần!
Tôi không biết phải bắt đầu với cái tên ấy như thế nào cho đủ, vì nếu nói mãi về 3 quả bóng vàng của ông, về 8 năm thay đổi lịch sử ở Barca và những giá trị kinh điển của bóng đá tổng lực mãi thì nhàm quá. Vì ai cũng biết cả rồi. Nhưng tôi muốn kể về một vài mẩu chuyện về ông như một cách tri ân huyền thoại của thế giới.
Khi tôi 7 tuổi, trên tường nhà có treo một bức tranh cầu thủ vẽ tay. Bức tranh ấy bố tôi luôn mang cất giữ cẩn thận và cứ sau mỗi lần dọn nhà, ông lại trịnh trọng treo lên mảng tường nào dễ nhìn thấy nhất ở phòng khách. Lúc ấy, tôi không hiểu bức tranh ấy vẽ ai, chỉ biết, đấy là một cầu thủ đá bóng mặc áo da cam (xỉn màu), quần đen, gương mặt xương và hình như đang quặt bóng.
Có lần, tôi hỏi bố đấy là ai. Bố tôi bảo, “ông là Johan Cruyff, cầu thủ của đội Hà Lan”. Câu chuyện qua đi cho đến Mundial 1990, khi ấy tôi 11 tuổi, và bắt đầu có chút “kiến thức bóng đá”. Nhà tôi vài ba lần dọn dẹp mỗi khi Tết đến Xuân về, nhiều vật dụng thay đổi, có cái còn, có cái bỏ nhưng bức tranh về Johan Cruyff vẫn luôn có chỗ trong phòng khách, vẫn luôn được bố lau chùi cẩn thận. Tôi lại hỏi bố, “Ông Cruyff có hay hơn Maradona không?”, bố tôi chỉ cười nhẹ “với bố thì hay hơn”.
Câu chuyện ám ảnh tôi cho đến nhiều năm sau đó, vì bản thân tôi không thể biết còn ai hay hơn được Maradona nữa. Cruyff ư? Ông ta chả là cái quái gì ngoài bức hình quặt bóng treo trên tường. Có lẽ bố nhầm…
Năm 2002, World Cup lần đầu tiên tổ chức ở Nhật và Hàn Quốc. Đài truyền hình Việt Nam thường phát lại Lịch sử các kỳ World Cup trước giải khoảng nửa tháng hay một tháng gì đó. Thật kỳ lạ là chương trình World Cup năm 1974 đập vào mắt tôi đầu tiên, và gần như duy nhất tôi xem năm đó. Lúc ấy, người ta chiếu đi chiếu lại khung hình về đội tuyển Hà Lan, về Johan Cruyff với hàng loạt câu cảm thán nuối tiếc cho họ khi để tuột chiếc Cúp Vàng trong khoảnh khắc.
Tôi nhận ra ngay ông ấy vì hình ảnh một cầu thủ gầy gầy, xương xương có cú quặt bóng rất giống trong bức tranh của bố đang nhảy múa trên màn hình. Quả đúng là Cruyff thu hút thật, hay thật. Từ đó, tôi bắt đầu chú ý đến ông…
Hai năm sau, khi bước chân vào nghề báo, tôi viết về bóng đá quốc tế. Bức ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi hôm ấy lại là Johan Cruyff. Ông ấy ngồi nghiêng, miệng ngậm điếu thuốc, mắt nhìn xa xăm. Vẫn là ông ấy, nhưng lần này tôi bắt đầu tìm hiểu.
Càng đi sâu vào thế giới của Cruyff, tôi càng choáng ngợp về những cái ông ấy đã làm và thay đổi bóng đá. Trong đó, điều giá trị nhất của Cruyff là ông ấy đã “xé” Hà Lan thành hai thời kỳ: Thời kỳ trước khi Cruyff xuất hiện và thời kỳ sau khi Cruyff chơi bóng.
Ở Barca, Cruyff khởi đầu cho triết lý lò đào tạo bằng việc đòi hỏi bằng được các lứa cầu thủ nhỏ phải tập như đội lớn, tức là tất cả tập cùng một giáo án, cảm thụ chung một tư duy. Ngày nay, đó chính là lò La Masia nổi danh mà khi bất cứ một cầu thủ nào đó được nhấc lên đội 1 là có thể bắt nhịp ngay!
Cruyff còn được gắn với thuật ngữ “bóng đá tổng lực”. Có điều, cả thế giới coi ông là người phát minh, nhưng lại không mấy ai hiểu được ý nghĩa và điểm khởi thủy của “bóng đá tổng lực”. Cruyff phát minh ra lối chơi “tổng lực” vì ông nhận thấy rằng, nếu một cầu thủ tấn công thì… đỡ mệt hơn một cầu thủ phòng ngự và một cầu thủ chủ động cầm bóng “có vẻ” dai sức hơn một cầu thủ phải đuổi bóng. Chưa hết, thể lực của cầu thủ Hà Lan – theo Cruyff – không cơ bắp bằng các cường quốc bóng đá khác như Anh, Đức, Pháp và các nước Bắc Âu nên họ buộc phải… đá tổng lực. Nghĩa là, vì bản chất yếu hơn nên họ phải cầm bóng tấn công cho đỡ phải… đi đuổi đối thủ.
Theo tính toán của Cruyff, thì nếu một hậu vệ dâng cao tấn công, những người khác trám vào chỗ đó, cả đội hình luân chuyển thì ai cũng tiết kiệm được sức lực. Triết lý “tổng lực” ở đây là hậu vệ có thể tấn công, tiền đạo có thể đảm bảo khả năng phòng thủ. Điều này hiện nay không còn mới mẻ gì, nhưng cách đây hơn nửa thập kỷ, nó là phát minh!
Sau thời kỳ này, Cruyff đã nói một câu cực kỳ nổi tiếng: “Tấn công là cách phòng thủ tốt nhất”. Bây giờ, chắc chẳng ai còn lạ.
Trong 8 năm tại vị ở Barca, Cruyff đã tạo ra hai cầu thủ chạy cánh điển hình là Albert Ferrer và Sergi Barjuan. Vốn dĩ, họ là những tiền vệ biên được kéo về. Điều này ban đầu tạo ra mâu thuẫn lớn khi cả thế giới vẫn tôn thờ hậu vệ to cao, khỏe va chạm, mạnh tranh chấp, trong khi Ferrer và Sergi chỉ nhỉnh hơn… Maradona chút xíu.
Không ít người chất vấn Cruyff về quyết định được cho là kỳ quái, là điên rồ ấy, trong đó có cả Chủ tịch Lluis Nunez. Cruyff chỉ ngắn gọn: “Nếu có thể, tôi muốn xếp mỗi biên thêm một cầu thủ tấn công nữa”.
Cũng tương tự những phát minh, Cruyff thường chỉ đạo các cầu thủ của mình phải dồn bóng cho người giỏi nhất, đồng thời tạo điều kiện để cầu thủ này đối đầu với cầu thủ… tệ nhất bên phần sân đối diện. Câu nói nổi tiếng của ông là: “Đội bóng nào cũng có điểm yếu, mà điểm yếu ở đây là con người. Các cậu hãy tìm người kém nhất của họ. Còn người giỏi nhất của mình, tôi không nói”! Thông thường, các cầu thủ của Cruyff đều hiểu, người giỏi nhất mà ông nói đến luôn luôn là các cầu thủ tấn công. Đấy là lý do, Cruyff dùng rất nhiều tiền để mua Romario, Hristo Stoichkov, Michael Laudrup, Gary Lineker, Julio Salinas nhưng thường sử dụng “hàng có sẵn” cho vị trí phòng thủ.
Với những câu chuyện chẳng liên quan gì đến bóng đá, Cruyff cũng để lại nhiều giai thoại. Như chuyện ông tay đôi cãi vã với Chủ tịch khét tiếng Lluis Nunez và cuối cùng, bị ông này sa thải sau khi buông lời… thách thức.
Năm 1994, Cruyff và LĐBĐ Hà Lan (KNVB) đã tưởng nắm tay nhau bằng bản hợp đồng để ông dẫn dắt tuyển Da cam trên đất Mỹ. Nhưng cuối cùng, sự thỏa hiệp không thành vì phút cuối Cruyff không chịu ký cam kết… mặc trang phục do KNVB chỉ định. Cruyff muốn mặc gì mình thích, nhưng tuyên ngôn cuối cùng của ông vẫn là sự tự do. Cho đến giờ, đấy vẫn là nuối tiếc lớn nhất của người hâm mộ Hà Lan yêu mến Thánh Johan, vì chưa bao giờ, người hùng của họ xuất hiện ở vị trí mà họ nghĩ, ông xứng đáng nhất trong số những người được chọn.
Cruyff liên quan đến Ruud Gullit khá chặt chẽ khi hậu duệ gốc Surinam kết hôn với cháu gái của ông, Estella Cruyff. Nhưng vấn đề là mối liên quan ấy chỉ tồn tại trên lý thuyết. Cruyff và Gullit gần như không thèm dựa hơi nhau, không cần quan tâm đến nhau cho đến tận bây giờ. Thậm chí, Gullit không xuất hiện khi Cruyff có mặt và Thánh Johan cũng làm tương tự như vậy, bất chấp việc Ruud Gullit từng giải Cruyff Award hai lần vào các năm 1984 và 1986, khi còn khoác áo Feynoord  và PSV.
Trong đám cưới của Estella, Cruyff xuất hiện chốc lát trong tư cách nhà gái theo yêu cầu của cậu em trai. Vợ ông, bà Danny Coster khi đó có hỏi: “Ông cảm nhận thế nào?”, Cruyff nhún vai: “Ồ, tốt. Rất tốt”. Câu nói đó được truyền đạt lại với Estella, nhưng sau này bà Danny mới biết, lúc ấy Cruyff tưởng bà hỏi về… khả năng chơi bóng của Ruud Gullit.
Nói về Cruyff chưa đủ, viết về Cruyff thì bất tận. Ở Argentina và đa số các nước Nam Mỹ, ai cũng coi Maradona là Chúa. Đó là điều gần như không thể thay đổi. Riêng người Colombia tôn thờ Carlos Valderama, dị nhân Rene Higuita và hiếm khi nói về các ngôi sao khác. Còn ở Brazil, ngay tại mảnh đất thần thánh ấy, không ít CĐV mến mộ Cruyff hơn Pele. Họ gọi ông là Thánh vì… trót gọi Pele là Vua!
Bảo Thắng (Zing.vn)

Sunday, August 26, 2018

Great people of our time: CHARLIE CHAPLIN (tiếp theo)

Bất kỳ một vị khách bình thường nào đến rạp chiếu bóng cũng phải xem một vài phim của Chaplin. Khắp nơi người ta xem và cười cho đến khi nước mắt lã chã rơi xuống. Ngay từ lúc ông bắt đầu xuất hiện người ta đã hiểu điều mà họ hằng mong đợi từ người đàn ông nhỏ bé nhẹ nhàng với bộ râu đen cứng đơ, đôi mắt mở to, cái mũ đen tròn và đôi giày quá cỡ này. Ông sẽ bị xô đẩy vào hết tai ương này đến tai ương khác. Ông phải vật lộn với tuyết, trượt chân trên băng, ngã lộn từ cửa sổ xuống, lao ra khỏi những cây cầu. Ông sẽ phải chiến đấu với những người đàn ông to lớn hơn gấp hai lần, phải lòng những người đàn bà mà họ hầu như không để ý gì đến ông cả.

Những nhân vật khác mạnh hơn, giàu hơn, dũng cảm hơn ông sẽ chửi rủa ông, lăng mạ ông, ném ông ra xa. Nhưng thể nào ông cũng tìm cách chống lại. Ông đứng trên đôi chân của mình, hành động theo trái tim đã vỡ tung của ông, rồi lại tiếp tục như trước.

Nhân vật "người lang thang nhỏ bé" mà Chaplin đã đóng trong hàng trăm phim là một nhân vật mà ai cũng có thể hiểu được. Người đàn ông nghèo làm tất cả những điều sai lầm ngu ngốc, luôn ở trong tình trạng bối rối, nhưng ông ta có những ước mơ lớn. Ông ta làm cho chúng ta cười vì có những cố gắng dở người để thoát khỏi một kẻ độc ác nào đó. Mỗi khi khó khăn. ông ta tìm những lối thoát đáng ngạc nhiên. Và cuộc sống không bao giờ làm hại ông ta cả. Người lang thang nhỏ bé rất khác biệt với thằng bé mặc quần áo rách tướp, lạnh lẽo, không nhà không cửa, vì ông ta chối bỏ sự thất vọng. Giống như thằng bé, ông ta là một người yếu ớt, dị dạng và ngu ngốc, nhưng ông ta không bao giờ chối bỏ.

Ngay cả những người không biết tiếng Anh cũng có thể thưởng thức phim của Chaplin bởi vì đó là những phim hầu như câm. Điều ông nói không phải là cái làm cho chúng ta cười. Cái hài của ông không hề phụ thuộc vào từ ngữ, nó phụ thuộc vào một số những hành động đồng nghĩa với con người trên Trái Đất. Những cách biểu diễn không lời phản ánh những tình huống chung của con người đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật nhảy múa và kịch của nhiều nước. Đó là một loại ngôn ngữ "Esperanto" của thế giới.

Chaplin nhướng cặp lông mày đen rậm hay trợn tròn mắt ... Ông vuốt thẳng chiếc áo khoác hay vung vẩy cái gậy của mình trong không khí. Ông nấp đằng sau một mụ béo hoặc lẻn dưới một cái bàn để trốn những kẻ thù của mình. Cố tỏ ra dũng cảm, ông bị ngất xỉu trên sàn. Ông giũ bụi khỏi những miếng giẻ rách của mình để làm ra vẻ tự hào trước một giới chức quan trọng nào đó của xã hội. Ông làm ra cái vẻ của một kẻ giàu có, thành đạt, quan trọng, điều mà ông không phải và cũng chẳng bao giờ làm. Đó là tất cả những gì vô vọng và khó hiểu khiến ta phải phì cười. Đó cũng là bí mật làm nên thắng lợi to lớn của Chaplin.

(còn nữa)

Sunday, August 19, 2018

Great people of our time: CHARLIE CHAPLIN (1889-1977)

Vua hề


Vào khoảng năm 1900, một chú bé có vóc người thấp, tóc đen tên là Charles Chaplin hay ngóng đợi phía ngoài cổng hậu các nhà hát Luân Đôn. Chú trông có vẻ gầy và đói, nhưng đôi mắt màu xanh của chú thật quả quyết. Chú đang mong được nhận một công việc biểu diễn gì đó. Chú có thể hát và nhảy. Cha mẹ chú là nghệ sĩ tạp kỹ và chú đã lớn lên dưới ánh đèn sân khấu. Và, dù thời thơ ấu của chú cực khổ, chú vẫn biết cách làm cho mọi người cười.

Bộ quần áo của chú bé rách tả tơi. Thật khó kiếm việc với bộ quần áo đó. Chú đi lang thang với đoàn tạp kỹ có tên "Tám chú nhóc Lancashire". Đầu tiên, chú đóng vai một con chó. Mỗi đêm lũ trẻ lại chen chúc ngủ trong một nhà trọ ở một thị trấn khác nhau. Chúng nhớ mẹ khi chúng nằm trên giường, nghe thấy tiếng những người say rượu đang đánh nhau ngoài phố.

Cha chú bé đã chết vì uống quá nhiều rượu. Mẹ chú thực ra cũng không có khả năng chăm sóc chú và người anh cùng cha khác mẹ tên là Sid. Bà luôn đau ốm, rồi phải vào bệnh viện. Ngay cả khi ở nhà với các con, bà cũng như đang sống trong thế giới khác. Bệnh tật của bà làm cho các chú rất buồn.

Không kiếm được việc, Charles lang thang khắp thành phố. Chú kiếm cái ăn và chỗ nương thân ở bất cứ chỗ nào có thể cậy nhờ. Cũng có khi chú bị gửi đến nhà trẻ mồ côi, lạnh lẽo, khốn khổ, bị rầy la vì những tội lỗi vớ vẩn nhất. Chú ghét trại trẻ mồ côi.

Ba mươi năm sau, cũng chính là Charlie Chaplin được nhà vua tiếp đón nồng nhiệt. Những người giàu có thành đạt và nổi tiếng của nhiều nước mời ông dự tiệc. Ai cũng muốn gặp ông. Những bức hình quảng cáo ông nằm trong tay bè bạn là những người như Churchill, Einstein và Gandhi. Ông đã trở thành một nhân vật của hoàng gia trong thế giới điện ảnh tân kỳ đầy ánh sáng - Charlie Chaplin Vua Hề.

Đã có lần ông viết: "Bạn phải tin ở bản thân mình. Đó là bí quyết. Ngay cả khi tôi còn trong trại trẻ mồ côi, khi lang thang trên đường phố tìm miếng ăn để tồn tại, tôi cũng vẫn nghĩ về mình như một nghệ sĩ lớn nhất thế giới". Ông nói: "Thiếu niềm tin vào bàn thân, có thể sa xuống cái hố của sự tuyệt vọng".

(còn nữa)

Sunday, August 12, 2018

Great people of our time: PABLO PICASSO (tiếp theo và hết)

Picasso đã không phải mất thì giờ chờ đợi thành công. Khi ông bán những bức tranh của mình và được thừa nhận là một họa sĩ, tranh của ông có cái nhìn ấm áp hơn. Đồng thời, ông bắt đầu vẽ tranh với quan niệm ngày càng tự do và độc lập hơn. Ông bắt đầu nhìn con người và không gian trong những giới hạn đơn giản về hình khối. Không bao lâu sau, ông thử vẽ những bức tranh "Đúng như thực".

Những hiệu quả thoạt tiên có vẻ kỳ lạ và siêu thực. Những bức tranh trông khó hiểu. Ông vẽ những đầu người, những cảnh thiên nhiên hoặc những vật thể, tất cả những cái đó trong cùng cách: như thể hình khối của vật thể mới là điều quan trọng về vật thể ấy. Cách vẽ này đã ảnh hượng rộng đến nhiều họa sĩ khác, được biết dưới cái tên "Cubism"[1] - cái bóng của khối lập phương.

Three Musicians, 1921


Picasso hay tấn công vào những cái mới, đôi khi dữ dội, đầy cá tính. Những bức tranh giống như những cơn ác mộng của chúng ta. Trong thế kỷ này (thế kỷ 20) máy quay phim đã làm cho những bức tranh của các họa sĩ trở thành vô ích để diễn đạt thật chính xác điều mà người ta nhìn thấy. Máy quay phim có thể phản ánh chính xác hơn cuộc sống thực. Điều mà hội họa vĩ đại đem đến cho chúng ta chính là cách tiếp cận cuộc sống qua cách nhìn của một người nào đó, và mỗi người có một cách nhìn khác nhau.

Một số bức tranh của Picasso có màu sắc giàu có, mềm mại và đẹp. Những bức khác thì méo mó, kinh dị và kỳ lạ với hình dạng, đường nét tăm tối. Nhưng những bức tranh như vậy cho phép ta thỏa sức tưởng tượng mọi điều cho bản thân. Chúng có thể làm cho cái nhìn của chúng ta về thế giới sắc sảo hơn. Vì chúng đem lại sức mạnh cho chúng ta để nói với chính ta "Anh ta thấy được điều gì khiến anh ta vẽ như thế ?". Và lúc ấy ta bắt đầu để ý đến bề mặt của vật thể mà ta gặp.

Picasso vẽ hàng ngàn bức tranh với nhiều phong cách khác nhau. Có lúc ông vẽ đối tượng như là cái mà nó có. Đôi khi có vẻ như ông đã bẻ gãy chúng ra rồi "xâu" những mẩu rời thành một hình thể nào đó. Ông đòi cái quyền được chứng tỏ với chúng ta điều mà cái đầu nghĩ suy cũng như điều mà con mắt nhìn thấy. Tự bản thân ông lúc nào cũng tò mò về cái thế giới mà ông từng sống y như lúc ông còn trẻ.

Những con chim, những không gian và những vật thể quen thuộc có một vai trò trong tranh Picasso. Nhưng hầu như, nếu có ai nghĩ về ông, nhìn về cái phong cách mà ông đã vẽ khuôn mặt và hình dáng con người mới thấy đẹp và kỳ lạ. Gertrude Stein viết: "Cái đầu, khuôn mặt, thân thể con người, đó là tất cả những gì hiện hữu đối với Picasso - Linh hồn của mọi người. Nhưng làm cho ông quan tâm. Sự thực của cuộc sống nằm trong cái đầu, khuôn mặt, và thân thể con người".

Nếu bạn thích xem tranh, hãy thử tìm vài cuốn vựng tập về Picasso - cũng như cả các họa sĩ khác, bạn sẽ thấy điều mà họ muốn nói với bạn.

[1]: Cubism hay còn gọi là 'lập thể'

Sunday, August 5, 2018

Great people of our time: PABLO PICASSO (tiếp theo)

Picasso sinh ở Malaga, Tây Ban Nha, một thành phố yên tĩnh, thú vị. Cha ông là một họa sĩ, và là giáo viên nghệ thuật, người đã truyền cho cậu con trai những bài học đầu tiên về hội họa.

Picasso học rất kém ở trường. Cậu liều lĩnh và không nghe những điều các giáo viên giảng. Cậu không chấp nhận những sự phê bình của mọi người. Ngay từ bé cậu đã chỉ tin ở chính mình. Nhưng người ta sớm nhận thấy rằng cậu bé đúng là một nghệ sĩ và sẽ xứng đáng với một sự đào tạo tốt nhất mà cậu được thụ hưởng. Ngay cả những tác phẩm đầu tay của cậu cũng không giống như trò chơi của một đứa trẻ.

Chẳng thể nghi ngờ những điều mà cậu sẽ làm được trong cuộc đời. Nếu có ai đã là họa sĩ ngay từ lúc mới sinh, thì người đó là Picasso. Cậu đã được giải thưởng với bức "Khoa học và lòng từ thiện" cho sáng tác quan trọng đầu tay, khi cậu nới 15 tuổi. Cậu học vẽ ở một vài thành phố Tây Ban Nha. Nhưng chẳng có ai dạy cậu điều cậu muốn biết. 18 tuổi, cậu đến Paris.

Paris hồi ấy là trung tâm của thế giới các nghệ sĩ. Hầu hết họa sĩ sớm muộn rồi cũng đến đây để học tập, xem tranh và kết bạn với những họa sĩ khác. Mọi điều mới mẻ và thú vị trong thế giới hội họa dường như đều diễn ra ở đây. Khi Picasso 23 tuổi, ông trở lại đây để sống và đã sống ở Pháp cho đến cuối đời.

Lúc ấy ông đã là một họa sĩ có tài. Ông vẽ cảnh đời sống thành phố - những người trên đường phố và trong tiệm ăn, ở trường đua ngựa, trường đấu bò tót và rạp xiếc. Những nhân vật đó được mô tả với màu sắc rực rỡ, trông thật đáng yêu.

Nhưng đối với một họa sĩ vô danh, cuộc sống thật không dễ dàng. Bắt đầucuộc đấu tranh để chỉ ra một sự lựa chọn chủ đề mới. Trong vài năm, ông vẽ người trong các khu phố nghèo. Ông vẽ đàn ông và đàn bà, những người gầy gò, đói khát, mệt mỏi, bệnh tật, đui mù. Màu sắc trong tranh ông trở nên tối hơn. Hầu hết những bức tranh được phủ màu xanh và chỉ ra rất rõ ràng điều mà nghệ sĩ nhìn và cảm nhậ. Những bức tranh của "Thời kỳ xanh" trông đầy thất vọng và đáng thương.

Pablo Picasso, 1901–1902, Femme aux Bras Croisés (Woman with Folded Arms)

(còn nữa)

Friday, July 27, 2018

Great people of our time: PABLO PICASSO (1881-1973)

Họa sĩ trẻ nhất thế giới

Picasso - 1962

Pablo Ruiz Picasso sinh năm 1881. Song bạn có thể ngạc nhiên vì tại sao chúng ta lại gọi ông là "họa sĩ trẻ nhất thế giới". Khi ông chết (1973), ông đã 91 tuổi. Thế nhưng dường như ông vẫn tiếp tục công việc bỏ dở để bắt đầu vẽ một bức tranh mới như cái thuở ban đầu ông mới nhận thức sự vật.

Đó là lý do để ta gọi ông là họa sĩ "trẻ nhất". Những người trẻ tuổi luôn luôn có gan làm những việc mới mẻ cũng như thử những phương cách mới để thực hiện những việc đó. Họ không do dự thử hết hết việc này đến việc khác. Ra sức thể nghiệm, nên họ chào đón những tư tưởng mới. Họ không ngừng hoạt động và chẳng bao giờ thỏa mãn. Họ đi tìm sự hoàn thiện.

Những người già hơn hay sợ sự thay đổi. Họ hiểu điều họ có thể làm một cách tối ưu. Họ luôn nhai lại những công tích quá khứ hơn là liều để mà thất bại (thất bại liều lĩnh). Họ hiểu cái vị thế của bản thân trong cuộc đời và không muốn xa rời nó. Ta hiểu khá rõ điều mà họ kỳ vọng.

Khi ông đã qua 90 tuổi, họa sĩ Tây Ban Nha vĩ đại này vẫn sống như khi còn là thanh niên. Ông không ngừng tìm kiếm những quan niệm mới, những phương cách mới để có thể ứng dụng các chất liệu tạo hình của mình. Không ai hiểu ngày mai ông muốn vẽ gì. Không ai dám chắc loại tranh nào mà ông sẽ thể hiện. Nếu ông vẽ một bức tranh về bạn thì trông nó phải hệt như bạn. Hoặc cũng có thể nó chỉ là những đường thẳng, hình vuông, hình tròn và được quết những gam màu lạ lẫm, Nó cũng có thể chẳng giống con người chút nào.

Nhân vật của Picasso khi thì cùng lúc quay về hai phía, với đôi mắt và cái mũi nằm ở những vị trí kỳ cục, khi thì giống như một khối bị kéo căng ra hoặc vỡ tung ra. Màu sắc thì dữ dội và phi tự nhiên. Những cái tiêu đề của bức tranh thì bảo ta rằng đó là một con người nhưng trông nó chẳng khác một cái máy chút nào.

Ở những khoảnh khắc như thế, Picasso gắng vẽ điều mà ông thấy với tri giác và cách nhìn của ông. Ông đặt góc nhìn ở bên cạnh hoặc ở phía trước. Cùng một lúc ông vẽ cả người khỏa thân và quần áo ''đeo'' vào người đó. Ông có thể vẽ một vật thể bẹt ra, như thể nó không có chiều sâu. Đôi khi ta có cảm giác ông vẽ như một đứa trẻ, đơn giản là vì ông thích thế. Ông chẳng giống ai cả.

"Nếu những đối tượng mà tôi muốn diễn tả mà có được cách diễn đạt khác, tôi sẽ không ngần ngại sử dụng cách diễn đạt mới" - ông nói. Nói cách khác, ông vẽ những bức tranh với bất cứ kiểu cách gì mà ông cảm thấy thích nhất, không bị phụ thuộc quan niệm của ai cả.

Hầu hết họa sĩ sáng tạo ra một phong cách thể hiện phù hợp với họ rồi cứ dính chặt với nó, đặc biệt nếu người ta hãnh diện về những bức tranh của mình. Khi một nghệ sĩ trưởng thành hơn thì những bức tranh của anh ta có thể thay đổi nhưng không nhiều lắm. Còn Picasso lại giống như một người chưa hề tìm được phong cách vẽ đặc thù của mình. Ông vẫn tranh đấu để tìm sự diễn đạt hoàn thiện vì sự bứt rứt của chính ông.

Điều đầu tiên mà người ta nhận xét về ông là cái nhìn của đôi mắt mở to và mênh mông. Gertrude Stein, một nhà văn Mỹ nổi tiếng, từng biết ông thời trẻ có nhắc đến cái đôi mắt đầy khát khao này (hau háu này). Và mọi người còn có thể nhìn thấy nó trong những bức tranh của ông hôm nay. Picasso vẽ một bức tranh về bà năm 1906 và câu chuyện thật là thú vị.

Theo Gertrude Stein, bà đã đến xưởng vẽ 80 hoặc 90 lần khi ông vẽ chân dung bà. Trong lúc ông vẽ, họ nói chuyện trên thế giới mà họ quan tâm. Rồi một hôm, Picasso xóa cái đầu đã vẽ đi, cái đầu mà ông đã vẽ khá lâu. "Khi tôi ngắm chị, tôi mới thấy không thể vẽ chị như thế này nữa" - Ông nhận xét.

Vào mùa hè, Picasso đi nghỉ xa. Khi trở về, ông lập tức vẽ tiếp bức tranh dang dở đặt ở góc xưởng vẽ. Ông nhanh chóng hoàn thiện khuôn mặt theo trí nhớ. Ông có thể nhìn thấy người phụ nữ này trong ý tưởng rõ hơn là khi bà ta ngồi ở xưởng vẽ trước mặt ông.

Khi mọi người phàn nàn với ông rằng bức chân dung cô Stein không giống bà, Picsso đáp: "Quá tồi. Cô ấy sẽ được sắp xếp y như bức tranh này". Nhưng 30 năm sau, Stein nói rằng bức tranh Picasso vẽ bà là bức duy nhất làm cho bà hiểu rằng nó là chính bản thân bà.

(còn nữa)

Thursday, July 19, 2018

Great people of our time: ALBERT SCHWEITZER (tiếp theo và hết)

Bệnh nhân xa gần tới nhờ sự giúp đỡ của vị thầy thuốc mới ở Lambarene. Ông có vẻ ngoài nhân hậu và ánh mắt tươi cười. Những người châu Phi thường ngủ ngay trên mặt đất, bởi vậy họ cố thoát khỏi phải nằm lên những cái giường gỗ bệnh viện. Bác sĩ thỉnh thoảng lại phát hiện bệnh nhân của mình ngủ trên sàn trong lúc anh em bà con họ, những người đến thăm nuôi, lại chiếm lấy cái giường (!). Đến cuối năm đầu tiên, hai căn nhà của một bệnh viện nhỏ đã được xây dựng và gần 2000 bệnh nhân đã được điều trị ở đó.

Nhưng mọi điều không diễn ra một cách suôn sẻ. Năm 1914, chiến tranh Pháp-Đức bắt đầu cuộc Thế Chiến thứ nhất và châu Phi phải hứng chịu hậu quả. Bác sĩ Schweitzer xuất thân từ Alsace, một miền lúc thì thuộc Pháp, khi thì thuộc Đức. Vào thời điểm nổ ra cuộc chiến, nó đang là lãnh thổ của Đức. Bởi vậy, ông được coi là công dân  Đức, trong khi Ga - Bông lại thuộc Pháp. Vị bác sĩ và vợ trở thành tù nhân ngay trong bệnh viện của mình. Tới khi kết thúc chiến tranh, họ bị dẫn tới một trại tù ở Pháp, để lại một Lambarene không có thầy thuốc.

Bảy năm trôi qua trước khi Scgweitzer trở lại châu Phi, ở châu Âu ông đã kiếm tiền để trả hết nợ của bệnh viện. Ông lại nghiên cứu và viết sách. Cuối cùng, năm 1924, ông lại có thể quay lại Lambarene, và thấy rằng bệnh viện đã bị làm hư hỏng trong thời gian ông vắng mặt.

Ngay lập tức, ông bắt tay sửa chữa lại bệnh viện cũ, và tự tay làm rất nhiều việc. Buổi sáng ông vẫn là bác sĩ, nhưng buổi chiều đã là thợ xây. Nhưng rồi thành quả cũng chẳng được gặt hái, vì có quá nhiều người đói và sau đó là bệnh tật. Có nhiều y tá và bác sĩ đến làm việc hơn, và bệnh viện không đủ sức chứa cho công việc và con người nhiều như vậy. Rõ ràng nó cần phải được di chuyển.

Cách thượng nguồn dòng sông khoảng vài dặm, nơi đã từng có một vị tộc trưởng ngự trị, vị bác sĩ xây một bệnh viện mới với sức chứa bệnh nhân lớn hơn. Ông còn làm cả những trại nuôi các loài gia súc thu thập được.Những người Phi hiểu rằng ông đã để ân đức cho những con vật chứ không để chúng bị chết. Ông yêu tất cả các con vật, kể cả các giống vật hoang dã, những con rắn và những loài côn trùng nhỏ xíu. Ông không bao giờ giết chúng, mà chỉ giúp đỡ.

Ông cũng yêu mến cỏ cây hoa lá.  Ông dành thì giờ chăm sóc cẩn thận những cánh đồng và những mảnh vườn bao quanh bệnh viện. Quả chín trên cành, điều đó quan trọng với sức khỏe của bệnh nhân. Nhưng những bông hoa lại là những vật sinh động, ông không bao giờ ngắt chúng để trang điểm cho ngôi nhà của mình.

Ở bất cứ đâu ông tới, cũng có những con chó, con mèo, và cả những con vật ít quen thuộc. Một lần, ông đã cứu sống ba con bồ nông nhỏ, rồi làm một cái tổ, tự tay cho chúng ăn, và còn dạy chúng tự nhón lấy thức ăn. Một trong ba con chim quý vẫn còn sống ở Lambarene sau khi những con kia đã bay xa. Ban đêm nó canh gác từng bước chân tiến đến căn phòng của bác sĩ, và kêu to nếu có kẻ lạ bước vào. "Cô" bồ nông đã trở thành một nhân vật nổi tiếng không chỉ ở bệnh viện mà cả trong vùng.

Những khi bệnh viện cần tiền hay sự trợ giúp, bác sĩ lại quay về châu Âu. Ông lại tổ chức các buổi hòa nhạc, giảng bài với nhiều chủ đề. Và, mặc dù công việc của một bác sĩ và một nhà xây dựng có vất vả, nhưng về đêm, ông vẫn viết sách dưới ánh sáng của một ngọn đèn dầu. Ông là một trong những nhà tư tưởng lớn của thế giới.

Năm 1939, khi đã xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng của Thế Chiến thứ hai sắp đến, ông bỏ dở chuyến thăm vợ và con gái ở châu Âu, trở về Lambarene và sống những năm tháng chiến tranh ở đó. Khi cuộc chiến khủng khiếp này kết thúc, ông thường hay nói về sự nghiệp hòa bình.

Kể từ đó cho đến khi ông mất (1965), ông đã được nhiều quốc gia tặng nhiều danh hiệu và giải thưởng. Lớn nhất là giải Nobel Hòa Bình ông được trao tặng năm 1952. Toàn bộ số tiền của giải thưởng, ông đã giúp vào việc xây dựng một bệnh viện phong. Ông đã làm việc ở Lambarene cho đến lúc chết ở tuổi 90.

Phải chăng con người vĩ đại ấy đã từng tiếc nuối vì đã bỏ lại nhiều thứ để đến chiến đấu chống lại bệnh tật và lạc hậu ở châu Phi? Phải chăng một tấm gương về tình thương yêu con người lại là tương xứng với một sứ mệnh thánh thiện?

Albert Schweitzer chắc cũng đã nghĩ như vậy. Ông viết:

"Làm việc cho thế giới, không đòi hỏi bất cứ cái gì ở thế giới và con người, thậm chí không được cho đó là hạnh phúc thực sự ...", và "Tôi chẳng có cái gì khác để mà phụng sự ngoài con người, và đó là điều tự nhiên. Song, tự nhiên, đó là tình thương yêu".

Sunday, July 15, 2018

Great people of our time: ALBERT SCHWEITZER (tiếp theo)

Nhiều người khuyên anh không nên từ bỏ những điều anh đã làm được để đánh mất bản thân trong những khu rừng đầy mưa ở châu Phi. Họ khuyên anh nên đào tạo những người khác để phục vụ đức tin, rằng anh không nên kỳ vọng vào việc đến châu Phi. Điều đó là quá thánh thiện đối với một kẻ mà trời đã ban cho nhiều thiên chức, nhất là về âm nhạc. Nhưng những người dân châu Phi có cần những buổi hòa nhạc oóc-gơ không?

Song suy nghĩ của Albert đã thay đổi. Anh là một người không dễ dao động. Năm 1905, ở tuổi 30, anh lại quay trở lại trường đại học để làm một sinh viên ngành y, đồng thời anh tiếp tục dạy học và thuyết giáo. Anh tổ chức những buổi hòa nhạc để có thêm tiền cho việc học y ở đại học. Anh cũng tiếp tục nghiên cứu và viết.

Đối với một con người, làm việc như vậy là quá sức. Anh cảm thấy mệt khủng khiếp vào kỳ thi tốt nghiệp sáu năm học sau này, nhưng rốt cuộc, anh cũng đã trở thành một bác sĩ. Năm 1913, anh và vợ anh, Helen, đã vượt biển đến châu Phi, mang theo mọi thứ cần thiết để định cư và xây dựng một bệnh viên nhỏ.

Helen, người vợ mà anh vừa cưới năm trước, đã cùng chia sẻ với nguyện vọng làm việc ở châu Phi. Trong khi anh theo học để trở thành bác sĩ, thì chị cũng học để làm y tá. Họ cùng lập kế hoạch mở một bệnh viện ở Thánh bộ Truyền giáo Paris ở Lambarene trên bờ sông Ogowe. Lambarene thuộc Gabon sau này thành thuộc địa của Pháp.

Bác sĩ Schweitzer không được sự tài trợ của bất kỳ hội truyền giáo nào. Tự ông chi phí toàn bộ tiền bạc cho công việc của mình. Tiền xây dựng bệnh viện lấy từ nhuận bút những cuốn sách, thù lao bài giảng và những buổi hòa nhạc. Tất cả những công việc ấy đều có thể làm cho ông trở thành giàu có nếu ông ở lại châu Âu. Còn như lúc này, ông lúc nào cũng thiếu tiền cho những công việc mà ông định làm.

Hội truyền giáo Paris cấm ông thuyết giáo ở Lambarene. Dù những quan điểm của ông được cả thế giới kính trọng, những người truyền giáo vẫn không thể tin rằng nền giáo dục của một bác sĩ lại là nền giáo dục Thiên Chúa giáo.

Ông không phiền muộn vì không được thuyết giáo. Đến châu Phi để làm việc chứ không phải để thuyết lý, ông muốn chứng tỏ phẩm giá cao quý mà ông muốn dâng hiến cho cuộc đời bằng công việc và phong cách sống của chính bản thân mình. Sứ mệnh của ông là trị bệnh cứu người. Có hôm, trong chuyến đi ngược dòng sông lớn Ogowe, những từ ''lòng kính trọng sự sống'' bỗng vụt đến trong đầu ông. Những từ này diễn đạt một cách có ý nghĩa lòng kính trọng của ông đối với giá trị và lòng hào hiệp của mọi vật thể sống - súc vật, chim muông, cỏ cây, hoa lá, và dĩ nhiên, con người.

Đó không phải là một thứ đức tin Ki-tô giáo chật hẹp, nó lý giải vì sao một số nhà truyền giáo đã ngờ vực điều đó. Quan niệm đó có nhiều điểm chung với các tôn giáo phương Đông mà ông đã có dịp nghiên cứu. Bạ có thể nhớ lại quan điểm Ahimsa của Gandhi - đó là lòng tôn trọng mọi hình thức sống. Schweitzer chia sẻ với những người phương Đông lòng tôn trọng mọi vật đang sống.

Bởi thế nên Schweitzer và vợ ông đã không xây dựng một thứ bệnh viện sống sượng bên bờ sông Ogowe để làm đổi thay hoặc xâm phạm tới tập quán của cư dân ở đó. Ngược lại, họ đã chọn con đường tăng cường sức khỏe và hạnh phúc cho người dân.

(còn nữa)

Sunday, July 1, 2018

Great people of our time: ALBERT SCHWEITZER (1875-1965)

Lòng kính trọng đối với cuộc đời



Vào một buổi sáng năm 1896, ở vùng núi Alsace ngoạn mục, có một chàng trai trẻ sớm thức giấc. Anh nằm trên giường suy nghĩ về cuộc sống tương lai của mình. Anh mới hai mươi mốt tuổi, hiểu rằng mình có sức khỏe, sự mạnh mẽ và tài năng lớn về trí tuệ và tinh thần. Anh sẽ trở thành một linh mục của nhà thờ Ki-tô giáo như cha anh? Hay sẽ trở thành một nhà giáo thông thái, một nhà văn, một nghệ sĩ đàn oóc-gơ hay nghệ nhân làm đàn oóc-gơ nổi tiếng?

Tất cả những điều đó đều có thể đến với anh chàng sinh viên đại học trẻ Albert Schweitzer. Bởi vì có những điều lôi cuốn anh - âm nhạc, tôn giáo, lịch sử, tư tưởng loài người... Anh muốn làm tất cả với bàn tay của chính mình. Anh chơi đàn oóc-gơ rất giỏi. Anh tin chắc rằng anh có thể thành công trong bất kỳ dự định gì.

Nhưng anh muốn làm điều mà Chúa muốn. Bản thân anh cũng đã có cơ hội để hạnh phúc. Nhưng anh hiểu rằng cuộc sống của hàng triệu người trên Trái Đất còn đau khổ, và thực tâm muốn cải thiện cuộc sống của "những người khốn khổ" ấy. Albert đã nghiên cứu cẩn thận cuộc đời Chúa cứu thế. Anh cũng biết chuyện anh nhà giàu mặc quần áo đẹp, ăn uống phè phỡn hàng ngày, trong khi người bạn nghèo Lazarus ngồi ngay trước cổng nhà hắn trong bệnh tật và đói khát. Những quốc gia giàu trên thế giới không thể chia sẻ phần yến tiệc của mình với các quốc gia nghèo ư? Và một người chủ nhà tốt bụng cũng không chỉ mời bạn bè dự tiệc, anh ta sẽ chăm sóc tới những ai cần chăm sóc - những kẻ nghèo, người bệnh tật, kẻ mù lòa. Anh ta chia sẻ điều anh ta có với họ.

Nhưng chàng trai trẻ tự hỏi mình liệu có thể làm được điều thánh thiện như vậy chăng? Anh có dám chịu từ bỏ âm nhạc, học vấn, và mọi điều làm cho cuộc sống được an vinh? Dường như câu trả lời là "chưa thể!". Anh quyết định giành cho mình 9 năm, đến lúc anh 30 tuổi, để thực hiện những điều mà anh hằng mong muốn. Trên tất cả, anh sẽ tự dành cho mình vinh dự được phụng sự kẻ khác.

Chẳng ai ngoài Albert hiểu được những quyết định của chính anh ngày hôm ấy. Anh sẽ học nghiêm túc và viết sách. Anh sẽ học cách chế tạo những cây đàn oóc-gơ khổng lồ để đem âm nhạc đến cho các nhà thờ ở châu Âu. Anh sẽ chơi oóc-gơ cho đến khi trở thành một nghệ sĩ điêu luyện. Nhiều người sẽ đến thưởng thức tiếng đàn của anh. Anh sẽ trở thành linh mục của nhà thờ và hiệu trưởng của trường đại học, một người rất danh tiếng. Lúc ấy anh mới chỉ 30 tuổi. Anh sẽ ... Và anh không thể nào quên những dự định này...

Anh đã làm việc rất cần mẫn trong những năm tháng ấy và ngủ rất ít. Thường giấc ngủ của anh không bao giờ được trọn vẹn. Rất có thể anh đã bị cám dỗ để mà quên mất những người nghèo trên Trái Đất, nhưng lương tâm anh không cho phép.

Có một hình ảnh còn luôn giữ trong đầu anh. Ở thị trấn Colmar, nơi anh thỉnh thoảng vẫn đến thăm hồi còn là một đứa trẻ, có một bức tượng đá. Đó là hình ảnh của một người lính Pháp nổi tiếng. Một người nô lệ da đen nằm dưới chân anh ta. Hình tượng người da đen tuyệt đẹp, với thân thể cường tráng, khuôn mặt đượm buồn, đã làm trái tim cậu bé rung động. Cậu hay tìm cách đến đó để ngắm nghía bức tượng. Nó nhắc nhở cậu những nỗi đau khổ không nhất thiết phải gánh chịu của lục địa đen. Sau này, Albert hiểu rằng chính bức tượng đá, lần đầu tiên đã gợi cho anh ý tưởng sẽ làm việc ở châu Phi.

Dĩ nhiên, anh có thể đến châu Phi ngay sau đó, để làm giáo viên hay linh mục. Nhưng hồi ấy, tệ hơn bây giờ nhiều, ở châu Phi còn tồn tại rất nhiều bệnh tật mà lại rất thiếu bác sĩ. Vì vậy Albert quyết định trở thành một bác sĩ. Khi thổ lộ ý định này với bạn bè, anh nói: "Đối với tôi, tôn giáo có ý nghĩa là con người, những con người có tình cảm thành thật như chính Chúa Cứu Thế,... Ý nghĩa cuộc đời tôi không phụ thuộc về tri thức hay nghệ thuật, mà đơn giản là thuộc về loài người, và được làm điều nhỏ mọn trong tinh thần của Chúa Giê-su..."

(còn nữa)

Tuesday, June 19, 2018

Great people of our time: MARIA MONTESSORI (tiếp theo và hết)

Khi bắt đầu dạy những đứa trẻ này, bà đã tìm và cung cấp cho chúng những vật liệu khả dĩ mà có thể bọn trẻ cần. Bọn trẻ có thể cầm những thứ ấy trong tay và xem xét chúng. Bà dạy trẻ những điều giản đơn như rót nước, cầm một cây bút chì, "xì" mũi bằng chiếc khăn mùi xoa. Chúng thấy hãnh diện vì chúng có khả năng làm được những việc ấy.

Rồi bà dạy chúng đọc và viết. Bọn trẻ không chỉ nhận mặt chữ, chúng còn "cảm" được những chữ cái vẽ ra trên một cái hộp hoặc trên mặt gỗ. Bà khuyến khích đứa trẻ nhận mặt chữ (từ), chữ số và đặt câu. Chúng sớm biết đọc và làm tính với cách này. "Cô giáo" luôn ở bên cạnh để giúp bọn trẻ vượt qua bất kỳ khó khăn nào.

Một số những đứa trẻ "chậm tiến" đã đủ trình độ vượt qua kỳ thi quốc gia do các trường tiểu học tổ chức. Bác sĩ Montessori thực sự vui mừng về việc bà đã làm, và bắt đầu thấy kinh ngạc rằng cách dạy của bà có thể áp dụng với toàn bộ trẻ em.

Năm 1907 bà đã có một cơ may để thể hiện quan điểm dạy trẻ của mình, trong lứa tuổi từ 3-6, với sự phát triển trung bình: bọn trẻ sống trong một khu rất nghèo của thành Rome. Gia đình chúng đã được chuyển đếnở những ngôi nhà mới, đẹp và có điều kiện sống tốt hơn so với nơi ở cũ của họ. Nhưng những người dân đó hiểu biết rất ít về sức khỏe và vệ sinh. Những đứa trẻ chẳng có việc gì để giải khuây, chúng đi chơi lang thang trong khi cha mẹ đi làm. Chúng bẩn thỉu, đùa nghịch và quậy phá, làm hỏng đồ đạc mà chẳng cần lý do nào. Bởi vậy, chính quyền đã tìm một căn nhà cho bọn trẻ và yêu cầu nữ bác sĩ Montessori giúp đỡ chúng.

Có 60 đứa trẻ trong cái "Nhà trẻ" đầu tiên này. Các căn phòng sáng sủa, được quét sơn màu, nhìn ra một khu vườn mà ở đó lũ trẻ có thể gieo trồng được thứ gì đó. Những chiếc ghế dài và bàn có kích thước phù hợp với chúng. Ở đó có tranh để ngắm và có hoa để thưởng thức hương thơm. Lũ trẻ tự chọn việc mà chúng muốn làm và làm việc với mức phù hợp với sức vóc non nớt của chúng. Chúng trở nên bận rộn, hòa thuận và hạnh phúc.

Maria Montessori đã đi khắp châu Âu, châu Mỹ và cả vùng Viễn Đông. Con trai bà, Mario, đã tự nguyện từ bỏ công việc để giúp mẹ...

Bà đã viết sác với các tựa đề như Bí mật tuổi ấu thơ, Giáo dục cho một thế giới mới... Một số cuốn sách như vậy đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Các trường kiểu Montessori thích hợp với trẻ em ở các dân tộc, các trình độ, các đẳng cấp và các vùng khác nhau. Chúng thu được kết quả tốt với trẻ em ở nhiều lứa tuổi, với trẻ tiếp thu nhanh cũng như chậm.

Giáo viên đã cung cấp cho bọn trẻ những nguyên liệu hấp dẫn và dạy chúng cách sử dụng. Bọn trẻ tự "vạch kế hoạch" phù hợp với thiên hướng của chính bản thân chúng. Trẻ con không còn phải ngồi một chỗ nữa, chúng được hành động tự do. Điều chúng học được phụ thuộc vào chính bản thân chúng. Nhưng BS Montessori tin rằng: mỗi đứa trẻ đều có những thời kỳ mà lúc ấy chúng sẵn sàng học những điều cụ thể nào đó. Chẳng hạn, lúc này chúng có thể học chữ số, nhưng lúc khác thì lại học ngôn ngữ. Điều quan trọng đối với trẻ, là được hướng dẫn bởi chính những nhu cầu tự thân của chúng. Montessori là một trong những nhà giáo vĩ đại. Sự tiếp cận giáo dục của bà đã làm thay đổi toàn bộ quan niệm của chúng ta về thời thơ ấu. Ở châu Âu, đã có thời người ta coi trẻ em là một thứ người lớn thu nhỏ, rất yếu ớt, vô dụng và chưa hoàn chỉnh. Càng lớn tuổi, trẻ em càng thích hành động như người lớn. Chúng luôn bị mắng mỏ vì chúng đối xử như "những đứa trẻ" (!) Mỗi hành vi tự nhiên của trẻ đều bị coi là điên rồ. Bà Montessori lại coi tuổi ấu thơ là một thời kỳ đặc biệt và rực rỡ, cái thời kỳ người ta có cái đầu thì bận rộn còn các giác quan lại hết sức nhạy cảm.

Ngày nay, mọi người đều đã chia sẻ quan điểm này.

Bà rời nước Ý sau khi Mussolini lên cầm quyền, và kết thúc công việc của mình lúc đó. Nhưng bà vẫn tích cực hành động cho đến phút chót của cuộc đời. Bà dành tất cả những năm cuối đời để huấn luyện các nhóm giáo viên ở khắp nơi trên thế giới. Bà qua đời ở Hà Lan, năm 82 tuổi.