Showing posts with label Tri thức. Show all posts
Showing posts with label Tri thức. Show all posts

Friday, April 11, 2025

BIẾT

 Giác-Thức-Tri-Ngộ: thế nào là biết?

     1. Tôi làm khoa học, gần đây lại quan tâm đến giáo dục nên quan tâm tới biết là gì và làm thế nào để biết. Và cũng vì thế là kẻ thù của thuyết “không thể biết” và “không thể nghĩ bàn”. Nghe thì có vẻ viển vông nhưng vấn đề rất thiết thực và thời sự. Nếu làm rõ có khi ra công nghệ mới có thể kiếm tiền rất nhiều cũng nên. Ngoài ra giáo dục cũng là một thị trường mênh mông đang chờ một quan niệm mới về “biết” khi AI đang thay thế những hiểu biết cũ.

     2. Trong gốc chữ Hán Việt cả bốn chữ  đều liên quan tới “biết”. Bốn cái biết đó đều khác nhau, tuy vẫn hay dùng lẫn lộn. Giác nghĩa gốc liên quan chủ yếu tới “cảm tính”, Tri liên quan chủ yếu tới “lý trí”. Nói “chủ yếu” là vì không cái biết thật sự nào mà chỉ liên quan một thứ. Điều thú vị là chữ nào cũng có nghĩa nặng và nghĩa nhẹ. Chẳng hạn chúng ta có thể “biết” ai đó nhưng không tới mức “quen”, mà cũng có thể “quen” nhưng không đến mức “biết” ai đó. Giác có thể chỉ là cảm giác, nhưng có thể “giác” về đạo là một sự thấm nhuần sâu sắc. Lý do là mọi cái biết của con người đều rất mờ nhạt, tùy tiện ẩn hiện tuỳ lúc.

    3.Truyền thống phương Tây chỉ bàn về hai cách để có tri thức là bằng quan sát, kinh nghiệm hoặc bằng suy luận, lý trí. Thời cận đại các triết gia phương Tây đã chia làm hai phái tranh cãi không ai chịu ai. Phái lý trí chủ nghĩa (rationalism) cho rằng cảm giác và kinh nghiệm là ảo tưởng, do đó tri thức chân chính chỉ có từ lý trí, suy luận. Phái này điển hình là các tên tuổi vĩ đại như Descartes, Spinoza, Leibnitz. Descartes nổi tiếng với câu nói “Tôi suy nghĩ, tức là tôi tồn tại” Những người ít suy nghĩ, luôn sợ ong thủ, nếu không thù ghét cụ này, chẳng qua họ không hiểu cụ ấy coi họ như súc vật vô tri” nhưng nói cho văn hoa mà thôi. 

      Cụ Leibnitz rất sâu sắc với tư cách là nhà toán học và nhà triết học. Có điều hai thành tựu vĩ đại nhất liên quan tới tên cụ là nguyên lý nguyên nhân đủ và đạo hàm đều có người tìm ra trước cụ rất lâu. Tuy vậy, nhờ cụ diễn giải mọi sự mới trở nên dễ hiểu cho chúng ta ngày nay. Quả là lý trí thì phải có thể làm mọi sự sáng sủa. Spinoza khét tiếng ở chủ nghĩa phiếm thần. Cụ bảo Chúa chính là toàn bộ tự nhiên và ngược lại. Đó là công lớn của cụ. Đỡ phải nghe các ông thực ra chẳng có gì khác nhau cãi nhau.

    4. Trường phái kinh nghiệm cầm đầu là Bacon, Locke và Hume coi tri thức là từ kinh nghiệm mà ra. Bacon có thể coi là cha đẻ của chủ nghĩa kinh nghiệm đã bỏ nhiều công sức để tránh các sai lầm của sử dụng kinh nghiệm mà ông gọi là ngẫu tượng của tâm trí. Đọc ông tôi mới thấy chủ nghĩa kinh nghiệm không phải niềm tin vớ vẩn của bọn thích nghịch đất sét. Locke có một ý tưởng liên quan đến giáo dục là coi tâm trí trẻ em là một tấm bảng trắng mà tri thức được kinh nghiệm viết lên. Dẫu không hoàn toàn đúng quan điểm này cũng mới mẻ và có giá trị đối với thực hành giáo dục. Hume giống Bacon ở điểm hoài nghi và phê phán sâu sắc với phương pháp kinh nghiệm. Ông cho rằng niềm tin thô sơ “cứ quai búa đi rồi bạn sẽ hiểu về sắt thép” là sai lầm, do không phải kinh nghiệm nào cũng dẫn tới tri thức. Ông nhận xét rằng tri thức có từ cảm xúc, thông qua ấn tượng và ý tưởng. Sau đó là các yếu tố tâm lý như quyền lợi, niềm tin, cảm xúc, thói quen, đánh giá sẽ ảnh hưởng tới cách chúng ta diễn giải thế giới và gọi đó là tri thức. Nếu như vậy, quy luật nhân quả cũng chỉ là một thói quen nhận thức theo Hume. Như vậy, các nhà kinh nghiệm quả là vĩ đại, ở chỗ họ nghi ngờ chính phương pháp của họ. Điều đó khác các nhà lý trí, cứ "quân ta" là cảm tình.

     5. Như vậy với kinh nghiệm và lý trí chúng ta mới có cái biết cảm tính và cái biết lý tính liên quan tới Giác và Tri (theo nghĩa hẹp và ở mức cơ bản). Ngoài những cái biết đó còn cái biết nào khác hay không? Câu hỏi đó cũng tương đương với việc hỏi ngoài Thực tại nhận thức được bằng kinh nghiệm và Thực tại nhận thức bằng lý trí còn có Thực tại nào khác hay không? Đương nhiên, vẫn có khả năng dung hoà các quan niệm về nhận thức luận bằng cách giả thiết có nhiều Thực tại giao mà không nhất thiết trùng nhau. Phật học tin rằng có một Thực tại chỉ có thể nhận thức bằng Trực ngộ. Tôi cố ý không dùng chữ Trực giác hay dùng để tránh nhầm với cái biết cảm tính là Giác.

    6. Tôi sẽ không nói niềm tin cá nhân hay phán xét về sự tồn tại của Thực tại này. Tôi cho rằng chỉ có một Thực tại duy nhất mà chúng ta cố gắng tìm hiểu bằng cảm tính, lý tính và ngộ tính bằng Giác, Tri, Ngộ. Vẫn có khả năng là trong tương lai chúng ta sẽ nhận thức được những chân lý về Thực tại ngộ tính bằng cảm tính và lý tính, cũng như nhiều chân lý cảm tính đã được nhận thức bằng lý tính. Nhưng trước mắt chúng ta vẫn cần ngộ tính để lựa chọn nhiều thứ trong xã hội mà cảm tính và lý tính không thể làm được.

      7.  Vậy còn Thức? Cái biết của Thức khác Giác-Tri-Ngộ thế nào? Trước hết chúng ta phải làm rõ sự lạm dụng của ngôn ngữ. Trong đời thường không chỉ nghĩa của Thức mà của Giác, Tri và Ngộ cũng đã bị pha tạp với nhiều nghĩa lẫn lộn ở nhiều tầng do bệnh “mù” của chúng ta về khái niệm “biết”. Mà đã mù thì hay nói lung tung, tự mâu thuẫn. Chúng ta sẽ coi Thức là cái “biết” về một Thực tại chung và thống nhất. Trong Duy Thức học hay trong Khoa học hiện tại Thức là biết về cả Thực tại cảm tính ( Ngũ thức) và Thực tại lý tính (Ý thức-Mano). Nếu quả thực có Thực tại ngộ tính, đương nhiên chúng ta sẽ có thể mở rộng cái biết Thức để bao gồm cả Giác-Tri-Ngộ. Như vậy, Thức có thể ở hai mức, mức hiện tại chỉ bao gồm Tri và Giác. Mức tương lai bao gồm cả Tri-Giác-Ngộ, nếu như thực sự chỉ có một Thực tại duy nhất. Chúng ta có thể gọi là Chân Như, Như Lai tạng, Pháp Không hay Hồng Phạm tùy thích. Thực sự thì chúng như nhau cả.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, March 25, 2025

Những nhân vật đặc biệt ở thế kỷ 20

 Bài viết “Hiểu về Rudolf Steiner, người khai sinh ra nông nghiệp sinh học” của Aleks Zecevic kể lại hành trình của một trong những nhân vật đặc biệt nhất của thế kỷ 20 — Rudolf Steiner — và ảnh hưởng sâu rộng của ông đến triết học, giáo dục, y học, nghệ thuật và đặc biệt là nông nghiệp.

Rudolf Steiner - 1905

Năm nay, tổ chức Demeter – đơn vị chứng nhận hàng đầu thế giới về canh tác sinh học – kỷ niệm 100 năm ngày ra đời của nông nghiệp sinh học. Ít ai biết rằng, nền tảng của triết lý này bắt nguồn từ chính Rudolf Steiner, một triết gia người Áo với tầm nhìn vượt thời đại. Ông sinh năm 1861 tại Đế quốc Áo-Hung, nay thuộc Croatia. Với trí tuệ uyên bác, Steiner nghiên cứu từ khoa học tự nhiên, toán học đến triết học. Nhưng chính khi ông tìm thấy cảm hứng từ Goethe – nhà văn và nhà khoa học vĩ đại của Đức – Steiner mới thực sự bước vào một con đường khác: kết hợp giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần.

Steiner sáng lập triết lý “Anthroposophy” – có nghĩa là “trí tuệ của con người”. Theo ông, vũ trụ và con người đều có bản chất tâm linh, và sự hiểu biết sâu sắc về thế giới chỉ đến khi ta kết hợp trí tuệ với cảm nhận tinh thần. Triết lý này không chỉ ảnh hưởng đến nông nghiệp, mà còn đặt nền móng cho mô hình giáo dục Waldorf, y học Anthroposophic và cả những lý thuyết về nghệ thuật.

Tòa nhà Goetheanum thứ hai, được xây dựng tại Dornach, Thụy Sĩ, với mục đích là nơi đặt các không gian sân khấu quan trọng cũng như là "trường khoa học tâm linh"

Eduard Tscheppe, chủ sở hữu nhà máy rượu Gut Oggau tại Burgenland (Áo), nhận xét rằng ngày xưa con người quan sát thế giới bằng năng lượng và cảm xúc, còn nay chỉ dựa vào những gì có thể nhìn thấy. Điều này phản ánh sự mất kết nối giữa con người và thiên nhiên – điều mà Steiner đã nhìn thấy cách đây một thế kỷ.

Năm 1924, khi các nông dân lo lắng trước việc hóa chất được sử dụng ngày càng nhiều, Steiner đã tổ chức 8 buổi giảng về cách canh tác thuận theo tự nhiên, không dùng phân bón nhân tạo. Từ đó, hệ thống canh tác sinh học ra đời, với những phương pháp nổi tiếng như luân canh cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm từ thảo mộc và thậm chí chôn sừng bò chứa silica hoặc phân để kích hoạt năng lượng đất.

Werner Michlits, người sở hữu trang trại Meinklang – một trong những cơ sở sinh học lớn nhất ở Áo – chia sẻ rằng ông yêu triết lý của Steiner vì nó đặt con người làm trung tâm, thay vì coi con người như một phần phụ trong guồng máy vật chất.

Áo ngày nay là một trong những quốc gia dẫn đầu về rượu vang hữu cơ và sinh học. Hơn 3% diện tích vườn nho ở Áo đã được chứng nhận sinh học, và 22% là hữu cơ (trong đó 15% theo phương pháp sinh học). Những tổ chức như Respekt-Biodyn cũng góp phần khẳng định vị thế tiên phong của quốc gia này trong nông nghiệp bền vững.

Một ví dụ nổi bật là nhà máy rượu Nikolaihof ở vùng Wachau, bắt đầu chuyển sang canh tác sinh học từ năm 1971. Christine Saahs, người đồng sở hữu, kể rằng bà nhận được một cuốn lịch sinh học của Maria Thun như món quà cưới. Từ đó, bà bắt đầu tìm hiểu và nhận ra rằng tất cả những gì Steiner nói đều đúng, và đây chính là cách duy nhất để nuôi sống nhân loại bằng thực phẩm lành mạnh.

Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng tình với Steiner. Ông bị chỉ trích vì không có bằng chứng khoa học cụ thể, và bị coi là “nhà tiên tri tâm linh” chứ không phải nhà khoa học. Nhưng những người thực hành như Eduard Tscheppe lại cho rằng chính Steiner luôn khuyến khích mọi người thử nghiệm và điều chỉnh phương pháp phù hợp với môi trường của chính họ.

Bất chấp những tranh cãi, ảnh hưởng của Steiner vẫn lan tỏa sâu rộng. Và sau 100 năm, nông nghiệp sinh học – kết tinh từ tinh thần, tri thức và sự tôn trọng thiên nhiên – vẫn chứng minh rằng nó không chỉ là triết lý, mà còn là một cách sống.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Wednesday, February 12, 2025

Đọc sách: Tự do đích thực

 Ai cũng hiểu về tự do theo cách thông thường – đó là được làm những gì mình muốn, được thoát khỏi các ràng buộc hay áp bức từ bên ngoài. Thế nhưng, liệu tự do có đơn giản chỉ là như vậy? Trong xã hội hiện đại, khi những khái niệm về quyền con người, bình đẳng hay dân chủ ngày càng được đề cao, chúng ta lại hiếm khi đặt câu hỏi sâu hơn về ý nghĩa thực sự của tự do. Trong cuốn sách "Tự do", bậc thầy tâm linh Ấn Độ Osho đã thách thức các định nghĩa quen thuộc, mở ra một góc nhìn sâu sắc về tự do: không phải thứ đến từ thế giới bên ngoài, mà là hành trình trở về với bản chất nguyên sơ của mỗi con người.

Với lối viết sắc bén nhưng đầy thuyết phục, Osho dẫn dắt người đọc qua ba chiều kích cốt lõi của tự do: thể chất, tinh thần và tâm linh. Trước tiên là tự do thể chất – nền tảng của mọi loại tự do, mọi cơ thể sống đều như nhau, không bị áp bức hay đối xử bất bình đẳng. Thứ hai là tự do tinh thần, khi con người thoát khỏi các giáo điều và khuôn mẫu xã hội cũ kỹ. Và cuối cùng là chiều kích cao nhất - tự do tâm linh, nơi con người nhận ra mình là tâm thức thuần khiết, vượt qua sự phụ thuộc vào cơ thể và tâm trí, để hòa mình vào trạng thái hiện hữu của vũ trụ.

Lúc này, tự do chân chính không phải thoát khỏi một ràng buộc cụ thể, cũng không phải chạy theo những mong muốn cá nhân. Osho viết: “Tự do làm bất cứ điều gì bạn muốn cũng không phải tự do, bởi vì mong muốn, khao khát “làm” điều gì đó, nảy sinh từ tâm trí – mà tâm trí là xiềng xích của bạn”. Thay vào đó, tự do là trạng thái nội tại, nơi con người nhận thức rõ mọi điều xảy ra nhưng không để chúng chi phối bản thể mình. Điều này đòi hỏi một sự tỉnh thức cao độ – một phẩm chất mà con người chỉ có thể đạt được thông qua thiền định và sự tự chủ sâu sắc.

Góc nhìn này của Osho gợi lên một sự phản tỉnh: Chúng ta thường nhầm lẫn giữa tự do và sự buông thả, giữa giải phóng và chạy trốn. Nhưng trên thực tế, tự do không phải là một thứ "làm" được, mà là một trạng thái "là". Đây chính là thách thức lớn nhất mà Osho đặt ra – liệu mỗi người có đủ dũng cảm để đối mặt với chính mình, để buông bỏ mọi ham muốn, định kiến và đạt đến tự do thực sự?

Đây là cuốn sách dành cho tất cả mọi người trong xã hội ngày nay – khi những chuẩn mực xã hội, kỳ vọng và cả áp lực thành công khiến chúng ta mệt mỏi, băn khoăn về sự tồn tại của chính mình. Qua từng trang sách, Osho dẫn dắt người đọc quay về với bản chất nguyên sơ cho tất cả những ai muốn sống một cuộc đời chân thực, tự tại và ý nghĩa.

First News Trí Việt

Sunday, November 17, 2024

Tìm hiểu về tôn giáo: Đạo Phật

 Đạo Phật, trong bản chất sâu xa nhất, là một con đường dẫn đến sự giác ngộ và giải thoát, nhưng không phải thông qua việc dựng lên một câu chuyện lớn lao mới về vũ trụ, thế giới hay sự sống và cái chết. Điều làm cho Đạo Phật trở nên đặc biệt chính là việc nó không cố gắng đưa ra những câu trả lời tuyệt đối về nguồn gốc hay ý nghĩa cuối cùng của mọi thứ. Thay vào đó, Đạo Phật mời gọi chúng ta nhìn sâu vào tâm thức của chính mình, để nhận ra cách mà chính ta đã dựng nên những câu chuyện ấy thông qua cấu trúc nhận thức, hay còn gọi là vikalpa.*

Cấu trúc nhận thức, theo Đạo Phật, là cách mà tâm trí chúng ta phân chia, diễn giải và dán nhãn các trải nghiệm bằng hình ảnh và ngôn từ. Thay vì nhìn thế giới một cách trực tiếp và không bị che mờ bởi tưởng, chúng ta tạo ra những câu chuyện, hình dung, và khái niệm để cố gắng hiểu và kiểm soát thực tại. Những cấu trúc này về bản chất không thực; chúng là công cụ để tâm trí vận hành. Tuy nhiên, khi chúng ta đồng nhất mình với những câu chuyện do tâm trí tạo ra, chúng ta rơi vào mê lầm và khổ đau. Chính sự bám chấp vào những cấu trúc nhận thức này làm nảy sinh khổ đau, bởi chúng ta không còn thấy rõ thực tại như nó là.

Chúng ta thường tạo ra những câu chuyện về bản thân—rằng ta là ai, ta cần gì để hạnh phúc, và thế giới nên như thế nào để phù hợp với mong muốn của ta.  Về căn bản chúng ta gán nhãn mọi hiện tượng bằng cách gọi tên nó, cho nó một tính chất, hình thành một tri kiến giả lập về nó, vận hành theo quy luật giả lập này, để chúng thành định mệnh của chúng ta. Khi những câu chuyện này bị thách thức hoặc không thành hiện thực, tâm trí chúng ta phản ứng bằng cách chống đối, lo sợ hoặc thất vọng. Từ đây, khổ đau xuất hiện, không phải từ thực tại khách quan, mà từ cách chúng ta diễn giải và phản ứng với nó. Đạo Phật chỉ ra rằng, để thoát khỏi khổ đau, ta không cần thay đổi thế giới bên ngoài, mà cần giải phóng tâm thức khỏi sự ràng buộc bởi những cấu trúc nhận thức sai lầm này.

Điều này dẫn đến một hiểu biết sâu sắc hơn về giải thoát trong Đạo Phật. Giải thoát không phải là đạt đến một nơi nào đó xa xôi, hay một trạng thái tồn tại vĩnh cửu nào đó. Nó là sự buông bỏ những câu chuyện và cấu trúc mà tâm trí ta dựng lên. Khi tâm trí không còn bị vướng bận bởi những hình dung sai lệch, ta có thể trải nghiệm thực tại một cách trong sáng và tự do. Sự giác ngộ, vì thế, không phải là một mục tiêu siêu nhiên, mà là một sự trở về với chính mình, thấy rõ cách mà tâm thức tạo ra thế giới và vượt qua nó.

Đạo Phật không dựng lên một "đại tự sự" để thay thế những câu chuyện đã có. Thay vào đó, nó giải thích tại sao chúng ta lại cần những câu chuyện đó, và làm thế nào để vượt qua sự phụ thuộc vào chúng. Sự độc đáo này làm cho Đạo Phật trở thành một con đường không chỉ dành cho người tìm kiếm chân lý siêu hình, mà còn cho những ai muốn hiểu sâu về chính tâm trí mình và tìm thấy sự tự do trong cuộc sống thường nhật.  Con đường đó có thể tìm thấy bằng cách quan sát ngược tâm trí của chúng ta từ định mệnh đến định luật, định kiến, định tính, định danh và cả định hình.

Trong một thế giới đầy những mâu thuẫn và đau khổ do tâm trí tạo nên, sự tự do này có lẽ là món quà lớn nhất mà Đạo Phật mang lại.

* Hầu hết kinh sách đều dịch Vikalpa là tâm phân biệt, riêng Hòa Thượng Thích Nguyên Giác trong tác phẩm Thể Nhập Chánh Pháp Lăng Già dịch là "cấu trúc nhận thức." Theo tôi đây là cách dịch làm rõ nghĩa nhất việc tâm thức tạo nên các giả lập, tương tự khái niệm schema trong tâm lý học phương tây, đặc biệt theo nghĩa CBT (Judith Beck) chứ không chỉ theo nghĩa của Jean Piaget. 

Note: chiêm nghiệm nhân ngày Phật thành Đạo.

Ngô Tiến Nhân (ELTE.vidi72)

share từ FB-Lê Nguyên Phương

Tuesday, September 3, 2024

Triết lý Đông - Tây

Logic, hình danh và âm dương, 

    1. Triết học phương Đông không thể tạo ra khoa học công nghệ được vì không có nhiều thứ, nhưng hiển nhiên và đơn giản nhất là do không có logic. Chính vì thế mà các loại tư tưởng gia nửa mùa ở Việt Nam, mới cho rằng suy luận logic là "hý luận", là "hình thức", là "tuyến tính", là "cơ học". Tóm lại là tất cả những gì mà khoa học cần có để phát triển. Nực cười ở chỗ họ chống và coi thường khoa học, nhưng rất sợ bị nói là "phản khoa học". Vì thế họ bám lấy mấy thứ "lượng tử", "phi tuyến", "bất định", "bất toàn" mà tán nhăng tán cuội theo ý mình, mặc dù chẳng hiểu chúng là gì, từ đâu ra.  Họ cho rằng những thứ đó là phủ định logic. Và vì thế họ cho rằng Triết học phương Đông đã "phát minh" ra "phi logic" từ lâu. Cũng giống như người vượn hay con heo phát minh ra phi tư duy và phi khoa học vậy. 

   2. Những nhà tư tưởng chân chính ở những nơi sinh ra và phát triển của Triết học phương Đông không nghĩ vậy. Ở Trung Quốc, lịch pháp được áp dụng và sửa đổi trên cơ sở khoa học từ thế kỷ 17, bởi Thang Nhược Vọng là một người Đức. Ta cứ gọi nhầm là âm lịch, thực tế là âm dương lịch. Tất nhiên giới sĩ phu Trung Quốc thời đó cũng chống báng ầm ĩ, nhưng rồi cũng phải tâm phục khẩu phục, vì đương nhiên là mùa màng biến chuyển phụ thuộc vào Mặt Trời. Có lẽ lúc đó, Trung Quốc mới bắt đầu biết tới tư duy theo lối logic. Họ gọi đó là "la tập"逻辑 . Đừng có suy luận chiết tự dài dòng nghĩa của "la" và "tập". La tập là phiên âm của chữ logic, đọc theo giọng quan thoại na ná như "lâu chịch" khá giống cách người Tây phương đọc chữ logic. 

     3. Sau này, người Nhật, khi dịch các Tân thư (sách phương Tây) đã phải chế ra một từ Hán mới là "luận lý" (nhật chế hán ngữ) vì trong kho tàng tri thức học từ người Hán đâu có cái gì tương tự, để chỉ logic. Ở Trung Quốc thì tới năm 1902, Nghiêm Phục mới chính thức đưa ra 2 từ "danh học" để dịch ý và "la tập" để dịch âm. Phải nói, cuối thời Minh đến Thanh, "la tập" được cho là một bí kíp đáng kính nể giống như võ công của Minh giáo Ba tư trong tiểu thuyết của Kim Dung.  Logic chỉ có sang Việt Nam mới bị khinh rẻ, chứ ở Trung, Nhật, Hàn, Đài,... không hề. 

     4. Cố nhiên, tôi không có ý tuyệt đối hóa logic, bởi vì trong cuộc sống hay trong khoa học, logic không phải là duy nhất. Chúng ta không có một hệ tiên đề cố định, dù chúng ta phát hiện ra một số hệ tiên đề như thế nhưng chúng sẽ không ngừng mở rộng. Bên cạnh đó, có vô số chân lý ẩn, được thừa nhận bằng niềm tin, thói quen, cảm tính. Chúng ta yêu ghét, mua hàng, quyết định,... thậm chí sáng tạo khoa học không phải chỉ bằng logic, thậm chí không phải bằng tư duy lý luận nói chung. Nếu ai nghĩ rằng Einstein hay các nhà khoa học là các cỗ máy suy diễn tam đoạn luận "nếu A thì B, nếu B thì C,..." và ở cuối chuỗi tam đoạn luận đó họ đã thu được thuyết tương đối, lượng tử ánh sáng,... thì hoàn toàn nhầm. Trong đa số trường hợp, sáng tạo khoa học bắt nguồn từ trí tưởng tượng. Einstein đã hình dung ra thuyết tương đối rộng từ 1905 và loay hoay 10 năm để tìm cách diễn đạt ý tưởng bằng logic. Những gì người ta viết trong các sách giáo khoa chỉ là diễn đạt logic những điều Einstein đã phát hiện ra bằng tưởng tượng. Ở đó có những suy luận mà Einstein không hề biết tới.  

     5. Mặc dù như vậy, khoa học không thể ra đời, Einstein không thể tư duy mà không có logic. Đã đành phát hiện chân lý khoa học không thể sinh ra chỉ dựa trên logic. Nhưng chân lý khoa học chỉ có thể được thừa nhận nhờ logic và bằng chứng thực nghiệm. Việc kiểm tra số liệu thực nghiệm cũng phải nhờ logic. Nếu chưa được kiểm nghiệm bằng logic, không có gì phân biệt giữa một phát hiện vĩ đại hay tưởng tượng điên rồ. 

    6. Logic là một chuẩn mực để chúng ta có thể diễn đạt và công nhận ý tưởng của nhau. Nếu không có chuẩn mực này thì chúng ta mãi mãi bốc thuốc với lý luận âm dương tù mù. Thầy lang này có thể phán bệnh này là do hỏa thịnh, nhưng thầy lang khác cũng có thể phán là do thủy thịnh.  Muốn thống nhất được, logic phải dựa trên các quy tắc hiển nhiên dựa trên ngôn ngữ với các từ "và", "hoặc", "không" có thể diễn đạt bằng sơ đồ tập hợp với các phép "giao", "hợp" và "phủ định" (lấy phần bù). Quy tắc suy diễn "kéo theo" hay "suy ra", chỉ đơn giản là điều đúng cho toàn bộ tập hợp thì cũng đúng với một bộ phận phần tử. Tam đoạn luận chẳng qua là dựa trên chân lý hiển nhiên "bộ phận của bộ phận cũng là bộ phận của toàn thể".  Những chân lý này được sử dụng lặp đi lặp lại, nên được đúc kết sẵn thành quy để dùng cho dễ dàng, đỡ nói nhiều. Thế thôi. Chẳng có gì để tranh luận sai đúng ở đây. Điều quan trọng của logic là đơn giản và giúp loài người diễn đạt ý tưởng để truyền lại cho nhau. Một bộ phận được gọi là có suy nghĩ, có học, hay đọc sách, công nhận để không cãi cọ mất thời gian. Bộ phận khác, chẳng cần logic làm gì, họ chỉ cần công nhận điều bộ phận kia đã kiểm chứng.  

      7. Với sự đơn giản và hiển nhiên như vậy, chúng ta đừng có nghĩ đến việc có một lý thuyết tân kỳ nào chứng minh là "logic sai". Đối với logic không có sai và đúng, chỉ có "hợp lý" hay "không hợp lý". Định lý Godel, bất đẳng thức Heisenberg, phương trình phi tuyến Navier-Stokes,.... đều không liên quan tới chuyện đúng sai của logic và đều phải dùng logic để diễn đạt và kiểm chứng. Điều đáng nghĩ là phạm vi áp dụng của logic. Chẳng hạn, với các tập hợp biến đổi theo thời gian, với các giả thiết sai, logic không thể cho ra kết luận đúng. Những phê phán về hạn chế của "logic hình thức" không phải là sẽ có một logic chính xác và tiện dụng hơn, mà là việc áp dụng sai với các phạm trù đã thay đổi, khái niệm vận động và các giả thiết sai. Tất nhiên, ngay từ thời mới hình thành logic đã có phép biện chứng ở trạng thái thô sơ để chỉ ra các giới hạn đó.

      8. Có người cho rằng logic dựa trên hai giá trị đúng sai, nên chính là Âm-Dương đã được các nhà Âm-Dương gia biết từ thời Chiến Quốc, do đó "triết học phương Đông đã có đủ thứ". Điều đó chưa kinh, họ còn cho rằng công nghệ thông tin, vốn dựa trên bit có 2 giá trị 0,1 cũng có sẵn trong triết học phương Đông. Không sáng tạo ra khoa học công nghệ chỉ vì .... không muốn thôi. Rồi có những suy luận kiểu, chân không chính là tính Không, vạn pháp bao gồm lý thuyết dây,... Đúng và sai chỉ là hai giá trị chân lý dùng trong logic, một chi tiết rất nhỏ. Giá trị chính của logic là ở các quan hệ, phép hình thành các mệnh đề phức hợp và phép suy luận. Những cái đó, âm dương gia không hề biết tới. Trâu Diễn, nhà âm dương gia tiêu biểu nhất, bị coi là viển vông, khó thi hành và không được coi trọng trong truyền thống tư tưởng Trung Quốc. Ở Hy Lạp, Heraclitus đã phát biểu về hai mặt đối lập trước Trâu Diễn 200 năm. Thậm chí, ông còn thấy được sự vận động liên tục và vĩnh cửu của sự vật, điều mà Trâu Diễn không hề nghĩ tới. 

      9. Nghiêm Phục dịch ý logic thành "danh học", ngụ ý sự liên quan của logic tới phái "hình danh gia" của Đặng Tích, Công Tôn Long, Huệ Thi. Phái này có vẻ như muốn cố gắng tìm ra các quy tắc cho biện thuyết, lập luận nhưng cuối cùng chỉ đến được ngụy biện kiểu "ngựa trắng không phải là ngựa". Ngày nay chúng ta có thể coi đó là một kiểu paradox (Công Tôn Long có lẽ không nghĩ thế), mà Parmenides và Zeno đã biết tới trước đó 200 năm. Cho dù các hình danh gia có chút giá trị nào thì học giới của Trung Quốc đã phủ định họ sạch trơn. Tôi không nhớ ai, có lẽ là Tư Mã Thiên đã buộc tội họ là "lấy phải làm trái, lấy trái làm phải làm đảo điên phải trái".  Tư tưởng chủ lưu phương Đông coi hình danh gia thấp kém, làm sao có thể phát triển đến mức độ như logic. 

   10. Có một số ý kiến cho rằng logic có trong Lý học. Lý học phôi thai trong thế kỷ 11-12 với các học giả như Chu Đôn Di, Chu Hy, Trình Hạo. Nhưng học phái Chu Trình trở thành thiểu số, trong thế kỷ 16-17, khi phái Tâm học của Vương Dương Minh và phái Hồ Lưu trở nên tâm điểm của Lý học. Lý học được công nhận là quốc giáo của Trung, Nhật tới đầu thế kỷ 20. Lý học là "học thuật nghiên cứu lý lẽ", nếu theo quan điểm đạo Phật cũng là một loại "hý luận" do tính duy lý cứng nhắc của nó. Chính vì thế mà Lý học bài xích cả Phật giáo lẫn Đạo giáo. Nổi tiếng nhất là Hàn Dũ bài xích Phật giáo. 

11. Trên thực tế, Lý học cố gắng sửa chữa Phật giáo, Lão giáo  và hàn gắn chúng vào một khung gọi là "Tam giáo đồng nguyên".  Mặc dù, có người cho Lý học bắt nguồn từ Lão tử hay Kinh Dịch, thực ra có nhiều khác biệt cơ bản bên cạnh trùng lặp ngẫu nhiên.  Nếu nhìn theo quan điểm ngày nay, Lý học là một cố gắng tư duy kiểu duy lý, có thể gần với truyền thống thần số học có từ Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ và Pythagoras. Tuy Lý học ra đời muộn hơn 1000 năm, nhưng Lý học không có được sự đơn giản và mạnh mẽ của logic. Do đó, Lý học không thể nào trở thành chuẩn để sinh ra khoa học trong hơn 1000 năm qua.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, September 1, 2024

Bàn về triết học

 Triết học Hy Lạp và Khoa học

    1. Tư tưởng Tây phương dựa trên Triết học Hy Lạp và Khoa học. Nói theo một nghĩa rộng, phương Đông cũng có Triết học theo một nghĩa nào đó. Tuy nhiên cái gọi là Triết học phương Đông không phải là Triết học đúng nghĩa như phương Tây vẫn quan niệm kể cả nội dung và phương pháp luận. Trước hết các nhà tư tưởng phương Đông như Lão, Trang, Khổng và các truyền nhân của họ như Vương, Chu, Trình sau nhiều thế kỷ đều không quan tâm tới logic,  nhận thức luận và bản thể luận như ở phương Tây. Chính vì thế "Triết học phương Đông", nếu có thể gọi như thế, không sinh ra khoa học, thậm chí còn sinh ra tinh thần phản khoa học hay bài xích khoa học. 

     2.  Điều vĩ đại nhất, có lẽ đáng ngạc nhiên và ngưỡng mộ nhất là việc các nhà hiền triết Hy Lạp, chỉ bằng tư biện siêu hình đã đi đến những khái niệm và ý tưởng mà hơn 2400 năm sau, chúng ta mới kiểm chứng thực nghiệm được. Đó là các khái niệm nguyên tử, nguyên tố, năng lượng, quy luật vận động, thần số, logic, suy luận, siêu hình, Trái Đất tròn, nhật nguyệt thực, sự hài hòa ... Các khái niệm này sau này là cơ sở cho khoa học. Chính vì thế, mặc dù cho đến đời nhà Tống, xã hội và văn minh phương Đông vẫn vượt trội, nhưng không có phương pháp luận khoa học, không tạo ra được công nghiệp và chế độ tư bản, nên dần tụt hậu. 

    3. Đa số những người dè bỉu khoa học là những người không biết gì về khoa học. Họ vẫn biết về khoa học như một đứa trẻ trung bình ở thế kỷ 18, khi chưa có thuyết tương đối, lượng tử, chưa biết gì về gen di truyền, lý thuyết thông tin, nhiệt động không cân bằng. Nói như thế không có nghĩa là khoa học không có hạn chế và không cần linh hoạt hơn để mở rộng. 

     4.  Thái độ đó đẻ là một thế hệ trẻ không thích khoa học, chỉ thích những điều huyền hoặc và cầu nguyện, tin ở sự phát triển giật lùi, không có niềm tin ở suy nghĩ của con người. Niềm tin ở tư duy con người dựa trên một quan điểm con người có một vị trí trung tâm trong Vũ trụ, không hề duy vật cơ giới như những nhà phản khoa học hay rao giảng.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, January 26, 2024

Văn minh cổ đại

Thần thoại Hy Lạp:  MƯỜI HAI VỊ THẦN TỐI CAO

Thuở khai thiên lập địa,

Có mười hai vị thần.

Nữ là Ti-ta-nit.

Còn nam là Ti-tan.


Đó là thời Crô-nôt

Cướp ngôi báu của cha.

Thời Hoàng Kim, còn gọi

Thời các vị thần già.


Tiếp đến là thời đại

Các thần trẻ, lần này

Dớt lật đổ Crô-nôt

Như cha mình trước đây.


Bốn mùa mây bao phủ,

Đỉnh Ô-lym-pi-a

Vốn là nơi cư ngụ

Cả thần trẻ, thần già.


Bên trong là cung điện

Rực rỡ và huy hoàng

Được Hê-phai-stôt

Làm bằng đồng và vàng.


Các vị thần bất tử

Luôn ngự ở nơi này.

Nơi không có mưa gió.

Trời trong xanh, không mây.


Nơi tiếng nhạc réo rắt

Và tiệc tùng triền miên.

Một thế giới cực lạc,

Vĩnh hằng và thần tiên.


Thế giới vĩnh hằng ấy

Khuất trong lớp mây dày.

Nên tất nhiên không dễ

Để vào được nơi này.


Bất kỳ ai, dù đó

Thần linh hay người trần,

Muốn vào phải được phép

Của ba vị nữ thần.


Họ là người vất vả

Vén mây cho khách vào

Theo lệnh của thần Dớt,

Không loại trừ người nào.

*

Rất nhiều thần cư ngụ

Ở Ô-lym-pi-a,

Nhưng quan trọng hơn cả,

Mười hai vị, đó là:


Một - thần Dớt vĩ đại,

Thần của các vị thần.

Chúa tể của vũ trụ

Và của cả người trần.


Hai - là thần Ha-đet

Có chiếc mũ tàng hình,

Cai quản chốn âm phủ

Và thế giới tâm linh.


Ba - vị thần biển cả,

Tên là Pô-xây-đôn.

Tay cầm đinh ba lớn

Làm biển lặng, sóng cồn.


Bốn - He-ra, vợ Dớt,

Thần Hạnh Phúc Gia Đình.

Bảo hộ các bà mẹ

Và các trẻ sơ sinh.


Năm - nữ thần Đê-met,

Chăm lo chuyện mùa màng.

Đôi khi còn được gọi

Nữ thần Lúa Mì Vàng.


Sáu - nữ thần bếp lửa

Tên là He-sti-a.

Lo trông giữ ngọn lửa

Sưởi ấm cho mọi nhà.


Bảy, con gái thần Dớt,

A-thê-na, nữ thần

Của Công Lý, Trí Tuệ

Và Nghệ Thuật, Thơ Văn.


Tám - là A-phrô-đit,

Vị nữ thần trứ danh

Của Tình Yêu, Sắc Đẹp

Và những điều tốt lành.


Chín - với cây cung bạc,

A-pô-lô, vị thần

Của Ánh Sáng, Âm Nhạc

Bảo trợ cho người trần.


Nữ thần Ar-tê-mit

Là vị thần thứ mười.

Chuyên lo việc săn bắn

Cho cả thần và người.


Mười một, He-phai-stôt,

Thần Thợ Rèn Thọt Chân,

Đảm đương việc xây dựng

Lâu đài cho các thần.


Mười hai, thần A-ret

Là vị thần Chiến Tranh.

Chuyên hóa giải tranh chấp

Để bảo vệ dân lành.


Thái Bá Tân

Wednesday, July 5, 2023

Câu hỏi muôn đời

 CÂU HỎI TRANH CÃI: LÀ ĐẠO ĐỨC HAY "SIÊU TÂM LÝ BẦY ĐÀN"?

Vào thế kỷ 20, triết gia kiêm nhà văn người Anh C. S. Lewis coi sự tồn tại của lương tâm là bằng chứng về sự tồn tại của Chúa. Đại đa số con người trên khắp hành tinh tin rằng họ phải cố gắng trở nên tốt đẹp. Tại sao vậy? Nếu chúng ta chỉ là những phụ phẩm tình cờ xuất hiện từ một vụ nổ ngẫu nhiên trong vũ trụ, chẳng có lý do gì để ta phải phán xét bản thân. Khái niệm về sự tốt lành mà chúng ta sử dụng để đánh giá hành vi hẳn phải xuất phát từ một nguồn tốt lành tối cao.

Đúng là đôi khi chúng ta không có cùng quan điểm về điều gì là tốt. Ví dụ, chúng ta tranh cãi về việc liệu hành vi lấy khăn tắm ở khách sạn có đúng hay không. Nhưng hãy chú ý - việc chúng ta tranh cãi về câu trả lời cho thấy ta tin rằng có câu trả lời cho vấn đề đó. Đúng và sai có tồn tại. Đức Quốc xã đã sai. Không một người bình thường nào muốn giống như họ.

Chuẩn mực đạo đức này bắt nguồn từ đâu?

Một số người cho rằng đạo đức là tâm lý bầy đàn  mà loài người phát triển để sinh tồn. Khi cha mẹ là những người tử tế, con cái của họ lớn lên rồi sinh con, sẽ truyền lại các gen đó trong gia đình. Khi hàng xóm là những người tốt bụng, cộng đồng của họ có thể tự bảo vệ trước kẻ thù hiệu quả hơn… Theo cách hiểu này, đạo đức là một sự thích nghi tự nhiên đem lại cho loài người chúng ta lợi thế phi thường.

Lewis nhận thấy tâm lý bầy đàn xuất hiện ở cả người và động vật. Tuy nhiên, ông cho rằng đạo đức không thể là tâm lý bầy đàn bởi nó thường được dùng để đánh giá tâm lý bầy đàn. Ví dụ, Đức Quốc xã thể hiện nhiều đặc điểm của tâm lý bầy đàn như làm việc cùng nhau, bảo vệ lẫn nhau, chiến đấu vì nhau. Tuy thế, chúng ta lại lên án, chỉ trích họ.

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Liệu đạo đức có phải là một loại siêu tâm lý bầy đàn còn lại sau nhiều lần thử và sai của nhiều loại tâm lý bầy đàn khác không? Nếu vậy thì dường như đạo đức không hề có nguồn gốc thần thánh.

KHỞI SỰ TRIẾT HỌC - TỪ ATHENS TỚI AI

"Dám trở nên khôn ngoan" - Cuốn sách giúp bạn phát triển triết lý sống cho riêng mình.

Saturday, June 17, 2023

Cuốn sách của nhân loại

TẠI SAO CẦN ĐỌC KINH THÁNH?

"Nhà văn Charles Dickens từng nói “Kinh Thánh Tân Ước chính là cuốn sách tốt nhất, đã từng hoặc sẽ được biết đến trên thế giới “ 

Đại văn hào Victor Hugo cũng có một câu nói về Kinh Thánh như sau “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh đã làm ra Shakespeare, nhưng Kinh Thánh đã làm nên nước Anh.” 

Tại sao chỉ là một quyển sách, nhưng lại mang tầm ảnh hưởng đến vậy ? 

Bởi vì Kinh Thánh là một quyển sách chứa đựng rất nhiều kiến thức thuộc mọi lĩnh vực. Ví dụ như: Tôn giáo, Khoa học, văn học, lịch sử, khôn ngoan vv. Các nước phương Tây đã gắn bó với quyển Thánh điển này từ rất lâu. Nó đã định hình các quốc gia ấy trong mọi khía cạnh đời sống. Từ những tác phẩm nghệ thuật của Leonardo da Vinci, Michelangelo hay Raffaello đại tài, hoặc những tác phẩm văn học nổi tiếng như “Thiên đường đã mất” của John Milton … tất cả đều chưa đựng những chuyện tích của Kinh Thánh. Gần đây nhất, Vua Charles III của nước Anh đã đặt tay lên quyển Kinh Thánh “mà bạn đang đọc”, để tuyên thệ tiếp nhận ngôi báu. 

Hãy tìm đọc Kinh Thánh! Bởi vì Chỉ cần cầm một quyển Kinh Thánh trên tay chúng ta có thể tìm kiếm rất nhiều kiến thức của mọi lĩnh vực.

Nếu bạn tìm kiếm sự bình an của tâm hồn, văn học hay thơ ca, hãy đến với sách Thánh Vịnh. Nếu tìm đến sự khôn ngoan và triết lý sống của dân tộc Do Thái hãy đến với sách Châm Ngôn. Nếu bạn tìm kiếm những câu chuyện hào hùng và thần kỳ, lịch sử của dân tộc thông minh nhất thế giới, hãy đến với sách Các Vua hay Ký Sự … 

Mỗi sách trong Kinh Thánh thật kỳ diệu vì chúng được viết dành cho tất cả chúng ta. Bạn không phải là người theo một tôn giáo nào đó để đọc được quyển sách này. Bởi vì Kinh Thánh bàn luận ý nghĩa nhân sinh và cuộc sống chung của tất cả loài người sống trên mặt đất. Khi bạn đọc những gì được viết  trong Kinh thánh, bạn có thể sẽ tìm được câu trả lời cho những câu hỏi mà bạn đang tìm kiếm.

Điển hình như trong tác phẩm “Tự Bạch”(Confessions) của Thánh Augustine, ông đã thuật lại quá khứ vốn tội lỗi của mình. Mặc dù là một con người tội lỗi, nhưng kiến thức và sự hiểu biết của ông không thua gì những người tài giỏi đương thời. Với sự khôn ngoan đó, ông từng chê bai Kinh Thánh còn thua xa các tác phẩm của Cicero và Plato. 

Nhưng về sau cuộc đời ông đã thay đổi chỉ bởi một câu Kinh Thánh. Augustine đã nghe thấy một lời nói vang lên trong tâm hồn của ông, đó là: “Hãy cầm lên và đọc! “Và Ông đã tiếp nhận được một câu Kinh Thánh, được viết trong sách Rôma của Tân Ước:

“Ðêm hầu tàn, ngày sắp đến. Vậy ta hãy vất bỏ những việc tối tăm và hãy mặc lấy khí giới sự sáng. Như giữa ban ngày, ta hãy sống đoan trang, chứ không phải trong chè chén và say sưa, trong dâm dật và phóng đãng, trong kình địch và ghen tương.”

(Rôma 13: 12-13)

Cuối cùng chàng thanh niên trẻ Augustine, đã hoán cải và sau đó trở thành một vị Thánh nổi tiếng trong nền văn minh Tây Phương. Có điều gì tuyệt vời hơn một kẻ tội nhân trở thành thánh nhân?

Một quyển sách có thể thay đổi cuộc đời của một con người thật sự là kỳ diệu phải không? 

Hãy đọc Kinh Thánh! Bạn sẽ tìm được mọi sự khôn ngoan, ý nghĩa cuộc sống. Được chứa đựng trong một quyển sách . Bởi vì biết đâu bạn sẽ giống Thánh Augustine, chỉ cần một câu Kinh Thánh. Bạn sẽ tìm ra câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất, của cuộc đời mình?"

- Bài chia sẻ từ độc giả Paulus Nguyễn - 

Saturday, April 22, 2023

Triết học và tính ứng dụng,

1. Triết học có 7 lĩnh vực truyền thống được công nhận. Tôi thêm 2 lĩnh vực nữa theo xu thế tương lai. Tức là đang nam tính (7 vía) thành nữ tính (9 vía), có khả năng sinh sản, uyển chuyển và giàu sức sống hơn. Đang yên đang lành, nói chuyện triết học, bởi là vì triết học đang có cơ hội ứng dụng tiềm tàng. Đó là một dấu hiệu của thời đại bừng sáng về tư tưởng như Phục hưng bên Tây, hình thành căn tính thống nhất bên Tàu, hay hình thành quốc gia của Ta. 

    2. Bảy lĩnh vực truyền thống là: Giá trị luận (Axiology), Bản thể luận (Ontology), Nhận thức luận (Epistemology), Đạo Đức học (Ethics), Mỹ học (Aesthetics), Luận lý học (Logics) và Thần học (Theology). Nhiều người còn nói có Chính trị, Xã hội, Tâm lý, Tôn giáo... nhưng thực ra đó là các ứng dụng của Triết học, có nhiều khái niệm mập mờ, chúng là các lĩnh vực riêng, tuy sử dụng nhiều khái niệm vay mượn của ngành khác. Hai lĩnh vực đang đi lên, theo tôi là Tâm luận và Hùng biện luận.

    3. Người Việt Nam chúng ta khổ. Chịu 30 năm chiến tranh, sau 80 năm nô lệ cho Tây. Cho là từ ngày vua Gia Long lên ngôi, tới hiệp định Patenotre, có được 82 năm chung hiệp, chưa chắc đã vui vẻ hoàn toàn. Trước đó là 300 năm nội chiến liên miên. Nhiều người cho rằng đó là quả báo, do ta tiêu diệt Champa, uất khí của họ ám ảnh ta hoài. Cũng có người nói là vì ta không có triết học. Người được coi là triết gia cổ điển của Việt Nam là Nguyễn Bỉnh Khiêm, được học giả phương Bắc khen "Nước Nam có ông Trình biết chút ít về Lý học". Lý học là một dạng thô sơ của Thần số học (numerology), đi sau các trường phái của Hy Lạp cả 2000 năm, chưa kể các ngọn ngành của nó ở Lưỡng Hà, Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ. Và Thần số học chưa thể gọi là triết học. Các học giả quan tâm đến triết học vẫn mơ màng với hy vọng le lói về một ưu thế nào đó của Triết học Á Đông như holism mà không có bất cứ khả năng chứng tỏ nào. Trong khi đó, Triết học là nền tảng của học vấn phương Tây từ thế kỷ 16-17, đã làm nên các trào lưu Phục hưng, Bừng sáng. Các  nhà bác vật của thế kỷ 20, như Einstein, Heisenberg, Bohr, Schrodinger,... đều có nền tảng triết học vững vàng để đưa thế giới tới những thay đổi ngoạn mục trong suốt 1 thế kỷ gần đây.

      4.  Ở VN, nói đến Triết học, lập tức chúng ta nghĩ tới Phật-Khổng-Lão-Trang, mặc dù không thật rõ các ngài có tư tưởng gì có thể giúp chúng ta tạo nhận thức mới cho đỡ khổ. Trong khi đó, triết học biện chứng dù có sức mạnh trong học thuyết đấu tranh, không cho phép đối thoại hòa bình, nên mọi chân lý đều phải kiểm nghiệm bằng thử sai, sai lầm bi thương hoặc bạo lực. Mặc dù tranh đoạt là bản năng thú tính của con người, nhưng Triết học cho phép con người suy nghĩ minh triết khi tiếng súng tạm ngừng để xã hội phát triển. 

       5. Trước hết là Giá trị luận là môn học đánh giá về những giá trị của sự vật. Chúng ta thường áp đặt một cách chủ quan các giá trị theo chủ quan, thường là của kẻ có tiền và quyền. Chúng ta nuôi một giai tầng trí thức có đời sống tương đối tốt hơn bình dân, để gần 80 năm vẫn cãi vã về việc đánh giá từ những chuyện nhỏ nhặt nhất bởi không có một hệ thống giá trị, thậm chí một học thuyết để phát triển hệ thống giá trị đó. Đặc biệt cái gọi là Khoa học xã hội, các nhà lý luận đều mơ hồ với mục tiêu này. Vì thế nạn đạo văn, đặt ra những vấn đề rỗng để thảo luận vẫn hồn nhiên tồn tại, khi nhà khoa học không có gương để soi mình. Đương nhiên, khi xã hội không có hệ thống giá trị, thì các lĩnh vực liên quan như Đạo Đức, Mỹ Học, Tôn giáo sẽ rối loạn. Cùng là sư Phật giáo đã không có một nền tảng thống nhất, sẽ tranh cãi không thôi, đó là  còn may vì trong tay họ không có vũ khí. 

       6. Bản thế luận và Nhận thức luận là cơ sở của Khoa học. Bản thể nói về bản chất của sự tồn tại của sự vật. Nhận thức luận nói về bản chất của tri thức. Chúng ta nói về bản thể như một khái niệm viển vông xa vời "Cần gì bản thể. Ngậm miệng mà lập trình, lĩnh lương" Tuy vậy cuộc sống ngày nay phức tạp hơn ta tưởng thời chiến tranh. Chúng ta hãy nghe chuyện cười chua xót của cha ông ta về hai thày trò và một cái bánh. Chuyện kể rằng gia chủ biếu hai thày trò một cái bánh. Học trò từ chối, thì thày nói rằng "Ông đã cho thì con cứ cầm lấy mà ăn". Anh học trò thật thà chén hết cái bánh. Thầy giận, nên trò đi trước, đi sau, đi ngang bằng đều bị thầy trách lỗi. Trò không hiểu phải làm sao thì thày nói "Thế bánh tao đâu". Bản chất của vấn đề là chiếc bánh, bị bao phủ bởi lễ giáo, quyền áp đặt sai trái của thầy đối với trò. Ngày nay, chúng ta rất mơ hồ với bản chất thật của vấn đề. Diễn văn, trình bày đại cà sa không đi vào bản chất. Ai bảo nỗ lực để tiết kiệm được vài năm nghe những chuyện râu ria vô bổ là viển vông. Bên cạnh đó, chúng ta không rạch ròi về tri thức. Các trí thức hàng đầu rất dễ dàng gục ngã trước bất khả tri luận, các dị đoan tầm thường, vô lý.

      7. Tôi sẽ không làm khổ mọi người về khía cạnh thực tế của Mỹ học, Đạo Đức, Luận lý và Thần học. Chỉ muốn nói rằng, chúng ta kém Triết học đến mức cho một khẩu hiệu sống sượng như "Tiên học Lễ hậu học Văn" là nền tảng và cứu cánh của Đạo Đức. Chúng ta muốn bám vào đó như kẻ chết đuối vớ được cọc. Nền Đạo Đức phong kiến, dù chúng ta có lý do nào để yêu mến chúng như yêu mến tiền nhân, thì cũng đã một đi không trở lại. Tôi rất ấn tượng với kết thúc của tiểu thuyết Bóng nước Hồ Gươm, khi ông bố chết trong đau buồn và nhận thức được rằng các học thuyết phong kiến không thể cứu được đất nước trước sức mạnh của súng đạn phương Tây. Đạo Đức hiện tại là việc nhận thức được khế ước đối với cộng đồng mình thuộc về và biết tôn trọng, thậm chí hòa nhập đối với các hệ thống khế ước khác khi cần. 

      8. Triết học là nơi nuôi dưỡng những trật tự tri thức mới đang manh nha, để hình thành các tiêu chuẩn chân lý mới đã thoát qua thử thách đối với 7 trật tự triết học truyền thống. Thế kỷ 21, con người đang gõ cửa vào cấu trúc của Ý thức với những quan niệm và năng lực mới. Hiểu về Ý thức sẽ là bước tiến của con người tiến tới tự do hơn về Tư tưởng, làm chủ về Tư tưởng không phải nhờ cậy vào ai để họ lợi dụng nô dịch mình bằng dị đoan, hoặc tín điều nhảm nhí. Về mặt ứng dụng chúng ta sẽ có những thiết bị thông minh như người. Về lý luận, chúng ta sẽ hiểu rõ quan hệ giữa trí tuệ, cảm xúc và minh triết. Một cách thực tế hơn, trước khi đó trở thành một trật tự riêng thì Tâm luận sẽ là một lĩnh vực của Triết học. 

     9. Cuối cùng, bàn đến Tâm tức là chúng ta sẽ đi đến tận cùng của ngôn ngữ. Chúng ta sẽ có một ngôn ngữ biểu đạt mới, có tính triết học hơn, thoát khỏi các ảo ảnh về nghịch lý. Chúng ta sẽ thấy những tuyên bố kiểu "Vật chất có trước tinh thần" hay "Thượng đế là toàn năng", bản thân nó không chứa bất cứ thông tin nào. Chấp nhận nó, chỉ có nghĩa là chúng ta chọn một ngôn ngữ biểu đạt để nhận thức thế giới và cùng một mệnh đề biểu đạt vẫn có thể có những ý nghĩ vô cùng khác nhau. Chính điều đó là nguyên nhân sâu xa của chiến tranh, tai ương và cố chấp. Về mặt ứng dụng, việc làm quen với ngôn ngữ tinh tế, ở đó các khái niệm có ý nghĩa rất mong manh, phải trở thành một năng lực của những con người mới, ít nhất họ phải nhận chân được những điều chúng ta đang cho là chân lý hiển nhiên, tuy chưa từng được chứng minh và chẳng có sở cứ nào, chẳng phải là bất di bất dịch mà chỉ là một áp đặt của lịch sử. Có một anh bạn vong niên nói với tôi một quan niệm về triết học, rất bất ngờ và làm tôi suy nghĩ mãi trong mấy chục năm "Triết học là nghệ thuật chụp mũ. Nếu bạn bị người khác chụp mũ bằng triết học, bạn đừng tìm cách cởi mũ. Bạn hãy dùng triết học chụp cho họ một cái mũ khác." Thật là minh triết một cách ảm đạm và bi thương. Tôi có lẽ là một người nhìn đời thơ dại và lạc quan hơn, nên có xu hướng cho rằng Triết học phải cho phép chúng ta kiến giải các phép tu từ với các khái niệm, phạm trù mong manh khi chúng ta tiến vào những lãnh địa mới, chưa từng biết. Đó chính là Hùng biện luận mới.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, March 19, 2023

Phẩm chất của Minh Triết

 [EDU-KIDS]  Bàn về phẩm chất Minh triết của Vienova

   1. Bài trước chúng ta đã nói về việc thế hệ Vienova phải có phong cách lãnh đạo kiểu Platon tức là gồm 4 phẩm chất: Minh triết, Công bằng, Mực thước và Dũng cảm.

   2. Chúng ta cũng đã nói về Minh triết gồm 3 thành phần: Thông thái, Thức thời, Hiểu đạo lý. Chúng ta sẽ bàn kỹ về 3 nội dung này. 

   3. Thông thái (học rộng) không nhất thiết phải Uyên bác (biết nhiều) mà biết nhìn thấy mối liên hệ giữa những kiến thức khác nhau. Muốn như vậy phải nắm được cốt lõi và bản chất, thay vì bắt bẻ đúng sai đến từng tiểu tiết. Nhà lãnh đạo giỏi theo phong cách Platon không cần biết mọi chi tiết trong tất cả các lĩnh vực mà anh ta quan tâm, nhưng phải nắm được bản chất chính của mọi cái anh ta tìm hiểu để thấy những mối liên hệ mà người khác không thể thấy. Cái biết về chi tiết bên trong của sự vật có thể gọi là "kiến thức", cái biết bản chất chính và các mối liên hệ giữa các sự vật nên gọi là "tri thức". Tiếng Anh chỉ có một chữ knowledge, như "kiến" là thấy không thể bằng "tri" là biết. 

   4.  Các cụ có câu "Thức thời là trang tuấn kiệt". Quả thực "thức thời" là biết xu hướng của thời đại. Nếu chỉ bo bo giáo điều sách vở, viện dẫn sách nọ, điển tích kia, vin vào tiền nhân, dựa vào tên tuổi người khác, không thể gọi là "thức thời". Chân lý phần nhiều vận động theo thời gian. Điều các cụ ta coi là bất biến, chúng ta cần biết, nhưng không có lý gì ta phải "ôm thuyền lên cạn" hay "khắc dấu mạn thuyền". Và cố nhiên ngược lại người thức thời không đánh giá tiền nhân bằng tiêu chuẩn của mình. Chỉ riêng thái độ thức thời quán cổ kim đã đủ làm lãnh đạo. Thức thời thì sẽ có tầm nhìn tương lai, chỉ hướng đi cho người khác.  Thức thời tức là tri đạo, biết đường đi.

   5. Hiểu đạo lý tức là nắm được quy luật vận động của thế giới xung quanh, những giá trị tương đối bất biến, nhưng không bao giờ trói mình vào giáo điều. Hiểu đạo lý tức là biết căn nguyên của mọi sự kiện và vận động. Đó là tri căn. 

   6. Hiểu đạo lý là mặt bù trừ của thức thời. Thức thời thái quá thành xu thời, vin vào đạo lý quá mức thành ra cổ hủ. Người thông thái, có tri thức, nắm được bản chất của mỗi sự vật, thấy được sự liên hệ giữa các sự vật sẽ biết thế nào là vừa đủ. Thành thử 3 thành phần của sự Minh triết sẽ điều chỉnh, điều hòa, bổ sung cho nhau.

    7. Cuối cùng là phải có một chương trình phù hợp để rèn luyện phẩm cách Minh triết. Một vũ công tài giỏi trước hết không bao giờ chú trọng vào đếm nhịp, nhưng bước không loạn nhịp. Một võ sư tài giỏi không chú trọng vào chiêu thức, nhưng xuất thủ không loạn chiêu. Phải rèn luyện Minh triết để thành bản năng khi còn nhỏ để khỏi băn khoăn với những phân tích nhỏ nhặt về nó.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, January 14, 2023

Thông tin lưu ở đâu?

 1. Đã nói đến hiểu biết như Tri, Kiến, Giác, Thức, thậm chí ở mức cảm nhận, cảm giác, tri giác, tâm địa, tức là phải nói đến thông tin biểu diễn các đối tượng này. Đã nói đến thông tin tức là phải có cơ chế lưu trữ, xử lý và truyền. 

     2. Việc tìm hiểu cơ chế  xử lý và truyền thông tin nói trên, bao gồm cả thông linh, khá phức tạp và khó khăn. Chúng ta sẽ bàn sau vào một dịp khác. Tuy nhiên ta có thể đặt câu hỏi, cảm nhận, cảm giác, tri giác, tâm địa lưu ở đâu, ghi lại theo định dạng và cơ chế thế nào? Nếu không ghi lại thì chắc chắn cùng một sự kiện không thể có được ký ức giống nhau.

     3. Có khả năng, kho lưu thông tin là cloud, chúng ta là thin-client, tức là một cái máy nhận tin, kèm theo một trình duyệt, khi cần gì thì tải về. Tuy nhiên, cũng như máy tính ngày nay, vẫn phải có lưu một phần thông tin như khóa thông tin, dùng để  truy vấn (query) tải thông tin về. 

       4. Theo hiểu biết hiện tại, phần quan trọng của thông tin sẽ ghi lại ở não, cơ quan của ý thức. Chắc chắn cơ chế ghi thông tin của não không phải như máy tính digit hiện tại dựa trên trạng thái của từng tế bào thần kinh, mà thông tin được biểu diễn dưới dạng bit, và mỗi tế bào giữ 1 số bit nhất định. Cơ chế lưu thông tin sẽ ở dưới dạng, bộ nhớ kết hợp, cho phép truy cập, xử lý nhanh hơn, lưu được nhiều thông tin hơn, có khả năng hồi phục và kiểm soát lỗi tốt hơn.

       5. Nếu như vậy, có khả năng là thông tin không chỉ lưu tại não mà có thể ở nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể. Chẳng hạn như trong mạng lưới màng gân (fascia chẳng hạn). Cùng một thông tin có thể có nhiều biểu diễn ở các mức khác nhau. Tuy phiên bản ở não quan trọng, nhưng không hoàn toàn giống phiên bản ở các bộ phận khác. 

      6. Theo tôi con số 5 thức gắn với các (cảm) giác quan chỉ là ước lệ, cũng có thể chúng ta sẽ có nhiều hơn ngũ (cảm) giác (có thể là 6, 7, 8, 9). Theo tôi để đỡ mất công, có thể dồn các thức liên quan tới cảm giác quan vào cùng một thức gọi là "cảm thức". Cảm thức có thể có n thức, sẽ không ảnh hưởng đến việc tìm hiểu của chúng ta cho dù n=5 hay n>5.  Như vậy chúng ta sẽ có các "cảm căn", "cảm trần", "cảm giác", "tri giác", "cảm niệm". Các thông tin này hoàn toàn có thể không lưu ở não bộ (ít ra không ở đại não). 

       7. "Ý căn" là đối tượng đặc biệt xuất phát từ "pháp trần", có thể qua các mức, "ý giác", "ý tưởng", "ý niệm" rồi tới "ý thức". Dùng thuật ngữ có hệ thống như vậy sẽ có sức khiêu ý, kích thích suy nghĩ, sáng kiến, ý tưởng. Có lẽ "ý căn" bắt đầu từ "pháp" nên phải ghi ngay vào bộ não, nhiều khả năng là bắt đầu từ tiểu não, khi đến mức "ý thức" sẽ phải ghi vào đại não. 

       8.  Sự hình thành của "ý thức" không đơn giản, tuy vậy tìm hiểu "ý thức" tương đối thuận lợi do chúng ta biết khá rõ. "Ý thức" hình thành không thể tách rời kinh nghiệm chứa trong "cảm thức". Về mặt tổ chức và truyền thông tin, tôi cho rằng sẽ hợp lý nhất nếu toàn bộ "cảm thức" được lưu tại tiểu não. Tại đó "ý căn", "ý tưởng", "ý niệm" sẽ được kết hợp với kinh nghiệm để hình thành "ý thức" và sẽ có phiên bản cuối được ghi vào đại não dưới dạng khái niệm và logic. 

        9. Câu hỏi tiếp theo: thông tin về Tàng Thức và Nhiễm ý thức sẽ lưu ở đâu? Năng lực tiếp thu thông tin ngoại cảm hay thông linh (nếu có) sẽ là bộ phận nào? Thông tin tiếp thu được (nếu có) sẽ được lưu ở đâu, điều chế thế nào? Trước mắt tôi chưa có câu trả lời mà chỉ có vài ức đoán, trên cơ sở lập luận có lý (heuristic) chứ không có chứng cớ. Tôi hy vọng việc tìm hiểu về hệ mạng lưới màng gân cơ, gọi cho khoa học là "hệ kinh lạc cân cơ" hay gọi cho dễ hiểu là "hệ gân bạc nhạc" (fascia network) có thể cho nhiều khả năng hơn. Riêng việc xử lý thông tin, rõ ràng sẽ có một cơ chế tương tác giữa "ý thức" với manas và alaya, mà chúng ta đang tìm hiểu.  

      10. Câu hỏi tiếp theo, tình cảm, cảm xúc (emotions) sẽ đóng vai trò thế nào trong bức tranh trên, và được lưu ở đâu. Tất nhiên, cảm xúc sẽ có một phiên bản trong ý thức, lưu trong não bộ, nhưng không phải toàn bộ.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, December 2, 2022

Từ Tâm Sinh diệt tới Tâm Chân như,

1. Tôi cho rằng nghiên cứu để hiểu Ý thức và tu tập vận dụng Ý thức là hai việc khác nhau về cả phương pháp và mục tiêu. Cũng như nhà nghiên cứu kim loại không chắc đã là một bác phó rèn tốt.  Nói như thế không có nghĩa là tôi coi thường tu tập, nhưng quả tình tôi không có thời gian và cũng không muốn mạo hiểm với khả năng Ý thức mà người ta muốn vận dụng không hề tồn tại. Vì thế tôi sẽ dành thời gian rất ngắn ở kiếp này để hiểu và biết về sự tồn tại của Ý thức. Tu tập vận dụng ở thế giới bên kia và kiếp sau, thời gian còn vô lượng.

       2. Đạo Phật nói riêng và triết lý Ấn Độ nói chung tôi coi là một trong các cơ sở dữ liệu thực nghiệm lớn nhất mà ta có để tìm hiểu. Có lẽ các Tạng: Kinh, Luận, (Luật) hàm chứa những điểm chung quan sát thấy lặp đi lặp lại mà hàng tỷ cuộc tu đã tổng kết được. Tuy vậy, chắc chắn là "tạp niệm" cũng rất nhiều, bao gồm các định kiến chủ quan, ngộ nhận. Điều đó không phải là báng bổ, mà hiển nhiên mâu thuẫn có rất nhiều. Làm thế nào chắt lọc được dữ liệu cần thiết. Muốn như vậy xử lý dữ liệu phải có hàng lối, chiến lược nhất định.

     3. Trước hết, chúng ta hãy xem mục đích của Đạo Phật là gì? Đạo Phật quan niệm Ý thức là Tâm bao gồm Tâm Sinh Diệt và Tâm Chân Như. Tôi cho rằng Đức Gautama cũng là con người trần thế, ông cũng tiếp thu văn hóa nơi ông sinh ra và lớn lên. Vì vậy giáo lý của ông phải dựa vào các khái niệm có sẵn. Vì vậy tôi cho rằng Tâm Sinh Diệt là Chân Ngã (Atman), Tâm Chân Như là Hồng Phạm (Brahman). Tôi sẽ luôn cởi mở để kiểm chứng, vì có thể Tâm Chân Như sẽ hơi khác Brahman, Tâm Sinh Diệt hơi khác (Atman). Điều đó rất có thể bởi vì ngay trong Upanishads, Atman và Brahman cũng đã có các quan niệm khác nhau. Tuy nhiên bản chất chính của chúng vẫn là các cách chia cặp phạm trù tâm thức cá thể đến toàn thể. Tu tập theo Đạo Phật chính là từ Tâm Sinh Diệt của mỗi cá nhân tiến nhập vào Tâm Chân Như. Đạo Phật cho rằng do vạn vận đều có phật tính, nên quá trình tiến nhập đó là khả thi. Đạo Phật cũng cắt nghĩa rằng tiến nhập sở dĩ khó vì Tâm Chân Như bị vô minh che khuất.

    3. Cách tu tập được gọi là Pháp.  Pháp là những cách thức, ví như một con đường dẫn tới Chân Như. Vì Chân Như là nơi các Pháp khác nhau hội tụ, nên Pháp Chân Như chỉ là một. Điều đó có nghĩa là "các con đường đều dẫn tới Roma". Có vạn pháp nhưng chỉ cần theo một đường là đủ, bởi vì pháp chỉ là phương tiện để tới Chân Như. Tôi sẽ phân biệt các "pháp" với Pháp hay Pháp Chân Như duy nhất. 

    4.  Nói đến pháp tức là nói đến tạng. Tạng là các kinh điển, có thể coi là các bộ dữ liệu, kiêm bộ xử lý chúng ta dùng để thực hành pháp. Do chúng ta đều xuất phát từ Tâm Sinh Diệt, nên tạng phải nói thành lời để thực hành pháp. Điều thú vị trong chữ Hán "tạng" vừa có nghĩa là kinh điển phật, vừa là kho chứa, vừa là nội tạng. Tức là tạng là tim gan phổi của nhà Phật. Chúng ta có Tam Tạng, tức là Kinh, Luận, Luật ngoài ra đều gọi là Tạp Luận. Theo tôi hiểu, Luật là giới Luật, nặng về tính tổ chức, thích hợp cho tu sĩ và giáo chúng, hơn cho những người muốn tìm hiểu. Đại khái cũng như sách hướng dẫn của bác phó rèn, có thể nhà kim loại học không thấy ích lợi. Kinh là để niệm và chú, Luận là để thuyết. Về cơ bản Kinh có thể cao hơn Luận, bởi Kinh được cho là gần Phật thoại và giáo lý gốc hơn. 

    5. Niệm dựa trên niềm tin, tác động lên tiềm thức và vô thức, vì vậy sẽ dẫn tới giác ngộ vừa lãnh hội được sự vận dụng, nói cách khác là có trí huệ nhờ niệm. Luận có nhược điểm là sử dụng từ ngữ, khái niệm tác động lên ý thức quá nhiều, do dùng logic mà phủ định khẳng định, thuyết nhiều dẫn đến tâm phân biệt, có tạp niệm dễ sai lạc. Nói như vậy, niệm cũng có tạp niệm. Tuy vậy, Đạo Phật cho rằng niệm mà không niệm, thuyết mà không thuyết, hàm ý cứ niệm nhiều, thuyết nhiều sẽ đến một cảnh giới gọi là "không niệm, không thuyết", tạp niệm sẽ biết mất và con đường tới Chân Như chợt mở. Các tạng đều hội tụ về Như Lai Tạng ("tim gan phổi của người đang tới"). Vì vật Như Lai Tạng là một khái niệm trừu tượng gốc của các tạng, không phải là một tạng cụ thể, không đồng nhất với Như Lai Tạng Kinh là một kinh tạng bàn về Như Lai Tạng.  Do "các con đường đều về Roma" nên chọn Kinh hay Luận, niệm hay thuyết không phải vấn đề quyết định. Niệm có thể dễ với đa số người, nhưng khó với tôi. Có thể thôi, vì đa số người niệm không thể đến trạng thái "bất niệm". Tôi thì chắc chắn niệm sẽ không thể có ích lợi nếu chưa nắm được thuyết.

    6. Như vậy có 2 vấn đề: Thứ nhất là chọn pháp nào, đọc bộ kinh hay bộ luận nào. Thứ hai là làm thế nào để niệm mà bất niệm, thuyết mà bất thuyết. Tức là làm thế nào nắm được bản chất. Nói và đọc dài như thế, trong tâm có hình thành được cái gì đó như là Như Lai Tạng để nhập Chân Như hay không. 

    7. Điều tinh túy của Đạo Phật nằm ở chỗ có hướng dẫn từng bước chứ không phải chỉ nói "cứ tin đi, tụng niệm đi" hay "cứ đọc đi, cứ thuyết đi". Các pháp có nhiều đường, nhưng cũng có những nguyên tắc chung như các kinh nghiệm sẽ dẫn người học đạo lạc đường vào Vô Minh: như ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên, thất tình, lục dục,... (chúng ta chỉ cần nắm được cốt lõi không cần nhập tâm cố định ở con số 5, 12, 6, 7) và có những nguyên tắc để khắc phục như là bát chính đạo. Trong quá trình này, người học đạo sẽ trả qua các thức khác nhau, tương ứng với một thành phần cấu trúc hay trạng thái của Ý thức. Nói một cách khác, đây là quá trình gõ cửa và thử tiến vào khám phá chiều sâu của Ý thức. Tất nhiên cũng kèm theo nhiều tạp niệm mà chúng ta phải loại bỏ với các nhận thức mới.

    8. Đối với tôi, quá trình này sẽ làm bộc lộ cấu trúc của ý thức vốn tinh tế, phức tạp hơn chỉ nói về hai mặt đại thể Hồng Phạm-Chân Ngã, cho dù chúng ta chia cặp phạm trù này thế nào.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Thursday, December 1, 2022

Bàn luận về Ý THỨC trong cuộc sống & sự sống

 Quan hệ giữa sự sống và ý thức

      1. Không bao giờ nên tranh luận về các mệnh đề chứa các khái niệm chưa hoặc không thể định nghĩa. Tuy vậy, có thể bàn xem các khái niệm đó nên điều chỉnh thế nào để  các mệnh đề có tính phổ quát hay tiện dụng trở nên đúng.

      2. Vấn đề quan hệ giữa sự sống và ý thức cũng vậy.  Chúng ta có thể tranh cãi hoặc đơn giản chấp nhận việc người không còn ý thức (bao gồm cả nhận thức, tiềm thức, vô thức) là còn sống hay không. Thừa nhận một khằng định như vậy có nghĩa là chúng ta đã đặt một hạn chế lên các khái niệm sự sống và ý thức. Vấn đề chỉ ở chỗ khẳng định đó có tiện dụng cho tư duy và hành động không.

      3. Định nghĩa chặt chẽ về sự sống có thể không đơn giản. Vì vậy chúng ta hãy lấy một vài dấu hiệu của sự sống. Cố nhiên, không thể đòi hỏi chúng phải là điều kiện đủ. Trước hết, chúng ta hãy mượn tạm các dấu hiệu phổ biến như ”trao đổi chất”. Trao đổi có nghĩa là thu và phát. Ở người và động vật là đồng hoá và dị hoá, ăn và bài tiết. Ở thực vật có diệp lục tức là có quang hợp, thu ánh sáng, oxy, phát carbonic. Ở sinh vật cấp thấp hơn cũng có việc hấp thụ các chất, năng lượng trong môi trường phát ra các chất phế thải.

     4. Vậy thì trái tim của một con ếch đã bị giết chết, được ngâm trong dung dịch dưỡng chất, tiếp tục đập, thu và phát chất liệu có thể coi là còn sống? Hay một cái máy tự động, thu năng lượng mặt trời, phát sóng điện từ, liệu có phải là cơ thể sống không. Như vậy chúng ta cần bổ sung một dấu hiệu khác “tự tái tạo và sinh sản”.  Cây cối sẽ nẩy lộc, đâm chồi cũng coi như là biểu hiện của sự sống. Tuy vậy, có lẽ các dấu hiệu này cũng chưa đủ, xác chết cũng vẫn tiếp tục mọc râu, tóc, móng chân tay, nhưng không thể nói là sống. 

     5. Một dấu hiệu nữa thường dùng để xác định sự sống là phản xạ. Không phải phản xạ nào cũng có thể coi dấu hiệu của sự sống. Cơ bị kích thích thì co, cũng như kim loại gặp nóng thì dãn ra, lạnh thì co lại. Phản xạ của cơ thể sống bao gồm sự tập nhiễm, có điều kiện giống như là quá trình học, tức là có nhớ, lưu thông tin, xử lý, có tiếp nhận thông tin. Nói một cách khác tức là có ý thức ở dạng mà các nhà lý luận duy vật hay nói có chức năng ”phản ánh, sao chụp TÍCH CỰC thực tại khách quan”. Thêm tính “tích cực” để cho phép “sao chụp” đó không cần nguyên bản, có thể hư cấu, thêm mắm muối, cho phép sáng tạo (là bản chất của học tập). 

    6. Cũng cần nói thêm ở đây tôi có “ăn gian” bớt xén một chút một cách có chủ ý. Các tài liệu lý luận duy vật, thường định nghĩa ý thức là “phản ánh, sao chép sáng tạo hiện thực khách quan VÀO BỘ ÓC CON NGƯỜI”. Nói cách khác họ chỉ xét tới ý thức con người hoặc họ coi con người (sống) mới có ý thức. Chúng ta sẽ mở rộng ý thức để bao gồm các dạng ý thức của sinh vật nói chung, thậm chí cả loại ý thức độc lập với vật chất (nếu có). Tuy vậy, dường như chúng ta đang cố định nghĩa khéo léo để dẫn tới mệnh đề: sự sống gắn liền với có ý thức.

    7. Như trên chúng ta đã thấy 2 tính chất “trao đổi chất” và “tự tái tạo và sinh sản” không đủ đặc trưng cho sự sống, mà phải thêm tính chất thứ 3 “phản xạ có điều kiện”. Tính chất thứ 3 nếu bỏ hạn chế duy vật, gắn liền với người, vô hình trung đã thừa nhận sống gắn liền với “có ý thức”. Ý thức ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, có thể các sinh vật cũng có miễn là có tiếp nhận, lưu trữ, xử lý và sử dụng thông tin để điều khiển hành vi. Thậm chí chúng ta có thể mở rộng “ý thức” cho máy móc. Ví dụ như mạng neuron nhân tạo trong AI có thể coi là có ý thức nhưng chưa thể coi là vật sống, vì sự sống phải thoả mãn đồng thời tối thiểu 3 tiêu chí nói trên. Chúng ta có thể định nghĩa sự sống gắn liền với protein.

    8. Tạm thời như vậy về quan hệ giữa sự sống và ý thức, mà nếu không phân tích khúc chiết khéo tranh luận và giải thích cả ngày. Còn các vấn đề: 1) Ý thức tối thượng ( độc lập với vật chất) sẽ có quan hệ thế nào với sự sống. 2) Sự sống và không có sự sống có ranh giới mờ, sự sống của toàn thể có thể khác với sự sống của bộ phận 3. Ý thức nhân tạo sẽ thua kém hay hoàn thiện hơn  ý thức tự nhiên? 4. Quan hệ giữa ý thức tối thượng và ý thức vật chất. Chúng ta sẽ lần lượt bàn sau.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, November 23, 2022

Đức Chúa có giỏi Toán hay không?

Cái đẹp toàn bích chính là Quỷ Satan. (Nguyễn Hồng Nhung)

Đức Chúa có giỏi Toán hay không?

hay

Chân lý, toán học và phép xấp xỉ gần đúng

       1. Người ta hay nói, chân lý bao giờ cũng đẹp và đơn giản. Tôi là người hay nghi ngờ, nên cứ lẩn thẩn suy nghĩ xem liệu điều đó có đúng không? tại sao lại đúng? và đúng đến mức nào? vì không có nguyên lý nhân tạo nào đúng tuyệt đối. 

       2. Năm thứ nhất đại học, trong giáo trình vật lý đại cương, tôi biết đến định luật Hook. Định luật rất đơn giản: với lực tác động đủ bé tác động lên một vật, độ dãn sẽ tỷ lệ thuận với lực. Tôi cực kỳ khó chịu với định luật này. Thế nào là "đủ bé"? Nếu kiểm tra không thấy đúng, ta luôn luôn có thể nói là lực không "đủ bé". Thế thì tại sao lại gọi là định luật? Tôi bèn vào thư viện tra sách và bàng hoàng phát hiện ra định luật Hook 2: nếu lực tác động đủ bé thì độ co dãn sẽ có 2 số hạng tỷ lệ tuyến tính và tỷ lệ với bình phương của lực. Khi đó nếu lực rất bé thì bình phương lực sẽ bỏ qua được bên cạnh số hạng tuyến tính. Như vậy định luật Hook 1 là trường hợp riêng của định luật Hook 2. Điều đó ổn. Cái không ổn vẫn là giả thiết “nếu lực đủ bé”. Nếu vậy sẽ tiếp tục có Hook 3, Hook 4, ... cho lực lớn hơn? Tôi chợt nhận ra một điều là chẳng có định luật nào ở đây cả. Độ dài của vật bị kéo chỉ là hàm giải tích của lực kéo và chúng ta có thể triển khai chuỗi Taylor độ dài này theo lực kéo. Như vậy ta sẽ có Hook n với n tuỳ ý. 

     3. Các định luật vật lý trong giáo trình vật lý đại cương như định luật Ohm, định luật ma sát,... phần lớn là tuyến tính. Chúng ta có thể suy nghĩ tương tự với giả thiết có một mối quan hệ nhân quả giữa nhân và quả thông qua một hàm số giải tích. Chẳng hạn cường độ dòng điện là hàm giải tích của hiệu điện thế, hoặc lực ma sát là hàm giải tích của khối lượng. 

     4. Ngoại lệ có thể là định luật 2 Newton F=ma. Trước đây tôi yên tâm đó là định luật cơ bản phổ quát và thực chất là định nghĩa khối lượng. Nhưng cũng không có lý do loại trừ khả năng gia tốc a là quả của nhân là lực F thông qua một hàm giải tích và chúng ta cũng đang ở một thế giới mà lực tác động là “đủ bé”. Biết đâu sẽ có một thế giới mà a = A(F) trong đó A là một hàm giải tích.

      5. Như vậy chúng ta chỉ cần một quy luật hoàn toàn Toán học là tính giải tích, diễn tả một quy luật cao hơn các định luật vật lý là định luật nhân quả. Khi đó liệu có phải vật lý chỉ có nhiệm vụ chỉ ra các vùng mà nhân là “đủ bé”, để áp dụng phép xấp xỉ bậc 1,2 hoặc n  hay không?

       6.  Câu hỏi là liệu chỉ có quy luật vật lý thực nghiệm là như thế? Chúng ta hãy xem xét một trường hợp tổng quát hơn là thuyết tương đối rộng của Einstein. Toàn bộ lý thuyết này dựa trên nguyên lý tương đương. Einstein lý luận rất dài dòng về thí nghiệm tưởng tượng với người bị rơi trong thang máy và rút ra việc người đó không cảm thấy lực tác động lên gan bàn chân hay khối lượng hấp dẫn bằng khối lượng quán tính. Thực ra, để viết phương trình Einstein, người ta bắt buộc phát biểu lại nguyên lý tương đương dưới dạng Toán học: luôn tồn tại một hệ toạ độ phẳng tại mọi điểm không thời gian. Về mặt Toán học điều đó chỉ có nghĩa không thời gian là đa tạp khả vi. Như vậy nguyên lý tương đương chỉ là khái niệm đa tạp khả vi cho không thời gian. Tất nhiên, khi có các hạt vật chất hay gần lỗ đen, không có gì đảm bảo không thời gian là khả vi.

    7. Câu hỏi đặt ra bây giờ là: liệu các khái niệm Toán học như hàm số giải tích, đa tạp khả vi,... có phải là chân lý tuyệt đối và phổ quát? Nếu quả vậy thì Đức Chúa Trời ắt phải giỏi Toán vì Ngài đã sáng tạo ra thế giới và quy luận vận hành nó? Nói một cách rõ ràng hơn là liệu thế giới có tuân thủ những cấu trúc toán học đẹp đẽ và lý tưởng nhất hay không? Nếu như vậy thì tại sao hay liệu có phải giả thiết phải tồn tại một ý thức toàn năng để thúc ép thế giới phải theo cái đẹp? Và như vậy thì thế nào là đẹp?

     8.  Trong Toán học, người ta có xu hướng đơn giản hoá. Đa tạp khả vi là đa tạp đơn giản nhất người ta có thể làm việc, có thể rút ra nhiều thông tin từ một số lượng thông tin ít nhất. Mặc dù đa tạp không khả vi có thể tồn tại về mặt nguyên lý, Toán học không xét tới các đa tạp đó vì thực ra cũng chẳng làm gì được. Tương tự, trong thực tế các quan hệ nhân quả được phản ánh một các đơn giản bởi các hàm giải tích xấp xỉ bằng các đa thức. Như thế liệu chân lý có phải là cái đẹp, cái đẹp có phải là cái đơn giản. Nhiều nhà khoa học tin như thế, nhưng thực ra không có bất cứ một lý luận ủng hộ nào ngoài niềm tin mà thực ra là hy vọng mơ hồ. 

    9. Thực ra cái chân lý chỉ gần cái đẹp, cái đẹp chỉ gần cái đơn giản nhưng không hoàn toàn đồng nhất với cái đơn giản. Người ta đã thực nghiệm và thống kê, trong tuyệt đại đa số trường hợp, cái đẹp là cái trung bình. Nhưng cái tuyệt đẹp là cái trung bình với chút ít khác biệt để  trở thành đặc sắc và duy nhất. Chính vì thế ,cái đẹp chỉ gần cái đơn giản vốn chính là cái trung bình. Tuyệt đẹp mới chính là chân lý vì phải có sự đặc sắc và sai lệch khỏi trung bình. 

    10. Người nghi ngờ, nhà khoa học minh triết có thể hỏi tiếp: Vì sao cái chân lý lại là cái tuyệt đẹp là sai lệch khỏi cái trung bình? Theo tôi nghĩ, toàn bộ thế giới này, cũng như mọi khái niệm, đều hình thành xung quanh điểm cân bằng. Điểm cân bằng chính là các hấp tử hút mọi vật về phía mình, nên mọi vật đều thăng giáng quanh nó, vì thế nó phải là cái trung bình. Tuy nhiên, nếu mọi sự đều đã trở về trung bình, hoặc nếu cân bằng là phổ biến thì đó là một trạng thái chết. Thế giới phải sống, do đó Thượng đế ắt đã tạo ra Thế giới bằng cách đưa nó ra khỏi điểm cân bằng. Tuy nhiên, độ lệch này phải đủ bé để thế giới không tìm đến điểm cân bằng khác. Hoàn toàn có thể có nhiều thế giới hay nhiều vùng của thế giới với điểm cân bằng khác nhau.

    11. Ý thức tối thượng có thể chính là điểm cân bằng và là cái đẹp. Nhưng Tạo hoá lại thích cái tuyệt đẹp hơi lệch ra khỏi cái cân bằng. Tạo hoá là Đức Chúa, nguồn gốc của sự sống, ngài yêu sự tiện lợi và ghét cái đẹp hoàn hảo nhàm chán, trung bình. Vì vậy Ngài chỉ giỏi Vật lý. Cái đẹp có lẽ chính là quỷ Satan, là đối cực của Ngài, là điểm cân bằng, dẫn tới trạng thái chết, tĩnh lặng vĩnh cửu. Quỷ Satan sẽ là động lực của Toán học. Chúa-Satan là cặp phạm trù  Sinh Tạo và Hủy Diệt là hai mặt của Ý thức tối thượng.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, November 21, 2022

Có bao nhiêu Hồng Phạm

 Tôi thích dùng chữ Hồng Phạm thay cho Thượng đế, Bề trên, Chúa, Phật hay Ý thức Toàn năng, là các khái niệm phụ thuộc vào văn hóa. Đây là chữ tôi đặt ra để mô tả tới hạn chung của các khái niệm đó.

--------------

 Ý thức, theo cách nhìn của mỗi cá nhân chúng ta bao gồm Chân Ngã và Hồng Phạm. Chân Ngã là ý thức của cá nhân ta, là cái Tôi, điều khiển thân xác, được quan niệm là một thực thể khác với thân xác theo những người tin ở việc Tinh thần không phải là thuộc tính của Vật chất. 

       Tuy vậy ở đây lại có hai ngã rẽ: Có những hiện tượng dường như độc lập với ý chí của Chân Ngã, được cho là chi phối bởi một ý thức khác là Hồng Phạm, nằm ngoài thân xác, nhưng có thể liên hệ với thế giới chúng ta đang sống bằng cách truyền thông tin cho Chân Ngã theo một cơ chế nào đó mà chúng ta chưa biết, tạm gọi là Thông Linh. Tất nhiên, người ta cũng thể đặt câu hỏi tương tự như đã đặt ra với Chân Ngã: Liệu Hồng Phạm có phải là thuộc tính của Chân Ngã. Nói một cách thô thiển hơn thì Hồng Phạm có thể là hoang tưởng của Chân Ngã? 

       Nếu chúng ta tin rằng Hồng Phạm là hiện thực khách quan độc lập với Hồng Phạm chúng ta có thể thấy rằng có nhiều hình ảnh khác nhau về Hồng Phạm, phụ thuộc vào Chân Ngã, phần lớn là mô phỏng hình tượng Con người. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo đó không phải là ảo tượng. Đạo Hồi, không cho rằng ý thức tối thượng của họ, Alah có hình tượng người. Đạo Hindu, lại cho rằng đó là một bộ ba, khi sáng tạo, khi phá huỷ, khi bảo vệ. 

      Điều đó không có nghĩa là Hồng Phạm của những người cùng tôn giáo là như nhau. Nói cách khác Thiên Chúa của những người khác nhau có thể có sự khác biệt. Tôn giáo là thiết chế nhân tạo nhằm tạo khuôn mẫu chung cho nhận thức cá nhân về Hồng Phạm. Nhận thức có thể na ná như nhau, tuy không bao giờ giống hệt, nhưng Hồng Phạm vẫn có thể khác nhau giống như vô số vật khác nhau có thể có cùng hình chiếu trên một trục. Mỗi cá thể có thể kèm theo một Hồng Phạm khác nhau, không chỉ là khác biệt trong nhận thức.

      Nói chung mọi quan niệm chỉ là mô hình để mô tả thế giới. Có thể sự khác biệt chỉ là trò chơi của ngôn ngữ mang tính rhetoric ( tính xảo biện). Quan niệm có nhiều Hồng Phạm có thể quy về một Hồng Phạm duy nhất là hợp nhất của một Hồng Phạm duy nhất, mà khi thể hiện với mỗi cá thể chỉ có một phần của nó như trong truyện Thầy bói sờ voi. Chúng ta có thể cả quyết cái vòi, hay cái đuôi mà Hồng Phạm thể hiện cho chúng ta chính là Hồng Phạm độc lập và khác biệt với cái chân hoặc bộ ngà. Khác biệt hay thống nhất có thể chỉ là ảo tượng của nhận thức.

        Vậy tiêu chí cho việc “là một” hay “khác biệt” là gì? Chẳng hạn bạn và tôi, Đức Chúa và Quỷ Satan liệu có thể coi là hai mặt của cùng một đồng xu? Nếu xét tới thể hợp nhất dường như bất cứ cái gì đều có thể xem là một theo cách cưỡng chế.  

      Có lẽ chúng ta sẽ thêm một tiêu chí “chuyển hoá” hoặc “chia sẻ” để phân biệt một chỉnh thể duy nhất với một hợp nhất cưỡng chế. Đuôi hay tai con voi đều cùng chia sẻ vòi, chân và thân. Cố nhiên đuôi và tai của hai con voi vì thế không thể coi là cùng một chỉnh thể do không chia sẻ chân và vòi. Chuyển hoá có lẽ là một tiêu chí rõ ràng, tuy khó thực thi hơn, do đòi hỏi biết sâu hơn về sự vật. Theo đó các kiếp luân hồi có thể coi là một cá thể nếu có phần chung được chuyển hoá. Tuy vậy, vẫn có thể tranh luận về việc có thể coi là “kiếp sau” (nếu có) có phải là một phiên bản của Chân Ngã hay không. Nếu ý thức còn lại cũng chỉ là một phần lõm bõm của cái Tôi cũ, rất khó nói hậu kiếp và tiền kiếp là một.

      Vậy Hồng Phạm có thể coi là một nhờ chuyển hoá hay chia sẻ? Chúng ta không thể biết về chuyển hoá nếu như chúng ta không thể nhận thức được toàn bộ Hồng Phạm. Dường như Hồng Phạm chia sẻ nhiều cái chung, tuy khó phân định đó là bản thân Hồng Phạm hay do Chân Ngã của chúng ta có cùng một khuôn nhận thức được tập tính từ cách sống với những tiêu chuẩn giống nhau. 

       Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Nếu Chân Ngã là khác biệt, tại sao lại có nhận thức giống nhau? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này nếu giả thiết có một ý thức tối thượng là Hồng Phạm duy nhất, thể hiện trong mỗi cá nhân dưới dạng các Chân Ngã khác nhau và luôn giữ kết nối với Hồng Phạm. Sự khác biệt chỉ là do hoàn cảnh của cá thể. 

      Tuy nhiên đó chỉ là một mô hình, cũng như các mô hình nhận thức về Ý thức.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, November 19, 2022

Ý thức & Vật chất

 Tâm linh 

     Chữ "tâm linh" ở Việt Nam bị lợi dụng đến mức không phân biệt các điểm khác biệt tinh tế. Tin ở ma gà, ma chó, vong hồn, Thượng Đế, Phật, Chúa, tin ở bói toán, cất mộ, cơ bút, rút xăm, tất tật cái gì phi khoa học đều tâm linh tuốt. Như vậy có nghĩa là sẽ có khoa học và những điều còn lại. Nói về phạm trù "những điều còn lại" chỉ có nghĩa khi chúng hữu hạn, ngoài ra chúng sẽ bao gồm những điều xung khắc nhau, cũng có khi chẳng liên quan và không có ích lợi khi bàn về tất cả tập hợp này. Vì vậy, điểm khác biệt giữa khoa học và tâm linh có thể thấy rõ: Các nhà khoa học đều có thể đồng ý với nhau bằng tranh luận khoa học. Các nhà tâm lý không thể đồng ý với nhau và coi nhau là đối thủ nguy hiểm hơn chính khoa học.

    Vì vậy, tìm hiểu về "tâm linh" phải giới hạn trong một luận điểm và định nghĩa nhất định về "tâm linh". Trong bài này tôi sẽ nói về "tâm linh" là spiritualism, có định nghĩa đàng hoàng. Các khái niệm vu khoát dù là tôn giáo hay Triết học  không liên quan xin đừng thảo luận ở đây. Các giải nghĩa tôn giáo triết học có tính cá nhân lại càng không. Mục đích của tôi là bàn về những cái khoa học chưa giải thích được, nhưng có khả năng nhận thức được trong một khoảng thời gian hữu hạn không dài quá. Cũng thuộc về "tâm linh" theo định nghĩa "còn lại".

      "Tâm linh" quan niệm có những linh hồn (spirits) có thể và có xu hướng giao tiếp với người sống. (Nếu như vậy sẽ có thể nhận thức, quan sát được. Tất nhiên như thế vẫn chưa phải là khoa học theo định nghĩa hiện tại vì khoa học còn yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào thời gian, không gian, cá nhân, và lặp lại được). 

       Do chúng ta không thể chủ động giao tiếp với các linh hồn khi chúng không muốn, theo logic thì các linh hồn là hoàn thiện, có năng lực cao hơn chúng ta. Việc cắt nghĩa chúng là hình phóng chiếu của chúng trong tâm trí chúng ta, không có gì đảm bảo không bị sai lệch và trung thành 100% với nguyên bản. Chúng ta có thể thấy bề trên, thần phật, những người đã khuất, là những hình ảnh có sẵn trong tâm trí được lấy ra để phối hợp với tác động giao tiếp tạo thành một bức tranh nào đó. Chúng ta có thể thấy quỷ dữ. Có khả năng thấy gì là do tâm trí chúng ta đã được xây dựng theo một cách thức nào đó. Người ta có thể nói hoa mĩ là tâm lành hay không lành. Để có được những hình ảnh nhất định bên cạnh việc có năng lực đặc biệt, cơ duyên có thể có những phương pháp tu tập. Tuy vậy, hiện tại không có gì đảm bảo cách tu tập này sẽ gần chân lý hay tốt hơn cách tu tập khác ngoài tiêu chuẩn "thấy dễ chịu" là một tiêu chí không liên quan đến chân lý. 

     Trong trường hợp chúng ta tin rằng có các đấng bề trên toàn năng, có thể hướng dẫn chúng ta để chúng ta có thể sống tốt hơn, tâm linh sẽ là xuất phát điểm cho một niềm tin, mà các tôn giáo như Phật, Chúa, Alah, Đế Thích, Ngọc Hoàng là các giản lược để tạo nên các thiết chế xã hội nhằm ràng buộc con người, bắt đầu với thiện ý nhưng luôn có xu hướng nô dịch và ép buộc con người theo ý của một thiểu số.  Ở đây chúng ta sẽ dừng lại ở mức giả thiết có các bề trên, hay gọi tổng quát là các linh hồn như vậy (hy vọng chúng ta sẽ không lẫn linh hồn với "vong" là những gì được cho là còn lại của người đã chết). 

       Tâm linh tin rằng có thể luyện tập để mở các kênh giao lưu với các linh hồn tốt và tạo ra một vòng kim cô ngăn các linh hồn xấu. Về mặt logic, có thể không có linh hồn tốt phân biệt với linh hồn xấu và chỉ có một linh hồn mà thôi, xấu tốt là do nhận thức cá nhân như ta đã nói ở trên. Nói một cách khác Chúa và Satan là một, tùy nhận thức mà ta sẽ thấy Satan hay Chúa. Vì vậy luyện tập là để tạo ra hình ảnh Chúa và ngăn cản việc thấy Satan (hoặc ngược lại nếu muốn).   Như vậy mỗi người chúng ta đều sẽ có một linh hồn dẫn dắt, cũng có thể quan niệm đó là Bề trên hay Thượng đế phổ quát, hoặc một cá thể chỉ liên quan tới cá nhân ta. Khi chúng ta không thấy linh hồn này có nghĩa là kênh giao tiếp bị đóng. Chúng ta có thể tiếp tục đóng, khóa chặt thêm hoặc tìm cách mở kênh giao tiếp.

      Có một trường phái chủ trương mở kênh giao tiếp, gọi là spiritism (thông linh). Có nhiều cách khác nhau, tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là cầu cơ hoặc các biến thể như giáng bút. Trào lưu này khá phổ biến vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và cho đến nay vẫn còn rải rác. Ở ta đạo Cao Đài cũng sử dụng cách giao tiếp này. Qua thực hành, thông linh tin rằng có hiện tượng đầu thai hoặc tái sinh luân hồi. Đạo Thiên Chúa ngày nay không tin ở Luân hồi, do giáo lý hướng dẫn con người hướng về Chúa để lên Thiên đường, nhưng nguyên thủy có tin ở Luân hồi. Hôm nay tạm bàn thế đã.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, November 18, 2022

Phiếm thần, Chúa, Satan và Toán học

  1. Phiếm thần hiện nay thường được mặc định cho là niềm tin không có thần, do chữ "phù phiếm" mang nghĩa như là "giả tưởng", tưởng là có nhưng thực ra là không phải. 

      2. Nhiều người giả định Đạo Phật, với niềm tin không dựa trên sự tồn tại của thần thánh là "phiếm thần". Như vậy "thần" và "ý thức" phải được hiểu là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất, tuy ít ai nghĩ chuyện phân tích minh bạch. Cũng là "phép đặt tên có chủ đích" như Triết học mà thôi. 

     3. Thực ra Đạo Phật có thể nói thẳng là "vô thần" (antheism). Tuy nhiên, chữ "vô thần" từ lâu đã mang nghĩa xấu, không có niềm tin và đạo đức. Thậm chí những người theo chủ nghĩa duy vật cũng cảm thấy bị xúc phạm khi bị gọi là "vô thần". Do đó các vị cao tăng cũng lập luận khá buồn cười để "chứng minh" Đạo Phật không phải là "vô thần" và vì thế nhiều người muốn đón nhận khái niệm "phiếm thần" thay cho "vô thần".

     4. Thực ra "phiếm thần luận" chính thức xuất hiện trong quan niệm của nhà triết học Spinozza thế kỷ 17. Ông cho rằng Chúa là tổng hòa của mọi vật, như vậy Chúa không phải là một tồn tại siêu nhiên tạo thành mọi vật mà Chúa chính là mọi vật, tương tự như khái niệm Universe ( Do thiếu chữ, chúng ta hay dịch là Vũ trụ cùng với Cosmos, tuy hai chữ này không hoàn toàn như nhau) 

      5. Giordano Bruno là một vị liệt sĩ khoa học, là một nhà chủ trương phiếm thần luận. Ông không phủ nhận việc có Chúa Trời, nhưng cho Chúa Trời là mọi vật, bao gồm cả Vũ Trụ. Albert Einstein cũng từng tự cho mình là đệ tử của Spinozza, tin rằng Chúa hiện hữu và bao gồm mọi quy luật của tự nhiên. Nói một cách nào đó nhà khoa học không nhất thiết phủ nhận sự tồn tại của Chúa, và có thể là một người theo phiếm thần.  

       6. Phiếm thần là phủ định của thuyết đơn thần. Thuyết đơn thần tin có Thượng Đế được nhân cách hóa, có quyền năng tuyệt đối, có thể tạo ra, gây ảnh hưởng đến thế giới vật chất, nhưng đứng bên ngoài thế giới đó. Có người tin rằng phiếm thần là tiến hóa của đa thần, một niềm tin sơ đẳng, có thần hay ma tồn tại trong các vật cụ thể. Thực ra phiếm thần là niềm tin cao hơn đa thần, đơn thần kể cả vô thần. 

      7. Phiếm thần không phủ định Chúa mà đem lại cho Chúa một ý nghĩa mới, vượt hẳn quan niệm Chúa Trời là một người đàn ông đẹp đẽ, có râu, khác với Satan, một con quỷ có sừng.  Phiếm thần luận là một cách giải nghĩa tôn giáo hơn là một tôn giáo mới. Như vậy Đạo giáo, Nho Giáo, Đạo Sikh, Ấn độ giáo,.... đều có thể hiểu là phiếm thần. Tôi nghĩ đạo Hồi cũng có thể hiểu là phiếm thần. Những đạo nguyên thủy như đạo Orpheus, Pythagore,.... đều có ý phiếm thần. Tuy nhiên Đạo Phật không phải là phiếm thần. Tuy không phủ nhận phiếm thần một cách quyết liệt, Đạo Phật cũng không có quan điểm phiếm thần rõ ràng. Nhìn chung Đạo Phật là như vậy, không phủ nhận và không khẳng định điều gì, khi bàn đến chuyện A hay B, phương pháp bách chiến bách thắng của Đạo Phật là cho đó là vô minh, vấn đề đó là vô nghĩa. Thậm chí bàn về một vấn đề trong ngàn vạn thiên Tạng, Luận cũng là vô minh. 

      8.  Chúa theo quan niệm phiếm thần, chính là một symbol, để chỉ các quy luật của tự nhiên. Sáng thế là một câu chuyện Fairy Tale dành cho người lớn cũng mang tính biểu tượng như vụ nổ lớn là ngoại suy những gì ta biết được về thế giới. Đó là một mô hình gần đúng, để chúng ta yên tâm, hoàn toàn không thể chứng minh chặt chẽ. 

      9. Chắc chắn Chúa biết Vật lý, vì khi trước khi ngài sáng thế ngài cũng đã tạo ra các quy luật vật lý trước, để vạn vật ra đời đều tuân theo quy luật. Tuy nhiên không hoàn toàn chắc chắn Chúa có biết Toán hay không. Có 3 khả năng: Chúa cũng tạo ra Toán, Con người tạo ra Toán, và không phải Chúa, không phải Người, tức là Satan tạo ra Toán. 

     10. Nếu Chúa tạo ra Toán, ắt Ngài phải dùng vì thế các cấu trúc Toán học dù trừu tượng đến mấy cũng sẽ phải tồn tại trong thực tế, có thể ở những chỗ ta chưa biết. Chẳng hạn, mở rộng phương trình Maxwell thành các cấu trúc octonion chắc chắn phải là một thực tại vật lý. Hoặc chúng đang tồn tại trước mẳ mà chúng ta chưa nhận thức được, hoặc chúng tồn tại ở những vùng khác của vũ trụ cách xa chúng ta hàng tỷ năm ánh sáng. Ngược lại, nếu con người tạo ra Toán học, nó sẽ phải giống như, Tôn giáo, Triết lý, Nghệ thuật, Thơ ca, Máy hơi nước và Blockchain. Bạn có thể tùy chọn lấy một niềm tin. 

     11. Ý tưởng Satan tạo ra Toán học là một ý tưởng lý thú và ít người nghĩ tới. Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Satan tạo ra Toán học nhằm mục đích gì? Satan có thể giống các nhà Toán học, không có mục đích thực tế, nhưng chắc chắn anh chàng này (đáng lẽ phải gọi là ngài cho trung lập khoa học, nhưng tôi chưa đủ dũng cảm) có một mục tiêu tối thượng là biến các ý định của Chúa thành trò hề. Nếu quả như vậy thì Toán học là cơ sở của việc vi phạm định luật của tự nhiên. Kết luận này khá mạnh mẽ và đáng ngạc nhiên. Tuy vậy cũng nên nghĩ thêm xem sao, trước khi phủ định khả năng này.

     12. Chế nhạo và chống báng mạnh nhất chính là bản sao gần đúng. Đó là lý do vì sao Nhà Thờ tàn sát đạo Tin lành mà không hề quan tâm tới những người theo đạo khác. Các quy luật vật lý mô tả bằng các công thức Toán học. Nếu vậy, các công thức sẽ chỉ là gần đúng, là chế nhạo của Satan đối với Chúa trời. Trong cách suy nghĩ này, đối xứng chỉ là phép gần đúng đối với hiện thực, nơi phải có vi phạm đối xứng.  Tiếp tục theo quan điểm này, có thể kết luận đối xứng là tác phẩm của Satan, vi phạm đối xứng là tác phẩm của Chúa. Trong trường hợp này vi phạm đối xứng không cần có bản chất Toán học. 

      13. Một cách nghĩ khác, ngược lại: Đối xứng là tác phẩm của Chúa và chính là quy luật tự nhiên. Khi đó vi phạm đối xứng phải là tác phẩm của Satan. Theo quan điểm này, chúng ta sẽ có một kết luận rất mạnh: vi phạm đối xứng phải dựa trên bản chất Toán học. Chẳng hạn công thức khối lượng của Gell-Mann-Okubo, rút ra từ vi phạm đối xứng dựa trên một giả thiết thuần túy toán học. 

      14. Có lẽ bức tranh thế giới dựa trên quá trình đấu tay đôi không ngưng nghỉ giữa Chúa và Satan chỉ là một nhận thức sai lầm của con người. Biết đâu họ là một đôi bạn tri kỷ đang uống rượu bày ra những chuyện lắt léo làm chúng ta lao tâm khổ tứ rồi đang cười khà khà.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, November 6, 2021

Hỏi

 Câu hỏi "tại sao"?

     1. Các câu hỏi là chìa khoá cho tư duy. Càng hỏi nhiều càng có lợi. Thực tế là được học miễn phí. Nếu mỗi ngày chúng ta có 3 câu hỏi có giá trị, mỗi năm sẽ có 1000 câu trả lời thông thái, đủ cho vài cuốn sách. Chưa kể chúng sẽ mở ra những hướng suy nghĩ mới, tạo bước ngoặt cho cả cuộc đời.

    2. Để khuyến khích việc hỏi, người ta thường nói "không có câu hỏi ngu". Kể ra cũng đúng, nếu hỏi đúng lúc, thì câu hỏi nào cũng có thể thông minh. Nhưng điều đó cũng đúng cho mọi câu nói, câu trả lời. Trong mọi trường hợp, việc hỏi các câu hỏi  rõ ràng có mức thông minh hơn kém. 

     3. Các câu hỏi “cái gì?”, “ai?” “ở đâu” và “khi nào?” (theo nghĩa đơn giản) chỉ có hai loại trả lời đúng hoặc sai. Đây là các câu hỏi về sự thực có thể google, nên giá trị mang lại trong đàm luận kém một bậc. 

     3. Các câu hỏi “tại sao?”, “thế nào?” và các câu hỏi về điều kiện (sẽ nói sau đây) là các câu hỏi đặc biệt có giá trị. 

     Tôi nghĩ sinh viên đại học phải có chừng chục giờ học cách đặt câu hỏi và rèn thói quen đặt câu hỏi trong khuôn khổ chuyên đề "học đại học khác học phổ thông thế nào". 

    4. Câu hỏi “ tại sao?” không có câu trả lời duy nhất tuyệt đối đúng sai. Nó liên hệ hai sự thực, trong khi các câu hỏi trên chỉ là một sự thực. Liên hệ giữa hai sự thực sẽ phản ánh một quan hệ nhân quả, là cốt lõi cho câu trả lời “tại sao”. Dĩ nhiên có câu hỏi tại sao có thể có vô hạn câu trả lời. Hơn nữa, một mối quan hệ nhân quả tưởng chừng vô lý nhất cũng có thể chứa đựng những giá trị bất ngờ, cần suy nghĩ thật kỹ. Đánh giá các câu trả lời "tại sao" có thể đưa chúng ta tới đài vinh quang hoặc nhà thương điên. Đây là kỹ năng cần rèn luyện cho cuộc đời.

     5. Nếu câu hỏi “tại sao?”là câu hỏi tư duy khoa học, tiềm ẩn đe doạ hiểm nguy và xáo trộn xã hội cũng như các cá thể, câu hỏi “làm thế nào?” có tính thực dụng cao và hiền lành hơn. Tuy vậy rất khó học trả lời “làm thế nào”  nếu chưa biết đánh giá câu trả lời "tại sao".

      6. Các câu hỏi về điều kiện về hình thức cũng giống như câu hỏi sự thực “khi nào?”, “ở đâu?” nhưng các câu hỏi này thể hiện một sự thực thứ hai và trong thực tế đó chính là liên hệ tới quan hệ nhân quả. Do đó, các câu hỏi điều kiện là những dạng thức bổ trợ của các câu hỏi “tại sao?” và “làm thế nào?”. 

     7. Những vấn đề này tưởng vô bổ nhưng sự thực có giá trị rất lớn nếu đi vào cụ thể.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)