Showing posts with label Tư liệu vh-xh. Show all posts
Showing posts with label Tư liệu vh-xh. Show all posts

Sunday, March 23, 2025

Câu chuyện âm nhạc

 Nhiều người có thể xem âm nhạc là một hình thức nghệ thuật ít quan trọng vì tính trừu tượng của nó và khả năng tắt đi bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, thực tế là chúng ta luôn tiếp xúc với âm nhạc mỗi ngày mà không nhận ra. Khi ra ngoài, dù ở cửa hàng, nhà hàng, trung tâm mua sắm, taxi, trên phố hay khi chờ điện thoại, âm nhạc luôn hiện diện xung quanh chúng ta. Để đối phó với điều này, việc đầu tiên là nhận thức về nó, và sau đó là nuôi dưỡng và làm phong phú "máy thu âm nhạc" trong não bộ bằng cách chủ động lắng nghe những tác phẩm âm nhạc tuyệt vời. Mỗi người đều có thể nỗ lực tạo ra không gian âm nhạc tích cực cho chính mình. Chúng ta là những gì chúng ta tiếp nhận, và âm nhạc chính là một phần quan trọng trong đó.

Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Monday, January 27, 2025

Quy luật tự nhiên và những tín ngưỡng phi thần linh

Thế giới trong trật tự siêu nhiên 

Là 1 hệ thống các quy chuẩn và giá trị con người trên nền tảng của đức tin, ngày nay tôn giáo là nguồn gốc của sự bất đồng giữa con người với con người. Tuy nhiên, trên thực tế, tôn giáo giữ vai trò thống nhất nhân loại đứng ở vị trí thứ ba, cùng với tiền tệ và các đế chế.

Sự xuất hiện của các tôn giáo là 1 trong những cuộc cm quan trọng nhất trong lịch sử và đóng góp to lớn cho sự thống nhất của nhân loại.

Tôn giáo là lý do duy nhất để đến với quyền lực tối cao của vũ trụ, vì vậy nhiều người đã cống hiến cuộc đời cho việc hợp nhất với Đấng Tối cao để từ đó đạt được giác ngộ.

Chúa Trời hay Atman trong đa thần giáo Hindu là bản ngã vĩnh cửu hay linh hồn của toàn bộ vũ trụ, cũng như của mỗi cá nhân và mọi hiện tượng (sinh học và vật lý) trong 1 nguyên lý duy nhất.

Đấng Tối cao là duy nhất. Đó là Đấng toàn tri, toàn năng và toàn thiện.

Với người theo Ki-tô giáo, Chúa Jesus thành Nazareth là đấng cứu thế vì Ngài buộc phải nhập thế bằng xác phàm và chết trên thập giá để cứu độ nhân loại thì đây là điều mà mọi người đều phải biết. Do đó cần loan báo tin mừng - Phúc âm - của Chúa Jesus ra toàn thế giới.

Sau người DT, tư tưởng độc thần cũng xuất hiện ở bán đảo Ả-rập vào thế kỷ thứ 7. Từ 1 giáo phái nhỏ ở 1 góc hẻo lánh của thế giới, Hồi giáo đã vượt ra khỏi sa mạc Ả-rập và trở thành 1 đế chế rộng lớn trải suốt từ Đại Tây Dương đến Ấn Độ.

Từ đó về sau, tư tưởng độc thần đã đóng 1 vai trò trung tâm trong lịch sử thế giới.

Tín đồ theo Ki-tô giáo hay Hồi giáo có xu hướng cuồng tín vì cho rằng: Đấng Tối cao của tôn giáo khác ko có được quyền lực tối thượng (hoặc tôn giáo đó chỉ nhận được 1 phần chân lý phổ quát từ Đấng Tối cao). Vì vậy, bên nào cũng tin rằng: mình đang nắm trong tay toàn bộ thông điệp của 1 và chỉ 1 Đấng Tối cao mà thôi.

Đó là điều đã xảy ra trong lịch sử và vẫn đang diễn ra giữa Ki-tô giáo và Hồi giáo. Cuộc xung đột và báng bổ tôn giáo khác để củng cố tôn giáo chính thống qua việc triệt tiêu bằng bạo lực vẫn tiếp tục tồn tại.

Thực tế cho thấy: luôn tồn tại cái hố ngăn cách giữa lý thuyết thần học và thực tế lịch sử. Khi phân chia thế giới thành "chúng ta" và "chúng nó", coi sức mạnh tối cao quá xa xôi và xa lạ với nhu cầu trần tục của con người thì các tôn giáo độc thần cũng ko thể phủ nhận vai trò của thần linh (ở Ki-tô giáo cũng có những điện thờ riêng cho các thánh với nghi lễ có phần khác so với những vị thần của đa thần giáo).

Nhưng ko phải chỉ trong việc thừa nhận các thánh về việc bảo hộ hay bảo trợ cho 1 vương quốc (Hungary bởi Thánh Stephen), hay các tp/thị trấn (Tp Milan bởi Thánh Ambrose) và cả những ngành nghề khác nhau (Thánh Almo bảo vệ cho những người thợ cạo ống khói) v.v., đa thần giáo còn ảnh hưởng đến các tôn giáo độc thần khác bằng thế giới quan chứa đựng nhiều câu trả lời hấp dẫn và đơn giản cho nhiều vấn đề mà thuyết độc thần ko thể phủ nhận.

Đa thần giáo ko chỉ xuất hiện trong tôn giáo độc thần với các thánh mà còn cả với thuyết nhị nguyên. Ko như thuyết độc thần, nhị nguyên cho rằng: cái ác cũng có 1 sức mạnh độc lập và vũ trụ là chiến trường giữa cái thiện và cái ác.

Và đó cũng là tất cả những gì xảy ra trong thế giới của chúng ta.

Vì nhiều lý do, người Ki-tô giáo bình thường tin tưởng vào Thiên Chúa trong độc thần giáo, nhưng cũng tin vào Ác quỷ (Satan) theo thuyết nhị nguyên.

Các học giả nghiên cứu tôn giáo đặt tên cho sự kết hợp đồng thời này (của các ý tưởng từ nhiều thuyết khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau) và sự kết hợp của các nghi lễ và thực hành (có nguồn gốc khác nhau) với tên gọi là chủ nghĩa hỗn tạp.

Theo Harari, trên thực tế, thuyết hỗn tạp có lẽ là thứ tôn giáo vĩ đại duy nhất trên thế giới.

Sau thời kỳ của các tôn giáo tập trung đức tin vào thần linh và thực thể siêu nhiên, từ thiên niên kỷ 1 TCN xuất hiện các tôn giáo mới, trong đó phải kể đến Phật giáo, Nho giáo và các dạng tôn giáo mang sắc thái của các chủ nghĩa khắc kỷ, chủ nghĩa hoài nghi v.v. hoàn toàn ko có vai trò của thần linh hoặc đặc trưng bởi sự coi thường thần linh.

Phật giáo là tôn giáo quan trọng nhất trong các tôn giáo thuận theo quy luật tự nhiên cổ xưa và hiện nay vẫn là 1 tín ngưỡng lớn ở Nam Á và Đông Á.

Nhân vật trung tâm của Phật giáo ko phải là 1 vị thần mà là 1 con người, Siddhartha Gautama (Tất-đạt-đa Cồ-đàm).

Gautama tự mình chứng được niết bàn và đã được giải thoát khỏi đau khổ. Từ đó ông được gọi là "Phật", có nghĩa là "Người giác ngộ".

300 năm qua là thời đại phát triển của chủ nghĩa thế tục. Các tôn giáo hữu thần ngày càng mất đi tầm quan trọng của chúng.

Để phân biệt những tôn giáo lấy thần thánh làm trung tâm với những giáo phái là những hệ tư tưởng (ý thức hệ vô thần), cần đi sâu vào đặc điểm dựa trên quy luật tự nhiên bởi chúng đều là các chuẩn mực và giá trị con người được tạo nên dựa vào niềm tin trong 1 trật tự siêu phàm.

Ngày nay, chủ nghĩa nhân văn (CNNV) đặt niềm tin vào nhân loại, đúng hơn là Homo Sapiens.

Niềm tin này có thể nâng cao lên thành sự tôn thờ và khi đó, có thể coi hệ tư tưởng này như 1 tôn giáo: Tôn giáo nhân văn.

Những người theo CNNV tin rằng: Homo Sapiens có 1 bản chất độc đáo và linh thiêng, mà về cơ bản khác với bản chất của muôn loài và mọi hiện tượng khác. Nó là điều quan trọng nhất trên thế giới, và nó quyết định ý nghĩa của mọi điều xảy ra.

Cái tốt lành tối thượng chính là điều tốt đẹp có ở Homo Sapiens. Phần còn lại của thế giới và tất cả các sinh vật khác tồn tại chỉ để phục vụ cho lợi ích loài người.

Người Mỹ ngày nay vừa là người theo chủ nghĩa dân tộc (CNDT) vừa là người theo CNTB Thị trường tự do, vừa là nhà nhân văn tự do (tin vào nhân quyền được Tạo Hóa ban cho) và họ là những người mang tính cách điển hình cho tôn giáo của thuyết hỗn tạp.

3 nhóm/phái của CNNV

1. CNNV tự do: Những người thuộc phái này tin rằng NHÂN TÍNH là phẩm chất của mỗi cá nhân, và sự tự do của mỗi cá nhân mang tính linh thiêng.

Mặc dù CNNV tự do thần thánh hóa con người nhưng ko phủ nhận sự tồn tại của Đấng Tối cao (trên thực tế, nó được hình thành dựa trên những niềm tin độc thần).

2. CNNV XHCN: CNXH tin rằng con người có bản chất tập thể chứ ko phải cá nhân. Những người theo phái này ko coi tiếng nói của nhân tính là thiêng liêng mà nhìn nhận Homo Sapiens với tư cách 1 loài.

3. CNNV tiến hóa: Đại diện tiêu biểu của giáo phái này là CNXH quốc gia Đức (Đức quốc xã/ĐQX). ĐQX tin rằng nhân loại là 1 loài có thể thay đổi (có thể phát triển hoặc thoái hóa). Do đó con người có thể tiến hóa trở thành những người siêu việt, hoặc suy thoái thành 1 giống nòi yếu kém.

(Ghi lại từ Sapiens - Lược sử loài người của Yuval Noah Harari)

Monday, September 16, 2024

Tác giả của Dưới Bóng Khải Hoàn Môn

 ERICH MARIA REMARQUE LÀ NGƯỜI NƯỚC NÀO?

Đến nay vẫn có ý kiến cho rằng họ thật của nhà văn Đức nổi tiếng là Kramer, và ông là người Do Thái. Tuồng như để giấu điều này, Erich đã đảo ngược họ của mình thành  Remarque.

Nhưng không phải như vậy. Remarque là họ của bố nhà văn và những người thân của ông bên nội. Cụ của nhà văn chạy từ Pháp sang Đức để tránh khủng bố trong thời gian xảy ra cách mạng. Về xuất thân, Erich Maria Remarque là người Đức gốc Pháp.

Lúc đầu, tác giả tiểu thuyết “Ba người bạn” tên là Erich Paul, nhưng sau đó ông đổi tên đệm thành Maria - để tưởng nhớ mẹ ông, Anna Maria,  mất năm 1917, khi ông đang chiến đấu ở mặt trận.

Năm 1966, khi được hỏi liệu tên thật của ông có phải là Kramer hay không, Remarque  trả lời: “Không. Tuy nhiên, điều ngu ngốc đó đã lan truyền khắp thế giới”.

Còn khi được hỏi tại sao không bác bỏ điều đó, Remarque nói: “Để làm gì nhỉ? Gần bốn mươi năm nay, tôi chưa bao giờ bác bỏ bất kỳ bài viết sai sự thật nào về tôi cả. Không ai tin đâu. Báo chí luôn luôn đúng mà”.

Copy từ Trần Hậu (FB)

Friday, May 10, 2024

Châu Âu: Những nhạc sĩ nổi tiếng

Hôm nay thế giới kỷ niệm 200 năm bản giao hưởng số 9 của nhà soạn nhạc Đức Ludwig van Beethoven được trình diễn lần đầu 07.05.1824 tại Wien. Đây là bản giao hưởng cuối cùng của ông, được sáng tác một phần dựa trên bài thơ „An die Freude“ (đến với niềm vui) của Friedrich Schiller viết năm 1786.

Khi viết bản giáo hưởng này Beethoven đã điếc rất nặng nên ông hoàn toàn nghe bằng trí tưởng tượng và những cảm xúc âm nhạc còn nằm lại trong tâm trí. Vì muốn đưa tình yêu cuộc sống theo tinh thần bài thơ Schiller vào âm nhạc nên ông đã kết hợp nhạc giao hưởng với hợp xướng đồng ca và tạo ra một bước ngoặt lớn cho nhạc giao hưởng cận đại.

Từ đó bản nhạc được biểu diễn liên tục trong các dịp lễ lớn ở châu Âu. Năm 1924, dàn nhạc giao hưởng Tokyo đã lần đầu tiên đưa nó về châu Á. Năm 1936 người Trung Quốc được thưởng thức bản giáo hưởng „Đến với niềm vui“.

Từ năm 1955, phong trào liên Âu đã đề nghị lấy đoạn „Đến với niềm vui“ trong giao hưởng này làm „Quốc Ca liên Âu“ và năm 1985 Liên minh EU đã quyết định coi đó là quốc ca của mình.

Ở châu Âu xuất hiện rất nhiều trường hợp „quần chúng tự phát“ với đoạn nhạc „đến với niềm vui“ trên các quảng trường thành phố:

https://www.youtube.com/watch?v=cxLbmnvMWM0

Nguyễn Xuân Thọ

Wednesday, March 20, 2024

Người Việt và nguồn gốc dân tộc Kinh

Việt là Thái hay Việt là Kinh-Mường?

   Có khá nhiều huyền thoại về nguồn gốc người Việt. Các học giả phương Tây từ đầu thế kỷ 20 như Maspero đến tận gần đây như Taylor, Chamberlain đều tìm cách giải mã những huyền thoại này. Các công trình của cả một thế kỷ đã cho thấy rằng các huyền thoại đó được sáng chế ra sớm nhất là vào thế kỷ X và các văn bản gốc còn lại về chúng cũng không sớm hơn thế kỷ XIV.

    Gần đây, có một số người, được thúc đẩy bởi tinh thần dân tộc có tính thời cuộc, lại tiếp tục pha trộn các huyền thoại này với các phát hiện mới nhất về gene, khảo cổ học bằng một phương pháp gần với sáng tác văn học hơn là khoa học. Các học thuyết mới này có một điểm chung là nói chắc như đinh đóng cột, quy chụp những người phản bác, nhưng làm lớp trẻ ít đọc bối rối lầm lẫn không ít.

   Gần như là định trước, họ gạt bỏ một số chi tiết trong các huyền thoại và giữ một số chi tiết khác với tư cách là sử liệu chắc chắn mà hoàn toàn không có một tiêu chí phân biệt nào.

    Chẳng hạn huyền thoại về sự tồn tại của nước Việt Thường từ nam đồng bằng sông Hồng tới nhà Chu ở bắc sông Dương Tử để hiến chim trĩ trắng đã được phá bỏ từ lâu. Việt Thường được xác định là một quốc gia nằm trong khoảng Vân Nam, Miến Điện và Bắc Ấn Độ. 

    Việc gán ghép tổ tiên của người Kinh-Mường hôm nay như là chủ thể chính của Bách-Việt ở nam Trường Giang là một trong những giả thiết thô sơ nhất.  

    Việt Nhân Ca chính là văn bản sớm nhất còn lưu giữ trong sách Thiết Uyển có từ thời Chu. Câu chuyện về một vị hoàng thân nước Sở nghe cô gái chèo thuyền người Việt hát một bài, và ông đã ghi lại và dịch ra tiếng Sở. Bài ca này sau này có ảnh hưởng lớn tới thơ ca Trung quốc thông qua thi hào Khuất Nguyên. 

    Tuy nhiên, các phân tích về ngữ âm của các tác giả trên thế giới đều cho thấy rằng ngôn ngữ trong Việt Nhân Ca là của người Tráng (người Nùng, người Tày Việt Nam cũng thuộc nhóm người này). Công trình gần đây của Edmondson cũng cho thấy ngôn ngữ của Việt Nhân Ca có sự đồng nhất với tiếng Thái. Như vậy giữa người Tráng và người Thái có một sự giao thoa nhất định về ngôn ngữ, mặc dù họ không có liên hệ gần trong lịch sử. 

     Chamberlain (1998) và Edmondson (2007) đều dựa trên ngôn ngữ như là một phương pháp để tìm ra các nguồn thông tin cứ liệu khoa học bên cạnh các phương pháp khảo cổ và sinh học. Họ đều thấy rằng tiếng Việt hiện đại có mức độ pha trộn với các từ gốc Hán nhiều hơn so với tiếng Thái và các tiếng của người Tráng. 

     Các cứ liệu về địa chất cũng cho thấy rằng vào thời nhà Chu, đồng bằng sông Hồng chưa hình thành, đang ngập mặn, không thể hình thành một quần thể đông dân. Đồng bằng sông Hồng  hình thành muộn hơn vào đầu công nguyên. Cư dân đầu tiên đến vùng này là ai? Theo Taylor, Chamberlain và một số học giả khác thì đó chủ yếu là người Thái và một số tộc người Việt bị Hán Hóa. Các tộc người Việt Hán Hóa này có thể nguồn gốc khác nhau, có thể có từ thời Tần Hán, Nam Việt của Triệu Đà.

   Sử nhà Đường còn ghi lại những cuộc đánh phá triền miên của người Thái (Nam Chiếu) và An Nam Đô Hộ phủ của Cao Chính Bình, Triệu Xương, Cao Biền nhằm chiếm lại quyền kiểm soát đồng bằng sông Hồng. 

    Theo Taylor (1983), mốc đánh dấu chắc chắn sự hiện diện của người Việt cổ đầu tiên là vương quốc của Mai Hắc Đế ở phía Nam của đồng bằng sông Hồng, có thể bao gồm một số đất đai của vương quốc Chăm, Nam Lào cho đến Nghệ An ngày nay. Người Việt cổ theo nghĩa như vậy chính là người Mường, tiến hành hàng loạt cuộc bắc tiến vào đồng bằng sông Hồng bắt đầu từ thời Lý Trần, Đại Việt còn chia Kinh-Trại và hoàn tất vào đầu đời Lê sau khởi nghĩa Lam Sơn, sau khi di dân hàng loạt ra Bắc. 

    Nhóm người Mường này đã kết hợp với nhóm Kinh ở đồng bằng sông Hồng từ trước tiếp tục Hán hóa để trở thành người Kinh hiện đại. Trong khi đó các tộc Mường còn lại ở Hòa Bình, Thanh Hóa ít bị Hán Hóa hơn.

    Nói một cách khác, tổ tiên người Việt hiện đại tuy có liên hệ nhưng không phải chủ nhân chính của Bách Việt trong thư tịch cổ Trung Quốc. Đó là người Tráng và người Thái. Việc gán ghép này là do tổ tiên chúng ta lấy quốc hiệu là Việt (Việt Nam, Đại Việt). 

       Vậy thì người Viêt Mường cổ có liên hệ gì với người Chăm và đa đảo ở phương Nam.  Chắc chắn là có.  Tuy nhiên, cần phải có các nghiên cứu mới để phát hiện thêm các vấn đề mới. Về nguyên tắc, sử Việt Nam phải dựa trên sử của Đại Việt và sử của Champa. Việt Nam ngày nay là pháp nhân thừa kế của hai quốc gia Đại Việt và Champa, không có lý gì tách lịch sử Champa ra khỏi lịch sử Việt Nam. Trong quá khứ, đó là thái độ kỳ thị mang tính Hán Hóa đối với phần dân tộc không chịu Hán hóa. 

       Lịch sử Việt Nam cũng cần phải có chương riêng về lịch sử người Thái và người Tráng là tổ tiên của người Thái, Tày, Nùng hiện nay trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng phải có một chương về Phù Nam, Chân Lạp, Vạn Tượng là những nhân tố quan trọng trong việc hình thành Việt Nam.

     Các phương pháp kết hợp  khảo cổ, ngôn ngữ, sinh học và địa chất sẽ mang lại rất nhiều cứ liệu mới có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề. Tuy nhiên trước hết phải có một quan điểm bớt tính lên gân dân tộc chủ nghĩa cường điệu hóa.

(Bài viết mang tính ghi chép nên không ghi tài liệu tham chiếu. Ai cần xin liên hệ trực tiếp)

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, March 6, 2024

Ông Giê Su Khốn Khổ Ở Phố Hàng Thuốc Bắc

Bạn bè tôi thường lớn tuổi hơn tôi nhiều – thiên hạ gọi cách đánh bạn như thế là “chơi trèo”. Oan cho tôi. Những cuộc gặp gỡ tình cờ rồi thành bạn diễn ra thế nào thì nó là thế ấy.

Tôi gặp Bùi Xuân Phái lần đầu ở cà phê vỉa hè Hàng Vôi. Nhác thấy Nguyễn Sáng và tôi đi tới, Bùi Xuân Phái nâng chén cà phê thay lời chào.

Bùi Xuân Phái ghé vào tai Nguyễn Sáng:

- Tay nào đấy?

- Cánh ta. Chơi được.

Bùi Xuân Phái chìa tay cho tôi. Chúng tôi trở thành bạn từ hôm ấy.

Cao, mảnh khảnh, da trắng xanh, gương mặt hao hao tượng Chúa Cứu Thế làm ra biệt danh: Ông Giê-Su Khốn Khổ ở Phố Hàng Thuốc Bắc.

Ông Giê Su thì xong rồi, nhưng khốn khổ thì phải có chút giải thích.

Chả cứ tôi, mọi người đều biết Bùi Xuân Phái có một đam mê không giống ai: những mái nhà phố cổ. Chúng còn lại nguyên vẹn từ những năm xa xưa của đất kinh kỳ với ngói âm dương được nung trong những lò dân dã. Anh vẽ rất nhiều những mái nhấp nhô ấy. Chúng cao thấp không đều, nhưng tất cả đều nâu sậm. Những bức tranh rồi mang một tên chung: Phố Phái.

Chẳng ai bắt gặp, dù chỉ một lần, Bùi Xuân Phái đứng sau giá vẽ ở đâu đó. Anh không bao giờ sao chép cảnh vật. Anh la cà khắp các phố xưa, ngắm chúng, nhập tâm chúng, rồi khi nổi hứng mới đưa chúng lên khung vải, mảnh gỗ hoặc bất cứ vật liệu nào rơi vào tay, kể cả vỏ bao thuốc lá.

Cách Bùi Xuân Phái vẽ gần với trường phái quốc họa Trung Hoa. Gần thôi, chứ không giống. Tề Bạch Thạch vẽ tôm sau khi ngắm chúng phóng, chúng búng, chúng lượn lờ chán chê mê mỏi trong chậu, trong thau. Ngựa của Từ Bi Hồng phi nước đại trong tranh cũng là sau nhiều ngày nhiều giờ ông dõi theo những chiến mã tung vó trên thao trường cho đến khi chúng hằn vào vô thức mới cầm lấy cây cọ. Ngựa của Từ Bi Hồng bị các nhà sinh vật học phê phán: phi thế là sai cách, ngựa không hề phi như vậy. Họ không biết Tề Bạch Thạch đã tóm tắt về nghệ thuật trong một truyền ngôn bất hủ: “Nghệ thuật là vừa giống vừa không giống. Giống quá là mị đời. Không giống là dối đời.”

Gọi anh là Ông Giê Su Khốn Khổ bạn bè không có ý xúc phạm ai - cả anh cả Chúa. Biệt danh ấy chỉ là một liên tưởng bất giác. Chứ Bùi Xuân Phái hoàn toàn không để ý tới bộ diện của mình. Anh phớt lờ mọi cái nhìn của thiên hạ.

Tôi từng được ngồi đối ẩm với Bùi Xuân Phái không phải một lần trên cái gác xép chỉ có thể ngồi không thể đứng. Thứ gác xép này có nhiều trong thời gian ấy. Nó tăng diện tích ở, nhưng với Bùi Xuân Phái nó là giang sơn riêng của anh, ở đấy anh vẽ, anh tiếp khách, anh nghỉ ngơi, anh suy tưởng. Bàn trà của anh, tôi nhớ, nhưng không biết gọi nó bằng tên gì – một cái chõng tre liliput, trên đó có đủ ấm và chén cọc cạch, chúng không có họ hàng với bàn trà đủ bộ Thế Đức gan gà của Nguyễn Tuân

- Tranh của tôi là tranh úp mặt vào tường, ông ạ – Bùi Xuân Phái tư lự vươn tay về phía những bức tranh xếp xộc xệch cái to lẫn cái nhỏ, to nhất thì bằng cái bảng đen tự tạo của tôi trong tuổi học trò, nghĩa là không cùng cỡ với tranh treo tường ở những nhà sang - Chúng làm sao có thể chường mặt ra trong những cuộc triển lãm hay những ga-lê-ri.

Tôi gật. Tôi thở dài.

- Mình không có tiền để làm tranh to – anh nói – To không đồng nghĩa với đẹp.

Ông Giê Su này khốn khổ thật sự, thiên hạ không ngoa.

- Hoạ sĩ là cái gì? – anh tâm sự - Nó là thằng câm. Nó chỉ biết nói bằng đường nét, bằng màu sắc. Thiên hạ hiểu nó muốn nói gì là qua cái ấy. Chỉ qua một cái ấy mà thôi.

Viết về tranh Bùi Xuân Phái là việc của những nhà phê bình hội hoạ, cả quan phương lẫn dân phương. Không phải tôi. Tốt nhất là không viết.

Hoạ sĩ nào mà chẳng muốn tạo ra phong cách riêng, dấu ấn của riêng mình. Nhưng không phải cứ muốn là được. Tôi có vài bạn hoạ sĩ chẳng được ai nhắc đến. Họ bị dòng thời gian cuốn trôi tận đẩu tận đâu, nói tóm lại – vô tăm tích.

Người không màng đến thời gian, không thèm để ý tới sự khen chê của thiên hạ, chỉ làm theo ý thích dẫn dắt thì còn lại. Một trong những người như thế là Bùi Xuân Phái.

Một hôm, trà lá xong xuôi, anh giúi vào tay tôi một bức:

- Cái này ông cầm về.

Tôi giãy nảy:

- Không. Tôi không nhận đâu. Đã không có tiền mua sơn mua toan biếu ông mà lại nhận tranh ông cho thì tôi là cái thằng nào?

- Cứ lấy đi. Coi như một kỷ niệm.

Đó là một bức tranh nhỏ với hai nhân vật được cách điệu hoá – một nam một nữ đang múa. Nhìn tranh mà nghe thấy trống phách.

Tôi không lấy là không lấy. Tôi là thằng có lương tâm. Tôi làm báo, lương còi cọc, chưa hết tháng đã hết tiền. Tôi viết như bổ củi, hết bài này đến bài khác, ký tên này tên khác, có tờ giữ hẳn mục xảo thuật trong phim.

Bùi Xuân Phái sống lâu hơn cái chết của mình. Bằng chứng là tranh của anh được các nhà sưu tập săn lùng, coi như của cực quý. Tranh nhái Bùi Xuân Phái nhiều vô số kể. Mà cũng giống lắm, mới chết. Người mua tranh anh phải cậy các chuyên gia hội hoạ phân biệt giùm. Nhái cũng là một nghệ thuật. Hoạ sĩ vẽ nhái phải thuộc nằm lòng phong cách của hoạ sĩ thật. Không thế làm sao nhái.

Tôi không có ý định viết về hội hoạ. Không phải lĩnh vực tôi am tường. Tôi viết về anh là viết về một nỗi nhớ bất chợt.

Những nỗi nhớ bất chợt như thế luôn xảy ra với tôi.

Ảnh: Họa sĩ Bùi Xuân Phái (Wikipedia)

✍️Vũ Thư Hiên

Monday, February 26, 2024

NGUYỄN VĂN HUYÊN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Nguyễn Văn Huyên (1905-1975) là một nhà giáo dục, nhà sử học, nhà dân tộc học, nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu của Việt Nam thế kỷ XX. Các công trình nghiên cứu của ông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định hình nên vốn hiểu biết căn bản về dân tộc và xã hội Việt Nam, với những ảnh hưởng sâu rộng đến tận ngày nay.

Nhã Nam đã giới thiệu tương đối đầy đủ và trọn vẹn tới bạn đọc những nghiên cứu giá trị trong sự nghiệp học thuật đồ sộ của Nguyễn Văn Huyên trước năm 1945, có thể kể đến:

- “Hội hè lễ Tết của người Việt” - Cuốn sách tập hợp những tiểu luận nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên về lễ-tết-hội, về tín ngưỡng, tâm thức tôn giáo của người Việt trong xã hội truyền thống.

- “Sinh hoạt của người Việt: cư trú - kiến trúc - hát đối” - chuyên khảo mở đường cho việc tìm hiểu cặn kẽ, sâu sắc các phương diện trong đời sống sinh hoạt phong phú của người Việt.

- “Văn minh Việt Nam” - tác phẩm cung cấp một lượng thông tin đồ sộ về con người, xã hội và văn hóa Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.

Và mới đây nhất, “Địa lý hành chính và tập quán của người Việt” vừa phát hành bao gồm các nghiên cứu địa lý hành chính của cư dân vùng đồng bằng Bắc bộ, qua đó làm cơ sở cho sự hiểu biết về phong tục, tập quán của người Việt.

Nhã Nam (Một bước ngoặt trong sự nghiệp học thuật của Nguyễn Văn Huyên)

Monday, October 2, 2023

TÔI LÀ THẠC SĨ TRỨNG VỊT

Lê Mỹ Ngọc 12/05/2016

Xin chào, tôi là một cựu học viên cao học của Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Tôi đã từng vô cùng háo hức khi cầm quyết định công nhận trúng tuyển của Học viện trên tay, nhưng rồi sau khi kết thúc mỗi kỳ học và đặc biệt là hoàn tất buổi Bảo vệ luận văn tốt nghiệp vừa qua, tình trạng kinh tế kiệt quệ của tôi đã ra lệnh cho tôi dừng ngay việc theo đuổi sự nghiệp học vấn của mình ở Học viện này dù tôi rất ước mơ có một tấm bằng tiến sỹ ghê lắm, kể cả bằng tiến sĩ...giấy. Tại sao vậy? Xin các bạn cứ bình tĩnh nghe tôi tâm sự.

Các bạn à, ngay khi tôi bước chân vào Học viện thì tôi đã biết mình đang trở thành một cái trứng vịt vì nhiều lý do: không biết nói mà cũng không nên nói vì người ta đập một cái thì bể nát (các bạn đã từng bao giờ nghe thầy Võ Hoài Nam - Trưởng Cơ sở Học viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh đe nẹt chưa? Có thể không cần đập thì trứng cũng đã bể!). Một lý do khác nữa là trước khi tôi vào học tại Học viện, tôi đã đọc báo đâu đó thấy có tin nói một cái trứng vịt gánh mấy chục loại thuế mơ hồ. Tôi cũng đóng những khoản phí mơ hồ không kém cái trứng vịt và tôi tạm gọi là đóng “thuế học”. Đó là một loại siêu thuế và nó đã nã tôi hơn100 triệu trong 2 năm làm trứng vịt ở Học viện “danh giá”này.

Hồi đầu, Ba mẹ tôi đóng học phí cho tôi (đâu chỉ hơn 15 triệu), tôi mang hoá đơn đỏ về và ông bà rất hài lòng. Nhưng than ôi, làm gì có chuyện giản đơn như vậy. Số là, chuyên ngành của tôi có 3 môn chung và hơn 10 môn riêng. Mỗi một môn như vậy tôi phải đi học 2 đợt, mỗi đợt từ thứ 6 đến chủ nhật. Cứ trung bình mỗi môn như vậy tôi phải đóng “thuế” khoảng 10 triệu cho cái mà họ cứ nói như một điệp khúc tình yêu: Hỗ trợ đào tạo. Trong 10 triệu đó là khoảng 1/3 là cho quỹ lớp chi cán bộ lớp đưa thầy, cô đi nhậu, phong bao phong bì,... Số còn lại hát bài “Hỗ trợ đào tạo” cho Học viện. Xin nói luôn là học viên chúng tôi chưa bao giờ nhận lại được bất kỳ một thứ giấy tờ gì để chứng mình là mình đã đóng số tiền đó.

Nhưng cái giá đau nhất của tôi phải trả là bị anh chàng bạn trai khá điển trai của tôi đã lơ là tôi và cuối cùng đá tôi luôn. Lý do là vì cứ liên tục cuối tuần là tôi đi học, không đoái hoài gì đến H và đỉnh điểm là lần tôi mượn H 15 triệu để chạy điểm môn Anh văn. Tôi vẫn nhớ H nhìn tôi giống như là nhìn một con vịt và hỏi tôi lý do mượn tiền. Thật ra anh này cũng lương ba đồng ba cọc như tôi thôi nhưng được cái gia đình khá giả hơn tôi. Tôi nói lý do chạy 5 triệu cho điểm đậu (40 điểm) kiểm tra giữa kỳ Anh văn và 10 triệu cho điểm đậu (50 điểm) cuối kỳ hết môn. H tính nhanh và nói “Trung bình 1 điểm môn Anh văn em phải trả gần 160 ngàn đồng”. Rồi H hỏi, “Sao hồi đó em không học Anh văn có phải sướng hông?”. Hic hic, thế rồi H cũng cho tôi mượn nhưng từ lúc đó tôi có cảm giác H không coi tôi là bạn gái nữa. H bắt đầu nhìn tôi như là nhìn một thạc sỹ tương lai mà chẳng tương lai gì hay nhìn một cái trứng vịt, tôi cũng không biết nữa! Mỉa mai là ở chỗ là H đã “biến” ngay ngày hân hoan nhất của tôi, ngày tôi bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ. Tôi buồn lắm vì H không hiểu 15 triệu thì có là bao nếu tôi bị dính lại cái môn quỷ quái này. Nếu tôi rớt, nói theo thuật ngữ là “không qua” thì nghe các anh, chị khoá trước nói là “thuế” còn nặng hơn nữa và rất khó để được thầy Võ Hoài Nam nhận tiền chống trượt một lần nữa. Mà dù tôi có đủ giỏi để “qua” thì làm sao tôi có thể “qua” khi mà tôi chưa “đóng thuế”.

Xin nói thêm về cơn ác mộng môn Anh văn của Học viện tôi.

Tôi dùng từ “cơn ác mộng” không biết có quá không nhưng nếu bắt tôi thay từ thì tôi sẽ thay là “nỗi ám ảnh”! Tôi phải trải qua 1 tháng ròng liên tục chớ không phải chỉ là những ngày cuối tuần như những môn kia. Không biết sao họ cứ nã “thuế” cho cái môn này. Tất cả cái thuế gọi là “Hỗ trợ đào tạo” mà họ đặt ra đều cao gấp hai, gấp ba lần môn khác và đóng rất nhiều lần. Chắc là họ biết học viên sợ môn Anh văn đáng nguyền rủa này nhất. Trong một tháng ròng rã, đằng sau mấy câu tiếng Anh sai bét của chúng tôi mỗi ngày ậm ừ lên lớp là một hoạt động chạy điểm ráo riết. Tôi may mắn được một chú lớp trưởng hiện đang là Phó....của một tỉnh nọ, rất đại gia cho vào đường dây, nhưng không được giảm đồng nào vì thầy Võ Hoài Nam - Trưởng Cơ sở Học Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh, không thích kèn cựa, bớt một thêm hai, mất hay! Vả lại, đằng sau thầy Nam còn có thầy Võ Khánh Minh– Trưởng phòng Đào tạo Học Viện Khoa học Xã hội – trụ sở tại Hà Nội, là nhân vật chìa khoá, nếu không có người này, thầy Nam chắc cũng cua giò. Mà sao lại họ Võ nhiều thế nhỉ? Tôi tìm hiểu thì mới biết thầy Nam là em trai ruột của thầy Võ Khánh Vinh - Giám đốc Học Viện Khoa học Xã hội và thầy Minh chính là con trai trưởng của thầy Vinh. Một hôm tôi kể về mối quan hệ giữa ba người quyền lực nhất này của Học viện tôi đang theo học,cho sếp cơ quan tôi nghe, ông quắc mắt nói, “Tao không tin!”. Tôi về kể ba mẹ tôi, ông bà cũng có cách trả lời như sếp tôi. Người già bỗng nhiên trở thành đa nghi. Chuyện nhỏ như vậy mà cũng không chịu tin thì tin cái gì đây!

Học viện KHXH toàn thấy họ Võ. Này nhé: GS Võ Khánh Vinh, Giám đốc, kiêm Chủ nhiệm 3 khoa; Con trai đầu 30 tuổi TS Võ Khánh Minh, Trưởng phòng Đào Tạo, Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan; Con trai thứ NCS Võ Khánh Linh, VIP Khoa Luật, Bí Thư Đoàn cơ sở; Em trai Võ Hoài Nam, Trưởng Đại diện cơ sở của Học viện tại TP Hồ Chí Minh; Cháu gọi ông Vinh bằng Cậu, tên Hiếu, Trưởng Đại diện cơ sở của Học viện KHXH tại Đà Nẵng.

Nói về môn Anh văn, cũng không thể không kể đến cô Nguyễn Thị Nhân Ái, người mà sau này tôi được chú lớp trưởng cho biết là thường “làm việc” với cô qua... tài khoản.. Cô này được mô tả là VIP của “dịch vụ chạy điểm”. Cũng đúng thôi, cô dạy và chấm bài bọn tôi mà. Bài thi thì nghe đâu sẽ được mang về Hà Nội chấm, là nơi có trụ sở chính của Học viện ngoài đó và sẽ được cắt phách, nhưng được cái nghe đâu em gái của cô Ái lại là nhân viên cắt phách, vào phách vào điểm tại Phòng Đào tạo. Thế là phẻ re rồi cho ai chịu khó “chung chi” rồi.. Ôi, từ đó tôi mới thấy thực sự ngưỡng mộ “đường dây thu thuế” này. Sao mà nó đảm bảo đến thế chớ! Thảo nào mà chú lớp trưởng có lúc nói: “Họ mà làm khó dễ căng ke mới là chết chứ. Nhận tiền là mừng rồi. Có biết chữ tiếng Anh nào không? Muốn thi lại hở?”. Chú lớp trưởng thật lỏi đời! Cuối cùng tôi đã đậu 53 điểm. Dư đến 3 điểm. Xin cám ơn các thày cô đã cứu vớt và đảm bảo cho sự nghiệp bằng cấp của những cái trứng vịt chúng tôi! Xem ra cũng còn rẻ mà chú lớp trưởng hén.

Sau đây, tôi nghĩ mình sẽ thiếu sót nếu không kể về kỳ thi môn Anh văn của Học viện Khoa học Xã hội cơ sở tại Tp. Hồ Chí Minh. Tôi không biết nó có xảy ra tiêu biểu ở cơ sở khác không. Này nhé, đoàn coi thi gồm có 5 đến 6 người - tuỳ thuộc vào số lượng học viên đợt đó ít hay nhiều mà họ có thể tăng hoặc giảm đi, và nghe nói từ Hà Nội vô. Đợt của tôi có gần 200 học viên thi, được xếp hình như là 4 phòng. Mỗi học viên phải đóng 2 triệu đồng tiền bồi dưỡng cho Hội đồng coi thi (vị chi đợt đó tiền “thuế” cho Hội đồng thi là gần 400 trăm triệu. Nếu tính thuế dịch vụ “trao tay” trực tiếp nữa thì một cuộc thi như vậy có khi lên đến hàng tỷ đồng tiền “thuế” chớ chẳng chơi!). Sau này tôi tình cờ được gặp lại một trong những giáo viên dạy và hỏi thi tôi, giáo viên này vô tình để lộ thông tin là không hề biết được số tiền “bồi dưỡng” mấy trăm triệu đó! Thế là tôi được hiểu thêm. Vậy mà tôi đã từng rất ác cảm với tất cả những giáo viên dạy Anh văn của Học viện vì tôi nghĩ tất cả họ đều là mắt xích trong “đường dây thu thuế”.

Tôi còn nhớ mãi hình ảnh thầy Võ Khánh Minh đút tay vào túi quần đi đi lại lại, phía ngoài phòng thi với khuôn mặt mà bên tư pháp và công an hay mô tả là “thi hành án”. Thầy soi “xuyên táo” vô mấy chị em mặc đầm, mặc đìa làm chị em đỏ cả mặt, quên cả chỗ dấu phao! Nghe mấy anh chị, cô chú lớp tôi nói thầy này vừa làm xong tiến sỹ đề tài Giáo dục quyền con người cho thiên hạ. Chắc là lúc này thầy đang ứng dụng thực tiễn đề tài chăng? Bên trong phòng thi, thì cô Ái gầm ghè đi qua đi lại, tưởng chừng như một tiếng ho của học viên cô cũng cảnh cáo. Mới đầu tôi rất ngạc nhiên. Tôi nhủ thầm, “Đã nhận tiền rồi mà!”. Sau đó tôi nhớ đến câu nói của ba tôi kể về những cuộc vượt biển cách đây hơn 3 thập niên, ba nói, “Những kẻ bắt người vượt biên nhiều nhất thì cũng chính là những kẻ đã bán bãi nhiều nhất”. Tôi hiểu ra và thấy thông cảm cho thầy Minh, thầy Nam và cô Ái lắm lắm.

Đó, các bạn thấy chưa? Chỉ là thạc sỹ thôi mà như vậy nói gì đến tiến sỹ. Hai chữ “tiền đồ” của giáo dục ở Học viện yêu dấu của tôi được nhấn mạnh ở chữ “tiền” các bạn à. Giờ tôi chỉ lo đi làm có tiền để nhắn tin gọi H đến trả nợ cho H chớ chẳng mong gì nối lại tình xưa với ảnh. Được cái an ủi là mỗi lần nghĩ đến tấm bằng thạc sỹ, tôi cũng phần nào sung sướng và hãnh diện. Hãnh diện vì có bằng thạc sỹ thì ít mà hãnh diện vì tôi đã có thể vượt qua được số tiền “thuế học” quá khủng (nhưng chắc là chuyện nhỏ đối với mấy anh chị cô chú toàn làm quan ở lớp tôi) cùng với những gian truân ngớ ngẩn trong hai năm để có tấm bằng đó thì nhiều. Thế nhưng cái gì cũng có cái nhãn tiền của nó: Giờ tôi nợ đầm đìa, gầy rộc vì di chứng của những ngày tháng chạy tiền đóng “thuế học”, mất người yêu vì họ không hiểu mình. Và không biết tại sao lúc nào cũng có ý nghĩ mình là MỘT THẠC SỸ TRỨNG VỊT.

Saturday, September 9, 2023

Xây dựng văn hóa: Vh đèn cù

Nghe nói cần 350.000 tỷ để xây dựng văn hóa.

Thật là kinh hãi!

Tiền đâu có mang lại văn hóa.

Văn hoá là những chi tiết rất nhỏ trong cuộc sống, như bài viết dưới đây chẳng hạn.

VIẾT THEO NGUYỆN VỌNG CỦA CÁC BẠN.

Tôi chia sẻ những quy tắc mâm cơm Việt mà tôi được dạy thuần thục hồi nhỏ. Bữa ăn quan trọng bậc nhất trong sinh hoạt gia đình, thể hiện rõ nét nề nếp văn minh, điều này thì ở đâu cũng vậy. Người Việt xưa dọn ăn dùng mâm nên có một vài điểm khác kiểu dọn ăn dùng bàn. Gia đình tôi dùng cả mâm và bàn tùy lúc nên tôi sẽ nói cả hai.

- Tôi nhấn mạnh vấn đề dùng đũa.

* Không có vật dụng nào tiện ích như đôi đũa, có thể gắp, và, đâm, xẻ, trộn, nghiền, nâng… Đũa ăn, đũa bếp, đũa cả là khác nhau. Không có quy chuẩn Việt cho đũa ăn, vị trí đẹp là giữa 1/3 - 2/5 đầu trên, tùy bàn tay to nhỏ, không thấp xuống nhưng cũng không cao quá, không rời rạc cũng không lỏng lẻo, đặc biệt không chỉa các ngón ra ngoài. 

* Trẻ em có cỡ đũa nhỏ hơn cho vừa tay kẻo bé sẽ phải cầm rất thấp mới gắp được đồ ăn rồi thành tật không đẹp. Cầm đũa khó hơn thìa nĩa bởi phụ thuộc vào các cơ nhỏ ở ngón tay và khả năng phối hợp vận động của thần kinh, hơn 3 tuổi có thể dạy trẻ cầm đũa, nếu dạy sớm quá khó hình thành tư thế cầm đũa đẹp vì thần kinh phối hợp chưa thuần thục. Tập gắp từ dễ tới khó, tập gắp miếng to vuông cỡ quân cờ tướng và hơi mềm như miếng cùi bưởi, rồi sang miếng tròn, miếng nhỏ dài, hạt cơm, cọng lá chanh thái nhỏ, hạt đậu xanh và hạt gạo chưa nấu, tròng đỏ trứng chưa luộc. Biết gắp rồi chuyển sang tập và cơm, kết hợp cả hai tay, nâng bát cầm đũa đưa lên miệng và, rồi học trở đầu đũa cho thuần thục. Trẻ lớn thì chuyển cỡ đũa dài hơn, cấp 2 dùng cỡ đũa như người lớn. Khi nhỏ tôi được bà ngoại đánh dấu vị trí cầm đũa. Người Việt cầm đũa cao hơn các dân khác. Bạn có thể biến việc luyện kỹ năng cầm đũa thành trò chơi và tổ chức thi “tay nghề” vui cho trẻ em.

* Không và quá 3 lần khi đưa bát cơm lên miệng. 

* Không gắp thức ăn đưa thẳng vào miệng mà phải đặt vào bát riêng rồi mới ăn.

* Không dùng thìa đũa cá nhân của mình quấy vào tô chung.

* Không xới lộn đĩa thức ăn để chọn miếng ngon hơn.

* Không cắm đũa dựng đứng vào bát cơm.

* Không nhúng cả đầu đũa vào bát nước chấm.

* Phải trở đầu đũa khi muốn tiếp thức ăn cho người khác [người Bắc thường gắp thức ăn cho nhau].

* Không được cắn răng vào đũa, thìa, miệng bát, không liếm đầu đũa

* Không vừa cầm bát vừa cầm đũa chỉ 1 tay cũng như không được ngậm đũa để rảnh tay làm các việc khác chẳng hạn như múc canh, đôi đũa chưa dùng đến phải đặt vào mâm hoặc đĩa bàn nếu ăn trên bàn có dùng đĩa lót bát, hoặc đồ gác đũa.

- Ngồi ăn dù trên chiếu hay trên ghế đều không được rung đùi. Tôi được dạy rằng, rung đùi là tướng bần tiện của nam, dâm dục của nữ, và cực kỳ vô lễ. 

- Không ngồi quá sát mâm hay bàn ăn nhưng cũng không ngồi xa quá.

- Ngồi trên ghế thì phải giữ thẳng lưng. Ngồi trên chiếu thì chuyển động lưng và tay nhưng không được nhấc mông.

- Không để tay dưới bàn nhưng cũng không chống tay lên bàn mà bưng bát và cầm đũa, khi chưa bưng bát thì phần cổ tay đặt trên bàn nhẹ nhàng.

- Không ngồi chống cằm trên bàn ăn.

- Tuyệt đối tránh cơm đầy trong miệng mà nói.

- Không chu mồm thổi thức ăn nóng mà múc chậm phần nguội hơn ở sát thành bát đĩa. 

- Muôi hay muỗng kiểu múc canh phải đặt úp trong bát không được để ngửa.

- Trước đây, người Việt dùng chung bát nước chấm, khi chấm, chỉ nhúng phần thức ăn, không nhúng đầu đũa vào bát chấm, miếng đã cắn dở không được chấm. Khi người Pháp sang bắt đầu truyền bá về vệ sinh và từ đó các gia đình mà có tiếp xúc văn hóa Pháp, các tu viện như dòng Mến Thánh Giá bắt đầu sẻ nước chấm thành bát riêng hoặc có thìa nhỏ để chan nước chấm.

- Khi nhai tối kỵ chép miệng. 

- Không tạo tiếng ồn khi ăn [ví dụ húp soàm soạp]

- Không nói, không uống rượu, không húp canh khi miệng còn cơm. 

- Không gõ đũa bát thìa.

- Khi ăn món nước như canh, chè, xúp, cháo… nếu dọn bát nhỏ hay chén tiểu thì có thể bưng bát trên hai tay để uống nhưng không được kèm đũa thìa. Nếu dọn bát lớn hay đĩa sâu thì dùng thìa múc ăn, tới cạn thì có thể một tay hơi nghiêng bát đĩa sâu ra phía ngoài, một tay múc chứ không bưng tô to đĩa sâu lên húp như kiểu chén tiểu. Món canh có sợi rau nên dọn bát nhỏ, món gọn lòng thìa có thể dùng bát lớn, đĩa sâu.

- Không ăn trước người lớn tuổi, chờ bề trên bưng bát lên mình mới được ăn. Nếu đi làm khách không gắp đồ ăn trước chủ nhà hay người chủ sự bữa cơm trừ ra bạn được chủ sự đề nghị gắp trước, trong một dịp nhất định.

- Dù là trong khuôn khổ gia đình hay khi làm khách, tuyệt đối không chê khi món ăn chưa hợp khẩu vị mình. Điều này cực kỳ quan trọng vì không đơn thuần là phép lịch sự mà còn là một phần giáo dục nhân cách. Nếu không được dạy nghiêm túc, trẻ em từ chỗ phản ứng tự nhiên do khẩu vị sẽ tới chỗ tự cho mình quyền chê bai, phán xét, không trân trọng lao động của người khác. Chính tôi gặp vấn đề này lúc nhỏ do khó ăn, rất nhiều món tôi không ăn được ví dụ như gan heo, thịt thỏ, pate, cá chép, giá đỗ xào…, nhìn thấy là ức chế và tôi kêu, mẹ tôi đã nói rằng, món không ngon với con nhưng ngon với người khác và có được nhờ công sức của rất nhiều người.

- Không gắp liên tục 1 món dù đó là món khoái khẩu của mình.

- Phải ăn nếm trước rồi mới thêm muối, tiêu, ớt, chanh v.v…, tránh vừa ngồi vào ăn đã rắc đủ thứ gia vị phụ trội vào phần của mình.

- Phải ăn hết thức ăn trong bát, không để sót hạt cơm nào.

- Dọn mâm phải nhớ dọn âu nhỏ đựng xương, đầu tôm, hạt thóc hay sạn sót trong cơm…

- Trẻ em quá nhỏ dọn mâm riêng và có người trông chừng để tránh gây lộn xộn bữa ăn của người già, tới 6 tuổi là ngồi cùng mâm với cả nhà được sau khi đã thành thục các quy tắc cơ bản. Việc này rất quan trọng, bởi khi đứa trẻ chưa thuần thục các quy tắc văn minh sẽ phải nhắc nhở, không nhắc ngay thì chúng quên, mà nhắc ngay, nhắc lặp lại, nhắc trước mặt nhiều người thì chúng bị ức chế. Tôi nhớ rõ lắm việc luyện ăn trong nhà, khi tôi cầm đũa cao lên chút là bị nhắc ngay, ngậm thìa bị nhắc, lơ đãng trong khí ăn bị nhắc và khi đó tôi ngấn nước mắt, không thấy ngon miệng nữa. Trưởng thành, ra ngoài giao tiếp mới thấy được tầm quan trọng của phép tắc và tôi vô cùng biết ơn sự tỷ mỷ, nghiêm khắc, sát sao của bề trên. Bây giờ, mỗi khi viếng mộ tiền nhân hay đám giỗ, tôi vẫn luôn cảm tạ ơn dưỡng dục của các đấng sinh thành.

- Khi trẻ em muốn ăn món mà nó ở xa tầm gắp, phải nói người lớn lấy hộ chứ không được nhoài người trên mâm. Trong gia đình tôi, khi trẻ em ngồi cùng mâm người lớn thì sắp cho bé một đĩa thức ăn nhỏ ngay bên cạnh với đồ ăn đã lóc xương và thái nhỏ. Tôi 20 tuổi, bà tôi vẫn gỡ xương cá cho, tôi nói cháu lớn rồi, nhưng bà bảo “như vậy bà mới ngon miệng”, vì bà phòng xa tụi nhỏ hóc xương – tất nhiên rồi, dù tôi bao nhiêu tuổi thì tôi vẫn chỉ là tụi nhỏ của ông bà. Với người cao tuổi cũng vậy, dọn riêng đĩa cá thịt đã lóc xương, thái nhỏ, hay ninh mềm hơn.

- Không để các vật dụng cá nhân lên bàn ăn, trừ chiếc quạt giấy xếp có thể đặt dọc cạnh mép bàn. Ngày nay thì di động là vật bất lịch sự và mất vệ sinh.

- Nhất thiết để phần người về muộn vào đĩa riêng, không khi nào để phần theo kiểu ăn dở còn lại trong đĩa.

- Ăn từ tốn, không ăn hối hả, không vừa đi vừa nhai.

- Khi ăn không được để thức ăn dính ra mép, ra tay hay vương vãi, đứng lên là khăn trải bàn vẫn sạch. Giặt thì giặt chứ dùng cả tuần khăn bàn vẫn trắng tinh không dính bẩn.

- Chỉ có người cao tuổi, 70 trở lên và trẻ nhỏ mà ợ khi ngồi ăn mới không bị coi là bất lịch sự.

- Nếu bị cay thì xin phép ra ngoài hắt xỳ hơi, xỷ mũi. 

- Nhà có khách cần cẩn trọng khi nấu, chất cay để phụ trội bày thêm, tránh bất tiện cho khách khi họ không ăn được cay hay một vài gia vị đặc biệt.

- Tránh va chạm tay với người cùng mâm, nếu thuận tay trái thì nói trước để chọn chỗ cho thuận tiện.

- Phải chú ý tay áo khi gắp đồ ăn.

- Nếu thấy thức ăn lớn nên xin cắt nhỏ để mọi người được thuận tiện [việc này tôi sẽ viết bài riêng vì có một số đặc thù món ăn Việt nhưng hiện nay không được làm tỷ mỷ thuận tiện].

- Khi đang ăn mà có việc riêng phải xin phép rồi mới rời mâm.

- Nhất thiết nói cảm ơn sau bữa ăn dù là chỉ có hai vợ chồng nấu cho nhau. Đừng tiếc lời khen ngợi những món ngon.

- Phong tục mời tùy theo gia đình, Ki tô hữu cầu nguyện ngắn trước khi dùng bữa, gia đình Phật tử thuần thành tạ ơn trước khi ăn, có gia đình thì người cao tuổi nhất nói đơn giản “các con ăn đi”, trẻ thì thưa “con xin phép”, nhưng có gia đình trẻ con phải mời hết lượt ông bà cha mẹ cô chú anh chị… Tôi được dạy rằng, tới đâu thì quan sát gia chủ, không thể mang tập quán nhà mình vào bữa ăn nhà người ta.

- Ăn xong cần tô son lại thì xin phép vào phòng vệ sinh, không tô son trên bàn ăn trước mặt người khác.

- Ngồi đâu là theo sự xếp chỗ của chủ nhà, không tự ý ngồi vào bàn ăn khi chủ nhà chưa mời ngồi.

- Ngày xưa, có lúc người giúp việc ăn cùng mâm với chủ nhà, khi gắp, chủ nhà để thế tay ngang nhưng người giúp việc thế tay úp. Nhìn là biết ngay.

- Không được phép quá chén.

- Không khi nào ăn cùng uống nước lạnh hay nước đá.

- Nên thành thực nói trước về việc ăn kiêng, dị ứng [nếu có] khi được mời làm khách để tránh bất tiện cho chủ nhà.

Dài quá rồi, dịp khác tôi sẽ kể tiếp. Bà tôi nói với cánh thanh niên rằng, định tìm hiểu ai thì mời ăn và nghe giọng nói.

By: Liên Hương 

Tranh “Bữa cơm mùa thắng lợi” của Nguyễn Phan Chánh

Friday, September 1, 2023

Con đường đau khổ: Khi cuộc đời xiêu vẹo

Nhân 21 năm ngày mất của nhạc sĩ Văn Cao

VĂN CAO : MỘT THIÊN TÀI BỊ LƯU ĐẦY

 Văn hóa - nghệ thuật (Nguồn: dân luận )

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư...” - Trịnh Công Sơn.

Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn nghệ Văn Cao - người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.

Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.

Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều...

Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…

Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường mùa vui nay đã về

mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng cho bao tâm hồn.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh

Niềm vui phút giây như đang long lanh.

ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.

ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Từ đây người biết quê người

Từ đây người biết thương người

Từ đây người biết yêu người.

Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu

với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm... nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: “một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà trưa xao xác não nùng”.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót nhớ...

Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?

Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị cấm)?

Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu tiên”

Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?

Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.

Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:

    “Sau khi bài "Tiến về Hà Nội" ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa... Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng...

    Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

    Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

    Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.” - Trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180

Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh Matxcova:

    “Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.””

Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.

Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn - Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu”.

Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:

    “Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano - đối diện với chiếc đivăng tôi đang ngủ.

    Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.

    Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.

    Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” - Nhà thơ NGHIÊM BẰNG - THU HÀ ghi

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chinh chủ trương đánh “Nhân Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem thú thích dưới bài)

Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)

Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.

Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.

Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương Chi”, “Thiên Thai”...) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu quân thù”... “đường ta đi xây xác quân thù”... đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo mát...

Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”... nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!

Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến - một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn - Giai phẩm”...

Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng...) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con...”

Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì...”

Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?

Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông...?

Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn - Giai Phẩm” (NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối bài)

Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo sau năm 1975...

Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn ngào “Mùa xuân đầu tiên” này...

Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy...

Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của mình.

Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:

Ai lướt đi ngoài sương gió,

Không dừng chân đến em bẽ bàng,

Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,

Từ từ xa đường vắng.

Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.

Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.

Người ơi còn biết em nhớ mong,

Tình xưa còn đó xa xôi lòng.

Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên

Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.

Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,

Chàng ngày nào tìm đến?

Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa

Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.

Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.

Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”...

Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu...

Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái - Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”...

Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của nỗi buồn, của Cái - Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?

Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon - thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos - thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?

Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên

Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên

theo gió tiếng đàn xao xuyến

Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền

Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi

Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời

Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền nan

Quê hương dần xa lấp núi ngàn

Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền

Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian

Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần

Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm

Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên

đây đó nỗi lòng mong nhớ

Này khúc bồng lai

là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi

Đàn xui ai quên đời dương thế

Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian

Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa

Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn

Cùng bầy tiên đàn ca bao năm

Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về

Tiên nữ ơi!

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về

Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?

Những khi chiều tà trăng lên

Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly khác, ảo diệu khác... do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.

Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu - Nguyễn - Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức...

Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ

Trầm trầm không gian mới rung thành tơ

Vương vất heo may hoa yến mong chờ

Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,

Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan

Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng

Đây đó từng song the hé đợi đàn.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân

Hò khoan mơ bóng con đò trôi

Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời

Anh Trương Chi

Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,

Anh thương nhớ.

Oán trách cuộc từ ly não nùng.

Đò trăng cắm giữa sông vắng.

Gió đưa câu ca về đâu?

Nhìn xuống đáy nước sông sâu.

Thuyền anh đã chìm đâu!

Từng khúc nhạc xa vời

Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.

Sương thu vừa buông xuống

Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông

Ai qua bến giang đầu tha thiết,

Nghe sông than mối tình Trương Chi

Dâng úa trăng khi về khuya,

Bao tiếng ca ru mùa thu.

Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn

Còn nghe như ai nức nở và than,

Trầm vút tiếng gió mưa

Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?

Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn

Về phương xa ai nức nở và than,

Cùng với tiếng gió vương,

Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.

Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao

Mà ai hát dưới trăng ngà

Ngồi đây ta gõ ván thuyền,

Ta ca trái đất còn riêng ta.

Đàn đêm thâu

Trách ai khinh nghèo quên nhau,

Đôi lứa bên giang đầu.

Người ra đi với cuộc phân ly,

Đâu bóng thuyền Trương Chi?

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?

Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.

Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời.

Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng Mỵ Nương - Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)...

Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi - Văn Cao:

“Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ - chua thêm TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

Sài Gòn ngày 23-01-2013

Trần Mạnh Hảo

Phần chú thích:

Chú thích <*1*>:

“Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy - Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là cuộc quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ Nhân văn - Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của Lúy[2] vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế - bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp. Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!" Lúy nghe, mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này nữa: Lúy muốn mình phải hiểu - tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy xu?.

http://vi.wikipedia.org/.../Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V...

Chú thích <*2*>:

"Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (...)

Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (...)

Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền

Ta ca trái đất còn riêng ta! (...)

Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước.

Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

Ta là đàn chim bay trên mây xanh

Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan...

...Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!

Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", hay như bài "Ngoại ô mùa đông 46" (Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):

Ta đi trong nhà đổ

Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình

Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh

Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…

...

Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp

Gió lạnh khi qua viện tàng thư

Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ

Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (...)

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?

Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả (...)

Trên đất nước ta, “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy (...)

Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất cũng biết chúng ta vĩ đại!" (Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc Nxb Văn học, Hà Nội 1963, tr. 101-114. Bản điện tử do Lại Nguyên Ân cung cấp 

Nguồn Nơi góc phố - Hà Nội ngày tháng cũ

Tuesday, August 22, 2023

Con đường đau khổ: Đời nghệ sĩ

 Rất. Rất nhiều người viết về Văn Cao... nhưng lẽ Phùng Quán viết về Văn Cao là lay động nhất bởi chất mộc và thật trong con người Phùng Quán. 

☆ 

MỘT THOÁNG VĂN CAO

     Hồi làm việc ở Vụ Văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51, Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Lúc ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xế bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc, Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc. 

      Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai. 

     - Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: Chị cho tôi gói thuốc lào. Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán: Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?. Chị chủ quán ngơ ngác: Làm gì có thuốc lào Tây ạ? 

      Tôi cười giải thích: Ý anh ấy muốn hỏi thuốc lào của chị là thuốc lào mậu dịch hay thuốc lào chui. Thuốc lào mậu dịch là thuốc lào Tây. 

       Chị chủ quán nói: Thế thì thưa ông anh, thuốc lào Tây ạ, em không có thuốc lào ta.

Một ông khách móc túi lấy gói thuốc lào bọc trong túi giấy bóng, đưa cho anh: Tôi có thuốc lào ta đây. Chính hiệu Tiên Lãng, mời ông ăn thử. 

       Văn Cao đỡ gói thuốc lào, vê một điếu bỏ vào nõ, nói với ông khách: "Ăn thuốc" đó mới đúng là ngôn ngữ của người ghiền thuốc lào. Văn Cao rít một hơi tận sức, từ từ nhả khói. Đúng là chính hiệu Tiên Lãng, ông cho tôi xin thêm điếu nữa? Mời ông cứ tự nhiên. 

       Văn Cao hỏi tôi: Quán có tiền đó không, cho mình vay 5 đồng. Hai thằng từ sáng đến giờ chỉ toàn rượu suông, muốn đi ăn bát cháo. Em chỉ có ba đồng, anh cầm tạm. 

      Văn Cao bỏ tiền vào túi. Hai người đứng lên, lại vịn vào nhau, xiêu vẹo dắt nhau đi. 

      Ông khách cho thuốc lào ái ngại nhìn theo hai người đi khuất ở ngã tư Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo. Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa. Tôỉ hỏi ông: - Ông có biết ông ấy là ai không? 

       - Không, tôi đoán là dân ở Thái Bình mới lên. Từ hôm gạo lên 3 đồng một ký, dưới đó nhiều người đứt bữa… 

       Tôi nói: Ông ta là người đã viết một bài hát mà mỗi lần hát lên, cả nước phải đứng nghiêm, kể cả cụ Hồ. Ông khách trợn tròn mắt: - Ông ta là nhạc sĩ Văn Cao? 

      - Đích thị là Văn Cao! 

       Ông khách đang uống dở hớp nước, ngồi ngẩn ra một lúc lâu như người bị nghẹn, rồi buông lửng một câu: - Thế thì còn ra thế nào nữa…! 

        Lát sau chị Băng từ trong cửa Bộ đi ra. Vừa nhìn thấy tôi, chị túm lấy hỏi: - Từ sáng tới giờ anh có thấy anh Văn đi ngang qua đây không? - Anh vừa đi cách đây hai mươi phút. Anh hỏi vay tôi năm đồng, tôi chỉ có ba đồng đưa cho anh. 

      - Có khổ thân tôi không! Ở nhà khách người ta đợi suốt từ sáng tới gần trưa. 

      - Khách ở đâu đến mà quan trọng thế? Chắc là nhà báo quốc tế đến phỏng vấn anh về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác. Chị Băng nhăn nhó khổ sở: Khách từ Hà Giang xuống, ở Xí nghiệp chế biến chè. Họ muốn nhờ anh Văn vẽ cho cái nhãn chè. Người ta đem xuống 50 đồng với 10 gói chè loại 1. Chờ mãi không được thế là người ta đem tiền, đem chè đi nhờ họa sĩ khác. 

         Nghe chị kể tôi cũng thầm tiếc cho anh. 50 đồng với 10 gói chè Hà Giang loại 1. Chao ôi, thật đáng tiếc! 

      Hôm sau tôi gặp Văn Cao, kể lại chuyện hôm qua, hỏi anh: 

     - Sao anh lại bỏ dở một cái đơn đặt hàng ngon lành thế? Hay anh quên? 

     - Mình nhớ chứ, chỉ cần ngoạch trong nửa tiếng là có 50 đồng… Nhưng mình bỏ đi lang thang uống rượu suông với thằng Chúc và phải hỏi vay con gái. 

       Anh lắc đầu: Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền… 

   (*)  Ảnh - Văn Cao do Nguyễn Đình Toán chụp ngày 3/7/1995. Đúng 1 tuần sau Văn Cao rời cõi dương gian vào ngày 10/7/1995.

(Copy từ FB-Nhạc sĩ Văn Cao)

Friday, July 28, 2023

Những điều lạ lẫm ở VN: SỰ TINH TẾ KHI DI CHUYỂN BẰNG PHƯƠNG TIỆN CÔNG CỘNG

 Có những điều không nằm trong luật pháp nhưng một số người tinh tế sẽ vẫn tuân theo và hành xử hợp tình hợp lý, ví dụ như những thái độ khi di chuyển bằng các phương tiện công cộng như xe buýt, xe lửa hay máy bay như sau:

Tôn trọng và chia sẻ chỗ ngồi với người khác. Mặc dù xe hơi đông và bạn rất muốn được ngồi, bạn vẫn nên tránh chen lấn xô đẩy để giành chỗ ngồi cho riêng bản thân mình.

Xếp hàng để lên xe. Nếu bạn đang bận lục tìm vé xe trong ba lô, hãy rời khỏi hàng để tìm, thay vì đứng mãi trong hàng khiến mọi người đằng sau đều phải chờ đợi.

Nếu bạn thích nghe nhạc hãy đeo tai nghe. Ngoài ra, nếu bạn có cuộc gọi quan trọng hãy nói nhỏ hết mức có thể và lấy một tay che hờ miệng khi bạn nói.

Không nên ăn uống những thứ có mùi để tránh làm phiền người khác và để giữ sạch phương tiện công cộng.

Tránh để lại rác như khăn giấy, vỏ kẹo, chai nước khi bạn xuống trạm…

Chung quy lại thì điều quan trọng nhất khi di chuyển bằng phương tiện công cộng mà bạn không thể quên là việc hiểu rằng bạn đang dùng chung và cùng chia sẻ cũng như sử dụng chúng với những người đi cùng khác nữa. Bởi thế, bạn nên tôn trọng những hành khách đi cùng, người nhân viên phục vụ và tự có ý thức bảo vệ giữ gìn phương tiện công cộng. 

Việc bạn tôn trọng và bảo vệ người khác và những thứ có sẵn cũng là cách bạn tôn trọng và yêu thương bản thân mình.

Biên Trương (FB)


Monday, June 26, 2023

Tự do và tuổi trẻ

 Khi những người trẻ tuổi hỏi Krishnamurti: “Có thể KHÔNG làm điều mình thích mà vẫn tự do không?”

Và đây là câu trả lời của Krishnamurti:

Một trong những điều khó khăn nhất là khám phá ra điều ta muốn làm, không chỉ ở tuổi thanh niên, mà trong suốt cuộc đời. 

Nếu bạn không tự khám phá ra được điều bạn thực sự muốn làm bằng cả con người mình, bạn sẽ làm điều gì đó không phải là mối quan tâm thiết thân của bạn. Và rồi cuộc sống của bạn sẽ hết sức khốn khổ. 

Vì khốn khổ, bạn sẽ tìm cách quên lãng bằng phim ảnh, bằng nhậu nhẹt, bằng cách đọc vô số sách vở, bằng cách dấn thân vào một công cuộc cải tạo xã hội nào đó, v.v.

Nếu một khi bạn khám phá ra được điều bạn thích làm bằng cả con người mình, thì bấy giờ bạn là người tự do; bấy giờ bạn mới có đủ khả năng, tự tin, sáng tạo. Nhưng nếu không biết mình thực sự thích làm gì mà bạn trở thành một luật sư, một nhà chính trị, hay một ai đó, thì bạn sẽ không có hạnh phúc, bởi vì chính nghề nghiệp đó sẽ trở thành phương tiện huỷ diệt bản thân bạn và người khác. 

Đừng nghĩ theo hướng chọn lựa một nghề nghiệp để sống cho phù hợp với xã hội, bởi vì như thế, bạn sẽ không bao giờ khám phá ra được điều bạn thích làm là gì. 

Khi bạn thích làm điều gì thì sẽ không có vấn đề chọn lựa. Một khi đã yêu thì hãy để tình yêu làm điều nó muốn, lúc đó sẽ có hành động đúng. Nhưng nếu bạn dành trọn đời mình cho điều gì đó mà bạn không thích, bạn sẽ không bao giờ được tự do. 

Đừng bắt đầu bằng cách nghĩ về việc kiếm sống. Nếu bạn khám phá được điều bạn yêu thích, bạn sẽ có phương tiện kiếm sống thôi.

👉👉Lắng nghe thêm những kiến giải đột phá về các vấn đề tuổi trẻ qua “Đôi điều cần suy ngẫm” - một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của J. Krishnamurti.

Hình ảnh: First News Trí Việt

Friday, June 2, 2023

Câu chuyện âm nhạc: Nhạc Bolero

 Bị chôn mà không chết

Mấy năm trước, một nhóm nhạc sĩ Hà Nội dự định làm một cuộc cách mệnh lật đổ một thể loại âm nhạc đại chúng của Sài Gòn: BOLERO. Khởi đầu bằng những phát biểu có tính mỉa mai và không xem đó là âm nhạc, hầu hết những nhạc sĩ ấy đều là người tôi có quen biết, từng cụng ly uống rượu và thậm chí tôi từng tham gia xuyên việt với tư cách Mc. Tôi biết rõ “đại ca lãnh đạo“ là ai. Thế nên, trong bài viết này sẽ trên tinh thần đối thoại thẳng thắn nhưng không khiêu kích, bôi bác cá nhân ai, nó sẽ hiếu hòa nhưng không nhượng bộ điều gì không thể nhượng bộ.

Chôn không chết.

Sau 1975, toàn bộ nền âm nhạc miền nam nói chung Sài Gòn nói riêng được liệt kê vào loại phản động cấm phổ biến, trong đó bolero cách gọi chung một thể loại nhạc đại chúng uỷ mị không có giá trị, nấm mồ được đào và bolero cũng được chôn xuống chờ xanh cỏ…

Nhưng người miền nam trong thời chiến, trước 1975 không có thông tin để biết rằng tại Hà Nội miền bắc thập niên 1970 có một vụ án bi thương: vụ án “Toán xồm – Lộc vàng“ (xin tra google), hai chàng trai trẻ tuổi mê nhạc tiền chiến, nước ngoài, ”nhạc vàng“ của Sài Gòn dù đi hát chui cũng bị dong ra vành móng ngựa tội tuyên truyền phổ biến nhạc đồi truỵ – phản động. Toán xồm 15 năm tù. Lộc vàng 10 năm tù. Nhờ án tù cao nên hai người tù không phải đi lính, bộ đội, không phải đi qua chiến tranh. Năm 1982, mãn án tù trở về khi tới ga Hàng Cỏ, từ những chiếc cassette chiến lợi phẩm mang từ miền nam về ầm ĩ toàn những thứ “nhạc vàng uỷ mị“ thứ âm nhạc lấy đi mỗi người trên dưới 10 năm trong lao tù. Toán xồm vài năm sau đó chết trước cửa ngôi nhà cũ bị chiếm dụng của mình đúng ngày 30 tháng tư, Lộc vàng còn sống đến hôm nay, mở một quán cà phê ven Hồ Tây đêm đêm vẫn hát…nhạc vàng.

Thứ âm nhạc đã bị chôn mà không chết, mãi mồ không xanh cỏ.

Thêm 40 năm nữa , một ngày kia bỗng thấy trên truyền hình quốc gia VTV tràn ngập loại âm nhạc “uỷ mị bolero“. Những cuộc thi đủ màu sắc tưng bừng diễn ra, những gương mặt ca sĩ trước đây chỉ thấy ở những chương trình hải ngoại nay nghiễm nhiên xuất hiện trên hàng ghế quyền lực lệch trời với thí sinh: BAN GIÁM KHẢO! Thứ âm nhạc “uỷ mị – bình dân –sến súa !“ ấy chiếm lĩnh sóng truyền hình hơn mọi game chơi nào khác.

Một cách tự nhiên cuộc “phục thù ngọt ngào“ không đổ máu, không có tiếng súng đạn – chỉ thí sinh – ban giám khảo và bolero: sứ mệnh hoàn tất.�…�những ca khúc đỏ một thời bỗng lui vào viện bảo tàng, chỉ đưa ra trong vài ngày “giỗ chạp“.

Đấy! chết mà chưa chôn, chưa kể âm nhạc “hường hường“ của các anh.�…

Trịnh Công Sơn

Hôm nay, dù yêu hay ghét Trịnh thì một sự thật không thể phủ nhận đây là nhạc sĩ có khối lượng người hâm mộ trong và ngoài nước khổng lồ. Người được công chúng quan tâm hàng đầu trong nền âm nhạc đương đại việt nam.

Con người có vẻ ngoài gầy gò, gương mặt phảng phất vẻ trầm mặc của một “thiền sư“, có một cuộc đời tưởng như êm ả với quá nhiều thành công lại không phải vậy, trong niềm tin ngây thơ của một người thiên tả, ông phạm một vết hằn khó phai trong lời kêu gọi trên đài phát thanh trưa ngày 30 tháng 4 – 1975. Nhưng buồn thay cũng chính ông sau đó chịu nhiều đối xử, phân biệt hệt như những văn nghệ sĩ khác của Sài Gòn thời đó cho đến khi được một “nhà bảo trợ lớn“ Võ Văn Kiệt đỡ đầu. Trịnh Công Sơn qua một trang sử khác bắt đầu dễ thở hơn dù nhiều ca khúc danh tiếng của ông trước 1975 vẫn bị cấm phổ biến. Loạt “ ca khúc da vàng” là một ví dụ, thập niên 80 – 90 mỗi khi viết một ca khúc mới Trịnh Công Sơn vẫn phải đến hát trước cho một vài anh chị em báo Tuổi Trẻ nghe, trong ấy có tôi để tìm sự khen ngợi, ủng hộ cho ca khúc mới của mình. Báo Tuổi Trẻ luôn đăng những ca khúc ấy của ông “Chiều trên quê hương tôi – Bốn mùa thay lá …” trừ “Em còn nhớ hay em đã quên“ vẫn bị kiểm duyệt buộc gỡ xuống trong đêm chuẩn bị in báo từ một nhận định kiểu tuyên giáo “em ra đi nơi này phải đổi mới, phải khác chớ sao vẫn thế? cách mạng đã về rồi Sài Gòn phải khác…”

Cuối đời, khi mọi khó khăn đã qua, nhìn lại mình trong nỗi cô đơn Trịnh Công Sơn viết ca khúc u uẩn như dành riêng cho mình “Tiến thoái lưỡng nan – tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận…ngày xưa lận đận không biết về đâu…về đâu cuối phố về đâu góc trời…xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi …”

Trịnh Công Sơn mất, một đám tang vô tiền khoáng hậu với số lượng người Sài Gòn đưa tiễn! hơn 10 năm sau, ông được đặt tên đường.

Trịnh Công Sơn, kẻ bị nghi kỵ, phân biệt đối xử bỗng một hôm có không chỉ một mà đến hai con đường mang tên mình.một ở Hà Nội, một ở Huế. Cái mà bao nhiêu nhạc sĩ cách mạng cả đời thèm muốn, đến chết vẫn thèm thì Trịnh thong dong từ cõi vĩnh hằng hoàn tất cuộc “phục thù ngọt ngào“: Trịnh Công Sơn có tên đường như Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi…�…�Cũng thập niên 90, Trần Long Ẩn một nhạc sĩ xuất thân phong trào sinh viên đô thị kênh kiệu tuyên bố “Nhóm những người bạn [Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Thanh Tùng , Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Hoàng, Nguyễn Văn Hiên, Từ Huy] đã đẩy lùi “âm nhạc hải ngoại“.

Tuyên giáo nghe sướng nhưng người nghe nhạc thì cười mỉm . “thật không?“�….

Khoảng sân nhỏ nhà tôi một buổi tối cúp điện, những năm ấy, điện cúp một tuần 2 ngày 3 đêm. Tôi tiếp anh trong khoảng sân nửa sáng nửa tối của ngọn đèn dầu hắt ra, anh đến chào tạm biệt về lại Bắc Ninh. Giọng anh buồn rầu “tôi phải về chốn cũ thôi, ở đây họ không chấp nhận nhạc của tôi …” tôi nói “anh cứ về đi tôi tin rằng chỉ 5 năm sau khi anh quay lại Sài Gòn, sẽ là câu chuyện khác, họ sẽ phải nghe ca khúc của anh

Anh là người có kiến thức rộng nhiều lãnh vực, có tài năng tôi tin như thế.

Tôi không rõ khi anh quay lại Sài Gòn có đúng 5 năm không, nhưng ca khúc của anh đang rất nổi tiếng “cho em một ngày, hoạ mi hót trong mưa, nghe mưa..vv ” tên anh đã được nhắc tới.�…

Giờ thì anh đã có tên tuổi dù âm nhạc của anh ít dần trong công chúng. Anh bắt đầu có những nhận định khác. Khi anh và nhóm của mình coi thường một thể loại âm nhạc được các anh xem là “sến“ của công chúng Sài Gòn nghĩa là cùng lúc các anh giới thiệu một lỗ hổng lớn, một cái nhìn cục bộ hẹp hòi mà âm nhạc, nghệ thuật không nên có. Các anh có người sang tận Hoa Kỳ học hành trở về với nhiều tự hào vẫn quên một điều căn bản, nền giáo dục nghệ thuật nước Mỹ cho mọi người ngay từ lớp học phổ thông hiểu biết về mọi thể loại, hình thái âm nhạc: rock, funk, jazz, country vv… và ai chọn lựa hình thái âm nhạc nhạc nào là quyền yêu thích riêng của họ, không có chuyện Mozart, Beethoven …sang hơn anh mù Ray Charles hay John Denver của country music là sến.

Các anh phạm vào điều cao ngạo, trịch thượng trong nghệ thuật.�…�Những cuộc “phục thù ngọt ngào“ đang và đã diễn ra. Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết.

Muốn nó chết, dễ thôi! Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó …

Dèm pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa! Nó càng bất tử!

Chỉ vậy thôi!

Đỗ Trung Quân