Showing posts with label Thế giới như tôi thấy. Show all posts
Showing posts with label Thế giới như tôi thấy. Show all posts

Sunday, June 1, 2025

Thế giới Truyền thông trong thời đại Thông tin/The Information Age

THỜI ĐẠI “CHĂN THẢ” CỦA TIN TỨC: KHI CÔNG CHÚNG BỊ “DẮT MŨI” KHÔNG THƯƠNG TIẾC

Trong xã hội hiện đại, nơi thông tin được tiêu thụ nhanh hơn cả bữa ăn sáng, báo chí đang đứng giữa hai lằn ranh: đưa tin để khai sáng hay kể chuyện để làm vừa lòng người đọc.

Phóng viên thu thập dữ liệu theo hai cách hoàn toàn khác nhau – và đôi khi không tương thích – dẫn đến nguy cơ “dắt mũi” công chúng nếu không kiểm chứng kỹ lưỡng.

Ở chế độ điều tra khoa học, các phóng viên có quan hệ đối tác với các nhà khoa học - họ đăng tin về những bước tiến khoa học và giúp chuyển chúng sang một ngôn ngữ mà công chúng có thể hiểu, một việc mà đa số các nhà khoa học không giỏi.

Ở chế độ tin nóng, các phóng viên cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì đang diễn ra trên thế giới bằng cách thu thập thông tin từ các nguồn - những nhân chứng cho các sự kiện. Phóng viên ấy có thể có chỉ một nhân chứng, hoặc cố gắng xác nhận với một người thứ hai hoặc thứ ba. Một phần công việc của phóng viên trong những trường hợp này là xác nhận độ chân thực và đáng tin cậy của nhân chứng.

Chính ở đây, một sự nhầm lẫn nguy hiểm xuất hiện: nhiều câu chuyện không tạo thành dữ liệu khoa học.

Giai thoại, dù có số nhiều, vẫn không phải bằng chứng.

Tuy nhiên, nhu cầu giải trí lồng ghép trong tin tức – mong muốn có những “câu chuyện hấp dẫn” – khiến truyền thông thường ưu tiên tính kể chuyện hơn là sự chính xác.

Đây là lý do cốt lõi giải thích vì sao các tin đồn, phản tri thức và thực tế giả có thể được lan truyền dễ dàng đến thế bởi truyền thông.

Sự chắc chắn tuyệt đối ở đa số các câu chuyện tin tức và phát hiện khoa học là thứ không tồn tại.

Nhưng là con người, chúng ta tìm kiếm sự chắc chắn.

Những kẻ mị dân, độc tài, giáo phái cuồng tín, và thậm chí một số tôn giáo bày ra sự chắc chắn - một sự chắc chắn giả tạo - thứ mà nhiều người cảm thấy không thể cưỡng lại.

Nếu báo chí không giữ vững vai trò phản biện và kiểm chứng, họ sẽ không khác gì người chăn thả tin tức, bỏ mặc công chúng đi theo những lối mòn tư duy sẵn có.

Trong thời đại mà niềm tin bị bào mòn, thì sự tỉnh táo và dũng cảm của người làm báo càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Nhã Nam

Monday, February 24, 2025

Đọc sách: Những vấn đề lớn nhất của lịch sử và thế giới hiện đại

Sapiens - lược sử loài người xuất bản lần đầu ở Israel năm 2011, bằng tiếng Do Thái, ba năm sau mới có bản tiếng Anh.

Cây viết Ian Parker của The New Yorker phân tích sách thu hút người đọc qua cách đặt câu hỏi và khéo biện luận của tác giả: "Chúng ta thực sự muốn gì?", "Có cách nào để đạt hạnh phúc". Yuval Noah Harari nhận định chúng ta đôi khi không hiểu mình thật sự muốn gì, làm sao có thể biết nhu cầu của sinh vật khác? Nhà văn lý giải con người thường xuyên bị những tưởng tượng, hư cấu của mình lừa dối. Lịch sử cũng hư cấu nhưng được kiềm chế bởi thực tại.

Trên The Sunday Times, cây viết John Carey nhận xét: "Thanh lọc não bộ, tác phẩm của Harari tỏa sức mạnh và sự sáng tỏ, khiến thế giới trở nên xa lạ, mới mẻ". "Thật đáng kinh ngạc. Cuốn sách thay đổi cách bạn nhìn thế giới", Simon Mayo viết. Tác giả Matt Haig cho rằng: "Mỗi trang sách chứa thông tin đáng nhớ và nhắc ta nên biết ơn vì được làm người".

Lập luận chính của Harari là Sapiens đã thống trị thế giới vì đây là loài động vật duy nhất có thể cộng tác linh hoạt trong tập hợp cộng đồng với số lượng lớn. Ông lập luận rằng: Sapiens chính là nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài người khác như người Neanderthal, cùng với nhiều loài động vật lớn khác. Và khả năng Sapiens cộng tác tập thể với số lượng lớn phát sinh từ một loại năng lực độc nhất của nó để tin vào những thứ tồn tại hoàn toàn trong trí tưởng tượng, các vị thần, quốc gia, tiền bạc và nhân quyền. Và ông còn lập luận rằng: những niềm tin này làm phát sinh sự phân biệt đối xử về chủng tộc, giới tính hay chính trị. Harari tuyên bố rằng: tất cả các hệ thống hợp tác của con người ở phạm vi/quy mô lớn bao gồm tôn giáo, tổ chức chính trị, thương mại và thể chế đều có sự xuất hiện của họ đối với năng lực nhận thức đặc biệt của Sapiens. Theo đó, Harari coi tiền là một hệ thống dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau và xem các hệ thống chính trị và kinh tế ít nhiều đồng nhất với các tôn giáo.

Cách mạng nông nghiệp xảy ra cách đây 12.000 năm. Nó đã biến con người từ săn bắn hái lượm thành nông dân và người chăn nuôi, từ đời sống du mục sang các bộ lạc định cư và gắn bó lâu dài.

Sau cuộc cách mạng nông nghiệp, những nền văn hóa nhỏ bé dần dần hợp nhất thành một nền văn minh lớn hơn và phức tạp hơn. Trong phần nội dung nói về sự thống nhất của loài người, tác giả đề cập đến việc Homo Sapiens đã biết chuyển ngôn ngữ thành chữ viết, có hệ thống tiền tệ, tín ngưỡng tôn giáo, những quốc gia lớn hình thành lớn mạnh dựa vào chính trị và kinh tế.

Cuối cùng, cuộc Cách mạng khoa học chỉ xảy ra cách đây 500 năm, con người đã tìm ra được nguồn sức mạnh to lớn chính là tri thức, từ đó hàng loạt các phát minh và các học thuyết ra đời. Với sự phát triển của khoa học đã mang lại cho loài người sức mạnh chưa từng có.

Nhà sử học cũng cho rằng sự tiến hóa quá nhanh của nhân loại đã khiến tự nhiên quá tải và đưa tất cả đến bờ tuyệt chủng.

Nhưng vào buổi bình minh của thế kỷ 21, khi nhận thấy những tác động chi phối muôn loài trong quá khứ không còn đúng nữa, Homo Sapiens muốn vượt qua những giới hạn này. Hiện họ bắt đầu phá vỡ các quy luật của chọn lọc tự nhiên, thay thế chúng bằng các dạng sơ khai (như công nghệ AI) với trí thông minh nhân tạo mà con người có thể ứng dụng vào mục đích phát triển cao hơn nữa trong tương lai.

Câu chuyện này ''tập trung trao đổi về cuộc khủng hoảng sinh thái mà nhân loại đang phải đối mặt, dù tốt hay xấu, AI cũng là một phần của cuộc khủng hoảng này. AI có thể giúp chúng ta theo nhiều cách để vượt qua khủng hoảng sinh thái hoặc nó có thể khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều.

Trên thực tế, AI có thể sẽ thay đổi ý nghĩa cốt lõi của hệ sinh thái. Bởi vì trong bốn tỷ năm, hệ sinh thái của hành tinh Trái đất chỉ chứa các dạng sống hữu cơ. Và bây giờ, hoặc sớm thôi, chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của các dạng sống vô cơ đầu tiên, sau bốn tỷ năm, hoặc ít nhất, sự xuất hiện của các tác nhân vô cơ.

Giờ đây, mọi người đã sợ hãi AI kể từ khi bắt đầu kỷ nguyên máy tính vào giữa thế kỷ 20, và nỗi sợ hãi này đã truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm kinh điển khoa học viễn tưởng như “Kẻ hủy diệt” hay “Ma trận”. Ngày nay, trong khi những kịch bản khoa học viễn tưởng như vậy đã trở thành những dấu mốc văn hóa, chúng vẫn chưa được coi trọng trong các cuộc tranh luận học thuật, khoa học và chính trị, và có lẽ vì một lý do chính đáng. Vì các kịch bản khoa học viễn tưởng thường giả định rằng trước khi AI có thể gây ra mối đe dọa đáng kể cho nhân loại, nó sẽ phải đạt hoặc vượt qua hai mốc quan trọng.''*

(*): Yuval Noah Harari tại hội nghị thế giới Frontiers Forum ngày 29/04/2023. Hai mốc quan trọng này gồm:

Đầu tiên, AI sẽ phải có ý thức và phát triển nhận thức, cảm xúc. Nếu không, tại sao nó lại muốn làm chủ thế giới? Thứ hai, AI sẽ phải thành thạo trong việc di chuyển trong thế giới vật lý. Nếu chúng không thể di chuyển trong thế giới vật lý, làm sao chúng có thể làm chủ được?

(ghi lại từ nhiều nguồn)

Saturday, January 25, 2025

Lược sử loài người: Từ Cách mạng Nông nghiệp đến thế giới của CNTB

Sapiens: Chúng ta, chúng nó và câu chuyện của giai cấp công nhân & nông dân 

Con người và sự phân chia trong phân biệt

Khi ko thể dung hòa, con người có tư tưởng loại trừ và chia thành 2 phần (ko phải theo giới tính): gồm "chúng ta" và "chúng nó".

Chúng ta, hay phe ta, cùng chia sẻ ngôn ngữ, tôn giáo và phong tục. Tất cả chúng ta ĐỀU có trách nhiệm với nhau, nhưng ko có trách nhiệm gì với chúng nó.

Chúng ta luôn luôn khác biệt với chúng nó, và chẳng vướng mắc/nợ nần chúng nó điều gì cả. Chúng ta ko muốn thấy bất kỳ ai trong số chúng nó trong vùng thuộc về chúng ta và cũng chẳng mảy may quan tâm về những gì thuộc về chúng nó.

Chúng nó, thậm chí còn ko phải là người, chỉ chúng ta mới là con người thực sự!

Thế giới đã tồn tại với nhiều đế chế và các trật tự được thiết lập bao trùm tất cả cho đến nay. Dù chứa đựng những vấn đề phức tạp mang sắc thái chủng tộc của nhiều nền vh khác nhau thì thế giới đa cực hiện nay vẫn thừa nhận sự thống nhất cơ bản của toàn thế giới. Vì vậy vẫn có sự tồn tại của những nguyên tắc chi phối mọi lúc mọi nơi cùng với trách nhiệm chung của loài người (trên quan điểm xem thế giới loài người là 1 gia đình mà những đặc quyền của cha mẹ gắn liền với trách nhiệm phải lo cho quyền lợi của con cái của mình).

Các trật tự thế giới khác nhau làm nảy sinh những cuộc tranh đoạt những vùng ảnh hưởng (ở châu Á là Trung Hoa với sứ mạng Trời ban là Thiên mệnh). Chúng tồn tại với tầm nhìn mới từ thời cổ đại cho đến sau này, đến các nguyên thủ LX và TT Mỹ.

Theo những diễn biến trong thế kỷ 20, cuộc xâm lấn và áp đặt trật tự mới của châu Âu đã kết thúc cùng chủ nghĩa thực dân sau những nỗ lực dung hòa, ko mang tính hủy diệt, mà chỉ cố gắng vô hiệu hóa sức phản kháng của các dân tộc vì độc lập chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc.

Từ lịch sử, có thể thấy: trái ngược với quan điểm của phương Tây xem thế giới công bằng là thế giới gồm các quốc gia độc lập, Trung Hoa là hình mẫu của thời kỳ đen tối và bất công.

Xu hướng của thế giới là hợp lại trong 1 trật tự chung, ko tách thành các công quốc nhỏ. Sự hợp nhất là động lực mang lại kết cục của thế giới, sớm hay muộn cũng sẽ thành công!

Điều này ko xoá bỏ thế giới, vì các đế quốc đã và đang đóng vai trò quyết định trong việc hợp nhất nhiều nền vh nhỏ thành các nền vh lớn trong mục đích biến "chúng nó" trở thành "chúng ta".

Ra đời và phát triển từ cuộc Cách mạng Nông nghiệp cách đây 12.000 năm, nông dân là những người góp phần chủ yếu định hình lịch sử cho đến ngày nay. 

Giai cấp công nhân hình thành cùng cm Công nghiệp, theo Marx, họ đại diện cho phương thức sx tiến bộ hơn từ 200 năm qua. Và học thuyết của ông đã đặt họ vào vị trí có vai trò quan trọng đặc biệt với số phận của loài người trên phạm vi toàn thế giới.

Khởi đầu với cuộc cm Khoa học cách đây 500 năm, thế giới đã chứng kiến sức mạnh của con người trong sự tăng trưởng phi thường. Những người nông dân và các nền vh xa xưa đều ko có khái niệm về sự tiến bộ cho đến khi xuất hiện cuộc Cách mạng Khoa học. Đối với họ, thời hoàng kim thuộc về quá khứ. Nhưng đã có 1 thế giới khác khi khoa học mang lại sự tiến bộ và điều ko thể biết trước này đã đến từ châu Âu khi trung tâm quyền lực thế giới đã chuyển sang châu Âu từ thế kỷ 18. Và cho đến bây giờ, hầu như tất cả mọi người, ở mức độ lớn hơn so với mức họ muốn thừa nhận, đều có trang phục, tư tưởng và thị hiếu châu Âu. Ngay cả TQ hiện nay, đang giành vị trí số 1 thế giới, cũng được xây dựng trên mô hình sản xuất và tài chính châu Âu.

Đại diện của sức mạnh công nghệ châu Âu, phép màu tạo nên sự phi thường làm cho châu Âu vượt trội hơn châu Á là giai cấp công nhân, dù công trạng thuộc về những nhà khoa học châu Âu.

Những người châu Âu đã quen với suy nghĩ và hành động theo phương thức khoa học và CNTB, ngay cả trước khi họ được hưởng bất kỳ 1 lợi thế kỹ thuật nào.

Và câu chuyện của thế giới chỉ thật sự bắt đầu nếu tất cả đều từ những sự việc thuận tình và hợp lý. Đó là cuộc hôn nhân giữa khoa học và đế quốc. Và 1 trật tự thế giới khác đã được sinh ra từ đây.

Trong thế kỷ 20, những nền vh phi châu Âu mới tiếp nhận 1 tầm nhìn toàn cầu thực sự.

Algeria và VN là những nước đầu tiên đánh bại Pháp, 1 cường quốc châu Âu chiếm lợi thế áp đảo về lực lượng, kỹ thuật và kinh tế. Đây là những bước đầu dẫn đến sự sụp đổ quyền bá chủ của châu Âu.

Và cuộc chiến tranh VN giáng đòn nặng nề xuống người khổng lồ Mỹ cũng là chiến thắng vì được hỗ trợ bởi 1 mạng lưới trong hệ thống chống thực dân toàn cầu và vì họ đã tìm ra cách khai thác phương tiện truyền thông thế giới để phục vụ cho cách đánh trường kỳ bằng chiến tranh du kích (mà VN gọi là chiến tranh nhân dân).

Những nước nhỏ bé thắng siêu cường cho thấy: nếu cuộc chiến tranh ko có tính đại chiến nhưng khi nó trở thành 1 vấn đề toàn cầu thì phần thắng sẽ thuộc về bên có được sự ủng hộ mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu với xu thế chung. Vì vậy, cả Pháp và Mỹ đều nhanh chóng nối gót Anh.

Khoa học và CNTB đã hình thành nên di sản quan trọng nhất mà CN đế quốc châu Âu để lại cho hậu thế trong thế kỷ 21. Châu Âu đã ko còn cai trị thế giới nữa, nhưng khoa học và CNTB vẫn đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

CNTB

Niềm tin vào xu thế toàn cầu cuối cùng đã dẫn đến sự thay đổi to lớn. Ngay từ năm 1776, trong cuốn Của Cải Của Các Dân Tộc/The Wealth of Nations, Adam Smith đã nêu những vấn đề được coi là bản tuyên ngôn kinh tế học quan trọng nhất của mọi thời đại. Trong đó, ông lập luận v/v càng nhiều lợi nhuận càng cần nhiều nhân công hơn. Suy ra sự gia tăng lợi nhuận của những cá nhân khởi nghiệp là cơ sở cho việc gia tăng sự giàu có và thịnh vượng của tập thể. Đây là nền kinh tế mang tính "đôi bên cùng có lợi". Châm ngôn của Smith "Khi lợi nhuận tăng người chủ cơ sở sẽ thuê thêm nhân công", chứ ko phải là "Khi lợi nhuận tăng, người chủ Keo kiệt sẽ cất tiền vào két, và chỉ lấy ra khi muốn đếm chúng".

Điều này cũng có nghĩa, theo đó lợi nhuận phải được tái đầu tư vào sx. Và cứ thế gia tăng lợi nhuận nhiều... vô tận.

Trong tín ngưỡng tư bản mới, điều thiêng liêng nhất là: Lợi nhuận của sx phải được tái đầu tư vào sự gia tăng sx.

Điều đó giải thích tại sao lý thuyết kinh tế về tiền bạc được gọi là "CNTB".

Thời Trung cổ là thời đại hoàng kim của giới quý tộc hào phóng trong những cuộc vui và tiêu dùng xa xỉ. Chỉ 1 số ít trong số họ thử tái đầu tư lợi tức bằng việc tăng sản lượng nông nghiệp trên đất của họ với những giống tốt hơn hay tìm kiếm những thị trường mới.

Giới quý tộc này đã bị thay thế bởi 1 tầng lớp ưu tú mới, họ là những tín đồ đích thực của tín ngưỡng TB.

CNTB hiện đại đã vượt xa hơn 1 học thuyết kinh tế. Nó bao gồm 1 lý thuyết đạo đức (về cách ứng xử và giáo dục gia đình) với nguyên lý cơ bản cho rằng: tăng trưởng kinh tế chính là ân điển tối cao vì công lý, tự do và cả hạnh phúc, tất cả đều phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế.

Sau cuộc cm XHCN Tháng 10 ở Nga và sau khi Thế chiến Thứ 2 kết thúc, sự tham lam của CNTB phần nào được kiềm chế (ít nhất là do thực tế từ ảnh hưởng của Marx và sự sợ hãi trước CNCS).

Thế giới vẫn tiếp tục thay đổi, thế giới mà trật tự do CNTB tạo ra (để nhà TB điều hành) cần có 1 nỗ lực nhằm quản lý tất cả theo cách khác so với hiện tại mà sự tăng trưởng có thể trở thành 1 trò lừa đảo khổng lồ.

Câu chuyện trở lại như với Cách mạng Nông nghiệp và tương tự như vậy, chúng ta có thể ko thích CNTB, nhưng ko thể sống thiếu nó.

Cm XHCN Tháng 10 Nga mở đầu cho sự tìm kiếm sự bình đẳng giữa mọi người. Những người đi theo con đường của Lênin muốn xóa bỏ đặc quyền của người giàu khi coi tiền bạc hơn các bản chất phổ quát của mọi người, 1 thứ mà với người giàu và người nghèo là giống nhau.

ĐQX khác với các giáo phái nhân văn XHCN khác bởi thuyết phân biệt chủng tộc mà Hitler đề cao với chủng tộc Arya là hình thức cao nhất, tiên tiến nhất của nhân loại (dân tộc thượng đẳng). Dân tộc Đức phải được bảo vệ và phát triển, đồng thời, các hình thức thoái hóa của Homo Sapiens như người DT, người La Mã, người đồng tính hay mắc chứng tâm thần phải bị cách ly và thậm chí là tiêu diệt.

Chủng tộc Arya được ĐQX đề cao vì cho rằng người Đức có những phẩm chất tốt nhất - tính duy lý, vẻ đẹp, tính toàn vẹn và sự siêng năng. Tất cả đều cho thấy họ vượt trội hơn các chủng tộc khác.

(Lược ghi từ Sapiens - Lược sử loài người của Yuval Noah Harari)

Thursday, January 23, 2025

Đế chế toàn cầu mới và những chiến thắng của CNTB

Từ khoảng năm 200 TCN, hầu hết loài người đã sống trong những đế quốc và triển vọng trong tương lai có vẻ cũng như vậy. Viễn cảnh về sự thống trị của Đế chế Toàn cầu có thể sắp xảy ra.

Thế kỷ 21 mở ra kỷ nguyên của các vấn đề mang tính toàn cầu làm chủ nghĩa dân tộc nhanh chóng bị mất chỗ đứng với những quốc gia đang ngày càng mở cửa cho các guồng máy của thị trường toàn cầu với sự can thiệp của các công ty toàn cầu và các tổ chức phi chính phủ*, cho sự giám sát của dư luận toàn cầu và hệ thống tư pháp quốc tế.

Các dòng thác vô cùng mạnh mẽ của vốn TB, nguồn lực lao động và thông tin đã xoay chuyển và định hình thế giới, với sự xoá bỏ ngày càng nhiều những biên giới và quan điểm quốc gia.

Vấn đề của CNTB nằm ở giá trị thặng dư. Điều này là động lực của thị trường tự do, đồng thời sự thèm khát gia tăng lợi nhuận và gia tăng sx đã làm mờ mắt người ta trước bất cứ thứ gì cản trở/ngán đường. Điều này khi ko bị giới hạn bởi bất cứ sự cân nhắc đạo đức nào khác, nó có thể dễ dàng dẫn đến thảm họa.

Sức mạnh của CNTB thông qua Cách mạng Công nghiệp đã mở ra những phương thức mới để chuyển đổi năng lượng và sx hàng hóa, giải phóng phần lớn nhân loại khỏi sự phụ thuộc vào hệ sinh thái xung quanh.

Con người đốn rừng, khai thông các vùng đầm lầy, đắp đập ngăn sông, tưới nước cho các vùng đất rộng lớn, lắp đặt hàng chục ngàn cây số đường xe lửa và xây dựng các đô thị lớn với những tòa nhà chọc trời. Khi thế giới được tạo nên để phù hợp với nhu cầu của Homo sapiens, môi trường sống đã bị phá hủy. Nhiều loài bị tuyệt chủng, hành tinh từng tràn đầy hoa lá xanh tươi trở thành 1 trung tâm mua sắm bằng bê tông, kính và nhựa tổng hợp.

Đạo đức tư bản và chủ nghĩa tiêu dùng là 2 mặt của đồng tiền. Đạo đức tư bản - tiêu dùng có tính cm theo 1 nghĩa thực tế vì hứa hẹn về chốn thiên đường có thể trở thành hiện thực (với điều kiện là người giàu vẫn tham lam và làm ra nhiều tiền, số đông còn lại vẫn hoàn toàn tự do với những khao khát và đam mê của họ - mua nhiều và ngày càng nhiều hơn nữa). Đây là tôn giáo đầu tiên trong lịch sử, khác với những tôn giáo trước nó, vì các tín đồ của nó thực sự làm được những gì họ được yêu cầu làm.

CNTB đã tạo ra 1 thế giới trong đó chỉ có nhà tư bản mới đủ khả năng điều hành nó (từng có 1 nỗ lực nhằm quản lý thế giới theo cách khác, nhưng kết cục lại tệ hơn RẤT NHIỀU xét trên mọi phương diện). Theo quan điểm này, chính sách kinh tế khôn ngoan nhất là giữ cho chính trị đứng ngoài kinh tế, giảm thuế và các quy định của chính phủ xuống mức tối thiểu, và cho phép sức mạnh thị trường hoàn toàn tự do đi theo con đường phát triển tự nhiên của nó (nhiều nhà tư bản hăng hái có xu hướng cho rằng: tư bản nên được tự do gây tác động lên chính trị, nhưng chính trị ko được phép ảnh hưởng đến tư bản**).

(*): Về điều này, Marx và các nhà phê bình xh đã châm biếm những chính phủ phương Tây đang trở thành các công đoàn của CNTB.

(**): Marx gọi đây là giai đoạn "tư bản lũng đoạn".

(Ghi lại từ Sapiens - Lược sử loài người của Yuval Noah Harari)

Tuesday, December 10, 2024

Sự tiến hóa và những ngày tốt đẹp của nhân loại

Hoàng Giang: Bài viết của nhà văn Mạc Ngôn từ những năm trước
.............................................................

NGÀY THÁNG TỐT ĐẸP CỦA NHÂN LOẠI KHÔNG CÒN NHIỀU NỮA 

Xã hội nhân loại ồn ào náo nhiệt, đèn đỏ rượu xanh, xa hoa truy lạc, nhìn vào thì thấy vô cùng phức tạp, nhưng suy nghĩ kĩ một chút, cũng chẳng qua chỉ là những người nghèo khổ theo đuổi vinh hoa, người giàu có truy cầu hưởng lạc, cơ bản chỉ là một chuyện như vậy…

Tại sao mọi người đều chán ghét cái cảnh nghèo túng?

Bởi vì người nghèo không thể thỏa mãn được cái dục vọng của bản thân. Không kể là ham muốn vật chất hay ham muốn hưởng lạc, không kể là cái tâm hư vinh hay tâm ham thích cái đẹp, không kể là đến bệnh viện khám bệnh không cần phải xếp hàng, hay là ngồi ở khoang hạng nhất trên máy bay, đều cần phải dùng tiền để thỏa mãn, dùng tiền để thực hiện.
Phú là bởi có tiền, quý là bởi xuất thân, dòng dõi và quyền lực. Đương nhiên, có tiền cũng chính là không cần lo lắng đến chuyện địa vị cao quý, còn có quyền lực rồi dường như cũng không cần lo lắng đến chuyện không có tiền. Bởi vì phú và quý là có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời, có thể dung hợp lại thành một phạm trù.

Người nghèo khó mong sao có được phú quý vinh hoa, đây là chuyện thường tình của con người, cũng là nhu cầu chính đáng. Phú quý là mưu cầu chính đáng của con người, nhưng phú quý nếu không dùng thủ đoạn chính đáng để có được thì không nên tận hưởng.
Nghèo túng là thứ mà người người căm ghét, nhưng ta cũng không thể dùng thủ đoạn không chính đáng để thoát khỏi cảnh nghèo túng. Trong cuộc sống hiện thực, những người dùng thủ đoạn không chính đáng để thoát khỏi cảnh nghèo túng để đạt được giàu sang đâu đâu cũng có, tuy có những người lớn tiếng mắng nhiếc những người dùng mưu mô thủ đoạn không chính đáng để thoát khỏi nghèo khó, nhưng chỉ cần bản thân hễ có cơ hội cũng sẽ làm như vậy, loại người này đâu đâu cũng có.

Dục vọng của con người là cái động không đáy, không sao lấp đầy được.

Vợ của ông lão đánh cá ban đầu chỉ là muốn có một cái chậu mới, nhưng sau khi có được cái chậu mới rồi, thì bà ta lại muốn ngôi nhà gỗ, có ngôi nhà gỗ rồi, lại muốn được làm nhất phẩm phu nhân, sau đó lại muốn được làm nữ hoàng, sau khi được làm nữ hoàng rồi, bà ta lại muốn được làm nữ long vương nơi biển cả, muốn con cá vàng có thể thỏa mãn dục vọng hầu hạ bà ta, đây chính là đã vượt quá giới hạn, giống như thổi bọt xà phòng, thổi lớn quá mức rồi, tất nhiên sẽ vỡ ra.

Phàm là chuyện gì cũng đều có chừng mực, một khi đã vượt quá giới hạn rồi, thì ắt sẽ phải chịu sự trừng phạt, đây là triết lý nhân sinh giản dị nhất, cũng là quy luật của rất nhiều sự vật trong giới tự nhiên.

Rất nhiều câu chuyện có ngụ ý khuyên răn được lưu truyền trong dân gian đều đang nhắc nhở mọi người hãy khắc chế dục vọng của bản thân mình. Nghe nói Ấn Độ có người vì để bắt khỉ, đã làm ra một cái lồng, trong lồng có để thức ăn. Con khỉ thò tay vào trong lấy, tay nắm chặt lấy thức ăn, tay không rút ra được nữa. Nếu muốn rút tay ra, thì cần phải bỏ thức ăn ra, nhưng con khỉ nhất quyết không chịu bỏ đồ ăn ra.
Con khỉ không có trí huệ “buông bỏ”. Con người có trí huệ để “buông bỏ” hay không? Có người có, có người không. Có người có những lúc có, có người có những lúc không có. Con người ta sẽ luôn có một số thứ không nỡ buông bỏ, đây chính là nhược điểm của con người, cũng là bản tính sẵn có của con người.

Hơn 100 năm trước, các phần tử trí thức tiên tiến của Trung Quốc đã từng đưa ra khẩu hiệu dùng khoa học kỹ thuật cứu lấy đất nước, hơn 30 năm trước, các chính trị gia của Trung Quốc đưa ra khẩu hiệu sử dụng khoa học kỹ thuật để phát triển đất nước. Nhưng thời gian đến tận hôm nay, tôi cảm thấy nhân loại đang đứng trước nguy hiểm lớn nhất, chính là khoa học kỹ thuật của nhân loại ngày càng tiên tiến thì dục vọng của con người ta ngày càng bành trướng thêm.

Dưới sự kích thích của bản tính tham lam tự tư của con người, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đi ngược lại quỹ đạo bình thường nhằm để phục vụ cho sức khỏe của con người, mà là dưới sự thúc đẩy của lợi nhuận đã phát triển điên cuồng để thỏa mãn dục vọng của con người, thật ra đây là nhu cầu bệnh hoạn của một thiểu số những người giàu có.

Con người đang điên cuồng cướp đoạt mọi thứ từ Trái đất

Chúng ta khiến cho Trái đất chịu tổn hại nặng nề, chúng ta đã làm ô nhiễm sông ngòi, biển cả và không khí, chúng ta chen chúc chung một chỗ, dùng sắt thép và xi măng xây nên những kiến trúc cổ quái kỳ lạ, gọi những nơi này bằng cái tên đẹp đẽ là thành phố, chúng ta ở trong thành phố như vậy phóng túng dục vọng của bản thân mình, chế tạo nên các loại rác khó mà phân hủy được.

So với người dân nơi thôn quê, người trong thành phố là có tội nặng hơn; so với người nghèo khổ, thì người giàu có là có tội nặng hơn; so với bá tánh bình dân, thì các quan chức là có tội nặng hơn; từ một loại ý nghĩa khác mà nói, chức quan càng lớn, thì tội càng nặng. Bởi vì chức quan càng lớn, thì thói phô trương lãng phí càng nhiều, dục vọng càng to lớn, tài nguyên lãng phí chính là càng nhiều.

So với các nước không phát triển, thì các nước phát triển là có tội nặng hơn, bởi vì dục vọng của các nước phát triển lớn hơn, bởi vì các nước phát triển không chỉ hủy hoại trên quốc thổ của mình, hơn nữa còn đến những nước khác, đến biển cả, đến Bắc Cực và Nam Cực, lên trên mặt trăng, ngay cả bầu trời cũng bị họ hủy hoại một một cách mù quáng.

Trái đất bốc khói khắp nơi, toàn thân run rẩy, biển lớn gào thét, bão cát mù trời, hạn hán lũ lụt, cũng như các triệu chứng ác liệt khác đều có liên quan chặt chẽ với phát triển khoa học kỹ thuật dưới sự thúc đẩy bởi dục vọng tham lam của các nước phát triển.

Trách nhiệm của văn học

Trong thời đại như vậy, văn học của chúng ta kỳ thực gánh vác trách nhiệm to lớn, chính là trách nhiệm cứu lấy Trái đất, cứu lấy nhân loại, chúng ta dùng tác phẩm của mình để nói với mọi người rằng, nhất là những người giàu có dùng thủ đoạn không chính đáng để có được tài sản và quyền thế, họ là tội nhân, Thần linh sẽ không che chở cho họ. Chúng ta dùng tác phẩm của chúng ta để nói với những chính trị gia giả dối kia rằng, điều được gọi là lợi ích quốc gia vốn không phải là điều quan trọng nhất, điều quan trọng nhất thật sự chính là lợi ích lâu dài của nhân loại.

Chúng ta cần dùng tác phẩm của mình để nói với những người phụ nữ có hàng nghìn chiếc váy, hàng vạn chiếc giày, rằng họ có tội; chúng ta cần dùng tác phẩm của mình để nói với những người đàn ông có mười mấy chiếc xe sang trọng rằng họ là có tội; chúng ta cần phải nói cho những người đã mua máy bay riêng, du thuyền riêng rằng họ là có tội, dẫu rằng ở thế giới này có tiền thì chính là có thể muốn sao làm vậy, nhưng cái thói muốn sao làm vậy của họ là phạm tội đối với nhân loại, dẫu rằng tiền của họ là dùng phương thức hợp pháp để kiếm được.

Chúng ta cần dùng tác phẩm văn học của chúng để nói với những nhà giàu mới nổi, những kẻ đầu cơ, những kẻ cướp đoạt, những kẻ lừa gạt, những kẻ tiểu nhân, những tên tham quan, họ đều là cùng ở trên một con thuyền, nếu như chiếc thuyền đó chìm rồi, không kể là người bạn mặc đồ hiệu, khắp người đều là châu ngọc, hay làm áo quần lam lũ, không có lấy một đồng, thì kết cục vẫn như nhau.

Chúng ta cần phải dùng tác phẩm văn học của mình để truyền đạt nhiều đạo lý nhất có thể cho mọi người

Ví như nhà cửa là xây để ở, chứ không phải là để tranh chấp. Nếu như căn nhà xây lên không phải là để ở, thì đó không phải là căn nhà nữa. Chúng ta cần phải để cho mọi người nhớ lại, trước khi nhân loại còn chưa có phát minh ra máy điều hòa, thì những người chết bởi cái nóng cũng không nhiều như hiện nay. Trước khi nhân loại còn chưa có phát minh ra bóng đèn điện, thì những người bị cận thị ít hơn bây giờ rất nhiều.

Trước khi chưa có ti vi, thời gian nhàn rỗi của mọi người vẫn rất phong phú như thường. Sau khi có mạng internet rồi, trong đầu não của mọi người vốn không có tồn trữ nhiều thông tin hữu dụng hơn so với trước đây; trước khi chưa có mạng internet, những người ngu dốt dường như ít hơn hiện nay rất nhiều.

Sự tiện lợi của giao thông khiến cho mọi người mất đi sự vui sướng trong các chuyến du lịch, sự tiện lợi về phương diện truyền tải thông tin khiến cho mọi người mất đi hạnh phúc trong việc thư từ qua lại, quá độ trong ăn uống khiến cho mọi người mất đi mùi vị của món ăn, sự dễ dãi trong chuyện tình cảm khiến cho mọi người đánh mất đi hạnh phúc của tình yêu thương.

Chúng ta vốn không cần phải dùng đến tốc độ phát triển chóng mặt như vậy, chúng ta vốn không cần phải khiến cho động vật và thực vật lớn nhanh như vậy, bởi vì động vật và thực vật lớn nhanh như vậy sẽ ăn không còn ngon nữa, không có dinh dưỡng, chỉ có chất kích thích và các hóa chất độc hại khác. Sự phát triển bệnh hoạn của khoa học dưới sự kích thích thúc đẩy của lợi nhuận, dục vọng, quyền thế đã khiến cho cuộc sống của con người đánh mất đi rất nhiều niềm vui, thay vào đó là nguy cơ rộng khắp.

Kiềm chế một chút, chậm rãi một chút, mười phần thông minh dùng năm phần, để lại năm phần cho con cháu.

Vật chất cơ bản nhất để duy trì sự sống của nhân loại là không khí, ánh mặt trời, thực phẩm và nước uống, những thứ khác đều là hàng xa xỉ, đương nhiên, quần áo và nhà cửa cũng là thứ cần thiết. Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại đã không còn nhiều nữa.

Đương nhiên, khi mọi người ở trong sa mạc, thì sẽ hiểu được rằng nước uống và đồ ăn còn quý hơn cả vàng và kim cương, khi động đất và sóng thần kéo đến, mọi người sẽ biết được rằng, không kể là biệt thự sang trọng bao nhiêu, trong bàn tay lớn của đại tự nhiên đều chỉ là một mớ bùn; khi mọi người giày xéo Trái đất thành nơi không còn thích hợp để cư trú nữa, đến lúc đó, cái gì là quốc gia, dân tộc, đảng phái chính trị, cổ phiếu, đều sẽ trở nên chẳng còn ý nghĩa gì, đương nhiên, tác phẩm văn học cũng sẽ không còn chút ý nghĩa gì.

Tác phẩm văn học của chúng ta liệu có thể khiến cho dục vọng của con người, nhất là dục vọng của quốc gia có thể bớt phóng túng hay không? Kết luận là bi quan, dẫu rằng kết luận là bi quan, nhưng chúng ta cũng không thể không cố gắng, bởi vì, đây không chỉ là cứu lấy người khác, đồng thời cũng là cứu lấy chính mình.

Mạc Ngôn
—————
Hình minh hoạ ngôi làng cổ tích Turtuk trên cung đường Ladakh tiểu Tây tạng và những chuỗi ngày nửa thực nửa mơ của chính tôi vào tháng 8 năm trước.


Turtuk vào độ chớm thu, cái lạnh không quá se sắt và buốt giá như những nơi khác ở vùng Ladakh, lá vàng lơ đãng giăng trên những tán cây poplar, những vườn mơ tạo nên bức tranh phong cảnh hữu tình. Làng Turtuk có hai phần chính là Youl và Pharol được ngăn cách bởi một cây cầu gỗ xinh đẹp, phía dưới là dòng suối mát lạnh, có thể nhìn thấy đáy.

Thoạt đầu, khi đặt chân tới Turtuk, bạn sẽ có suy nghĩ, thị trấn bé nhỏ nằm giữa biên giới Pakistan và Ấn Độ này có gì đặc biệt hơn những thung lũng khác ở Nubra? 

Thế nhưng, khi vừa bước chân qua cầu gỗ, lần theo những ngõ ngách nhỏ xíu len lỏi vào sâu trong làng, bạn như khám phá một thế giới cổ tích. 

Những ngôi nhà nhỏ bằng đất cũ kỹ nằm san sát nhau, những ô cửa sổ đầy hoa xen lẫn với những vườn mơ bạt ngàn đang thay lá. Tiếng suối chảy róc rách dưới chân hòa điệu cùng tiếng gió rì rào, tiếng trẻ em vui đùa tạo thành thứ thanh âm trong trẻo dễ chịu.

Ở ngôi làng xinh xắn này, công việc của đàn ông là cầu nguyện, trong khi đó, phụ nữ là nguồn lao động chính. Không khó để bắt gặp những chị em phụ nữ thân hình đầy đặn, khuôn mặt tròn trịa, đôi gò má cao và đôi mắt đẹp lấp láy. Họ nhanh nhẹn vác những bó kiều mạch to len lỏi trong những con hẻm nhỏ, hay cần mẫn thu hoạch nông sản trên những cánh đồng.

Ở Turtuk, người dân sinh sống theo phương pháp tự cung tự cấp. Nhờ được sông Shayok bồi đắp và tưới tắm, họ canh tác lúa mì, kiều mạch và một số nông sản khác như cà chua, bắp cải. Đặc biệt, mơ là loại cây phổ biến và cũng là nguồn thu nhập chính của người dân làng Turtuk.

Dân làng họ đã sống hàng ngàn năm như thế, ko cần wi fi, sóng điện thoại và những tiện nghi của đời sống hiện đại, họ tự canh tác trồng trọt, xây dựng nhà cửa, nuôi dậy con cái….theo truyền thống. 
Và với tôi, văn minh không chỉ là một cách định nghĩa khái quát cho những gì thuộc về hiện đại, qua cách dân làng Turtuk sống chan hòa và gần gũi với thiên nhiên, họ dạy cho tôi biết một "định nghĩa" mới về văn minh.

copy từ FB-Hoàng Giang

Thursday, June 13, 2024

Dân ta khác với ''dân tộc thượng đẳng'' ntn

Sự khác nhau giữa Người Việt 🇻🇳và Người Đức 

** Khi trẻ con thắc mắc điều gì, người Đức  luôn giải thích cho chúng hiểu, còn người Việt thì quát ..." để cho ba/mẹ yên " hoặc không trả lời. 

** Người Đức  luôn nói câu " học cho bản thân con sau này chứ không phải học cho cha mẹ " , còn người Việt luôn nói... " Mày học sao thì học , đừng để tao xấu hổ với hàng xóm "

** Người Đức  tan sở làm là về thẳng nhà hoặc tranh thủ đón con hay mua đồ ăn .Còn người Việt tan sở thì lê la ra quán nhậu bàn chuyện thế sự , còn gia đình vợ con thì bỏ mặc .

** Người Đức ăn chậm , nói khẽ , đi nhanh , còn người Việt ăn nhanh , nói to , đi chậm. 

** Người Đức  luôn coi những người ăn to nói lớn hay la hét ngoài đường là người có vấn đề về thần kinh, còn người Việt lại coi đó là chuyện bình thường. 

** Trẻ con chạy nhảy té ngã , người Đức  luôn nhắc nhở con mình phải cẩn thận, còn người Việt thì vung tay đập xuống  đất thình thịch, vừa đánh vừa nói ..." chừa này chừa này , làm con tao ngã "

** Người Đức  gặp nhau thường hỏi về sức khỏe, còn người Việt thích hỏi chuyện tiền bạc và tuổi tác hay giục cưới vợ / chồng nếu người đó trên 30 hoặc giục sinh thêm nếu thấy vợ chồng bạn mình chỉ có một đứa .

**Người Đức  thích nói chuyện về du lịch và công việc , còn người Việt chỉ thích nói chuyện về tiền bạc , hàng hiệu và cho đó mới là thành công và sành điệu. 

** Đi ăn tiệc hay tới nhà ai chơi , người Đức  thường ăn hết món đó vì lịch sự, còn người Việt ăn giữ kẽ và thường không dám ăn hết vì sợ bị đánh giá  là mất lịch sự và chết đói .

** Người Đức  sau ly dị , thường coi nhau như bạn bè , còn người Việt khi hôn nhân tan vỡ, lại coi nhau như kẻ thù .

** Người Việt coi chuyện đánh vợ là " uy quyền " là " bản lĩnh " đàn ông , còn người Đức  thì coi đàn ông vũ phu là tên hèn .

** Người Đức thường thích tranh luận, còn người Việt chỉ thích dèm pha , bỉ bôi và chỉ trích cay độc. 

** Người Đức  muốn vào phòng con cái thường gõ cửa trước, còn người Việt thì xộc thẳng vào .

** Người Việt thường nói người Đức là  "phát xít " , là   " phân biệt chủng tộc " , nhưng Việt với Việt  lại " đì " nhau  hói trán hoặc phản ứng dữ dội khi con mình yêu một chàng trai hay cô gái da màu .

** Đối với người Đức  , khi con cái tới tuổi trưởng thành ( 18 tuổi) thì coi như hết trách nhiệm và luôn khuyến khích tự lập , còn người Việt cứ lo mãi cho tới đời cháu chắt, rồi sau đó lại than thở là khổ vì con cháu .

Monday, September 11, 2023

CÂU TRẢ LỜI CỦA NGƯỜI NGA

Andrey Piontkovsky (1940-) là một nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng người Nga, đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Moscow. Bài viết sau đây của ông, được viết và đăng tải trên tờ “The Russia Journal” ngay sau khi lực lượng Hồi giáo cực đoan tấn công New York và Washington ngày 11/9/2001, phân tích phản ứng của nước Nga trước sự kiện nổi bật này.

20 năm trôi qua, căn cứ và những sự kiện xảy ra trong một thập niên trở lại đây, góc nhìn của Andrey Piontkovsky về nước Nga của Putin - “nước Nga đã tự giải phóng mình khỏi ách nô dịch của những chủ thuyết đã lỗi thời và bắt đầu thấu hiểu những thực tế mới” - có vẻ quá lạc quan...

Theo ý nghĩa chính trị, thế kỷ 20 bắt đầu vào năm 1914. Trong năm ấy, đã đắm chìm con thuyền Titanic chính trị của nền văn minh Châu Âu, đứa con của Trào lưu Khai sáng, của Đại cách mạng Pháp, hay nói đúng hơn, đứa con của làn sóng thứ nhất của sự phát triển khoa học và kỹ thuật.

Thế giới sửng sốt và bàng hoàng, buộc phải bừng tỉnh rằng đường biên ngăn cắt văn minh với hỗn loạn, với sự căm thù, với bạo lực và cái chết, mới mỏng manh làm sao! Mùa hè 1914, ông của tôi, một giáo sư Đại học Saint Petersburg, đi nghỉ ở Karlsbad (*). Tháng 8-1914, ông bị cảnh sát Áo giam giữ rồi tống trở lại Nga. Ông qua đời vào mùa Giáng sinh 1915, không hẳn do những khổ ải mà ông phải trải qua trong thời gian bị tù đày, mà bởi ông không thể chịu nổi khi phải chứng kiến từ đầu đến cuối sự sụp đổ của thế giới và bảng giá trị mà ông vẫn tôn thờ.

Đối với ông tôi, một người châu Âu trong tâm tưởng, thế chiến là một đại thảm họa siêu hình, đồng nghĩa với sự phá hoại nền văn minh mà nước Nga cũng chiếm một phần trong đó. Nhưng may mắn thay, ông không phải chứng kiến những năm 1917, 1933 hay 1939. Sự bùng nổ của năm 1914 làm trỗi dậy những đợt sóng chỉ lặng dần vào năm 1989, khi bức tường Berlin sụp đổ. Đây là kết cục của thế kỷ 20, theo ý nghĩa chính trị.

Một số người - theo chân giáo sư Francis Fukuyama - đã dấn đến một bước trong suy nghĩ: lịch sử đã chấm dứt.

Ngày 11/9 mở đầu cho một thế kỷ chính trị bằng một tai họa mà chúng ta có thể so sánh với cảnh binh đao khói lửa tháng 8/1914. Nhất là vì lần này, chúng ta lại được thấy nền văn minh hiện đại - và còn sành sỏi hơn nữa trong nghĩa kỹ thuật - mới mỏng manh làm sao.

Thế giới có thể bắt gặp bộ mặt kinh hoàng của cuộc chiến mới, chưa hề tồn tại trong thế kỷ trước. Trong cuộc chiến này, kẻ thù luôn vô hình và ẩn danh, chúng có mặt ở mọi nơi và lại không hiện diện ở bất cứ nơi nào. Ngay cả quân đội hùng mạnh nhất của lịch sử cũng không đủ sức bảo vệ người dân của quốc gia mình trước kẻ thù này.

Như ông Rudolph Giuliani, thị trưởng New York, từng diễn đạt: “Số người bị thiệt mạng quá lớn để có thể chịu đựng nổi”. Bi kịch này không đơn thuần là tấn thảm kịch của nước Mỹ. Đây là lời tuyên chiến với toàn thế giới. Đây là bi kịch của cả nhân loại. Những sự kiện, một lần nữa, đã rọi chiếu những điểm dễ tổn thương của nền văn minh chúng ta, và trong một chớp mắt, chúng ta có thể liếc thấy “sự hỗn loạn cuộn xoáy dưới chúng ta”.

Thế kỷ mới này sẽ kéo dài đến bao giờ? Phải chăng những dao động của đợt sóng ngày 11/9 cũng chỉ lặng dần 75 năm sau? Và thử hỏi, có hay không nguy cơ những đợt sóng này sẽ nhận chìm vĩnh viễn nền văn minh thế giới?

Tất cả điều này chỉ phụ thuộc vào chúng ta - chúng ta, người Mỹ, người Nga, người Châu Âu, Ả Rập, những người con của những dân tộc và những châu lục khác nhau. Tất cả chúng ta đều phải đổi thay và phải nhận ra rằng “không ai có thể là một ốc đảo trong thế giới này”. Không ai có thể tự bảo vệ mình mà không nhờ đến sự giúp đỡ của kẻ khác. Tất cả chúng ta đều đi trên một con thuyền, con thuyền mỏng manh của nền văn minh chúng ta, đang bị bao phủ bởi những ngọn lửa của sự hỗn mang.

Theo chủ thuyết ngoại giao chính thức của nước Nga, bản chất của thế giới thời hiện đại là “cuộc chiến của những người ủng hộ một trận tự thế giới đa cực trước những thử nghiệm nhằm tạo dựng một thế giới nhất cực”. Nếu chúng ta để tâm nghiêm túc đến lời giải thích này - vốn mang tính tuyên truyền và có nguồn gốc từ quá khứ -, thì loạt khủng bố ngày 11/9 là những ví dụ “rực rỡ” của cuộc chiến kể trên.

Tuy nhiên, may mà vào ngày xảy ra tấn thảm kịch, tổng thống Nga và nhân dân Nga đã có một phản ứng, không xuất phát từ những chủ thuyết, mà từ tình nhân đạo và phẩm giá của riêng họ. Quan điểm chính thức của chính phủ Nga, cũng như những ngọn nến và những vòng hoa mà người Nga đặt trước tòa đại sứ và các cơ quan lãnh sự Mỹ, đã cho thấy: nước Nga đã tự giải phóng mình khỏi ách nô dịch của những chủ thuyết đã lỗi thời và bắt đầu thấu hiểu những thực tế mới. Và bản chất của việc này, không phải là cuộc chiến giữa một trật tự thế giới đơn cực và đa cực, cũng không phải đụng độ với những nền văn minh “tà giáo”, và cũng không phải bất đồng Bắc - Nam, mà là cuộc giao tranh giữa nền văn minh nhân loại và những ác quỷ trên thế gian.

Điều này cho chúng ta một hy vọng: thế kỷ mới của những cuộc chiến chinh và những đại biến động sẽ không kéo dài tới 75 năm.

(*) Tức Karlovy Vary, “thiên đường nghỉ dưỡng” tại Cộng hòa Czech.

Nguyễn Hoàng Linh

Saturday, August 20, 2022

Trung Hoa trỗi dậy và giấc mơ Trung Hoa (tiếp theo)

Một Trung Quốc đã thấm mệt (2) - Giấc mơ Trung Hoa

(tiếp theo và hết)

Khi ông Tập trở thành lãnh tụ vào 2012 với ông Vương là quân sư, TQ bước vào một giai đoạn mới. Xã hội TQ đã là một xã hội tiêu thụ, chủ nghĩa cá nhân đã thấm sâu vào giới trẻ, nhiều thập kỷ của tích lũy tư bản hoang dã đã xói mòn niềm tin giữa người và người. Bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn. 

Ông Tập và quân sư không thể nằm yên nhẫn nhục như ông Đặng vì nếu không sẽ muộn. Ông Tập và Vương phải cứu ĐCS TQ trước lúc những đổi thay của xã hội có khả năng vượt tầm kiểm soát. Đạp phanh cho sự xâm nhập của chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ thông qua toàn cầu hoá trở thành cấp bách.

Việc đầu tiên ông Tập làm là chính sách “Đả hổ diệt ruồi”, một cách để loại trừ đối thủ chính trị và giảm bớt nạn tham nhũng trầm kha. Nhiều quan tham từ cao tới thấp xộ khám. Nhiều cựu ủy viên bộ chính trị hay trung ương từng hét ra lửa nhận tù chung thân. Nhiều cán bộ tầm trung ra pháp trường. Người Hoa có dịp hả hê nhìn những kẻ ngã ngựa. 

Tin tưởng với lý thuyết của mình, giấc mơ Trung Hoa được nhắc đi nhắc lại và ông Tập chính thức đối đầu Mỹ khi đưa ra chính sách 2025 sẽ đuổi kịp Mỹ và 2050 TQ sẽ trở thành một nước tiên tiến. Theo lịch trình, chủ nghĩa Khổng Tử cũng như Marx được tôn sùng hoá. Trong một xã hội mà Quân Sư Phụ rạch ròi thì chủ nghĩa tự do cá nhân phải xuống hạng thứ yếu. Trên bảo dưới phải nghe, thiên tử giữ mệnh trời cai quản thiên hạ là lý thuyết của bao triều đại của nền văn minh Trung Hoa.

Có thể thấy được cái gì ông Tập và ông Vương đã làm để TQ không đi vào những con đường của Mỹ.

- Sờ gáy những đại công ty đang ngấp nghé chia xẻ cạnh tranh ảnh hưởng tới xã hội với đảng cầm quyền. Khi Jack Ma, chủ tịch tập đoàn Alibaba lên tiếng phê bình các ngân hàng nhà nước yếu kém thì sau đó không những phải về vườn mà của cải sau mấy tháng chỉ còn một nữa. Jack Ma vừa rồi viết một bức thư thống thiết xin dành phần đời còn lại của mình giúp đỡ cho nền giáo dục ở nông thôn. Baidu và Tencent cũng khạc ra mấy chục tỉ đô làm từ thiện và phủ phục cho chính phủ quản lý. Các CEO đều tự nguyện xuống lương và những người sáng lập các đại công ty dù còn trẻ vẫn về hưu. Về vấn đề lương bổng, CEO ở TQ nhận lương từ 10-20 lần lương trung bình người làm trong công ty mà còn bị xuống lương. Trong khi ở Mỹ lương CEO lớn hơn lương trung bình từ 200-700 lần và còn tiếp tục cao hơn. Qua đó ông Tập lấy lòng nhiều người lao động bình thường.

- Các thần tượng điện ảnh, âm nhạc lần lượt bị hạ bệ, ra đi không dấu vết. Tự do tôn sùng thần tượng xem như chấm hết. Âm nhạc điện ảnh tập trung xây dựng anh hùng “hảo hán”, lính bác Mao đánh lính Nhật Mỹ chạy toé khói. Lịch sử được viết lại. Ai kiếm soát được quá khứ thì kiểm soát tương lai, ai kiếm soát hiện tại thì kiếm soát quá khứ. Ông Tập kiểm soát được hết cả hai. Từ nay Hồng quân là lực lượng giải phóng TQ từ quân phiệt Nhật chứ chẳng phải Quốc Dân Đảng vốn là lực lượng hy sinh và có công nhiều nhất trong chiến tranh Trung Nhật.

- Internet vốn đem lại một khối lượng khổng lồ tin tức cho giới trẻ giờ bị tường lửa càng nặng nề. TQ xem như bế quan tỏa cảng. Chỉ còn CNN truy cập được nhưng cũng có lúc chập chờn. Tin nào không có lợi là bị cắt xén ngay.

- Một dân tộc, một chữ viết, một tiếng nói. Người Ngô Duy Nhĩ, người Tạng, người Mông và ngay cả người Quảng Đông, Quảng Tây cũng phải dùng tiếng quan thoại. Từ nay tiếng nói thiểu số không còn được dạy trong nhà trường. Các nhóm thiểu số phải phục tùng  đa số, tự chọn bị đồng hoá. Sự trừng phạt người Ngô Duy Nhĩ ở Tân Cương để đồng hoá họ là một sự nhức nhối về nhân quyền cho thế giới. 91% cư dân TQ tự nhận họ là người Hán mặc dù có rất nhiều sắc dân lớn như người Thanh không có nhiều huyết thống với người Hán. Không thể nào có một Martin Luther King cho Trung Hoa. Nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba được giải Nobel hoà bình nhưng chết trong lãng quên.

- TQ khuyến khích sinh đẻ, luật phá thai được xiết chặt. Các thành phố phải dành 20% số nhà xây dựng cho những gia đình thu nhập thấp. Chu cấp cho trẻ em được nâng lên. Ông Tập cấm dạy thêm học thêm sau giờ học ở trường. Điều đó làm nhiều cha mẹ tiết kiệm một số tiền lớn, hy vọng họ chịu khó đẻ nhiều hơn. Trẻ em chỉ được chơi game dưới 3 tiếng một tuần. Mục đích: số dân phải tăng. Các trường đại học minh bạch hoá việc tuyển chọn sinh viên, không có chuyện lý lịch (cái này thì những trường hàng đầu của Mỹ chắc không ưa, một số sinh viên của Ivy league của Mỹ được nhận vì thành phần gia đình hơn là học lực)

- Xã hội TQ trở thành số hoá cao độ, hầu như sự dịch chuyển cũng như hoạt động mỗi cá nhân đều có thể kiểm soát chặt bởi nhà nước. Camera nhận diện đấy đường. Nhân đại dịch COVID, nhà nước qua công nghệ AI ( trí khôn nhân tạo) càng xiết chặt hơn nữa luật lệ. Thông tin cá nhân không còn quan trọng trong mục đích chống dịch tập thể. Một người vì mọi người.

- Áp đặt luật Anh Ninh Quốc Gia ở Hồng Kông, đưa vào tù những sinh viên trẻ măng. Tự do cá nhân ở Hồng Kông xem như không còn được bảo vệ bởi hiến pháp Hồng Kông được Anh và TQ đồng ý khi trao trả Hồng Kông về cho lục địa.

- Các phong trào như LBGT, #Metoo, nữ quyền bị dẹp bỏ. Hệ thống mạng xã hội cho những phong trào này chấm dứt không lời từ giã. Vừa rồi bà Bành Soái một cây quần vợt nổi tiếng thế giới tố cáo bà bị ép tình bởi cựu phó thủ tướng TQ, bà biến mất một tháng và sau đó như không có gì xảy ra, trên mạng các tin liên quan dĩ nhiên cũng biến.

- Năm 79, quân đội TQ trầy trật không dạy cho Việt Nam được một bài học thì dưới thời ông Tập, quân đội được hiện đại hoá, hải quân sắp có hàng không mẫu hạm thứ 3. Chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa được khơi dậy đến tối đa. Từ giáo dục cho đến phim ảnh, người Hoa xấu xí của Lỗ Tấn không còn, ngược lại những chiến binh chó sói (wolf warrior) tài năng vô hạn là một biểu tượng mới của Trung Hoa. Chuyện gì xấu ở Mỹ cũng được báo chí mổ xẻ cho toàn dân biết. Chuyện TQ chống dịch COVID thành công được xem như là một ưu việt của xã hội khi tự do cá nhân được hy sinh cho quyền lợi tập thể. Chính sách zero COVID đang làm điêu đứng mọi người nhưng chẳng ai dám lên tiếng. Giới tinh hoa TQ đang ngậm miệng như thóc.

Việc hai ông Tập và Vương đưa chủ thuyết “Giấc Mộng Trung Hoa” như một lộ trình cho sự trỗi dậy trong những thập kỉ tới đã biến sự cạnh tranh Mỹ Trung trở thành một sự cạnh tranh về ý thức hệ (ideology). Như thế một cuộc chiến tranh lạnh đương nhiên phải xảy ra như sự đối đầu Mỹ Xô của thế kỉ 20.

Mỹ là một quốc gia với một chế độ chưa bao giờ hoàn hảo. Vương Hồ Ninh đã đúng khi chỉ ra những khuyết điểm có tính hệ thống của xã hội Mỹ, nhưng những giải pháp ông Tập và Vương đưa ra cho TQ có thể là một thí nghiệm chẳng mấy sáng sủa gì cho một phần năm nhân loại. Cạnh tranh ý thức hệ có thể dẫn tới chiến tranh khi trật tự toàn cầu bị đảo lộn, khi một siêu cường được quyết định bởi một người. Cứ nhìn Putin quyết định xâm lăng Ukraine thì thấy sự nguy hiểm của nhà nước toàn trị.

Người Hoa cũng như tất cả mọi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong thế kỉ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Trung Hoa bị các cường quốc Tây Phương xâu xé, từ chiến tranh nha phiến tới thảm sát Nam Kinh, rồi những trận đói kinh hoàng trong Cách mạng văn hoá, bao số phận con người chấm dứt trong bi thảm. Trong bối cảnh đó nhiều người Hoa phải tha hương cầu thực. Ở Mỹ đạo luật kỳ thị Chinese Exclusion Act từ 1883 cho tới 1943 không cho di dân người Hoa ở Mỹ được các quyền công dân buộc họ phải sống trong những Chinatown để tồn tại. Chỉ 40 năm qua, TQ không có những biến động và với những chính sách cho phép quyền sở hữu, cả một tỷ người làm việc ngày đêm mới có cơ ngơi hôm nay. Công lao phải kể đến những cải cách triệt để của Đặng Tiểu Bình và cộng sự của ông ở những thành phố lớn và đặc khu. Người Hoa giàu lên thì tự do cá nhân cũng được rộng rãi hơn. Đọc những tiểu thuyết của Mạc Ngôn, nhà văn được giải Nobel văn học thì cũng biết giới lãnh đạo TQ có chấp nhận một số lời nghịch nhĩ. Nhưng tới thời ông Tập thì không còn.

Tham vọng của ông Tập đưa TQ lên hàng đầu thế giới dựa trên một mô hình ý thức hệ chứa đầy rủi ro.

Ông Tập và Vương đều là những người uyên thâm về lịch sử kinh tế. Sự sụp đổ của Liên Xô đơn giản là vì mô hình tập trung kinh tế của Liên Xô không thể sản xuất ra của cải dồi dào như mô hình Mỹ. Loại trừ sự khát vọng của cá nhân về quyền sở hữu dẫn đến chẳng ai còn hứng thú trong công việc, không làm giàu được thì làm chăm chỉ làm gì. Ông Đặng mở ra cánh cửa tiền bạc và khát vọng tư hữu, người Hoa nào không biết phi thương bất phú và câu chuyện mèo trắng mèo đen?

Ông Tập khuyến khích những đầu tư do nhà nước quản lý ai cũng biết hiệu quả thấp hơn nhiều so với đầu tư tư nhân. Việc ông đem những công ty tư nhân năng động nhất phải chịu sự bảo hộ của Đảng CS TQ sẽ làm mất đi tính năng động rất cần trong thương trường. Jack Ma bị trừng phạt  chỉ vì phê phán vài câu và muốn cạnh tranh với hệ thống tài chính nhà nước. Sau đó tất cả các tình hoa kinh tế phải cùng hoà bản đồng ca suy tôn lãnh tụ. Cuối cùng mô hình TQ có làm ra được nhiều của cải hơn Mỹ hay không? Sự tăng trưởng về năng xuất cá nhân sẽ quyết định ai thắng ai trong cuộc đua tranh lần này. 

Những tiến bộ kỹ thuật người Hoa tận dụng để thay đổi TQ như tàu cao tốc, e-pay, Internet, 5G, chip bán dẫn, pin mặt trời, điện thoại thông minh không có cái nào được phát minh ở TQ. TQ học được từ sự chuyển giao công nghệ từ Mỹ và Tây Âu trong cơn sốt toàn cầu hoá và sự tham lam của tư bản tài chính Tây Phương không nghĩ đến đường dài. Vốn thông minh, người Hoa sao chép và có thể làm tốt hơn ở nhiều điểm cũng như chẳng tôn trọng tác quyền trí tuệ và một nguồn nhân lực dồi dào giúp giá thành rẻ hơn. 40 năm nay TQ chỉ được một giải Nobel về Y học về thuốc chống sốt rét được nghiên cứu trong những năm 70. Vài chục năm nữa chưa chắc có giải khác vì cung cách đầu tư cho khoa học không phải để đi đến tận cùng của học thuật. Các đại học TQ không có độc lập về học thuật cũng như tài chính. Giáo sư do nhà nước bổ nhiệm và không lựa lời mà phát biểu thì mất nồi gạo như chơi. Với một môi trường như thế thì rất khó cho những đột phá tư duy. 

Giới làm ăn TQ chờ Mỹ có gì thì sẽ kiếm một phiên bản sao chép. Có Uber thì có Didi, có Google thì có Baidu, có Amazon thì có Alibaba… Lúc Mỹ và Tây Phương hiểu ra và đối phó thì TQ ngấm đòn. Sự cấm vận về kỹ thuật cao của Mỹ gây rất nhiều trở ngại khó vượt qua. Thí dụ điển hình là hãng Huawei đang hùng hổ đòi lắp đặt hệ thống mạng 5G cho toàn thế giới và vượt Apple trong điện thoại thông minh. Hơn một năm sau khi Mỹ cấm bán chip cao cấp Huawei phải bán phần làm điện thoại cho hãng khác vì không có chip 5G và phần mạng 5G cũng mất bao khách hàng. Thương vụ của Huawei mất hơn 70 tỉ đô một năm. Trước lúc Mỹ cấm vận thì Huawei khẳng định lúc nào họ cũng có chip thay thế Made in China. Ông Tập và ông Vương không biết rằng để làm những cái chip đứng đầu thế giới, bao nhiêu sáng tạo từ những cá nhân người Mỹ và thế giới đã bỏ vào. Sự sáng tạo lúc nào cũng đi đôi với tự do cá nhân, phải làm khác, nghĩ khác, không vào đường mòn người khác đã đi và nhất quyết không có hô khẩu hiệu suy tôn lãnh tụ. 

Tự do cá nhân là một phần của đời sống Mỹ, tạo ra bản sắc của xã hội Mỹ dù tích cực hay tiêu cực. Có thể sau những khủng hoảng này, người Mỹ mọi màu da có thể tìm được một khế ước để chung sống mà vẫn giữ được tự do cá nhân tương đối cho mình. Hệ thống giáo dục của Mỹ trong vài thế hệ tới sẽ góp phần xóa nhòa  ranh giới về sự khác biệt chủng tộc, xây dựng một đồng thuận tương đối mà mỗi cá nhân có thể giữ được bản sắc riêng. Trong các trường đại học hàng đầu của Mỹ số sinh viên da màu đã xấp xỉ gần một nửa, bằng sinh viên da trắng. Giải pháp đó chẳng phải nhân bản hơn là sự áp đặt chuyên chính triệt tiêu tự do cá nhân như cách của Vương. Trong xã hội ông Tập, trăng Trung Hoa tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Trung Hoa tốt hơn đồng hồ Thuỵ sĩ. Không ai dám nói khác để bị đánh hội đồng. Người Hoa, qua những thăng trầm của lịch sử, biết cách giữ mình, họ ngoài mặt đồng tình với ông Tập mà chắc gì trong lòng đã ưa.

Huyền thoại về một “Mô hình tư bản mang bản sắc TQ chẳng bao giờ khủng hoảng” thật ra nằm trong sự tư hữu đất đai bởi nhà nước. Theo hiến pháp toàn bộ đất đai ở TQ thuộc về toàn dân do nhà nước quản lý. Mỗi năm chính phủ cho thuê đất để xây nhà có thể thu về hơn 1.500 tỉ đô, hơn 10% tổng sản lượng nội địa. Ngoài ra ngân hàng nhà nước và các công ty xây dựng nhà nước sở hữu một số nợ khổng lồ từ người mua nhà. Với thặng dư mậu dịch và nguồn nội tệ dồi dào, các nguy cơ khủng hoảng đều được giải quyết bởi các gói kích cầu khổng lồ. Những xa lộ ngang dọc TQ nhiều lúc vắng hoe hoặc những kiến trúc khủng đến từ những nguồn tiền đó. 

Nhưng đất đai không phải vô tận, số người mua nhà cũng giảm dần vì dân số giảm đi. Số nhà tồn kho có thể ở hơn 70 triệu người. Huyền thoại không khủng hoảng cũng có thể chấm dứt. Số nợ của các chính phủ địa phương đã lên tới 45% tổng sản lượng nội địa. Có thể thấy vì sao các thành phố TQ bây giờ đều hoành tráng, tất cả đều từ nợ công địa phương. Các công ty TQ cũng nợ như chúa chổm hơn 160% tổng sản lượng nội địa. Sở dĩ chưa dẫn tới khủng hoảng vì đa số nợ thanh khoản bằng tiền nhân dân tệ. Sự chạy nợ của công ty địa ốc lớn nhất Evergrande cho thấy: Đất bắt đầu chuyển dưới chân.

Từ mấy tháng vừa rồi, ủy ban điều tra trung ương tuyên bố điều tra 5, 6 lãnh đạo cao cấp nhất của ngành bán dẫn (semiconductor). Sau khi bơm hàng trăm tỉ Mỹ kim để đưa ngành này trở nên đối thủ của Đài Loan và Mỹ, ông Tập phải cay đắng chấp nhận mấy con chip của TQ vẫn lẹt đẹt thua xa người anh em cứng đầu Đài Loan, còn lâu mới kịp chip của Qualcomm, Intel. Chính phủ TQ vừa rồi phải bỏ thêm hàng chục tỉ đô cứu tập đoàn chip Thanh Hoa, nhiều cái đầu sẽ rơi trong thời gian tới.

Sau 10 năm cai trị của ông Tập , thất nghiệp của những người trẻ ở TQ bây giờ rất cao. Đến 20% người tuổi từ 20-24 không có việc làm.  Lạm phát phi mã nhất là các thành phố lớn. Tăng trưởng kinh tế cho năm 2022 sẽ khoảng 5%, thấp nhất trong 40 năm. TQ nhập cảng đến 60% năng lượng và một lượng lớn lương thực. Với một GDP còn thua Mỹ, lượng khí thải nhà kính lại gần gấp đôi Mỹ. Điều đó nói lên sự bất tối ưu trong sản xuất. 

Năm 2022, ông Tập sẽ chấp chính nhiệm kì thứ 3 trở thành lãnh tụ tối cao vĩnh viễn. Ông Vương với vị trí quân sư sẽ tiếp tục đường lối trấn áp tự do cá nhân, chuẩn bị tinh thần cho người Hoa vượt Mỹ. 

Nhưng ở 2022, một nước Trung Hoa cũng đã thấm mệt!

Tháng 8.2022

Nguyễn Tuấn

Trung Hoa trỗi dậy và giấc mơ Trung Hoa

 Một Trung Quốc đã thấm mệt (1) - Bài học Mỹ

Xin giới thiệu với bạn bè bài viết đồ sộ về Trung Quốc của Nguyễn Tuấn, một doanh nhân đã nhiều năm lăn lộn ở Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan…Bài khá dài nên tôi tạm chia thành hai kỳ.

---

Hơn hai mươi năm nay tôi đến Trung Hoa dễ cả trăm lần, vì công việc, vì du lịch và chứng kiến những đối thay của đất nước này. Hai năm vừa rồi đại dịch đi lại hết sức khó khăn. Ai vào Trung Hoa phải mua vé máy bay cắt cổ, chấp nhận ba tuần cách ly, hơn 10 lần ngoáy mũi, một mình một phòng khách sạn, cơm nước đạm bạc. Tôi cũng làm được vài chuyến, tổng cộng số ngày bị nhốt hơn hai tháng, hân  hạnh biết một Trung Hoa oằn mình trong chính sách zero COVID. Trong đời không có nhiều khi được hơn hai tháng không ai quấy rầy tha hồ đọc sách, khỏi làm việc nhà, trong cái rủi cũng có cái may.

Sau những ngày chật chội cách ly như ở tù ra được trời rộng là một niềm vui lớn. Anh bạn người Hoa đến đón biết ý lúc nào cũng đỗ xe ở điểm đầu tiên để vào Starbucks Reserve làm một ly cà phê. Starbucks ở những thành phố như Thẩm Quyến Thượng Hải rất tráng lệ, không dễ tìm thấy ở Mỹ. 9 đô một ly cà phê ở Mỹ chắc cũng ít người uống nhưng khách tấp nập.  Starbucks là một hiện tượng độc đáo ở Trung Quốc. Cho dù truyền thông ở đây ra rả chưởi Mỹ trong bối cảnh căng thẳng, Starbucks lúc nào cũng đông vui. Dẫu cho bao hàng cà phê nội địa ra sức cạnh tranh từ bắt chước logo cho tới trang trí, từ bán rẻ bằng nữa giá, Starbucks vẫn vượt xa chứng tỏ thương hiệu có một lôi cuốn đặc biệt với giới trẻ. 

Ngay những ngày này, bộ mặt Trung Hoa thay đổi đến chóng mặt ngay cả trong dịch COVID. Trong hai năm vừa rồi số nhà trọc trời Thẩm Quyến xây nhiều hơn cả thế giới cộng lại, metro hơn thêm mươi trạm, khai trương cây cầu dài 55 cây số qua biển nối Thẩm Quyến với Macao và Hồng Kông. Sự phồn hoa thấy rõ trên những đại lộ nhộn nhịp, thị tứ sang trọng và giá nhà đắt nhất thế giới, vượt qua New York với hơn 25,000 USD trên một mét vuông ở những khu tốt. Thẩm Quyến, như đại diện một Trung Hoa trẻ hoá như lời ông Tập, rầm rập đi tới, giấc mơ Trung Hoa trong tầm tay!

Trong khi Mỹ chìm đắm trong những cãi vã liên tục bất tận của các đảng phái, sự bất lực trong giải quyết các vấn đề về sắc tộc giữa da trắng và da màu, ma tuý, bạo lực súng ống, giàu nghèo…. thì chính quyền Trung Hoa tự tin chỉ dạy dân chúng ngày chúng ta qua mặt Mỹ không xa. 

Sự trỗi dậy của Trung Hoa trong 40 năm qua phải nói là thần kì. Từ một di sản đói nghèo do Mao để lại, Đặng và các người kế nghiệp của ông đã xây dựng một quốc gia với tổng sản lượng nội địa gần bằng Mỹ, nếu tính đến sức mua thì đã vượt Mỹ. Đặng bắt đầu chính sách xoá đói giảm nghèo cho hàng mấy trăm triệu người và thành công vượt bực. Năm 2021 TQ xuất khẩu 3400  tỉ Mỹ kim hàng hoá ra thế giới trong đó khoảng 600 tỉ vào Mỹ, dưới 20% cho nên bây giờ không Mỹ thì chợ vẫn đông. Chính sách thuế quan của Mỹ lên hàng TQ chẳng nhằm nhò gì, chỉ khổ người Mỹ phải nai lưng đóng thêm thuế hàng hoá trong khi lạm phát phi mã.

Sau khi Liên Xô sụp đổ vào 1991, nền dân chủ tư sản Tây Phương không còn đối thủ. Nói như triết gia Fukuyama là sự chấm dứt của lịch sử vì dân chủ tự do sẽ là mẫu mực cho nhân loại từ nay về sau. Với quan niệm đó, một Trung Hoa giàu lên sẽ là một Trung Hoa tự do hơn. Dòng tiền đầu tư toàn cầu ồ ạt đổ vào và một nền văn minh 5000 năm giật mình tỉnh giấc tham gia giấc mơ tư bản hóa. Đồng thời 40 năm qua cuộc cách mạng kỹ nghệ số cũng bùng nổ và với bản chất năng động trong thương trường,   sự cần cù và thông minh, người Hoa nắm bắt thời cơ, kiếm được thị phần, hiện đại hoá sản xuất. Tây Phương giật mình khi sau mấy thập kỉ, không còn hình ảnh của những người Hoa ốm o, lở loét đi làm đường sắt ở Mỹ, bán chạp phô, tiệm ăn Tàu rẽ tiền hay chui rúc trong những Chinatown dơ bẩn. 

Ngay cả loại người Hoa cùng đinh tha phương đi làm cu li đồn điền ở Mã Lai cũng tập hợp xây nên một Singapore đẹp đẽ và giàu có. Giới tính hoa Tây Phương tự hỏi vì sao nên nỗi này, ai tạo ra một đối thủ nặng ký?. Một Trung Hoa giàu lên sao không tự do hơn? Mấy trăm triệu người Hoa giai cấp trung lưu không màng tới bầu cử tự do, vẫn ủng hộ Đảng Cộng sản TQ, người chỉ huy một nền kinh tế tăng trưởng hai con số trong 40 năm mà có không có một cuộc khủng hoảng nào lớn. Khi những người Hoa vác những núi tiền đi ra thế giới đầu tư thì Mỹ chìm ngập trong những khủng hoảng, từ tài chính cho tới những cuộc chiến tranh không cần thiết, từ bạo lực xã hội, súng nổ máu rơi cho tới y tế ngốn 20% GDP mà người Mỹ vẫn không khỏe hơn người khác. Trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh đi đến cáo chung. Pax Sinica đang định hình cạnh tranh với Pax Americana trên mọi lĩnh vực.

Nhiều người tự hỏi tại sao một Trung Hoa giàu có và tự tin như vậy lại quên lời ông Đặng, từ từ mà tiến, che đậy mưu đồ, chờ thời cơ? Mấy mươi năm là chuyện nhỏ trong 5000 năm lịch sử. Tại sao ông Tập lại hùng hổ đòi vượt Mỹ, công khai thách thức trật tự thế giới, bắt nạt láng giềng nhỏ bé như Việt Nam và Phi Luật Tân? Ngay cả mấy đứa học sinh ở Hồng Kông cũng bị bỏ tù vì tội kêu gọi biểu tình. 

Một Trung Hoa giàu có nhưng cư xử không đáng mặt siêu cường.

Thật ra một Trung Hoa bây giờ đã thấm mệt, đừng nhìn những kiến trúc hoàn tráng mà nghĩ con đường trước mặt cho giấc mơ Trung Hoa là rộng mở và không gập ghềnh. 

40 năm qua, tiền của người Mỹ đổ vào đầu tư không tạo ra một đất nước với bầu cử tự do kiểu Mỹ. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã làm kiến trúc xã hội Mỹ và Hoa có nhiều điểm rất chung trong một vài liệt kê sau đây:

- Hố phân biệt giàu nghèo: 1% người Mỹ sở hữu 35% tổng tài sản xã hội. Ở TQ 1% người Hoa sở hữu 31%. Tích lũy tư bản ở Mỹ đã hơn 250 năm trong khi ở TQ mới 40 năm cho thấy sự thu tóm tư bản ở TQ là mãnh liệt lẫn bất công chừng nào. Chỉ số Gini (do Liên Hiệp Quốc đặt ra để chỉ về sự mất cân đối giàu nghèo) ở TQ là 0.47 còn lớn hơn 0.39 ở Mỹ. 

Một điều nực cười là ở TQ, chủ nghĩa Marx vẫn được kính trọng và sinh viên nào cũng học trong khi sự bóc lột của giới tư bản qua giá trị thặng dư của người lao động (tức là giá trị người lao động làm ra trừ đi tiền lương của họ) lại quá rõ ràng. Ở TQ, trong 40 năm qua, mấy trăm triệu người lao động từ thôn quê ra thành thị, đổ mồ hôi trong các hãng xưởng thiệt ra hưởng lợi rất ít. Giới giàu có phần lớn từ thành phần nhóm lợi ích và con ông cháu cha. Giới trẻ lớn lên có thể nhìn thấy điều đó và bất bình. Ở TQ ngày nay danh từ Thiên An Môn là tối kị nhưng giới lãnh đạo vẫn hiểu rằng, một thế hệ trẻ TQ, hiểu biết về nền dân chủ Tây Phương là một điều nguy hiểm, tiềm tàng những Thiên An Môn trong tương lai. Cứ nhìn dòng người biểu tình ở Hồng Kông là biết. Cho dù phim ảnh chính thống nhà nước không ngừng quản bá những giá trị cách mạng, không Hồng quân đánh cho Mỹ chạy dài trong chiến tranh Triều Tiên ở bộ phim đầu tư 200 triệu đô “Trận chiến hồ Changjin”, thì sắp tới đạo diễn huyền thoại Trương  Nghệ  Mưu lại ra bộ phim “Bắn Tỉa” cũng không kém phần hoàng tráng. Giới trẻ buổi chiều thứ bẩy làm Thượng Hải, Thẩm Quyến, Bắc Kinh nhộn nhịp giống New York, London nhiều hơn. Quần là áo lượt từ Chanel tới Hermes, Gucci tới Louis Vuitton mà không thấy một áo đại cán nào. Chủ nghĩa tiêu xài cá nhân, vốn xa lạ với người Hoa lớn tuổi giờ thành biểu tượng của tuổi trẻ ở đây. Trung Hoa trở thành thị trường lớn nhất cho hàng hoá xa xỉ, vượt qua Mỹ và Châu Âu. Dễ hiểu vì sao nhà máy lớn nhất của Tesla nằm ở Thượng Hải.  

- Hai quốc gia Mỹ và TQ cùng một vấn đề về phân bố dân cư trong sản xuất công nghệ : Cuộc cách mạng số và tin học trong 40 năm qua cùng với toàn cầu hoá đã làm nước Mỹ thay đổi toàn diện, dọc theo hai bờ biển là sự phồn thịnh với nền kinh tế mới gắn liền với sự ra đời của Internet và tự động hoá. Những tiểu bang phía trong trở nên nghèo đi khi những nhà máy đóng cửa và chuyển việc làm qua TQ, những nông trại tiêu điều, những thành phố nhỏ xuống cấp, cứ xem phim Nomadland hoặc American Factory là đau lòng thấy một bộ phận không nhỏ những người Mỹ bị bần cùng hoá vì không theo kịp kỹ thuật công nghệ. Thời kỳ vàng son của những nông trại hoặc thành phố nhỏ êm đềm được xem là nơi tạo ra những tính cách nước Mỹ giờ đã qua. Giờ đây nơi giàu có nhất nước Mỹ ở Silicon Valley người da trắng thành thiểu số. Có một nước Mỹ của người có tiền (the have) và không tiền (the have not). Trung Hoa cũng vậy , sự thịnh vượng chỉ thấy được dọc theo miền duyên hải và các thành phố lớn , đi sâu vào đất liền nông thôn cũng nghèo xơ xác, chỉ còn người già và trẻ nhỏ. 600 triệu người Hoa sống dưới 150 đô mỗi tháng. Người trẻ đều dồn về thành phố nơi công ăn việc làm dễ hơn nhưng đời sống đắt đỏ đã tạo ra một giai tầng giàu nghèo cách biệt quá lớn. Một cặp vợ chồng kỹ sư ở Thượng Hải với mức lương trung bình phải làm việc 55 năm không tiêu một đồng mới trả nỗi một căn hộ 100 mét vuông!

- Các đại công ty về công nghệ tin học có ảnh hưởng lên xã hội với khả năng vượt qua nhà nước : cứ nhìn những đại công ty mới ra đời trong 30 năm nay như Google, Facebook, Amazon ở Mỹ và tấm gương của những công ty này ở TQ là Baidu, Tencent và Alibaba đã tạo ra một sự độc quyền quá lớn với xã hội.  Facebook vì lợi nhuận sẳn sàng để tin vịt tràn ngập hoặc tự đóng tài khoản những nhà bất đồng chính kiến ở nhiều nước. Điều trần của Frances Haugen, cựu nhân viên cao cấp của Facebook trước Quốc Hội Mỹ nêu lên vấn đề rất lớn như ảnh hưởng tai hại của thông tin không kiểm chứng lên số đông dân chúng. Tencent qua cài đặt WeChat kiếm soát hơn 90% sự trả tiền qua phone ở TQ và thu lợi hàng chục triệu đô mỗi ngày. Alibaba thì với thị phần 53% về mua bán mạng ở TQ sẵn sàng ép đặt những luật chơi riêng cho những nhà cung cấp có lợi cho mình và bất lợi cho đối thủ. Alibaba là công ty khuyến khích người làm cho mình làm theo thời gian 996 (mỗi ngày từ 9 giờ sáng tới 9 giờ tối, 6 ngày một tuần), bóc lột tới bến. 72 tiếng làm việc một tuần lâu dài tạo những tai hại tinh thần cho người làm việc và những hệ quả xấu về sức khỏe.

- Mỹ và Trung Hoa là hai cường quốc đối diện với sự già nua của dân số. Nhưng với số sinh con trung bình của một phụ nữ Mỹ hiện tại khoảng 1.7 thì TQ là 1.3, thuộc loại thấp nhất thế giới. TQ đang trả giá cho chính sách một con trong  40 năm trước và với đà sụt giảm dân số trong 30 năm nữa TQ sẽ thiếu hụt mấy trăm triệu người lao động. Trước mắt một gánh nặng xã hội phải lo toan cho quá nhiều người già. Một cặp vợ chồng con một giờ phải vác gánh nặng lo cho tới 4 người già cả hai bên. Khi xã hội giàu lên thì người ta ít có con, giới trẻ TQ vốn được nuông chiều là con một giờ cũng chẳng tha thiết gì với chuyện con cái nhất là mưu sinh ở những thành phố lớn cũng đã quá ư khó khăn. “Chưa giàu đã già“ là quả bom nổ chậm.

Ông Tập, lúc còn là một cán bộ trung cấp năm 1985 trong một chuyến thăm viếng để học hỏi về nông nghiệp đã ở Iowa hai tuần với một gia đình người Mỹ. Sau này khi đã lên đến đỉnh cao quyền lực ông mời gia đình này qua TQ và đối đãi như thượng khách. Điều đó cho thầy ông là một người biết trọng lễ nghĩa. Chuyến đi đó cho ông thầy được đời sống nông thôn ở Mỹ, nơi chỉ hơn 3 triệu người có thể nuôi một nước Mỹ hơn 300 triệu với ê hề lương thực, còn xuất khẩu ra toàn thế giới. Ông Vương Hồ Ninh, trường ban tư tưởng trung ương, một trong 7 người trong ủy viên bộ chính trị đương nhiệm được xem như một quân sư cho ông Tập. Ông gần như là nhân vật thứ 2 trong thang quyền lực ở TQ và đã ở Mỹ gần sáu tháng vào 1988 lúc ông còn làm giáo sư trẻ nhất ở đại học Fudan. Với số tiền tài trợ ít ỏi, ông Vương đi thăm mấy chục tiểu bang, nhiều đại học nổi tiếng ở Mỹ. Cho dù nước Mỹ lúc đó đang thời kì cực thịnh sau những kích thích kinh tế của TT Reagan và TQ còn nghèo, xe đạp còn đầy đường ở Bắc Kinh, ông Vương quyết định trở về.  Ông viết những suy nghĩ từ chuyến đi và xuất bản cuốn sách “America against America“ vào năm 1991 lúc Liên Xô sụp đổ. 

Vào thời điểm những triết gia như Fukuyama nghĩ lịch sử đã chấm dứt. Vương cho rằng nền tảng của xã hội Mỹ dựa trên chủ nghĩa cá nhân (liberal individualism) và càng ngày chủ nghĩa tự do cá nhân càng tiến thì bình đẳng xã hội (social equality ) càng bị triệt tiêu. Tự do cá nhân càng lớn thì cá thể trong xã hội sẽ có nhiều khuynh hướng khác nhau dẫn tới toàn xã hội đánh mất giá trị cốt lõi cũng như truyền thống của mình. Mất đi giá trị cốt lõi xã hội sẽ suy yếu. Một khi tự do cá nhân được tôn trọng, người Mỹ gốc Châu Phi có thể nhìn lịch sử nước Mỹ qua lăng kính của chủ nghĩa nô lệ man rợ và những hệ lụy tới ngày nay, ngược lại những người da trắng theo đạo Tin Lành nhìn lịch sử nước Mỹ như một câu chuyện thần kỳ của những người bị áp bức đi tìm đất hứa, một dân tộc được Chúa chọn. Liệu hai khuynh hướng đó có hòa hợp với nhau trong đó cá nhân có tự do lựa chọn?. Tự do vô độ trong thương trường sẽ dẫn tới bất bình đẳng xã hội, người giàu xụ và kẻ nghèo mạt. Tự do cá nhân kiểu Tây Phương trong chiều hướng của những thập kỷ vừa qua từ phong trào nữ quyền, nhân quyền, LBGT…sẽ dẫn tới sự đa cực trong xã hội, sẽ tạo ra những đợt sóng ngầm, cho dù bề mặt thịnh vượng nhưng không thể giải quyết rốt ráo những vấn đề vì mỗi cá nhân đều có những đòi hỏi riêng để thỏa mãn tự do cho riêng mình. Vương cho rằng tự do cá nhân (liberal individualism) sẽ dẫn tới tự do triệt tiêu cá nhân (nihilistic individualism) khi cá nhân tự đánh mất và phủ nhận truyền thống của mình cũng như nghi hoặt về quá khứ. Vương Hồ Ninh rất giỏi tiếng Pháp và biết rằng những giá trị của thời đại phục hưng, về thế kỉ khai sáng ở Âu Châu đã làm Tây Phương phát triển không có đối thủ trong nhiều thế kỉ. Nếu xã hội Mỹ đánh mất những giá trị đó qua sự hồ nghi của mỗi cá nhân trong tự do chọn lựa thì sự gắn kết sẽ không còn. Cuốn sách của Vương gần như một lời tiên tri. Nước Mỹ trong mấy mươi năm qua hầu như không thể giải quyết được những vấn đề cấp bách như sắc tộc, di dân, súng đạn, ma túy, y tế, giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo. Cuộc tấn công vào toà nhà Quốc Hội được xem như một thí dụ cho lý thuyết của Vương. Sự đa cực dẫn tới những nhóm dân chúng chẳng còn gì chung. Hai Đảng Cộng Hoà và Dân Chủ hầu như chẳng bao giờ đồng ý với nhau điều gì. Ngay cả trong Đảng Dân chủ hay Cộng hòa cũng chia năm xẻ bảy. Sự chia rẽ ngập sâu vào nhiều gia đình, bạn bè làm suy yếu quốc gia: America against America! 

Nói như Tôn Tử, biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Vương, một giáo sư 33 tuổi đã hiểu những mâu thuẫn của xã hội Mỹ và bây giờ là người hoạch định chủ thuyết “Giấc Mơ Trung Hoa và Thịnh Vượng Chung” cho ông Tập. 

Với những suy nghĩ về nước Mỹ như thế Vương Hồ Ninh cho rằng nền dân chủ tư sản và sự tự do bình đẳng kiểu Tây Phương không phải là một giải pháp cho Trung Hoa. Vương muốn một nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh, trong đó tự do cá nhân là thứ yếu nhường chỗ cho đồng thuận tập thể. Và để kết nối những cá nhân thì có gì tốt hơn một giá trị cốt lõi của chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa: Giấc mơ Trung Hoa ra đời. 

Vương tượng trưng cho trào lưu tập quyền toàn trị trong giới cai trị TQ. Lịch sử Trung Hoa cũng cố niềm tin đó, từ Tần Hán Nguyên Minh Thanh, lúc nào hoàng đế vững mạnh thì bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng. Loạn sứ quân cuối thời nhà Thanh và sau cách mạng Tân Hợi vẫn còn là một ám ảnh khi một Trung Hoa hèn yếu bị xẻ thịt bởi liệt cường Tây Phương. Chiến tranh nha phiến, Thượng Hải trở thành tô giới, nhượng Đài Loan, Hồng Kong, Macau… cho ngoại quốc đối với nhiều người Hoa là những điểm ô nhục cho nước họ.

(còn tiếp)

Tháng 8.2022 

Nguyễn Tuấn

(copy từ FB-Thọ Nguyễn)

Wednesday, February 3, 2021

Nhận xét về thế giới: Cường quốc và nước nhược tiểu

Một số quốc gia giống như những cây lớn mọc thẳng và cao không cần hỗ trợ. Một số khác thì như tầm gửi, phụ thuộc vào cây khác để leo lên.

LÝ QUANG DIỆU

Wednesday, January 20, 2021

Thế giới: 100 năm thay đổi

Thế giới thay đổi theo những cách không thể hình dung nổi trong 100 năm qua

LÝ QUANG DIỆU

Sunday, August 30, 2020

Ấn Độ: Từ hôm qua đến ngày mai (13)

DI SẢN KHOA HỌC

Vishwanath S. Naravane

Từ lâu, người ta lầm tưởng rằng: những khuynh hướng duy tâm - thậm chí thần bí - của tư tưởng Ấn Độ hẳn phải cản trở việc quan sát và nghiên cứu tự nhiên 1 cách khách quan. Thế nhưng, chính môn siêu hình học quả quyết rằng: chỉ có Thượng Đế vô biên là thực tại tuyệt đối lại có thể chấp nhận cả thực tại tương đối của thế giới vật chất theo quan điểm thực tiễn và thực nghiệm.

Người Ấn Độ xưa nay cho rằng: mọi vật trong vũ trụ đều có 1 ý nghĩa nhất định nào đó, và vì thế phải được nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong những năm gần đây, sự cống hiến của Ấn Độ vào các ngành khoa học thực chứng như cơ khí, luyện kim, hóa chất, và nhất là toán học, thiên văn học và y học, đã được thừa nhận rộng rãi. Một số người còn một mực ca ngợi cái "trí thức cổ xưa" mà họ coi là đã chứa đựng dưới dạng phôi thai hầu hết các phát kiến của khoa học hiện đại. Nhưng rồi người ta đã dần dần có 1 sự đánh giá đúng mực hơn.

Môn toán học ở Ấn Độ đã có từ thời kinh Veda, khi mà việc xây dựng các đài tế lễ đòi hỏi những sự tính toán chính xác. Người tên tuổi nhất trong môn toán họcẤn Độ là Aryabhatta (cuối thế kỷ thứ 5 sau CN). Ông đã hoàn thiện hệ thập phân mà những người đi trước ông đã đề xuất. Những nhà toán học lỗi lạc khác là Brahmagupta (thế kỷ thứ 7), Mahavira (thế kỷ thứ 9) và Bhaskara (thế kỷ 12). Những người này đã thấu hiểu ý nghĩa của các lượng dương và lượng âm, giải được nhiều phương trình phức và xác lập được các phương pháp khai căn bậc 2 và bậc 3. Họ đã nghiên cứu rất sâu các thuộc tính của số không (shunya) và vô cực. Bhaskara đã chứng minh về mặt toán học rằng vô cực, dẫu có bị chia nhỏ đến đâu, vẫn là vô cực - điều đã được thừa nhận trên bình diện siêu hình ngay ở thế kỷ thứ 6 trước CN trong các tập kinh Upanishad.

Tượng Aryabhatta trong khuôn viên ĐH Thiên văn & Vật lý Thiên văn (IUCAA), Pune

Người Arập thường được coi là đã học của người Ấn Độ hệ thập phân dùng số không (0) và truyền lại cho các nhà khoa học châu Âu. Như vậy là Ấn Độ đã gián tiếp cung cấp nền tảng của toán học, 1 công cụ mà thiếu nó sẽ ko thể ra đời nhiều phát minh khoa học và kỹ thuật quan trọng ở phương Tây.
Cả trong lĩnh vực thiên văn học, Arybhatta cũng lại là 1 thiên tài có nhiều công lao khai phá. Ông đã xác định được độ dài thời gian của năm dương lịch là 365,3596805 ngày, 1 trị số khá sát với những tính toán ngày nay. Ông quả quyết rằng Trái Đất quay quanh trục của nó và chuyển động xung quanh Mặt Trời, 1 quan điểm mà vì nó 1.000 năm sau Galileo đã bị nhà thờ Thiên Chúa giáo kết tội. Một nhà thiên văn vĩ đại khác là Varahamihira, người đồng thời với Aryabhatta. Varahamihira rất am hiểu và sử dụng nhiều khái niệm của thiên văn học La Mã và Hy Lạp, trong đó có các cung của hoàng đạo. Các nhà thiên văn Ấn Độ đã miêu tả các phân điểm, dự báo các hiện tượng thiên thực và tính toán chính xác tới mức đáng kinh ngạc sự chuyển động của các hành tinh mà ko dùng đến kính thiên văn. 

Nếu như thiên văn học và toán học phát triển kết hợp với nhau thì những tiến bộ trong y học sẽ ko thể diễn ra nếu ko có những thành tựu trong hóa học và sinh vật. Ayurveda (Khoa Trường sinh) có từ thời kinh Veda. Các trước tác của Charaka (thế kỷ thứ 1 trước CN) và Suchruta (thế kỷ thứ 4 sau CN) đã đề cập tới hầu hết các khía cạnh của các khoa chẩn đoán và điều trị; Nghiên cứu tỉ mỉ các thuộc tính của các loài dược thảo, khoáng vật và muối, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ko khí và nước trong lành; xây dựng những nguyên tắc đạo đức trong nghề y; phát triển các dụng cụ và kỹ thuật mổ xẻ. Yoga với tác dụng trị liệu quan trọng đã cung cấp những kiến thức quý báu về hô hấp, tuần hoàn máu, hệ thần kinh và các hiệu ứng sinh lý của các trạng thái xúc cảm và thần bí.

Y học Ấn Độ được xây dựng trên các khái niệm dosha (các thể dịch) và guna (các thành tố của tự nhiên). Sự cân bằng giữa 3 dosha (hơi thở, máu và nước bọt) là điều kiện cần thiết để con người khỏe mạnh. Các guna cũng có 3 loại cơ bản: sattva (thanh khiết), rajas (dục vọng) và tamas (vô cảm). Ở người khỏe mạnh thì sattva phải áp đảo 2 yếu tố kia. Vai trò của thầy thuốc là dùng chế độ ăn uống, việc luyện tập thân thể và thuốc men để đạt tới trạng thái đó.

Thầy thuốc luôn luôn là người có uy tín trong xh Ấn Độ. Các guru, tức các lãnh tụ tinh thần, cũng đóng vai trò chữa bệnh. Quan niệm coi mọi sự sống đều là thiêng liêng đã khuyến khích sự phát triển của môn thú y. Đã có nhiều chuyên luận về cách chữa bệnh cho ngựa, voi và các loài chim muông khác

Đài thiên văn Jantar Mantar ở Jaipur, Rajasthan. Đài này do vua Sawai Jai Singh II đồng thời là 1 nhà thiên văn xây dựng vào đầu thế kỷ 18

Monday, July 20, 2020

Ấn Độ: Từ hôm qua đến ngày mai (12)

DỰ ÁN BẢO TỒN LOÀI HỔ

Rahul Singh*

Con hổ giữa môi trường tự nhiên của nó là 1 trong những cảnh tượng tuyệt đẹp của thiên nhiên. Hổ trưởng thành với bộ lông da cam vằn đen lộng lẫy tuyệt vời, nặng khoảng 230 kg và dài khoảng 3m.
Lúc yên nghỉ, hổ có những động tác yểu điệu và mềm mại, song nó lại là 1 con thú chồm lên vồ mồi 1 cách mau lẹ, dũng mãnh và hung dữ ko gì bằng. Ko có con vật nào khác gây ra 1 nỗi khiếp sợ, kinh hoàng bằng hổ và cũng ko có con vật nào khác được bọc trong 1 tấm màn bí ẩn như hổ.
Hổ ko sợ 1 loài dã thú nào mà nó chỉ có 1 kẻ thù ghê gớm duy nhất là con người. Con người ko những có thể hạ thủ hổ bằng súng đạn, thuốc độc và hầm bẫy mà còn có thể phá hủy môi trường sống của hổ bằng rìu và cưa máy.

Cách đây nửa thế kỷ, ở châu Á có ít nhất 60.000 con hổ. Con hổ cuối cùng được biết ở Indonesia đã bị giết chết sát ngày nổ ra Chiến tranh Thế giới thứ 2 và ít lâu sau, con hổ vùng Caspien cũng theo chân nó biến mất (Ngày nay, người ta đang cố gắng du nhập trở lại loài hổ vào 2 vùng trên).

Vì vậy, Ấn Độ đã trở thành sào huyệt lớn cuối cùng của loài hổ ở châu Á, nhưng cả ở đây nữa, con người cũng đã tàn phá loài này trên quy mô lớn. Vào đầu thế kỷ 20, Ấn Độ có khoảng 40.000 con hổ, đến năm 1972 chỉ còn có 2.000 con. Đối với các vương công Ấn Độ (Maharajah) giàu có, săn hổ ko chỉ là thú vui mà còn để khẳng định sự oai phong của mình. Một Maharajah kiêu hãnh khoe rằng: trong đời ông đã hạ được 1.150 con hổ, và những lần săn có tới 500 con hổ bị giết chết là chuyện thông thường.

Cảnh săn hổ trong 1 bức tranh cổ

Nhưng việc xóa bỏ trật tự PK cũng ko cải thiện tình hình được bao nhiêu. Nhanh chóng thay thế các ông hoàng là những kẻ săn bắn trộm (cách đây 20 năm, 1 bộ da hổ đã có giá 4.000 USD). Đồng thời sự bùng nổ dân số ở Ấn Độ hồi tuyên bố độc lập năm 1947, số dân ở Ấn Độ là 450 triệu, ngày nay hơn 800 triệu)[1] dẫn đến điều ko thể tránh khỏi là người dân xâm nhập những nơi là lãnh địa tự nhiên của loài hổ.

Việc biến rừng thành đất trồng trọt, đặc biệt ở vùng Terai trên biên giới Ấn Độ-Nêpan, đã xua đuổi hổ và những con mồi của nó ra khỏi nhiều khu vực trước kia có nhiều hổ. Ở những khu vực khác, những con hổ sống sót, ẩn náu trong những cánh rừng cuối cùng còn sót lại, đã phải tấn công gia súc để sống. Đến khi những tiếng chuông báo động bắt đầu được rung lên vào cuối những năm 1960 thì hổ đã là loài sắp bị tuyệt chủng tại Ấn Độ.

May thay, đại hội thế giới của Liên hiệp quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) họp tại Niu Đêli đã đánh dấu 1 bước ngoặt. IUCN đưa hổ vào danh sách các giống loài bị lâm nguy và yêu cầu cấm săn bắt hổ trên toàn thế giới. Biện pháp này đã được thi hành ngay tức khắc tại Ấn Độ. Ngày 01.04.1973, Dự án bảo tồn loài hổ, 1 dự án nhiều tham vọng, đã được chính phủ Ấn Độ chính thức phát động tại Công viên Quốc gia Corbett (bang Uttar Pradesh), gọi theo tên nhà săn thú huyền thoại người Anh Jim Corbett, sau trở thành người bảo vệ thiên nhiên. Dự án nhận được 1 triệu USD của Quỹ thế giới bảo vệ thiên nhiên (WWF) và ban đầu lập ra 8 khu bảo tồn loài hổ.

Một cảnh săn hổ thời thực dân

Theo Bittu Sehgal, giám đốc và là người sáng lập tạp chí Sanctuary, tờ chuyên san về thiên nhiên lớn nhất Ấn Độ, phương châm hoạt động của dự án này về cơ bản rất đơn giản: "Mỗi vùng bảo tồn được phân định ranh giới thành 1 khu trung tâm và 1 khu đệm. Tại khu trung tâm, hoạt động duy nhất mà con người được phép tiến hành là bảo vệ rừng. Tại đây, thiên nhiên được tự cai quản lấy mình. Trong khu đệm, các hoạt động của con người được giảm xuống mức tối thiểu, nghĩa là chỉ được khai thác những lâm sản thứ yếu như: cỏ, quả cây, hạt, mật ong và cành khô. Trên nguyên tắc, người ta trù tính là khu trung tâm được để mặc ở trạng thái tự nhiên sẽ nhanh chóng sinh sôi nảy nở vượt mức và tình hình ấy sẽ dần dần lan tràn sang khu đệm".

Chiến lược mới này đã cho những kết quả rất đáng khích lệ. Dần dần, loài hổ bắt đầu trở lại Ấn Độ. Cách đây 16 năm chỉ còn 44 con hổ trong công viên Corbett, ngày nay đã có gần 100 con. Trong khu rừng Ranthambhor trước kia thuộc quyền sở hữu của vương công Jaipur và hầu như được dành riêng cho việc săn hổ, số hổ đã tăng lên từ 14 con hồi đầu dự án lên 40 con.

Nhờ dự án bảo vệ loài hổ này, loài hổ đã được phục hồi 1 cách rõ rệt tại vùng Sundarbans, 1 vùng châu thổ rộng 10.000 km vuông, nằm 1 phần ở Banladesh 1 phần ở Ấn Độ, nơi các con sông Ganges, Brahmaputra và Meghna đổ vào vịnh Bengal. Đây là 1 tronh những dải rừng đước rộng lớn nhất thế giới và là 1 vùng mà hệ sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng. Hổ ở vùng này thích nghi với môi trường đến nỗi bơi giỏi và ăn cả cá, chúng ngày càng tấn công những người thợ rừng, những người đánh cá và những người lấy mật ong nhiều hơn.

Năm 1973, dự án này được phát động trên 1 diện tích rộng 2.500 km vuông trong vùng Sundarbans. Ban đầu, nhà đương cục tìm cách cấm dân chúng ra vào khu bảo tồn trung tâm, nhưng lệnh đó ko thực hiện được vì những người đánh cá và lấy mật vẫn ra vào khu vực cấm mặc dù nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy, đến năm 1981, 1 chiến lược mới được vạch ra. Tại 1 số địa điểm chọn lọc người ta đặt những hình nhân và truyền điện vào nhằm làm cho hổ sợ người: khi hổ vồ những hình nhân này thì nó bị phóng 1 luồng điện mạnh gây đau đớn.
Mẹo này xem chừng thành công. Kể từ ngày đó, số người bị hổ giết hại giảm hẳn. Đồng thời, do khu trung tâm được bảo vệ nên năng suất đánh cá và thu hoạch mật ong đã tăng gấp 3 lần trong 15 năm.

Như lời Sehgal, dự án này ko chỉ nhằm cứu vãn loài hổ mà còn cứu vãn cả hệ sinh thái, môi trường của hổ, và phân tích cho cùng thì cứu vãn cả chính loài người.

Hiện nay, số hổ ở Ấn Độ đã lên tới 4.000 con và cùng quá trình đó, những loài khác có nguy cơ bị tuyệt chủng tại Ấn Độ như voi, hươu, tê giác 1 sừng và trâu rừng cũng đã được phục hồi.

Nhưng chủ yếu, dân chúng Ấn Độ ngày nay đã nhận thức được rõ hơn tương lai của con người gắn chặt như thế nào với việc bảo tồn thiên nhiên. Việc tàn phá rừng ko chỉ đe dọa loài hổ mà còn là nguyên nhân gây ra những trận lụt khủng khiếp tàn phá miền Bắc và miền Đông nước này. Cách đây 20 năm, người ta ko gắn liền 2 sự kiện ấy với nhau. Riêng việc ngày nay người ta gắn 2 sự kiện ấy đã là 1 bước theo hướng đúng.

Hổ Bengal và hổ con trong Công viên Quốc gia Ranthambore
(còn nữa)

[1]: Dân số hiện tại của Ấn Độ là 1.380.850.131 người vào ngày 24/07/2020 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. Dân số Ấn Độ hiện chiếm 17,70% dân số thế giới.

*: Rahul Singh là Tổng biên tập tờ Sunday Observer, tờ báo Chủ nhật lớn nhất ở Ấn Độ, xb tại Bombay (Mumbai) và Đêli.

Wednesday, July 1, 2020

Ấn Độ: Từ hôm qua đến ngày mai (11)

LỄ HỘI Ở ẤN ĐỘ
Các bạn trở lại phần trước ở đây

Vishwanath S. Naravane

Du khách đến thăm Ấn Độ với ý nghĩ: Ấn Độ là 1 nước khắc khổ, rầu rĩ, sẽ xiết bao kinh ngạc trước niềm vui sống dào dạt của người Ấn Độ được thể hiện 1 cách sinh động và đặc sắc nhất trong các dịp hội hè có từ thời Cổ đại xa xưa. Những lễ hội này cho ta 1 cái nhìn khái quát về những truyền thống phong phú và lâu đời của người Ấn Độ. Trong đám người đông đảo, quần áo sặc sỡ đủ mọi màu sắc và nói nhiều thứ tiếng khác nhau, nông dân lẫn nhà quý tộc, kẻ hành khất lẫn nhà chiêm tinh, thi sĩ, nhà thuyết giáo lẫn kẻ hát rong đều cùng chung 1 sự nhiệt thành, 1 niềm say sưa, tạo nên hình ảnh vĩnh cửu của Ấn Độ.

Các lễ hội ở Ấn Độ hầu hết mang màu sắc tôn giáo, được điểm xuyết những bài thuyết giáo, những bài thánh ca và những tiết mục đọc thánh kinh. Mỗi lệ hội thường gắn liền với 1 vị thần riêng. Ví dụ: các lễ hội Rama Navami (tháng 3 hoặc tháng 4), Shiva Ratri (tháng 2 hoặc tháng 3) và Krishna Janmashtami (tháng 8) là những dịp thờ thần Rama, thần Shiva và thần Krishna. Ngày lễ nữ thần Durga được cử hành vào tháng 10, còn nữ thần Sarasvati bảo trợ khoa học và nghệ thuật, được thờ cúng vào đầu mùa Xuân.

Ratha, chiếc xe chở đền trong 1 đám rước. Chiếc xe nặng hàng tấn di chuyển nhờ sức của voi và các tín đồ 

Lịch Ấn Độ là âm lịch cho nên những đêm trăng tròn hay đầu tuần trăng đều mang 1 ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt. Những hiện tượng khác nhau trong tự nhiên cũng được sùng bái và tôn thờ. Có 1 ngày riêng để bày tỏ niềm biết ơn đối với những ân huệ của cây đa, và 1 ngày khác để thờ các naga (con rắn). Các mùa trong năm được đón chào bằng những ngày lễ tết. Vasant Panchmi (đầu tháng 2) là tết mùa Xuân. Mùa Thu được đón chào vào đêm trăng sáng nhất trong năm, tết Sharad Purnima (thường vào cuối tháng 10). Tại nơi hợp lưu giữa sông Ganges và sông Yamuna ở Allahabad, 1 lễ hội được tổ chức trong suốt tháng Magha (tháng Giêng-tháng 2). Cứ 12 năm 1 lần, lễ hội đó được gọi là Khumba Mela. Trong dịp lễ Khumba, đôi khi có tới hơn 5 triệu người đến tắm trong dòng nước thiêng này vào ngày Amavasya (đầu tuần trăng).

Lễ tết lớn nhất trong đạo Hồi là Id al-Fitr vào cuối kỳ nhịn ăn Ramadan kéo dài 1 tháng. Các tín đồ mặc quần áo mới đến dâng các bài kinh cầu tại giáo đường, tiếp đến là các hoạt động hội hè. Tết năm mới của người Parsi (Nauroz) và những ngày lễ Nôen và Phục sinh của đạo Kitô được tổ chức rất náo nhiệt. Ngày sinh của Đức Phật, Đức Mahavira và Giáo tổ Nanak (Giáo tổ của đạo Phật, đạo Jaina và đạo Xích) đều là những ngày quốc lễ. Tuy nhiên, hầu hết các lễ tết này đều thuộc truyền thống của người Hindi và hòa hợp 1 cách tốt đẹp các khía cạnh tôn giáo và thế tục trong cuộc sống. Những nghi lễ tôn giáo được kết hợp với những hoạt động vh: dân vũ, hòa tấu, kịch dân gian, múa rối, chọi thơ. Mấy năm gần đây, các nhà chính trị cũng nhân các cuộc tập hợp dân chúng này đến diễn thuyết.

Hàng triệu người đến tắm trong dòng nước thiêng vào dịp lễ hội Khumba (Ảnh: Dhyanam India Tours) 


Dussehra, DiwaliHoli là 3 tết lớn của người Hindi. Tết Dussehra kéo dài 10 ngày, được tổ chức để kỷ niệm chiến thắng của Rama, hiện thân của thần linh, trong cuộc giao chiến với Ravana, vua của quỷ sứ. Trong dịp tết này có trình diễn trích đoạn sử thi Ramayana. Tết Dussehra thường diễn ra vào tháng 10, tiếp đến 3 tuần sau là tết Diwali, lễ hội của ánh sáng. Nhà cửa được dọn dẹp và thắp đèn sáng trưng để đón nữ thần Lakshmi, nữ thần của sự giàu có và phồn vinh. Một nét đặc sắc của tết Diwali là người ta bày tỏ sự quý trọng các dụng cụ nghề nghiệp. Ví dụ, thợ vàng bạc và thợ mộc lau chùi bóng lộn các đồ dùng/công cụ của họ và bày hoa lên trên. Nhà buôn thì tỏ lòng tôn kính với quyển sổ thu chi; với nhà văn và họa sĩ là cây bút, lọ mực và bút vẽ.

Tết Diwali được cử hành vào đầu tuần trăng còn tết Holi, lễ hội của màu sắc, được cử hành vào đêm trăng tròn tháng Phalgun (tháng 3-tháng 4). Những đống lửa trại được đốt lên ở mọi góc phố để tẩy uế 1 cách tượng trưng cho ko khí khỏi mọi thứ xấu xa dơ bẩn. Sáng hôm sau, mọi người ra phố, vẩy nước màu vào người nhau. Cũng như các buổi tế lễ thần rượu ở Hy Lạp cổ đại, Holi là 1 ngày hội dân gian ko biết đến những điều cấm kỵ, phụ nữ được ra khỏi nơi khuê phòng, và các hàng rào đẳng cấp được dẹp bỏ. Đến trưa, mọi sự ồn ào náo nhiệt dừng lại. Mọi người tắm rửa rồi ôm hôn nhau, đem kẹo chia nhau. Holi được coi là lễ hội ưa thích của thần Krishna, người anh hùng đồng quê có vẻ đẹp làm mê mẩn tất cả các cô gái chăn bò trong làng. Trong dịp tết Holi, thần Krishna nhảy múa với các cô gái ấy, nhất là với nàng Radha mà thần yêu quý, và vẩy nước màu vào họ. Vì lẽ đó, ngày nay tết Holi vẫn được tổ chức đặc biệt vui vẻ náo nhiệt tại Vrindavan, quê hương của thần Krishna.

Tết Holi đầy màu sắc với thần Krishna và nàng Radha (Hình ảnh: WLT blog)

(còn nữa)