Showing posts with label sp. Show all posts
Showing posts with label sp. Show all posts

Thursday, February 27, 2025

Hành trình giữa các vì sao

 

“Khi mỗi tàu Voyager rời Trái đất để đến các hành tinh và các vì sao, nó mang theo một đĩa ghi âm vàng được bọc trong một cái bao tráng gương màu vàng, có chứa, cùng với những thứ khác: 

Lời chào bằng 59 ngôn ngữ của loài người và một ngôn ngữ của cá voi; một tập hợp hợp âm thanh dài 12 phút bao gồm nụ hôn, tiếng khóc trẻ thơ và bản ghi điện não đồ khi suy niệm của một phụ nữ trẻ đang yêu; 116 bức tranh được mã hoá về khoa học, về nền văn minh của chúng ta và về chính con người chúng ta; và những bản hit vĩ đại nhất Trái đất dài 90 phút-âm nhạc Đông và Tây, cổ điển và dân gian, bao gồm bản thánh ca đêm Navajo, bản nhạc shakuhachi của Nhật Bản, bài hát khởi đầu của cô gái người Pygmy, bài hát đám cưới của người Peru, tác phẩm 3 nghìn năm tuổi dành cho cổ cầm của Trung Quốc có nhan đề “Cao sơn lưu thuỷ”, nhạc Bach, Beethoven, Mozart, Stravinsky, Louis Armstrong, Blind Willie Johnson và “Johnny B.Goode” của Chuck Berry.

Không gian vũ trụ gần như trống rỗng. Hầu như không có cơ hội một trong số con tàu Voyager sẽ đi vào một hệ mặt trời khác-và điều này đúng ngay cả khi mọi ngôi sao trên bầu trời đều có các hành tinh đi kèm. Các hướng dẫn trên bao đĩa ghi âm, được viết bằng thứ mà chúng tôi cho là tượng hình khoa học có thể hiểu được, có thể được đọc, và nội dung của đĩa có thể hiểu được, chỉ khi những sinh vật ngoài hành tinh, ở một nơi nào đó trong tương lai xa xôi, tìm thấy Voyager trong sâu thẳm của không gian liên sao. Vì cả hai con tàu Voyager sẽ quay quanh tâm Ngân hà gần như mãi mãi, nên có rất nhiều thời gian để các đĩa ghi được tìm thấy-nếu có ai đó ngoài không gian kia đang tìm kiếm.

Chúng ta không thể biết họ sẽ hiểu đĩa ghi được bao nhiêu. Chắc chắn những lời chào sẽ rất khó hiểu, nhưng hàm ý của chúng có thể không (…) Bản thân mỗi con tàu Voyager chính là một thông điệp. Với ý định khám phá, với mục tiêu tham vọng cao cả, với ý định hoàn toàn không gây hại, và với sự xuất sắc trong thiết kế và hiệu năng, những con robot này đã đại diện một cách hùng hồn cho loài người chúng ta (….) Có lẽ những người ngoài hành tinh sẽ không gặp khó khăn gì trong việc giải mã đĩa ghi vàng này. Có lẽ họ sẽ nhận ra sự lưỡng lự của xã hội loài người, sự không phù hợp giữa công nghệ và trí tuệ của chúng ta. Có phải chúng ta đã tự huỷ hoại mình kể từ khi phóng tàu Voyager, họ có thể tự hỏi, hay chúng ta đã tiến đến những điều lớn lao hơn?

Hoặc có lẽ các đĩa ghi sẽ không bao giờ bị chặn lại. Có lẽ sẽ không ai trong 5 tỷ năm tới bắt gặp chúng. 5 tỷ năm là một khoảng thời gian dài. Trong 5 tỷ năm nữa, loài người sẽ tuyệt chủng hoặc tiến hoá thành những sinh vật khác, không có tạo tác nào của chúng ta còn tồn tại trên Trái đất, các lục địa sẽ thay đổi hoặc bị phá huỷ một cách không thể nhận ra, và sự tiến hoá của Mặt trời sẽ đốt cháy Trái đất thành tro bụi hoặc biến nó thành một cơn lốc của các nguyên tử.

Cách xa quê nhà, không bị ảnh hưởng bởi sự kiện xa xôi này, hai con tàu Voyager, mang những ký ức về một thế giới không còn nữa, sẽ vẫn tiếp tục bay”…

Đó là những dòng viết tuyệt vời và xúc động của Carl Sagan (1932-1996) trong cuốn sách “Đốm xanh mờ” của ông. Hai tàu vũ trụ không người lái Voyager 1 và 2 đã rời Trái đất vào cuối năm 1977 và đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc mở mang kiến thức của loài người khi bay tới thám hiểm tất cả các hành tinh trong hệ Mặt trời, sau đó bắt đầu một hành trình vô tận ra phía bên ngoài hệ Mặt trời, trở thành những sứ giả của loài người tới các vì sao và các thế giới khác. Giờ đây, hai con tàu Voyager vẫn đang bay, bay mãi, không bao giờ trở về nhà…

Trương Anh Ngọc

Tuesday, February 13, 2024

Bánh mì & cơm hay là câu chuyện East meets West (1)

Với con người hiện đại, Trái đất như nhỏ lại, ko còn những khoảng cách không thể hình dung, những nơi không thể đặt chân đến. Sự tiến bộ của khoa học và những cuộc cm đang thay đổi bộ mặt thế giới theo nhịp độ ngày càng tăng với những chuyển biến/phát triển theo nhiều hướng khác nhau, vì những lợi ích/mục đích khác nhau của từng quốc gia. Trong bối cảnh đó, những "nước lớn" luôn muốn đóng vai trò chủ đạo và tạo được ảnh hưởng sâu rộng của mình trên phạm vi toàn cầu, kể cả việc tác động đến những quốc gia nhỏ bé nhất...

Nước Mỹ đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế Châu Á, các nước được hưởng lợi nhiều nhất từ Mỹ (nguồn vốn, chuyển giao công nghệ và kiến thức quản lý) gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây hơn là Trung Quốc và Ấn Độ.

Bài viết này được tổng hợp và viết lại từ những bài của tôi đã đăng trên blog này và cập nhật, chỉnh sửa lại từ những tư liệu/thông tin mới về chủ đề này.

-----------

Vì thế mà East Meets West là cụm từ được nghe/nói ngày càng nhiều, nó phản ánh những gì đang diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Thật ra nó đã tồn tại từ xa xưa cùng những đoàn thuyền của các thương gia giương buồm vượt biển cả hay với những bước chân của lạc đà trên sa mạc và những nhà truyền giáo đến bất cứ nơi nào có con người sinh sống...

"Toàn cầu" và East Meets West với tôi bắt đầu từ cái bản đồ thế giới trên tường nhà (của bác tôi ở Ba Đồn), nó là nơi tôi lân la biết được vị trí của Việt Nam và các nước khác khi còn chưa biết chữ. Cái bản đồ mở ra sự tò mò về những quốc gia với các mảng màu khác nhau trong tôi. Và thế là cuộc hành trình bắt đầu...

Sự khác biệt giữa Đông và Tây đã có từ lâu trong quan niệm/cái nhìn về con người và đánh giá các giá trị khác nhau, bao gồm cả ý thức và triết lý mà chỉ cần bằng mắt cũng có thể thấy rõ từ những di sản để lại. Nếu Tây phương ca ngợi vẻ đẹp của cơ thể con người bằng những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ của Hy Lạp thì Đông phương tôn thờ cuộc sống an lạc/biểu tượng tuyệt đối của hạnh phúc với tượng Di Lặc và cái bụng phệ. Và còn rất nhiều, vô số những ví dụ về sự khác biệt này...

Và thời nay, khi chúng ta uống thuốc Tây theo toa của Bs thì trong các bệnh viện người ta cũng gây tê cho bệnh nhân bằng châm cứu. Và rượu tỏi, thức uống cổ xưa từ Ai Cập đã thành "thần dược" được WHO phổ biến trên phạm vi toàn cầu từ những năm 80s... Những phát minh, sáng tạo từ xa xưa cũng có thể trở thành ứng dụng phổ biến hiện nay... và vẫn còn nhiều điều khác đang được tìm hiểu.

Còn gì để khám phá về sự khác biệt, giống nhau và khác nhau? Rất nhiều, nói như Võ Phiến, chúng ta đang nhận ra nhau ngày càng rõ nét hơn cùng với thời gian. Trước đây, người Việt coi người Âu là "quỷ" thì sau nhận ra cùng là người cả, cũng hỷ, nộ, ái, ố vậy thôi... rồi sau đó, va chạm nhiều hơn, gần gũi hơn để lại thấy ...nghìn trùng xa cách...

Giống và khác nhau chứa đựng những gì bí ẩn nhất của mỗi người và của Đông phương và Tây phương. Vì thế nó là những giá trị đặc trưng, tuy càng ngày càng hiếm những gì được gọi là "thuần nhất", nếu không biết tôn trọng/giữ gìn thì cùng với những triển vọng lớn lao đang mở ra, cuối cùng thế giới sẽ đánh mất những gì là bản sắc riêng mang vẻ đẹp của mình.

Châu Á đã làm thế giới ngỡ ngàng với kỳ tích của những con rồng, con cọp trỗi dậy một cách thần kỳ trong thế kỷ 20. Quá trình  East Meets West/Âu hóa, điều đã mang đến những sự chuyển biến mạnh mẽ ở những quốc gia này đều gắn liền với tên tuổi của những nhà cải cách/lãnh đạo lừng danh. Tiếp nối Nhật Bản, là Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc và Singapore.

Singapore và con đường phát triển

Singapore là hiện tượng kỳ diệu ở ĐNA. Từ một thị trấn nghèo qua 3 thập niên với ý chí quyết đoán của người đứng đầu là Lý Quang Diệu*, Singapore đã trở thành “thiên đường của chủ nghĩa tư bản”. Năm 2014, GNP đầu người của nước này là 72.000 USD tính theo PPP. Xã hội thịnh vượng. Môi trường trong lành. Quan chức liêm khiết. Rất nhiều nước muốn học hỏi (trong đó có TQ), nhưng có nhiều điều không thể bắt chước và cũng có nhiều điều người ta không muốn bắt chước. Bởi Singapore phát triển trong những nghịch lý không dễ lý giải, mà nghịch lý lớn nhất là “cất cánh” rồi “hóa rồng” trong môi trường ít nhiều độc đoán, độc tài. Tự do, dân chủ bị quản lý chặt. Nhà nước can thiệp sâu vào đời sống, thậm chí đời sống riêng tư của người dân. Kinh tế thị trường sôi động nhưng “bàn tay vô hình” của nó bị điều khiển bởi nhà nước. Tôn vinh đặc thù châu Á nhưng rất gần với phương Tây. Rất chú ý đến tính xã hội của sự phát triển nhưng lại xây dựng thành công một kiểu xã hội tư bản chủ nghĩa.

Ý chí cá nhân của Lý Quang Diệu được coi là nguyên nhân quan trọng làm nên sự thành công của Singapore. Và đó cũng lại là nguyên nhân khiến Singapore hiện ra không chỉ với toàn những điều tốt đẹp. Nhưng sự thịnh vượng đã làm mờ những điều không mấy nhân đạo trong sự phát triển của Singapore, che đậy và xóa đi các “vết đen” lịch sử.

Lý Quang Diệu được nhiều học giả coi là đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng rốt cuộc, ông lại là người hết lòng xây dựng chủ nghĩa tư bản. Singapore của ông là tấm gương rực rỡ cho sự thành công của một “thiên đường tư bản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa tư bản sạch” (Clean Capitalism, Capitalist Paradise). Lý Quang Diệu nhiệt thành tin tưởng vào giá trị về trách nhiệm xã hội, một giá trị cốt lõi của Khổng giáo. Singapore hiện đại được ông xây dựng theo mô hình của những giá trị châu Á. Trong mắt ông, giá trị phương Tây khác biệt đáng kể nên khó phù hợp. Nhưng Singapore ngày nay, hơn bất cứ một quốc gia châu Á nào khác, kể cả Nhật Bản, lại rất giống phương Tây.

Đánh giá về Lý Quang Diệu, Tom Plate, nhà báo nổi tiếng của tờ Los Angeles Time cho rằng:

“Thế kỷ 20 đã có không biết bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu linh hồn bị hủy hoại chỉ vì một lãnh tụ có thái độ mù quáng tôn thờ một chân lý duy nhất. Lý Quang Diệu không muốn trở thành nhà lãnh đạo kiểu đó. Thực tế ông bị quyến rũ bởi vũ điệu của những ý tưởng thông minh chứ không phải những bước nhảy ngớ ngẩn, vụng về của quỷ dữ. Ông cũng hoàn toàn không phải là một kẻ lập dị như Pol Pot hay một tiểu Hitler nông nổi”… “Lý Quang Diệu giống như Muhamad Ali vĩ đại, di chuyển nhẹ như bướm và đốt đau như ong (bạn không nên ghi tên mình vào danh sách đen của ông, vì nếu thế bạn sẽ bị ông dồn vào góc tường, kiện bạn đến cùng và bạn sẽ xong đời)”… “Singapore hẳn nhiên không phải là thiên đường đối với kẻ buôn bán ma túy, cũng nhất định không phải là thiên đường trên mặt đất đối với những người phản đối chính phủ và đảng cầm quyền. Trong những nghề có đặc quyền riêng mà bạn thấy đáng tự hào ở phương Tây thì luật sư bào chữa các vụ án hình sự ở Singapore của Lý Quang Diệu ít có quyền lực hơn nhiều. Những người ủng hộ tu chính án thứ nhất hẳn sẽ không thấy có niềm vui của xứ Utopia khi phải đối mặt với đường giới hạn tinh vi nhưng rất nghiêm ngặt dành cho giới truyền thông ở đây”.

Hình ảnh: chọn từ net

Mặc dù giữa nước Ý thế kỷ 16 và Singapore thế kỷ 20 là cách nhau quá xa, nhưng những điều được phân tích trong tác phẩm của Niccolò Machiavelli và phương thức lãnh đạo đất nước của Lý Quang Diệu lại có những điểm tương đồng đến kỳ lạ. Được biết Lý Quang Diệu cũng rất mê Machiaveli và đây chính là lý do để Uri Gordon so sánh Lý Quang Diệu với những “nguyên tắc Machiaveli”.

Cần phải nói đôi điều về Machiaveli trước khi bàn đến sự so sánh của Uri Gordon. Niccolò di Bernardo dei Machiavelli (1469-1527), ông tổ của khoa học chính trị hiện đại, nhà ngoại giao, nhà triết học, “một nhân vật khổng lồ của thời đại Phục hưng” (theo lời Friedrich Engels). Ông được biết đến với các luận thuyết vô cùng sắc sảo nêu rõ bộ mặt của chủ nghĩa hiện thực chính trị (trong tác phẩm The Prince) và bản chất của nền cộng hòa (trong tác phẩm Discourses on Livy). Hai cuốn sách này cùng với cuốn History of Florence trở thành mô hình kinh điển chỉ dẫn cho nhiều nhà cầm quyền và cho các phân tích chính trị từ thế kỷ 16 đến nay. Theo Machiaveli, “Bậc quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú, biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẫy, còn cáo thì lại không thể chống lại sói. Vì thế, cần phải là cáo để nhận ra những cạm bẫy, và là sư tử để dọa sói”. Chính Lý Quang Diệu cũng có vẻ rất tâm đắc với tư tưởng này, khi ông bình luận về Machiaveli rằng: “Giữa được yêu thương và được sợ hãi, tôi luôn tin rằng Machiavelli đúng. Nếu không ai sợ tôi, thì tôi chẳng có ý nghĩa gì” (“Between being loved and being feared, I have always believed Machiavelli was right. If nobody is afraid of me, I’m meaningless”).

Nguyên tắc Machiaveli là nguyên tắc của nền chuyên chính tư sản. Tất cả đều do ý chí, tâm hồn, hành động của con người quyết định. Nhà chính trị mẫu mực là người có đầu óc phê bình mạnh bạo, có tư tưởng duy lý phi tôn giáo, có lòng căm ghét bọn quý tộc ăn bám, và có khát vọng muốn xây dựng đất nước (thời đó và đất nước mà Machiveli nói đến là Italia) thành một quốc gia thống nhất, tự do, bình đẳng với một chính quyền mạnh, sử dụng bạo lực để xây dựng trật tự mới. Theo Machiaveli, con người muốn xứng đáng là một con người phải tiến thẳng vững vàng tới mục đích. Mục đích sẽ chứng minh tính đúng đắn của biện pháp. Machiavelli cũng đưa ra vô số lời khuyên về những thủ đoạn mà các quân vương nên áp dụng. Theo Machiavelli, đấng quân vương nào muốn thành công thì phải học được cách gác lòng tốt sang một bên, việc có vận dụng nó hay không tùy thuộc vào thời thế. Một quân vương, theo ông, cần biết tùy thời mà tốt hay không tốt, nhưng phải làm ra vẻ mình có đầy đủ mọi đức tính. Điều quan trọng nhất đối với quân vương là cần tránh bị khinh miệt và thù ghét. Machiavelli cũng thấy rất rõ tầm quan trọng của “lòng dân”. “Không có chính sách nào toàn vẹn, cần phải biết chọn lấy cái bất lợi nhỏ nhất” – tư tưởng này cũng được coi là một nguyên tắc Machiaveli.

Theo Uri Gordon, các quan điểm và hành động chính trị của Lý Quang Diệu chính là sự giải thích một cách mạnh mẽ cho tính hiệu quả của các “nguyên tắc Machiavelli”. Ông Lý đã chủ động vận dụng các nguyên tắc Machiaveli, kể cả trong việc đưa ra luận thuyết “giá trị châu Á”.

Trên thực tế, đảng cầm quyền luôn thực thi các hành động chính trị nhằm tìm mọi cách duy trì chế độ độc đoán, dập tắt các bất mãn và nghiền nát các lực lượng đối lập. Singapore là một đất nước mà quyền con người được xem là không cần thiết trong cuộc đua phát triển kinh tế. Dựa vào lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản hiện đại Singapore, chính phủ cung cấp cho các công dân của mình các loại phúc lợi với chi phí lấy từ lao động của họ. “Phe đối lập được chờ sẵn các án tù chính trị. Chính phủ kiểm soát toàn bộ quá trình bầu cử và tiến hành các vụ kiện đối với bất kỳ lời phát biểu nào chống lại chính quyền. Mọi sự phê phán chính quyền đều biến thành hành động tự sát chính trị. Ban cho dân một cuộc sống mà chính phủ có thể tự do kiểm soát, Lý và các phụ tá của ông có thể được xem như là đệ tử thuần thành của nhà nước kiểu Florentine”.

Khi Singapore được cả thế giới nhìn nhận là một đảo quốc thịnh vượng, an toàn và trong sạch, với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới, người ta thường chỉ rút ra kết luận rằng: nếu không có một nhà lãnh đạo như ông Lý, Singapore sẽ phải mất nhiều thời gian hơn để đạt được những thành tựu mà thế giới đang chứng kiến và muốn bắt chước. Theo chúng tôi, nếu Uri Gordon không thiên kiến, thì đúng là Lý Quang Diệu đã một lần nữa chứng minh cho quan điểm chuyên chính cực đoan tư bản chủ nghĩa – Mục đích có thể biện minh cho biện pháp, dù biện pháp ấy chẳng hề chính đáng chút nào.

Kết luận

Kể từ nền dân chủ Athens, loài người đã 2500 năm đi theo con đường dân chủ tự do với lịch sử đầy máu và nước mắt. Càng ngày, các dân tộc càng nhận thấy “nhân quyền, tự do, dân chủ là xu hướng không thể đảo ngược và là đòi hỏi khách quan của xã hội loài người”. Ở Việt Nam, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh mẽ khẳng định điều này. Dân chủ, bản thân nó có thể tạo ra nguồn lực cho sự phát triển. Dân chủ trong phát triển là phương thức hữu hiệu nhất để tránh phải trả giá. Dân chủ có khả năng đem lại hạnh phúc hợp lý cho các xã hội, cho từng con người, từ lãnh tụ tới người dân. Ngày nay không lý lẽ nào có thể biện minh nổi cho sự phát triển mà phải sự hy sinh con người, dù đó là một cá nhân, một cộng đồng hay một thế hệ. Hàn Quốc, Đài Loan ngày nay là các xã hội có trình độ dân chủ cao của châu Á. Nghịch lý Singapore có thể không dễ lý giải, nhưng cũng không phải là bằng chứng cho sự đi ngược lại xu thế tự do dân chủ.

(còn nữa)

(*): Lee sinh ra ở Singapore trong thời kỳ thuộc địa của Anh. Sau khi tốt nghiệp Học viện Raffles, anh giành được học bổng vào trường Cao đẳng Raffles (nay là Đại học Quốc gia Singapore). Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, Lee đã trốn thoát khỏi việc trở thành nạn nhân của một cuộc thanh trừng,[2] trước khi bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình khi làm nhân viên hành chính cho văn phòng tuyên truyền của Nhật Bản. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, Lee theo học một thời gian ngắn tại Trường Kinh tế Luân Đôn trước khi chuyển đến Cao đẳng Fitzwilliam, Cambridge để học luật, tốt nghiệp với tấm bằng kép đầu tiên vào năm 1947. Khi trở về Singapore, ông hành nghề luật sư và luật sư trong khi vận động tranh cử cho người Anh từ bỏ chế độ thuộc địa của họ.

Lý Quang Diệu (Hình ảnh chọn từ net)

Note: Trong phần này, tôi đã trích dẫn từ bài viết của tác giả: Hồ Sĩ Quý,GS.TS., Nguyên trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội (Bài viết này đã được xuất bản lần đầu trong “Khoa học xã hội Việt Nam” số 7 (92) 2015)

Thursday, September 7, 2023

Chân lý của tôi: Từ cuộc cách mạng giành độc lập và chặng đường đến tương lai (5)

 Phần 2: Xứ ĐD thời kỳ 1911-1945

(tiếp theo)

Con đường Hồ Chí Minh & Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02-09-1945

NHÀ LÃNH ĐẠO BẬC THẦY

Thời điểm này cũng là một bước ngoặt lớn. Thế chiến thứ 2 nổ ra, người Nhật đã chiếm quyền kiểm soát ĐD mà không vấp phải bất cứ sự chống trả nào. Giới cầm quyền tại đây (hầu hết thuộc chính quyền Vichy) đã chấp nhận hợp tác với người Nhật. Bằng sự táo bạo và "ảo tưởng" tuyệt vời, HCM đã lợi dụng Thế chiến thứ 2 để tập hợp một liên minh những người theo chủ nghĩa dân tộc và những người cộng sản VN để thành lập tổ chức gọi là Việt Minh (tức Mặt trận Độc lập).

Việt Minh đã phát triển một lực lượng du kích lên đến khoảng 10 nghìn người. Những "Người đàn ông mặc áo đen" này đã quả cảm chiến đấu chống lại quân Nhật trong rừng rậm và tạo nên nhiều thành công đáng kể.

Những hành động của HCM đã đưa ông trở thành là 1 nhà dân tộc chủ nghĩa của VN và là đồng minh của Hoa Kỳ chống lại người Nhật. Ông nói: 

❝Tôi đã là một người Cộng Sản, nhưng không còn nữa. Tôi là một người con của đất nước Việt Nam, và không là gì khác.❞

Năm 1942, các báo cáo cho thấy HCM đã đến Côn Minh theo đề xuất của các cố vấn quân sự Mỹ. Ông bị bắt tại đó bởi người của Tưởng Giới Thạch và bị cầm tù cho đến tháng 9/1943 trước khi được trả tự do theo yêu cầu (được cho) là của phía Mỹ. 

Trong quá trình được trả tự do, HCM đã hợp tác với một tướng lĩnh Quốc Dân Đảng (tướng Trương Phát Khuê) để thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong tại miền Nam TQ thành 1 khối thống nhất mà hệ quả của nó là vào năm 1944, HCM đã chấp nhận trở thành người đứng đầu của Chính phủ Cộng hòa Lâm thời VN. Chính phủ này tuy chủ yếu chỉ là hình thức trên giấy, nhưng nó đã cho phép HCM gửi một thông điệp mạnh mẽ đến Cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS). Vì vậy, khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội năm 1945, trong đoàn tùy tùng của ông có mặt những sĩ quan quân sự cấp cao của Mỹ. Cũng trong giai đoạn này, ông đã lấy tên chính thức là Hồ Chí Minh*.

OSS chụp ảnh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh tư liệu chọn từ net)

Đội Nai - OSS và Cơ hội bị bỏ lỡ 

Năm 1945, Đội Nai - OSS (Deer Team - Office of Strategic Services) đã nhảy dù xuống khu rừng già Kim Lũng, Tân Trào. Ở đây họ đã gặp Mr. Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) với nhiệm vụ huấn luyện Việt Minh cách sử dụng vũ khí bộ binh. Trong 2 tuần rưỡi, họ đã huấn luyện cho 85 người. Tất cả những người này đều thông minh, có học thức và trở thành hạt nhân của quân đội HCM.

Bộ phim tài liệu "Có một cơ hội bị bỏ lỡ" (đạo diễn Nguyễn Mộng Long) được thực hiện về Henry Arthur Prunier, một trong số 7 thành viên của Deer Team - OSS (DTO). Ông Henry từng học tại Đại học Berkeley và học tiếng Việt (sau khi gia nhập quân đội). Sau đó ông được Cục Tình báo Chiến lược (OSS) tuyển chọn và tiếp tục huấn luyện đặc biệt cho đến khi đến Texas học lớp huấn luyện cơ bản để chuẩn bị cho nhiệm vụ "tình nguyện đến Đông Dương". Sau đó, ông được chuyển đến Calcutta và bay đến căn cứ OSS tại Côn Minh. Đội DTO được thành lập ngày 16.05.1945 và chuẩn bị nhảy dù xuống căn cứ của Việt Minh vào tháng 8 cùng năm với nhiệm vụ mới.

      Nói về Chủ tịch HCM, Henry Prunier thuật lại: "lúc mới đến, ông chưa thể gặp ngay Mr. Hồ, bởi lúc ấy Mr. Hồ bị bệnh sốt rét và một số bệnh nhiệt đới khá nặng. Quân y sĩ Paul Hoagland của DTO đã điều trị cho ông bằng ký ninh với một phác đồ thuốc trị liệu và sau đó, tình hình đã khá hơn một chút. Khi tôi gặp ông ấy, ông ta chỉ có da bọc xương. Tuy nhiên, ông có cặp mắt sáng. Đôi mắt của ông rất sáng, và rất thông minh. Tôi thực sự thoải mái khi trò chuyện với ông ấy. Ông ấy nói được tiếng Anh. Nhưng tôi với ông ấy trao đổi với nhau bằng tiếng Pháp. Tiếng Việt của tôi không đủ để trò chuyện (dù đã được học 3 năm và đảm nhiệm vai trò phiên dịch của DTO). Khi tôi nói là tôi ở Massachusetts, ông đã vui vẻ nói về chuyện này bởi vì ông từng có thời gian ở Boston. Trong thực tế, ông đã ghi chú lên sổ văn phòng của Parker House, vốn là khách sạn nổi tiếng tại Boston. Ông đã có thời gian ở Boston nhưng lưu lại ở New York lâu hơn..."

      Bộ phim như "những trang hồi ký" làm sáng tỏ quá khứ của Henry với những ý kiến, bài viết của một số nhà nghiên cứu sử học, nhà báo, cựu chiến binh... trong và ngoài nước về những khởi đầu trong quan hệ Việt Mỹ. Đặc biệt là cuộc phỏng vấn đại tá Archimedes Patti nói về chính sách của Mỹ đối với VN năm 1945. Patti từng phụ trách Ban ĐD thuộc Pháp của OSS, là người đứng đầu phái bộ tiền trạm OSS đến Hà Nội vào tháng 8.1945 và tiếp xúc mấy lần với Chủ tịch HCM. Patti được coi là một trong số những "người trong cuộc" hiểu biết rất nhiều tình hình lịch sử VN.

     Có hai vấn đề chính được đặt ra trong phim:

      1. Trong lịch sử quan hệ Việt Mỹ, từng có sự hợp tác và tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa OSS với Việt Minh trong thời kỳ chống phát xít Nhật. Nhưng tại sao DTO đã sớm rút đi và những bức thư của Chủ tịch HCM gửi chính phủ Mỹ, trong đó có nội dung chủ yếu "...Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ"; thế nhưng Tổng thống Truman đã không trả lời bất cứ văn bản nào.

      2. Vì sao người Mỹ lại ủng hộ Pháp chiếm lại ĐD? Lẽ ra, VN đã không bị đẩy vào thế đối đầu với Pháp mạnh hơn mình gấp trăm lần và sau đó với chính người Mỹ mạnh gấp ngàn lần!

Tuy nhiên, với góc nhìn chiến lược từ kinh nghiệm Đông Dương, ông Patti nhận định:

  ..."Chúng ta đã có HCM. Chúng ta đã có Việt Minh. Chúng ta đã nắm vấn đề ĐD. Nhưng vì lý do bất chấp logic mà hôm nay chúng ta đã nhận ra rằng, chúng ta đã ủng hộ người Pháp trong cuộc chiến mà chính họ còn gọi là "la sale guerre" (cuộc chiến bẩn thỉu). Chúng ta đã gánh 80% chiến phí cho người Pháp và sau đó 100% cho cuộc chiến giữa Mỹ và VN."

      Henry Prunier từng bị chỉ trích vì cho rằng: "lẽ ra không nên để xảy ra cuộc chiến tranh với Việt Nam". Claude Berube cũng tán thành quan điểm này: "Rất tiếc cho Henry Prunier đã bị chỉ trích trong khi ông lại có cái nhìn hết sức độc đáo về những người lãnh đạo cuộc chiến chống Mỹ. Đó chính là cơ hội bị bỏ lỡ."

 Chủ tịch HCM (chọn từ net)

Những ngày tháng 8

Ngày 14/8, tiếng súng chiến tranh lặng im trên toàn châu Á. Nhật đã đầu hàng và tướng Mc Carthur bay đến vịnh Tokyo để ký kết các điều kiện đầu hàng với Hoàng gia Nhật bản trên chiến hạm Missouri. Từ các căn cứ địa của mình trên vùng rừng núi Tân trào, Việt minh (VM) bắt đầu hành động. Ngày 16, cùng ngày với Đại hội quốc dân, các đơn vị của Võ Nguyên Giáp (VNG) do nhóm Con Nai hộ tống bắt đầu tiến xuống phía Nam, hướng về Hà Nội. Lác đác tại một số vùng nông thôn Bắc bộ, nơi nạn đói và lụt lội đã cướp đi sinh mạng của hơn 1 triệu người trong nửa năm đầu, dưới sự chỉ đạo của các hội VM địa phương, nông dân đã nổi dậy cướp chính quyền, phá kho thóc và thành lập các Uỷ ban giải phóng nhân dân địa phương.

Ở Hà Nội, rạng sáng chủ nhật, ngày 19/8. Dòng người từ các huyện Thanh trì, Thường tín, Phú xuyên, cuồn cuộn đổ vào thành phố hoà cùng với công nhân, sinh viên, tiểu thương và các công chức tò mò, bắt đầu tụ tập trước quảng trường Nhà hát Lớn. Đàn ông mặc áo nâu, đi dép cao su, đàn bà áo nâu, chít khăn mỏ quạ, đi giày cỏ. Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Cuộc diễu hành bắt đầu bằng phút mặc niệm các chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Dàn nhạc chơi giai điệu mới "Đoàn quân Việt nam đi", các lãnh đạo VM tuyên bố lệnh Tổng khởi nghĩa. 

Đoàn người chia làm nhiều ngả chiếm Bắc bộ phủ, Dinh Toàn quyền, Trụ sở bảo an và các địa điểm quan trọng khác. Họ hầu như không gặp sự chống đối nào, ngoại trừ một chút khó khăn ở Bắc bộ phủ. Sau khi đàm phán, quân Nhật tuyên bố sẽ không can thiệp. Uỷ ban cứu quốc bù nhìn hoàn toàn bị tan rã. Đến cuối ngày, toàn bộ thành phố đã nằm trong tay quân khởi nghĩa. Đoàn diễu hành đi khắp các phố hát vang những bài ca cách mạng và hô khẩu hiệu đòi độc lập dân tộc. Chắc chắn là rất ít người trong số họ hiểu VMlà ai và tại sao lại có thể đại diện cho dân tộc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Thế giới đã kết thúc và viễn cảnh ĐD ko còn người Pháp cũng đủ để vui mừng.

Tình hình miền Trung và ở Huế diễn biến chậm hơn do không có vùng giải phóng như ở Bắc bộ để huy động lực lượng. Ngày 21/8, Hà Nội gửi điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị. Nhà cách mạng, nhà thơ trẻ Tố Hữu được phái vào Huế để phát động phong trào. Sáng 22/8, hơn 100,000 người tụ tập trước cửa Ngọ Môn để chứng kiến Uỷ ban khởi nghĩa chiếm chính quyền mà không gặp phải sự kháng cự nào của quân Nhật.

Nam bộ là vùng tiến triển khó khăn hơn. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, tất cả các lãnh đạo Đảng hoặc chết hoặc đang ở trong trại giam. Vì mất liên lạc với TW, sau khi trốn khỏi nhà tù, Trần Văn Giàu (TVG) đã xây dựng lực lượng lại từ đầu. Xứ uỷ Nam kỳ quyết định hành động theo chỉ thị của Hội nghị 6 năm 1939, kêu gọi chuẩn bị lực lượng để tổng khởi nghĩa. TVG tập trung vào khu đô thị Sài gòn - Chợ lớn, cùng lúc xây dựng phong trào tại các vùng nông thôn. 

Ngày 14/8, Nhật chuyển giao quyền lực. Thừa cơ, ngày 16, khi Sứ thần của Bảo đại là Nguyễn Văn Sâm chưa đến nơi, các phần tử dân tộc không cộng sản lập ra Mặt trận Quốc gia Thống nhất, chiếm lấy chính quyền. Cũng lúc đó, ngày 14 TVG đã họp các đồng chí của mình để chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 20, sau khi nghe tin Hà Nội thành công, TVG đã yêu cầu Mặt trận Quốc gia từ chức vì quá dính líu với Nhật, chắc chắn sẽ không được Đồng minh chấp nhận. Giàu thông báo chỉ có VM mới được sự hỗ trợ hoàn toàn của Đồng minh. Đang hoang mang, Mặt trận lại được tin Bảo Đại đã gửi điện đề nghị Hà Nội lập chính phủ cộng hoà thay thế Trần Trọng Kim, cả hội vội vàng giải tán. Ngay lập tức Giàu thành lập Uỷ ban Nam bộ do chính ông làm chủ tịch, triệu tập cuộc họp Xứ uỷ, quyết định khởi nghĩa vào ngày 25. 

Biểu tình trước cửa Phủ Khâm sai (Bắc bộ phủ) ngày 19-8-1945

Trước giờ phút lịch sử

VN trở thành thuộc địa của thực dân Pháp từ giữa thế kỷ 19. Trong Thế chiến thứ hai, Đế quốc Nhật Bản đã thay Pháp chiếm đóng VN từ năm 1940. Khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh giữa năm 1945, VM có cơ hội lớn để chiến thắng và cơ hội này đã được VM tận dụng.

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, HCM đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam**. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 1945, HCM mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo. Ngày 31 tháng 8 năm 1945, ông bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập và đến 2 tháng 9 năm 1945, ông đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn quần chúng, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối tháng 8 năm 1945, HCM lo chuyện tác động đến các lãnh đạo của phe Đồng Minh theo hướng công nhận nền độc lập của VN, cũng như chuyện ông phải nắm quyền lực nhà nước hoặc phải tự thể hiện bản thân như là biểu tượng dân tộc của sự thống nhất và tự quyết. HCM đã lựa chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác với các vua, chúa trước đây của VN khi ông trực tiếp đọc bản Tuyên ngôn chứ không cần thông qua 1 bên trung gian nào đó. Điều này cũng khác hẳn với Đế quốc Việt Nam, bên đã không triệu tập một buổi đọc bản Tuyên ngôn độc lập có sự tham gia của quần chúng. Còn lễ thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại, cựu hoàng dường như không được mời nói chuyện trước công chúng cho đến lúc đọc lời tuyên bố thoái vị đầy cảm xúc trước đám đông ở cổng Ngọ Môn tại Huế vào ngày 30 tháng Tám. Cái cách HCM đọc bản tuyên ngôn cũng phảng phất nét tương đồng với không khí lộng lẫy và hoành tráng của các buổi lễ chính trị tại Tây Âu, Mỹ và Liên Xô. HCM đã lựa chọn quảng trường Puginier, sau này được gọi là quảng trường Ba Đình, một nơi rộng rãi không bị các chướng ngại vật che khuất tầm nhìn nhằm đủ chỗ chứa lượng khán thính giả càng nhiều càng tốt dù chỉ có vài ngày thông báo. Đối với đồng bào Công giáo, ngày hôm đó cũng là ngày “Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam” của Công giáo, tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình, đặc biệt vào thế kỉ 19, nên các nhà thờ ở Hà Nội buổi sáng đó tràn ngập người tham dự thánh lễ. Việc lựa chọn ngày 02/09 của Hồ Chí Minh còn nhằm gắn kết chính quyền mới với phía Giáo hội Thiên chúa giáo. Các linh mục sau buổi lễ của mình đã cùng các giáo dân hướng về Quảng trường Ba Đình để tham dự buổi lễ. Những nhà sư trụ trì ở những ngôi chùa cũng làm tương tự vậy. Các giáo viên trang bị còi hay loa dẫn đầu đám trẻ con hát những bài ca cách mạng. Đám thanh niên đặc biệt chú ý đến cách những lá quốc kì đỏ rực mà những nhóm thiếu nữ đang cầm tương phản với những chiếc áo dài trắng tinh khôi.

Nhà 48 Hàng Ngang, HN (chọn từ net)

(còn nữa)

(*): Trích từ bài HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN của ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (1969). Dịch giả: Hube

(**): Tổ chức này được thành lập ngày 03-02-1930 Từ ngày 3 đến 7-2-1930, tại Cửu Long (Hong Kong, TQ), dưới sự chủ trì của NAQ, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản ở VN là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu lãnh đạo phong trào cách mạng VN tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người tiến lên chủ nghĩa xã hội.