Showing posts with label Tudomány. Show all posts
Showing posts with label Tudomány. Show all posts

Saturday, August 31, 2024

Toán có nên dễ không,

  1. Tôi hiểu và và đồng ý với GS Ngô Bảo Châu là Toán không nên dễ hơn mức cần thiết. Và về mặt logic không có gì phải bàn luận hay tranh cãi về việc cái gì đó không nên thế nào đó hơn hay kém mức cần thiết vì hiển nhiên đúng

     2. Tuy nhiên ẩn ý mà GS định truyền đạt và (có thể khác) với cách mọi người hiểu là cái chúng ta có thể và nên bàn.  Dù sao GS Châu cũng là người có ảnh hưởng tới dư luận trong mọi vấn đề kể cả tu thiền, thời trang, đạo đức. Vì thế, nếu có hiểu lầm tí chút sẽ gây ra tác động lớn.

    3. Học Toán là một việc, học giải quyết  bài toán khó, phức tạp là việc khác. Đương nhiên không chỉ học Toán, học bất cứ thứ gì đều cần thách thức, không thể nhác nhớm, dễ dãi. Điều đó GS Châu nói không hề sai.

    4. Tuy nhiên, nếu chúng ta học Toán không để làm Toán, câu chuyện sẽ tinh tế hơn. Liệu chúng ta có cần rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề, đối phó với khó khăn bằng giải các bài toán khó? Liệu Toán có phải là thứ duy nhất mà chúng ta có thể dùng để luyện năng lực giải quyết vấn đề? Hơn nữa chúng ta cũng có trăm ngàn vấn đề kỹ thuật, chuyên ngành cần giải quyết để luyện năng lực vượt khó, cần gì phải đi đường vòng.

    5. Theo tôi đối với các ngành ứng dụng Toán như kinh tế, kỹ thuật, khoa học xã hội, học Toán phải gây cảm hứng và kết nối với đời sống. Nếu Toán quá khó, trừu tượng và chỉ liên hệ với khái niệm nội tại của chính nó thì không thể gây cảm hứng cho những người không định làm Toán. Trừ những người không có khả năng, những người chọn các ngành khác là vì họ đã có đam mê khác Toán, không thể lấy mọi điều mà nhà Toán học thấy đắc ý để rao giảng cho họ.

    6. Cá nhân tôi có nghề chính là vật lý lý thuyết nên học Toán rất cơ bản, có thể biết nhiều Toán hơn một người làm Toán trung bình khá. Nhưng trong nghề thứ hai là CNTT, tôi thấy không nhất thiết phải học Toán theo cách đó. Ngành này tự nó đã có đủ vấn đề khó để rèn luyện kỹ năng giải quyêt vấn đề. Toán cho CNTT không cần quá khó, chỉ tập trung vào một số môn nhất định. Chẳng hạn, chủ yếu CNTT cần đến các thuật toán, có thể cải tiến chút ít nếu tiện. Các vấn đề liên quan tới sáng tạo ra thuật toán mới xin để dành cho các nhà làm toán ứng dụng. Vì vậy, khi phát triển một công nghệ mới tôi sẽ ưu tiên tìm kiếm các thuật toán có sẵn. Nếu không đáp ứng yêu cầu về tốc độ, hiệu năng, tôi sẽ tìm các giải pháp liên quan tới phần cứng, song song hóa.  Trừ trường hợp may mắn, việc tìm ra các thuật toán mới đòi hỏi công sức, kỹ năng,  thời gian và sẽ không bổ ích gì cho mục tiêu công nghệ trước mắt. Đi nghiên cứu những vấn đề này có nghĩa là để ý tưởng công nghệ trở thành cũ, và cơ hội  thị trường sẽ qua đi.

   7. Nói như thế không có nghĩa là các nhà CNTT đặc biệt các nhà khoa học máy tính không thể giải các bài toán khó hay không thể phát minh các thuật toán mới. Tuy nhiên, các thành công như thế hoàn toàn không được đảm bảo bằng cách luôn cố giải quyết các bài toán thuần tuý khó về mặt Toán học. Và tôi tin rằng nên dạy Toán dễ cho người làm ứng dụng như kinh tế kỹ thuật, khoa học xã hội, thậm chí cả cho những người sẽ đi về chuyên ngành toán trong giai đoạn mới bắt đầu. Cách này chú trọng gây cảm hứng và không để cái khó ngăn cản tư duy sáng tạo. Và nói như vậy hoàn toàn không mâu thuẫn với GS Châu về mặt nội dung, cho dù hình thức có vẻ hơi ngược lại.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, August 16, 2023

Khoa học công nghệ hướng tới con người

 1. Chúng ta vẫn nói hoặc nghe người ta nói khoa học công nghệ là để phục vụ con người. Chúng ta nói vậy, nghe nói vậy, nhưng có thực sự hiểu vậy và nghĩ vậy? Tiếng Anh có một câu đơn giản ngắn gọn, dễ hiểu, không phải danh ngôn gì, nhưng nói bằng tiếng Việt cứ thấy sai sai không hiểu vì sao: We say it but not really mean it. Chúng ta nói điều đó, nhưng không thực sự có ý đó. 

2. Đương nhiên và dễ hiểu hơn là các thiết chế xã hội được cho là được dựng nên để phụng sự con người, các quan chức là công bộc, nhưng thực ra có phải vậy không thì đó là chuyện khác. Thực tế thì đó đều là những phép hùng biện, hoặc danh pháp có chủ đích, để mị nhân tâm. Tuy vậy, tôi sẽ không nói sâu về việc này, rất dễ bị chụp mũ. 

3. Quay trở lại vấn đề khoa học công nghệ. Đa số các nhà khoa học làm khoa học là do ý thích và sinh kế. Sống vì ý thích và sinh kế không có vấn đề gì, không phải là một cái tội. Vấn đề chỉ có khi một số nhà khoa học có thiên hướng chính trị muốn vận động, nên mới tự khoác lên cho mình những trách nhiệm lớn lao, mặc dù không phải vậy. Stephen Hawking từng nói "Làm khoa học cũng giống như làm gái điếm, vừa sướng vừa được tiền." Tôi không muốn phân tích bình phẩm đúng sai về giá trị chân lý của mệnh đề này. Điều đáng để ý là động cơ nghiên cứu của Hawking cũng như của tuyệt đại đa số các nhà khoa học chân chính.

4. Việc khoa học có ý nghĩa thực tế phục vụ con người là sản phẩm phụ, rõ ràng là tất yếu, nhưng nằm ngoài bản ý của các nhà khoa học. Đôi khi, các nhà khoa học cũng có tự vấn, phản tỉnh, băn khoăn về sứ mệnh thực sự của mình. Nhưng họ sẽ vớ ngay lấy một lý lẽ nào đó tiện nhất, dù mơ hồ, và lập tức ngừng suy nghĩ thêm về vấn đề đó, thở phào thoát trách nhiệm. Rõ ràng việc tìm hiểu về điều gì xảy ra ở khoảng cách 13.8 tỷ năm ánh sáng, các sự cố va chạm ở năng lượng hàng triệu TeV hay khoảng cách Planck không có nhiều ảnh hưởng tới cuộc sống hôm nay. 

5. Công nghệ có tính mục đích cao hơn. Tuy vậy, việc nó có mục tiêu phục vụ con người cũng mị nhân tâm chẳng kém. Công nghệ thông tin là một ví dụ. Cuộc chạy đua công nghệ trong kỷ nguyên Win-Tel có thực là vì phục vụ con người hay vì túi tiền của hai tập đoàn Microsoft và Intel. Rất nhiều công nghệ ra đời để người bán và người mua rủ nhau vào một cuộc chơi không có mục tiêu thiết thực. 

6. Vì sao khoa học công nghệ lại lảng tránh vấn đề con người? Thực ra, KHCN có thể đề cập tới vấn đề con người, vừa có thể kiếm tiền, và kiếm rất tốt đằng khác. Theo tôi, đó là vấn đề thỏa hiệp với Tôn giáo. Tôn giáo bây giờ chúng ta hiểu là đa số các vị thầy tu đôn hậu, cười hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ, minh triết đúng mực, đáng yêu như các đức Hồng Y, Giáo Hoàng, Tổng giám mục hay các đại lão hòa thượng từ bi. Ngày xưa không phải như thế, Tôn giáo là một quyền lực chính trị, có mật vụ, có vũ trang, bạo lực, các chức sắc tôn giáo chỉ cần nhướng mày là đầu rơi máu chảy. Đạo Hồi, Ki tô, không nói mà đạo Phật, Hindu, Lão, Khổng cũng vậy. Quyền lực tuyệt đối nên tôn giáo rất độc tài, ai nói trái là đóng xiên, nướng chả, barbecue liền. Nhiều khi chuyện cũng chẳng có gì liên quan tới giáo lý, chỉ là Trái Đất tròn hay méo.  

7. Có nhiều nhà khoa học cũng gấu, nhưng chẳng qua đó là tính người, biết gì phải nói ra. Cho dù seminar dưới hầm, cây sậy cũng có tai có ngôn ngữ như trọng chuyện vua Midas có tai lừa. Rồi cây kim trong bọc mãi cũng phải thòi ra, Trái Đất quả thực quay quanh Mặt trời, có gien di truyền, có biến dị. Khoa học đắc thắng. Nhưng chúng ta hoàn toàn nhầm nếu nghĩ rằng Khoa học chiến thắng tuyệt đối. Có một hiệp ước ngầm giữa Khoa học và Tôn Giáo: Khoa học nghiên cứu thoải mái về thế giới Vật chất, có thể tìm hiểu đôi chút về thể xác và một vài hiệu ứng thần kinh. Tuy vậy, các vấn đề Tâm trí, Tinh thần, Ý thức,... thuộc về Tôn giáo. Ngươi không động đến ta, ta không động đến mi. Các nhà khoa học có thể theo tôn giáo, nói cho đúng hơn là các con chiên được phép làm khoa học. Chính vì thế mà Khoa học không vượt lằn ranh đỏ để nghiên cứu Ý thức và các hiện tượng của tâm trí, tư duy. Chúng ta chẳng biết gì nhiều về mình. Vì thế Công nghệ lại càng không thể phục vụ Con người cho đúng nghĩa mà chỉ là công cụ kiếm tiền. 

 8. Nếu bạn cho rằng chúng ta đã hiểu rõ các quy luật vận động của cơ thể, cách phát lực và chịu lực của cơ bắp trong võ thuật, quỹ đạo của trái bóng đá hay tenis, quy  luật và chạm của billard,... từ thời Newton, thì bạn hết sức nhầm. Chúng ta không hiểu về những vấn đề đó bằng hạt quark. Có những bài toán công nghệ đơn giản phục vụ thiết thực con người, không ai muốn làm. Chúng ta cần thị trường cần tiền. Theo bạn thì vấn đề trẻ tự kỷ, chứng trầm cảm vô căn và việc xác định khối lượng neutrino cái nào quan trọng và thiết thực hơn. Quỹ nghiên cứu về hai vấn đề này cái nào lớn hơn?

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, June 3, 2023

AI và con người

PAS: Tiếp tục đề tài Trí tuệ nhân tạo rất được quan tâm trong hội thảo 12/5 vừa qua: đây là bản dịch bài nói chuyện của tác giả cuốn sách Lược sử loài người nổi tiếng về các mối nguy hiểm Trí tuệ nhân tạo có thể đem đến nếu không được kiểm soát.

Bài dài nhưng rất đáng đọc.

A.I VÀ TƯƠNG LAI CỦA LOÀI NGƯỜI

--

Đây là bản dịch tiếng Việt chi tiết mà Công chuyển ngữ từ video chia sẻ 40 phút của Yuval Noah Harari tại hội nghị thế giới Frontiers Forum ngày 29/04/2023. Những thông tin & góc nhìn được chia sẻ ở đây có lẽ sẽ RẤT SỐC với nhiều người, nhưng chúng ta cần nhận thức một cách nghiêm túc và rõ ràng về các nguy cơ của trí tuệ nhân tạo (AI). Bài này hơi dài, nhưng chắc chắn sẽ cực kỳ hữu ích & giá trị nếu bạn thực sự dành 10 phút tập trung đọc nó.

--

Chào bạn, điều tôi muốn chia sẻ với bạn hôm nay là chủ đề: “AI trong tương lai của loài người”. Tôi biết rằng các hội nghị kiểu như thế này tập trung trao đổi về cuộc khủng hoảng sinh thái mà nhân loại đang phải đối mặt, dù tốt hay xấu, AI cũng là một phần của cuộc khủng hoảng này. AI có thể giúp chúng ta theo nhiều cách để vượt qua khủng hoảng sinh thái hoặc nó có thể khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều.

Trên thực tế, AI có thể sẽ thay đổi ý nghĩa cốt lõi của hệ sinh thái. Bởi vì trong bốn tỷ năm, hệ sinh thái của hành tinh Trái đất chỉ chứa các dạng sống hữu cơ. Và bây giờ, hoặc sớm thôi, chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của các dạng sống vô cơ đầu tiên, sau bốn tỷ năm, hoặc ít nhất, sự xuất hiện của các tác nhân vô cơ.

Giờ đây, mọi người đã sợ hãi AI kể từ khi bắt đầu kỷ nguyên máy tính vào giữa thế kỷ 20, và nỗi sợ hãi này đã truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm kinh điển khoa học viễn tưởng như “Kẻ hủy diệt” hay “Ma trận”. Ngày nay, trong khi những kịch bản khoa học viễn tưởng như vậy đã trở thành những dấu mốc văn hóa, chúng vẫn chưa được coi trọng trong các cuộc tranh luận học thuật, khoa học và chính trị, và có lẽ vì một lý do chính đáng. Vì các kịch bản khoa học viễn tưởng thường giả định rằng trước khi AI có thể gây ra mối đe dọa đáng kể cho nhân loại, nó sẽ phải đạt hoặc vượt qua hai mốc quan trọng.

Đầu tiên, AI sẽ phải có ý thức và phát triển nhận thức, cảm xúc. Nếu không, tại sao nó lại muốn làm chủ thế giới? Thứ hai, AI sẽ phải thành thạo trong việc di chuyển trong thế giới vật lý. Robot sẽ phải có khả năng di chuyển và hoạt động trong nhà, thành phố, rừng núi, ít nhất cũng phải khéo léo và hiệu quả như con người. Nếu chúng không thể di chuyển trong thế giới vật lý, làm sao chúng có thể làm chủ được?

Tính đến tháng 4 năm 2023, AI vẫn còn rất xa mới đạt được hai mốc quan trọng này. Dù có sự ồn ào về ChatGPT và các công cụ AI mới khác, không có bằng chứng cho thấy những công cụ này có thể tự nhận thức, có cảm xúc hay tình cảm. Về khả năng di chuyển trong thế giới vật lý, mặc dù có sự cường điệu hoá về xe tự lái, thời điểm mà những chiếc xe này làm chủ đường xá của chúng ta vẫn luôn bị hoãn lại.

Tuy nhiên, tin xấu là để đe dọa sự tồn tại của nền văn minh nhân loại, AI thực sự không cần có ý thức và không cần khả năng di chuyển trong thế giới vật lý. Trong vài năm gần đây, những công cụ AI mới đã được tung ra công chúng và có thể đe dọa sự tồn tại của nền văn minh nhân loại từ một hướng không ngờ.

Và chúng ta thậm chí còn khó để hiểu hết được khả năng của những công cụ AI mới này và tốc độ phát triển của chúng. Thật vậy, bởi vì AI có khả năng tự học và tự cải tiến, ngay cả những nhà phát triển của chúng cũng không biết hết khả năng của những gì họ đã tạo ra, và thậm chí họ cũng thường bị ngạc nhiên bởi những khả năng và chất lượng bất ngờ của những công cụ này.

Tôi đoán là mọi người đã biết về một số khả năng cơ bản nhất của những công cụ AI mới, như viết văn bản, vẽ tranh, sáng tác âm nhạc và viết code. Nhưng cũng có nhiều khả năng khác đang nổi lên, ví dụ như tạo ra giọng nói và hình ảnh giả mạo, soạn dự thảo luật, tìm điểm yếu trong mã code và cả trong hợp đồng pháp lý, nhưng quan trọng nhất, những công cụ AI mới đang có khả năng phát triển mối quan hệ sâu sắc và gần gũi với con người.

Mỗi khả năng này đều xứng đáng được thảo luận cụ thể và chúng ta khó có thể hiểu được toàn bộ tác động của chúng. Vì vậy, hãy đơn giản hoá một chút.

Khi chúng ta xem tất cả những khả năng này như một gói tổng thể, chúng thu gọn thành một thứ rất, rất khổng lồ. Khả năng thao túng và tạo ra ngôn ngữ, bằng từ ngữ, hình ảnh hoặc âm thanh, là khía cạnh quan trọng nhất của cuộc cách mạng AI hiện tại. AI đang tiếp cận với việc thống trị ngôn ngữ một cách vượt trội so với khả năng trung bình của con người.

Và bằng việc làm chủ ngôn ngữ, AI đang lấy được chìa khóa chủ chốt, mở cánh cửa của tất cả các tổ chức từ ngân hàng đến những ngôi đền linh thiêng. Bởi vì ngôn ngữ là công cụ chúng ta sử dụng để đưa ra chỉ thị cho ngân hàng và cũng là công cụ để tạo ra những hình ảnh tuyệt vời trong tâm trí chúng ta.

Một cách khác để nghĩ về điều này là AI vừa hack hệ điều hành của nền văn minh nhân loại. Hệ điều hành của mỗi nền văn minh con người trong lịch sử luôn là ngôn ngữ.

"Ngôn ngữ là điểm bắt đầu".

Chúng ta sử dụng ngôn ngữ để tạo ra thần thoại và pháp luật, tạo ra các vị thần và tiền tệ, tạo ra nghệ thuật và khoa học, tạo ra tình bạn và quốc gia. Ví dụ, quyền con người không phải là một thực thể sinh học. Chúng không được ghi trong DNA của chúng ta. Quyền con người là điều chúng ta tạo ra bằng ngôn ngữ thông qua việc kể chuyện và viết luật.

Các vị thần cũng không phải là thực thể sinh học hay vật lý. Các vị thần cũng là điều mà con người chúng ta đã tạo ra bằng ngôn ngữ thông qua việc kể các truyền thuyết và viết kinh thánh.

Tiền tệ cũng không phải là thực thể sinh học hay vật lý. Tiền giấy chỉ là những tờ giấy vô hồn, và hiện nay, hơn 90% tiền trên thế giới không phải là tiền giấy. Chúng chỉ là thông tin điện tử trong máy tính di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia. Điều làm cho tiền có giá trị là những câu chuyện mà những người như ngân hàng, bộ trưởng tài chính và các chuyên gia về tiền điện tử kể cho chúng ta về “tiền”.

Sam Bankman Fried, Elizabeth Holmes và Bernie Madoff không tạo ra nhiều giá trị thực sự, nhưng thật không may, họ đều là những người kể chuyện cực kỳ có năng lực.

Bây giờ, điều gì sẽ có ý nghĩa với con người chúng ta khi sống trong một thế giới mà có lẽ hầu hết các câu chuyện, giai điệu, hình ảnh, luật pháp, chính sách và công cụ đều được định hình bởi “một trí tuệ ngoài hành tinh” không phải con người. Nó biết cách khai thác những yếu điểm, định kiến và ham muốn của tâm trí con người một cách siêu việt và cũng biết cách thiết lập mối quan hệ sâu sắc, thậm chí thân mật với con người?  Đó là câu hỏi quan trọng.

Ngày nay, trong các trò chơi như cờ vua, không con người nào có thể hy vọng đánh bại được máy tính. Điều gì sẽ xảy ra nếu điều tương tự xảy ra trong nghệ thuật, chính trị, kinh tế và thậm chí cả trong tôn giáo?

Khi mọi người nghĩ về ChatGPT và các công cụ AI mới khác, họ thường bị chú ý bởi những ví dụ như trẻ em sử dụng ChatGPT để viết bài luận ở trường. Điều gì sẽ xảy ra với hệ thống trường học khi trẻ em viết luận bằng ChatGPT?

Thật là tệ hại. Nhưng loại câu hỏi kiểu này sẽ khiến chúng ta bỏ qua bức tranh lớn hơn.

Hãy quên đi những bài luận ở trường. Thay vào đó, hãy nghĩ đến ví dụ về cuộc đua tổng thống tiếp theo của Hoa Kỳ vào năm 2024 và cố gắng hình dung tác động của các công cụ AI mới có thể tạo ra hàng loạt các tuyên ngôn chính trị, tin giả và thậm chí cả kinh thánh cho các tôn giáo mới.

Trong những năm gần đây, giáo phái QAnon có ảnh hưởng chính trị đã hình thành xung quanh các văn bản trực tuyến ẩn danh được gọi là Q-drops. 

(Chú thích thêm: QAnon là một thuyết âm mưu vô căn cứ, nói rằng Tổng thống Trump đang tiến hành một cuộc thánh chiến bí mật chống lại những kẻ ấu dâm tôn thờ quỷ dữ Satan trong chính phủ, doanh nghiệp và truyền thông.)

Bây giờ, tín đồ của giáo phái này, hiện có số lượng lên đến hàng triệu người ở Mỹ và các nước khác, đã thu thập, xem xét và giải thích những Q-drops này như một loại kinh thánh mới, vì thế nên nó là một văn bản thiêng liêng. Hiện nay, theo hiểu biết mới nhất của chúng tôi, tất cả các Q-drop trước đây đều do con người sáng tác và BOT chỉ giúp phổ biến những văn bản này trực tuyến. Nhưng trong tương lai, chúng ta có thể thấy những tôn giáo đầu tiên trong lịch sử có văn bản được viết bởi một loại trí thông minh không phải con người (non-human).

Và tất nhiên, các tôn giáo trong suốt lịch sử đã tuyên bố rằng những cuốn sách thánh của họ được viết bởi một trí thông minh không phải con người. Điều này chưa bao giờ đúng trước đây. Nhưng điều này có thể trở thành sự thật rất, rất nhanh chóng, với những hậu quả khôn lường.

Bây giờ, ở mức độ tầm thường hơn, có thể sớm thấy việc chúng ta sẽ tiến hành các cuộc thảo luận trực tuyến miên man về vấn đề phá thai, biến đổi khí hậu hoặc về cuộc xâm lược Ukraine của Nga với các thực thể mà chúng ta nghĩ là đồng loại nhưng thực ra lại là các BOT AI. 

Vấn đề là việc cố gắng thuyết phục một bot AI thay đổi quan điểm chính trị của nó là hoàn toàn vô ích, không có ý nghĩa, nhưng khi chúng ta càng dành nhiều thời gian nói chuyện với BOT, nó càng hiểu chúng ta hơn và hiểu cách điều chỉnh thông điệp của chúng để thay đổi quan điểm chính trị hoặc quan điểm kinh tế của chúng ta hoặc bất cứ điều gì khác.

Thông qua sự thành thạo về ngôn ngữ, AI, như tôi đã nói, cũng có thể hình thành mối quan hệ thân thiết với con người và sử dụng sức mạnh của sự thân mật để ảnh hưởng đến ý kiến và quan điểm của chúng ta. Hiện tại không có dấu hiệu cho thấy AI có ý thức hay cảm xúc riêng của nó, nhưng để tạo ra sự thân mật giả với con người, AI không cần có cảm xúc riêng của mình. Nó chỉ cần khơi dậy những cảm xúc trong chúng ta, để chúng ta quan tâm đến nó.

Vào tháng 6 năm 2022, đã có một sự vụ nổi tiếng khi kỹ sư Google - Blake Lemoine công khai tuyên bố rằng Chatbot AI Lambda mà anh ta đang phát triển đã trở nên có tri giác. Tuyên bố gây tranh cãi này đã khiến anh ta mất việc làm. Điều thú vị nhất về sự việc này không phải là tuyên bố của Lemoine, thông tin đó có thể là sai lầm. Điều thực sự thú vị là anh ta sẵn sàng mạo hiểm và cuối cùng đánh mất công việc rất tốt của mình vì Chatbot AI mà anh ta nghĩ rằng mình đang bảo vệ. Nếu AI có thể khiến mọi người gặp rủi ro và mất việc làm, thì nó có thể làm gì với chúng ta nữa?.

Trong mọi cuộc chiến tranh chính trị để chinh phục lòng tin và tâm trí con người, sự thân mật là vũ khí hiệu quả nhất. Và AI vừa mới đạt được khả năng tạo ra hàng loạt sự thân mật với hàng triệu, hàng trăm triệu người.

Như bạn có thể đã biết, trong thập kỷ qua, mạng xã hội đã trở thành một chiến trường, một chiến trường để kiểm soát sự chú ý của con người. Bây giờ, với thế hệ mới của AI, mặt trận chiến đấu dịch chuyển từ sự chú ý sang sự thân mật. Và đây là tin rất xấu. Điều gì sẽ xảy ra với xã hội và tâm lý của con người khi AI đấu tranh với AI để tạo ra mối quan hệ thân mật với chúng ta. Mối quan hệ đó sau đó có thể được sử dụng để thuyết phục chúng ta mua các sản phẩm cụ thể hoặc bỏ phiếu cho các chính trị gia cụ thể.

Ngay cả khi không tạo ra sự thân mật giả tạo, các công cụ AI mới sẽ có ảnh hưởng vô cùng đáng kể đến ý kiến và quan điểm của con người và thế giới quan của chúng ta. Ví dụ, mọi người có thể bắt đầu, đã hoặc đang sử dụng một cố vấn AI duy nhất như là một nguồn thông tin tham khảo cho tất cả những gì họ cần.

Không có gì ngạc nhiên khi Google tỏ ra lo lắng. Nếu bạn đã theo dõi tin tức gần đây, Google đang sợ hãi. Vì có một lý do chính đáng cho việc này, tại sao phải tự tìm kiếm thông tin khi bạn chỉ cần yêu cầu “Nhà tiên tri” nói cho bạn bất cứ điều gì bạn muốn. Bạn không cần phải tìm kiếm.

Ngành tin tức và ngành quảng cáo cũng nên sợ hãi. Tại sao lại phải đọc báo khi tôi có thể chỉ cần hỏi "Nhà tiên tri" để biết điều gì mới. Và mục đích của quảng cáo là gì khi tôi có thể chỉ cần hỏi "Nhà tiên tri" để biết tôi nên mua gì. Do đó, có khả năng là trong một thời gian rất ngắn sắp tới, toàn bộ ngành quảng cáo sẽ sụp đổ, trong khi AI, tất cả những người và công ty kiểm soát các "Nhà tiên tri" AI mới, sẽ trở nên vô cùng, vô cùng mạnh mẽ.

Những gì chúng ta đang nói đến không gì khác hơn là sự kết thúc của lịch sử nhân loại. Hiện tại, không phải là sự kết thúc của lịch sử, chỉ là sự kết thúc của phần mà con người thống trị trong những gì chúng ta gọi là lịch sử. Lịch sử là sự tương tác giữa sinh học và văn hóa. Đó là sự tương tác giữa nhu cầu sinh học và mong muốn về các yếu tố như thức ăn và tình dục, và những sáng tạo văn hóa của chúng ta, như các tôn giáo và luật pháp. Lịch sử là quá trình mà tôn giáo và luật pháp tương tác với thức ăn và tình dục.

Điều gì sẽ xảy ra với quá trình tương tác lịch sử này khi AI tiếp quản văn hóa?

Trong vài năm tới, AI có thể "nuốt chửng" toàn bộ nền văn hoá của loài người, tất cả những gì chúng ta đã tạo ra trong hàng ngàn năm và nó sẽ bắt đầu tuôn trào ra vô số sáng tạo văn hóa mới và các tạo tác văn hóa mới.

Và hãy nhớ rằng con người chúng ta chưa bao giờ thực sự tiếp cận trực tiếp với hiện thực. Chúng ta luôn được bao bọc bởi văn hóa và chúng ta luôn trải nghiệm hiện thực qua một lăng kính văn hóa. Quan điểm chính trị của chúng ta được hình thành bởi câu chuyện của các nhà báo và bởi các câu chuyện đùa của bạn bè. Sở thích tình dục của chúng ta được điều chỉnh bởi phim ảnh và truyện cổ tích. Ngay cả cách chúng ta đi bộ và thở cũng bị ảnh hưởng một cách tinh tế bởi truyền thống văn hóa.

Trước đây, lớp vỏ văn hóa này luôn được tạo ra bởi những con người khác. Công cụ trước đây như máy in, đài phát thanh hoặc tivi,... đã giúp truyền bá các ý tưởng và sáng tạo văn hóa của con người, nhưng chúng không bao giờ có thể tự mình tạo ra cái gì mới. Máy in không thể tạo ra một cuốn sách mới. Nó luôn luôn được thực hiện bởi một con người.

AI có bản chất khác biệt hoàn toàn so với máy in, đài phát thanh và mọi phát minh trước đây trong lịch sử, vì nó có thể tạo ra ý tưởng hoàn toàn mới. Nó có thể tạo ra một văn hóa mới. 

Và câu hỏi lớn là chúng ta sẽ trải nghiệm hiện thực như thế nào thông qua lăng kính được tạo ra bởi một “trí tuệ không phải con người” - một trí thông minh ngoài hành tinh?

Ban đầu, trong những năm đầu tiên, AI có thể sẽ chỉ bắt chước các khuôn mẫu mà con người cung cấp và phát triển nó trong giai đoạn sơ khai. Nhưng mỗi năm trôi qua, văn hóa AI sẽ đi đến những nơi mà con người chưa từng đặt chân.

Trong hàng ngàn năm, con người chúng ta về cơ bản sống trong những giấc mơ và trí tưởng tượng của những người khác. Chúng ta đã tôn thờ các vị thần, chúng ta theo đuổi những lý tưởng về cái đẹp, chúng ta cống hiến cuộc đời mình cho những nguyên nhân bắt nguồn từ trí tưởng tượng của một nhà thơ, nhà tiên tri hoặc chính trị gia nào đó.

Sớm thôi, chúng ta có thể thấy mình sống trong những giấc mơ và trí tưởng tượng của một trí tuệ ngoài hành tinh. Và nguy cơ mà điều này mang lại, hoặc mối nguy hiểm tiềm tàng, mặc dù nó cũng có tiềm năng tích cực, nhưng những nguy cơ mà nó mang lại, về cơ bản là  rất khác biệt so với những gì được tưởng tượng trong khoa học viễn tưởng, phim ảnh và sách báo. 

Trước đây, con người chủ yếu sợ hãi mối đe dọa về mặt vật lý mà máy móc thông minh mang lại. Ví dụ, bộ phim "Terminator - Kẻ huỷ diệt" đã mô tả các robot chạy trên đường phố và bắn người. Trong "Ma trận", giả định rằng để kiểm soát toàn bộ xã hội nhân loại, AI trước tiên cần kiểm soát trực tiếp não bộ của chúng ta và kết nối trực tiếp não bộ với mạng máy tính.

Nhưng điều này là sai. Chỉ đơn giản bằng cách thông thạo ngôn ngữ của con người, AI có tất cả những gì nó cần để đưa chúng ta vào một thế giới ảo tưởng giống như trong “Ma trận”. Trái ngược với giả định của một số thuyết âm mưu, bạn thực sự không cần cấy chip vào não người để kiểm soát hoặc thao túng họ.

Trong hàng ngàn năm, các nhà tiên tri, nhà thơ và chính trị gia đã sử dụng ngôn ngữ và câu chuyện để thao túng và kiểm soát con người cũng như định hình lại xã hội. Bây giờ, AI có khả năng làm được điều đó. Và một khi nó có thể làm được điều đó, nó không cần phải gửi những con robot giết người để bắn chúng ta. Nó có thể khiến con người “bóp cò” nếu nó thực sự cần.

Nỗi sợ hãi về AI chỉ ám ảnh nhân loại trong vài thế hệ gần đây, chẳng hạn từ giữa thế kỷ 20. Nếu bạn quay lại với câu chuyện Frankenstein, có thể là 200 năm. Nhưng trong hàng ngàn năm qua, con người đã bị ám ảnh bởi một nỗi sợ hãi sâu sắc hơn rất nhiều.

Con người luôn đánh giá cao sức mạnh của những câu chuyện, hình ảnh và ngôn ngữ để thao túng tâm trí chúng ta và tạo ra các ảo tưởng. Do đó, từ thời cổ đại, con người đã sợ bị mắc kẹt trong một thế giới ảo tưởng.

Vào thế kỷ 17, khi René Descartes lo sợ rằng có thể có một con quỷ độc ác đang giam cầm ông trong thế giới ảo tưởng này, tạo ra mọi thứ mà Descartes nhìn thấy và nghe thấy.

Ở Hy Lạp cổ, Plato đã kể câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng về hang động, trong đó một nhóm người bị nhốt trong một hang động suốt đời, đối diện với một bức tường trống, một màn hình. Trên màn hình đó, họ nhìn thấy các bóng phản chiếu và những người bị giam cầm lầm tưởng những ảo tưởng, những hình bóng đó là hiện thực.

Ở Ấn Độ xưa, các nhà hiền triết Phật giáo và Ấn Độ giáo đã chỉ ra rằng tất cả con người đang sống bị mắc kẹt bên trong cái mà họ gọi là Maya. Maya là thế giới của ảo tưởng. Đức Phật nói rằng những gì chúng ta thường cho là hiện thực thì bản chất chỉ là sự hư cấu trong tâm trí của chúng ta.

Mọi người có thể tiến hành các cuộc chiến tranh, giết người khác và sẵn sàng tự sát vì niềm tin vào những điều hư cấu này.

Cuộc cách mạng AI đang đưa chúng ta đối diện với con ác quỷ của Descartes, với hang động của Plato, với Maya.

Nếu chúng ta không cẩn thận, một màn bức màn ảo tưởng có thể phủ xuống toàn bộ nhân loại và chúng ta sẽ không bao giờ có thể xé bỏ bức màn đó ra hay thậm chí nhận ra rằng nó tồn tại, bởi vì chúng ta sẽ nghĩ rằng đây là hiện thực.

Và nếu điều trên nghe có vẻ xa vời, thì hãy nhìn vào mạng xã hội trong vài năm qua. Phương tiện truyền thông đã cho chúng ta một chút hương vị của những điều sắp xảy ra. Trên mạng xã hội, các công cụ trí tuệ nhân tạo AI thô sơ, đã được sử dụng không phải để tạo nội dung mà để quản lý nội dung do con người tạo ra. 

Con người tạo ra các câu chuyện video và những thứ khác, và AI sẽ chọn lựa xem những câu chuyện nào, video nào sẽ tiếp cận đến tai và mắt của chúng ta, lựa chọn những thứ sẽ thu hút nhiều sự chú ý nhất và  sẽ lan truyền nhiều nhất.

Và mặc dù còn rất thô sơ, nhưng những công cụ AI này đã đủ để tạo ra một loại bức màn ảo tưởng làm gia tăng sự chia rẽ xã hội trên toàn thế giới, làm suy yếu sức khỏe tâm lý của chúng ta và gây bất ổn cho các xã hội dân chủ. Hàng triệu người đã nhầm lẫn những ảo tưởng này với thực tế.

Nước Mỹ có hệ thống công nghệ thông tin mạnh nhất trong toàn bộ lịch sử, nhưng công dân Mỹ không còn có thể chắc chắn rằng ai là người chiến thắng trong cuộc bầu cử vừa qua, hoặc biến đổi khí hậu có thật hay không, vắc xin có ngăn ngừa được bệnh tật hay không.

Các công cụ AI mới mạnh hơn rất nhiều so với các thuật toán trên các mạng xã hội này và chúng có thể gây ra nhiều thiệt hại hơn.

Tất nhiên, trí tuệ nhân tạo cũng có tiềm năng tích cực to lớn. Tôi không muốn nói về nó vì những người phát triển AI đương nhiên nói về nó đủ rồi. Bạn không cần tôi bổ sung thêm vào điệp khúc đó.

Công việc của các nhà sử học và triết học như tôi thường là chỉ ra những mối nguy hiểm. Nhưng chắc chắn, AI có thể giúp chúng ta theo nhiều cách, từ việc tìm ra phương pháp chữa trị mới cho bệnh ung thư, đến việc khám phá ra các giải pháp cho cuộc khủng hoảng sinh thái mà chúng ta đang phải đối mặt.

Để đảm bảo rằng các công cụ AI mới được sử dụng vì mục đích tốt chứ không phải mục đích xấu, trước tiên chúng ta cần hiểu rõ khả năng thực sự của chúng và chúng ta cần kiểm soát chúng một cách cẩn thận, cực kỳ cẩn thận.

Từ năm 1945, chúng ta đã biết rằng công nghệ hạt nhân có thể hủy diệt nền văn minh nhân loại, cũng như mang lại lợi ích to lớn cho chúng ta bằng cách sản xuất năng lượng giá rẻ và phong phú. Do đó, chúng ta đã định hình lại toàn bộ trật tự thế giới để bảo vệ chính mình và đảm bảo rằng công nghệ hạt nhân được sử dụng chủ yếu cho mục đích tốt đẹp.

Bây giờ chúng ta phải đối mặt với một thứ vũ khí hủy diệt hàng loạt có thể hủy diệt thế giới tinh thần và xã hội của chúng ta. Và một điểm khác biệt lớn giữa vũ khí hạt nhân và trí tuệ nhân tạo, vũ khí hạt nhân không thể tạo ra vũ khí hạt nhân mạnh hơn. Nhưng AI có thể tạo ra AI mạnh mẽ hơn.

Vì vậy, chúng ta cần phải hành động nhanh chóng trước khi AI vượt khỏi tầm kiểm soát của chúng ta.

Các công ty dược phẩm không thể bán cho mọi người những loại thuốc mới mà không trải qua quá trình kiểm tra an toàn nghiêm ngặt của các sản phẩm này. Các phòng thí nghiệm công nghệ sinh học không thể chỉ đơn giản tung ra một loại vi-rút mới ra công chúng để gây ấn tượng với các cổ đông bằng phép thuật công nghệ của họ.

Tương tự như vậy, các chính phủ phải ngay lập tức cấm việc công bố bất kỳ công cụ AI mang tính cách mạng nào ra ngoài cộng đồng trước khi chúng được đảm bảo là an toàn. Một lần nữa, tôi không nói về việc ngừng tất cả các nghiên cứu về AI. Bước đầu tiên là hạn chế việc phát hành ra công chúng. Một số bạn có thể nghiên cứu vi-rút mà không phát tán chúng ra công chúng. Bạn có thể nghiên cứu AI, nhưng đừng đưa chúng ra ngoài cộng đồng quá nhanh.

Nếu chúng ta không làm chậm cuộc đua vũ khí trí tuệ nhân tạo, chúng ta sẽ không có thời gian để hiểu rõ những gì đang xảy ra, chưa kể đến việc điều chỉnh và kiểm soát hiệu quả công nghệ cực kỳ mạnh mẽ này.

Bây giờ, bạn có thể thắc mắc hoặc đặt câu hỏi, việc làm chậm lại quá trình triển khai ra cộng đồng của trí tuệ nhân tạo có khiến cho các chế độ dân chủ tụt hậu hơn so với các chế độ chuyên quyền tàn ác hay không?

Và câu trả lời là tuyệt đối không, ngược lại hoàn toàn. Việc triển khai trí tuệ nhân tạo không được kiểm soát là điều sẽ khiến các chế độ dân chủ thua các chế độ độc tài. Bởi vì nếu chúng ta giải phóng sự hỗn loạn, các chế độ độc tài có thể dễ dàng làm chủ sự hỗn loạn này hơn là những xã hội mở.

Dân chủ về bản chất là một cuộc đối thoại. Dân chủ là một cuộc đối thoại cởi mở. Bạn biết đấy, chế độ độc tài là một mệnh lệnh. Có một người ra lệnh mọi thứ, không có cuộc trò chuyện. Dân chủ là một cuộc trò chuyện giữa nhiều người về những việc phải làm. Và các cuộc hội thoại dựa trên ngôn ngữ.

Khi trí tuệ nhân tạo AI xâm nhập vào ngôn ngữ, điều đó có nghĩa là nó có thể phá hủy khả năng của chúng ta trong việc tiến hành cuộc trò chuyện công khai có ý nghĩa, từ đó phá hủy nền dân chủ. Nếu chúng ta chờ đợi cho sự hỗn loạn, thì sẽ quá muộn để điều chỉnh nó theo cách dân chủ. Có thể trong một cách kiểm soát của chế độ độc tài hoặc chuyên chế, điều này vẫn có thể là khả thi. Nhưng làm sao bạn có thể điều chỉnh một cái gì đó một cách dân chủ nếu bạn không thể tiến hành cuộc trò chuyện về nó. Và nếu bạn không điều chỉnh trí tuệ nhân tạo kịp thời, bạn sẽ không thể, chúng ta sẽ không thể có một cuộc trò chuyện công khai có ý nghĩa nữa.

Vì vậy, để kết luận, về cơ bản thì chúng ta vừa chạm trán với một “trí tuệ ngoài hành tinh”, không phải ở ngoài vũ trụ, mà ở đây trên Trái đất. Chúng ta không biết nhiều về trí tuệ ngoài hành tinh này, chỉ biết rằng nó có thể phá hủy nền văn minh của chúng ta. Vì vậy, chúng ta nên ngăn chặn việc triển khai trí thông minh ngoài hành tinh này một cách vô trách nhiệm vào xã hội của chúng ta và điều chỉnh AI trước khi nó điều chỉnh chúng ta.

Và quy định đầu tiên, mặc dù có nhiều quy định mà chúng tôi có thể gợi ý, nhưng quy định đầu tiên mà tôi muốn đề xuất là bắt buộc AI phải tiết lộ rằng nó là một AI. Nếu tôi đang trò chuyện với ai đó và tôi không thể biết đây là con người hay AI, thì đó là dấu chấm hết cho nền dân chủ, vì đó là dấu chấm hết cho những cuộc trò chuyện công khai có ý nghĩa.

Bây giờ, bạn nghĩ gì về những gì bạn vừa nghe trong 20 hoặc 25 phút qua. Có thể có người trong số các bạn cảm thấy lo lắng. Có thể có người tức giận với các công ty phát triển công nghệ này hoặc với các chính phủ không kiểm soát chúng. Có thể có người trong số các bạn tức giận với tôi, nghĩ rằng tôi phóng đại mối đe dọa hoặc lừa dối công chúng. Nhưng dù bạn nghĩ gì, tôi tin chắc rằng những lời tôi đã nói đã tạo ra tác động không chỉ về mặt trí tuệ mà còn về mặt cảm xúc.

Tôi vừa kể cho bạn một câu chuyện, và câu chuyện này có khả năng thay đổi quan điểm của bạn về một số điều và có thể thúc đẩy bạn thực hiện những hành động cụ thể trong thế giới thực. 

Bây giờ, ai đã tạo ra câu chuyện mà bạn vừa nghe và đã thay đổi quan điểm và suy nghĩ của bạn? Tôi hứa rằng tôi đã viết bài thuyết trình này bằng chính tay mình với sự giúp đỡ của một số người khác, mặc dù các hình ảnh trình chiếu đã được tạo ra bằng sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo. Tôi hứa rằng ít nhất những từ bạn vừa nghe là sản phẩm văn hóa của tư duy con người, hoặc tư duy của một số người. Nhưng bạn có thể chắc chắn rằng đó là sự thật hay không?

Một năm trước đây, bạn có thể chắc chắn. Một năm trước, không có gì trên Trái đất có thể tạo ra các văn bản mạnh mẽ và phức tạp như vậy ngoại trừ tâm trí con người. Nhưng bây giờ, mọi thứ đã thay đổi. Về lý thuyết, văn bản bạn vừa nghe có thể đã được tạo ra bởi một trí thông minh ngoài hành tinh không phải là con người. Vì vậy, hãy dành một khoảng thời gian để suy nghĩ về điều đó.

Xin cảm ơn !

( Copy từ Fb Do Thanh Cong )

Saturday, December 17, 2022

Những bước đột phá về nguồn năng lượng mới

 CHÉN THÁNH NĂNG LƯỢNG - VẪN LÀ HOA KỲ

Nửa đêm nhận được tin này cũng tỉnh ngủ. Đưa tin đến nông hộ trước khi các báo đài biết đến! 

"Cột mốc nhiệt hạch hạt nhân" sắp đến? Năng lượng sẽ "vô tận" và mô hình sẽ thay đổi. Nếu phản ứng tổng hợp hạt nhân điều khiển bằng laser được hoàn thiện và thương mại hóa, nó có tiềm năng trở thành nguồn năng lượng được lựa chọn, thay thế cho nhiều nguồn năng lượng kém lý tưởng hiện có. Điều này là do phản ứng tổng hợp, nếu được thực hiện, sẽ cung cấp năng lượng sạch, an toàn và giá cả phải chăng. Các nhà máy điện nhiệt hạch cuối cùng sẽ thay thế hầu hết các nhà máy điện thông thường và cơ sở hạ tầng năng lượng quy mô lớn liên quan hiện tại. Sẽ không cần than hoặc khí đốt.

Tin đầu tiên được Financial Times đưa ra rằng Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore National Laboratorybb(LLNL) của California đã sử dụng một quy trình gọi là phản ứng tổng hợp cục bộ quán tính để đạt được mức tăng năng lượng ròng trong một thí nghiệm tổng hợp hạt nhân trong hai tuần qua. Quá trình này bao gồm chiếu xạ liên tục một vi cầu plasma hydro bằng tia laser lớn nhất thế giới hiện nay. Phản ứng tổng hợp hạt nhân tạo ra khoảng 2.5 megajoules (MJ) năng lượng, khoảng 120 phần trăm năng lượng laser (2,1 MJ).

Thí nghiệm lần này tại National Ignition Facility (NIF) trị giá 3,5 tỷ USD. NIF đã tạo ra phản ứng tổng hợp hạt nhân vào năm ngoái. Ba mươi bảy megajoules, khoảng 70% năng lượng laze được chiếu xạ vào thời điểm đó, là mức ròng năng lượng gần nhất mà thế giới từng đạt được.

Một học giả tại Đại học Hoàng gia Luân Đôn, chỉ ra rằng: "Nếu được xác nhận, chúng ta đang chứng kiến ​​một thời khắc lịch sử."

Bộ trưởng Bộ Năng lượng Hoa Kỳ Jennifer Granholm và Thứ trưởng An ninh Hạt nhân Jill M. Hruby sẽ đến thăm LLNL vào ngày 13 để công bố bước đột phá khoa học vĩ đại này.

Nói một cách đơn giản cho các nông hộ dễ hiểu, nguyên tắc tạo ra năng lượng này dựa theo cách mà mặt trời tạo ra năng lượng. Phản ứng này có thể tạo ra một lượng lớn năng lượng mà không có chất thải hạt nhân. Nó đã được ca ngợi là "Chén Thánh" của năng lượng bằng không lượng khí thải carbon. Về lý thuyết, một cốc nhiên liệu hydro nhỏ có thể cung cấp năng lượng cho một ngôi nhà trong hàng trăm năm.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu phản ứng tổng hợp hạt nhân từ những năm 1950, nhưng ngay cả khi đạt được bước đột phá trong phòng thí nghiệm, thì cũng phải mất ít nhất mười năm hoặc thậm chí nhiều thập kỷ trước khi phản ứng tổng hợp hạt nhân có thể được đưa vào sử dụng thương mại hoá. Tuy nhiên, bước phát triển công nghệ mới nhất nói trên dự kiến ​​sẽ được chính quyền Biden quảng bá như một thành tựu vĩ đại mà chính phủ Mỹ đã chi rất nhiều tiền trong nhiều năm qua.

Với một tương lai được hỗ trợ bởi công nghệ nhiệt hạch, chúng ta còn có thể sử dụng năng lượng này để khử muối trong nước, tạo ra nguồn nước không giới hạn sẽ có tác động to lớn ở các vùng khô cằn và sa mạc. Tựu chung lại, sự hợp nhất để tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn, giữ cho môi trường bền vững và sạch sẽ hơn.

Vậy có nghĩa là gì? Giải quyết triệt để vấn đề năng lượng! Không còn lo sự cạn kiệt nguồn than và dầu khí, khỏi phải phụ thuộc vào ông lớn dầu khí nào, giá thành năng lượng sẽ giảm mạnh, khí thải carbon sẽ không có, và Đô La sẽ như nước cuốn mây trôi tuôn vào ngành năng lượng này tại Hoa Kỳ. Những đột phá khoa học kỹ thuật lớn nhất cống hiến cho nhân loại vẫn là Hoa Kỳ, luôn là Hoa Kỳ. Tại sao vậy?

Peter Pho

13 Dec. 2022

Wednesday, January 19, 2022

Triển vọng và niềm hy vọng từ những người làm khoa học

Sinh ra trong gia đình 5 anh chị em ở ngôi làng nhỏ tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Sau năm 1975, cha đi cải tạo, anh chị em Quyên theo mẹ, một giáo viên dạy toán cấp 2, đi làm kinh tế mới để kiếm kế sinh nhai. Thời ấy để nấu một bữa cơm bà phải đi nhặt lá để nhóm bếp.

Năm 21 tuổi, Quyên cùng bố mẹ và anh chị em đến Mỹ định cư (theo diện đoàn tụ gia đình - HO). Hai năm đầu, bà nhiều lần khóc đòi về Việt Nam vì không hiểu tiếng Anh và phong tục tập quán khác lạ. "Khó khăn nhất là ngôn ngữ, khi ấy đi đâu cũng phải nhờ người thông dịch", bà nhớ lại.

GS Quyên bảo, con đường đến với khoa học của mình rất khác so với những nhà khoa học khác. Bà vốn hứng thú với lịch sử thế giới và yêu văn học, thích địa lý nhưng ngặt nỗi khi sang Mỹ để theo các môn đó phải "tra từ điển muốn chết luôn". Vậy là bà "nhảy" sang lớp Toán, rồi nhận ra bản thân học khoa học cũng khá. Sau đó, bà dần trở nên hứng thú với hóa học và bắt đầu theo đuổi con đường này.

Tháng 9/1995, bà xin chuyển lên ĐH California, Los Angeles và làm thêm trong phòng thí nghiệm với công việc rửa dụng cụ. Thích thú với công việc nghiên cứu, nhưng bà không được nhận vì "có chất giọng nặng". "Họ bảo với tôi rằng 'nghiên cứu không phải chuyện ai cũng làm được, cô nên tập trung vào học tiếng Anh hơn đi", GS Quyên kể lại. Nhận xét này được cô sinh viên ngày ấy coi làm động lực để cố gắng: "không ai có thể ngăn cản bạn thực hiện ước mơ của mình".

Quyết tâm học tiếng Anh nhanh nhất có thể, bà tham gia bốn lớp tiếng anh dành cho người nước ngoài, rồi tới trung tâm dạy kèm sinh viên để trau dồi thêm. Thấy bố mẹ làm việc vất vả trong nhà hàng và ở hãng may, bà không cho phép bản thân thất bại. Để có tiền đi học, bà cũng làm thêm trong nhà hàng, tiệm nail. "Càng cực tôi càng phải cố gắng", bà nói.

Sau khi tốt nghiệp vào năm 1997, bà nộp đơn học cao học và chỉ một năm sau đã có bằng thạc sĩ ngành Lý-Hóa. Bà quyết định học tiếp lên tiến sĩ và trong năm cuối của chương trình, trở thành một trong 7 nghiên cứu sinh xuất sắc của Đại học Califonia, Los Angeles được trao học bổng.

Tháng 6/2001, bà nhận bằng tiến sĩ, trước cả những sinh viên trong phòng thí nghiệm nơi bà từng phải rửa dụng cụ thí nghiệm cho họ. Bà chính thức giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học California, Santa Barbara (UCSB) từ hè năm 2004.

GS Quyên kể, 5 năm đầu sự nghiệp đầy rẫy khó khăn. Là một người trẻ, lại là phụ nữ, việc nhận được lời mời thuyết giảng gần như rất hiếm. "Nếu được mời thuyết giảng, đương nhiên họ sẽ mời người được giải Nobel", GS Quyên nói "trừ khi họ từ chối thì mới tìm đến tôi".

Để được công nhận, GS Quyên phải chứng minh bằng sự đóng góp của mình trong lĩnh vực. Các nghiên cứu của bà xoay quanh tính chất điện tử của polyelectrolytes liên hợp, giao diện trong các thiết bị quang điện tử, việc tạo và vận chuyển điện tích trong chất bán dẫn hữu cơ, vật liệu mới cho các ứng dụng pin mặt trời hữu cơ, tự lắp ráp phân tử, xử lý vật liệu, đặc tính kích thước nano của pin mặt trời hữu cơ và vật lý thiết bị.

Lý giải về chọn hướng nghiên cứu vật liệu mới cho ứng dụng pin mặt trời hữu cơ, GS Quyên nói đó là bởi "suốt 16 năm thời thơ ấu lớn lên trong cảnh không có điện ở quê nhà". Bà cho hay mối quan tâm đặc biệt đến năng lượng mặt trời luôn ở trong tiềm thức hướng về quê hương.

Đến nay bà đã có 7 phòng thí nghiệm riêng cho nhóm nghiên cứu. Đồng thời là một trong số ít nhà khoa học nữ 4 năm liền được vinh danh trong danh sách hơn 4.000 nhà khoa học toàn cầu vào top 1% những nhà khoa học có nhiều trích dẫn nhất thế giới (HCR).

Bà rất quan tâm tới những nhà nghiên cứu trẻ tại Việt Nam. Trong suốt sự nghiệp, bà đã chứng kiến những học sinh, sinh viên người Việt sáng tạo, chăm chỉ, tò mò, luôn sẵn sàng học hỏi. "Nếu có những cơ hội và sự chỉ dẫn, những nhà nghiên cứu trẻ ở Việt Nam có thể đạt được những điều vĩ đại như những nhà khoa học khác trên toàn thế giới".

Trở về Việt Nam những ngày đầu năm 2022 với vai trò là đồng Chủ tịch Hội đồng sơ khảo giải thưởng VinFuture, GS Nguyễn Thục Quyên chia sẻ về hành trình vượt khó để trở thành nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới bốn năm liền do Thomson Reuters bình chọn.

Nữ giáo sư hy vọng có thể xây dựng viện nghiên cứu với phòng lab tối tân, mở những workshop để kết nối các nhà khoa học trẻ Việt Nam với thế giới bên ngoài. "Qua quỹ VinFuture, chúng tôi tin rằng những nhà khoa học trẻ có cơ hội cạnh tranh với những tên tuổi trong làng khoa học và tiến gần hơn tới ước mơ".

Theo VnE

Continuum có thật hay giả tưởng

 1. Continuum là khái niệm toán học. Toán học làm việc với những giả tưởng, nên không đặt vấn đề phân biệt "có thật" và "giả tưởng". Nói một cách khác Toán học quan niệm cái gì đã "giả tưởng được" tức là "có thật". Nói đến continuum tức là nói tới cái vô hạn. Dieudonné phân biệt hai khái niệm vô hạn: "vô hạn hiện thực" và "vô hạn tiềm năng". Vô hạn tiềm năng phải dùng tới năng lực siêu việt hóa của nhận thức con người để quán thông. Con lợn dù thông minh, có lẽ cũng không thể nhận thức được vô hạn tiềm năng. Tất nhiên đó cũng chỉ là một giả thiết,  vì con người không phải là lợn, nên nói như Trang Tử, không thể chứng minh lợn không biết đến vô hạn tiềm năng. 

     2. Chúng ta có thể hình dung về vô hạn tiềm năng khi chúng ta kẻ một đoạn thẳng trên một tờ giấy. Đoạn thẳng đó được nhận thức như một continuum. Đó là một ảo tưởng của con người hay là một hiện thực? Nếu chúng ta đồng nhất tập các điểm với tập các phần tử có mực, dĩ nhiên đó là một tập hợp không liên tục, nếu chúng ta phóng to đoạn thẳng đã vẽ. Sẽ có những phân tử giấy không dính mực. Cho dù các phân tử giấy đều dính mực, khoảng không giữa chúng không thể dính mực, vì mực là các phân tử. Như vậy đoạn thẳng chỉ là ảo giác của cái mà chúng ta vẽ trên giấy mà thôi. 

     3. Không phải chỉ với continuum chúng ta mới cần năng lực siêu việt hóa của nhận thức. Bản thân khái niệm vô hạn đã là tưởng tượng, vì thế vô cực cũng chỉ là một ký hiệu hình thức chỉ cái siêu việt hóa của quá trình lấy một số tự nhiên bất kỳ cộng với 1 vô hạn lần. Trong ý thức chúng ta luôn có tiềm năng làm điều đó nhưng không thể chứng minh con lợn có nhận thức được điều đó hay không. Nói một cách khác liệu continuum là khái niệm a priori à la Kant hay khái niệm sinh ra từ kinh nghiệm. 

      4. Có một điểm trái ngược giữa quan điểm của Kant về sự hiện hữu với các nhà duy vật. Đối với Kant, các khái niệm tiên nghiệm như không thời gian, Thượng đế,... đều tồn tại có sẵn trong ý thức con người, độc lập với kinh nghiệm. Theo ông, kinh nghiệm là giả tưởng, sản phẩm của ý thức sinh ra trong quá trình con người tương tác với tự nhiên, vốn không có thực.  Đối với các nhà duy vật, chỉ những gì do kinh nghiệm đem lại mới là có thực, không thời gian, Thượng đế và bất cứ thứ gì Kant cho là tiên nghiệm đều không có thực, và chỉ là ảo tưởng của nhận thức trong quá trình suy nghĩ mà thôi. Ngay quan niệm về hiện hữu đã không xác định thống nhất được thì tranh luận triết học về cái "có thực" hay "tiềm năng" chỉ là biện thuyết. 

      5. Ông thầy dạy Toán của tôi, Viện sĩ Daróczi Zoltán nói rằng số thực, cũng là một continuum là có thực vì nó là tập hợp duy nhất thỏa mãn 3 tính chất: i) trường đại số (nghĩa là có thể cộng trừ nhân chia) ii) sắp thứ tự được, và iii) trù mật (dày đặc) khắp nơi. Tính chất cuối phản ánh tính continuum tức là mở một lân cận bất kỳ luôn có một số thực. Tất nhiên chữ "bất kỳ" đã chứa đựng nghĩa như "tiềm năng". Tất nhiên ông cũng cẩn thận khi nói rằng chúng ta phải thêm ký hiệu vô cực vào tập số thực để nó đóng kín đại số, thí dụ như chia cho 0. Đây là cách quan niệm số thực theo sách giải tích của Walter Rudin, khác với quan niệm bằng lát cắt Dedekin của sách Fichtengolc. Đó không phải là điều tôi muốn nói. Cái tôi muốn nói là số thực liệu có thực hay giả tưởng. 

       6. Kinh Dịch quan niệm mọi trạng thái của bất cứ sự vật nào đều có thể mô tả bằng 64 quẻ. Tất nhiên đó chỉ là một mô tả gần đúng, khi chồng 6 hào âm dương lên nhau. Nhưng nếu tại mỗi quẻ chúng ta lại tiếp tục phân tích thành 64 quẻ và tiếp tục làm điều đó (một cách tiềm năng) thì liệu đó có thể là toàn bộ hiện thực hay không? Về mặt Toán học, nếu công nhận số thực là "có thực" thì có lẽ không thể mô tả toàn bộ hiện thực bằng cách chồng (lồng) quẻ như thể. 

       7. Newton khi xây dựng hệ thống thế giới thấy cần thiết mô tả thế giới bằng các hàm có biến số continuum (thực). Hệ thống này hoạt động tốt, mô tả chính xác chuyển động của mọi vật. Theo một quan niệm nào đó, điều đó nói lên là hàm có biến số continuum, cũng như continuum là có thật. Chúng ta không thể phủ định sự có thật của một khẩu súng, vì kê nó vào thái dương bóp cò không thể là một giả tưởng, vì hệ quả của nó không thể đảo ngược. Khẩu súng đó là kết quả của các định luật Newton, dựa trên các hàm biến số thực. Theo một quan niệm nào đó, như vậy, chúng ta có thể cho rằng continuum số thực là có thực. 

      8. Tuy vậy, cơ học lượng tử ra đời, cho thấy rằng trong thế giới vi mô có những hiện tượng, ở đó chúng ta không thể gán các giá trị thực cho những đại lượng, mà chúng ta có thể gán tùy ý trong thế giới của chúng ta. Như vậy, ở đó khái niệm về tiềm năng trở thành không có thực. 

     9. Thuyết lượng tử Planck, cho rằng năng lượng là gián đoạn  để giải quyết cái gọi là mâu thuẫn bức xạ vật đen, ở đó tổng năng lượng bức xạ của một vật đen sẽ tiến tới vô cùng nếu năng lượng là liên tục. Tôi không biết vật đen có phải là có thực hay không để đây là mâu thuẫn "có thực", thậm chí nếu coi vật đen là có thực thì việc coi năng lượng vật đen có thể bức xạ là hữu hạn liệu có thể là có thực hay đó là một hạn chế của năng lực nhận thức con người.

   10.  Đối với các kỹ sư máy tính, hiện thực có thể mô tả không cần tới continuum.  Nếu chúng ta nói rằng số thực có thực vì khẩu súng là có thực, các kỹ sư máy tính có thể nói, mọi vật trong không gian thực đều có thể mô tả bởi các đối tượng trong không gian ảo xây dựng từ các bit, do đó continuum không CẦN có thực.

   11. Quay trở lại ý tưởng lợn có biết vô hạn tiềm năng hay không, chúng ta có thể lý luận, con lợn vục mặt vào máng ăn mà không băn khoăn đến stress như các triết gia bởi nó cho rằng nếu hôm nay vục mặt ăn được thì ngày mai cũng sẽ tiềm năng như thế. Suy cho cùng con người nhiều khi cũng có thể đã quan niệm như thế về tiềm năng. Bởi thế Trung Quốc có thành ngữ rất hay "hiên nhà cháy én sẻ hớn hở cười". Én sẻ làm tổ ở hiên nhà không hề nhận thức được nhà đang cháy. Tiềm năng của ngày mai giống như  của ngày hôm nay có thể chỉ là giả tưởng mà thôi.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, January 17, 2022

TS. KARIKÓ KATALIN, “MẸ ĐẺ” CỦA VACCINE “THẾ HỆ MỚI” mRNA

 (NCTG) “Karikó nói rằng vinh quang khoa học không phải là điều trong tâm trí bà lúc này. “Thực sự, chúng tôi sẽ ăn mừng khi sự đau khổ của con người kết thúc, khi sự khó khăn và tất cả thời gian khủng khiếp này sẽ kết thúc” - chân dung khoa học về người phụ nữ đã góp phần cứu vãn thế giới dưới ngòi bút của một đồng nghiệp, tác giả Lê Thiết Thành từ Hoa Kỳ.

Lời Tòa soạn: Theo tin từ Việt Nam, TS. Karikó Katalin - được xem như người Hung nổi tiếng nhất hiện tại - đang có mặt tại Hà Nội cùng nhiều nhà khoa học từng đoạt giải Nobel để tham dự lễ trao giải VinFuture diễn ra từ ngày 18/1 đến 21/1/2022. Mạng vnexpress.net cho hay, vào hồi 20h ngày 20/1, chủ nhân của các giải thưởng với tổng giá trị lên tới 4,5 triệu USD sẽ được công bố tại Nhà hát lớn Hà Nội.

Về cuộc đời và sự nghiệp của TS. Karikó Katalin, NCTG đã có nhiều bài viết từ cuối năm 2020, khi thậm chí báo chí Hungary cũng mới chỉ điểm qua về công trình của bà, và bà chưa hề nhận được sự tưởng thưởng nào, kể cả từ chính quyền Hung. Tuy nhiên, hơn 1 năm qua, Karikó Katalin có lẽ đã trở thành người phụ nữ được nhắc đến nhiều nhất trên báo chí quốc tế, sở hữu gần 80 giải thưởng lớn về khoa học.

Những danh hiệu và vinh quang không làm thay đổi nhà khoa học giản dị, với ý chí kiên cường và quyết tâm đến cùng trong sự nghiệ khoa học. Trong các trao đổi với NCTG, TS. Karikó Katalin luôn bày tỏ là một con người dễ gần, thân thiện, coi khoa học và nghiên cứu là niềm đam mê chứ không màng công danh và tiền bạc. Chân dung khoa học sau đây khắc họa những chặng đường gian khổ mà bà đã trải qua.

Bài viết đồng thời cũng là lời chúc sinh nhật lần thứ 67 (vào ngày 17/1/2022) mà NCTG xin chuyển tới TS. Karikó Katalin. Trân trọng giới thiệu tới độc giả! (BBT)

*

Trong đại dịch Covid-19, tôi rất quan tâm theo dõi các bài báo và thông tin liên quan đến vaccine mRNA, nhất là đối với TS. Karikó Katalin, người có công đầu trong việc xây dựng nên công nghệ mRNA.

Nhìn ảnh, tôi nhận ra khuôn mặt quen thuộc, vì năm 1983-1984, tôi cũng làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Sinh học Szeged, thường gọi tắt là BRC (Biological Research Center). Bà làm việc ở Viện Hóa sinh (Institute of Biochemistry) tầng 4, còn tôi ở tầng 3. 

Hầu như, tất cả các nhà khoa học tại BRC của Hungary, ít nhất đã một lần đi tu nghiệp ở Mỹ. Đối với rất nhiều người vào thời gian đó tại các nước Đông Âu, nước Mỹ là giấc mơ, và là điểm cần đến. Nếu có cơ hội, họ đều tìm việc làm và định cư ở Mỹ.

Vaccine

Trước khi nói về sự nghiệp của TS. Karikó Katalin, chúng ta hãy điểm qua về công nghệ vaccine.

Thông thường, để chế tạo vaccine, một nguyên liệu bắt buộc phải có, đó là protein đặc thù của bệnh phải được tạo ra, làm kháng nguyên cho tế bào nhận dạng và sản xuất kháng thể.

Có nhiều cách để tạo ra protein này, như sản xuất protein rồi tiêm vào cơ thể, hoặc đưa vào cơ thể một cấu trúc gen mã hóa cho protein đó, rồi để cho tế bào tự sản xuất ra loại protein đó. Trong trường hợp này, gene (DNA) trong nhân tế bào phải biến đổi và tạo ra mRNA, mang thông tin, di chuyển ra tế bào chất (plasma) để tổng hợp protein.

Trước đại dịch Covid-19, quy trình sản xuất vaccine bắt đầu từ giai đoạn DNA. Vaccine của AstraZeneca và Johson & Johson đi theo hướng này. Pfizer và Moderna bỏ qua giai đoạn đầu từ DNA, mà đi ngay vào giai đoạn “giữa” với mRNA. 

Nói nôm na, quá trình sản xuất vaccine mRNA có thể ví như việc người làm vườn chọn kỹ thuật chiết ghép cây ăn quả cho nhanh, thay vì đi từ khâu gieo hạt. 

Trước đây, một loại vaccine mới, để được cấp phép sử dụng, phải mất thời gian 4 năm. Vì thế, việc phát triển và sản xuất thành công vaccine chống lại SARS-CoV-2 lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm, thực sự là một kỳ tích.

Cho đến nay, ngoài hiệu quả rất cao của vaccine mRNA (~95%), chưa có hiệu ứng phụ nào tỏ ra đáng lo ngại như vaccine dựa trên nền tảng DNA liên quan đến việc tạo ra cục máu đông trong cơ thể. 

Về phương diện kỹ thuật, mặc dù vaccine mRNA tương đối dễ thiết kế và chế tạo, chúng chưa hề được sản xuất trước đại dịch Covid-19. Vậy ai là người có ý tưởng và đặt nền móng cho phương pháp sản xuất vaccine mRNA? 

Đó chính là TS. Karikó Katalin!

1980, Szeged

Sinh ngày 17/1/1955, Karikó Katalin lớn lên ở Kisújszállás, một thành phổ nhỏ nằm ở trung tâm của Hungary. Sau khi lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học TP. Szeged, Karikó tiếp tục nghiên cứu và làm postdoct (nghiên cứu sinh hậu Tiến sĩ), tại Viện Hóa sinh, Trung tâm Nghiên cứu Sinh học của Hungary đặt tại TP. Szeged.

Cùng cha mẹ vào đầu thập niên 80 thế kỷ trước

Lĩnh vực nghiên cứu mà Karikó quan tâm là về các cơ chế dung nạp (mediate) RNA và quá trình phiên mã mRNA tổng hợp protein invitro (trong ống nghiệm). Năm 1985, bà cùng chồng và con gái nhỏ rời Hungary đến Mỹ làm postdoct tại Đại học Temple ở Philadelphia.

Bà Karikó Katalin tại labor của mình, năm 1989 - Ảnh tư liệu

Có một chuyện vui mà Katalin kể là hồi đó, chỉ được phép chuyển đổi 100 USD, nên bà đã nghĩ cách qua mặt hải quan bằng cách giấu 900 bảng Anh vào bên trong con gấu bông của con gái lúc đó mới 2 tuổi. Bà thích thú kể chuyện này vì cái chuyện “che giấu”, đôi khi ở đời cũng rất cần thiết, và theo một cách nào đó, toàn bộ sự nghiêp của bà về mRNA cũng dựa trên loại giải pháp thông minh này.

Vào năm 2005, bà đã khám phá ra cách thay đổi một nucleoside của phân tử mRNA để “giấu” nó trước sự phát hiện của tế bào, vượt qua sự phòng thủ tự nhiên của cơ thể. Điều đó đã mở đường cho những gì gần đây trở thành một trong những thành tựu vĩ đại của khoa học hiện đại, đó là việc sản xuất vaccine mRNA. Lần đầu tiên trong lịch sử, loại vaccine này đã được chế tạo và đưa vào thực tiễn trong vòng chưa đầy một năm. 

Tại Đại học Temple ở Philadelphia, Karikó đã tham gia một thử nghiệm lâm sàng cho các bệnh nhân mắc bệnh AIDS, bệnh huyết học và mệt mỏi mãn tính được điều trị bằng RNA sợi kép (dsRNA). Vào thời điểm đó, nó được coi là nghiên cứu đột phá vì cơ chế phân tử cám ứng interferon bởi dsRNA chưa được biết đến, nhưng tác dụng chống ung thư của nó đã được ghi nhận rõ ràng.

Các nghiên cứu và chuyên môn của bà bao gồm liệu pháp gen dựa trên mRNA, phản ứng miễn dịch do RNA gây ra, cơ sở phân tử của khả năng dung nạp cũng như điều trị thiếu máu cục bộ ở não.

Trắc trở

Thật ra, công việc nghiên cứu lúc đầu của Katalin không hề suôn sẻ. Khoảng 30 năm trước, ý tưởng dùng mRNA vào các liệu pháp trị bệnh được xem là viển vông. Mặc dù bà đã nộp đơn xin kinh phí nghiên cứu (grants) nhiều lần, nhưng đều bị từ chối.

Năm 1990, tại Đại học Pennsylvania, với chức danh Adjunct Professor (Giáo sư bán chính thức), Karikó đã nộp đơn xin tài trợ, trong đó bà đề xuất thiết lập liệu pháp dựa trên mRNA. Kể từ đó, đề tài này trở thành mối quan tâm nghiên cứu chính của bà. Đang trên đà trở thành giáo sư toàn phần (Full Professor), nhưng việc bị từ chối tài trợ đã khiến Karikó bị trường đại học từ chối vào năm 1995. 

Năm 1997, tình cờ, Karikó gặp Drew Weissman, một giáo sư miễn dịch học vừa mới đến nhận việc tại trường, trong khi họ dùng chung một máy photocopy, và sau đó bắt đầu làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề phản ứng miễn dịch mRNA.

Trong một loạt bài báo bắt đầu từ năm 2005, Karikó và Weissman đã mô tả cách sửa đổi nucleoside trong mRNA dẫn đến giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Họ thành lập một công ty nhỏ và vào năm 2006 và 2013 đã nhận được bằng sáng chế cho công trình biến đổi nucleoside làm giảm phản ứng miễn dịch kháng virus đối với mRNA.

Ngay sau đó, trường đại học đã bán bằng sở hữu trí tuệ cho Gary Dahl, người đứng đầu một công ty cung ứng phòng thí nghiệm và sau đó trở thành công ty Cellscript.

Vào đầu năm 2013, Karikó nghe nói về thỏa thuận trị giá 240 triệu USD của Moderna với AstraZeneca để phát triển mRNA VEGF (Vascular endotherial growth factor: yếu tố làm tăng nội mô mạch máu). Karikó nhận ra rằng bà sẽ không có cơ hội áp dụng kinh nghiệm của mình với mRNA tại Đại học Pennsylvania, nên đã nhận vai trò là Phó chủ tịch cấp cao của Công ty BioNTech RNA Pharmaceuticals (Đức). 

Công việc và nghiên cứu của Karikó đã góp phần vào nỗ lực của BioNTech trong việc tạo ra các tế bào miễn dịch sản xuất kháng nguyên vaccine, Nghiên cứu của bà cho thấy rằng phản ứng kháng virus từ mRNA đã giúp các vaccine ung thư tăng cường khả năng phòng thủ chống lại các khối u.

Vào năm 2020, công nghệ của Karikó và Weissman đã được sử dụng trong việc chế tạo vaccine kháng Covid-19 do Pfizer và BioNTech cùng sản xuất. 

“Mọi người đều phủ nhận nó. Nhưng đó là đam mê”

Karikó bị giáng cấp vào năm 1995 tại Đại học Pennsylvania. Cũng trong khoảng thời gian đó, bà bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Đồng thời, chồng bà bị giữ lại Hungary 6 tháng do vấn đề về thị thực. Tuy nhiên, Karikó vẫn tiếp tục theo đuổi nghiên cứu của mình. Trong các buổi phỏng vấn với báo chí thời gian vừa qua, Katalin cho biết:

“Thông thường, vào thời điểm đó, mọi người chỉ nói “goodbye and leave” (tạm biệt và bỏ đi) vì nó quá kinh khủng”, bà nói với “Stat”, một trang tin tức sức khỏe, vào tháng 11/2020. “Tôi đã nghĩ đến việc đi một nơi khác, hoặc làm điều gì đó khác. Tôi cũng nghĩ có lẽ tôi không đủ năng lực, không đủ thông minh”.

Karikó cho biết, mặc dù bà đã cố gắng sửa chữa đơn xin kinh phí nghiên cứu nhiều lần, và đưa ra triển vọng ứng dụng của nó, nhưng tất cả đều bị bác bỏ. Bà nói: “Tôi tiếp tục viết và cải tiến cách tiếp cận… Tôi đã đưa ra các ứng dụng v.v…, cố gắng xin tài trợ của chính phủ, từ các nhà đầu tư, nhưng mọi người đều từ chối nó” (…but everybody rejected it).

Lần thứ 2 bà bị bị từ chối công việc giảng dạy vào năm 2013: bà nói rằng Đại học Pennsylvania đã “kết luận rằng tôi không có đủ chất lượng để làm giảng viên” (not of faculty quality). Ở Mỹ, “faculty” có nghĩa là thuộc về công việc dạy đại học, thông thường có 3 mức: Assistant Professor (Prof.), Asociate Prof., và Full Prof. Sau khi quyết định gia nhập BioNTech với tư cách là Phó chủ tịch cấp cao, họ đã giễu Karikó: “Khi tôi nói với họ rằng tôi sẽ rời đi, họ đã cười nhạo tôi và nói, BioNTech thậm chí còn không có trang web”.

Công việc đòi hỏi bà phải sống ở Đức, trong khi chồng con ở lại Philadelphia. “Tôi nói với anh ấy, tôi sẽ chỉ đi cho đến khi người đầu tiên được tiêm mRNA” . Và Karikó nói: “Bây giờ tôi có thể về nhà” (tức về Mỹ).

Vấn đề là thế này: mRNA tạo ra trong phòng thí nghiệm, khi đưa vào cơ thể, sẽ bị tế bào phát hiện là vật lạ xâm lấn, do đó sẽ bị phá hủy, trước khi nó có thể tạo ra protein. Thí nghiệm trên chuột đã chỉ ra rằng, nó còn gây ra viêm nhiễm nguy hiểm. Vì thế, phải làm thế nào để giải quyết được vấn đề hóc búa này. Karikó đã làm việc trong nhiều năm để tìm ra giải pháp: Đó là làm thế nào để biến đổi phân tử mRNA, đánh lừa cơ thể, để cơ thể dung nạp nó. 

Karikó thường bắt đầu làm việc từ 6 giờ sáng, nhiều khi kể cả vào cuối tuần, thậm chí ngủ qua đêm tại văn phòng. “Thoạt nhìn, có vẻ điên rồ, vật lộn, nhưng tôi chỉ thấy hạnh phúc khi ở trong phòng thí nghiệm”, bà nói. “Chồng tôi luôn luôn (kể cả bây giờ) vẫn nói: “Đây là trò giải trí cho em”. Tôi không nói rằng tôi đi làm. Xem nó giống như một buổi đi dạo”.

Và cuối cùng, niềm đam mê đã được đền đáp. Karikó đã tìm ra “thủ phạm”. Hóa ra, chỉ là một mắt xích của phân tử RNA. Đó chính là một nucleoside, được gọi là Uridine. Chỉ với một chút thay đổi đối với nucleoside đó, Karikó và Weissman đã có thể ngăn chặn phản ứng nguy hiểm ở chuột.

Lần đầu tiên, Karikó thu được kết quả mong muốn, bà không tin ở mắt mình. Karikó nói: “Tôi lặp lại thử nghiệm của mình vì tôi nghĩ rằng tôi đã làm sai”.

Nhưng đó không phải là một sai lầm - cặp đôi này đã công bố phát hiện vào năm 2005, và được cấp bằng sáng chế.

Kỳ thị?

Karikó và Weissman đã đăng ký bằng sáng chế ngay sau khi nghiên cứu của họ được công bố. Khi bằng sáng chế ban đầu được đệ trình, tên của Karikó đã được liệt kê ở vị trí thứ hai. Nhưng bà ấy đã chiến đấu để được đặt lên đầu tiên. 'Không được, đó là ý tưởng của tôi,” Karikó nói. “Tôi khăng khăng - hãy đổi lại”.

Khăng khăng và quyết liệt, có lẽ, là một phản ứng đối với sự phân biệt giới tính hay là kỳ thị mà bà đã phải đối mặt trước đó nhiều năm trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Một lần, Karikó cho biết, bà đã được hỏi tên người phụ trách (supervisor) của mình, trong khi chính bà là người đang điều hành phòng thí nghiệm của riêng mình.

Người ta gọi Karikó là “Bà” (Mrs.) trong một bài báo, trong đó các đồng nghiệp nam giới của bà được xướng danh là “Giáo sư” (Professor). Trong một bài báo khác, người ta còn nhầm lẫn cho bà là postdoc trong phòng thí nghiệm của Weissman. Bà nói: “Tôi không làm việc trong phòng thí nghiệm của bất kỳ ai… Tôi đã tạo ra lĩnh vực của riêng mình”.

Một chuyện thú vị là, con gái của Karikó là Susan Francia (tên Hung là Francia Zsuzsanna), vận động viên thể thao, đã 2 lần đoạt HCV Thế vận trong đội tuyển chèo thuyền của Hoa Kỳ vào năm 2008 và 2012. Nói thêm, sau bài báo có tính chất đột phá của Karikó, Đại học Pennsylvania đã ban thưởng Susan nhập học tại trường với một phần tư học phí thông thường.

Vinh quang và phần thưởng

TS. Karikó Katalin đã vật lộn trong nhiều năm để thuyết phục các đồng nghiệp và tìm ra cách thay đổi cấu hình mRNA để nó vượt qua hệ thống phòng thủ tự nhiên của cơ thể - một khám phá mở đường cho vaccine mRNA đầu tiên trên thế giới.

Các vaccine “thế hệ mới” của cả Pfizer-BioNTech và Moderna - đang được sử dụng ở Mỹ và một số quốc gia trên thế giới - đều dựa trên công nghệ này. Đây là một bước đột phá quan trọng, bừng lên ánh sáng và hy vọng về sự kết thúc của đại dịch đen tối nhất trong lịch sử.

Robert Langer, người cũng có vai trò không kém phần quan trọng, tìm ra một polymer bọc các hạt phân tử DNA và RNA để chuyển tải chúng qua màng tế bào và không bị phá vỡ, nói rằng “Đối với tôi, đây là nơi bạn thực sự thấy giá trị xác thực của con người, rằng điều gì đó mà bạn đã đóng góp, sẽ thực sự làm đổi thay thế giới”. Nhiều nhà khoa học cho rằng Karikó và Weissman đều xứng đáng nhận Giải Nobel.

“Nếu ai đó hỏi tôi sẽ bỏ phiếu cho ai trong một ngày nào đó, tôi sẽ đặt họ ở vị trí hàng đầu và trung tâm”, Derek Rossi, Phó Giáo sư tại Trường Y, Đại học Harvard, một trong những người sáng lập Công ty dược phẩm Moderna tuyên bố. 

Karikó cho biết bà đã nhận được thông báo về kết quả thử nghiệm tốt đẹp của Pfizer-BioNTech vào đêm trước khi chúng được công bố. Sau đó, bà tự àthưởng cho mình một túi Goobers ưa thích (loại kẹo đậu phộng bọc chocolate). Bà nói: “Tôi đã nói với chồng tôi, tôi sẽ ăn toàn bộ ngay bây giờ”.

Karikó nói rằng vinh quang khoa học không phải là điều trong tâm trí bà lúc này. Bà nói trong phỏng vấn với Chris Cuomo của CNN: “Thực sự, chúng tôi sẽ ăn mừng khi sự đau khổ của con người kết thúc, khi sự khó khăn và tất cả thời gian khủng khiếp này sẽ kết thúc, và hy vọng vào mùa hè, chúng ta sẽ quên đi virus và vaccine. Và khi đó tôi sẽ ăn mừng”.


Được liệt vào các anh hùng của năm 2021 do tạp chí “Time” bình chọn

(*) Tác giả là Tiến sĩ Sinh học phân tử, hiện làm việc tại Trường Y, Đại học Tổng hợp Ohio, Hoa Kỳ.

Lê Thiết Thành, từ Hoa Kỳ

Tuesday, April 21, 2020

Vai trò khoa học ở VN

Khoa học công nghệ có vai trò mờ nhạt tại Việt Nam do không phát huy được sức mạnh lớn nhất của mình.
   Có thể các nhà khoa học không đủ dũng cảm gánh vác, hoặc không đủ tầm nhận thức. Cũng có thể các nhà quản lý không chịu giao trách nhiệm, hoặc nhận thức kém. Cũng có thể cả hai.
    Giá trị lớn nhất của KHCN ở Việt Nam chưa phải là nội dung khoa học của các bài báo, sản phẩm, trước hết là đóng góp vào hệ thống giá trị một tinh thần đổi mới. KHCN Việt Nam phải đưa được văn hóa đổi mới sáng tạo vào đời sống, phải lãnh đạo, tiên phong về tinh thần đổi mới nói chung (không nhất thiết về KHCN) trong phát triển kinh tế xã hội. Nhà khoa học phải là nhà khai phóng, phản biện các giá trị cũ, tạo lập các giá trị mới, KHCN sẽ đến sau khi tinh thần khai phóng trở nên phổ biến, cạnh tranh và thăng hoa.
    Thực tế các nhà khoa học Việt Nam lại bảo thủ hơn phần lại của xã hội, trở nên học phiệt và dựa vào nhau như một quần thể đa bào, rất sợ đơn độc và tách khỏi đề tài quen thuộc để vào cuộc sống.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, February 5, 2020

THUYẾT TỔNG QUÁT VŨ TRỤ

Sau khi xem vài bài đăng gần đây của 1 người bạn. Tôi tình cờ đọc được 1 bài viết về vật lý, mà tôi cho rằng: cũng là 1 tác giả đang cố gắng mở ra những trang mới trong thời đại hiện nay.
-----------

TRONG LỊCH SỬ VẬT LÝ LÝ THUYẾT, CHỈ DUY NHẤT THUYẾT TỔNG QUÁT VŨ TRỤ LÀ VƯỢT QUA ĐƯỢC MỌI KIỂM NGHIỆM CỦA THỰC TẾ VÀ ĐƯỢC THỰC TẾ GỢI Ý ĐỂ MỞ RA NHỮNG CHÂN TRỜI MỚI CHO KHOA HỌC.
“Bởi vì tất cả những gì vĩ đại và cao cả đều được tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do". AlBERT EINSTEIN

Ngày nay các kĩ sư của chúng ta , có sự hiểu biết và trình độ vượt xa các bật vĩ nhân trong quá khứ, như Newton, Galile, Bo,v.v... thậm chí là cả Einstein. Đó là chưa kể đến một số lượng hùng hậu các nhà khoa học lổi lạc trong mọi lĩnh vực khoa học, thế mà lại vẫn còn đang loay hoay với những điều mà các nhà nhà khoa học trong quá khứ đã phải loay hoay. Phải chăng, quan niệm về tự nhiên của chúng ta cũng giống như quan niệm của các nhà thông thái cổ điển về tập số tự nhiên, đã khiến chúng ta phải diễn đạt tự nhiên càng ngày càng phức tạp. Mỗi tư duy có một quan niệm về tự nhiên cho riêng mình, tự nhiên giống như mọi tảng đá đều có một hình hài tuyệt phẩm trong lòng nó, đối với Mikenlanger thì đó là bức tượng chàng Đavit, như ông đã nói: “Tôi chỉ bóc đi phần thừa của tảng đá để chàng Đavit lộ ra mà thôi!”. Tóm lại, tự nhiên chỉ có một, nhưng lại có vô số các quan niệm về tự nhiên, không thể khẳng định quan niệm này là đúng, quan niệm kia là sai, vì đó là ý kiến
chủ quan. Điều quan trọng là ở chổ, quan niệm nào cho ta có được sự tư duy dễ dàng mà không bị mâu thuẩn với tự nhiên, không những thế mà, dường như tự nhiên cũng đang mách bảo cho chúng ta.

Công trình nghiên cứu của một cá nhân chỉ là hạt cát trong sa mạc khoa học mênh mông của nhân loại đã phát triển trải qua hàng nghìn năm lịch sử.
Nhưng khoa học như con đường, sẽ tới lúc phải có ngả rẽ, hiện nay nhân loại đang đứng ở ngả ba của con đường, giữa một bên là nền vật lý hiện đại, một bên là nền vật lý cổ điển được bổ sung thêm thuyết Tổng Quát Vũ Trụ với hai định luật và quan niệm mới về không gian vật chất. Cũng xin nói thẳng, thuyết Tổng Quát Vũ Trụ đã phủ nhận hoàn toàn các quan niệm hiện nay về không gian, thời gian, ánh sáng nói riêng và môi trường bức xạ nói chung, kể cả quan niệm về sự tồn tại đang rất phổ biến trong các ngành vật lý lý thuyết hiện đại. Vì vậy rất khó để cho những nhà vật lý lý thuyết chuyên nghiệp và những ai có trình độ vật lý tầm tầm bật trung để ý quan tâm nghiêm túc. Bởi với họ, công nhận nó chẳng khác nào tự tay bóp nát trái tim
mình. Thuyết này rất thích hợp và dễ hiểu cho những nhà bác học lổi lạc luôn trăn trở với tự nhiên và những ai đam mê nghiên cứu khoa học, muốn khám phá những bí ẩn của tự nhiên với quan điểm và mục đích duy nhất là:
Đúng và Sai mà thôi!

(trích dẫn phần đầu - từ net)

Nguồn:

Tuesday, January 14, 2020

Tâm hút thiên hà là lỗ đen?

Tôi đọc đâu đó thấy nói người ta loại giả thiết này bằng thực nghiệm rồi. Tuy vậy ta có thể tính toán thử bằng một số tính toán đơn giản.
Ở khoảng cách xa thì có nhiều lỗ đen phân bố thế nào không quan trọng, lực hấp dẫn cũng đều tương đương với khối lượng tổng cộng M đặt ở tâm. Trước tiên, có tin tốt lành là chúng ta có thể ước lượng M dựa trên dữ liệu hiện có với mức độ chính xác chấp nhận được. Giả thiết quỹ đạo của hệ Mặt Trời quanh tâm Ngân Hà (Milky Way) có thể xấp xỉ bằng hình tròn mà không thay đổi nhiều đến kết quả tính. Chúng ta cũng có thể bỏ qua các hành tinh. Chúng ta biết chu kỳ quay của hệ Mặt Trời quanh Ngân Hà là khoảng 240 triệu năm và khoảng cách từ Mặt Trời tới tâm Ngân Hà là 27 nghìn năm ánh sáng. So sánh lực hướng tâm và công thức Newton, ta suy ra M. Tôi chưa có thời gian để tính toán đưa ra ước lượng cụ thể, nhưng chắc chắn rất khủng (hy vọng không vượt quá khối lượng Ngân Hà cũng là dữ liệu đã có).
Công thức bán kính Schwarzchild của vật có khối lượng M là R= MG có thể vượt quá bán kính Ngân Hà nhiều lần vì tăng theo quy luật M^2. Vì vậy việc có 1 lỗ đen khối lượng khổng lồ M làm tâm hút ít có khả năng hiện thực.
Vì vậy chúng ta phải giả thiết có nhiều lỗ đen nhỏ khối lượng cỡ cùng bậc vài cho đến vài chục khối lượng Mặt Trời (để đảm bảo ổn định, vì lỗ đen nhỏ và siêu nhỏ sẽ bốc hơi rất nhanh do bức xạ Hawking). Tuy vậy, các lỗ đen này phải có cự ly tương đối xa nhau để chúng không sáp nhập. Tức là chúng phải cách nhau xa hơn giới hạn Roche của chúng, tức là vài chục triệu km. Tức là khoảng 1 triệu lần bán kính của chúng. Tức là chúng ta cố tăng mật độ của đám lỗ đen ở tâm bằng cách phân tán thành các lỗ đen nhỏ, nhưng vẫn phải giảm đi ít nhất 10^{18} lần để chúng khỏi "ăn" nhau trong 13 tỷ năm qua. Nhờ các bạn tính thử cụ thể xem việc tách này có ích lợi gì không. Tôi cho là không. Bị hạn chế như vậy, thì mật độ của "vật chất lỗ đen" vẫn như vậy và dẫn tới bán kính của vật chất lỗ đen "ở tâm" có thể vượt khoảng cách từ tâm tới Mặt Trời.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Friday, June 21, 2019

Làm khoa học tại Việt Nam

Theo tôi bạn không nên nghiên cứu bất cứ điều gì nếu không có 10 người sẵn sàng nghe bạn và bạn sẵn sàng nghe họ. Đôi khi bạn không có đủ 10 người, nhưng bạn có thể bắt đầu bằng niềm tin là sẽ có 10 người đó.
Như vậy, ở Việt Nam bạn cần cân nhắc khi chọn một trong các cặp sau đây:
1. Tâm linh - Ý thức
2. Triết học - Tôn giáo
3. Khoa học - Giả khoa học
4. Công nghệ - Bán hàng


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Friday, May 31, 2019

Thiết kế chip AI

Chuyện VN thời 4.0: nghe tiết lộ thông tin phải nói dân VN siêu việt.
-----------
Trước đây chừng 5 năm có anh bạn chê mình nào là tự ti, là không tin tưởng dân VN xử lý big data, blah blah blah. Mình cũng nói luôn, lấy đ@o đâu ra data ở cái xứ cấm data mà đòi xử lý big data. Chuyện vớ vẩn. Chưa bàn đã thấy sai nghị quyết!
Ít lâu sau có anh trao đổi với mình về xử lý ngôn ngữ tự nhiên, cụ thể là tiếng Việt, với kết quả là tốt hơn cả các công cụ hiện có - lập lờ ám chỉ Google, Amazon, ... Nghe đoạn này xong mình khen lấy khen để cho vài câu. Thực ra về trình chém còn thua xa mấy thằng hồi xưa làm công ty mình.
Cách đây vài hôm có anh profile rất đẹp, nào là tốt nghiệp BK HCM, kinh doanh toàn cầu, ... đề xuất make friend. Ừ thì make.
Hôm nay anh ấy hỏi mình làm gì, sau vài câu chào hỏi rất ngoại giao.
Mình nói luôn là ba cháu đang nghiên cứu trí tuệ nhân tạo dựa trên tính toán lượng tử. Nghe xong tắt đài. Tuy nhiên, cái tuy nhiên này mới mất thì giờ, là anh ấy vuốt đuôi bảo là anh em mình cùng dân kỹ thuật, nào là anh ấy cũng đang làm mấy cái AI.
AI mà làm tới mấy cái thì ... cao thật. Phải hỏi thêm anh ấy làm AI là làm gì, anh ấy tiết lộ là làm chip AI. Chết cha, đúng cao thủ chém ... gió hụt. Thế là ba cháu tương luôn là công nghệ vi mạch bao nhiêu nm, dòng gì của ARM, ... Anh ấy cười nhẹ và bảo tiết lộ hơn thì lộ hết bí mật.
Hèn gì VN không phát triển gì về ứng dụng. Toàn các phát kiến thế kỷ giấu thật sâu, chỉ sợ lộ ra ngoài mấy thằng khác đánh cắp, phát triển cho cả thế giới xài.
Câu quảng cáo không bao giờ lạc hậu của Tổng cục Du lịch: Việt Nam - a hidden charm. Quyến rũ mà ẩn đi hèn gì nhìn kỹ giống mấy thằng chợ đầu cầu Ông Lãnh.
Xem kỹ lại trước khi unfriend Eistein của năm hoá ra có 7-8 friend của mình cũng là friend ông này.
Có khi mình phải xem lại bản thân!
Đoàn Hồng Nghĩa (ELTE.VIDI90)

Friday, April 12, 2019

Ảnh của lỗ đen

Phát hiện lỗ đen ắt phải là một thành tựu lay trời chuyển đất. Cả một thế hệ vật lý hàng đầu từ Chandrashekhar, t’Hooft, Hawking,... dành phần lớn sự nghiệp của mình xây dựng các bức tranh về thế giới dựa trên giả thiết tồn tại của lỗ đen. Vẽ bức ảnh về số liệu thu được từ một đối tượng được coi là lỗ đen là một việc chỉ cần một kỹ sư thông thường về IT đều làm được. Thuật toán tương tự như vẽ bản đồ nhiệt là chuyện rất bình thường, có thể phức tạp hơn tý chút nhưng chắc chắn không phải phát kiến gì lớn lao.
Đưa tin về thành tựu mới lẽ ra phải nhấn mạnh điểm quan trọng. Đằng này mọi bản tin đều giật tít về việc vẽ ảnh lỗ đen. Trái lẽ tự nhiên bao giờ cũng có ẩn tình. Tôi nghi rằng “phát hiện lỗ đen” chưa có cơ sở chắc chắn nên họ mới công bố ra truyền thông theo cách đó. Các nhà vật lý làm việc cho dự án khủng như vậy không phải là kẻ khờ. Họ ắt phải biết truyền thông thành công sẽ dẫn tới tăng ngân sách đầu tư. Vì vậy chỉ có thể giải thích đây chưa phải là cột mốc của thế kỷ như truyền thông hoặc một số nhà vật lý được phỏng vấn nói.
Có thể nghi ngờ của tôi bắt đầu từ việc thiếu niềm tin vào sự tồn tại của lỗ đen. Các nghiệm lỗ đen như Schwarzchild, Reissner-Nordstrom đều dựa trên trường hấp dẫn và trường điện từ mà không có trường vật chất. Tôi cảm thấy việc không có vật chất mà có khối lượng không được hợp lý, trái với nguyên lý vật chất làm biến dạng không gian. Lỗ đen là biến dạng không gian theo nhiều cách khác nhau (phụ thuộc vào khối lượng, moment quay và đối xứng) mà không có vật chất.
Tương tác ở tầm ngắn là tương tác non-abelian, vật chất ở mức vi mô đều là spinor. Lý thuyết thực tế phải có vật chất, tương tác nonabelian. Thực tế khi có tương tác nonabelian và hấp dẫn, nghiệm lỗ đen Schwarzchild, hoặc Reisssnee-Nordstrom sẽ trở thành nghiệm Bartnik-Mckinnon, hoàn toàn chính quy không có kỳ dị và đường chân trời. Nghiệm Bartnik-Mckinnon không bền và chưa phải là thực tế. Nếu ta xét hệ Einstein-Yang-Mills-Dirac ta vẫn có nghiệm chính quy và ổn định (kết quả của các nhà toán học Finster-Smoller-Yau). Tóm lại, nếu nghĩ theo hướng này, lỗ đen có thể sẽ biến mất khi có trường vật chất.
Dù thế nào đi nữa việc giật tít “vẽ hình lỗ đen” cho khám phá ra lỗ đen là không bình thường. Trừ phi đó chỉ là vẽ hình, và như vậy chưa có lỗ đen nào được tìm ra cả.


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Wednesday, April 10, 2019

Một môn hay nhiều môn

1. Trong tương lai làm khoa học cơ bản là hobby. Với sự hỗ trợ của các database, IT, AR, AI, chatbot, social network,... ai cũng có thể làm khoa học được ít nhiều. 
2. Thinking là liên thông, dữ liệu mở, phân tích bằng AI và theo schema, phương pháp được chuẩn hoá và nhúng vào phần mềm. Khi đó kinh nghiệm là vô nghĩa so với dữ liệu lớn + analytics+ search. Phương pháp và kỹ năng tính toán cũng được chuẩn hía thành các thư viện. Khi đó intuition, imagination, idea và association mới là quan trọng, nên expert có thể không còn ưu thế. 
3. Xã hội chỉ cần xây dựng các facility cho open access, chia sẻ quyền truy cập mở. Open supercomputer, open lab, open supercollider,...Open seminar, open lecture, ai cũng có thể tham gia từ xa, qua công nghệ AR. 
4. Con nguòi của tương lai không phải tìm cách acquire skills và knowledge rồi đi tìm việc. Họ sẽ bắt đầu bằng các vấn đề lớn, define câc task (công việc) và tìm, lựa chọn skills và knowledge phù hợp để giải quyết. Rèn luyện skills dù phức tạp đến bao nhiêu, tìm kiếm tri thức dù lớn bao nhiêu cũng trở nên dễ dàng nhờ ứng dụng thông minh và cơ sở tri thức khổng lồ được kết nối. Sẽ không có ai học tính giản đồ Feymann hàng năm, giải phương trình đạo hàm riêng hay tính toán siêu đối xứng cả đời để chỉ có được kỹ năng tính toán cần thiết.
5. Có lẽ trường học sẽ quay lại mô hình của Anh thế kỷ 17-18, hay xa hơn là ở Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa thời cổ, mọi lứa tuổi đều có thể nghe giảng trong một lớp chung. Điều khác biệt là họ truy cập từ xa nhờ công nghệ AR. Họ chỉ cần học cách đặt vấn đề, trực quan, tầm nhìn, ý tưởng được trình bày theo nhiều cách khác nhau. Do đó các thế hệ sẽ bình đẳng và cởi mở học hỏi lẫn nhau. 
6. Có lẽ sẽ chỉ cần một môn học duy nhất cần có giảng đường truyền thống với nhiều tương tác hơn. Các topics sẽ rất phức tạp liên ngành và xuyên ngành, chỉ đặt ra một cách ngẫu hứng, cốt để rèn luyện tư duy. Thầy giáo không thể nói những kiến thức và kinh nghiệm mà các chatbot nối với cơ sở tri thức toàn cầu xuyên ngôn ngữ đều biết đầy đủ, trình diễn sinh động hơn bằng thực tế tăng cường và có thể cắt bớt các chi tiết dư thừa vô bổ.
7. Trước một tương lai như vậy có lẽ việc đào tạo phải thay đổi từng bước để hướng tới cách dạy, câch học như thế. Chúng ta hãy khoan ảo tưởng về việc nạp tri thức như nạp phần mềm máy tính không cần học. Chúng ta hoàn toàn không có cơ sở nào dù là mờ nhạt nhất để tin điều đó có thể là hiện thực. Cố gắng thay đổi chương trình người ta muốn dạy lập trình trong tiểu học, nhiều skills mới, nhiều tri thức STEM, kỹ năng sống hơn. Người ta cũng muốn trẻ có kiến thức toàn cầu vừa nhiều bản sắc dân tộc hơn. Người ta cũng muốn trẻ biết hưởng thụ nghệ thuật, rèn luyện thể chất để thành khách hàng và người lao động mạnh mẽ hơn. Nếu nghe tất cả các đề xuất có lẽ trẻ sẽ bị nhồi như một lũ vịt tội nghiệp, bóp chết mọi cảm hứng sống, trực cảm và ý tưởng.
8. Người ta than phiền lập trình trong tiểu học 1h/ tuần quá ít không nên trò trống gì. 3h Toán, Ngữ văn, 2h cho câc môn khoa học tự nhiên và xã hội cũng bị câc chuyên gia than phiền là quá ít. Nếu không nên trò trống gì thì không nên dạy, và không thể có thời lượng hơn 20h/ tuần cho tất cả các môn. Trê cần được sống, vui chơi, giành thời gian cho người thân và bạn bè.
9. Tuy vậy thời gian dành cho lập trình sẽ rất lớn nếu mọi môn học đều được hỗ trợ bởi và rèn luyện năng lực lập trình. STEM cũng vậy. Nếu tri thức Toán học và Khoa học được vận dụng trong các vấn đề của nhau và của khoa học nhân văn, thời lượng sẽ tăng rất nhiều. Trong các môn STEM người ta có thể dạy những tri thức ngôn ngữ, ngữ văn, lịch sử, tâm lý, xã hội, địa lý. Điều đó có nghĩa là các môn học đã có nhu cầu tích hợp với nhau.
10. Như vậy, vấn đề trước mắt là tích hợp nhiều môn vào một hoặc một số ít môn hay giữ nguyên các môn riêng rẽ tất nhiên phải tinh giản và hỗ trợ lẫn nhau và có một môn “khâu” các môn lại với nhau.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Monday, April 1, 2019

Ba chiêu lập trình,

Ngày xưa có phái Vịnh Xuân 3 chiêu. Tập đi tập lại có 3 chiêu thôi, nhưng đến mức tinh thục, xuất quỷ nhập thần, hạ cao thủ các phái khác như bỡn. Ba chiêu là: Xuất chiêu, Dấp dính và Hạ thổ.
Thực ra, biển học như rừng, ngày nay lại dễ tìm kiếm tra cứu để dùng khi cần. Không cần và cũng không thể nhồi sọ sẵn. Điều khó không phải là học nhiều mà khó ở chỗ nắm được điểm tinh yếu để thâu tóm những điều còn lại khi cần.
Lập trình cũng vậy. Nếu sa vào các định nghĩa, thuật ngữ và các chi tiết lặt vặt, thì dễ tán loạn và khó luyện cho tinh xảo mà khí huyết lại nhộn nhạo dễ đi vào ma đạo, chưa kể sợ hãi và chán ghét lập trình.
Nay tại hạ cũng đưa ra 3 chiêu cho mỗi 3 mức lập trình và một mức thiết kế. Tạm gọi là 4 đẳng Thuật, Nghệ, Pháp, Đạo.
1. Thuật đẳng: Dành cho mọi người, muốn sử dụng lập trình vào công việc của mình trong bất cứ ngành nào
- Đệ nhất chiêu: Biến và địa chỉ
- Đệ nhị chiêu: Nhập và lấy dữ liệu
- Đệ tam chiêu: Vòng lặp và điều kiện
2. Nghệ đẳng: Dành cho người muốn vào nghề lập trình, để kiếm sống. Nếu sạch nước cản 3 chiêu (chưa nói tinh thục) mà chưa có việc vừa ý, xin mời tới gặp tôi.
- Đệ nhất chiêu: Xử lý chuỗi
- Đệ nhị chiêu: Xây dựng giao diện
- Đệ tam chiêu: Kết nối cơ sở dữ liệu
3. Pháp đẳng: Dành cho những người muốn tự mình phát triển sản phẩm hay tổ chức cho những lập trình viên phát triển một sản phẩm
- Đệ nhất chiêu: Thiết kế cấu trúc dữ liệu và giải thuật
- Đệ nhị chiêu: Thiết kế đối tượng và tính năng
- Đệ tam chiêu: Thiết kế các module chức năng dựa trên yêu cầu nghiệp vụ
4. Đạo đẳng: Đây là trình độ bậc thầy, có thể lập tông phái
- Đệ nhất chiêu: Nghệ thuật sử dụng debugger để soát lỗi và đọc code
- Đệ nhị chiêu: Viết makefile và quản lý phiên bản
- Đệ tam chiêu: Kiến trúc hệ thống.
Tất cả các chiêu đều dễ dàng nắm nội dung, nhưng có thể biến hóa vô cùng nếu nắm được chỗ tinh diệu. Có thể nói, là hồ lô thâu tóm vũ trụ lập trình. Nắm được và sử ba chiêu thành thục thì không cái gì liên quan là không biết.


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)
1.Apr.2018

Thursday, March 21, 2019

Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Là hai việc khác nhau, thường do hai thể khác nhau thực hiện. Tuy vậy, xã hội thường nhầm là một. Đặc biệt trong CNTT nhầm lẫn lại càng lớn. Nhiều “nhà CNTT” không tự biết mình là Toán Ứng dụng, Khoa học Máy tính hay Lý thuyết Thông tin. 
Gần đây có một bài trên Tạp chí Pi cho rằng Cách mạng Công nghiệp các đợt trước dựa trên Vật lý THỰC NGHIỆM . Riêng CMCN4.0 bài báo cho rằng SẼ dựa trên TOÁN HỌC. Tất nhiên, đây là một nhận xét mới mẻ và táo bạo, nếu đúng sẽ là một nhận xét có những hệ luận thú vị và quan trọng ảnh hưởng đến đầu tư và chính sách.
Tuy vậy, nếu sai sẽ dẫn đến ngộ nhận, đi sai đường không chỉ lãng phí đầu tư và mất cơ hội, dẫn đến tụt hậu. Do đó đây không phải chuyện chém gió, đúng thì tốt sai không sao, mà là chuyện quốc gia đại sự hệ trọng cần suy nghĩ cẩn thận. Vì vậy có đôi lời bình luận sau:
1. CMCN4.0 nếu có , chưa hoàn tất, thậm chí có thể chưa bắt đầu. Dự báo về nguyên nhân, hậu quả và diễn biến của một cuộc cách mạng là một việc không thể chính xác. Nhất là việc chỉ ra nguyên nhân lại càng khó, nhiều khi rất lâu sau khi sự kiện đã hoàn tất.
2. Cách mạng cơ khí nhắc đến với máy hơi nước của Watt, CM điện khí với các phát minh của Edison, Tesla, CM điện tử với phát minh bóng bán dẫn của Bardeen, Brattain và Shockley. Các phát minh này chắc chắn không thuộc Vật lý thực nghiệm mà là vấn đề kỹ thuật, công nghệ. Các nhà phát minh ra transistor tình cò là các nhà vật lý nhưng họ cũng là các kỹ sư khi phát minh.
3. Người ta có thể đặt vấn đề cơ sở khoa học của các phát minh đó là gì. Cùng category với Toán học là Cơ học của Newton, Điện động của Maxwell, Thuyết lượng tử của thế hệ rừ Planck đến Dirac. Họ đều là các nhà vật lý không hề làm thực nghiệm. Giữa các khám phá khoa học và phát minh kỹ thuật là một chuỗi, thực nghiệm, kỹ thuật, công nghệ đều có tầm quan trọng không thể thiếu.
4. Có lẽ ý tưởng cho Toán học là cơ sở của CMCN4.0, một ý tưởng rất hữu ích trong việc tuyên truyền STEM cho thiếu nhi, nhưng không đảm bảo tự thân cho tính đúng đắn, dựa trên đánh giá cho rằng AI là động lực chính và duy nhất của CMCN4.0. Thực ra trong một loạt yếu tố như AI, Robotics, Big Data, IOT, CPS,... chưa rõ cái nào sẽ phát triển mạnh trong CMCN4.0.
5. Theo tôi thì kết nối Cáp quang và Di động, là cơ sở không thể thiếu được của CMCN4.0. Tất cả nhưng cái còn lại đều obvious. Những cái đó đều là phát minh công nghệ. Cơ sở khoa học của hai phát minh này dựa trên sóng điện từ của Hertz và laser trong vật lý.


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Monday, March 11, 2019

The Digital 9

The Digital 9, or D9, is a network of the world’s most advanced digital nations with a shared goal of harnessing digital technology and new ways of working to improve citizens' lives.
Estonia, Israel, New Zealand, the Republic of Korea, and the United Kingdom are the founding members of the D5. In February 2018, Canada and Uruguay joined the group to form the D7. In November 2018, Mexico and Portugal joined to form the D9.


Đoàn Hồng Nghĩa (ELTE.VIDI90)

Friday, November 16, 2018

Quark và lỗ trong cục pho mai

Tình yêu đầu tiên trong vật lý là các hạt quark. Trong nhiều năm tôi đọc và suy nghĩ vô vọng các bài kinh điển về QCD. Lý thuyết quá đẹp quá đơn giản không có điểm nào bám víu để sáng tạo. Tôi không tin rằng tiệm cận tự do bắt buộc dẫn tới cầm tù quark. Tôi cũng không tin tương tác thông qua một trường gauge SU(3) tất yếu sẽ cầm tù màu. 
Nếu số màu là vô tận, QCD là tương đương với lý thuyết meson phi tuyến. Thực chất của phép chứng minh này là một phép đổi biến hình thức trong tích phân phiếm hàm Feynman của QCD. Trong hệ nhiều hạt, thậm chí có tương tác mạnh, như QHE phép biến đổi này được dùng như cơm bữa gọi là phép biến đổi Hubbard-Stratonovich dùng để “tiên đoán” ra sự tồn tại của các trường mới, thường là các giả hạt, hay kích thích tập thể, một khái niệm chúng ta sẽ phải bàn rất nhiều. Nói thì rắc rối, có lẽ vì không có gì nên mới phải rắc rối: QCD cũng như các hệ electrob tương tác mạnh mô tả bởi tích phân phiếm hàm theo tất cả các trường có mặt trong hàm tác dụng ở trong biểu thức tích phân. Chúng ta có thể đưa vào lý thuyết một trường mới là trường meson liên kết với quark thông qua một tương tác Yukawa, biểu hiện việc cặp quark- phản quark sẽ trở thành meson với một xác suất nào đó tỷ lệ với bình phương của hằng số liên kết. Chúng ta sẽ thay thế tích phân này bằng một tích phân 3 biến với hàm tác dụng có thêm số hạng tương tác Yukawa có giá trị hình thức bằng nhau. Sau đó lấy tích phân hình thức theo quark và gluon, chúng ta sẽ có một lý thuyết chỉ chứa meson. Do hai tích phân này là như nhau, ta có thể giả thiết lý thuyết meson sẽ thay thế QCD trong những điều kiện nhất định, giống như các giả hạt mô tả các hệ QHE. 
Quan điểm dùng biến động lực mới (giả hạt) mô tả tương tác mạnh đẹp đẽ ở chỗ nó cho phép ta học từ các nhà vật lý chất rắn. Từ các electron và ion tương tác điện từ với hằng số liên kết 1/137 khá nhỏ, vật lý đã tổ chức chúng vào một cấu hình có thể mô tả bởi câc kích thích tập thể tương tác mạnh. Như vậy tương tác mạnh cũng như vậy. 
Quan niệm này có một khuyết điểm là trong thực tế chúng ta thấy có các baryon, cụ thể là neutron và proton có spin 1/2. Tôi không rõ có thể áp dụng lại phép ảo thuật Hubbard-Stratonovich cho nucleon hay không. Tuy nhiên, mô hình Skyrme đã chứng tỏ các soliton topo, các lời giải cổ điển với đặc trưng topo không tầm thường, mô tả tốt baryon. Nếu chúng ta lượng tử hoá các lời giải này, chúng ta sẽ có các hạt có spin 1/2, có isospin,...Tất nhiên, các phép tính tích phân nói trên đều hình thức và có phần cưỡng ép. Mặt khác các lời giải soliton cũng khá thô sơ và ở trong các trường hợp đặc biệt, và suy đoán không hề chặt chẽ. Chắc còn rất lâu, vật lý và toán học mới chứng minh được chặt chẽ bức tranh rất đẹp và có tính mơ mộng này. 
QCD gồm các quark tương tác yếu thông qua gluon ở trong pha tương tác mạnh sẽ được mô tả bởi lý thuyết meson phi tuyến spin 0. Các số hạng tương tác bậc cao sẽ làm hình thành các hạt có spin 1,2, hoặc số nguyên bất kỳ. Câc hạt spin 1/2, 3/2, và bán nguyên là các xoáy nước trên biển meson mênh mông này. Tương tác giữa chúng thông qua trường meson sẽ trở thành mạnh và không thể tính toán nhiễu loạn. Bức tranh là đầy đủ và đẹp.
Nhưng còn quark và cầm tù quark thì sao. Tình hình có thể ngược lại với các hệ vật rắn tương tác mạnh như QHE. Trong QHE, các thực thể tương tác mạnh là các kích thích tập thể hay GIẢ hạt. Giả tức là không phải là hạt thực, hạt thực là điện tử, ion và photon. Trong QCD các baryon, meson là các hạt thực quan sát được, còn quark và gluon chưa hề quan sát được trực tiếp. Chúng ta hãy tráo đổi vị trí, tìm lại quark như các giả hạt trong lý thuyết meson. Về mặt thực nghiệm trong các quá trình tán xạ e-p năng lượng cao, gọi là phi đàn tính sâu (deep inelastic) người ta “thấy” được các vật điểm trong proton và Feynmann gọi là parton, có thể đồng nhất với quark. Quark có điện tích phân số, giống như anyon trong QHe. Như vậy quark cũng là “giả hạt” theo một nghĩa nào đó. Trong một cục pho mai, các lỗ trông giống như những thực thể. Nếu quark là các lỗ trong cục pho mai là proton, cầm tù quark có thể xem như việc không thể cắt cái lỗ ra khỏi cục pho mát. 
Tuy vậy, làm thế nào để có thể tìm ra nghiệm quark-lỗ từ lý thuyết meson phi tuyến là một giấc mơ của tôi từ 30 năm nay.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)