Showing posts with label Truyện - Novella. Show all posts
Showing posts with label Truyện - Novella. Show all posts

Friday, August 21, 2020

Tiểu thuyết Ấn Độ: MÙA TÔM (CHEMMEEN)

Với 14 ngôn ngữ chính và vài trăm ngôn ngữ khác hoặc thổ ngữ, Ấn Độ ngày nay có nhiều nền văn học phồn thịnh.

Gương mặt nổi bật nhất trong nền văn học Malayalam, tiếng nói chính thức của bang Kelara ở miền Tây-Nam Ấn Độ là nhà văn đương đại Thakazhi Sivasankara Pillai (sinh năm 1914). Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông nhan đề Chemmeen (Con tôm) đã được dịch sang tất cả các ngôn ngữ chính ở Ấn Độ, ngoài ra còn được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới (bản dịch tiếng Việt nhan đề Mùa Tôm). Chemmeen kể lại mối tình giữa Kanruthamma, 1 người con gái làng chài Ấn Độ giáo, với Pareekutti, con trai 1 nhà buôn cá Hồi giáo. Chúng tôi trích đăng dưới đây những trang cuối cùng trong cuốn tiểu thuyết của Pillai. Karuthamma và Pareekutti gặp nhau trên bãi biển trong khi chồng Karuthamma là Palani đang đánh cá ngoài biển khơi. Kết cục của câu chuyện phản ánh tín ngưỡng của người Ấn Độ giáo cho rằng cách sống ko tuân theo tập tục của Karuthamma đã làm Nữ Thần biển Katalamma nổi giận. Phần dưới đây trích trong cuốn Mùa Tôm (nxb Tác Phẩm Mới, in lần thứ tư 1986) do Hoàng Cường dịch qua bản dịch tiếng Anh Chemmeen của Narayana Menon xb năm 1962 trong "Tủ sách các tác phẩm tiêu biểu" của Unesco.

CƠN THỊNH NỘ CỦA NỮ THẦN BIỂN

Trong lúc Palani ở ngoài biển, cô ra đây đứng nói chuyện với người lạ có là phải hay ko? Dẫu vậy, Karuthamma vẫn ko thấy sợ. Xưa kia, cô đã từng gặp anh một mình trong đêm tối. Nếu cô có thể đem lại ít nhất 1 giây phút hạnh phúc ngắn ngủi cho con người mà cuộc đời đã bị tan nát vì cô, lẽ nào cô lại ko làm?

Hai người đứng mặt sát mặt nhìn nhau. Người con trai mà cô đã hủy hoại cuộc đời đang đứng trước mặt cô. Cô biết chắc: anh sẽ yêu cô đến cùng trời cuối biển. Anh sẽ mãi mãi hiểu cô và tha thứ cho cô. Dù cho cô có gây mọi khổ đau cho anh, anh sẽ chịu đựng được và tha thứ.

Trong giây phút ngắn ngủi ấy, Karuthamma quên hết mọi nỗi đau buồn trong cuộc sống. Cô cảm thấy mình chưa hề bị gục ngã. Cô thấy có trong người 1 sức mạnh ko mấy ai có. Cô được sự che chở của 1 người đàn ông cường tráng, cuộc đời cô sẽ yên ổn. Palani sẽ ko để cho thế giới bên ngoài đụng chạm đến cô, làm thương tổn cô. Và cô còn có 1 người đàn ông khác đem lại cho cô sự sống tinh thần. Chưa có người đàn ông nào đã yêu 1 người đàn bà bằng người ấy yêu cô. Giữa 2 người đàn ông ấy, cuộc sống của cô thật đầy đủ, trọn vẹn. Gio72 đây, người đàn ông yêu cô đang đứng trước mặt cô.

Cô ngả người vào 2 cánh tay mở rộng của anh, tấm thân cô hòa nhập làm 1 với anh. Gương mặt 2 người chạm vào nhau. Anh thì thầm bên tai cô:

- Karuthamma của anh!

- Dạ!

Anh vỗ về cô, vuốt ve cô, bàn tay anh từ từ tìm đến nơi ngày xưa ánh mắt anh đã dừng lại khao khát.

- Karuthamma!

Cô ngoan ngoãn đáp lại anh trong trạng thái đê mê thẫn thờ:

- Dạ!

- Em yêu anh đến đâu?

Cô ôm lấy mặt người yêu vào 2 lòng bàn tay và nhìn anh với con mắt mơ màng.

- Anh là tất cả, là hạt ngọc của lòng em.

Hai người lại hòa với nhau làm một. Và trong trạng thái đó, anh thì thầm êm ái bên tai cô.

Cô ko bứt nổi mình ra khỏi vòng tay đó.


Xa tít ngoài biển khơi, Palani đương tung mồi đánh 1 con cá mập. Từ trước đến nay chưa có 1 con cá mập nào to đến thế mắc vào mồi của anh hoặc 1 người đánh cá nào khác. Tại vùng biển này chưa có ai đánh được con cá nào to như thế bao giờ.

Lúc đớp phải mồi, con cá quẫy mạnh. Biển sủi bọt trắng xóa, nước bắn tung lên trời. Sau đó, con cá quay mình lại tấn công chiếc thuyền. Palani nhìn thấy nó lao mình lên khỏi mắt nước, anh nhìn rõ dây câu mắc vào miệng cá.

Palani hiểu rằng: anh đã đánh được con cá mập to nhất vùng biển này. Anh reo lên vui mừng. Anh phải quyết định mau lẹ: có nên giữ chặt dây câu ghìm nó lại hay cứ để nó kéo đi 1 lúc? Nếu lưỡi câu đã móc vào họng nó rồi, chỉ cần kéo dây câu cũng đủ ghìm con vật nguy hiểm lại. Nhưng nó có thể lao mình đâm nát thuyền mất. Song cứ để nó kéo đi, thuyền sẽ phải lao nhanh theo nó. Và khó biết chắc thuyền sẽ bị nó kéo đi xa đến đâu.

Palani ko nhìn thấy bờ đâu cả. Anh hoàn toàn ko biết bờ nằm về phía nào. Một tay giữ dây câu, 1 tay lái thuyền, anh ngước mắt lên trời nhìn sao tìm phương hướng. Anh ko thấy ngôi sao muốn tìm. Mây đen che kín bầu trời.

Thuyền bị con cá kéo đi vùn vụt. Nó phăng phăng xé nước lao đi. Biển ko nổi sóng. Mặt biển yên tĩnh. Nhưng màu biển đã sẫm lại và mang điềm gở. Anh chăm chú nhìn mặt nước để dò tìm luồng nước. Nhưng dù cố đến mấy, anh vẫn ko sao nhận ra.

Con cá mập lôi thuyền đi vun vút như tên bay gió thổi. Nó đi đâu? Anh đã đi xa đến đâu rồi?

Palani kêu lên:

- Dừng lại! Dừng lại! Ko khéo mày lại kéo tao xuống đến tận Thủy cung.

Anh giật mạnh dây câu. Con thuyền đột nhiên đứng lại. Palani cười điên dại.

- Ha, ha, ha, đứng lại như thế chứ!

Cách thuyền ko xa, con cá trong cơn giãy chết lại chuẩn bị tấn công. Nóng nảy, Palani lại giật dây câu. Con cá nhảy vọt lên rồi lại rơi xuống biển. Tuy thuyền có vẻ như vẫn đứng yên 1 chỗ, nhưng anh chợt nhận ra nó đã mắc vào 1 luồng nước và đang vạch thành những vệt trên mặt biển mênh mông. Luồng nước chạy thành hình vòng tròn. Palani lại chăm chú theo dõi. Phải chăng anh bị mắc vào 1 con nước xoáy? Bây giờ, anh biết chắc thuyền anh đang chạy vòng tròn theo 1 đường cong lớn. Nhưng anh vẫn giữ chặt dây câu. Anh ngửa mặt nhìn trời. Bầu trời ko 1 vì sao.

Palani đứng trong khoang thuyền nhìn ra xung quanh. Bốn bề chỉ thấy biển. Nhưng bây giờ mặt nước lại mang 1 hình dạng khác. Bây giờ, hình như bao quanh anh là 1 quả núi, 1 quả núi hình tròn bằng nước. Anh và con thuyền của anh nằm ở dưới đáy thung lũng nước đó. Mũi thuyền dường như ngóc lên.

Thủy cung nằm dưới đáy biển sâu. Đây là nơi thờ Nữ Thần Biển. Palani đã được nghe tả về Thủy cung. Anh phải đến đó qua 1 con nước xoáy, 1 con nước xoáy làm biển sôi lên sùng sục thành những vòng tròn, rồi vào gõ cửa chốn thâm nghiêm của Nữ Thần Biển.

Palani tưởng chừng như những quả núi bao quanh anh mỗi lúc một cao hơn. Anh buông lỏng dây câu đôi chút. Con thuyền lại lao đi vùn vụt.

Bỗng Palani nghe thấy 1 tiếng gầm khủng khiếp vang lên đâu đó trong ko trung. Anh chưa bao giờ nghe thấy 1 âm thanh nào dữ dội đến thế. Đó là tiếng cơn bão đang nổi lên.

Sóng biển cuộn dâng như núi. Đợt sóng nọ tiếp đợt sóng kia cuồn cuộn dâng cao. Anh chưa bao giờ thấy con sóng nào lớn đến thế. Những đợt sóng này ko di chuyển theo đường thẳng, chúng dâng lên thành 1 đường vòng tròn xung quanh anh, 2 đầu sóng bắt liền với nhau làm thành 1 cái vòm nước.

Palani nhìn xung quanh, tìm hiểu trong giây lát tính chất của biển trong cơn thịnh nộ ghê gớm này. Anh biết cách lái thuyền cưỡi trên ngọn sóng. Anh cũng biết lựa chiều hợp sức mình với bão táp. Anh đã từng đi thuyền trong những đêm tối mịt mùng nhất.

Trời bỗng lóe lên 1 tia chớp sáng lòa, tiếp theo là 1 tiếng sấm rền kinh khủng. Palani buông lỏng dây câu. Nếu anh giữ chặt dây câu làm con thuyền dừng lại thì nó sẽ nát vụn mất. Anh để mặc con cá lôi thuyền đi tùy thích.

Khi mũi thuyền leo ngược đỉnh các đợt sóng cao, anh giữ thăng bằng bằng mái chèo và nhảy lên cho thuyền nhẹ bớt. Lên đến đỉnh sóng, con thuyền lại đột ngột lao xuống. Thân thuyền dốc ngược gần như thẳng đứng. Một đợt sóng khổng lồ khác lại trào tới, lăm le nuốt chửng con thuyền vào trong cái mồm ngoác rộng của nó.

Biển gầm lên. Nó gầm thét trong cơn thịnh nộ với người đánh cá khốn khổ kia. Bão táp đem lại âm thanh làm nền cho tiếng gầm của biển, sấm sét đem lại tiết tấu. Một vũ khúc ma quái, ghê rợn. Chơi vơi giữa biển cả mịt mùng là 1 con người nhỏ nhoi. Nữ Thần Biển cần gì phải nổi trận lôi đình để nghiền nát con người bé nhỏ kia? Nếu muốn, Nữ Thần có thể lôi tuột trong chớp mắt con người bé nhỏ ấy xuống tận cùng đáy biển.

Những đợt sóng khổng lồ này có lẽ đánh về bờ. Sóng có lẽ trào qua các mái nhà trên bờ. Bãi biển có lẽ nhung nhúc thuồng luồng, rắn độc. Xa xa, có cái gì đang dâng lên cao ngút. Có phải là đỉnh 1 đợt sóng cực lớn hay đó là 1 con quái vật đang ngóc đầu lên, miệng ngoác rộng như hang núi? Người đánh cá khốn khổ kia có mất tinh thần hay ko? Palani cố nhảy qua mũi sóng nhưng anh ko nhảy được cao. Con sóng ngoác rộng miệng ngụp lên anh và con thuyền của anh.

Mây ko những che kín bầu trời với sấm rền chớp giật liên hồi mà chính bầu trời tưởng chừng như bị xé toạc ra. Tất cả nước trong biển tường như dồn lại 1 chỗ. Bão gầm rú như muốn nghiền nát mọi vật. Nhưng vẫn còn thấy mũi thuyền nhô lên trên đỉnh 1 đợt sóng khác nữa. Khi đợt sóng ấy qua rồi thì thấy Palani đang bíu lấy con thuyền bây giờ đã bị lật úp. Trong khoảnh khắc anh hít được 1 hơi thở và kêu to:

- Karuthamma!

Tiếng kêu của Palani vang lên át cả tiếng gầm thét của bão tố.

Tại sao anh lại gọi Karuthamma? Thần hộ mệnh của người đánh cá là người vợ ở nhà. Anh gọi cô xin cô hãy cầu nguyện cho tính mạng của anh được vẹn toàn. Người đánh cá đầu tiên chẳng đã vượt qua được bão táp trở về nhà bình yên nhờ sức mạnh từ lời cầu nguyện của 1 người đàn bà dân chài ở nhà đấy ư? Palani cũng tin là anh sẽ thoát nạn. Anh có 1 người vợ. Vợ anh chẳng đã hứa hẹn với anh vừa mới đêm trước đấy ư?

Cơn bão càng lồng lộn dữ dội. Palani chống chọi với bão táp. Nhưng gió bão lại hợp lực với sóng biển. Một đợt sóng khổng lồ khác lại cuồn cuộn đổ tới. Vừa lúc anh mới thốt được có 2 tiếng "Karu..." thì con sóng đã ụp lên người anh.

Ko còn nhìn thấy gì hết. Sấm chớp cùng với bão táp dồn sức với nhau tàn phá.

Nước biển sôi lên ghê rợn và bắn tung tóe lên tận bầu trời. Cả mặt biển thành 1 cái hang núi. Con thuyền lại hiện ra trên đỉnh các đợt sóng. Palani nằm sóng xoài trên thuyền, anh đang cố bíu lấy thuyền.

Cuộc hủy diệt tàn khốc này liệu có bao giờ chấm dứt hay ko?

Con thuyền sau đấy lại bị cuốn vào 1 xoáy nước rồi chìm nghỉm như 1 tảng đá.

Chỉ có 1 vì sao lẻ loi hiện ra lấp lánh. Đó là sao Arundhati* của những người đánh cá, ngôi sao chỉ đường cho họ, nhưng đêm ấy ánh sao hình như mờ đục.

Bình minh ló dạng trên mặt biển yên tĩnh, tưởng như ko có chuyện gì xảy ra. Một vài người đánh cá nói đêm qua ở giữa biển nổi lên 1 cơn bão lớn. Sóng biển trào đến cửa 1 vài ngôi nhà ngoài bãi. Và thấy có vệt rắn biển trên cát trắng.

Panchami đứng trên bờ, nước mắt giàn dụa trên má. Đứa bé cô bế trên tay kêu khóc thảm thiết đòi bố và mẹ. Palani đi biển đánh cá từ tối hôm trước chưa về. Karuthamma cũng ko thấy đâu.

Panchami khóc, cô vừa khóc vừa dỗ cháu.

Hai hôm sau, sóng biển đưa dạt vào bờ xác 1 đôi nam nữ trong vòng tay nhau. Đấy là Pareekutti và Karuthamma.

Và bên làng Cheriyazhikkil, 1 con cá mập chết lưỡi câu còn mắc trong mồm cũng bị đánh giạt vào bờ.

(*): Sao Arundhati là biểu tượng của sự trong trắng

Saturday, January 12, 2019

Truyện cũ viết lại

Không nhớ truyện này của ai, hình như Oscar Wilder
Chim phượng hoàng
Chàng gặp nàng vào một buổi trưa đầu hạ, nắng rực rỡ, không gian tràn ngập hương vị của cỏ mật, của yến mạch đầu mùa của uất kim hương. Nàng đến, với mái tóc vàng óng ả sáng lên trong nắng, như một vầng hào quang. Đôi mắt xanh vời vợi, tiếng cười như pha lê tan vào bầu không gian tĩnh lặng trong vườn nhà thờ xứ. Chàng yêu nàng say đắm từ cái nhìn đầu tiên. Và chẳng bao lâu đã có một đám cưới, cô dâu đẹp như truyện cổ tích, chú rể đôi mắt sáng ngời vì hạnh phúc.
Ngày tháng dần trôi. Cuộc sống đi vào quỹ đạo của nó, cơm ăn áo mặc, việc nhà. Nàng sinh cho chàng 3 đứa con kháu khỉnh. Chúng lớn lên rất nhanh và lấy đi của nàng nhiều sức lực và cả nhan sắc. Làn tóc vàng óng ngày nào đã trở cụt lủn, nhạt màu và xác xơ. Đôi mắt trong xanh trở nên xám xịt và mờ đục. Giọng nói trở nên khàn, mệt mỏi, đôi khi cáu bẳn. Khi những đứa con đã trưởng thành và bay vào đời, nàng chỉ còn sống bên chồng như một cái bóng, lặng lẽ chăm sóc chàng, từ cái ăn đến cái mặc. Chàng cũng không còn để ý nhiều đến vợ. Trong tâm tưởng chàng vẫn nhớ khôn nguôi về mái tóc vàng óng trong nắng đầu hạ trong vườn nhà thờ xứ đầy tiếng chim, cặp mắt xanh say đắm và tiếng cười trong như pha lê ngày nào. Cuộc sống dần trôi, tẻ nhạt đơn điệu. Cho đến ngày bà ra đi, nhìn chồng khắc khoải lần cuối, cặp mắt mờ đục chảy ra một giọt lệ.
Ông cũng không đau khổ nhiều. Sau đó 6 tháng ông đã tục huyền và cưới một cô gái trẻ, tóc vàng óng ả, mắt xanh vời vợi, giọng cười giòn tan trong vắt như pha lê, giống cô gái yêu dấu ngày xưa như hai giọt nước. Ông rất sung sướng về điều đó. Cuộc sống không như ý muốn. Người vợ trẻ mang lại cho ông nhiều phiền muộn. Mọi việc nàng làm, mọi lời nàng nói đều trái ý ông. Một buổi trưa mùa hạ, ông nằm trên ghế sưởi trong nắng đầu mùa. Không khí ẩm ướt sau trận mưa rào, sực mùi cỏ mật. Gió reo trong những tán lá sồi, các đốm nắng nhảy múa trong tán lá. Hương vị đầu hè chợt trở nên nồng nàn, say đắm. Ông nhìn lên bầu trời xanh vời vợi, bỗng thấy một buổi trưa mùa hạ năm nào, nàng giang tay chạy về với ông, mái tóc vàng óng ả như mang nắng bồng bềnh, sáng rực, cặp mắt xanh trong mê hồn, tiếng cười như pha lê. Tất cả chợt tan biến, chỉ còn lại người vợ đã quá cố, mái tóc vàng nhạt màu ngắn ngủn, nhưng thân thương. Ông giang tay ôm lấy bà, nhưng bà chợt tan biến.
Ông chợt nhớ tới chim phượng hoàng, loài chim kiêu hãnh đẹp đẽ, sáng rực. Mỗi khi thấy mình già yếu nó bèn bay tới tận trời cao nơi có núi lửa rực cháy và lao vào đó. Từ trong đám lửa, phượng hoàng con mạnh mẽ bay ra rực rỡ, đẹp đẽ và khỏe mạnh như xưa. Ông chợt nhận thấy rằng tình yêu của ông cũng như chim phượng hoàng không chấp nhận thời gian và luôn tái sinh mạnh mẽ. Và sau hết, tình yêu đó là duy nhất dành cho cô gái tóc vàng, mắt xanh, có giọng cười như pha lê trong vườn nhà thờ xứ đầy tiếng chim của một đầu mùa hạ năm nào. Vui mừng vì hiểu ra điều đó, ông nở một nụ cười mãn nguyện và ngả mái đầu bạc xuống gối để không bao giờ dậy nữa.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Friday, January 11, 2019

VỀ VƯỜN

Bác Hải là trưởng ban truy quét chó ở thôn tôi - bác không cao lắm, người được có một dóng, nên bà con yêu thương gọi bác là Hải Dóng.
Bác Hải Dóng là người đã ra quy định cấm thả chó chạy rông ngoài đường, và cũng chính bác trực tiếp cùng các anh em trong đội trật tự của thôn thường xuyên xuống đường, thấy con chó nào lảng vảng là bác xích cổ đem lên phường. Bọn trộm chó rất ghét bác, vì bác mà chúng hết đường kiếm ăn. Bác Hải Dóng nổi tiếng với câu tuyên bố xanh rờn: Nếu không dẹp hết lũ chó má, tôi sẽ xin từ chức!
Tất nhiên, khi bác tuyên bố câu ấy, tôi rất lo, vì tôi biết, bác Hải Dóng là người có lòng tự trọng, mà có lòng tự trọng thì sẽ luôn giữ lời, mà giữ lời thì chắc chắn bác sẽ phải từ chức, bởi vì dẹp hết lũ chó má ở thôn tôi là điều không thể! Và đến hôm nay thì cái điều tôi lo lắng ấy đã thành sự thật: Bác Hải Dóng đã chính thức về vườn.
Vừa rồi, tôi qua nhà cụ Hẳng chơi - cụ Hẳng chuyên làm nghề đóng cọc nên bà con thôn tôi hay trìu mến gọi là cụ Hẳng Cọc. Thấy tôi buồn, cụ Hẳng Cọc hỏi tại sao, tôi bảo tôi thương bác Hải Dóng quá, và tôi tiếc cho thôn ta mất đi một người cán bộ tốt.
Cụ Hẳng Cọc nghe tôi nói vậy thì lộ vẻ bất bình, đùng đúng tức giận, quát: “Cán bộ nói được mà không làm được là chuyện bình thường, việc quái gì phải từ chức! Nếu ai cũng như ông Hải Dóng, cứ không làm được việc là lại từ chức, thì cán bộ thôn ta từ chức hết hay sao? Rồi lấy ai chăm lo cho đời sống của bà con? Nghỉ như thế là ích kỉ, tốt tốt cái con khỉ!”.
Hoàng Lão Tà Sưu tầm.

Wednesday, January 2, 2019

CHÓ CỨ SỦA, VÀ TRĂNG SAO CỨ SÁNG

Truyện mi-ni
Lại nói chuyện những ngày Cải cách Ruộng Đất kinh khủng ấy.
Một hôm, ăn tối xong, tôi thấy ông tôi đến bảo đi ngay có việc. Giọng ông bỗng nhiên khản đặc, phải cố lắm mới nghe được.
“Đi đâu ông?” tôi hỏi.
“Ra Đồng Chùa cho mát”.
“Nhưng hôm nay không nóng!”
“Sẽ nóng đấy. Rồi chốc nữa cháu biết”.
Điều này thì tôi biết, là ý ông tôi nói tối nay người ta tổ chức đấu tố Lão Hội. Suốt ngày hôm nay loa rao khắp xóm. Lão Hội là em Lão Cương, bảy mươi tuổi, một người thuộc diện ‘địa chủ kháng chiến’ vì có con trai đang làm to trong quân đội cách mạng, nghe đâu đến chức tá hay thậm chí được phong anh hùng. Lão Cương thì người ta để yên, nhưng em lão thì bị đấu tố, chuẩn bị qui lên thành địa chủ, dù lão chỉ là anh nông phu cày sâu cuốc bẫm, khác chăng do biết lo toan nên không đói. Suốt cả tuần người ta rậm rịch chuẩn bị việc này. Cán bộ Đội bỏ nhiều giờ dạy người đấu kỹ càng từng lời nói, cử chỉ và cách khóc, cách nhảy chồm chồm trước mặt lão. Nếu buổi đấu tố diễn ra suôn sẻ, mà chắc chắn là suôn sẻ, tên lão sẽ được đưa vào danh sách địa chủ của làng để gửi lên huyện, coi như hoàn thành chỉ tiêu trên giao.
Hai ông cháu tôi ra đến Đồng Chùa thì trăng vừa lên. Trăng non và mờ mờ như ngái ngủ. Phía dưới một chút là Kênh Nhà Lê, nơi ban đêm thường có người làng xuống mò tôm cá, và dẫu ít hơn trước nhưng thỉnh thoảng vẫn có thuyền đi qua, chở cam quýt từ Hà Tĩnh ra Thanh Hóa và chở lúa gạo, hải sản lúc quay vào.
Ồng tôi nằm xuống một gò đất cao rồi khoan khoái thở dài, nói:
“Sướng!”
Rồi ông cởi hết cúc áo, phanh bụng, bảo tôi:
“Cháu cũng nằm xuống đi”.
Cao trên đầu chúng tôi là cả một trời sao thật đẹp. Những chấm nhỏ li ti lấp lánh thức suốt năm canh, yên bình, lặng lẽ dọi ánh sáng huyền diệu của mình xuống thế giới trần gian của những con người, cũng bé nhỏ, li ti nhưng chẳng bình yên chút nào. Từ phía Kênh có tiếng hát đều đều, mỏi mệt của mấy anh chị nhà thuyền vọng lại. Kể cũng lạ rằng giữa những ngày sôi sục, điên loạn này mà vẫn có người hát được, dẫu những tiếng hát buồn.
Phía làng, chó bắt đầu sủa rộ. Nghĩa là người của Đội đang đi từng nhà giục dân làng ra sân đình tham gia hoặc xem đấu tố. Háo hức nhất là bọn trẻ con, dù không biết chuyện gì đang xẩy ra. Ngoài tiếng chó còn có cả tiếng trống và tiếng chiếc mõ làng bằng gỗ hình con cá, treo ở điếm canh đầu làng.
Cuối cùng mớ âm thanh ấy hỗn độn, chói tai ấy cũng lắng xuống, và tôi biết cuộc đấu tố đã bắt đầu. Những tiếng kể khổ ngoa ngắt, tiếng chửi rủa, vu cáo, tiếng những cái tát vào mặt người bị đấu, tiếng cán bộ đứng bên gà lời khi người đấu quên, và tất nhiên cả tiếng kèn kẹt nghiến răng chịu đựng của khổ chủ không thể bay xa đến Đồng Chùa nơi chúng tôi đang nằm. Trước đó tôi đã mấy lần chứng kiến những cảnh như thế.
Tôi quay sang bảo ông:
“Ông ơi, cháu sợ.”
“Ông biết. Vì thế ông mới đưa cháu ra đây. Trẻ con không nên biết những trò ấy!”
Rồi ông chỉ tay lên trời, nói:
“Cháu nhìn kìa, cả một trời sao thật đẹp. Kệ những chuyện xẩy ra trong làng. Cháu ngắm chúng đi, đẹp không? Mà bao đời nay đã thế và vẫn mãi mãi như thế.”
Tôi nghe lời ông, lơ đãng nhìn lên bầu trời đầy sao. Vâng, chúng đẹp thật, nhưng vẫn là những ngôi sao bình thường tôi thấy nhiều lần và không mấy quan tâm. Nhưng tôi cũng lờ mờ hiểu được cái triết lý giản dị mà ông tôi muốn cho cháu biết, rằng cái xấu, cái ác luôn tồn tại, nhưng chỉ nhất thời, còn cái tốt, cái đẹp thì trường tồn mãi mãi. Hoặc có thế nói một cách nôm na: Chó cứ sủa, và trăng sao cứ sáng!
“Hôm kia, thằng Lan bảo ông phải đấu tố lão Hội, nhưng ông không chịu.” ông tôi chợt nói, giọng mơ màng.
Lan là tên anh cán bộ Đội cải cách được cử về phụ trách làng tôi.
“Tố gì ạ?”
“Hắn bảo tố lão bóc lột, đánh đập ông, đại loại như thế”.
“Nhưng có đúng như vậy không?”
“Bậy. Lão hiền như cục đất. Còn nhiều lần giúp nhà ta khi thiếu đói đấy”.
“Thế sao người ta phải đấu tố bác Hội?”
“Thì bảo chúng điên mà lị. Nên ông phải ăn uống mấy thứ linh tinh cho cổ họng khản đặc thế này, bảo bị ốm không làm cách mạng được. May chúng tin mà tha cho, không khéo bị qui địa chủ thì khốn”.
Một tuần sau lão Hội bị xử bắn, vì ngoài tội địa chủ cường hào gian ác, lão còn một tội khác nghiêm trọng hơn là tội làm gián điệp cho đế quốc. Số là khi khám nhà, người ta phát hiện thấy dưới mái hiên một cuốn sách chữ Tây, cuốn Từ Điển Tiếng Pháp, do ông em sĩ quan cách mạng để lại. Đó là bằng chứng không thể chối cãi được.
*
Suốt nhiều năm, thậm chí cả bây giờ, tôi vẫn chưa hết băn khuăn sao người ta có thể nghĩ ra hay du nhập những trò bất nhân, ngu xuẩn đến thế. Những trò ấy phần lớn bắt nguồn từ nước Trung Hoa cộng sản, và được các đồng chí Việt Nam làm theo, tự nguyện hoặc do ép buộc.
Nhưng rốt cục, ông tôi đã đúng. Vào đêm đấu tố và cả đêm lão Hội bị xử bắn trăng và sao vẫn sáng. Những đêm sau đó cũng vậy, khi có chủ trương sửa sai từ Trung Ương gửi về. Trăng và sao vẫn sáng, vẫn đẹp cả những thời điểm về sau, khi con người và đất nước đau thương này của chúng ta phải chứng kiến nhiều điều oan trái khác.
Tháng Chín năm 1967, đi xe lửa từ Hà Nội sang Matscơva học tập, chúng tôi bị kẹt lại nhiều lần ở Trung Quốc do hai phái kình địch đánh nhau. Tôi nhớ ở Vũ Hán, lúc ấy ban đêm, nhìn qua ô cửa sổ bé nhỏ, tôi thấy cảnh các Hồng Vệ Binh bắt bớ, đánh đập người dân của họ. Bên ngoài là ánh đêm bàng bạc, và tôi biết cao trên đầu, những vì sao vẫn không ngừng nhấp nháy, dọi những tia sáng lung linh, huyền diệu của mình xuống trái đất nhỏ bé và đầy đau khổ này.
Tóm lại, chó cứ sủa và trăng sao cứ sáng!

Wednesday, November 22, 2017

Chỗ Ngồi May Mắn

Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh-tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng. Dennis đã ráng cầm cự hơn sáu tháng nay, mỗi tháng anh phải mượn nợ từ bạn bè, thân thuộc để trang trải tiền công cho thầy thợ, tiền thuê cửa hàng. Nhưng tuần rồi anh bắt buộc phải tập hợp những người cộng tác của anh lại để thông báo cho biết là dịch vụ của nhà hàng sẽ phải tạm đình chỉ từ cuối tháng này. Anh đã cẩn thận cộng đi cộng lại sổ sách nhiều lần, mỗi tháng dịch vụ thương mại của anh đều vướng phải một số âm to tướng. Trương mục tiết kiệm dành cho ngày dưỡng lão cũng biến thành một chữ số Zero. Dennis bắt đầu cảm thấy tay của anh giá lạnh như thể anh là một tay chơi trong sòng bài đang đến lúc cùng đường mạt vận. Buộc lòng anh phải nghĩ đến quyết định sau cùng là: Hãy bán hết ngày hôm nay, có thể anh phải đóng cửa kể từ ngày mai, tức là hai tuần  sớm hơn dự định.

Đã đến giờ ăn tối mà sao khách của nhà hàng đi đâu hết rồi. Ở một góc khuất của quán ăn chỉ có hai cha con nọ đang ngồi đợi thực phẩm dọn lên, đứa nhỏ trông có vẻ nghịch ngợm, hết khua chén rồi lại gõ đĩa, người cha hình như có vẻ phiền muộn, không màng ngó ngàng đến đứa con đang làm huyên náo khung cảnh yên lặng của nhà hàng vắng khách.
Lúc đó, một người đàn ông ăn mặc sang trọng nhưng có gương mặt tái nhợt bước vào, Dennis chua chát nghĩ thầm: "Có thể đây là người khách cuối cùng của đêm nay mà cũng là cuối cùng của nhà hàng mình chăng? Hay là ta đặc biệt chiêu đãi để tạo cho người ta có một thiện cảm với mình. Sau này, dù mình không còn mở cửa, nhưng biết đâu hình ảnh nhà hàng mình sẽ để lại trong lòng ông ta một ấn tượng đẹp đẽ!”
Người khách ngồi xuống gọi ngay một cốc rượu mạnh rồi mới bắt đầu lướt mắt qua tấm thực đơn đi tìm những món ăn đặc biệt nhất của tiệm Dennis. Không đợi ông gọi, Dennis tự động bước tới hớn hở nói với ông ta:
- Chúc mừng khách quí, ngài đã chọn đúng một chỗ ngồi tốt nhất, may mắn nhất trong tiệm của chúng tôi, vì vậy đêm nay không những ngài được miễn phí chiêu đãi mà những món ăn của ngài lại là phần ăn của một VIP.
Người khách ngây người nhìn Dennis một chặp rồi hỏi:
- Không ngờ tôi lại may mắn đến thế cơ à?
Dennis tiếp theo đó đã mang ra một phần ăn đặc biệt nhất trong tiệm anh để chiêu đãi người khách này. Đến món tráng miệng, thay vì chỉ một mẩu kem nhỏ thì anh mang ra một chiếc bánh ngọt hạng trung màu sắc rực rỡ và có nến thắp sáng giống như một chiếc bánh sinh nhật. Người khách lạ lúc này mới chịu nở một nụ cười tươi tắn.
Đứa trẻ bàn bên cạnh thấy chiếc bánh ngọt mang ra quá đẹp cũng ngây người nhìn một chặp rồi nó vòi vĩnh với cha:
- *Ba à, con cũng muốn ăn chiếc bánh sinh nhật to như vậy đó.
Cha đứa bé nạt ngang:
- *Cha con mình đâu có nhiều tiền để ăn những món đắt tiền như vậy đâu con.*
Người khách may mắn thấy sự việc như vậy nên quay lại nói với Dennis:
- *Đứa bé có vẻ thèm bánh ngọt, thôi thì anh hãy mang sự may mắn của tôi san sẻ với những người chung quanh của tôi vậy.*
Dennis vâng lời chia cái bánh của ông làm đôi rồi mang nửa chiếc sang tặng cho cha con người khách ngồi bàn kế cận. Đứa bé hớn hở đón nhận tặng vật và múc ăn ngon lành. Người cha của đứa bé thấy con mình vui nên ông cũng cảm kích bước sang bên này để cảm ơn ông khách tốt bụng.
Hai ông khách từ những câu xã giao thông thường rồi bắt đầu bước vào thăm hỏi nhau qua nghề nghiệp. Ông khách sang trọng tự giới thiệu ông tên là Kent, chủ nhân kiêm giám đốc một hãng thiết kế điện tử ở Thung Lũng Hoa Vàng. Cơ sở của ông tuy còn rất nhỏ nhưng đã có những sản phẩm ăn khách bán chạy và bắt đầu có lời. Cha của đứa bé thì nghẹn ngào cho biết ông làm nghề địa ốc, nhưng tình hình kinh tế hiện nay đã khiến cho những tay dealer mua bán nhà cửa như ông gần như khánh tận. Ông đã nhận được giấy báo của công ty bắt đầu cho ông nghỉ việc kể từ đầu tháng tới.
Kent, ông khách sang trọng ngẫm nghĩ một chặp rồi nói với người cha đứa bé:
- *Công ty của tôi đang cần những người saleman có khả năng, hay là anh vào hãng của tôi tạm thời làm thử một thời gian xem có thích hợp hay không?*
Cha đứa bé bất ngờ gặp được quí nhân thì mừng rõ vô cùng, ông ta rối rít cảm ơn người khách lạ rồi họ trao đổi số phone và địa chỉ liên lạc …

Qua đêm hôm đó, Dennis bỗng nhiên bỏ qua ý định dẹp tiệm, anh nghĩ còn nước thì còn tát chớ có sao đâu. Bắt đầu từ ngày hôm đó, mỗi ngày anh chọn một vị trí may mắn trong nhà hàng của anh để chiêu đãi miễn phí cho một vị thực khách với tất cả sự vinh hạnh đúng nghĩa. Cái tin này được loan ra, thiên  hạ ùn ùn kéo đến không ngớt. Người ta không chỉ muốn ăn miễn phí mà hình như ai nấy cũng muốn thử thời vận của họ xem có được là người may mắn trong đêm của nhà hàng nổi tiếng này hay không? Độc chiêu của Dennis bỗng nhiên hiệu nghiệm khiến nhà hàng của anh tức thì trở thành đông khách nhất khu vực tuy rằng trong giai đoạn kinh tế khó khăn này.

Mấy năm trôi qua, ông Kent đã trở thành khách thường trực và là bạn thân của Dennis. Một đêm cuối tuần, khi đợt khách cuối cùng đã ra về, được dịp Kent mời Dennis một ly rượu mạnh, ông bỗng hỏi Dennis một câu như sau:
-* Anh có biết cái đêm hôm đó khi đến tiệm của anh, tôi đang nghĩ ngợi và có dự định gì trong đầu hay không?*
Dennis lắc đầu, Kent gật gù nói:
- *Buổi chiều ngày hôm đó tôi nhận được email của nhà tôi, bà ta cho biết là không thể nào chịu đựng thêm được cái tính say mê công việc (work-aholic) của tôi. Bà ta cho rằng dưới mắt tôi, bà ta không là gì cả, cho nên từ 6 tháng trước đó bà đã ngoại tình và hôm đó bà đã chính thức bỏ tôi để đi theo tiếng gọi của con tim. Tôi đã suy nghĩ cả một buổi chiều,ruột gan tôi rối tung lên. Đêm đó, trong đầu tôi dự định là sau khi ăn uống no say tôi sẽ trở về nhà để kết liễu sinh mạng của mình. Anh nên biết, cuộc đời tôi đã đi từ thành công này sang thành công khác, nhưng lúc đó tôi mới nhận ra là tôi đã thất bại hoàn toàn ngay từ bước đầu tiên. Kim tự tháp của tôi đã bị hỏng nền cho nên tôi chỉ còn cách là kết liễu sinh mạng của tôi thôi. Thế rồi tôi được anh chỉ cho một chỗ ngồi may mắn, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và tưởng chừng như ông trời đang giở trò châm biếm tôi. Nhưng sau khi tôi mang nửa cái bánh tặng cho đứa bé, rồi mang một việc làm giúp cho cha đứa bé thì lúc đó tôi mới thấy là cuộc đời của tôi cũng còn có một chút xíu giá trị và hữu dụng. Cuộc đời tôi mới bắt đầu đứng lên từ lúc đó. Cho nên phải nói chính anh đã cứu lấy cuộc đời của tôi. Cám ơn Dennis, người bạn thân thiết của tôi.*
Dennis cảm động ôm chầm lấy Kent, mắt anh cũng đoanh tròng ngấn lệ, *bây giờ anh mới hiểu ra, sự may mắn chỉ có thể đến với ta khi nào lòng ta mở rộng vị tha. Nếu như anh không nghĩ ra cách mang tặng một phần ăn miễn phí, thì có thể là cơ nghiệp của anh đã không có được như ngày hôm nay*. Bản thân anh phải chăng cũng chính là một nhân vật may mắn nhất trong chuỗi cờ domino dài nhằng đang xảy ra nhan nhản trên khắp quả địa cầu mà chúng ta đang cư ngụ.

Phạm Huê dịch
Lê Minh (Debrecen,VIDI69) st

Thursday, September 8, 2016

AI?

Vào năm ấy, ở mặt trận ấy, hai nghìn người lính trẻ được lệnh xuống đồng bằng tham chiến. Sau một đêm, chỉ ba mươi người sống sót trở về!
Nhiều năm qua tôi luôn bị ám ảnh bởi con số khủng khiếp này trong một câu khô khan và thuần túy mang tính thông tin. Chính xác đó là câu thơ trong bài “Ai? Tôi!” của nhà thơ Chế Lan Viên khi ông viết về chiến dịch Mậu Thân. Tác giả nêu câu hỏi: “Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?” Và chính ông tự trả lời mình: “Tôi! Tôi/ người viết những câu thơ cổ võ/ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong”.
Một tâm hồn nhạy cảm! Một nhân cách lớn! (Anh Chế Lan Viên ơi, em đây, Thái Bá Tân đây. Cảm ơn anh đã nói hộ lòng em. Em còn giữ tập thơ anh tặng ngày nào.)
Đằng sau những con số này là những con số khác còn khủng khiếp hơn: Một triệu người lính cách mạng và hai triệu dân thường Việt Nam đã hy sinh trong cái ta thường gọi là “cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”.
Như nhà thơ, tôi cũng bị ám ảnh bởi câu hỏi của ông: Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó? Không phải tôi, tất nhiên, vì tôi là người bình thường và chỉ nhờ ngẫu nhiên mới không bị gộp vào con số đó. Tôi không ra lệnh, không đưa ra các quyết sách lớn về đại cục. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa tôi hoàn toàn vô tội. Không, tôi vẫn phải chịu một phần trách nhiệm vì đơn giản tôi là một công dân và đã để đất nước mình rơi vào hoàn cảnh như vậy. Một công dân tốt còn biết đau về cái chết của đồng bào.
Câu hỏi tiếp: Liêu có đáng phải hy sinh ghê gớm như thế để “giải phóng dân tộc” không, mà rồi, giải phóng khỏi ai? Khỏi những đồng bào Việt Nam khác ở bên kia chiến tuyến?
Một câu hỏi nữa: Ba mươi người sống sót trong số 2000 người ấy bây giờ thế nào, và họ nghĩ gì về sự trận đánh ấy của họ mà đài báo ta lúc ấy gọi là “thắng lợi, nhưng ta phải chịu một số thương vong nhất định”?
Khá vất vả, cuối cùng tôi cũng tìm được một người, ngay trong huyện Diễn Châu quê tôi. Điều này lần nữa làm tôi giật mình: Sao lúc nào, ở đâu có đánh nhau ác liệt nhất và nhiều người chết nhất cũng có mặt những người lính nông dân Nghệ Tĩnh của tôi? Có thể chỉ ngẫu nhiên, nhưng vẫn giật mình.
Đó là một lão nông trạc tuổi tôi, trên sáu mươi chút ít, nhưng trông hom hem với một chân thọt và một tay hơi khuỳnh khuỳnh.
“Chuyện từ đời tám hoánh nào, hơi đâu mà nhớ đến. Mà cũng chẳng còn lúc nào rỗi để nhớ”. Ông nói khi tôi gợi chuyện. “Con cháu một bầy, toàn ăn hại. Lại thêm trận lụt vừa rồi ngập hết lúa như bác thấy.”
“Bác có cảm giác thế nào khi sống sót trở về rừng?”
“May! Còn thế nào nữa. May thoát chết như bác nói. Nhờ giả vờ chết mà sống đấy.”
“Sau đó thì sao?”
“Thì đánh nhau tiếp. Trong số ba mươi người sống sót lần ấy, nghe nói chỉ năm người trở về nhà khi chiến tranh kết thúc. Trong đó có tôi. Cũng nhờ may rủi thôi”.
Tôi lặng người, chẳng biết nói gì thêm.
“Sự hy sinh của các bác thật to lớn.” Tôi lên tiếng khi thấy im lặng mãi bất tiện. “Các bác là những người anh hùng, dũng cảm, dám xã thân vì nước...”
“Anh hùng, dũng cảm cái đếch gì. Người ta bảo đi lính thì đi. Bảo xung phong thì xung phong. Không xung phong, không dũng cảm mà được à? Không bị địch bắn chết thì cũng bị đồng đội đằng sau bắn vào lưng!”
Mấy thằng nhỏ thấy có khách, xúm lại hóng hớt. Ông chúng quát:
“Chúng mày biến! Mai kia thằng Tàu nó đánh, sẽ đến lượt chúng mày! Không thoát được đâu!”
Cuộc gặp này để lại trong tôi một ấn tượng nặng nề.
Tôi cũng may. May chưa bao giờ viết thơ cổ vũ người khác ra trận. May không phải là một trong ba mươi người sống sót ấy, chính xác hơn, năm người. Nếu không tôi sẽ đau khổ lắm. Chả là đời trót cho tôi cái chữ nên hay suy luận và mặc cảm. May nữa là tôi không bao giờ phải bắn vào lưng đồng đội nếu họ không xung phong, và ngược lại. May! Và tôi cảm ơn số phận điều ấy.
Nhưng tôi cũng có con cháu, và như ông ấy nói, mai kia thằng Tàu đánh mình, sẽ đến lượt chúng. Nghĩ mà sợ. Sợ và buồn. Vì lão nông kia, tôi và con cháu của tôi không có sự lựa chọn nào khác. Vì chúng tôi, vì tất cả chúng ta, đơn giản chỉ là những con tốt vô danh trên bàn cờ của các nhà lãnh đạo đất nước.
Mong sao cho họ biết thương dân và có những quyết định sáng suốt.
1. 11. 2011

Thái Bá Tân

Monday, February 22, 2016

TIẾNG NÓI THẦM

(NCTG) “Cả bọn kéo vào quán nhậu đang vừa uống vừa nói xàm thì tay P. bước vào. Tay này xưa kia vốn kinh doanh bất động sản và khá giàu có, nhưng lại thích làm nhà thơ. Giờ thì P. kinh doanh khách sạn và càng giàu hơn lại vừa đoạt giải thơ cấp thành phố nên sướng lắm”.


Bảy giờ sáng, hắn đẩy chiếc xe ra cổng, nói với con gái: “Ba đến cơ quan, trưa chắc không về”. Mụ vợ ngồi bên trong ngứa miệng, cái giọng Bắc pha Nam the thé: “Cơ quan cơ à, ông có cơ quan thế tiền lương ông đâu?”.

Nghe giọng kiếm chuyện của vợ hắn nín thinh. Tiếng đứa con gái: “Mẹ, đừng nói mà mẹ”!

Hắn nổ máy xe, nghe tiếng nói thầm trong người cất lên: “Vợ mày nói đúng, hehehe, vợ mày nói đúng”.

Hắn rồ ga, cố nén tiếng nói thầm xuống khi chạy vào dòng người. Và hắn chạy đến trước cổng Hội Văn nghệ mà hắn gọi là “cơ quan”. Thì đúng là cơ quan, vì hắn là hội viên trong cả ngàn hội viên, nhưng như mụ vợ nói: “Cơ quan, thế tiền lương ông đâu?”.

Hắn nhìn thấy tại quán cà phê trước cơ quan, đã có nhiều nhà văn, thi sĩ như hắn. Tiếng nói thầm lại cất lên: “Mẹ, bọn làm biếng chớ nhà cửa gì”.

Hắn vào, kêu ly cà phê đen. Có tiếng gọi tên hắn. Giọng nữ. Hắn nhìn vào bàn bên trong. À, nhà văn nữ H., cô này vừa in cuốn tiểu thuyết. Nhà văn H. bước qua chỗ hắn, tay cầm cuốn sách, miệng nói: “Tặng anh cuốn tiểu thuyết mới nhất của H., nó là tâm huyết đời em đó”.

Hắn nhìn H., cô đã gần năm mươi, phấn son hơi quá, áo rộng cổ phơi bộ ngực đồ sộ. Hắn liếc bộ ngực. Tiếng nói thầm vang lên “vú bơm á”, hắn cố nén, cám ơn nữ nhà văn. Cô này nghe nói kinh doanh nhà hàng, đại loại vậy.

Nhà văn H. nói: “Anh đọc và viết cho em vài lời nghen”. “Ồ, tất nhiên, sách ai tặng anh cũng đọc kỹ”. Tiếng nói thầm: “Dóc quá mày, mày có coi con mẹ này là nhà văn đâu”. Hắn cố tập trung vào ly cà phê khi nữ nhà văn rời đi.

Ở bàn trong góc, tay phó nháy kiêm phó sếp đang thì thầm với một em mới toanh, mặt mũi xinh xắn, có vẻ còn là sinh viên: “Nó là thằng chó dái đó cháu ơi, coi chừng nó đưa qua khách sạn của thằng P.”. Hắn nghe tiếng nói thầm chọc vào tai mình.

Vài chục phút sau, Hội quán bắt đầu đông nghẹt văn nhân thi sĩ. Hắn đốt thuốc, nghe tiếng nói thầm: “Bọn làm biếng, bọn hư đốn”…

Gần trưa thì cả bọn rủ nhau góp tiền đi nhậu. Điểm hẹn là một quán bình dân. Tiếng nói thầm vang trong tai khi hắn chạy xe đến quán: “Mày là đồ vô dụng, mày về giúp vợ chở hàng đi”. Nhưng hắn phớt lờ, chạy đến quán nhậu.
 
*

Hắn tỉnh lại và biết ngay đang ở trong bệnh viện. Hình như trong một phòng dịch vụ. Chất cồn trong người đã tan hết. Hắn thấy tỉnh táo lạ thường, thậm chí thấy khỏe.

Hắn chống tay ngồi dậy. Trong ánh đèn sáng hắn nhìn thấy mình nằm chung trong một phòng có 6 giường, khá sạch sẽ. Cô con gái nằm ngủ ngon lành trên cái sô-pha dành cho người nuôi bệnh. Hắn đưa tay sờ đầu vì thấy cồm cộm. Đầu hắn đang quấn băng. Rồi hắn nhớ lại rõ mồn một…

Hắn nhớ khi cả bọn kéo vào quán nhậu đang vừa uống vừa nói xàm thì tay P. bước vào. Tay này xưa kia vốn kinh doanh bất động sản và khá giàu có, nhưng lại thích làm nhà thơ. Giờ thì P. kinh doanh khách sạn và càng giàu hơn lại vừa đoạt giải thơ cấp thành phố nên sướng lắm.

Bất kỳ lúc nào, P. cũng có thể đãi văn nghệ sĩ thành phố như hắn nhậu.

Vừa bước vào, tay P. đã la lên: “Tui đãi hết chầu này, sẵn tặng thơ cho mấy ông luôn”. Ngay sau đó, một đệ tử của P. khệ nệ mang vào một thùng các-tông lớn. P. ngồi vào cái ghế anh tiếp viên vừa mang đến, mở bút ra và cứ theo thứ tự từ trái sang, ký tặng tất cả, ngay cả người không quen.

Tập thơ dày cộp, nghe nói in hết 50 triệu. Ký xong, P. bảo anh tiếp viên: “Đem chú 2 thùng Ken, cứ hết mang thêm, đem cái menu ra đây luôn”. P. ngồi đối diện hắn, giờ đứng lên nâng ly bia sủi bọt: “Dô đi các bạn hiền, chúc mừng nhà thơ P. đoạt giải”.

Bia chảy ào ào, ly cụng côm cốp. Văn nhân thi sĩ nốc bia như bò uống nước. P cụng ly hắn, la to: “Trăm phần trăm”, “Dô, dô, chúc mừng!”. Tửu lượng hắn đã bão hòa. Hắn cảm thấy không vui. Ngay lúc đó P. kề sát mặt hắn, trong tiếng ồn ào của bàn nhậu hỏi to: “Ông thấy thơ tui hay không?”.

Tiếng nói thầm trong người hắn vang lên, nhưng hắn cố kìm nén, lảm nhảm: “Được lắm, có mấy bài đặc sắc”.

P. đang phấn khích, lôi cổ áo hắn: “Được lắm là sao? Đoạt giải thành phố mà. Ông thấy thơ tui hay không?”.

Men bia đã đánh gục con người hắn, hắn mặc kệ cho tiếng nói thầm, và hắn gào lên, ngay mặt P.: “Thơ ông như cái tự do!”.

“Đ.M. Cái gì? Ông nói thơ tui như cái gì?”.

“Tao nói nè: Thơ mày như con cặc!”.

Như trong một đoạn phim quay chậm, hắn nhìn thấy nhà thơ kiêm kinh doanh khách sạn theo giờ chụp cổ chai bia, vung lên, nhằm thẳng vào trán hắn!
Nguyễn Đình Bổn, từ Sài Gòn - Tháng 2-2016
Nguồn: Nhịp Cầu Thế Giới

Thursday, October 29, 2015

ÔNG GIÀ VÀ CHIẾC ĐÀN DƯƠNG CẦM

Không khí thật điền viên, ấm áp. Như bà già trong bản sao khổ lớn bức tranh sơn dầu nổi tiếng "La jeune fille au piano" của danh họa Paul Cézanne treo trên tường, bà lặng lẽ ngồi đan trên chiếc ghế xa-lông da mềm và sâu. Con mèo mướp lười biếng nằm ngủ dưới ghế, đầu gối lên đôi chân đi tất len dày của bà. Chốc chốc nó duỗi mình, vươn thẳng tứ chi rồi lại khoanh tròn ngủ tiếp.
Ðầu xuân, nhưng trời còn rét ngọt. Dù ở nhà, như thường lệ, bà vẫn mặc chiếc áo dài vải the mầu xẫm kiểu cổ thời trước cách mạng. Bà có khuôn mặt bình thản hình trái xoan, với chiếc mũi thanh tú, đôi môi nhỏ và dày. Một nốt ruồi to bên cạnh, na ná nốt ruồi nổi tiếng của ca sĩ nhạc pop Mađôna, càng tôn thêm cho bà cái duyên thầm rất ưa nhìn. Cặp kính lão mắt tròn (cũng kiểu cổ) treo sệ xuống đầu mũi, và bà thường nhìn trên kính chứ không qua mắt kính như người khác. Bất chấp những nếp nhăn sâu trên mặt và mái tóc phi-dê ngắn bạc gần hết, người ta vẫn dễ dàng đoán biết bà từng một thời là người xinh đẹp và xuất thân từ một gia đình rất nền nếp.
Nếu phải chọn ai đấy là dân Hà Nội gốc, tiêu biểu cho lớp trí thức cũ vừa lịch sự vừa bảo thủ, thì có lẽ bà là người thích hợp nhất. Có cảm giác như cuộc sống mới thực dụng và hiện đại một cách xô bồ bên ngoài không mảy may ảnh hưởng đến con người bà và căn phòng nhỏ bà đã sống suốt bảy mươi năm qua. Bản thân căn phòng cùng các đồ vật trong đó cũng cổ kính và trầm lặng như chủ nhân chúng.
Bà là một trong số rất ít các nghệ sĩ pianô ở lại với cách mạng sau ngày thủ đô giải phóng, là người thầy đầu tiên bộ môn này ở Nhạc viện Hà Nội. Bà đã dìu dắt nhiều thế hệ nghệ sĩ trưởng thành, có người giành được giải thưởng lớn trong các cuộc thi quốc tế. Bà nghỉ hưu đã mấy năm nay, với danh hiệu "nhà giáo nhân dân" và "nghệ sĩ ưu tú". Chồng bà là cán bộ cao cấp trong quân đội, một vị tướng chiến trường, hy sinh trong chiến dịch Khe Sanh. Họ không có con. Bấy lâu nay bà sống một mình với con mèo, với chiếc đàn pianô hiệu Bekker cũng già nua và quí phái như bà.
Khách đến nhà bà không nhiều. Bà thích thế. Mỗi tuần hai lần vào thứ ba và thứ bảy, bà dạy đàn cho đứa cháu gái mười tuổi của bà em. Nó có khiếu, tiếp thu nhanh. Bà mong muốn và có thể dạy nó thành nghệ sĩ pianô có tài. Nhưng nó lại không thích. Cái nó thích là nhai kẹo cao su - vừa tập đàn vừa nhai - và nhạc xập xình chứ không phải nhạc Mozart hay Schubert. Không nói ra nhưng bà buồn. Bà buồn cả việc nhiều học trò giỏi của bà tối tối vào các khách sạn hoặc quán bar chơi đàn cho đám thực khách thô lỗ. Khách của bà còn là những học trò cũ thỉnh thoảng đến thăm, nhất là vào ngày mồng Tám tháng Ba và ngày Hai mươi tháng Mười Một. Và cuối cùng là ông già đang ngồi chơi đàn trước mặt bà lúc này. Một vị khách không mời cũng đến, đều đặn mỗi tháng một lần đúng ngày rằm. Vì sao lại ngày rằm? Cả ông lẫn bà đều không biết. Ðơn giản vì đến mấy lần vào ngày ấy rồi quen, sau cứ thế tiếp tục mãi đã hàng chục năm nay.
Ông là thợ (có người gọi nghệ sĩ) lên dây đàn pianô lâu năm nhất và cũng thuộc loại giỏi nhất ở Hà Nội. Ông đến để lên dây đàn cho bà, mặc dù gần đây bà ít chơi đàn và do vậy dây đàn ít sai để phải lên lại. Nhưng ông cứ đến, bà chẳng lấy thế làm khó chịu. Họ là bạn của nhau từ thời còn trẻ. Chiếc pianô luôn là chiếc cầu nối giữa họ. Thường sau mỗi lần chỉnh đi chỉnh lại những nốt đàn đã quá chính xác, ông thong thả cất bộ đồ nghề vào hộp, rồi cũng thong thả như thế, ông trang trọng ngồi xuống trước đàn, bắt đầu chơi bài "Fur Elise"(gửi Elise) của Beethoven, một bản nhạc đượm buồn ai oán mà tương truyền nhạc sĩ thiên tài người Ðức này đã viết gửi một nàng Elise nào đó để bày tỏ mối tình vô vọng của mình. Tiếp đến là một bản etude chậm của Chopin mà theo chất nhạc, người ta đặt thêm cho cái tên là "Tristess" (nhạc buồn). Lần nào cũng chỉ hai bài ấy. Bà chẳng biết vì sao, nhưng không bao giờ hỏi. Xong, ông cẩn thận đậy nắp đàn, lấy giẻ lau sạch bóng lần nữa, ngồi xuống cạnh bà, uống nước, trao đổi đôi ba câu vu vơ rồi ra về, cúi đầu chào thật thấp, thậm chí còn ngả mũ nghiêng mình, nếu lúc ấy là mùa đông và ông đội chiếc mũ phớt dạ từ thời Pháp còn lại.
Tuy nhiên, hôm nay hình như ngoại lệ. Sau hai bài bất di bất dịch kia, ông chơi thêm một bản nocturne (dạ khúc) của Chopin, bản số 1, và hiện đang chơi bản sonnate "Les Adieux" (Vĩnh biệt) số 26 của Beethoven.
Bà hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn lặng lẽ ngồi nghe, không một lần ngước mắt khỏi que đan. Ông đàn không hay, không phải ở mức a-ma-tơ, nhưng cũng chưa hẳn chuyên nghiệp. Xuất thân từ một gia đình tư sản sa sút, ngày xưa ông cùng học pianô một thời gian ở Paris với bà. Bà học giỏi, có tài, tiếp tục tiến lên, còn ông thì sau nhiều thăng trầm, tự biết không bao giờ có khả năng thành nghệ sĩ giỏi, cuối cùng tự chọn cho mình cái nghề lên dây đàn pianô, dẫu nó, trước kia cũng như bây giờ, hiếm ai lao vào và chưa bao giờ mang lại cho ông nhiều tiền. Ðơn giản vì ông không thể sống thiếu cây đàn này. Không trực tiếp biểu diễn thì ông chăm chút, chuẩn bị nó cho người khác. Và ông lấy thế làm hài lòng. Bây giờ đến lượt ông đàn, lại một bài khó và dài như "Les Adieux", ông không khỏi lúng túng, ngượng ngập. Chiếc Bekker già nua, loại Grand piano, chiếm trọn nửa căn phòng, đang rên rỉ dưới những ngón tay cũng già nua không kém của ông. Những phím đàn màu trắng ngả vàng ngà như nhảy múa một cách miễn cưỡng. Tiếng của nó cũng không còn trong trẻo và sắc gọn như xưa.
Theo thói quen nghề nghiệp, thỉnh thoảng bà ngừng tay, gõ mạnh que đan vào thành ghế, rồi nói to như trước bà là cậu học sinh chưa thuộc bài: "Forte! Forte!" (mạnh hơn, mạnh hơn nữa) hoặc "Tình cảm vào! Chậm thôi, chậm thôi!" Ông ngoan ngoãn làm theo, vấp một đôi lần rồi cuối cùng ngừng chơi, quay về phía người bạn già.
- Cây đàn của bà già lắm rồi, - ông thở dài.
Ðó là một chiếc đàn tốt bố mẹ mua cho bà từ Pháp. Với tư cách là giảng viên lâu năm, sau này nhiều lần Nhạc viện đề nghị cấp đàn mới nhưng bà không nhận mà vẫn giữ nó như kỷ niệm một thời.
- Còn ông thì không? - bà đáp, nửa châm chọc nửa trách móc, như thể chiếc đàn bị chê một cách oan ức.
- Tôi cũng già rồi. Cả bà nữa. Cái gì phải đến, sẽ đến thôi. - Ông lại thở dài. - Bà nghỉ dạy đã mấy năm. Bây giờ đến lượt tôi. Hôm nay là lần cuối cùng tôi lên dây đàn đấy. Tất nhiên cho chiếc đàn của bà. Bà và tôi gắn bó với nó bao nhiêu năm rồi nhỉ?
- Gần năm mươi năm. - Bà đáp, ngừng đan, ngạc nhiên hỏi: - Lần cuối cùng? Vì sao lại lần cuối cùng?
- Vì tai tôi hỏng rồi. Cũng đúng thôi. Tuổi tác mà. Hình như nó hỏng đã lâu nhưng vì người ta thương tôi, nể tôi, nên không nói đấy thôi. Tháng trước Nhà Hát Lớn không nhờ tôi lên dây chiếc Steinway cho một nghệ sĩ Hà Lan biểu diễn, tôi đã lờ mờ đoán có chuyện không ổn. Chỉ hôm qua tình cờ tôi nghe có người nói bây giờ tai tôi không chính xác nữa, lên sai dây đàn mà tự mình không biết. Hóa ra mấy lần trước người ta bí mật nhờ cậu Hà chỉnh lại những chiếc đàn tôi đã lên dây ở Nhà Hát Lớn, Hội nhạc sĩ, phòng thu Ðài phát thanh và phòng hòa nhạc của Nhạc viện. (Hà là một trong những thợ học việc của ông, sau được gửi sang Tiệp luyện nghề hai năm, thời gian gần đây đang thay ông chăm sóc mấy chục chiếc đàn ở Nhạc viện. Tuy nhiên những chiếc đặc biệt dành cho các buổi biểu diễn quan trọng thì vẫn phải đích thân ông trực tiếp chuẩn bị). Bà biết đấy, nghề tôi chỉ nhờ vào đôi tai. Nay nó hỏng, coi như tôi mất nghề. Beethoven điếc vẫn viết nhạc được vì ông nghe thầm trong đầu. Còn tôi, tôi cần nghe rõ những âm thanh có thật. Không khéo lần trước tôi lên dây cho chiếc đàn này cũng sai, và như người khác, bà thương tôi nên không nói. Có đúng thế không?
Bà im lặng hồi lâu mới khẽ đáp:
- Không. Tôi thấy nó vẫn chính xác.
Bà ái ngại nhìn ông già, không đủ can đảm nói lên cái sự thật bà biết không phải tháng trước mà từ lâu trước đó, rằng đôi tai rất thính nhạy của ông đã bắt đầu không ổn. Tuy vậy, bà vẫn không muốn bất kỳ ai khác chạm vào chiếc đàn yêu quí của bà. Bà hiểu ông tự hào và yêu nghề mình đến mức nào. Nó là hạnh phúc và cũng là ý nghĩa cuộc sống đối với ông. Suốt năm mươi năm qua người ta đánh nhau, cày cấy hoặc đổ mồ hôi trong nhà máy, hầm mỏ, còn ông thì luôn quanh quẩn bên những chiếc đàn pianô. Ngoài ra ông không biết một nghề nào khác. Xã hội cũng cần ông như chính ông cần những chiếc đàn pianô để sống, đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Cũng suốt chừng ấy năm người ta thấy ông lọm khọm đạp chiếc xe cà tàng tới Nhạc viện ở Ô chợ Dừa, phòng tập trường múa ở Mai Dịch và các phòng hòa nhạc, thu thanh khắp nơi trong thành phố. Nhiều lần ông còn được ô tô, máy bay đưa đón đến một thành phố xa nào đó chỉ để lên dây một chiếc đàn pianô. Thường sau khi xong việc, ông nán lại để được tận hưởng thành quả lao động của mình, tự hào và lâng lâng hạnh phúc lắng nghe các nghệ sĩ biểu diễn, hoặc ngắm nhìn những diễn viên ba-lê nhún nhẩy bước đi trên đầu ngón chân theo tiếng nhạc chiếc đàn ông đã nâng tới mức hoàn thiện. Ông thường giật mình cảm thấy như người có tội, dằn vặt mấy ngày liền nếu tình cờ phát hiện có dây đàn nào đấy lên chưa chuẩn lắm. Công bằng mà nói, người ngoài nghề it ai hiểu hết giá trị công việc ông làm. Các nghệ sĩ đích thực thì khác. Họ kính trọng ông, thân mật tôn ông thành Maestro (sư phụ). Sau buổi biểu diễn, nhiều danh cầm thế giới tự tìm đến bắt tay cảm ơn ông và tặng những món quà nho nhỏ được ông tập hợp thành bộ sưu tập bày nơi trang trọng trong nhà mình.
Mươi năm gần đây đất nước mở cửa, kéo theo sự mở cửa của vô số các quán bar và khách sạn đua nhau làm sang mua pianô đắt tiền, thuê sinh viên Nhạc viện biểu diễn để câu khách. Những chiếc đàn ấy cũng cần được định kỳ lên dây và chăm sóc, tất nhiên. Cũng theo mốt, người ta mời đích thân ông làm việc này, nhưng thường ông bảo Hà và những người như anh ta làm hộ, dù ở đấy tiền công cao hơn. Âu cũng là một sự lẩm cẩm nữa của người già.
Ông cũng sống một mình. Hơn thế, suốt đời sống một mình. Vì sao - không ai rõ, mà ông cũng chẳng chịu nói với ai. Nghe đồn ngày xưa ông yêu bà, yêu lắm, nhưng vì bà là người thành đạt, lại xinh đẹp, con nhà giàu, còn ông thì... nên ông biết phận mình, chưa một lần dám thổ lộ. Người ta hỏi cả hai có đúng thế không, lần nào họ cũng chỉ cười thay cho câu trả lời. Bản thân họ chưa bao giờ đả động đến chuyện đó. Bao năm nay họ quen đối xử với nhau như những người bạn, và dường như cho thế là đủ.
- Bây giờ ông định thế nào? Không lên dây đàn thì ông làm gì ? - Bà hỏi.
- Tôi cũng chẳng biết nữa. Có lẽ tôi không thể tiếp tục sống ở Hà Nội. Những chiếc đàn ở đây làm tôi buồn. Tôi có người bà con ở vùng trung du Phú Thọ, định về sống nốt tuổi già ở đấy, vui với mảnh vườn, bầy gà. Cũng được đấy nhỉ? Bà thấy thế nào?
- Tôi thấy ông lẩm cẩm. Không chỉ tai hỏng mà đầu óc cũng không ổn. - Bà cười đáp, không ra nghiêm túc cũng chẳng phải đùa. - Suốt đời ở thủ đô, nay ông tưởng về sống nông thôn dễ đấy à?
- Rồi bà xem.
- Tùy ông thôi. Nhưng có phải vì thế mà vừa rồi ông chơi bản "Les Adieux" không?
- Bà đoán đúng.
- Nhưng ông chơi tồi và bỏ giở giữa chừng...
- Ðúng thế. - Ông buồn bã đáp. - Tại lâu ngày không đàn, tôi quên. Tại nó khó quá...
- Bao giờ ông đi?
- Tuần tới. Mọi thứ thu xếp xong rồi. Hôm nay tôi đến chia tay bà.
Hai người cùng ngồi im.
- Tôi muốn hỏi ông điều này. Tò mò thôi. Vì sao trong bao nhiêu năm ở nhà tôi ông chỉ đàn hai bài, là "Fur Elise" của Beethoven và "La Tristess" của Chopin?
- Bà chưa bao giờ thử đoán vì sao à? - ông hỏi lại, giọng nhỏ nhẹ và không ngước nhìn bà.
- Chưa. - Bà đáp. - Mà sao tôi phải đoán. Ai muốn nói gì cứ nói thẳng ra chẳng hay hơn ư?
Họ lại im lặng. Lần này còn lâu hơn. Cuối cùng ông rụt rè lên tiếng:
- Bà có thể đàn tôi nghe một bài được không? Bài gì cũng được. Chưa bao giờ bà đàn cho tôi, chỉ riêng một mình tôi...
Bà liếc nhìn ông với cái nhìn như muốn nói: "Ông có đòi hỏi nhiều quá không đấy?" Nhưng bà không nói gì, chỉ lặng lẽ đứng dậy, đài các bước về phía chiếc đàn, và cũng đài các như thế ngỗi xuống ghế, như thể trước bà không phải ông bạn già mà cả nghìn khán giả am hiểu ở Nhà Hát Lớn. Bà đặt hai bàn tay nhăn nheo nhưng thon mảnh lên mặt phím đàn đã ngả màu vàng vì năm tháng, đầu hơi ngửa về phía sau một cách kiêu hãnh. Chiếc đàn cổ lại rung lên vì những nốt nhạc mạnh và dứt khoát. Thật khó tin một phụ nữ nhỏ bé, già nua như bà lại có thể tạo ra được những âm thanh mạnh mẽ và kỳ diệu đến thế. Bà say sưa đàn, mắt lim dim, dường như quên hết mọi thứ trên đời. Cả con người và tâm hồn bà đang hòa quyện vào tiếng nhạc lúc hùng tráng, lúc du dương quyến rũ.
"Bản Prelude và Fuge số 29 của Bach!' - ông nhận ra ngay từ những nốt nhạc đầu tiên. Ðây là tác phẩm phức điệu khó biểu diễn cả về kỹ thuật lẫn thể hiện tình cảm. Chính vì nó mà ông bị đánh trượt không tốt nghiệp Nhạc viện Paris vào một ngày đông giá lạnh ở nước Pháp năm nào. Những người sành nhạc đều yêu thích bản nhạc này. Ông thì coi nó là đỉnh cao sáng tác không chỉ của Bach mà cả nền âm nhạc pianô toàn thế giới.
Bà chơi xong phần Prelude hùng tráng, bây giờ đang chuyển sang phần Fuge trữ tình, phần hay nhất của tác phẩm. Các bè nhạc lúc đan quyện vào nhau, lúc đối đáp như lời tâm tình không dứt. Những nốt nhạc tinh khiết, thần thánh làm ông lâng lâng. Tự lúc nào không biết, đôi mắt ông ngấn đầy lệ. Ông giật mình, thầm mừng bà bận đàn nên không thấy ông khóc.
*
Một tháng sau, đúng ngày rằm, từ Phú Thọ ông lại về Hà Nội và đến nhà bà.
- Công việc của ông trên ấy thế nào? - Bà hỏi, hình như không ngạc nhiên trước việc ông quay lại.
- Cũng bình thường. Ổn cả. Còn bà?
- Tôi thì có gì thay đổi được nữa. Ông không mang đồ nghề về à?
- Không. Tôi nhớ Hà Nội quá, nhớ đàn quá. Ghé về chơi một hôm rồi lại lên trên ấy.
- Thế thì tiếc thật.
- Sao vậy? Ðàn lại sai dây à? - Ông hỏi rồi chợt thở dài. - Thật buồn rằng bây giờ tôi chẳng giúp được bà nữa. Tai tôi hỏng rồi, bà biết đấy. Ðể tôi bảo cậu Hà...
- Không, tai ông vẫn thính lắm. - Bà ngắt lời. - Vả lại, cây đàn của tôi nó đã quen ông. Nó già yếu lắm rồi nên cần được chăm sóc thường xuyên. Thiếu ông, dường như nó chẳng còn là chiếc đàn như trước. Ông cũng chưa bao giờ nghĩ tới điều ấy à?
Ông bối rối không biết đáp thế nào. Bà bước thêm một bước về phía trước, nhìn thẳng vào mắt ông và nói với giọng rất nghiêm túc:
- Tôi có một đề nghị thế này. Ông thấy được thì chấp nhận, không thì thôi, tùy ông. Chiếc đàn của tôi hiện cần phải lên dây hàng ngày. Ðể đỡ vất vả, nếu muốn, ông có thể ở lại đây, ngay trong nhà tôi để làm việc đó. Ý ông thế nào?
Ông hiểu. Quá bất ngờ, ông đứng lặng một lúc rồi ấp úng nói:
- Nhưng cả tôi và... chiếc đàn của bà đã già. Làm thế, e nó thế nào ấy.
- Ông lại nói lẩm cẩm rồi. Tai ông còn tốt, chỉ đầu óc ông có vấn đề mà thôi.
Ðể ông khỏi lúng túng, bà ngồi xuống cạnh đàn, vẫn với vẻ đài các nghệ sĩ vốn có của mình.
- Bà vừa đàn bài gì lạ thế, hình như tôi chưa nghe bao giờ, - ông hỏi khi bà đàn xong.
- Ðó là bản "Le Vieillard et le Piano". Khúc ngẫu hứng tôi viết riêng cho ông đấy. Lần đầu tiên tôi viết nhạc. Nghiệp dư, và vì hoàn cảnh bắt buộc. "Le Vieillard" là ông, một ông già lẩm cẩm đáng yêu. Còn "Le Piano" là ai thì tự ông đoán lấy. "Le Vieillard et le Piano!" Một cái tên cũng hay đấy nhỉ?
Hà Nội, 3.1.2001
Thái Bá Tân

Wednesday, January 7, 2015

Mãi mãi lặng im

Đoàn Hồng Nghĩa:  "Chuyện này rất hay và sâu. Hay ở chỗ nó cho chúng ta một cảm giác thưởng thức loại mỳ Hàn Quốc rất chi kiểu tình cảm thời tiền khởi nghĩa, uỷ mỵ, đau đớn, cay đắng, không rõ vì sao. Có thể chết vì ung thư cũng như vì mấy thằng Bưu điện lười biếng. Sâu ở chỗ cho đàn ông thấy là đừng chủ quan, vì mình có thể đang sống với một quả bom nổ chậm mà không biết lúc nào nổ hay sẽ nổ như thế nào. Cái kiểu anh Tuấn đây rất giống các Vụ trưởng, Cục trưởng "tốt, tốt, cứ thế. Tôi rất tin tưởng". Đấy cho nên tại sao cứ phải gặp vợ là phang niềm tin triệt để. Tuy nhiên vẫn có rủi ro chỗ anh An. Anh này chắc đang chờ thời, chán rồi hay có sự cố sức khoẻ hay đơn giản mới Châu Quỳ ra, cho nên cũng khó mà đại diện cho một nửa giới đàn ông. Nói cho cùng, nên có anh An thì có chuyện để mà viết, mà đọc, gia tăng thị phần văn hoá trong GDP. Nhưng ngược lại vẫn phải có anh Tuấn thì mới gia tăng tiền sữa, tiền tã và các loại thành phần GPD khác. Cám ơn tác giả đã chia sẻ !"

(NCTG) “Cô bé mười bảy tuổi trong cô đã được thả ra, sẽ phải đối mặt với thực tại và sẽ dần dần hòa nhập. Chỉ một lúc nữa thôi cô bé đó sẽ gặp chồng cô và cô chắc cô bé đó sẽ yêu chồng cô như cô đã, đang và sẽ yêu anh”.


Lúc này em đang rất khủng hoảng. Không muốn và không thể làm được gì cả. Em rất sợ phải ở một mình, nhưng lại chẳng muốn gặp ai. Em rất sợ mình sẽ làm những điều thiếu suy nghĩ. Em rất cần một người ở bên để động viên và tâm sự. Anh có thể đến được ko? Em xin lỗi khi em lại tìm đến anh vào lúc này. Em làm phiền anh quá phải ko?”. 

Đoạn tin nhắn bị xóa đi, soạn lại không biết bao lần, cuối cùng cô quyết định nhấn nút “send” và rồi cô lại hối hận. Chiếc điện thoại nằm im lìm như trêu ngươi.

- Anh nói đi, thực sự tình cảm của anh đối với em là như thế nào?

- Tình cảm của anh thế nào, em biết mà. 


Mắt cô ngân ngấn nước. Nỗi ấm ức nghèn nghẹn nơi cổ. Bao năm nay, mỗi lần nghĩ đến anh, cô lại quặn lòng. Liệu những gì anh dành cho cô ngày ấy có phải là tình yêu? Hay chỉ là do cô ngộ nhận? Điều trăn trở lớn nhất trong lòng cô hai mấy năm qua vẫn là một câu hỏi không câu trả lời.

Anh từng là cậu sinh viên do bố cô hướng dẫn tốt nghiệp, rồi được giữ lại trường, chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Mấy năm trời, anh hay qua nhà cô, đi theo bố cô trợ giúp công trình nghiên cứu của ông và một phần liên quan đến đề tài của anh. Không biết bố có coi anh như con nuôi hay không, chỉ biết bố rất quý anh. Hai người có vẻ rất hợp nhau. Sự hiển diện của anh ở nhà cô thường xuyên đến mức cô cảm giác anh như một thành viên trong gia đình. Có hôm anh đến, bố nói cô đi pha trà, mặt tỉnh bơ, dúi vào tay anh cái ấm và gói trà, chỉ vào cái phích nước Rạng Đông nằm ở góc bàn, cô nói: “Trà anh uống, anh pha. Nhá!”. Lúc đó cô mười bốn tuổi. Một bé con nghịch ngợm, ngang ngược và còn quá hồn nhiên.

Mười bảy tuổi, con tim bắt đầu biết nhớ nhung một bóng hình ai, biết nhói đau khi ánh mắt của một người mình thích lại dành cho người khác. Cô bắt đầu mơ mộng về những rung động của tuổi học trò. Anh vẫn thường qua nhà cô, vẫn đi cùng bố cô khắp nơi. Cô túi bụi với các buổi học thêm, ôn thi đại học. Thỉnh thoảng, nếu có gặp anh, cô chỉ kịp gật đầu chào là lại vội vã để đi. Cho đến khi thi xong đại học, trong lúc ngồi nhà chờ kết quả, cô mới gặp anh nhiều hơn. Bất chợt, cô cảm thấy có điều gì rất lạ trong ánh mắt của anh. Cô trở nên rụt rè, dù vẫn cố ra vẻ đối xử với anh như người anh trai. Những lúc trêu anh, cô vẫn bị anh cốc nhẹ nhẹ vào đầu. Nhưng… Hình như bàn tay anh rút lại chậm hơn. Hình như những sợi tóc rối của cô hay vướng vào ngón tay anh hơn…

- Thế ý anh là gì khi anh qua xin bố mẹ em cho em đi chơi cùng anh?

- Thì lớn rồi, muốn đi chơi với em phải xin phép hẳn hoi chứ chẳng lẽ cứ thế đi.

Câu trả lời của anh quá chỉn chu, nhưng sao cô vẫn cảm thấy không thỏa mãn. Cô lặn ngụp chơi vơi trong nỗi kỳ vọng của mình. Chẳng lẽ ngày đó anh không hề yêu cô?

 
Mùng hai tết năm đó anh đến nhà chơi. Mấy năm qua, năm nào anh cũng đến nhà cô vào ngày mùng hai tết. Nhưng năm nay, vừa nhìn thấy anh, trống tim cô đập thình thịch. Cô cảm giác lần này anh đến nhà chơi là vì cô. Linh tính như mách bảo cô sẽ có điều gì đó xảy ra. Bố mẹ cô có vẻ vồn vã với anh hơn mọi lần. Ánh mắt bố thỉnh thoảng nhìn cô, cười cười đầy ẩn ý. Sau một lúc ngồi nói chuyện với bố mẹ và cô, anh chợt quay sang hỏi “Lát em có đi đâu không? Anh đưa em đi chơi”. Cô ú ớ, bất ngờ. Quả thật hôm đó cô cũng không có kế hoạch đi đâu. Hình như cô cố tình để ngày này trống và ngồi nhà chờ anh? Rồi anh quay sang xin phép bố mẹ cô cho anh đưa cô đi chơi Tết.

Anh chở cô đi lòng vòng từ Bờ Hồ, lên Hồ Tây, lọc cọc trên chiếc xe đạp. Ngồi sau xe anh, cô lóng ngóng không biết bám tay vào đâu. Mặt cô cứ đỏ bừng, cảm giác như mọi người qua lại trên phố đều đang nhìn cô dò hỏi. Đi giữa cái rét của gió mùa Đông Bắc, không biết do anh đã che hết gió hay do sự rạo rực của tình yêu mà cô không thấy lạnh. Suốt cả đoạn đường, cô lặng im thin thít, không nói gì, không trêu chọc lại anh như mọi ngày. Hình như là cô đã lớn.

Những ngày tháng sau đó, anh bảo vệ xong luận án nhưng vẫn đến nhà cô thường xuyên, nán lại ngồi chơi với cô nhiều hơn. Bố mẹ cô thỉnh thoảng lại bóng gió, lẩm nhẩm tính tính gì đó, rồi gật gù: “Con học xong đại học. Nó ổn định công việc. Lúc đó là vừa”. Cô cười ngượng nghịu. Đã có gì đâu mà bố mẹ cô đã vội tính. Đúng thật là đã có gì đâu. Anh và cô, hai người thỉnh thoảng vẫn đi chơi cùng nhau, nhưng anh chưa nói điều gì với cô cả. Hôm nhận được tin cô dành được suất học bổng đi du học ở nước ngoài, bất chợt anh cầm tay cô tần ngần rất lâu rồi nói: “Em đi sang đó nhớ giữ gìn sức khỏe nhé. Nhớ tìm người nào thật sự yêu em, để chăm sóc cho em nhé! Con gái ở một mình nơi đất khách quê người là vất vả lắm!”.

- Tại sao anh lại nói với em như vậy chứ?

- Thì em qua bên đó, tương lai của em đang nằm ở phía trước. Anh lo cho em, anh muốn điều tốt cho em mà.


Không kìm nổi lòng, cô để mặc cho hai dòng nước mắt chảy dài trên má. Phải chăng tình yêu anh dành cho cô ngày đó không đủ lớn để chờ đợi cô? Nếu ngày đó chỉ cần anh nói một lời, có thể cô sẽ ở lại và tiếp tục học trong nước. Hoặc chỉ cần một lời, cô sẽ nhất định sẽ chờ anh, quay về tìm anh.

Lần đầu anh cầm tay cô, lại là lần anh nói lời chia xa với cô. Anh đến ít dần. Đôi lần gặp anh, cô biết anh đã đi làm và rất bận. Loáng thoáng ai đó nói, hình như anh đã có người yêu, hình như anh sắp lấy vợ… Tim cô ứa máu âm thầm. Nhiều lúc cô chỉ muốn tìm đến gặp anh, để khóc, để trách móc. Nhưng trách anh làm sao được. Anh chưa một lần nói với cô lời yêu, sao được gọi là bội bạc. Có lần, khi sang đến nơi, lấy hết can đảm, cô gửi thư về cho anh, nhờ bố mẹ cô chuyển hộ. Thư đi, không có thư lại. Anh bặt tin hoàn toàn. Một lần, và là lần duy nhất, mẹ nhắc đến anh khi mẹ khuyên cô đừng buồn, đừng quá cả tin vì lòng người khó lường. Hình như mẹ có ý trách anh quá khéo, tranh thủ tình cảm của bố để có lợi cho mình.

Cô đã khóc nhiều lắm. Khi yêu, người ta có thể mù quáng. Nhưng, có những điều con tim mách bảo khó có thể sai. Mỗi lần nghĩ về anh, trong cô luôn có sự giằng xé giữa hai con người. Một người đầy oán trách, đổ hết mọi tội lỗi, cho rằng mọi sự bất hạnh trong tình yêu của cô là do anh. Và một cô bé mười bảy tuổi đầy mơ mộng, tin vào những điều lung linh huyền diệu của tình yêu, vào một tình yêu một lần là mãi mãi. Đến tận giờ, nhiều lần thức giấc nửa đêm bởi ác mộng, cô quay sang ôm chặt lấy chồng thút thít “đừng bao giờ bỏ em anh nhé! Nếu yêu em, đừng bao giờ bỏ em…”.

Tiếng chuông điện thoại rung lên. Cô cuống quít cầm điện thoại. Là Tuấn. Không kịp nói câu nào, cô òa lên tức tưởi. “Em sao rồi? Công việc em thế nào? Mọi việc ổn chứ? Ngoài đó có lạnh không em? Ngoan nào. Nín nào… Anh bật cho em nghe bài này nhé!”.


Muốn gửi ra em một chút nắng vàng...
Nên cứ muốn chia nắng đều ngoài ấy
Có tình thương tha thiết của trong này...

Em hãy làm cây thông xanh em nhé...
Hơn lúc nào anh thấu hiểu lòng em
Gửi nắng cho em gửi nắng cho em
Gửi nắng về sưởi ấm những bàn tay. (*)

Từ ngày cô đi, đến lúc học xong trở về nước, trong những lần về phép, chưa bao giờ cô dám hỏi bố cô về anh. Bố mẹ cô cũng tránh không nhắc đến anh. Cô quyết định chuyển hẳn vào Nam sinh sống, lấy chồng, sinh con. Mỗi lần đi công tác ngoài Hà Nội, cô vẫn luôn dành riêng cho mình một khoảng thời gian, chạy xe chầm chậm trên con đường ngày xưa anh với cô vẫn hay đi. Và trên đường về khách sạn, cô sẽ chạy vòng qua con đường nhà anh ở ngày xưa. Xa lắm rồi, cô không nhớ chính xác số nhà. Hoặc có thì cũng đã bị thay đổi nhiều. Vu vơ, nhiều lúc cô nghĩ nếu bất chợt gặp anh, không hiểu sẽ ra sao.

Gần hai tháng trước, trong một buổi họp, vô tình cô ngồi cùng bàn với hai người làm cùng bố cô ngày xưa. Lan man, nhắc lại chuyện ngày cô còn bé xíu, họ chợt thoáng nhắc đến tên anh. Không hiểu có điều gì thôi thúc, cô xin số điện thoại của anh. Hai mấy năm rồi, không biết tình hình anh thế nào. Có thể đã đến lúc cô nên xóa bỏ đi những oán giận ngày xưa.

- Anh à, tuần tới em đi công tác Hà Nội đấy.

- Vậy à, em đi mấy hôm?

- Họp một hôm thôi, nhưng em định ở lại hôm sau mới về. Em định ghé qua thăm mộ bố mẹ.

- Sao không để lần tới anh ra công tác, hai vợ chồng mình cùng đi?

- Anh An có ý muốn đi thăm mộ bố mẹ em. Em định sẽ đưa anh ấy đến.

- Em tìm lại được An rồi à?


Cô lặng lẽ gật đầu.

Cách đây mấy hôm, khi biết tin sắp ra Hà Nội công tác, lại đúng vào hôm sinh nhật anh, nhấc máy, đặt lên, đặt xuống mấy lần, cuối cùng cô quyết định gọi điện cho anh. Cất tiếng rụt rè hỏi người ở đầu dây bên kia: “Xin lỗi, đây có phải là số máy anh An không ạ”, thì tiếng anh reo lên rộn rã “Nguyệt à, có phải Nguyệt không?”. Cô lặng người. Hai mấy năm mà anh có thể nhận ra tiếng của cô? Hay linh cảm mách cho anh điều đó. “Vâng, em đây. Sao anh biết”. “Em ở đâu? Hồi này thế nào? Anh nghe nói em đã… em đã… em đã…”. Cô hoàn toàn ngây dại khi nghe anh nói. Gần như mọi điều về cô anh đều nắm rõ. Cố nén lòng lại, cô trả lời những câu hỏi dồn dập của anh và báo cho anh là cô sắp ra Hà Nội công tác. Anh nói: “Nhất định sẽ gặp café, nói chuyện nhiều hơn nhé! Em ra có định đi thăm mộ bố mẹ không. Nếu đi, cho anh đi cùng em nhé!”.

Lòng cô cứ rối bời. Cô rạng rỡ, bồn chồn chờ tới ngày gặp anh cứ như hò hẹn với người yêu. Cô băn khoăn, không hiểu anh nghĩ gì. Rồi cô lại tự nhắc nhở mình, rằng cuộc gặp lần này chỉ là để xóa đi những ân oán ngày xưa, giải đáp những thắc mắc cứ dày vò cô bao lâu nay, để cô có thể sống thanh thản hơn mà thôi. Càng gần đến ngày đi, cô nửa muốn đi, nửa muốn chạy trốn.

Tuấn kéo cô lại gần, vòng tay ôm chặt cô vào lòng. Anh thầm thì: “Em nhớ nhé, ở trong em đang có một cô bé của tuổi mười bảy, bị em giam cầm lâu nay và đang chuẩn bị được thả ra. Nhưng em đừng quên, em đang là cô bé của tuổi bốn mươi, có một người chồng và hai cô con gái rất rất yêu em. Em nhớ không? Em làm gì cũng được, nhưng đừng quên điều đó!”.

Từ ngày hôm qua tới giờ, cái cô bé mười bảy tuổi trong cô đang làm cô vật vã. Buổi chiều qua, sau khi họp xong, cô ra quán café anh hẹn. Lúc gặp anh, nhìn dáng vẻ liêu xiêu, cuống quít của anh đứng dậy đẩy ghế, mời cô ngồi, cô chỉ muốn nhào vào vòng tay anh khi đó. Khoảng cách thời gian hơn hai mươi năm như bị xóa nhòa. Trong mắt cô, vẫn là anh, chí chóe trêu cô như ngày xưa cô còn bé. Vẫn là anh, ân cần, bao dung với cô. Vẫn là cái cốc nhè nhẹ lên đầu cô. Vẫn là anh, ngồi thật gần mà vẫn thật xa vì một khoảng cách đầy ý tứ... Vẫn là anh… Chỉ cần một câu nói thôi, cô sẽ vứt bỏ tất cả để đến với anh.

- Anh nói đi, chỉ một lần thôi. Nói cho em biết.

- Bây giờ có nói ra cũng để làm gì em?

Đúng thật. Nói ra cũng chẳng để làm gì. Có thể chỉ là để vuốt ve lòng tự trọng của cô. Có thể để xóa đi những thắc mắc trong cô về anh. Có thể chỉ để khẳng định những điều cô cảm nhận trong tim.

Lá thư cô gửi anh, chưa bao giờ đến tay anh. Mãi hơn một năm, sau khi cô về nước anh mới lấy vợ. Nghe anh kể mà cô không tin vào tai mình. Đầu óc cô quay cuồng. Tại sao vậy chứ? Anh là người đang trách móc cô hay anh đang thanh minh cho những nỗi ấm ức trong cô? Tại sao nếu yêu cô ngày ấy, anh lại rời xa cô không một lời như vậy. Tại sao anh không tìm cách liên lạc với cô?

Cô úp mặt vào đôi tay anh, thổn thức. Cô không biết có nên tin vào những gì anh nói hay không. Bố mẹ cô mất rồi, không còn có người để cho cô hỏi, để khóc lóc, để trách móc. Mấy năm học ở nước ngoài, cô sống lầm lũi, để mặc nỗi cô đơn gặm nhấm trái tim tan vỡ của mình. Cô luôn mặc cảm, sống như con thú bị thương, không dám tin vào tình yêu, chạy trốn tình yêu. Nếu không phải do anh, thì là ai đây? Bao năm rồi, anh vẫn là người gánh chịu sự oán trách này. Bây giờ cô biết trách ai?

- Em có ngửi thấy mùi hoa sữa không? Anh chưa bao giờ được đưa em đi chơi trong mùi hoa sữa nhỉ.

- Anh đã bao giờ muốn vậy chưa?

- Em tự biết mà.

- Sao anh cứ bắt em phải tự biết, tự biết vậy? Sao anh không chịu một lần tự nói ra những gì anh nghĩ. Em không tự biết gì cả ấy.


Cô buột miệng trách móc anh. Có lẽ nỗi giận hờn trong cô biết bao năm rồi, giờ mới có dịp được xổ tung ra. Cả tình cảm của cô dành cho anh, bao lâu nay bị kìm nén, cũng chỉ đang chờ dịp để nổ tung.

Anh ngồi im lặng, vẫn để nguyên đôi bàn tay cho cô úp mặt khóc. Khi anh rút trong túi ra chiếc khăn mùi xoa, đưa cô lau nước mắt, cô chợt giật mình. Anh vẫn giữ thói quen dùng khăn mùi soa. Ngày xưa, có một lần khi cô khóc, anh đã đưa cho cô lau nước mắt. Chiếc khăn đó cô giữ mãi cho đến khi lấy chồng, dọn lại đống đồ cũ, cô quyết tâm bỏ nó đi, để bước sang một quãng đời mới.

Hơn lúc nào anh thấu hiểu lòng em
Gửi nắng cho em gửi nắng cho em
Gửi nắng về sưởi ấm những bàn tay… (**)

Em chuẩn bị ra sân bay chưa? Đi đường cẩn thận nhé! Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Em đừng buồn nữa. Ngoan nhé! Chỉ mấy tiếng nữa thôi là anh sẽ lại ở bên em. Cố lên em nhé!”. Giọng Tuấn ấm áp, ân cần, đầy yêu thương.

Cô ra sân bay một mình lặng lẽ. Quãng đường ra sân bay hôm nay sao quá ngắn ngủi. Ngồi ở phòng chờ lên máy bay, cô gục mặt giả vờ ngủ để giấu đi những giọt nước mắt. Tin nhắn gửi đi cho anh không có hồi âm. Anh không gọi cho cô, không nhắn tin cho cô, không nói một lời tạm biệt trước lúc cô đi. “Tha lỗi cho anh nhé! Anh đã không đủ dũng cảm để tin vào tình yêu của em ngày đó. Anh không biết rằng mình đã làm em đau khổ. Anh không bao giờ muốn làm em buồn cả. Hạnh phúc nhé em”. Anh thầm thì vội vã nói với cô lúc hai người chia tay ra về.

Ngày đó, cô đi, cũng sân ga này, cô ngóng anh đỏ cả mắt mà anh không đến. Ngày đó, cô ra đi, với tâm trạng của một kẻ thất tình, không niềm hy vọng. Ngày đó, cô mang trong lòng nỗi dằn vặt, nghi ngờ vào chính con tim mình. Ngày đó lòng tự trọng của cô bị tổn thương. Ngày đó trong cô trĩu nặng những câu hỏi không có câu trả lời. Sau hơn hai mấy năm, anh vẫn lặng im không nói.

Hành khách chú ý! Máy bay chuẩn bị cất cánh. Đề nghị các hành khách lưu ý tắt hết các thiết bị điện tử…”. Cô nhìn chiếc điện thoại vẫn cầm trên tay, chăm chú, nấn ná thêm một chút nữa. Cô mở danh bạ điện thoại, tìm số của anh… “Delete contact”. Cô tắt nguồn, cất điện thoại vào túi xách.

Máy bay cất cánh. Cô cảm thấy cồn cào, mọi thứ như đảo lộn ở bên trong. Cô nhắm mắt, cố gắng thư giãn, hít thở đều đặn. Cố lên, chỉ một chút nữa thôi mọi việc rồi sẽ qua. Cô bé mười bảy tuổi trong cô đã được thả ra, sẽ phải đối mặt với thực tại và sẽ dần dần hòa nhập. Chỉ một lúc nữa thôi cô bé đó sẽ gặp chồng cô và cô chắc cô bé đó sẽ yêu chồng cô như cô đã, đang và sẽ yêu anh. Như Tuấn nói, “đến ngày đó, em sẽ yêu anh trọn vẹn cả tâm hồn em”. Và cô bé đó chắn chắn sẽ tìm thấy hạnh phúc của mình. Cô khẽ mỉm cười trong giấc ngủ.

(*), (**) Bài hát “Gửi nắng cho em” (nhạc Phạm Tuyên, lời thơ Bùi Văn Dung).
 
Thanh Tâm, từ Hà Nội
 
   Post từ Wall/FB của Đoàn Hồng Nghĩa (Bài đăng trên "Nhịp Cầu Thế Giới Online")

Wednesday, July 16, 2014

Đọc sách: Chuyện nghề của Thủy

     Đây là cuốn sách mà anh Lê Minh (Debrecen,VIDI 69) đã giới thiệu cho tôi và nói rằng: anh ấy đã đọc một mạch từ trang đầu đến trang cuối. Dù là 1 cuốn sách nhỏ của 2 tác giả "nhỏ" (không chuyên) nhưng vẫn rất hấp dẫn với cách viết chân thật. Và dù không có 1 giá trị như những tác phẩm văn học lớn nhưng nó rất giá trị với nhiều người Việt, nhất là những người như tôi.
                                             

 Sau đây là vài đoạn trích dẫn từ câu chuyện của đạo diễn Trần Văn Thủy:
"Cuộc sống là nguồn cảm hứng để nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm, nó là "nguồn" kịch bản vô tận của phim tài liệu. Mỗi tác giả khai thác thứ mình quan tâm trong cái nguồn vô tận ấy. Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ thì thân phận con người là điều Trần Văn Thủy nhạy bén nhất và luôn lấy nó làm "chất liệu" trong tất cả các phim tài liệu của mình"

Tình yêu thiên nhiên và con người miền núi gắn liền với tuổi trẻ của Trần Văn Thủy khi tác giả được giao làm công tác văn hóa ở vùng cao:
Lai Châu là tỉnh xa nhất của Tây Bắc, gà gáy ba nước cùng nghe. Trước kia ở huyện Mường Tè không có quốc lộ, chỉ có những con đường mòn qua nhiều đèo dốc suối khe, là quê hương của những tộc người hoang sơ nhất:
"Thiên nhiên quá hùng vĩ. Sức mạnh của tạo hóa thật vô cùng. Dòng sông chảy xối xả như thác, cứ ầm ầm ào ào suốt ngày suốt đêm, từ đời này sang đời khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, hàng ngàn vạn năm từ khi khai thiên lập địa. Những hòn đá nhỏ như viên bi cho đến những hòn đá to bằng nửa cái nhà, tất cả đều tròn vo, nhẵn thín. Khi mặt trời mọc, từ trên đỉnh núi nhìn xa xa, núi non trùng trùng điệp điệp nhấp nhô như ngàn vạn con lạc đà nằm phủ phục ..."
"Những con đường mòn vòng vèo, dài như vô tận, chập chùng lên xuống, rẽ ngang rẽ dọc. Thỉnh thoảng bên suối lại nghe tiếng cối nước giã gạo thong thả, thình ...thịch, cứ thế ngày đêm ...chậm rãi như tiếng thời gian. Nó cặm cụi "làm việc" một mình, chẳng một bóng người. Nhà chủ cối gạo có thể ở gần đâu đấy, cũng có thể cách hàng giờ đi bộ. Có người đi qua còn ngồi xuống đảo gạo hộ hay thấy gạo giã đủ trắng rồi còn xúc ra, đổ gạo chưa giã vào - gạo để ngay trong cái gùi ngay bên cối.
Dọc đường đi thỉnh thoảng lại gặp một túp lều không người, bên trong treo vài nải chuối, mấy củ khoai, củ sắn, măng rừng, bắp ngô, mớ trứng gà, cả gà nữa. Ai cần cái gì thì lấy cái đó và tự bỏ tiền vào cái giỏ con bên cạnh."
 
    Đạo diễn Trần văn Thủy và người thầy của anh: Roman Karmen

Trần Văn Thủy: "...Ừ, nghề của chúng tôi cũng là một nghề hèn, nghề mọn. Hèn vì nghĩ nhiều mà không dám nói ra, mọn vì cái làm ra cũng chẳng mấy ai cần đến.
...Một cuốn sách, một vở diễn, một bộ phim ra đời đâu có mấy phụ thuộc vào sự hữu hiệu của nó với cuộc đời ...mà thường, nhất nhất trông đợi ở sự xem xét của bề trên chúng tôi.
Bề trên chúng tôi bằng lòng thì được, không bằng lòng ắt phải bỏ.
Bề trên chúng tôi khen thì chúng tôi vui sướng.
Bề trên chúng tôi chê, thì chúng tôi buồn rầu."

"Người ta bảo chữ TIỀN đi đôi với chữ BẠC."


Về những người theo đạo Kitô:
"Phải nói rằng tuyệt đại đa số họ là những người tử tế, biết thương người, biết trọng chữ tín, thật thà , không biết dối trá."
Ông Trần Hữu Ngoạn, giám đốc trại phong Qui Hòa "như một ông thánh vậy, tốt bụng đến lạ lùng. Ông chính là hiện thân của một người tử tế. Nhờ ông, chúng tôi mới được vào trại phong Qui Hòa để quay phim, được chứng kiến đời sống thật của các nữ tu. Trong phòng của các bà sơ không có bất cứ cái gì ngoài cái giường, bề rộng 80cm bề dài 1m8, và một bộ quần áo tu treo trên cái đinh"

Chuyện thật 100% xảy ra tại Đông Đức:
"Tối 30-11-1988 tại rạp Capitol diễn ra lễ trao giải và bế mạc Liên hoan phim. Khi Ban tổ chức xướng tên phim "ChuyệnTử Tế" đoạt giải Bồ Câu Bạc thì khán phòng gần ngàn chỗ vỡ òa. Người ta mời đoàn Việt Nam lên nhận giải.
Dũng bảo anh Cao Nghị:
- Anh lên nhận giải đi kìa!
Ông Cao Nghị giãy nảy:
-Thằng đạo diễn thì nó biến rồi. Anh không lên đâu, anh nhận giải để về nhà chết à?
...Ông Cao Nghị về nhà khốn khổ, làm tường trình, làm kiểm điểm với Bộ Văn hóa, với Công an, người ta quần cho lên bờ xuống ruộng.
...Ông Nghị khổ, tôi cũng nhiều phen trầy da tróc vẩy và biết bao nhiêu người nữa long đong lận đận vì những chuyện không đâu. Họ có đáng bị như thế không? Cái đất nước khốn khổ này được gì sau hàng loạt những hành xử kiểu như thế?"

"Trần Văn Thủy cũng là một con người, có những "hỷ nộ ái ố" như mọi người. Hắn lại là một nghệ sĩ; đã là nghệ sĩ thì cho dù ở bất cứ lĩnh vực nào cũng đều nhạy cảm, dễ rung động. Hắn kể lại chuyện đã qua như để nói chuyện với chính mình sau một chặng dài trên đường đời, mà như hắn nói, có quá nhiều những sự tình cờ, hên xui, may rủi. Nhưng tóm lại, vui thì ít; buồn thì nhiều."
(Lê Thanh Dũng: Lời cuối cho cuốn sách)