Showing posts with label kedvencek. Show all posts
Showing posts with label kedvencek. Show all posts

Thursday, January 16, 2025

Phần lỗi nằm ở đâu?

 “… CẦN PHẢI TỐNG CỔ LŨ ĂN HẠI…”

Tản bước trên phố phường Hung Gia Lợi, không loại trừ là một lúc nào đó, chúng ta sẽ “chạm trán” với tấm bảng sau, với những hàng chữ dày đặc của thứ ngôn ngữ được coi là “khó nhất thế giới” và “chỉ 10 triệu dân trong nước và 5 triệu kiều dân ở nước ngoài” có thể nói và hiểu: tiếng Hung. Đã có thời, nó được coi là đặc điểm để nhận ra những “người Hỏa tinh” có trí tuệ siêu việt như Neumann János, Szilárd Leó hay Teller Ede.

Đoạn văn trên bảng nó thế này: “Minden nemzetnek olyan kormánya van, aminőt érdemel. Ha valami oknál fogva ostoba vagy komisz emberek ülnek egy bölcs és becsületes nép nyakára, akkor a nép azokat a silány fickókat minél hamarabb a pokol fenekére küldi. De ha egy hitvány kormány huzamosan megmarad a helyén, akkor bizonyos, hogy a nemzetben van a hiba. Akkor az a nemzet aljas vagy műveletlen”.

Tạm dịch thô: “Mỗi dân tộc đều có một chính phủ tương xứng với nó. Nếu vì một lý do gì đó, những kẻ xuẩn ngốc hay bẩn thỉu ngồi lên đầu một dân tộc sáng suốt và trung thực, thì dân tộc ấy cần phải tống cổ lũ ăn hại ấy xuống đáy địa ngục càng nhanh càng tốt. Nhưng nếu một chính phủ tệ hại có thể tồn tại dài lâu ở vị trí của mình, thì chắc chắn là phần lỗi nằm ở dân tộc ấy. Khi đó, dân tộc ấy hoặc chết tiệt, hoặc vô học thức”.

Bá tước Széchenyi István, “người Hung vĩ đại nhất” - Họa phẩm của Schöfft József và Schöfft Ágoston (1836)

Trích đoạn nổi tiếng này được cho là của bá tước Széchenyi István (1791-1860), một vĩ nhân thời Cải cách (đầu thế kỷ 19) của Hungary, người sáng lập nước Hung hiện đại, thuộc hàng những chính khách xuất chúng và quan trọng nhất trong lịch sử Hungary, được đối thủ chính trị lớn nhất là Kossuth Lajos (1802-1894) - cũng là một “người khổng lồ” khác của nước Hung - xưng tụng là “người Hung vĩ đại nhất” (a legnagyobb magyar).

Thật ra, ý đầu của câu nói này quen quen nhỉ? “Dân nào chính phủ đó”, đã có những bài viết gọi đây là “ngạn ngữ Phương Tây”. Có người đặt nó vào miệng Bertolt Brecht (1898-1956), người đã đề xuất một “giải pháp” khá đặc biệt cho chính quyền Đông Đức sau khi cuộc nổi dậy của người dân nước này nổ ra ngày 17/6/1953: “Sao chính phủ không cách chức nhân dân - Và bầu một nhân dân khác - Có phải tiện hơn không?”.

Coi người dân phải chịu (một phần trách nhiệm) về sự hay - hoặc thường là dở - của chính quyền còn được cho là quan điểm của Tổng thống thứ 16 Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ Abraham Lincoln (1809-1865), người cha của ý tưởng “một chính phủ của dân, do dân, vì dân” (goverment of the people, by the people, for the people) trong bản diễn văn Gettysburg nổi tiếng trong lễ khánh thành Nghĩa trang Quốc gia Mỹ tháng 11/1863.

Tuy nhiên, sau những tra cứu văn bản kỹ càng, một chuyên gia nghiên cứu “tin vịt” của Hungary đã xác nhận rằng, chủ nhân đầu tiên của ý tưởng trên là triết gia, nhà văn, luật sư và nhà ngoại giao nói tiếng Pháp Joseph de Maistre (1753-1821). “Toute nation a le gouvernement qu’elle mérite” (Mỗi đất nước đều có chính phủ mà nó xứng đáng được hưởng) đã được ông đưa ra ít nhất 3 lần trong trao đổi thư từ thời gian 1810-1816.

Có điều, các ý sau của đoạn văn trên, thì không thấy một cách liên tục trong bất cứ phát biểu hay tác phẩm nào của giới chính khách hoặc các danh nhân, văn sĩ… Nhưng nó cũng không phải của bá tước Széchenyi István vì tra hoài trong “toàn tập” những trước tác của ông đều không thấy. Vậy thì, câu trích bất hủ mà “ngàn đời” này được coi là của một chính khách Hung vĩ đại, và giới đối lập rất khoái trích dẫn, là từ đâu mà ra?

Câu trả lời, một lần nữa lại đến từ nhà nghiên cứu kỳ tài nói trên, khi ông phát hiện ra đoạn văn ấy ở trang 268, quyển 2 của một bộ sách 3 phần viết về cuộc đời Széchenyi István của nhà văn, nhà báo Surányi Miklós (1882-1936), được in năm 1936. Mang tiêu đề “Chúng ta cô độc”, sách chứa đựng rất nhiều nghiên cứu về cuộc đời “Người Hung vĩ đại nhất”, nhưng dầu sao nó vẫn là một tác phẩm văn học, chứ không phải “chính sử”.

Ngữ cảnh của trích đoạn đó, là cuộc trò chuyện giữa Széchenyi István và Tasner Antal, thư ký của ông. Nhà quý tộc cho hay, ông thù ghét cái suy nghĩ cứ thấy có vấn đề ở đâu là liền quy trách nhiệm cho chính phủ. “Hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu”, ông trích một câu ngạn ngữ cổ mà nhiều người cho là có nguồn gốc “Kinh Thánh” (nhưng có lẽ không đúng), rồi sau đó tới đoạn văn dài trên. Bí ẩn được làm sáng tỏ, rất khoa học!

Trở lại câu chuyện, tại sao chúng ta cứ muốn gán những câu nói hay ho cho các vĩ nhân, như hiện tượng rất hay gặp trên mạng hiện tại? Có lẽ một phần là vì, như thế, chúng ta tin tưởng hơn vào sự đúng đắn, sáng suốt của nó, và quyết tâm hơn chăng trong việc thực hiện những lời khuyên (nếu có) trong đó? Thật ra, quan trọng gì lời nói của ai, miễn là nó chuẩn xác, và mang tới cho người đọc góc nhìn nếu không mới thì cũng đáng suy ngẫm.

Và câu nói được cho là của bá tước Széchenyi István, chắc chắn thuộc hàng những điều khiến chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ, dù nó không quá đặc biệt, cũng không phải phát kiến gì ghê gớm. Và vì thế, tuy biết rõ nguồn gốc của nó, cứ mỗi lần qua những nơi còn vương dấu ấn vĩ đại của Széchenyi István – như Cầu Xích hay Viện Hàn lâm Khoa học Hungary, mình vẫn cứ nhớ tới những dòng này, như tâm tình của một nhà ái quốc lớn.

Hãy đọc lại nhé: “Mỗi dân tộc đều có một chính phủ tương xứng với nó. Nếu vì một lý do gì đó, những kẻ xuẩn ngốc hay bẩn thỉu ngồi lên đầu một dân tộc sáng suốt và trung thực, thì dân tộc ấy cần phải tống cổ lũ ăn hại ấy xuống đáy địa ngục càng nhanh càng tốt. Nhưng nếu một chính phủ tệ hại có thể tồn tại dài lâu ở vị trí của mình, thì chắc chắn là phần lỗi nằm ở dân tộc ấy. Khi đó, dân tộc ấy hoặc chết tiệt, hoặc vô học thức”.

Széchenyi István năm 1848, khi cuộc cách mạng giành tự do của người Hung bùng nổ - Họa phẩm của danh họa Barabás Miklós

Nguyễn Hoàng Linh

Tuesday, October 11, 2022

Tắt Đèn (ko phải dòng văn học hiện thực phê phán ngày xưa)

 CHỊ DẬU THOÁI VỐN

Nghe tiếng chó sủa, Nghị Quế đang ngồi đếm USD vội nhìn ra thấy chị Dậu tay bưng rổ chó con, tay đẩy cổng bước vào. Nghị quát:

- Mày đến đây làm gì hả con mụ Dậu kia?

Chị Dậu đặt rổ chó con xuống nền nhà, khép nép thưa:

- Dạ bẩm ông! Nhà con hết gạo, nên con đem mấy con chó nhỏ này đến đây xin thoái vốn ạ!

- Thoái vốn là sao?

- Dạ, nghĩa là ông đưa tiền cho con rồi lấy mấy con chó này ạ.

- Đệch! Mầy bán chó thì nói mẹ bán chó đi, bày đặt thoái vốn với thoái hóa!

- Ậy, ậy!! Dạ đúng là thoái hóa thiệt đấy ạ! Đây là con chỉ học theo cách nói của các quan mà thôi.

- Mày láo! Quan các ông làm gì có chuyện bán chó?

- Dạ không phải bán chó mà bán cảng Quy Nhơn, bán tập đoàn sữa Vinamilk, bán công ty bia Sài Gòn... Họ bán tất tần tật, nhưng họ không nói bán mà chỉ nói thoái vốn thôi ạ.

- À, bởi vì vốn đó của nhà nước được trích ra từ tiền thuế của dân. Thực chất, tất cả các tài sản đó là của nhân dân. Mà của dân thì không thể dùng từ «bán» cho nên phải nói thoái vốn cho nó trí tuệ, mày hiểu chưa?

- Dạ, vậy, các xe công cũng được mua từ tiền thuế của dân, sao khi bán các quan không nói thoái vốn mà nói thanh lý ạ?

- Con mụ Dậu kia! Mày đến đây bán chó hay đến để chất vấn ông hả?

- Dạ con nghĩ, sự việc nó thế nào thì cứ nói toạc ra thế đó cho dễ hiểu ạ. Dùng những mỹ từ tốt đẹp, văn hoa cũng không thể che đậy được bản chất của nó. Tài sản, tài nguyên của dân các ông cứ tranh nhau bán ăn hết. Sau này không còn gì để bán nữa, chắc các quan trấn lột luôn cái quần của dân đang mặc để bán ăn chớ gì...

- Á, á! Cái con đĩ Dậu kia! Mày dám nói các quan chúng ông ăn luôn cái quần của mày hử? Đội cờ đỏ đâu? Lôi cổ nó ra...

Fb Ngô Trường An

Thursday, October 6, 2022

Người dịch truyện chưởng (Kim Dung)

 Tieu su : HÀN GIANG NHẠN (dịch giả truyện kiếm hiệp Kim Dung)

Bất cứ ai từng đọc truyện kiếm hiệp của các tác giả Hồng Kông – Trung Hoa trước 1975 như Kim Dung,  thì phải cảm ơn các dịch giả Hàn Giang Nhạn của thời Sài Gòn cũ . Ngày nào không có truyện là biết ngay báo Hồng Kông giao trễ ...

Hàn Giang Nhạn đã bằng công sức của mình đưa những tác phẩm khó quên này đến với nhiều thế hệ bạn đọc miền Nam …

Tương tự, nếu với Tiểu thuyết võ hiệp của Ngọa Long Sinh, Cổ Long hay Từ Khánh Vân thì phải nhớ tới Phan Cảnh Trung, Từ Khánh Phụng .

… Ngày tôi còn bé, có nhiều khi đón hai chị em một người bạn cùng trường đạp xe từ nhà họ ở đường Bà Hạt sang nhà tôi tại khu Phan Đình Phùng chơi.

Thế nào trong những lần đó, tôi cũng dẫn họ đi ăn chè miền Nam hay mì Tàu trong một con hẻm lớn đâm vào hông chợ. Trên đường ba đứa chúng tôi đi ngang qua dãy nhà đó nằm ở đường Vườn Chuối, bao giờ họ cũng hỏi:

– “K có biết cái nhà có căn gác gỗ kia là của ai không?”.

– “Của ông giáo Trang đấy!”.

– “Ông giáo Trang là ai?”.

– “Ông ấy là Hàn Giang Nhạn”.

… Nếu tôi nhớ không nhầm, bởi vì lúc ấy mình mới 15 tuổi, bé thì ký ức có thể không chính xác, năm 1967 thì bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ đã đến với bạn đọc miền Nam rồi. Tôi có thể hồi tưởng việc đó đôi chút vì ngày ngày, mẹ tôi mua tờ Tiền Tuyến, thì cũng ngày ngày đã thấy phơi-ơ-tông ấy, qua bản dịch của ông Hàn Giang Nhạn.

Đó là một Kim Dung của phơi-ơ-tông, một Kim Dung phải cày cuốc mỗi ngày khoảng 1.500 chữ để đăng từng đoạn truyện trên Minh Báo ở Hương Cảng, một Kim Dung có tác phẩm được leo máy bay đi từ Hương Cảng qua Việt Nam mỗi ngày.

Truyện đó được dịch ra Việt ngữ và đăng cùng lúc trên nhiều tờ nhật báo Sài Gòn, trong đó có tờ Tiền Tuyến.

Có báo đăng trước, có báo đăng sau, nhưng dường như Tiếu Ngạo Giang Hồ là đã chào đời từ gốc trước đó mấy năm, tới khi Tiền Tuyến đăng lại đã qua “mấy nước” rồi, mà vẫn còn ăn khách tới vậy. Có khi chỉ một loạt phơi-ơ-tông đó, đã cứu cho cả một tờ báo tránh khỏi cảnh thoi thóp chỉ vì toàn đăng những tin chiến sự buồn nản.

Sau này tôi biết tới luật sư Nguyễn Văn Tầm, ngày ấy ông còn theo Đại học Luật khoa và chính ông là người thư ký đã giúp ông Hàn Giang Nhạn dịch những tác phẩm Kim Dung.

Trong căn gác nhỏ như đã nói trên đường Vườn Chuối, ông Hàn Giang Nhạn đọc tờ báo gốc đến đâu, là dịch ra đến đấy.

Chàng sinh viên tên Tầm ngồi chờ sẵn, lót 10 tờ pơ-luya và 9 tờ giấy than, viết lời dịch miệng của Hàn tiên sinh bằng một cây bút Bic. Lúc đó dưới căn gác, cả chục người tùy phái của cả chục tờ báo đang ngồi kiên nhẫn đợi và mỗi người sẽ được phát cho một bản viết tay ấy từ chính ông Tầm. Ai may mắn lấy được những bản phía trên thì còn đọc ra chữ, ai vớ những bản phía dưới, càng sau cùng can ra nhạt thếch, thì càng chỉ còn cách xem chữ đoán ý. Sau đó là những cuộc đua thực sự, ai nấy thi nhau gò lưng đạp xe về tòa soạn mình, và thư ký tòa soạn cũng phải đọc và sửa cho thật nhanh, để còn kịp ném bài xuống nhà in, xếp chữ chì. Không ai muốn mình chậm chân cả, vì khi báo ra mà sót một kỳ đứt quãng, thì lỗ thủng nội dung ấy không thể vá nổi dễ dàng trong ngày và chỉ cần sót 2 ngày, người ta sẽ bỏ báo mình, mua báo khác.

Tin tức nơi các lĩnh vực khác dù có hấp dẫn đến đâu, như chuyện “con ma vú dài”, “con gái bà Huệ là con ruột tổng thống Bokassa”, “vũ nữ Cẩm Nhung” thì dù có kéo dây tới đâu, cũng phải có hồi kết. Còn với mỗi truyện Kim Dung, nó có thể nuôi mỗi tờ báo tới cả năm.

So với những người khác cùng giữ một dạng việc là dịch truyện kiếm hiệp như mình, Hàn Giang Nhạn chắc chắn đã nổi tiếng nhất ở Sài Gòn và cả miền Nam từ trên dưới 60 năm trước.

Ông tên thật Bùi Xuân Trang, sinh 08/05/1909, tuổi Kỷ Dậu, tại Thái Bình. Năm lên 9, ông bắt đầu theo học Hán ngữ với một ông chú họ, rồi học Quốc ngữ với chính bố mình, học cả tiếng Pháp với chú ruột. Tuy gầy yếu nhưng nói về cái sự học, ông đã không được gia đình nương tay chút nào.

Năm 21 tuổi (1930), ông đã đi dạy học tại Phú Thọ, một năm sau thì được chuyển về trường Đồng Trực, Quỳnh Côi, Thái Bình.

Năm 27 tuổi, ông học được thêm tiếng Thái ở miền Bắc.

Rồi chiến tranh, ông về vùng Trung du, dạy học tiếp ở Phương Lung, Kiến Thụy, Kiến An, sau đó lại quay về quê nhà. Người Pháp trở lại, 39 tuổi ông về Hải Phòng, làm việc ở Sở Công chánh. 1954, ông dẫn gia đình vào Sài Gòn, vẫn làm việc bên ngành Công chánh.

Ba năm sau, ông về dạy học tại trường Trần Lục, Tân Định.

Từ đây đến cuối đời, bằng vốn liếng Hoa ngữ của mình, ông bắt đầu kiếm thêm bằng dịch sách. Ông nhận dịch cho Nha Tu thư, Sở Học liệu của Bộ Giáo dục Việt Nam.

Bộ sách đầu tiên mà ông dịch là Thiên Long Bát Bộ, sau đó là Lãnh Nguyệt Bảo Đao (Phi Hồ Ngoại Truyện), Hiệp Khách Hành, Liên Thành Quyết, Tố Tâm Kiếm (Thư Kiếm Ân Cừu Lục), Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký – Tất cả đều là tác phẩm Kim Dung và không theo thứ tự mà nhà văn đã sáng tác bên chính quốc. Ngoài ra, ông còn dịch sách của các nhà văn khác – Cũng đều là võ hiệp – như Ngọa Long Sinh, Lương Vũ Sinh, Cổ Long và chính ông cũng sáng tác một số tiểu thuyết võ hiệp.

Lật lại, Hàn Giang Nhạn là người chí thú học hành nhưng gặp nhiều ‘sự cố’ trong đường đời. Năm ông 17 tuổi, bà cụ thân sinh qua đời, ông đành phải bỏ học, kiếm nơi dạy kèm từ tuổi rất sớm như thế làm sinh kế mà vẫn tiếp tục theo học hàm thụ chương trình Trung học.

19 tuổi, ông trúng tuyển kỳ thi vào ngành Sư phạm, cả tỉnh chỉ lấy có 40 giáo sinh, học tại Nam Định.

Ra trường, ông tới Phú Thọ đứng lớp và chính những năm tháng gõ đầu trẻ khắp nơi như thế, đã giúp ông ngẫm ra rằng, nghề giáo tuy cao quý thật nhưng khi người ta đã có gia đình, thì lương bổng sẽ không đủ. Đó là lý do ông đi làm cho Sở Công Chánh ở Hải Phòng, thu nhập có cao hơn nhưng thời cuộc lại đẩy đưa ông vào Nam, vẫn nghề ấy mà lại vẫn phải quay về nghề giáo.

Phải đến gần 50 tuổi (1957), ông giáo Trang mới có đất thực sự dụng võ với vốn liếng Hoa ngữ học từ ông chú họ của mình từ hơn 40 năm trước.

Mảnh đất truyện kiếm hiệp Kim Dung, với Kiều Phong, Đoàn Dự, Mộ Dung Phục, Vương Ngọc Yến; với Yến Tử Ổ, Đại Yên, Đại Lý, Đại Liêu vây quanh Đại Tống, với chùa Thiên Long và với Nhạn Môn Quan bi hùng trong tác phẩm đầu tay mà ông đã dịch, chính là nơi giúp ông đã tìm được chỗ dừng chân cho đến hết đời.

Như lời từ bạn viết Vũ Hợi của tôi, tức “nhà Kim Dung học” Vũ Đức Sao Biển giải thích, ngay từ đầu ông giáo Trang đã lấy bút danh là Hàn Giang Nhạn chỉ vì trong lá số Tử vi của chính ông có cách “Nhạn quá Hàn giang”, hàm ý chim Nhạn bay qua sông Hàn từ phương Bắc rét mướt về phương Nam ấm áp, như chính đời ông đã vào Nam.

Nhưng theo tôi biết, câu trả lời lại chỉ đúng một phần. Phần còn lại là vì ngay từ truyện đầu mà ông đã dịch, có hình ảnh tuyệt đẹp của Nhạn Môn Quan cứ bàng bạc ám ảnh suốt chiều dài tác phẩm. Đó là cảnh Kiều Phong đáo đi đáo lại nơi ấy nhiều lần để tự vấn trong khổ đau về gốc gác thực của mình, mình là người Đại Hán hay người Khiết Đan.

Hình ảnh bao đàn chim Nhạn bay qua cái cửa núi ấy, mà cũng là mốc đánh dấu biên giới giữa 2 miền đất nghịch nhau như nước với lửa, khi tráng sĩ phát hiện đau đớn rằng mình là người Liêu, hẳn đã in sâu vào sự chọn lựa của ông. Thật ra, tôi biết thế là do khôn vặt chứ chẳng hơn gì người ta bao nhiêu cả, vì lúc đó mình mới 15 thì biết gì về Đại Hán với Đại Liêu; chẳng qua nghe lỏm chuyện người lớn thôi: Mấy lần ông giáo Trang sang nhà tôi uống trà với ông già tôi.

Sinh thời, ông giáo Trang có 3 bút danh. Bút danh Thứ Lang ký cho các tác phẩm dịch văn chương, khảo cứu, học thuật, lịch sử.

Bút danh Vô Danh Khách để ký cho các bài dịch truyện hài hước hoặc các bài ngắn.

Riêng bút danh Hàn Giang Nhạn để chuyên dịch những tác phẩm võ hiệp Kim Dung và các tác giả khác. Nổi danh nhất chính là bút danh Hàn Giang Nhạn, ra đời năm 1963, khi tác phẩm Kim Dung ngày ngày bắt đầu đổ vào Sài Gòn thông qua tờ Minh Báo Hương Cảng.

Bản dịch truyện Kim Dung của ông được đánh giá là tự nhiên, phóng khoáng, tuy là văn phong võ hiệp mà lại thơ mộng. Một số đoạn văn vần trong truyện gốc khi được dịch sang tiếng Việt đã rất nhã, ví như đoạn mở đầu của Tiếu Ngạo Giang Hồ:

Gió Xuân đầm ấm, ngàn liễu xanh tươi,

Hoa phô sắc thắm, hương nức lòng người

hay bài thi Khiển Hoài của Đỗ Mục, trong Lộc Đỉnh Ký:

Lưu lạc Giang Nam đã bấy lâu

Cùng người nhỏ bé ở bên nhau

Mười năm chợt tỉnh Dương Châu mộng

Mang tiếng trăng hoa nghĩ lại sầu

Để ý, niêm luật và quy thức bằng trắc trong đoạn tứ tuyệt này là không thể bắt bẻ vào đâu được.

Từ Hàn Giang Nhạn, trừ những tuyệt phẩm khác như Anh Hùng Xạ Điêu hay Thần Điêu Đại Hiệp và Cô Gái Đồ Long không do ông chuyển ngữ, những chi tiết hay đẹp trong tác phẩm Kim Dung đã đến với biết bao thế hệ bạn đọc thuộc nhiều tầng lớp xã hội ở Sài Gòn.

Trên bình diện này, bất cứ ai cũng có thể tranh luận như nhau về truyện kiếm hiệp mà người ta đã đọc thấy trên mặt chữ, nếu không phải đào sâu kiến thức sâu xa hơn giữa từng dòng, và nếu không đứng trên nền tảng Triết học Đông phương để mở mang kiến thức giúp nhau. Người ta chỉ cần thấy Đoàn Dự và Du Thản Chi là những kẻ si tình bậc nhất thiên hạ là đủ rồi.

Xa hơn chút nữa, người ta chỉ cần suýt soa khi biết ông bố hờ của Đoàn Dự là Đoàn Chính Thuần ngày xưa từng “ăn mặn” trong ái tình ra sao, để bây giờ con trai ông ấy (Mà thật ra là con của Đoàn Diên Khánh) phải quá “khát nước” để trở thành một kẻ thất tình vĩ đại cho đến phút chót, chỉ khi Mộ Dung Phục hóa điên.

Người Sài Gòn ngày ấy chỉ biết ngỡ ngàng khi nghiệm ra, một bậc cao tăng đức cao vọng trọng như Huyền Từ, phương trượng chùa Thiếu Lâm đã có một “ngày xưa vụng dại” với người đứng thứ hai trong Tứ Ác là Diệp Nhị Nương, để nặn ra một đứa trẻ mồ côi xấu trai như Hư Trúc, xuất gia từ bé mà về sau, qua nhiều lần không thể giữ được giới luật do Trời định, sẽ trở thành phò mã và giáo chủ.

Hàn Giang Nhạn không thể tự mình định ra chữ “duyên” khi vai của ông chỉ là dịch giả, nhưng ông đã giúp đưa chữ “duyên” ấy, từ Kim Dung, hoàn hảo đến với bao người.

Ông mất ở tuổi 72 và 6 năm cuối cùng của đời mình, ông đành gác bút mãi mãi.

Nguồn : Anka Pham trong FB Tâm Nguyen

Monday, October 3, 2022

Đồ mất dạy

Thời tôi còn cắp sách đi học ở HN (Tiểu học) thì "cái đồ mất dạy" để chửi những đứa vô học/vô lại & tào lao.

Nay thì cái nền giáo dục thời chxhcn VN càng cải cách, càng sinh ra lắm kẻ mất dạy trong xh.

Đúng là: CON NGƯỜI LÀ SẢN PHẨM CỦA CHẾ ĐỘ/XH! Ko sai.

Thế là thế nào???

------------

GIÁO DỤC 

Montesquieu , triết gia Khai sáng của Pháp, nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa giáo dục với nền chính trị của một đất nước :

 “Trật tự chính trị tạo ra nền giáo dục phục vụ cho mục tiêu của nó. Ở các nhà nước quân chủ giáo dục tạo ra danh dự; ở các nhà nước cộng hòa giáo dục tạo ra giá trị; ở các nhà nước chuyên chế giáo dục tạo ra nỗi e sợ”.

Trong các xã hội chuyên chế, giáo dục không cần tạo ra kiến thức hay kỹ năng, vì đó là nhưng thứ không mang lại lòng trung thành. Chỉ có nỗi sợ mới mang lại lòng trung thành.

Ngô Mạnh Hùng

Saturday, October 1, 2022

Một nửa VN

 ĐÊM TRƯỚC ĐỔI MỚI - SAU CUỘC ĐỐI THOẠI KHIẾN ÔNG ĐỖ MƯỜI TỨC GIẬN. 

Khi rời Việt Nam năm 1968, TS Vũ Quang Việt đã nghĩ, đất nước này không dành cho những người như ông. Nhưng nhiều năm sau này, trong những năm tháng khó khăn nhất trước và sau Đổi Mới, ông đều đặn trở về Việt Nam mỗi năm 2 lần, tự bỏ tiền vé máy bay, gặp gỡ những nhà lãnh đạo hàng đầu Việt Nam để trao đổi về việc thay đổi tư duy điều hành, phát triển kinh tế.

☆ 

Vũ Quang Việt là người đã giúp Việt Nam xây dựng Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) năm 1988 - một hệ thống có thể đánh giá tổng thể nền kinh tế theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, công cụ không thể thiếu cho Việt Nam khi bắt đầu xây dựng nền kinh tế thị trường. 

(1) Cuộc gặp với nhà ngoại giáo "không có bộ vest của riêng mình" Nguyễn Cơ Thạch ở New York.

"Nếu không có ông Nguyễn Cơ Thạch, có lẽ phải rất lâu, hoặc không bao giờ tôi có lý do để quay lại Việt Nam" - TS Vũ Quang Việt đã nói trong những buổi trò chuyện với tôi từ bên kia bán cầu. 

Ông Vũ Quang Việt gặp Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lần đầu tiên vào tháng 9/1977 - tại Liên Hợp Quốc (LHQ), khi ông Nguyễn Cơ Thạch đang là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Việt Nam đi dự Khóa họp Đại hội đồng LHQ. Những ngày ở New York, nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã tổ chức một cuộc gặp với các trí thức Việt kiều, nói những điều mà Vũ Quang Việt vẫn còn nhớ mãi. 

"Ông ấy nói với chúng tôi về sự khó khăn mà Việt Nam đang phải trải qua, hy vọng chúng tôi có thể dành nhiều tâm tư, tình cảm và cả trí tuệ hơn để tìm hiểu về đất nước và giúp đất nước mình vượt qua khó khăn ấy, dù cho chúng tôi bây giờ đã mang Quốc tịch khác". 

Sự khó khăn của Việt Nam những năm tháng ấy có thể nhìn thấy qua hình ảnh mà ông Nguyễn Cơ Thạch mang đến New York trong mỗi khóa họp Đại hội đồng suốt nhiều năm: Dù là Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam, ông không có một bộ vest riêng của mình. Trước mỗi chuyến đi đến LHQ, ông Nguyễn Cơ Thạch sẽ đăng ký để mượn một, hai bộ vest từ kho trang phục chung của các thành viên Chính phủ. Điều đặc biệt là ông không hề giấu diếm về việc đó cũng như những gian nan mà Việt Nam đang phải đối diện, như chính ông từng nói trong một bữa tiệc chiêu đãi tại New York: "Bộ vest mà tôi đang mặc thực ra không phải của chính tôi mà là tài sản chung của Chính phủ tôi. Tôi sẽ đến kho của Chính phủ mượn bộ vest này khi tôi cần phải đến nước Mỹ và trả lại nó khi tôi về nước". 

Nhà Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đến New York, khoác lên mình bộ vest không thuộc về riêng ông và thuyết phục những người Việt xa quê như Vũ Quang Việt cùng đồng lòng tháo gỡ những khó khăn của đất nước trong hoàn cảnh bao vây và cấm vận. 

"Ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên ấy, ông Thạch nhờ tôi tìm mua một số sách về kinh tế và chính trị của nước Mỹ. Sau này, tôi trở thành người giúp ông tìm kiếm những cuốn sách hay mỗi khi ông có dịp đến New York họp ở Đại Hội đồng. Những lúc khác, tôi sẽ tìm cách gửi sách về Việt Nam cho ông ấy qua con đường ngoại giao. Sau này, tôi kết nối ông Thạch với những nhà khoa học và trí thức Mỹ, trong đó có giáo sư đạt Giải Nobel Kinh tế học Wassily Leontief - người ủng hộ việc xây dựng nền Kinh tế Thị trường XHCN có kế hoạch, và khẳng định một nền kinh tế thị trường được điều tiết bởi các quy luật thị trường là điều cần thiết với các nước XHCN" - TS Vũ Quang Việt hồi tưởng. 

Nhân duyên của TS Vũ Quang Việt và ông Nguyễn Cơ Thạch bắt đầu từ cuộc gặp ấy đã trở thành động lực thúc đẩy cho những chuyến trở về Việt Nam sau này và là lý do cho những việc ông đã làm - theo cách mà ông có thể, để đóng góp cho đất nước, như lời ông nói. Dù thế nào thì sau đó, ông Vũ Quang Việt đã không ngừng tìm hiểu các vấn đề về mô hình kinh tế của các nước XHCN (đặc biệt là Việt Nam), đồng thời hệ thống lại những bài học kinh nghiệm quý báu của nền kinh tế thị trường Tư Bản Chủ nghĩa (TBCN), để có thể trả lời các câu hỏi của ông Nguyễn Cơ Thạch. 

(2). Ba cuộc gặp với thủ tướng và cuộc đối thoại khiến ông Đỗ Mười đập bàn tức giận. 

Nhưng phải đến năm 1982, khi có cơ hội về nước lần đầu tiên theo lời mời của ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc này đã là Bộ trưởng Ngoại giao), hiện thực của đất nước ngay trước mắt mới tác động mạnh mẽ đến Vũ Quang Việt: "Một tháng ở Việt Nam, tôi đã đến các vùng từ thành thị đến nông thôn. Tôi hỏi han người dân và ghi chú rất tỉ mỉ về điều kiện làm ăn và sinh sống. Thú thật, những chuyến đi này đã cho tôi một cái nhìn ảm đạm về tình hình đất nước. Tôi nghĩ ngay đến một nền kinh tế bị chia cắt thành những nền kinh tế nhỏ, đi ngược lại lý thuyết phát triển. Tôi cũng đọc báo Nhân Dân mà tôi mượn được ở Phái đoàn Việt Nam tại LHQ, và đọc các báo cáo về kinh tế Việt Nam của Chính Phủ mà ông Nguyễn Cơ Thạch chia sẻ; tôi ghi chú tỉ mỉ và bắt đầu tự xây dựng thống kê Việt Nam, tính GDP trên đầu người theo đồng đôla Mỹ nhằm phân tích, so sánh tình hình kinh tế. Dựa trên các nguyên tắc toán học của kinh tế, tôi kết luận: nghèo đói, không ai muốn sản xuất, tài chính quốc gia kiệt quệ, lạm phát cao là kết quả đương nhiên của chính sách kế hoạch hóa phi thị trường và các biện pháp ngăn sông cấm chợ. Tôi cũng viết một bài rất dài để chia sẻ những quan điểm này của mình đăng trên một ấn phẩm báo chí ở Canada". 

Nhưng sự thẳng thắn ấy đã khiến Vũ Quang Việt gặp không ít rắc rối. Cho đến năm 1984, nhờ Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch can thiệp, Vũ Quang Việt mới tiếp tục được cấp visa để trở về Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu về các chính sách kinh tế Việt với sự hỗ trợ của ông Nguyễn Cơ Thạch. 

Nhờ sự kết nối của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch mà ông Vũ Quang Việt đã có những cuộc gặp quan trọng với các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ như ông Đỗ Mười, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Văn Kiệt, ông Võ Nguyên Giáp - một cơ hội không dễ có với hầu hết các trí thức Việt kiều thời bấy giờ. 

Ông kể: "Tôi có 3 cuộc gặp với ông Đỗ Mười khi ông ấy là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ), còn tôi làm việc ở Vụ Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê thuộc LHQ. Mỗi năm vài lần, LHQ cử tôi sang Châu Á, giúp đỡ các nước như Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Indonesia, Bhutan… xây dựng Hệ thống Tài khoản Quốc gia. 

Ông Đỗ Mười làm Thủ tướng đúng giai đoạn Việt Nam phải đối mặt với siêu lạm phát có lúc lên đến gần 500%/năm. Nên những cuộc thảo luận của chúng tôi hầu như xoay quanh vấn đề chống lạm phát và cải cách kinh tế. Có lần ông ấy gọi tôi tới nhà riêng để thảo luận, tôi đã trao cho ông Đỗ Mười một bản trình bày dài 80 trang đánh máy mà tôi đã mất rất nhiều thời gian nghiên cứu trên cơ sở hiểu biết của tôi về kinh tế Việt Nam. Tôi đề nghị ông Đỗ Mười chấm dứt in tiền để tiêu, tăng lãi suất nhằm thu hút tiền của dân vào ngân hàng, tăng thuế (nhất là thuế xuất nhập khẩu, lúc đó vốn gần như không có). Khi ấy, dựa trên số liệu có sẵn và tự tính lại GDP, tôi tính số tiền thuế mà Việt Nam thu được chỉ khoảng 9% GDP. Tôi cũng đề nghị cải cách để phát triển sản xuất, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, cho phép tự do buôn bán, tự do giá cả và cần phải để các doanh nghiệp Nhà nước độc lập, tự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường". 

Trong ký ức của TS Vũ Quang Việt, vị Thủ tướng Việt Nam rất quan tâm đến những gì ông viết: "Ông ấy để những tập tài liệu tôi viết trên bàn, dùng bút gạch chân những điều quan trọng, rồi ghi riêng ra một cuốn sổ, sau đó đối thoại rất kỹ với tôi". 

Có lần, khi đọc một ý kiến quá thẳng thắn của Vũ Quang Việt, Thủ tướng Đỗ Mười đập bàn bảo: 

- Cách anh nói và viết làm người khác thấy hoang mang về đất nước. 

Vũ Quang Việt bình tĩnh đáp: 

- Tôi được mời tới để nói, còn nghe không thì đó là quyền của Thủ tướng. 

Sau đó họ lại cười, tiếp tục thảo luận. 

TS Vũ Quang Việt kể: "Tôi nhớ sau khi đọc bản kiến nghị dài 80 trang của tôi, ông Đỗ Mười có nói, ông ấy sẽ chỉ chấp nhận một nửa ý kiến của tôi về tăng lãi suất tiết kiệm, chứ không thể đồng ý với phương án tăng lãi suất cho vay. Vì nếu làm thế, doanh nghiệp và các địa phương sẽ đến cửa đập nhà ông ấy. Tôi nghe ông Mười giải thích thì đồng ý, vì thấy nó hợp lý với hoàn cảnh kinh tế Việt Nam, điều mà có lẽ ông ấy hiểu hơn tôi rất nhiều. Không thể không nói, thành công chống lạm phát của Việt Nam những năm đó có công lao rất lớn của ông Đỗ Mười. 

Một lần khác, tôi đến nhà riêng gặp ông Mười, đề nghị xem xét lại dự thảo giao quyền quyết định mức cung tiền tệ cho Quốc hội. Quốc hội vốn chỉ họp một năm hai lần, trong khi các chính sách tiền tệ cần phải được đưa ra càng nhanh càng tốt khi thị trường có biến động, nên phải giao cho Thủ tướng hoặc Thống đốc Ngân hàng thì mới có thể hợp lý. Ông Mười nghe xong đồng ý, gọi điện thoại cho ông Võ Chí Công trước mặt tôi và đề nghị hoãn lại bài đăng ủng hộ dự thảo này trên báo Nhân Dân để điều chỉnh lại. Dù không phải lúc nào bầu không khí của những cuộc gặp giữa chúng tôi cũng vui vẻ, vì tôi không ngại phê phán những điều tôi cho là bất cập của các chính sách kinh tế Việt Nam, nhưng những cuộc gặp này khiến tôi vui, vì thấy ông Đỗ Mười là người sẵn sàng chịu lắng nghe, sẵn sàng trao đổi. Đó là điều rất khác với những gì tôi được nghe trước đó về ông, một người vốn bị cho là cực kỳ bảo thủ". 

(3). Người giúp Việt Nam xây dựng hệ thống tài khóa Quốc gia theo tiêu chuẩn Quốc tế đầu tiên. 

Nhưng đóng góp quan trọng nhất của TS Vũ Quang Việt cho Việt Nam chính là việc xây dựng Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) vào năm 1988. Từ sau năm 1985, TS Vũ Quang Việt, với tư cách là chuyên gia của LHQ, thường được cử đến các nước Châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Nepal, Bangladesh… để giúp các nước này xây dựng SNA theo mô hình do LHQ xây dựng. Khi ấy, Việt Nam vẫn đang sử dụng mô hình cũ của Liên Xô nên các số liệu rất không thống nhất so với thế giới và không còn phù hợp khi Việt Nam bắt đầu có kinh tế thị trường. 

 "Trong những lần gặp và trao đổi về các vấn đề kinh tế với ông Nguyễn Cơ Thạch, tôi đã phải tự tính GDP của Việt Nam để cùng ông Thạch phân tích và đã đề nghị ông ấy đề xuất lên Chính phủ việc xây dựng SNA của LQH cho Việt Nam" - ông Việt kể. "Không lâu sau, ông Võ Văn Kiệt - khi ấy là Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước - đã mời tôi lên gặp. Cũng như ông Nguyễn Cơ Thạch, ông Sáu Dân thấy được sự cần thiết việc phải có một hệ thống thông tin kinh tế dựa trên tiêu chuẩn quốc tế để có cái nhìn rõ ràng về bức tranh kinh tế của Việt Nam". 

Sau cuộc gặp đó, ông Sáu Dân đã đề nghị TS Vũ Quang Việt trực tiếp tham gia xây dựng bản đề án - việc mà ông đã giúp Thái Lan và Malaysia và Trung Quốc làm rất thuận lợi trước đó. Năm 1988, SNA của Việt Nam chính thức ra đời, lần đầu tiên đưa ra các số liệu đầy đủ về nền kinh tế Việt Nam theo hệ thống thống kê chung của quốc tế. 

"Mỗi nước đều phải tính GDP và các chi tiết về từng hoạt động kinh tế, nhằm nắm rõ tình hình sản xuất. SNA rất rộng, không chỉ nhằm tính GDP, hay năng suất lao động mà còn theo dõi được thu nhập của từng thành phần kinh tế, rồi việc họ sử dụng thu nhập đó vào đâu: tiêu dùng, để dành hay đầu tư tài chính; những nguồn tiền được đầu tư vào tài chính qua ngân hàng hay cổ phiếu sẽ đi đâu, được sử dụng làm gì… Tóm lại SNA sẽ cung cấp số liệu và một cái nhìn tổng thể và toàn diện về nền kinh tế. Dựa trên những số liệu này qua nhiều quý, nhiều năm sẽ xem xét được sự chuyển biến và hiệu quả của các chính sách". 

Công trình này cũng đã giúp Việt Nam có được một bộ tiêu chí đánh giá nền kinh tế theo chuẩn quốc tế, chứ không chỉ gói gọn trong phạm vi các nước XHCN như trước kia. 

(4). "Cuối cùng, cũng có một nhà lãnh đạo coi tôi là người Việt Nam". 

Trong những năm 1980 - 1990, Vũ Quang Việt có lẽ là một trong những Việt kiều về Việt Nam nhiều nhất. Ông kể, trung bình mỗi năm ông về một, hai lần, theo lời mời của Chính phủ, nhưng lần nào ông cũng chủ động bỏ tiền vé máy bay, vì ông hiểu hoàn cảnh đất nước lúc ấy khó khăn: "May mắn là hàng năm tôi thường được LHQ cử đi Châu Á công tác. Các chuyến đi này đều do LHQ hỗ trợ tiền vé máy bay. Tôi thường tranh thủ những dịp này để về Việt Nam, nên tiền vé máy bay bớt tốn kém đi rất nhiều". 

"Khi ấy Việt kiều như chúng tôi mỗi lần trở về nước đều không dễ chịu gì khi phải đối mặt với nhiều định kiến do đặc điểm của thời đại" - TS Vũ Quang Việt thừa nhận. "Có lần dù về nước theo lời mời của Chính phủ, nhưng tôi và một trí thức Việt Kiều vẫn gặp vướng mắc với cơ quan an ninh tại sân bay... Sau đó, tôi phải gọi điện cho Thủ tướng Đỗ Mười nhờ hỗ trợ, việc này mới được giải quyết. Tôi nhớ lần nào tôi về nước, ông Phạm Văn Đồng (khi đó đã nghỉ hưu) cũng dặn dò tôi: nếu anh định nói hay viết gì, hãy cho tôi đọc trước giúp anh, hy vọng tôi có thể góp ý, như thế sẽ bớt khó cho anh". 

Sẽ rất khó để nói TS Vũ Quang Việt là "người yêu nước" theo cách hiểu chung của nhiều người. Hoặc nói cho đúng hơn, ông yêu nước theo cách riêng của mình. 

TS Vũ Quang Việt không phủ nhận những ký ức thời quá khứ khiến ông giữ trong lòng những ranh giới nhất định với chính quyền trong nước: "Luôn có suy nghĩ về sự phân biệt giữa "họ" và "tôi", nên khi rời khỏi Việt Nam năm 1968, tôi đã nghĩ, đất nước này không dành cho những người như tôi". Kể cả với Nhà Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch - người gần gũi nhất ở Việt Nam với mình, TS Vũ Quang Việt cũng luôn rất "giữ ý" vì sợ làm ảnh hưởng đến ông: "Quen biết rất nhiều năm, nhưng chúng tôi hầu như không bao giờ nói về cuộc sống riêng tư. Vào năm 1991, sau khi ông Nguyễn Cơ Thạch rời khỏi cương vị Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, tôi mới đến thăm nhà ông lần đầu tiên ở Hà Nội". 

Những ám ảnh quá khứ không ngăn cản TS Vũ Quang Việt đóng góp cho Việt Nam: "Ông Nguyễn Cơ Thạch đã cho tôi một cơ hội quý giá để nâng cao kiến thức và hiểu biết của mình về kinh tế Việt Nam và các nước XHCN. Tôi sẽ không dối lòng, dối người nói rằng những việc tôi làm xuất phát từ tinh thần yêu nước hay những lời kêu gọi đóng góp. Sự ham hiểu biết của một nhà khoa học và niềm hy vọng các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ thay đổi các chính sách trong điều hành kinh tế, mới là động lực lớn nhất khiến tôi làm việc không công trong những năm tháng đó. Khi tôi cảm nhận "họ" (những nhà lãnh đạo Việt Nam) thực lòng muốn hợp tác, tôi sẽ nỗ lực chia sẻ những hiểu biết của mình". 

Vào năm 1990, một năm trước khi nghỉ hưu, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã đề xuất cấp Quốc tịch Việt Nam cho TS. Vũ Quang Việt, để ghi nhận những công sức và đóng góp mà ông đã dành cho đất nước suốt 13 năm trước đó. "Đó là một trong những kỷ niệm đẹp nhất của tôi với Việt Nam, vì cuối cùng, đã có một nhà lãnh đạo coi tôi là người Việt Nam. Kể từ đó, tôi là người Việt Nam một nửa…". 

Nguồn - Dân trí. 

Ảnh: Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tại một cuộc họp Đại hội đồng LHQ tháng 9 năm 1977.

Thursday, September 29, 2022

Ký sự hè 2022 (6) Nỗi niềm tả -hữu

 Hè năm nay tôi có dịp tham dự trại hè của một số anh em trí thức mà tôi tạm gọi là „Phái tả“ ở Đức. Tôi chơi với họ từ hàng chục năm qua và cũng đã có lần tham dự trại hè của họ.

Trong những năm 1960, nhiều gia đình ở miền Nam gửi con em sang phương Tây du học. Trong khi sinh viên miền Bắc đi Đông Âu được các nước bạn lo học bổng 100% thì sinh viên miền Nam chủ yếu du học bằng nguồn tài chính của gia đình. Vì vậy đa số họ thuộc giới trung lưu của Việt Nam Cộng Hòa. Sự tàn khốc của chiến tranh Việt Nam sau 1968 và đặc biệt sự có mặt của phái đoàn ngoại giao miền Bắc ở Paris đã góp phần hình thành một phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ trong khối sinh viên Viêt Nam ở tây Âu. Sau Hiệp định Paris 1973, VNDCCH dần có đại điện ngoại giao ở các nước Tây Âu khác như Thụy Điển, Hà-Lan, Anh, Tây Đức v.v khiến sinh viên miền Nam dễ tiếp xúc hơn với những Việt cộng mặc Com-Lê, đeo Cra-vat. Và họ thấy VC không có gì đáng sợ, cũng dễ thương và đang đại diện cho một một nước Việt nam vốn được cả thế giới cánh tả gửi gắm niềm tin. Họ bị lôi cuốn bởi hình ảnh  của sinh viên Đức, Pháp, Hà-Lan, dàn hàng ngang xuống đường hô vang các khẩu hiệu „Army go home“, „Ho, Ho, Ho Chi Minh“.

Cánh tả phương Tây hồi đó, từ Jean Paul Sartre, Heinrich Böll, Bertrand Russell ở châu Âu đến Jean Fonda, Joan Baez, Tom Hayden ở Mỹ đều coi Việt Nam là lương tâm của thời đại. Anh bạn Stephan Köster mà tôi từng kể trong câu chuyện „30.04.1975, nhìn từ một góc khác“ tâm sự rằng: Ở Tây Đức anh sợ mô hình CNXH ở Đông Đức. Anh coi CHDC Đức là tay sai của Liên Xô vì anh xem  được TV Đông Đức, vì có họ hàng là nạn nhân của STASI v.v. [1]

Giáo sư toán học, huân tước Bertrand Rusell. Năm 1966 ông đã sáng lập ra tòa án quốc tế điều tra tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam

Ca sỹ Joan Baez từng dẫn đầu các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh VN ở Mỹ. Năm 1972 bà sang Việt Nam, hát tại nhiều nơi

Jean Paul Sartre, triết gia sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh. Một trong những thần tượng của thanh niên thiên tả phương tây

Stephan Köster, con trai một gia đình ngoại giao quý tộc Đức đã từ bỏ cuộc sống giàu sang dễ chịu để tham gia các phong trào chống chiến tranh Việt Nam. 3 ngày trước khi Sài Gòn thất thủ, Stefan đột nhập vào Sài Gòn với danh nghĩa phóng viên Tây Đức để bí mật làm phim cho "Việt Cộng"

Vì vậy khi Mỹ đưa quân vào Việt Nam, cánh tả phương tây coi các chiến sỹ Việt Cộng choàng khăn rằn, đi dép cao su là David đang chống lại Goliath trang bị đến tận răng. Rồi họ nhảy vào giúp Việt Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, với hy vọng một CNXH chân chính sẽ ra đời.

Các bạn sinh viên Việt Nam của tôi cũng vậy. Nhiều người bỏ cả học hành, hoặc tốt nghiệp rồi thì bỏ cả làm ăn, suốt ngày tham gia các hoạt động chống chiến tranh, ủng hộ miền Bắc. Họ bỏ tiền túi ra ủng hộ các hoạt động của cánh tả phương Tây, của các phái đoàn miền Bắc và của Mặt trận DTGPMNVN tại các cuộc mit tinh, các liên hoan phim, hội báo. Nhiều sinh viên ở Paris đã làm việc 24/7 trong suốt 5 năm của cuộc Hòa đàm Việt-Mỹ (sau thành bốn bên). 

Có thể nói họ đã hy sinh hơn một chục năm đẹp nhất của tuổi trẻ để ủng hộ „Việt Cộng“. Họ làm những việc đó không vụ lợi, vì lúc đó không ai biết kết cục cuộc chiến ra sao. Họ hành động vì trái tim.   

Tất nhiên cũng có nhiều sinh viên trung thành với nhà nước VNCH và họ coi những người ủng hộ „Việt Cộng“ là „Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản“. Thế là từ bạn học họ trở thành kẻ thù của nhau. Tôi không biết họ có đánh nhau hay không? Nhưng mối hận thù thì tôi cảm thấy rõ ràng. Ở Köln và Aachen, tôi quen một số anh em „Hữu“ và nhận ra mối hiềm khích tiềm tàng này cho đến hôm nay. Họ không muốn nhìn mặt nhau.

Duy nhất có lần tôi tổ chức chiếu phim „Hoàng Sa- Nỗi Đau Mất Mát“ của anh André Menras thì cả hai bên đều có người đến dự. Mấy anh em „Chống cộng“ đến để xem phim phần nào thôi, chủ yếu là để mắng André Menras về tội „Phò cộng“ năm nào. 

Sau chiếu phim là phần đối thoại với tác giả. Là chủ nhà, tôi vừa lo bảo vệ anh André, khách của tôi , vừa lo đảm bảo đối thoại dân chủ. Tất nhiên có lúc rất căng thẳng. Nhưng rồi mấy anh „Hữu“ cũng hiểu và cuối cùng họ bắt tay anh André. 

Nhưng „Hữu“ không bắt tay „Tả“. 

Tôi phân họ ra thành Tả & Hữu vì coi cánh tả thiên về công bằng xã hội, hay giúp kẻ yếu bằng các giải pháp mang tính XHCN. Còn cánh hữu thuận theo qui luật đào thải tự nhiên. Nguyên tắc „Mạnh được yếu thua“ gắn liền với cạnh tranh tự do của CNTB khiến họ không bao giờ gần được với các tư tưởng XHCN.

Còn mấy anh „Tả“ đến xem phim cũng để chia sẻ đắng cay với anh André, người có cuộc đời „cách mạng  chìm nổi“ giống họ.  Anh André vẫn tự hào thuộc loại dân Tà-Ru,tức “Tù ra“, vì anh đã bị chính quyền Sai Gòn bắt giam 3 năm, sau khi treo cờ Mặt trận DTGPMNVN tại Trung tâm Sài Gòn ngày 25.07.1970. Anh vừa tức vừa buồn cười kể với tôi việc bây giờ anh về Việt Nam hay bị theo dõi.

Sau 1975, Việt Nam không có hòa giải như mọi người mong muốn. Học tập, cải tạo, giam giữ đối với viên chức, sỹ quan, trí thức của chế độ cũ, phân biệt đối xử về lý lich đối với con em họ, cải tạo Tư bản, Tư doanh v.v. đã tạo ra làn sóng thuyền nhân tỵ nạn khủng khiếp nhất của thế kỷ 20. Việc này khiến cánh tả phương tây suy sụp, tất nhiên phong trào thanh niên Việt Nam cũng vậy. 

Những năm từ 1978-1988 là thời gian khủng hoảng nhất của phong trào. Có anh tâm sự: May mà có những thất vọng đó tôi mới thôi hoạt động, trở lại làm ăn bình thường.

Cái máu „bất đồng chính kiến chuyên nghiệp“ trong nhiều người bỗng trỗi dậy. Vậy là họ viết tâm thư gửi cho chính quyền XHCN ở Việt Nam. Họ lập các „Diễn đàn“ trên mạng để trao đổi với nhau và bàn cách cứu chữa. Vẫn quen lối sống tự do phương tây, họ ngạc nhiên khi thấy Đại Sứ Quán bỗng lạnh nhạt với họ, thậm chí có người còn không được cấp Visa về nước, dù chỉ về giúp quê nhà.  Ngạc nhiên hơn nữa là có anh „Hữu“ ngày trước, nay về nước như đi chợ. 

Té ra là „tả-hữu“ không quan trọng trong thời buổi kinh tế thị trường. Người ta chỉ ghét thằng nào hay công khai lập diễn đàn, hay gửi tâm thư.

Thế là có những người tuy thất vọng, bức xúc, nhưng không dại gì lên tiếng công khai để không bị mất đường về quê hương. 

Tôi từng gặp một anh „Bảo hoàng hơn vua“ trên một chuyến bay về Hà Nội. Anh tìm mọi cách biện bạch cho những gì xảy ra ở Việt Nam. Về nạn tham nhũng, thói lạm quyền, thiếu tự do ngôn luận, anh bảo:“ Ở đâu mà chẳng thế!“ rồi tìm các ví dụ ở Đức, Anh Pháp ra đối chiếu.  Khi xuống đến Nội Bài, có xe của nhà nước ra đón anh với rất nhiều kiện hàng toàn sách mà anh bỏ tiền túi ra mua, trả cả tiền vận chuyển đi theo người. Tôi biết anh không cơ hội, anh chỉ cố bám vào niềm tin từ 1968 đến nay. (Tôi tin điều này vì biết anh không muốn làm vương tướng gì ở Việt Nam cả)

Cho dù bị cấm cửa vì lên tiếng, cho dù không lên tiếng nên không bị cấm cửa, cho dù "bảo hoàng hơn vua", họ vẫn gắn bó với nhau bởi cái quá khứ „thiên tả“ kia. Hầu như hè nào họ cũng gặp nhau, cũng ôn lại các trò ấu trĩ khi xưa, nhưng cũng bàn về các dự án giúp trong nước. Khi vai trò chính trị đã hết, họ chỉ còn tập trung vào các đề tài khoa học, giáo dục. Vốn là giới tinh hoa của Sài Gòn, lại tốt nghiệp các trường đại học tên tuổi tây Âu nên họ đều làm việc cho các tập đoàn lớn và có quan hệ rộng với giới công nghệ. Thế là họ nghĩ ra các dự án giúp trong nước qua con đường truyền bá kiến thức. Nào là dịch sách dạy nghề kỹ thuật, nào là quảng bá các tư tưởng, triết học khai sáng. Đã có khá nhiều sách dạy nghề và 19 đầu sách về  danh nhân thế giới được dịch và xuất bản tại Việt nam. Họ tiếc vì giấc mơ lập một trung tâm khoa học của Việt Kiều tại khu công nghệ cao TPHCM không thành sự thật.

Tôi biết những điều trên vì từng dự trại hè với họ. Thường thì trại kéo dài 3-4 ngày đêm. Vài anh em phiêu bạt sang Mỹ cũng về dự. Họ thức thâu đêm, đàn hát bên lửa trại. Họ thuộc các bài „Nhạc Đỏ“ miền Bắc hơn cả tôi. Họ ôn lại các kỷ niệm thời sinh viên, trai trẻ. Tôi ngồi nghe mà chẳng hiểu gì, rất vô duyên. Thế là những lần sau tôi không đi nữa.

Nhưng năm nay thì khác.

(Còn tiếp)

Tái bút: Tôi viết về những người bạn tả và hữu với tất cả sự tôn trọng và quý mến. Vậy mong bạn đọc bình luận nghiêm túc.

Nguyễn Xuân Thọ

Wednesday, September 28, 2022

Tại sao VN? Từ bên thắng cuộc đến thua cuộc

Năm 1975, miền Bắc Việt Nam giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Hoa Kỳ và đồng minh Sài Gòn. Đất nước vốn đã kiêu hãnh này lại càng tự hào hơn, vì họ đã đánh bại siêu cường quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử. Nhưng niềm tự hào của họ đã bị ảnh hưởng bởi trong mười năm sau đó khi sự ra đời của nền kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa khiến Việt Nam trở thành nước nghèo nhất trong khu vực. Trong khi các quốc gia châu Á đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, như Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore, đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc và xóa đói giảm nghèo ồ ạt, thì hầu hết người dân Việt Nam lại sống trong cảnh nghèo đói khổ sở 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc.

Việc tập thể hóa nông nghiệp cưỡng bức ở Việt Nam không thành công hơn ở Trung Quốc hay Nga. Năm 1980, Việt Nam chỉ sản xuất được 14 triệu tấn gạo, mặc dù thực tế là hạt này cần 16 triệu tấn để đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân. Trong thời kỳ của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), Việt Nam buộc phải nhập khẩu từ 8 đến 9 triệu tấn gạo và các loại thực phẩm khác.

Sản xuất đình trệ và sản xuất công nghiệp quốc doanh giảm 10 phần trăm từ năm 1976 đến năm 1980. Cho đến năm 1988, chỉ có các doanh nghiệp gia đình nhỏ được phép làm doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam; mọi thứ khác đều thuộc sở hữu nhà nước.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận ra rằng họ đang gặp bế tắc. Tại Đại hội Đảng VI vào tháng 12 năm 1986, các nhà lãnh đạo của đất nước đã thông qua một gói cải cách toàn diện được gọi là “Đổi mới” hay còn gọi là đổi mới. Tương tự như Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình, quyền sở hữu tư nhân được cho phép và đảng này tập trung phát triển kinh tế thị trường.

Ngày nay, Việt Nam đã rũ bỏ quá khứ và đổi mới chính mình. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người đã tăng gấp sáu lần kể từ khi cải cách (tính theo đô la Mỹ hiện tại), từ 577 đô la lên 3.373 đô la. Việt Nam hiện là một trong những nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan. Nhưng Việt Nam xuất khẩu nhiều nông sản và dệt may hơn. Ngày nay, VN là một nhà sản xuất hàng điện tử lớn và xuất khẩu các sản phẩm điện tử trị giá 111 tỷ đô la vào năm 2020.

Trong nền kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa, đa số người dân Việt Nam sống trong cảnh cực kỳ nghèo khổ. Gần đây nhất là năm 1993, 80 phần trăm dân số Việt Nam vẫn đang sống trong cảnh nghèo đói. Trong thập kỷ qua, tình trạng nghèo đói đã giảm đáng kể. Theo Ngân hàng Thế giới, “Từ năm 2002 đến năm 2021, GDP bình quân đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700 đô la Mỹ. Tỷ lệ nghèo đói (1,90 đô la Mỹ / ngày) đã giảm mạnh từ hơn 32 phần trăm năm 2011 xuống dưới 2 phần trăm ”.

Nghèo ở Việt Nam không được xóa bỏ bằng phân bổ lại của cải mà bằng kinh tế thị trường. Tái phân phối chưa bao giờ là một công cụ thành công trong cuộc chiến chống đói nghèo ở bất kỳ đâu trên thế giới. Mức thuế dành cho người có thu nhập cao ở Việt Nam chỉ là 35%, và như vậy, bạn phải thu nhập cao hơn khoảng 14 lần so với người có thu nhập trung bình. Trong mọi trường hợp, sự đố kỵ của xã hội nhắm vào người giàu là một khái niệm xa lạ ở Việt Nam vì sự giàu có được ngưỡng mộ ở đây. Trong số 11 quốc gia mà MORI thực hiện một cuộc khảo sát về thái độ đối với người giàu, Nhật Bản là quốc gia duy nhất có ý kiến ​​tích cực như ở Việt Nam.

'So với hệ thống bao cấp, nơi mà phân phối là bình đẳng, thì sự phân cực hiện tại giữa người giàu và người nghèo cho thấy sự tái lập công bằng xã hội.  Bất bình đẳng không đáng bị chỉ trích và việc theo đuổi sự giàu có nên được khuyến khích. Bản thân sự phân cực đã trở thành một động lực quan trọng đằng sau sự tăng trưởng kinh tế đáng kể gần đây.

Người Việt Nam không ghen tị với những người giàu mà họ có động cơ để thành công về kinh tế. Một trong những câu hỏi trong một cuộc nghiên cứu là, 'Nếu xét theo mức độ quan trọng, việc giàu có đối với cá nhân bạn là quan trọng như thế nào?' Ở Hoa Kỳ và Châu Âu, trung bình, chỉ 28% người được hỏi cho biết điều quan trọng đối với họ là trở nên giàu có. Trong bốn quốc gia châu Á được khảo sát, con số này là 58 phần trăm. Và không ở đâu nhiều người nói rằng trở nên giàu có lại quan trọng như ở Việt Nam, nơi mà tỷ lệ này là 76%. Mặc dù Việt Nam tự gọi mình là một nước xã hội chủ nghĩa, nhưng cách nghĩ của người dân ở đây phù hợp hơn với chủ nghĩa tư bản.

Ngô Mạnh Hùng

(Theo Rainer Zitelmann)

Tuesday, September 27, 2022

Tại sao VN: Về những cái ngoại lệ (cái nước mình nó thế)

 Vì sao không có sản phẩm khoa học công nghệ, 

    1. Có một số lý do trực tiếp: a) Năng lực tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu ứng dụng,  b) Nhận thức, đánh giá sản phẩm (coi mấy ông shark thì biết, cứ KHCN là các ông ôm đít chạy, mấy thứ thịt chua, cơm lam, quán cà phê thì lao vào) c. Văn hóa khởi nghiệp d) Hệ sinh thái chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên đều không phải là lý do chính. Bởi lẽ hễ có thị trường, tiền thì kém mấy cũng ngóc dần lên được chứ không đến nỗi èo ọt thế này. 

    2. Lý do sâu xa là thực tế không có thị trường. Nhà nước cũng chỉ nói là sẽ đặt hàng, doanh nghiệp lớn cũng nói muốn làm nọ làm kia "nhu cầu xã hội lớn". Họ nói như vẹt, đều vì chính trị và truyền thông cả. "Lớn" là bao nhiêu, tôi đố họ đưa ra con số có sở cứ. Nhà nước cần quái gì khoa học công nghệ ngoài thành tích và lý do biện minh cho tiêu ngân sách. Ứng dụng CNTT phần lớn là giải ngân. Làm mấy Web service thì cần gì công nghệ, đừng nói khoa học. Doanh nghiệp ông nào cũng nói cần, nhưng thực ra họ không cần KHCN. 

     3. Mà điều đó cũng đúng thôi, doanh nghiệp cần nhất là kiếm tiền. Ở VN các doanh nghiệp đều muốn kiếm tiền nhanh, thu tiền về, xóa dấu vết sạch sẽ để làm quả khác. Nếu vậy thì cần gì sản phẩm KHCN. Ứng dụng KHCN là để kéo dài chu kỳ tăng trưởng, chỉ thích hợp với các mô hình kinh doanh đầu tư vào chất lượng sản phẩm, có lượng khách hàng trung thành, tin tưởng vào thương hiệu. Ở Việt Nam một mô hình kinh doanh thu hồi vốn 5-7 năm, tăng trưởng 20%, các đại gia không ai quan tâm. Bởi vì có nhiều trò ăn nhanh hơn. 

    4. Muốn có sản phẩm khoa học công nghệ trước hết thì phải tác động vào 2 thứ: i) Phát triển Thị trường IP ii) Động lực ứng dụng. Nói cho cùng động lực là cái căn nguyên sâu xa. Khi nào vẫn có những thứ "lướt sóng", "siêu lợi nhuận", không ai cần KHCN. KHCN sẽ lên ngôi khi các nhà đầu tư quan tâm tới các mô hình kinh doanh 7 năm thu hồi vốn, tăng trưởng 15% liên tục trong 7-10 năm, chứ không nói chuyện tăng trưởng 30-50% như hiện nay một cách dễ dàng.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, September 26, 2022

Nước chảy đá mòn...

Người ta bảo: nước chảy đá mòn.

Nhưng 1 giọt nước thì chẳng thành dòng được, dù nó có thể làm tràn ly.

Thursday, September 22, 2022

Chuyện đi đường

Vẫn tại cây xăng ở ngã tư Phú Nhuận, tôi đang đổ xăng thì 1 chú shipper đâm bổ vào từ phía ngoài, ngay trước mũi xe của tôi, vì thấy trụ xăng nào cũng nhiều người đang chờ.

Tôi nói:

- Vô sai chỗ rồi!

Anh chàng đổ xăng cho tôi nhìn kẻ lì lợm vẫn ko hề nhúc nhích:

- Vào trong đi anh ơi!

Và nhắc tôi:

- Chú để tụi con nói.

- Cháu sợ đánh nhau à. Cho nó 1 nhát là xong!

- Úi giời, chú ghê thế!

- Chú ghê lắm, cháu ko biết à?

Wednesday, September 21, 2022

Đặt câu hỏi

 Câu hỏi? 

     1. Tôi tự nhận thấy mình là một người trí tuệ bình thường. Nhưng vốn hiểu biết về mọi mặt có thế nói hơn trung bình xã hội. Cũng không có gì là kiêu căng khi nói thế, vì sự thực là thế, không cần phải giả dối làm bộ khiêm tốn vì sợ đàm tiếu. Thiên hạ ghét người cố gắng để hơn trung bình, sợ phục những kẻ gặp may thành hơn trung bình, sao phải xoẳn. Và biết chút đỉnh cũng bình thường thôi, có phải apply giải thưởng, thi nâng bậc để có quyền lợi gì đâu mà phải tỏ vẻ phô trương. Suy nghĩ về một vấn đề 10 năm dĩ nhiên phải hơn người mới đọc 1-2 cuốn sách hay mới động não 10 phút. Có anh bạn tự ái khi tôi nói thế. Nhưng như vậy là không công bằng. Người tìm hiểu 10 năm nói chuyện bình đẳng với người động não 10 phút, chỉ hơn người mới đọc 1-2 cuốn sách một chút và nếu có thành thực nói ra chỗ hơn về hiểu biết của mình, thiết tưởng đã quá khiêm tốn.

     2. Tôi cũng không phải là một con mọt sách, sáng đến tối vùi đầu đọc sách. Đã đành là tôi thích đọc, đọc rất nhanh, nhưng rất nhiều sách tôi chỉ lướt qua, không thể nói là đọc, nhưng vẫn nắm được vấn đề, đủ sức liên hệ với rất nhiều vấn đề khác. Tôi rất thích chuyện gẫu với nhiều loại người khác nhau. Hỏi tỉ mẩn, những chuyện họ giỏi hơn tôi. Trong đời thường ít khi tôi nói chuyện về chuyên môn hoặc những thứ tôi biết sâu, mà thích nói những chuyện mà người đối diện biết sâu. Nói chuyện với những người như thế thực sung sướng, vì sau đó ta biết đọc gì và đọc thế nào để nắm vững kiến thức, không phải vất vả vì bị kiến thức rổm làm hại. Đa số những người không phải không biết gì, có kiến thức hẳn hoi, nhưng vẫn suy luận ngô nghê, bởi có một khối lượng kiến thức ngộ nhận quá đồ sộ. Thanh toán ngộ nhận có khi còn quan trọng hơn việc tăng kiến thức, vì mật độ tri thức chuẩn mới có giá trị cho năng lực và nhân cách.

     3. Có lẽ nguyên nhân là tôi hay đặt câu hỏi. Tại mọi nơi tôi có mặt, tôi đều khơi mào cho các câu chuyện bằng các câu hỏi. Tất nhiên, có nhiều người bực mình, vì một số câu hỏi thách thức hiểu biết, thói quen và niềm tin. Nhưng nói chung là sôi nổi và vui vẻ. Có trường hợp có cô rất thích nói chuyện với tôi và nói tôi nói chuyện rất hiểu biết, thực tế tôi không nói gì, chỉ hỏi thôi, người cung cấp thông tin là cô ta. Điều tôi hiểu biết duy nhất chính là việc đặt câu hỏi. Trong giao tiếp, người nói chuyện lý thú nhất không phải là người nói những thông tin lý thú mà là đặt những câu hỏi trúng đích và gợi mở. Cơ quan tôi có một anh chàng, chuyên nói những vấn đề rất có nghĩa lý, hơn bách khoa toàn thư, kiểu trên thông thiên văn dưới tường địa lý, nhưng nghe như tự kỷ hoặc hâm, có lẽ vì không bắt đầu bằng các câu hỏi mà mọi người quan tâm. Hỏi cũng là động lực để đọc hiệu quả hơn.

     4. Cách đây chừng 4-5 năm, nhân xem một phim viễn tưởng về dạy tiếng nói cho UFO, tôi đặt câu hỏi "Làm thế nào để dạy câu hỏi "tại sao" hay "làm thế nào"?" Các câu hỏi "Là ai? Là cái gì? Khi nào?" đều rất đơn giản. Lặp đi lặp lại các mệnh đề là  UFO hay trẻ em đều học được. Tuy nhiên để diễn tả câu hỏi "tại sao" (chưa nói "làm thế nào") để người ta có thể trả lời (chưa nói trả lời đúng) khá khó khăn. Theo dõi một đứa bé để ghi nhận xem câu hỏi "tại sao" đến lần đầu khi nào, trong hoàn cảnh nào là một chuyện rất thú vị và bổ ích. Nhưng sau tôi tình cờ phát hiện ra, có thể dạy trẻ (hoặc UFO) câu hỏi "tại sao". Thực ra rất đơn giản, nhưng tôi phát hiện ra được là phải nhờ vào quan sát, chứ không thể tự suy luận. Mấu chốt ở chỗ mỗi câu hỏi "tại sao" đều gắn liền với hai mệnh đề. Chẳng hạn "Trời mưa" và "Các anh đá bóng" nếu lặp đi lặp lại trong những hoàn cảnh "mưa" và  "không mưa" vài lần có thể đặt câu hỏi "Tại sao các anh không đá bóng" và dạy câu trả lời "Các anh không đá bóng vì trời mưa". Học thuộc 2-3 câu hỏi "tại sao" và câu trả lời có liên từ VÌ, trẻ sẽ bắt đầu đặt các câu hỏi tại sao mới và trả lời tương đối chuẩn. Cũng có nhiều khi, trẻ lắp hai mệnh đề không ăn nhập vào nhau chẳng hạn "Mệt vì không có đồ chơi" hay "Tại sao thế nào thầy cũng không vừa lòng." Câu trả lời là "Thế bánh tao đâu". Vô lý nhưng rất hay xảy ra. Và suy cho cùng vẫn là có lý.

     5. Tôi rất thú vị với phát hiện này bởi trước kia tôi bắt buộc phải nghĩ là câu hỏi "tại sao" là built in hoặc a priori (tiên nghiệm), chẳng qua bị Tạo hóa khóa lại, đến lúc nào đó "đủ tuổi" nó sẽ tự động bật ra và vì thế không thể hoặc không cần dạy. Thực sự nó có thể dạy và con người đã được dạy một cách vô thức trong cuộc sống. Người thông minh là người may mắn biết đặt nhiều câu hỏi "tại sao" hơn người khác. Nếu như vậy, chúng ta có thể dạy để trẻ thông minh không cần đợi may mắn ngẫu nhiên.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, September 19, 2022

Bệnh viện Vì Dân

 “CÔ BẢY MỸ THO...!” NĂM XƯA...!

(Đinh Trực sưu tầm)

Hình ảnh “cô Bảy Mỹ Tho” sang trọng, lịch lãm, quý phái là tên thường gọi thân quen của người dân Nam Kỳ Lục Tỉnh xưa...!

Bà sinh ra trong một gia đình nề nếp, mang nặng tư tưởng Nho giáo phong kiến, lễ nghĩa đạo đức gia phong luôn được coi trọng hàng đầu, nhất là việc đối nhân xử thế...!

Bà là Nguyễn Thị Mai Anh, sanh năm 1931 tại tỉnh Mỹ Tho (nay Tiền Giang). Là Phu nhân của ông Nguyễn Văn Thiệu.

Bà cũng là Đệ nhất Phu nhân của Chính thể Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975).

Khi còn trẻ, Bà cùng em mình lên Sài Gòn, xin làm trong một Viện Bào chế thuốc tây. Sau đó được Ông chủ hãng làm mai và quen biết với Ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó Ông mới đeo lon Trung Úy.

Đến năm 1951 thì hai người làm lễ Thành hôn...!

Trong những năm chồng mình đạt đến đỉnh cao quyền lực, một Vị 😭 của miền Nam. Bà không bao giờ xen vào chính trị, mà chỉ toàn tâm toàn ý vào công việc từ thiện cho xã hội...!

Tuy không sắc sảo tài ba, thông minh xuất chúng như Bà Trần Lệ Xuân, Phu nhân Ngô Đình Nhu. Nhưng đổi lại, Bà có tánh tình nhân  hậu, tánh cách dịu dàng đằm thắm!

Những gì tốt đẹp nhất của người Phụ nữ Á Đông, đều có trong Bà...!

Với cương vị là Phu nhân 😭. Bà cảm thông và thấu hiểu được sự thiếu thốn của các cơ sở điều trị bịnh nhân. Bà đã nảy ra ý định phải thành lập một Bịnh viện tại Trung tâm Sài Gòn, để phục vụ đồng bào nghèo bớt đi đau khổ...!

Bà vận động, quyên góp tiền của, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đồng lòng hợp lực, cùng các Hội đồng từ thiện Quốc tế, đã được nhiệt tình giúp đỡ...!

Ngày 17-8-1970, bịnh viện chính thức khởi công xây dựng. Đến ngày 4-9-1971 thì hoàn thành...!

Ông N.V. Thiệu là người cắt băng khánh thành Bịnh viện. Được đặt tên là Bịnh viện Vì Dân (nay là Bịnh viện Thống Nhất).

Tuy là một Bịnh viện Tư, nhưng người dân không phải bỏ ra tiền để khám bịnh, không thu viện phí, không thu tiền khám, không thu tiền thuốc những loại thông dụng...

Miễn phí hoàn toàn tiền khám chữa bịnh cho dân nghèo...!

Bà là một người sống rất bình dị, bao dung, thương người như thể thể thân. Thùy mị đoan trang, một người mẹ, một người vợ tuyệt vời.

Rất xứng đáng là Mẫu nghi thiên hạ trong thời gian đã qua...!

Bà xứng đáng được kính nể và luôn được trân trọng với người nghèo với hai chữ “Biết Ơn...!”

Saturday, September 17, 2022

Người mang đúng danh là trí thức (ko phải trí ngủ)

Câu chuyện về vị Tiến sĩ bỏ đam mê kỹ thuật để trở thành 'con buôn'

Từng làm giáo sư ĐH Bách khoa Budapest lịch sử hơn 200 năm; công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam... vậy mà cuộc đời lại dẫn dắt ông sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".

Tiến sĩ Nguyễn Quang A. Tranh: Hoàng Tường

Tôi tự hào vì đã trải qua khá nhiều thất bại” - Đó đích thực là một câu nói rất... Nguyễn Quang A - cái tên khá quen thuộc trong giới doanh nhân, học giả và bạn đọc. 

Họ biết đến ông không phải với tư cách là một kỹ sư, một doanh nhân, như đáng ra phải thế, mà là với tư cách một dịch giả, một nhà báo với những cuốn sách và bài viết khá ấn tượng. Thế giới phẳng, Bằng sức mạnh tư duy, Sự bí ẩn của tư bản, Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử, Xã hội mở và những kẻ thù của nó... Đó chỉ là một số trong gần 20 cuốn sách ông đã dịch. Có thể nói thuật ngữ "thế giới phẳng" chỉ xuất hiện một cách phổ biến ở nước ta hiện nay sau khi cuốn The World Is Flat của Thomas L. Freedman được ông chuyển ngữ và cho xuất bản năm 2005. Còn các bài viết của ông trên các báo, các trang mạng bao giờ cũng lôi cuốn bạn đọc ngay từ cách đặt vấn đề rất trúng đến những phản biện đầy thuyết phục để đi đến việc giải quyết vấn đề một cách rốt ráo nhất, hiệu quả nhất.

Sinh năm 1946 tại Bắc Ninh, năm 1965 ông được đi học tại Hungary ngành vô tuyến điện, rồi làm luận án phó tiến sĩ và tiến sĩ cũng ở Hungary. Đã từng làm giáo sư Trường Đại học Bách khoa Budapest - một trường có lịch sử hơn 200 năm; kinh qua các công việc ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam... vậy mà cuộc đời lại dẫn dắt ông sang một hướng khác: Đi làm "con buôn" - theo đúng nghĩa, ông nói vậy. Và cuộc trò chuyện giữa chúng tôi được bắt đầu từ chỗ ông thôi làm các công việc kỹ thuật - niềm đam mê bấy lâu của mình - để trở thành "con buôn".

Năm 1987, sau khi làm luận án tiến sĩ khoa học, về nước tôi được phân vào làm ở Tổng cục Điện tử Việt Nam. Ở đó còn một ông tiến sĩ khoa học nữa, nội bộ cơ quan cũng có những bất ổn, bên nào cũng muốn kéo thêm người để "uýnh nhau", thế là tôi lảng. Đúng lúc đó có một anh bạn đang làm ở Sài Gòn rủ tôi vào làm một dự án về phần mềm tin học. Công việc đó nay gọi là thuê ngoài (outsourcing).

Thời năm 1989, thuật ngữ outsourcing chưa ra đời. Công việc cụ thể là hợp tác với một công ty ở bên Pháp để làm phần mềm thuê ngoài, do vậy có thể nói đó là công ty làm outsourcing đầu tiên ở Việt Nam, công ty có tên là Genpacific. Outsourcing tức là mình có người phát triển phần mềm, làm ra phần mềm ấy hay gia công phần mềm của người khác để cung cấp cho khách hàng của người thuê gia công, họ có khách hàng của họ (trong trường hợp này là khách hàng Pháp) - thực sự cũng chỉ là làm thuê thôi. Tôi thấy dự án cũng hay vì phù hợp với những kiến thức mình đã được học và quyết định bỏ Hà Nội vào Sài Gòn.

Hơn nữa, đây là một ý tưởng rất hay, đi trước thời đại (gọi là thế cũng được), vì ý tưởng làm outsourcing chỉ thực sự nở rộ sau năm 2000, khi có sự cố máy tính Y2K toàn cầu thì nhiều công ty Mỹ thuê các công ty Ấn Độ viết phần mềm khắc phục. Chúng tôi có khoảng 25 người lập trình rất giỏi, đại bộ phận là người trước kia làm ở Viện Kỹ thuật quân sự. Chúng tôi cũng "thuê" một người làm phần mềm của Banque Nationale de Paris về Việt Nam để tập huấn về những yêu cầu của khách hàng bên Pháp ra sao... Có thể nói 25 người này đều là những người rất giỏi và hiện đều là những người thành đạt. Thời gian đó, họ đã viết được những phần mềm phục vụ được những nhu cầu của khách hàng Pháp và châu Âu. Nhưng rất đáng tiếc, dự án đó thất bại hoàn toàn.

Tại sao, thưa ông?

Có thể nguyên nhân đầu tiên là chúng tôi hơi hão huyền vì không lường trước được những khó khăn mà mình sẽ gặp phải: Làm thế nào để cung cấp dịch vụ đó cho bên Pháp, bằng cách nào, bằng phương tiện gì? Làm sao đưa được phần mềm và người sang để cài đặt? Hồi đó chưa có internet, điện thoại quốc tế thì vẫn còn lạc hậu. Để gọi một cú điện thoại sang Paris chúng tôi phải nhờ cô nhân viên bưu điện nối điện thoại, đợi có khi cả tiếng đồng hồ thì mới nói được nhưng với một chất lượng rất kém và giá "cắt cổ". Cũng có thể gửi người đi nhưng vô cùng tốn kém. 

Cũng có thể có cách khác là nhồi chương trình phần mềm vào băng từ rồi nhờ hàng không chuyển, nhưng cũng không thể làm theo cách này được, vì lúc đó mỗi tháng chỉ có hai chuyến Air France... Giá như chúng tôi phát hiện ra những khó khăn ấy sớm thì đã không làm cái việc ấy và chuyển sang làm việc khác từ lâu rồi...

Nhưng sau này, Genpacific vẫn "làm mưa làm gió" với thương hiệu máy tính Bull Micral đấy thôi...

Khi dự án phần mềm bị thất bại thì chúng tôi chuyển sang hướng làm phần cứng: Sản xuất máy vi tính. Chúng tôi làm một dây chuyền lắp ráp máy vi tính với đầy đủ quy trình, thiết bị nhập từ Pháp về tại nhà máy điện tử Bình Hòa, với công suất 4.000 máy tính/năm. 

Tất nhiên, lúc đó vẫn còn đang cấm vận, nên máy của chúng tôi làm ra được bán với giá rất đắt (khoảng 5.000-6.000 USD/chiếc) với cấu hình mà nói ra bây giờ thì "nực cười", bộ nhớ ổ đĩa là 8MB, RAM giỏi lắm là khoảng 256KB, tốc độ 8MHz. Bây giờ một máy tính vớ vẩn thì các chỉ số ấy cũng phải cao gấp ngàn lần.

"Trong cái rủi có cái may" - Xem chừng, câu cách ngôn này đặc biệt đúng đối với Genpacific...

Đúng thế, Genpacific là công ty liên doanh, vốn chủ yếu là từ Pháp và cũng chỉ là dưới dạng vật tư, thiết bị chứ có đồng tiền mặt nào đâu. Việt Nam có một văn phòng ở 258B Lê Văn Sỹ góp vào làm vốn. Anh em đầu tiên tham gia vào Genpacific rất đói, chúng tôi phải đi lắp ráp thuê đồng hồ điện tử, trong đó có cả Gimiko. 

Nhưng khi có dây chuyền lắp ráp máy tính nói trên, chúng tôi sản xuất cũng kha khá. Việc bán được hàng lại cũng bắt đầu từ chỗ "không may" của chúng tôi: Có một triển lãm điện tử ở Mông Cổ mà Chính phủ Việt Nam hứa sẽ tham dự, nhưng chắc nghĩ là chẳng có mối lợi gì từ một nước còn lạc hậu như thế nên chẳng đơn vị nào muốn đi, và thế là họ cử chúng tôi đi. 

Từ đó, chúng tôi đã sang Liên Xô tìm cách bán hàng. Thời đó, bức tường Berlin chưa sụp đổ nên việc bán máy tính sang Nga rất "trúng".

Và ông trở thành "con buôn" chuyên nghiệp nhờ thế?

Thực ra, mới đầu chúng tôi cũng chỉ là lấy công làm lãi trong một hợp đồng tay ba. Hợp đồng đầu tiên tôi ký với khách hàng Liên Xô trị giá 2,7 triệu USD, nhưng theo hình thức: mình giao máy cho Liên Xô, Liên Xô giao phân bón cho Pháp, Pháp lại giao linh kiện cho mình làm... Đại khái là tay ba như thế. 

Nhưng cuối cùng do đang đổi mới, Liên Xô không thể giao phân bón cho Pháp được. Nhưng hợp đồng thì đã ký nên cuối cùng phía họ phải tìm cách bù bằng một hợp đồng khác: Không phải hàng đổi hàng nữa mà là trả tiền mặt, mở LC đàng hoàng. Thế là từ một anh làm gia công, chúng tôi trở thành một người chủ bán hàng thực sự. Giá trị hợp đồng lúc đó không còn là 2,7 triệu USD nữa mà chỉ còn gần 2 triệu USD, nhưng được trả bằng tiền mặt.

Lúc đó Nga đang rất cần máy tính. Họ hỏi có lấy tiền rúp chuyển nhượng không? Chúng tôi chẳng biết đồng tiền ấy là gì vì không sờ mó được. Hóa ra, họ bán máy móc cho các công trường của Việt Nam ở Quảng Ninh, sông Đà, cầu Thăng Long... và Việt Nam trả lại bằng quần áo, giày dép, nông sản... gì gì đó, tất cả đều tính bằng đồng rúp chuyển nhượng ấy. Bây giờ họ muốn lấy bằng máy tính thì tuyệt quá rồi còn gì. Chúng tôi dùng đồng tiền rúp chuyển nhượng thu được từ việc bán máy tính, nhượng lại cho các ngân hàng để đổi lấy tiền mặt.

Đó có phải là quá trình dẫn dắt ông đến với một lĩnh vực mới: Ngân hàng?

Không. Năm 1993, tôi thôi ở Genpacific, mà nói thẳng ra là bị "đuổi" vì đã phạm một lỗi rất ấu trĩ. Hồi đó, Genpacific có rất nhiều tiền, nhưng về mặt nguyên tắc, không được dùng tiền đó để kinh doanh các lĩnh vực khác. Nhưng tôi đã ký hợp tác kinh doanh với một nhóm "đại gia" tự gọi nhau là G5 đang làm ăn với Liên Xô, cần vốn. Thực chất là cho vay tiền. 

Nhưng đến kỳ hạn, họ không thanh toán được, thế là tôi đối mặt với khả năng bị hội đồng quản trị "sờ" gáy. Sau khi được các đệ tử (cũng ở Liên Xô) chuyển tiền cho tôi hoàn trả công ty, tôi thoát khỏi việc bị "sờ gáy" và rời Genpacific ra Hà Nội làm. 

Lúc đó, cụ Hoàng Minh Thắng là Chủ tịch Liên minh Hội đồng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cụ cũng khởi xướng lập ra một ngân hàng gọi là Ngân hàng ngoài quốc doanh Việt Nam. Chúng tôi tham gia vào ngân hàng ấy như một sự tình cờ ngẫu nhiên.

Khi đó, ông có kiến thức đặc biệt gì về ngân hàng không?

Chẳng có kiến thức gì cả. Tất cả những người tham gia vào đó không ai có kiến thức gì về ngân hàng mà phần lớn là những người tạm cho là có thành công một ít ở những lĩnh vực khác và có thể nói là hơi hoắng. Lúc đó, chúng tôi nhờ ông Nguyễn Trọng Khánh, cũng đã từng làm ở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và cũng là tiến sĩ kinh tế ở Hungary về, làm tổng giám đốc. Nhưng đáng tiếc là một thời gian ngắn sau anh bị bệnh và mất. Sau đó, chúng tôi cũng thuê một số người ở các ngân hàng quốc doanh sang làm.

Lúc đó, ngân hàng Việt Nam cũng mới chuyển từ hệ thống một cấp sang hai cấp, nghĩa là manh nha có những ngân hàng thương mại. Nhưng phải nói thật họ đều là quan chức nhà nước chứ không có ai là "banker" cả. Họ làm cho chúng tôi một thời gian ngắn rồi cũng chẳng mấy hiệu quả. Hội đồng quản trị can thiệp quá sâu, họ có quyền cho đối tượng nào vay, nhưng phần lớn các đối tượng vay lại là các công ty hoặc của thành viên hội đồng quản trị, hoặc của người thân của hội đồng quản trị, đó là cái lỗi ấu trĩ không thể tưởng tượng được. Tất cả những yếu tố đó đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản: Vốn của VP Bank chỉ có 70 tỉ, trong khi đó, nợ trong nước là khoảng 700 tỉ mà phần lớn là khó đòi; bảo lãnh LC ở nước ngoài là 50 triệu USD.

Lúc đó, tôi cũng là thành viên của hội đồng quản trị nhưng là thành viên chỉ tham dự họp một năm đôi lần. Rồi tôi phải nhận nhiệm vụ bất đắc dĩ là làm chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng. Tất nhiên, trước đó và cả sau này tôi chưa bao giờ trực tiếp điều hành một ngân hàng nào cả và do đó phải đọc rất nhiều sách về ngân hàng. Sách của Hungary, của Anh... và cái quan trọng lúc ấy là mình phải kiếm người, thuê CEO. Chúng tôi tìm được anh Huỳnh Bửu Sơn, là người đã làm trong ngành ngân hàng từ trước 1975 ở Sài Gòn, được học bài bản về ngân hàng, có kinh nghiệm về ngân hàng thương mại, ra ngoài Hà Nội để làm tổng giám đốc. Anh Huỳnh Bửu Sơn đã có đóng góp đáng kể trong việc khôi phục lại VP Bank.

Bằng cách nào các ông thoát ra được?

Lúc đó tôi không bao giờ dám nói tôi là chủ tịch ngân hàng cả. Chủ nợ của chúng tôi lúc đó chủ yếu là các công ty Hàn Quốc, đơn kiện lên các cấp lãnh đạo ở ta như bươm bướm. Chúng tôi chỉ có kế hoãn binh là phải đàm phán với các chủ nợ, đồng thời lập dự án về việc giãn nợ trình lên Nhà nước và được sự đồng ý thì chúng tôi mới dần dần gỡ những khó khăn. 

Đến năm 2002 mới giải quyết xong cơ bản về nợ và quay trở lại với việc kinh doanh bình thường. Như vậy là cũng phải là mất năm, sáu năm. Qua năm sáu năm ấy, tôi học được rất, rất nhiều điều mà sách vở hay bất cứ một trường đại học nào đều không thể hướng dẫn đầy đủ cho mình được: Về tài chính, kinh tế, về những vấn đề ứng xử với các cơ quan nhà nước, với chủ nợ, với đủ mọi thứ... Và như thế, công việc cứ dần dần đẩy mình sang, bắt buộc mình phải quan tâm đến các vấn đề khác của cuộc sống như chính trị, xã hội.

Thật hư về câu chuyện ông đề nghị mua lại nợ của Chính phủ Việt Nam cho Chính phủ Liên Xô?

Đấy là chuyện chẳng liên quan gì đến ngân hàng cả. Thực tế, khi vẫn còn Liên Xô, tôi đã đưa ra một phương án mua lại nợ của Chính phủ Việt Nam (khoảng mười mấy tỉ rúp với giá 600 triệu USD), và Chính phủ chỉ phải trả chúng tôi 300 triệu USD sau khi Liên Xô đã ký giấy và trao cho chúng tôi là Việt Nam không còn nợ họ xu nào và chúng tôi đã là chủ nợ mới của Việt Nam, 300 triệu USD còn lại trả mỗi năm 30 triệu trong 10 năm. 

Phương án được trình bày trước nhiều quan chức cấp cao của các bộ ngành được tổ chức ở Bộ Ngoại thương, mọi người đều nghĩ đó là một phương án hay nhưng không có ai quyết cả. Sau đó một số năm, sau khi Liên Xô tan rã, việc trả nợ đã được Nga và Việt Nam giải quyết trả một phần bằng USD, hình như hơn một tỉ USD, một phần bằng hàng hóa. 

Lúc đó tôi rất tiếc, vì giá như tôi đưa ra một phương án "mềm" hơn thì đó đã có thể là một vụ làm ăn rất có lợi cho chúng tôi, đồng thời cũng làm uy tín của Việt Nam với Liên Xô và Nga thật khác so với khi vẫn là con nợ của họ.

Ông từng thú nhận là trong lĩnh vực kinh doanh của mình, ông cũng mắc những "tật" rất phổ biến do thiếu chuyên nghiệp: Hão huyền, "hoắng", thậm chí là ấu trĩ do quá tự tin... Vậy, trong cuộc sống thì sao và nó có ảnh hưởng gì đến các mối quan hệ xung quanh?

Trong đời kinh doanh, tôi gặp vô vàn thất bại, nhưng tôi không hề ngại những thất bại đó; trái lại, nhìn lại, tôi thấy đã học được rất nhiều vì đã trải qua những thất bại như thế. Tất nhiên, sau mỗi lần thất bại là buồn, nhưng quan trọng là phải biết nhìn trước, nhìn sau và nhìn lại mình, hay nói cách khác là tự kiểm duyệt mình. 

Tôi cũng là người luôn may mắn vì sau mỗi lần thất bại thì lại tìm được chính trong sự thất bại ấy một hướng đi mới, đầy khám phá, thử thách và vượt qua được. Trong cuộc sống, đôi khi ta phải biết trân trọng sự "hão huyền" hay "hoắng" mà mình có, bởi ở một góc độ nào đó nó thể hiện sự lãng mạn của tư duy. Không có sự lãng mạn thì cuộc sống sẽ vô cùng tẻ nhạt...

Ông cũng nói rằng hiện ông là con người hoàn toàn tự do, kiên quyết bỏ hết công việc kinh doanh và chỉ làm những công việc mình thích... Vậy việc ông thích làm nhất hiện nay là gì?

Dịch sách. Dịch là để học và chia sẻ. Đó cũng là đam mê của tôi. Những cuốn sách tôi dịch khá kén bạn đọc nhưng tôi nghĩ nó sẽ có ảnh hưởng nhất định trong việc truyền tải kho tàng trí tuệ của nhân loại. 

Bản thân tôi cũng rất kén chọn khi dịch, có khi đọc đến hàng chục cuốn tôi mới chọn ra được một cuốn để dịch. Tất cả các sách tôi dịch đều có chung một chủ đề: Hệ phần mềm điều hành xã hội - làm thế nào để vận hành xã hội một cách hữu hiệu. Tôi gọi đó là tủ sách SOS2 (có nghĩa là hệ điều hành xã hội): chính sách, thể chế, những kinh nghiệm thất bại và thành công, các lý thuyết, những cách tổ chức sao cho xã hội vận hành suôn sẻ.

Cuốn sách ông đang dịch hiện nay?

Why Nations Fail (Vì sao các quốc gia thất bại) của Daron Acemoglu và James A. Robinson. Đây là một cuốn sách lý thuyết cao siêu nhưng được viết một cách dung dị, dễ hiểu, sáng sủa với những ví dụ lịch sử sinh động từ cách mạng đồ đá mới, cho đến sự sụp đổ của đế chế La Mã, các thành bang Hy Lạp; cho đến Trung Quốc, Nam - Bắc Triều Tiên hiện nay... Tôi hy vọng bản điện tử sẽ hoàn tất vào tháng 6 tới.

Một người được coi là trí thức, theo quan niệm của ông?

Tôi thích cách định nghĩa của Friedrich August von Hayek (nhà kinh tế học người Mỹ gốc Áo, đã sống và viết ở Anh rồi sang Mỹ, đoạt giải Nobel kinh tế năm 1974), về trí thức, đại ý: Trí thức là người bán đồ cũ về tư tưởng (của mình hoặc của người khác) cho những người khác. Và như thế, nhà giáo, nghệ sĩ, nhà báo, những người làm chính trị, làm chính sách, học giả, nông dân... đều có thể coi là trí thức, nếu người đó bán "đồ cũ" là tư tưởng (của mình hay của người khác). 

Người lao động trí óc nhưng không truyền bá tư tưởng không là trí thức theo cách hiểu của Hayek. Hiểu theo nghĩa rất rộng đó thì sẽ có những trí thức tồi tệ, vụ lợi bên cạnh những trí thức luôn lấy mục tiêu truyền bá kiến thức cho cộng đồng làm mục đích.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Theo Kim Anh (DNSG cuối tuần)

13-05-2012 

Saturday, September 3, 2022

CHÂN LÝ CỦA TÔI (10)

Ông Toàn Quyền

(tiếp theo)

Từ Paris tới Sài Gòn

Ko thể phủ nhận tính vượt trội của nền văn minh vật chất hiện đại so với nền văn minh cổ đại. Paul Doumer nhận thấy điều này khi đi qua 2 xoáy nước lớn mà những con thuyền thời cổ đại ko dám qua. Trong thần thoại Hy Lạp Homer gọi chúng là 2 quái vật (Scylla và Charybdis) chuyên hút nước biển vào rồi phun ra thành xoáy nước mạnh làm tàu bè chìm đắm. Ông đã mô tả về điều này trong cuốn sách của mình: "Tàu chúng tôi đi qua giữa chúng mà không lệch khỏi đường đi, không bị ảnh hưởng một li bởi các dòng xoáy do chúng sinh ra.".

Về vai trò của nước Pháp ở Địa Trung Hải, Paul Doumer nhận thấy tầm quan trọng của eo biển Messina và việc khống chế được nó sẽ làm chủ con đường biển đi qua eo biển này. Ông cho rằng: sau Napoléon, nước Pháp đã mắc sai lầm ko thể tha thứ vì hậu quả từ việc thi hành 1 chính sách hèn yếu, do dự, ko có tầm nhìn, ko có đầu óc, hành động qua loa có tính nhất thời nên để mất Ai Cập*, Tiểu Á và ảnh hưởng của Pháp ở vùng này chưa tiến triển thêm được chút nào. 

Sức mạnh của người Anh và người Tây Ban Nha ở phía Tây Địa Trung Hải, người Ý ở phía Đông làm cho Pháp ko thể coi Địa Trung Hải như cái hồ lớn của họ. Tuy nhiên, Pháp ko để các nước khác lấn át khi giữ vững ưu thế nhờ có bờ biển từ Port-Vendres đến Menton, đảo Corse, và bờ biển Algeria, Tunisia ở Bắc Phi, thêm nữa, họ còn có xưởng tàu Toulon, xưởng tàu Bizerte được cộng thêm sức mạnh của hạm đội Địa Trung Hải luôn sẵn sàng trong tình trạng cơ động.

Eo biển Messina: lối vào từ phía Tây (Hình chọn từ net)

(còn nữa)

*: Khi Paul Doumer trên hành trình đi qua Địa Trung Hải để đến ĐD thì Ai Cập đang là thuộc địa của Anh

Monday, August 1, 2022

CHÂN LÝ CỦA TÔI (1)

Tôi ko copy tựa của cuốn sách mà bà  Indira Gandhi viết vì đây là tập hợp những gì là của tôi, thuộc về những điều, với tôi như ánh sáng Mặt Trời và lẽ phải, hiển nhiên như những chuyện do Trời Đất sinh ra và trường tồn mãi mãi, dĩ nhiên là cùng cả bóng tối mênh mông và vô cùng bí ẩn...

Để bắt đầu, tôi sẽ viết từ 1 trong những điều làm tôi vỡ lẽ, ko phải từ lâu nhưng đây là cái đã làm tôi thay đổi chính kiến 1 thời, khi tôi còn trẻ con, còn mang tinh thần chống Pháp, đánh Mỹ kiên cường nhằm xóa sạch chủ nghĩa thực dân-đế quốc tham tàn trên thế gian này (Một thời kỳ từng bị ô nhiễm với những lý luận/giáo điều từ luận thuyết soạn thảo bởi trung tâm tuyên giáo/tuyên truyền TW).

CUỘC CÁCH MẠNG & 2 CUỘC CHIẾN TRANH

Với mục đích giành độc lập và những sự lựa chọn đúng đắn của cuộc cách mạng nhằm khai phá những điều mới mẻ và xóa bỏ những gì cổ hủ để biến đổi tận gốc một xã hội lạc hậu vì chịu ảnh hưởng nặng nề từ tư tưởng Nho giáo với quá khứ hàng nghìn năm Bắc thuộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động 1 phong trào trong toàn dân nhằm đem lại cho đất nước này một cơ hội để khai sáng và chấn hưng dân tộc, mở ra 1 kỷ nguyên mới cho VN. Trở ngại của VN là thực dân Pháp, kẻ thù mạnh gấp hàng trăm lần người Việt. 

Lịch sử phát triển của thế giới và châu Âu đã cho thấy nhiều thời kỳ biến đổi/thăng trầm vô cùng bi tráng của những đế chế hùng mạnh. Đến thế kỷ 18 với phát minh động cơ hơi nước và cuộc cm công nghiệp, nước Anh trở thành "Đế quốc mặt trời không bao giờ lặn". Cũng với hình mẫu như thế, Pháp và các quốc gia khác ở châu Âu đã vươn lên mạnh mẽ và từ đó bắt đầu hình thành những đế chế mới với hệ thống thuộc địa rộng khắp trên toàn thế giới cho đến đầu thế kỷ 20.

Trở lại với kẻ thù của dân tộc, tôi phải tìm hiểu cái sức mạnh của họ phát sinh từ đâu?

1. Người Pháp đến VN là ai?

Tôi ko có trong tay nhiều tư liệu, những khảo cứu có giá trị hầu hết đều rải rác trong tư liệu ghi chép cá nhân ko đáng kể nên bây giờ phải tập trung vào những cơ sở đáng tin cậy và có sức thuyết phục. Cộng thêm những gì còn nhớ và lưu lại trong ký ức, tôi sẽ lọc ra những cái mà tôi chọn trong loạt bài này, xoay quanh đề tài mà tôi tự chọn và đặt tên như trên. 

Như nêu ở trên: lý tưởng của tôi được chế độ nhào nặn đã sụp đổ cùng LX. Vì thế, tôi phải thừa nhận: "con người là sản phẩm của xh" (Fidel), đó là nói từ lập luận “thời thế tạo anh hùng”, chế độ ntn thì con người hầu hết sẽ như thế, khó có thể khác. Và như thế, rõ ràng 1 điều rằng: cm muốn cái ko tưởng bởi ko thể có CNXH nếu ko có con người xhcn. Và lập luận “anh hùng tạo thời thế” cần được đặt trong 1 bối cảnh khác, nhưng ko thể trái quy luật phát triển và phải có những nhà lãnh đạo xứng danh/xuất chúng tạo được tiền đề/cơ sở mới có được điều kỳ diệu xảy ra, ko thể chỉ bằng ý chí!

Trở lại với thế lực từng là kẻ thù của dân tộc, những người Pháp tiêu biểu của chủ nghĩa thực dân, tôi phải tìm hiểu cái sức mạnh của họ phát sinh từ đâu? Một trong những người mà tôi đọc gần đây, đại diện cho sức mạnh của nước Pháp ở VN và Đông Dương, là Paul Doumer.

(còn nữa)

Bìa cuốn Xứ Đông Dương* (Ấn bản 2016)

* : Cuốn sách Xứ Đông Dương do Alpha Books ấn hành rất đáng đọc, nhưng hãy đọc nó theo mối quan tâm, hay tư cách riêng của từng người và với cách nhìn lịch sử. Bạn sẽ bị lôi cuốn bởi cách viết của tác giả; đặc biệt, bạn sẽ được khám phá và tìm thấy nhiều điều mới mẻ mà bạn chưa từng đọc được trước đó về giai đoạn lịch sử này của đất nước Việt Nam."

PGS. TS. Dương Văn Quảng

1.1 Ông Toàn Quyền

Paul Doumer từng giữ chức Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ Pháp trước khi sang Đông Dương. Sau khi ông được bổ nhiệm là Toàn quyền Đông Dương, chính sách thuộc địa của Pháp chuyển sang 1 bước ngoặt mới. P. Doumer là 1 nhà cai trị độc tài nhưng đã mang lại nhiều thay đổi ngay từ khi nhận chức: ông thiết lập lại bộ máy nhà nước bảo hộ và lập tức xây dựng cơ sở hạ tầng ở VN. Cầu Doumer trên sông Hồng là 1 trong những sản phẩm tiêu biểu của thời kỳ này.

Khi ông mất (do bị ám sát), vợ ông đã nói về ông: "Cả đời ông ấy đã hy sinh cho nước Pháp, còn bây giờ ông ấy là của tôi." và ông đã yên nghỉ trong khu vườn mộ của gia đình, bên cạnh 4 người con trai, cả 4 đều là quân nhân, hy sinh trong Thế Chiến thứ nhất.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvenirs d'un vieux Journalistre Indochinois nhận xét về ông: "là một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi.". Những công trình của ông đã thực hiện, trong đó là tuyến đường sắt mà ông khởi tạo ở VN hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn trong nền kinh tế nước ta.

Paul Doumer (Ảnh chọn từ net)

(lược ghi từ trang mở đầu về Paul Doumer, cuốn Xứ Đông Dương)

Chỉ làm Toàn quyền Đông Dương 5 năm, nhưng P. Doumer để lại những dấu ấn rất rõ dưới thời thuộc Pháp. Ông chủ trương biến chế độ Bảo hộ Pháp ở Đông Dương (ĐD) thành chế độc "trực trị". Ông thực hiện chính sách sưu thuế hà khắc để xây dựng hạ tầng cơ sở cho xứ ĐD nhằm khai thác tài nguyên và biến các nước thuộc địa trong vùng thành thị trường, tiền đồn của Pháp ở Viễn Đông.

Cuốn Xứ Đông Dương được P. Doumer viết vào năm 1903, 1 năm ngay sau khi kết thúc nhiệm kỳ Toàn quyền ĐD nên cuốn sách của ông chứa đựng nội dung chân thực và rõ ràng trong bối cảnh lúc bấy giờ. Ông thấy rằng: mình đã hoàn thành trọng trách lớn lao và có thể giới thiệu xứ sở này với thế giới. ĐD đã trở nên cường thịnh và đang mạnh mẽ đi tới một tương lai xán lạn.

Paul là 1 viên Toàn quyền vừa mềm dẻo vừa cứng rắn. Ông dứt khoát chia ĐD thành 5 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên với sách lược chia để trị. Doumer ko chỉ xây dựng nhiều công trình giao thông, ông còn ủng hộ Yersin, đồng ý xây dựng tp. Đà Lạt và đưa cây cao su vào VN. Dưới thời Doumer, Hà Nội là tp châu Á đầu tiên có điện.

Doumer đã làm rất nhiều để ĐD phồn vinh và phục vụ nước Pháp. Để làm được như thế, ông vừa là quan cai trị, 1 nhà kinh tế giỏi, nhưng trước hết Paul là 1 người yêu nước chân chính, ông hành động hoàn toàn vì lợi ích của nước Pháp. Và với việc hoàn thành trọng trách của ông, một đất nước theo kiểu Tây phương được công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa đã bắt đầu hình thành...

Cầu Doumer (Ảnh chọn từ net)

(viết theo phần Đọc Xứ Đông Dương của Dịch giả Nguyễn Xuân Khánh)

Có người cho rằng: CUỘC ĐỜI NHƯ MỘT CUỐN SÁCH. TRANG ĐẦU VÀ CUỐI DO CHA MẸ VÀ ĐẤNG TỐI CAO VIẾT. PHẦN CÒN LẠI ĐƯỢC THỂ HIỆN BỞI MỖI NGƯỜI.

Và tôi đã đọc cuộc đời của P. Doumer từ chính những trang do ông viết. Tôi nhớ 1 người bạn từng cho rằng: ko phải cứ viết về mình mới là thể hiện con người mình, mà bất cứ gì mình viết cũng thuộc về mình, nói lên tất cả tính cách và bản chất của mình, kể cả từng rung động/cảm xúc khi 1 cơn gió thoảng qua, cho thấy mình tồn tại, ko như gỗ đá... vô tâm, vô cảm.

Paul là 1 người như thế!

Những nhận xét của vị Toàn quyền ĐD về VN và ĐD từ những năm đầu của thế kỷ 20 cũng là những quan điểm/nhận định của thế giới sau này khi đánh giá về năng lực, khả năng học hỏi, lòng quả cảm của người Việt. Chắc chắn phải từ 1 sự hiểu biết và cảm thông sâu sắc trong con người của Paul, có phần khách quan và vô tư trong đó.

Ngày nay, trên cương vị của 1 nhà kiến tạo, người ta gọi những người như Paul Doumer là NationBuilder bởi trên cương vị của người đứng đầu chính quyền ĐD, ông đã đem lại cho xứ này sự ổn định vững chắc mà nó chưa từng được hưởng, 1 bộ máy chính trị và hành chính hợp lý, nền tài chính vững mạnh, cùng 1 hệ thống giao thông cơ bản. Bắt nguồn từ đó, nền kinh tế đã phát triển vượt trên mọi kỳ vọng.

Chính ông cũng tự thấy: ko phải là quá chủ quan khi tin rằng làm được điều này chính là phụng sự tổ quốc một cách hữu ích. Và những trang sách của ông là 1 chương lịch sử thuộc địa mà ông đã viết trên đất Á châu xa xôi, ở VN và các nước lân bang miền Viễn Đông. 

Qua những trang viết ko màu mè, ko khoa trương từ trí nhớ, ông hy vọng: từ toàn bộ câu chuyện, ĐD sẽ hiện lên từ 1 góc nhìn đủ chính xác về toàn cảnh của xứ này, rất tươi đẹp cùng với ý tưởng đủ đúng đắn về bản chất công cuộc thuộc địa hóa, trong nền cai trị của 1 đế quốc lớn.


Armand Rousseau (1835 - 1896), là một chính trị gia của Đảng Cộng hòa, Toàn quyền Đông Dương cho đến khi qua đời

Armand Rousseau, Toàn Quyền ĐD với cuộc chinh phục phải trả giá bằng quá nhiều máu và tiền bạc mà cái chết của mình là 1 nỗi kinh hoàng với Paul Doumer đã cho thấy: ĐD vẫn chưa được bình định hoàn toàn. 

Người tiền nhiệm của Doumer cũng là 1 bậc chính khách đáng khâm phục với tư cách của mình. Với những ai biết ông, Rosseau là người chính trực và nhân hậu, 1 nhà cai trị tích cực và cẩn trọng. Ông ra đi quá sớm, nhưng vinh quang của ông vẫn còn lại với cuộc đời cống hiến đầy thành quả, hòa hợp và thanh thản, bất chấp mọi biến cố. Dù trên cương vị kỹ sư hay chính khách, Nghị sĩ, Tổng trưởng hay Toàn quyền, ông luôn thể hiện mình là người trước sau như một, bao giờ cũng tiến thẳng về phía trước, trong tâm trí ko hề có chỗ cho sự phức tạp quanh co, xa lạ với những toan tính, ko hề nhân nhượng những đề xuất vì vụ lợi cá nhân.
Cũng như Doumer, ông là 1 người can đảm, có trí tuệ mẫn tiệp, nước Pháp có thể trao cho họ những sứ mệnh phức tạp nhất với niềm tin chắc chắn rằng: ít nhất họ cũng sẽ hoàn tất chúng trong danh dự. Ko 1 ai, dù là kẻ thù, từng nghĩ tới việc nghi ngờ sự trung thực của họ.

Chính vì sự thịnh vượng chung, sự vĩ đại của tổ quốc mà họ đã cống hiến tận lực tại ĐD. Khi thế giới già nua đang mơ ngủ, Viễn Đông bừng tỉnh giấc và bắt đầu chuyển mình. Đây là nơi các quốc gia châu Âu tràn tới tìm kiếm thuộc địa tranh đua nhau để tới trước những nơi còn trống, nơi các quốc gia này gắng sức giành lấy phần của mình trên 1 miền đất mênh mông đang dâng mình cho những ai cần cù nhất. Bắc Kỳ với nước Pháp là 1 nơi như thế, nó như 1 căn cứ ko gì sánh được lúc đó cho những hoạt động chính trị và thương mại.

Ngay trong nội bộ nước Pháp cũng có những lý do phản đối chống lại Paul Doumer trước khi ông được giao trọng trách tại ĐD, nhưng ngay cả nội các cũng ko có vấn đề gì đối với 1 thành viên phe cộng hòa đối lập bởi "chính trị chẳng có liên quan gì" (điều này thật khác với bộ máy của chxhcn VN hiện nay, từ phó phòng trở lên phải là đảng viên mới đủ tư cách đảm nhận).

Dư luận lúc đó còn đi xa hơn tới mức nói đến những khoản lương cao bổng hậu của chức vụ Toàn quyền ĐD, về sở thích và nhu cầu tiền bạc của Doumer. Nhưng ông tin rằng: tính cách và cuộc sống của gia đình ông vốn rất giản dị và luôn được ông duy trì, cũng đủ để đáp trả những lời lẽ lố bịch như vậy.

Và dù còn có những trở ngại, Doumer mong muốn được hành động, được phụng sự nước Pháp một cách hiệu quả hơn. Ông khao khát được thực hiện 1 công cuộc hữu ích, có thể rất đồ sộ, cơ hội để hiến dâng cuộc đời cho nước Pháp... tất cả những điều này đã khiến ông quyết tâm lên đường sang ĐD như ông đã thổ lộ trong lời mở đầu cho cuốn hồi ký của mình.

Paul Doumer cùng 5 người con trai. Bốn người trong số họ đã tử trận trong Thế chiến thứ nhất (Ảnh chọn từ net)

(còn nữa)