Ông Lê Duẩn là vị tổng chỉ huy đánh thắng Mỹ Ngụy và thống nhất đất nước. (copy từ FB-Nguyen Leanh)
NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN
Những dòng này, tôi xin viết cho ông trong ngày kỷ niệm 50 năm này. Bởi vì ông xứng đáng được lịch sử cúi đầu.
Tiêu đề bài viết được lấy cảm hứng từ bài trả lời phỏng vấn của tiến sĩ Lê Kiên Thành tròn 10 năm về trước: “Cha tôi không bao giờ biết vì sao mình là người được lựa chọn!” Người cha đó của tiến sĩ Lê Kiên Thành là Cố tổng bí thư Lê Duẩn. Vị tổng bí thư được đặt cho tên con đường chính của lễ đài diễu binh sáng nay: đường Lê Duẩn, con đường nối từ đường Thảo Cầm Viên đến dinh Độc Lập, con đường dài chưa tới 2km nhưng hiện thân cho 30 năm khói lửa của dân tộc để đi đến cái ngày non sông thống nhất. Và hành trình ấy được dẫn dắt bởi tài năng, sự quyết liệt, nỗi đau, nước mắt, nụ cười, thương tâm, hạnh phúc, gan dạ, lì lợm, khí phách của một con người gánh trên vai cả lịch sử nhưng đã chiến thắng ngoạn mục: Lê Duẩn.
Ông sinh ra ở Triệu Phong, Quảng Trị. Khi hiệp định Genevo 1954 chia cắt đất nước, quê hương của ông thuộc về bên kia vĩ tuyến. Cho nên câu nói “Giải phóng quê hương” với người khác có thể là lời nói mang tính biểu tượng. Nhưng còn với tổng bí thư Lê Duẩn, đó chính là trách nhiệm của người con Quảng Trị không thể để quê hương nằm trong tay giặc. Và ông là người con nói được làm được, dù việc ấy trong mắt thế giới chẳng khác gì “đội đá vá trời”, khi đó là 30 năm một dân tộc bé nhỏ đấu với Hoa Kỳ, bên cạnh sự kèm cặp của Liên Xô và Trung Quốc (tôi sẽ nói ở đoạn sau bài viết).
Từ năm 1930 đến 1946, ông hai lần bị thực dân Pháp bắt, hai lần bị đày ra Côn Đảo. Từ năm 1946 đến năm 1957, Lê Duẩn là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, là người tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Đến năm 1957, ông tập kết ra Bắc theo lệnh của chủ tịch Hồ Chí Minh để điều hành cuộc cách mạng Giải phóng dân tộc từ bộ máy trung ương. Cho nên hai chữ “Đồng đội” với một vị lãnh đạo khác có thể vừa xa, vừa gần, nhưng còn với tổng bí thư Lê Duẩn, đó chính là trách nhiệm của người đồng đội: “Tôi không thể bỏ rơi đồng đội ở trong Nam”.
Khát vọng thống nhất non sông của ông đến từ vũ lực, bằng khẩu súng, bằng nắm đấm không chỉ đi từ nước mắt quê hương, mà còn đi từ nước mắt đồng đội. Đó là sự khác biệt rất lớn của tổng bí thư Lê Duẩn. Cho nên nếu ta không đặt mình vào trong con người của ông, xuất thân của ông, nước mắt của ông, nỗi đau đớn khôn nguôi của ông, ta sẽ dễ dàng phán xét lố bịch về ông. Văn hào Nga Ylia Erenbua đã từng viết: “Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu con phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh... Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê đã trở nên lòng yêu Tổ quốc”.
Yêu quê hương đồng đội đi đến nắm đấm sắt đánh địch để giải phóng quê hương, cứu lấy đồng đội, đó là Lê Duẩn.
Và để làm được điều đó, Lê Duẩn xác định, muốn đánh Mỹ thì trước tiên phải có ba cái không sợ: không sợ Mỹ, không sợ Liên Xô, và không sợ Trung Quốc.
Không sợ Mỹ là tất nhiên, tại sao phải không sợ Liên Xô và Trung Quốc, hai đồng minh của ông khi ấy? Ngay từ năm 1954, khi hiệp định Geneva được ký kết, Lê Duẩn đã đánh giá: “Nam Bộ không tán thành, đây là do Trung Quốc và Liên Xô ép”. Năm 1955, khi bộ đội và cán bộ cách mạng tập kết ra Bắc, ông xin ở lại miền Nam. Ngày chia tay theo lời kể lại, Lê Duẩn đã nói với Lê Đức Thọ: “Anh ra báo cáo với Bác, không phải hai năm, mà có thể phải hai mươi năm nữa, tôi mới được ra gặp Bác”. Ngay thời điểm mà nhiều người ở cả miền Nam và miền Bắc vui mừng về Hiệp định Geneve. Nhưng Lê Duẩn đã khóc rất nhiều khi nhìn những gia đình miền Nam trước khi ra Bắc tập kết hẹn 2 năm sau gặp lại. Khi được Hồ Chủ Tịch giao cho nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng miền Nam. Những người thân cận của tổng bí thư Lê Duẩn đã kể lại rằng: “Anh Ba mất ba đêm không ngủ để suy nghĩ về thái độ của Liên Xô, Trung Quốc, rằng họ giúp mình nhưng có chi phối đường lối chiến tranh của mình không? Đó là cái gay gắt nhất”.
Và đó là lý do TBT Lê Duẩn hành động.
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, chiến tranh bắt đầu leo thang, quân đội chính quy của miền Bắc cũng bắt đầu vượt vĩ tuyến 17, đi qua đường Hồ Chí Minh để vào nam bắt đầu trận chiến giải phóng dân tộc. Người dẫn đầu cuộc chiến này chính là vị tướng đứng đầu trong phái chủ chiến tại Quân Đội miền Bắc: tướng Nguyễn Chí Thanh. Đi sau lưng tướng Thanh là vị tướng đánh trận giỏi nhất lịch sử Việt Nam thời hiện đại: Lê Trọng Tấn. Chưa kể còn có Hoàng Cầm và Trần Độ. Bản thân TBT Lê Duẩn cũng vạch ra kế hoạch táo bạo của mình được gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy”, sau này là “Chiến dịch Quang Trung” năm 1968. Về đối nội trong Đảng, ở cương vị nắm quyền lực cao nhất Đảng, và được Bác Hồ chọn làm người kế nhiệm, TBT Lê Duẩn gần như cũng thay thế hoàn toàn nhóm “quá thân với Trung Quốc”, hoặc nhóm “quá thân với Liên Xô”. Đương nhiên cũng giống cuộc cách mạng ở ngoài chiến trường, thì cuộc cách mạng nhung này cũng có thương đau, vụ án “Xét chống lại Đảng” năm 1964 ấy về sau có lẽ cũng là một trong những lý do đẩy ông đi vào trong sự phán xét của hậu thế. Nhưng tôi nghĩ, ông chấp nhận tất cả. Chỉ có như thế, ông mới chấm dứt được những khác biệt trong quan điểm về đường lối cách mạng sau này về chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường đấu tranh vũ trang, chỉ có như thế chiếc tăng 390 mới có thể húc được cổng Dinh Độc Lập mà không bị ngăn lại bởi một cuộc điện thoại nào khi đoàn quân đang thần tốc về Sài Gòn. Nhắc lại, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Lê Duẩn, chứ không phải chọn Phạm Văn Đồng, Trường Chinh hay Võ Nguyên Giáp kế vị mình. Tướng Võ Nguyên Giáp khi lịch sử cần, cũng đã gác hết tất cả để nắm lấy binh phù, vạch binh chiến lược cho Đại thắng mùa xuân 1975.
Quay lại câu chuyện, tất cả đều đúng với những gì TBT Lê Duẩn nhận định. Đến năm 1972, dưới bàn tay đạo diễn của Henry Kissingger, tổng thống Mỹ Nixon sang thăm Trung Quốc. Chuyến thăm không chỉ gây phẫn nộ từ Sài Gòn, mà từ Hà Nội, TBT Lê Duẩn cũng xác định được sự sáng suốt trong những hy sinh của ông từ năm 1964 (và kéo dài cho đến cả hôm nay), ông đã nhìn được lá bài của các nước lớn dành cho các nước nhỏ: họ chỉ cần lợi ích, sẵn sàng bỏ rơi đồng minh, và một Việt Nam bị chia cắt sẽ vĩnh viễn ở mãi thế chư hầu mới là điều họ cần.
Nhưng cái hay của Lê Duẩn là không vì sự nóng giận đó mà đánh mất đại cục. Suốt 30 năm chinh chiến ấy, ông không để mất lòng cả Trung Quốc lẫn Liên Xô. Vẫn tận dụng được viện trợ của cả hai cường quốc này, vẫn giữ được tính chất độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Mà nên nhớ đây là điều cực kỳ khó, tất cả các cuộc hội đàm của VN với các nước xã hội chủ nghĩa khi ấy đều chỉ nhận về những ánh mắt nghi ngờ: họ không tin VN thắng Mỹ, họ sợ chiến tranh thế giới thứ III sẽ xuất phát ở đây. Nhưng họ không đặt mình vào trong cảm giác của người Việt Nam, của Lê Duẩn, của Nguyễn Thị Bình…. Và đó là cái sai của họ. 50 năm sau, họ vẫn sai, họ vẫn phán xét TBT Lê Duẩn trong sự dũng cảm can trường mà ông và những người đồng chí của ông đi trong hành trình đầy xương máu đó, trong những mất mát của 30 năm và cả Mậu Thân 1968 để rồi lấy những Hàn Quốc, hay CHLB Đức để lên mặt dạy dỗ. Nhưng nếu nhìn cảnh cả hàng nghìn con người xếp hàng qua đêm để xem diễu binh hôm nay, để ôm lấy lá cờ tổ quốc, để khóc và được cười thì họ sẽ hiểu hơn về những con người nhỏ bé, yêu đất nước nhỏ bé này tha thiết đến dường nào. TBT Lê Duẩn âm thầm đi một con đường giữa, gai góc, nguy hiểm, đầy máu và nước mắt, đầy súng đạn gươm đao, và cả bia miệng cuộc đời, nhưng ông đã đi được. Ngoài ông, không có ai đi nổi con đường khó khăn ấy.
50 năm đủ dài để thấy TBT Lê Duẩn đã không sai, non sông đã lựa chọn ông để lèo lái dân tộc qua khúc ngoặt lịch sử ấy. Còn ông thì công lao khủng khiếp mà nhường cho người khác, chấp nhận mọi đánh giá, vẫn ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Và những bi thương lịch sử cứ để ông gánh, im lặng, không giải thích.
Con gái ông Lê Duẩn, bà Lê Thị Muội, viết trong hồi ký: “Gần trưa 30/4/1975, tôi hay tin là ta đã chiếm Dinh Độc Lập. Tôi hấp tấp ra khỏi Viện Di truyền, phóng xe máy về nhà và lao thẳng vào phòng ba tôi. Ở đấy, một mình ba tôi đang ngồi lặng lẽ. Người ngước mắt cười với tôi, rồi nước mắt bỗng trào ra. Đột nhiên, tôi thấy thời gian như ngưng lại và ánh sáng trong căn phòng cũng không còn là thứ ánh sáng thông thường của trời đất nữa…”
Người đã mang những gánh nặng khủng khiếp đè trĩu lên vai ông, vẫn dám cõng lấy nó, để dìu dắt non sông đi đến ngày khải hoàn.
Xin kết bài bằng 2 câu thơ này, lịch sử dân tộc ta, anh hùng thì nhiều nhưng người xứng đáng với 2 câu thơ này chắc chỉ lơ thơ vài người, trong đó có TBT Lê Duẩn:
“Trả món nợ non sông trước mắt
Mặc đời sau thiên hạ luận bàn”.
(Dũng Phan, 30/4/2025)
No comments:
Post a Comment