Wednesday, October 13, 2021

N G U Y Ễ N K H Ả I

 1

Yaroslavsky Vokzal là một ga lớn ở Moskva. Nó nối liền miền đông nước Nga mênh mông với Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam cùng hệ thống, thêm Vương quốc Lào có phớt qua tí nước sơn xã hội chủ nghĩa. 

Đứng ê càng trên ke mới thấy con tàu Bắc Kinh-Moskva lừng lững hiện ra, đèn pha sáng quắc, còi hú điếc tai, chậm một giờ.

Tôi nhận ra ngay dáng lộc ngộc của Nguyễn Khải trong đoàn người lỉnh kỉnh hành lý từ trên tàu bước xuống. Tôi chạy lại, ôm lấy anh. Tháng trước, ở Hà Nội, chúng tôi đã ngoắc tay hẹn gặp nhau ở Moskva. Ngoắc thì ngoắc chứ tôi không mấy tin lời thì thào với giọng quan trọng của Khải, rằng chuyến này chắc chắn anh sẽ được đi.

Tôi không tin là phải. Không tin là thường. Tin là hiếm, rất hiếm.

Lão trượng Nguyễn Tuân cũng từng ghé vào tai tôi mà thì thào về một chuyến xuất ngoại không thành của ông. 

Vào những năm xa xưa chuyện đi ra nước ngoài cực khó. Ấy là nói về cán bộ thôi, chứ dân thường chả ai phát rồ để đầu đơn xin xuất ngoại. Đi đã chẳng được, mà hậu quả thì không biết sẽ thế nào - xấu là cái chắc, khác nhau ở chỗ xấu nhiều hay xấu ít mà thôi. Được trên cho đi rồi cuối cùng đi trót lọt là nhờ cái số. Ai không ngu cũng hiểu: đất nước mình là cái cũi, dân lúc nhúc bên trong, “trên” thả đứa nào ra biết đứa ấy. 

Vì thế, người biết tin mình được mời đi dự một hội nghị quốc tế chẳng hạn thường chỉ để bụng thôi, không dám hé răng. Nói ra miệng rồi mà phải ở lại thì ê cái mặt. Không hiếm trường hợp đã xách va li ra cửa rồi, chân đã bước lên xe rồi, thế mà đùng một cái, đúng lúc ấy, lại có lệnh: Hoãn! 

Hoãn là hoãn, có thể tạm, mà cũng có thể là không bao giờ. Chưa kể những lời bình luận về của thứ lý do về sự hoãn ấy. 

Một lần, mấy độc giả người Việt ở Paris mê tác giả của Chùa Đàn, Vang Bóng Một Thời đã mua vé mời Nguyễn Tuân qua chơi. Được lời như cởi tấm lòng, nhà văn vui lắm lắm. Là đảng viên, ông không đầu đơn, nhưng phải báo cáo lên “trên”, xin cho ông đi. Ở tầm cỡ Nguyễn Tuân mà xin thì “trên” đây trên cùng, không còn cái “trên” nào cao hơn. 

Ông hào hứng thì thào với tôi: Các anh ở “trên” bảo ừ, được đấy, hay đấy, ông cũng nên đi Paris một chuyến cho vui. 

Thế mà đúng hai ngày trước khi lên đường, chủ tịch Hội nhà văn Nguyễn Đình Thi đến tận nhà, ghé vào tai ông: “Các Anh Ấy bảo thôi, ông ạ, đi bây giờ không có lợi”. Các Anh Ấy ấy là ai, không có lợi là thế nào, Nguyễn Tuân không cần Nguyễn Đình Thi phải giải thích. Cái chức mà Nguyễn Đình Thi có được nghe thì to, nhưng chả có kí lô nào trong chuyện này. “Các Anh Ấy” đã phán thế rồi, là xong, là chấm hết. 

Nguyễn Tuân đành vuốt bụng thoái thác: “Tôi hồi này không được khoẻ. Thôi, để khi khác vậy”. Cái khi khác ấy rồi không bao giờ có. Rốt cuộc, văn gia họ Nguyễn đành mang xuống tuyền đài ước muốn được thấy Paris một lần. Chẳng bao giờ ông được thấy Paris. 

Bức điện xin kiếu được đánh đi miễn phí.

Tôi lo Khải không được đi vì lý lịch – anh là con quan. 

Người nào ở miền Bắc Việt Nam thời ấy đều biết lý lịch là cái gì, nó quan trọng đến thế nào. Khải không giấu anh là con quan, lại là quan tuần phủ thì phải, tuy anh chẳng phải con chính thất. Khốn nỗi, anh được ông quan nuôi trong nhà, cho ăn cho học, không phải con quan là con gì. 

Nhưng Khải đã đi được. Nhưng là chỉ đi tới nước anh cả trong “phe ta” mà thôi.

Không hiểu sao khi nhớ tới những kỷ niệm với Nguyễn Khải thì cuộc gặp gỡ này lại hiện ra đầu tiên. Cái đó hẳn có cái lý của nó. Thôi thì đã viết về Nguyễn Khải thì cứ viết, nhớ gì viết nấy, chẳng so đo lựa chọn chuyện này chuyện kia làm gì.  

Kỷ niệm là kỷ niệm, có thiếu có đủ, có sai có đúng. Nhớ gì ghi nấy, vậy thôi.

Khải không nằm trong danh sách đoàn đại biểu Việt Nam đi dự Festival thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ sáu tổ chức tại Moskva. Khải không phải đoàn viên thanh niên, không phải sinh viên, danh chính ngôn thuận anh không có chân trong đoàn. Nguyễn Khải đi được là do tờ Văn nghệ Quân đội cử đi. Nhiệm vụ của anh là viết phóng sự. 

Về khách sạn, Khải bảo tôi ngủ lại đấy, sáng mai dẫn Khải đi chơi thành phố. 

- Hỏi chúng nó một tiếng đã – tôi ngần ngại - Mình ở lại không tiện.

- Kệ mẹ chúng nó, mình có phải đoàn viên đâu – Khải nói – Cứ ở lại. 

Dẫn đoàn là hai tay tai to mặt lớn của tổ chức thanh niên. Trưởng đoàn là Vũ Quang, tôi không nhớ chắc. Phó là Ngô Vĩnh Viễn, một trí thức cao lớn, quan dạng, tiếng Tây làu làu, được đảng tín nhiệm, một ngoại lệ hiếm hoi. 

Thấy tôi ở lại đêm, mặt Viễn sa sầm, nhưng không nói. Chẳng gì Viễn cũng biết tôi từ Đại hội Thanh niên Cứu quốc năm 1950.

Đêm ấy tôi ngủ không ngon – hai thằng đàn ông nằm trên cái giường cho một người vừa chật vừa khó chịu – Khải ôm tôi suốt đêm, tay lại hay mó máy. Người Nga thấy sẽ tưởng là hai thằng đồng tính.

Sáng sớm hôm sau tôi dẫn Khải ra quảng trường Đỏ, được thiên hạ quen gọi là Hồng Trường. Khải tiếc hùi hụi - không có cái máy ảnh nào để chụp vài pô kỷ niệm. 

Bù vào đấy, khi được tôi giải thích rằng trong tiếng Nga, cổ cũng như kim, chữ “hồng” (đỏ) chỉ trần xì nghĩa là đẹp, là mỹ miều, chứ chẳng dính dáng tới cách mạng cách miếc gì hết thì Khải khoái lắm: “Thế mà màu đỏ được coi là màu của riêng cách mạng đấy, ông ạ – Khải nói - Không màu nào được tranh chỗ của nó. Một thứ priorité (ưu tiên) độc quyền. Thối kinh! ” 

Buổi sáng mát rượi. Chúng tôi lang thang trong dòng người tấp nập trên phố phường thủ đô nước anh cả phe xã hội chủ nghĩa. No nê con mắt rồi, Khải chợt nhớ ra, hối tôi dẫn tới Kuznetsky Most (phố Cầu Thợ Rèn). Đây là nơi duy nhất có nhiều cửa hàng bán sách cũ bằng tiếng nước ngoài. 

Nguyên Ngọc đã tới Moskva vài lần, có kinh nghiệm, khuyên Khải đến đấy ngay lập tức khi tới Moskva kẻo sau không có thời giờ. 

Hôm ấy, Khải tiêu sạch số tiền được phát cho đoàn viên, còn lấy thêm ít rúp của tôi nữa mới đủ mua số sách tìm được. Về đến khách sạn Khải lập tức tót lên giường, giở hết cuốn này đến cuốn khác, đọc nhảy cóc. Cái cách đọc này rất chi là Khải. Chỉ sau khi bị cuốn hút vào một cuốn nào đấy anh mới đọc nó thật kỹ.

2

Trước ngày khai mạc Festival, Khải kéo tôi ra chỗ vắng, im lặng một lúc, tần ngần một lúc lâu, rồi bảo:

- Mình tính thế này, cậu ạ: mỗi đại biểu được phát một huy hiệu, một thẻ. Cậu đeo huy hiệu, mình cầm thẻ, cậu tìm cách nhập vào các đoàn mà xem Festival, mình nằm nhà đọc sách. Có thẻ, mình không đói, nhà ăn thì ở ngay khách sạn.

Tôi ngớ ra:

- Sao lại thế? Cậu được phân công viết về Festival cơ mà. Cậu không xem thì sao viết?

- Mình không viết thì cậu viết – Khải tỉnh bơ - Miễn có bài.

Tôi không hiểu tại sao Khải xử sự như thế, cả lúc ấy, cả bây giờ. 

Hẳn đã xảy ra chuyện Ngô Vĩnh Viễn cự nự chuyện tôi ngủ lại, chuyện Khải đi chơi không báo cáo. Tức khí, Khải không thèm đi nữa, quyết định nằm nhà. Cái tính lì, sau mới biết, là một tính cách đặc biệt ở Khải. Không bằng lòng cái gì, Khải câng câng cái mặt, không nói không rằng.

Sáng kiến của Khải thế mà hay – với huy hiệu trên ngực, tôi chặn xe bus chở đoàn Nhật trên đường vào sân vận động Lenin. Lái xe Nga tưởng tôi là người Nhật, các bạn Nhật tưởng tôi là người một đoàn châu Á nào đi lạc, lôi tuột tôi vào xe, hô rầm rĩ “Druzba! Mir!” (“Hữu nghị! Hoà bình!”). 

Một cái may bất ngờ khác - các bạn ở Xưởng phim Tài liệu trung ương Moskva mừng rỡ túm được tôi – một cameraman bất thần bị đau ruột thừa phải cấp tốc chở đi bệnh viện. Với máy quay Konvas trên vai, tôi đi lung tung trong sân vận động. Người trong đoàn Việt Nam trợn mắt – sao tôi lại có mặt? Số là khi chọn đại biểu sinh viên Việt Nam ở Moskva đi dự đại hội thì tôi đang ở trong nước quay phim “Ánh Sáng Tháng Mười”. 

Festival to, có tới 131 quốc gia với 34.000 đại biểu tham dự. Khách nhan nhản, khoác quần áo dân tộc đủ kiểu đủ màu sặc sỡ, đi đâu cũng gặp. Thành phố đêm cũng như ngày, đèn đuốc sáng trưng, loa to loa nhỏ oang oang, ồn ào kèn trống ồn ào, góc phố nào cũng có tiết mục nghệ thuật của các đoàn giới thiệu văn hoá nước mình, cái nào cũng đáng xem, cái nào cũng độc đáo. 

Moskva trong những ngày ấy biến thành Babylon không có mâu thuẫn ngôn ngữ. 

Tôi chạy như đèn cù, thế mà cũng chỉ xem được một phần những gì tôi muốn xem. Mấy lần về  khách sạn tôi thấy Nguyễn Khải vẫn nằm yên, sách ngổn ngang dưới chân giường.

Hay là thế, vui là thế, mà Khải bỏ, không xem. Anh chàng này thật kỳ cục. Chèo kéo mãi Khải mới chịu rời những cuốn sách để đi coi một buổi diễn của nhà hát múa rối Obraztsov. Nhà hát này không chỉ nổi tiếng ở Moskva. Nó nổi tiếng khắp thế giới. 

- Hay! Nhưng bớt hay đi một tí thì tuyệt – Khải nhận xét – Những con rối quá khéo, quá tài tình, đến nỗi khán giả quên bẵng vở diễn, muốn vỗ đùi cái đét mà khen: “Thằng nào con nào điều khiển những con rối ở hậu trường sao mà giỏi thế, sao mà tài thế! Lần sau đến đây mình phải xem vài buổi nữa mới đã. Rối đấy, giả đấy, nhưng còn hơn nhiều diễn viên người thật biết đọc thuộc lòng đài từ không cần người nhắc vở. Bớt khéo đi một tí thì hay hơn.

 Hóa ra Khải là một khán giả khó tính. Nghệ thuật là cái vừa phải. Thiếu không được. Quá thì hỏng. 

Festival rồi cũng bế mạc. Trước ngày đoàn về, tôi phải thức đêm để hoàn thành cấp tốc bài ký về festival thay cho Khải. Khải thản nhiên đút nó vào túi dết, bước lên tàu, vẫy tay chào tôi. 

3

Trưa hè. 

Tôi đang nằm khàn ở nhà đọc Erich Maria Remarque thì nghe tiếng bước chân chạy nhanh trên thang gác. Nguyễn Khải đẩy cửa, xộc vào, mặt đỏ gay:

- Ê, dậy, dậy, thằng lừa đảo!

Tôi trợn mắt nhìn Nguyễn Khải. 

Ngồi phịch xuống bên tôi, Khải cười toác:

- Ngạc nhiên hả? Cậu là thằng lừa đảo có hạng.

- Lừa ai? Lừa cái gì? 

- Mình đọc Đêm Mất Ngủ của cậu. Cậu viết: “Những viên cuội tròn lẩn tránh chân anh và khi anh đi qua chúng lại chen chúc nhau nằm vào chỗ cũ”. Là cậu tả cái thằng mất ngủ của cậu lang thang ở trước viện bảo tàng lịch sử ấy… Đúng không nào?

- Ừ, thì sao?

- Còn thì sao nữa. Cậu bịp. 

- Nói tiếp đi.

- Mình nhớ: trước viện bảo tàng không có sỏi. Mới nghĩ: hay là mình nhầm? Phóng ngay ra xem lại thì đúng phóc, ở đấy sỏi đâu mà sỏi, phẳng lì. Rõ to đầu còn mắc lỡm.

Hiểu ra, tôi bật cười:

- Đáng kiếp!

- Lão Hoàng Xuân Nhị phang cậu: “Vũ Thư Hiên phất cao ngọn cờ ấn tượng chống lại đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa” là đúng lắm. 

Tôi không tưởng tượng Khải chịu khó đọc kỹ đến thế.

- Mình không có ý định. Câu văn tự nó nhảy vào – tôi nói – Ấn tượng chủ nghĩa là một cái mũ chụp lên đầu kẻ viết phi chính thống. Chẳng có cái thòng lọng của bất cứ chủ nghĩa nào tròng được vào cổ mình đâu. 

- Thế mới phải! – Khải tán đồng.  

Chúng tôi ồn ào kéo nhau đi “Lâm Toét”. 

Đó là một quán cà phê nổi tiếng. Chủ quán tên Lâm, mắt có hơi kèm nhèm, nhưng không toét. Toét là biệt hiệu phóng đại, cho vui. Lâm Toét đặc biệt quý khách thuộc giới hoạ. Họ có thể đến quán ông uống cà phê, ăn sáng ghi sổ, bao giờ có tiền trả cũng được. Không có tiền thì mang tranh đến gán, Lâm Toét vui vẻ nhận, không so kè bẻ măng. Nhờ thế, ông có một bộ sưu tập tranh phong phú không kém gì Đức Minh, nhà sưu tập danh tiếng từ thời Pháp. 

Tôi cũng khách quen của Lâm Toét. Tôi đến đấy ăn sáng, uống cà phê thường xuyên, nhưng là đi “che tàn”, người trả tiền là các hoạ sĩ. Túi tiền của tôi không rủng rỉnh, tôi không có gì để gán cho Lâm Toét. 

Với Lâm Toét tranh có giá, văn thì không. Người bao tôi nhiều nhất là hoạ sĩ Nguyễn Sáng. Anh thường đến tận nhà kéo tôi theo, réo ầm ầm dưới đường: “Đi Lâm đi!”. Từ tầng hai, tôi hét xuống “Đợi tí!”. Con người độc thân lôi thôi lếch thếch, sơ mi ngoài quần, ống thấp ống cao, ghếch xe bên hè, kiên nhẫn đợi. 

“Đi Lâm đi!” là cách gọi tựa ngày xưa thiên hạ hè nhau “Đi Trô đi”, tức là đi hút thuốc phiện ở tiệm ông Trô. Nguyễn Tuân đã ghi lại cách bè bạn gọi nhau ấy, không nhớ ở tuỳ bút nào.

Uống cà phê xong, tôi và Khải bất ngờ được Lâm Toét mời lên gác. 

Vinh dự này chỉ có khi Lâm Toét đặc biệt cao hứng. Mà Lâm Toét chỉ đặc biệt cao hứng khi mới có những bức tranh ông ông thấy là tuyệt đẹp, nhất thiết phải khoe. 

Phòng trên của Lâm Toét hẹp, trần thấp, thiếu ánh sáng, nhưng đầy tranh – chúng được treo la liệt trên tường, thiếu chỗ thì cho tựa lưng vào tường. Lâm Toét có con mắt tinh đời trong thẩm tranh. Ông phân biệt rõ ràng tranh sáng tạo với tranh đường mòn. Lâm Toét không khi nào  đánh giá tranh theo diện tích như XUNHASABA (tên tắt của công ty Xuất Nhập Khẩu Sách Báo) – tranh càng to thì giá càng cao.

Chúng tôi được uống cà phê tự tay Lâm Toét pha, được hút Gold Flake, thứ thuốc lá ngoại hiếm hoi không rõ xuất xứ từ đâu, phải biết luồng mới mua được. Đồn rằng nó được tuồn ra từ lãnh sự quán Indonesia.

Lâm Toét lẳng lặng dõi theo cái nhìn của khách. Thấy khách dừng lại lâu ở một bức tranh nào đó, gật gù, nghiêng ngó, là Lâm Toét sướng. 

Ra về, đang đạp chậm bên tôi, Khải đột ngột lái vào vỉa hè, buộc tôi phải dừng theo.

- Làm tí chè chén đã.

Ngồi ở quán nước vỉa hè đầu đường Tràng Tiền rẽ sang Phan Chu Trinh, Khải vừa thổi chén trà nóng hổi, vừa lơ đãng nhìn người qua lại, trầm ngâm:

- Này, cậu nghĩ thế nào? Người ta sai, hay người ta ngu, khi bắt chúng ta nhất nhất phải tuân thủ nguyên tắc sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa?

Tôi im lặng. Như mọi người, tôi ngại, tôi tránh chuyện chính trị và mọi thứ dính dáng tới nó. Hiện thực xã hội chủ nghĩa, với tư cách đường lối, phương pháp sáng tác, là thứ thời thượng, được trương lên như ngọn cờ dẫn đường cho văn nghệ sĩ. Gắn hai chữ chủ nghĩa vào đấy, nó không phải chính trị còn là cái gì. 

Tôi còn ngại Khải nữa. Dù sao thì Khải cũng là người của đảng, còn tôi đã không ở trong đảng thì chớ, lại còn là kẻ bị đảng lườm. Chả thế mà khi ghi danh ra đảo Cồn Cỏ thời chiến tranh, người ta cho Khải đi, nhưng tôi bị gạt. Hẳn họ sợ nếu bất thình lình Cồn Cỏ bị chiếm thì tôi sẽ chạy theo Mỹ.

Khải tiếp tục triết lý: 

- Hiện thực là hiện thực, phải không nào? Không có hiện thực xã hội chủ nghĩa thì Balzac vẫn sáng tác, vẫn sống nhăn cho tới tận bây giờ. Không thể hiểu được người ta dính cái chủ nghĩa vớ vẩn vào đấy làm gì. Mà ông Gorky viết được Trái Tim Danko với Bà Lão Izerghin hay không tả cũng tán thành nó mới kỳ chứ.

Tôi thận trọng:

- Mình may mắn, chẳng được chủ nghĩa nào ngó đến – tôi nói – Viết, theo mình, chẳng qua là vẽ vào giấy điều mình muốn nói, sao cho nó có hình hài, để mình thấy được nó và người khác cũng thấy được nó, chung quy chỉ là sự chia sẻ tâm tư không nói ra không được. Không biết cậu thế nào, chứ với mình nó đơn giản là thế, không hơn. Mình cóc cần chủ nghĩa nào. 

Lại chủ nghĩa rồi, dù là chủ nghĩa văn chương, tôi né. Người sở hữu chủ nghĩa này nhìn người theo chủ nghĩa kia như kẻ thù. Họ lăn xả vào nhau, choảng nhau chí chết, chỉ để chứng tỏ lẽ phải thuộc về mình. Có mà điên mới dính vào những của nợ ấy.

Không phải tôi không tin Khải. Nhưng tôi phải giữ mình. Như mọi người, ai cũng thế, vào cái thời đầy hiểm hoạ. 

- Xem tranh Bùi Xuân Phái mình hiểu ra: cái quan trọng số một của nghệ thuật là nghệ sĩ phải nhìn sự vật bằng con mắt của mình, thể hiện nó theo cách của mình. Hoạ sĩ không thể nhìn bằng con mắt vay mượn của người khác - Khải không dừng được cơn bùng nổ triết lý – Nói thật: trong lĩnh vực hội hoạ hiểu biết của mình là zero. Mình không biết và cũng chẳng hiểu cái đẹp của các thứ trường phái lập thể, nguyên sơ, dada, dã thú, vị lai là cái cóc khô gì. Cái mình biết là sức mạnh của nghệ thuật không ở cái gì khác ngoài sự phải gây được ấn tượng, để lại ấn tượng trong người đọc, người xem. Bùi Xuân Phái đem cái ấn tượng cá nhân lên khung vải, bằng màu sắc, bằng đường nét, gây ra một ấn tượng mạnh mẽ có sức lan tỏa không cưỡng nổi. Mái nhà Hà Nội đâu có xiêu vẹo, nhấp nhô đến thế, đâu có màu nâu đậm đến thế, phố xá đâu có đìu hiu đến thế. Nghệ sĩ trước hết phải có tình yêu với cái mình miêu tả. Tình yêu phố xá, bến sông, cánh đồng, bầu trời… cũng là tình yêu chứ, sao không? Gọi Bùi Xuân Phái thuộc trường phái nào cho đúng? Ấn tượng đi, được chứ? Mà thôi, cũng giống cậu, mình chả chơi cái thói ghép nghệ sĩ vào chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ. Nghệ thuật là nghệ thuật. Làm chó gì có thứ nghệ thuật phản ánh sự vật “trong chiều hướng phát triển của nó” như cái hiện thực xã hội chủ nghĩa ấm ớ kia đòi hỏi. Văn cũng thế. Theo cái chủ nghĩa được quảng cáo là tuyệt vời ấy mà viết ắt nhà văn phải kiêm nghề thầy bói để đoán sự vật sẽ là như thế nào trong tương lai. Mà phải là tương lai trong cái chiều hướng phát triển tích cực kia, khốn nạn là thế. Dễ bói nhầm lắm.

Nguyễn Khải cố ý nói bậy với hai chữ bói nhầm.

Về sau, cũng là phải về sau kia, nhớ lại những mẩu tâm sự vụn giữa hai chúng tôi, Nguyễn Khải cho tôi thấy một Nguyễn Khải khác với Nguyễn Khải trên văn đàn, nơi Nguyễn Khải được nhìn nhận như một nhà văn “lãng mạn cách mạng” với niềm tin sắt đá vào một tương lai sán lạn của chủ nghĩa xã hội. Và những câu nói ngược với niềm tin Khải nói ra, xét cho cùng, chỉ là sự bộc bạch những suy tư không thể không nảy ra trong một cái đầu thông minh.

4

Một lần khác, sau khi đọc truyện ngắn Ghi Chép Bên Phà của tôi, Khải bảo:

- Cậu có cái tài - ấy là trong bất cứ hiện tượng nào, sự vật nào, cậu cũng nhìn thấy, cũng tìm ra mặt tốt trong đó. Tớ thì ngược lại – tớ nhìn thấy cái xấu trước đã. Rồi tớ có viết về cái xấu ấy hay không là chuyện khác.

Khi nào có bầu tâm sự, hoặc buồn phiền, thì Khải đột nhiên tìm tôi, cố ý tìm, chứ không phải ngẫu nhiên đến. Và không cậu tớ nữa, mà ông ông tôi tôi, cứ như thể muốn gây sự.

Ghi Chép Bên Phà chưa từng xuất hiện trong nguyên bản tiếng Việt. Nó được in thẳng bằng tiếng Pháp trong một tập truyện ngắn của nhà xuất bản ngoại văn. Nó rồi mất tăm mất tích.  Việc Khải đọc nó đối với tôi là chuyện bất ngờ. Trong số bạn bè cùng thế hệ, tôi biết hai người rất chịu khó đọc và đọc nhiều nhất bất cứ cái gì để trở thành uyên bác là Nguyên Ngọc và Nguyễn Khải. Bên cạnh hai trái núi ấy, tôi là con chuột.

Ghi Chép Bên Phà là chuyện một anh trưởng bến trong thời gian chiến tranh ác liệt đã vượt mọi quy tắc, dám cho một chuyến xe không thuộc bất cứ dạng ưu tiên nào được đi trước cả một đoàn xe ưu tiên đang xếp hàng dài chờ sang sông. Nó là chuyến xe chở búp bê và sách vở cho học sinh vào vùng đang có chiến sự.  

Gần Nguyễn Khải, tôi hiểu ra nét đặc thù trong cách nhìn của anh. 

Con mắt mỗi người do trời sinh. Hoặc do hoàn cảnh xã hội tác động vào quá trình trưởng thành. Chuyện này khó lý giải. Tôi từng gặp những người có xu hướng thấy phần xấu ở người khác trước khi biết đến phần tốt. Theo tôi, họ là những người không may. Với cái nhìn ấy, họ để mất rất nhiều cái đáng lẽ họ có được, tình bạn chẳng hạn. Tôi không khẳng định Khải là một người như thế, nhưng hao hao thế có lẽ đúng. 

Khải ít có bạn thân. Tình bạn giữa hai chúng tôi là thế nào tôi cũng không dám nói chắc – thân không thân mà sơ cũng không sơ, hoặc lúc thân lúc sơ, khó xác định. Giữa đám đông anh có bộ mặt khác - đàng sau nụ cười vô nghĩa với bất cứ ai và với mọi người, là một cái gì đó không thể biết, dưới cử chỉ vồ vập kia rất có thể là tâm trạng lạnh lùng. 

Khải hay tìm tôi để tâm sự là có thật. Trong những lần gặp ấy, tôi biết một Khải không màu mè, không vờ vĩnh. Những cuộc gặp như thế không bao giờ có thể biết trước, Khải đến như một cơn gió, ào tới rồi ào đi. Anh đến với tôi có lẽ vì tôi là người chịu chuyện, với tôi anh có thể trút bầu tâm sự. Anh nghĩ tôi hiểu anh hơn người khác chăng, tôi không dám chắc. Nhưng điều Khải biết chắc là tôi không có thói đưa chuyện. Nói với tôi, anh không cần thận trọng. Vào thời ấy mọi người đều sợ kẻ đưa chuyện, kể cả kẻ đưa chuyện vô tâm. Mọi lời nói qua nói lại vô tình bay đến những cái tai chăm chú dễ mang đến tai vạ. Khải không ngoại lệ. Anh cũng biết sợ. 

Cái đặc điểm nhìn thấy cái xấu trước cái tốt, người tinh đọc anh vẫn thấy. Trong những tác phẩm của mình, thỉnh thoảng anh lại điểm vào chân dung nhân vật chính diện vài nét không ra gì. Khải viết theo thời, là điều ai cũng biết. Nhưng anh không đừng được để thỉnh thoảng lại lộ ra cái mà anh thấy. Chính anh về sau cũng thú nhận: “Cái buồn cười là sự trái nghịch trong cùng một người, kẻ vô luân nói chuyện đạo đức, tên ăn cắp dạy dỗ phải bảo vệ của công, người hống hách lại là tên nịnh bợ bậc nhất”.

Viết về vùng Thiên Chúa Giáo, Chu Văn có “Bão biển”, Nguyễn Khải có “Xung đột”, “Mùa lạc”. Bão Biển của Chu Văn bị người ta bỏ quên, Nguyễn Khải được giới phê bình khen lấy khen để. Biết tôi trong thời thơ ấu sống trong một làng công giáo toàn tòng, anh muốn nghe tôi nhận xét. 

- Ông tả hay – tôi nói - Nhưng đúng thì không. Chẳng có người đi đạo nào cứ mở miệng là kêu Chúa như ông viết. Ông không thể không biết trong Mười Điều Răn thì điều thứ hai là: “Chớ kêu tên Đức Chúa Lời vô cớ”.

- Ông tưởng tôi không biết à? Tôi phải tả thế mới được - Khải nheo mắt trong nụ cười tinh quái - Để sau này người ta phán cho một câu: “Chẳng biết đếch gì về đạo Chúa cũng viết”. Để cho người ta nhìn ra cái sự viết theo thời của tôi nó là thế nào. 

Hiểu được cái láu cá của anh chàng này thực không dễ.

Một lần khác, tôi thấy cái nhìn xấu trước, tốt sau của Khải.

- Ông có thấy Thanh Tịnh trả tiền lần nào khi đi với chúng mình chưa? – dắt xe ra khỏi nhà hàng Phú Gia ở Bờ Hồ sau một chầu bia có mặt Thanh Tịnh, Khải nhận xét – Chưa, phải không nào? 

Tôi ngỡ ngàng:

- Ờ…, quả có thế. Mình không để ý.

Khải cười hì hì:

- Ông là thằng lơ lửng trên mây. Ông chẳng để ý đến cái đếch gì hết. Ông khoái viết cái ông nghĩ ra, ông bịa ra, ông không chịu chú mục quan sát cái chỉ riêng ông thấy. Mà ông thấy ít lắm, nói ông đừng giận.

- Ông tinh, tôi công nhận. 

- Tay này chúa ăn chạc, uống chạc. 

- Ai cơ.

- Tôi đang nói về Thanh Tịnh mà.

Nhận xét của Khải sao mà lặt vặt, sao mà ác. 

- Làm gì đến nỗi thế - tôi nói – Ông ấy cũng vô tâm thôi. 

Chúng tôi thường có những bữa tụ hội tình cờ, tan cuộc thì một người nào đó sẽ trả tiền cho cả bọn. Người nào đó ấy là người vừa lĩnh nhuận bút một cuốn sách, hoặc một bài báo. Túi chúng tôi thường rỗng, mọi người đều rách như nhau trong một xã hội cào bằng, nhưng chúng tôi sống hào sảng, không keo kiệt. 

- Tại anh em mình tranh trả trước đấy chứ - tôi nói – Đàn em trả cho đàn anh, có sao.

Nguyễn Khải nhìn vào mặt tôi mà cười tiếp. 

Nụ cười chê bai, nụ cười khinh khi, ra cái điều tôi ngây thơ, tôi ngớ ngẩn. Nụ cười ấy là cái tôi không thích ở Khải. 

5 

Tôi có một ông bạn văn già, tiên phong đạo cốt, khinh và ghét Nguyễn Khải lắm:

- Anh em mình chẳng thằng nào bén gót nó. Này nhé: khi còn sống nó được đảng tin cậy, chiều như chiều vong, viết cuốn nào in cuốn ấy. Chẳng bù lũ chúng mình. Nó còn hèn nữa. Anh em bị đánh, nó không hó hé nửa lời.

Vơ tôi vào với ông trong hai chữ “chúng mình” là ông chiếu cố. Ông có sách in, tuy không nhiều. Về tiếng tăm. ông thua rất xa Nguyễn Khải. Các nhà phê bình gạt sách của ông sang một bên. Tôi nói ông chiếu cố chơi với tôi là ý này: tôi hoạ hoằn lắm mới được đăng một truyện ngắn trên báo, còn ông là người có sách, sách có gáy. Văn của ông không công không phạt, như vị cam thảo trong thuốc bắc, ông viết chuyện người tốt việc tốt, bút pháp trơn tru, câu chữ mượt mà, phải tội hơi dây cà ra dây muống. Để in ông, các biên tập viên không mất công săm soi. Đã là nhà xuất bản thì phải có sách ra, sách của ông tiện lợi, sách của ông không có vấn đề, không đụng đến ai, không đụng đến cái không được phép đụng. Người như ông nhiều. Người khác ông ít. Người khác ông hoặc bị đánh cho bầm giập, bị dìm xuống bùn, hoặc tìm cách giấu mình trong quên lãng, giả câm giả điếc. Trong việc xuất bản người ta sợ nhất thứ văn nhiều ẩn dụ, mọi câu chữ đều có thể suy ra sự nói cạnh nói khóe, được các nhà điểm sách bảo hoàng hơn vua sẵn sàng khoác cho cái tội “biểu tượng hai mặt” có kèm tiếng tây “symbole équivoque” trong ngoặc kép. Săm soi kỹ là thế, từng câu, từng chữ, thế mà thỉnh thoảng nhà xuất bản này nhà xuất bản khác vẫn bị đánh, sách bị thu hồi vì mất lập trường. Lập trường là thứ dễ đánh mất, luôn bị đánh mất ở mọi nơi. Với nhà xuất bản thì cái sự đánh mất nó là đại họa. 

Tôi cũng nghĩ như ông - đảng không tin Nguyễn Khải, không yêu Nguyễn Khải thi còn tin ai, còn yêu ai? 

Hoá ra sự đời không đơn giản. Nó rắc rối. 

Tôi vào tù. Trong tù người ta hỏi tôi đủ thứ: ai, ở đâu, làm sao, thế nào? Trong một buổi hỏi cung, câu chuyện lan man tới lĩnh vực văn chương, viên chấp pháp già có dáng một thày ký còm thời thuộc Pháp đột nhiên đặt câu hỏi:

- Anh chơi với Nguyễn Khải, anh thấy anh ta là người thế nào?

Tôi ngạc nhiên. Tôi không chờ câu hỏi này. Tôi nhún vai:

- Còn thế nào nữa? Anh ta là người của đảng, hoàn toàn. Người như Nguyễn Khải mà đảng còn nghi ngờ sao?

Viên chấp pháp ngả người, cười khẩy:

- Cho đến nay thì chưa. Nhưng cảnh giác thì vẫn có, bao giờ cũng có – văn nghệ sĩ các anh, nói thật, là lũ sáng đầu tối đánh, không thể tin được. Anh thấy Nguyễn Khải có gì đáng để anh báo cáo với cơ quan an ninh chúng tôi không? Quan điểm khác với đảng lộ ra trong những lời tâm sự chẳng hạn…

Tôi lắc.

- Cứ nói, nếu thấy có. Đừng ngại. Đừng vì nể nang mà tránh. Thành khẩn là điều chúng tôi muốn nghe ở các anh. Nó cũng là điều quyết định anh ở đây lâu hay mau.

Tôi nhún vai:

- Về Nguyễn Khải tôi chẳng có gì để nói.

Người nhà nước nhìn chòng chọc vào mặt tôi, lại cười khẩy:

- Anh không nói cũng chẳng sao. Anh không nói người khác sẽ nói. Chúng tôi có trăm tai nghìn mắt, chúng tôi biết hết. Chẳng có gì lọt qua mắt cơ quan an ninh chúng tôi. Nói chứ?

Tôi không hiểu y còn muốn gì nữa ở tôi: 

- Tôi không có gì để nói về Nguyễn Khải. Nếu có cái cần phải nói thì đó là: cơ quan an ninh các người chỉ tin ở chính mình, ngoại giả kẻ nào cũng đáng ngờ.

Dường như thấy mình đi quá xa, y chữa: 

- Tin Nguyễn Khải thì chúng tôi vẫn tin. Tin, nhưng có giới hạn. Nói để anh biết, loại như Nguyễn Khải không thể ở trong cơ quan chúng tôi lấy một ngày. Tin là tin thế đấy. Anh ta sẽ bị loại ra đầu nước.

Nhìn vẻ mặt ngơ ngác của tôi, y nói thêm:

- Ngay cả Nguyễn Đình Thi cũng vậy.

Nguyễn Đình Thi đang là chủ tịch Hội nhà văn. Trước khi bị bắt tôi còn tản bộ với anh ở đường Bà Triệu. Chúng tôi nói chuyện nhiều, chuyện văn, chuyện đời, không chính trị. Chẳng lẽ do tôi bị theo dõi mà cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên ấy đã làm anh mất điểm với đảng của anh, anh cũng bị nghi ngờ?

Thì ra trong chế độ công an trị, công an chỉ tin chính họ mà thôi. 

Mà cũng có thể còn hơn thế nữa, theo tôi nghĩ - họ cũng chẳng tin nhau.

Trở về xà lim, tôi buồn rượi. 

Khi bọn chấp pháp ép tôi phải nói ra những gì chúng muốn khai thác ở tôi về những người mà tôi có quan hệ quen biết, từ phó chủ tịch nước cho tới các quan chức lớn, các văn nghệ sĩ, thì đó là dấu hiệu rất xấu – tôi khó lòng ra khỏi nơi này. Quả nhiên vậy. Đời tù của tôi kéo dài chín năm.

6

Năm 1981 hay 1982 không nhớ, tôi đến thăm Nguyễn Khải ở đường Nguyễn Tất Thành. Nhà không to, không bé, nhưng là nhà riêng, không chung chạ với ai. Vào thời gian ấy nhiều cán bộ được phân nhà. Nhà được phân thường là của người vượt biên để lại. Cơ quan nào phân cho anh tôi không biết, không hỏi. Có thể là quân đội, mà cũng có thể là cơ quan đảng, là ủy ban, là sở nhà đất, hoặc do người được phân nhượng lại. Cái sự có nhà riêng linh tinh lắm, rối rắm lắm - đôi khi chỉ là nhờ những mối quan hệ ruột thịt hay bạn bè, hoặc bằng cách nào khác, chẳng thể nào biết, chẳng thể nào tưởng tượng ra. Căn phòng anh tiếp tôi tuềnh toàng, sàn gạch hoa nhớp nhúa, đồ đạc cũ mèm.

Chúng tôi đang vui chuyện thì nghe tiếng trẻ con léo nhéo ngoài cửa. Khải đứng lên:

- Ông ngồi chơi. Mình bán mấy viên đá cho tụi trẻ - anh nói, với một chút bẽn lẽn – Nhanh thôi.

Tôi đợi. Khải chạy đi lấy cái rá và xô nước, mở cái tủ lạnh to đùng, lấy ra những cái cốc nhôm, nhúng vào xô nước, thảy những cục đá vào rá, rồi mở cửa chạy ra ngoài. 

Lát sau, anh trở lại,một tay thọc tiền lẻ vừa thu được vào túi quần:

- Vẫn phải làm lặt vặt một chút để cải thiện, ông ạ - anh cười bẽn lẽn - Chúng mình đang nói chuyện gì ấy nhỉ?

Tôi ái ngại nhìn Khải. Tôi không ngờ được chứng kiến cảnh vừa rồi. Nó là chuyện bình thường với mọi gia đình cán bộ bình thường. Hồi ấy đá cục là một mặt hàng bán chạy, được nhiều nhà làm. 

Về sau này Khải đã có cuộc sống khá hơn trước nhiều, khi những bài báo, những truyện ngắn ở anh được trả những khoản nhuận bút cao ngất ngưởng, không nhà văn nào sánh được. 

Hôm ấy tôi rất muốn kể cho Khải nghe điều tôi được nghe từ miệng viên chấp pháp. Nó là lời nói thật, tôi tin. Nó cũng là lời khẳng định cái nhìn của đảng đối với văn nghệ sĩ. Là cái nhìn bình thường của chủ nhà với đầy tớ.

Nhưng tôi đã giữ cho nó không buột ra. Tôi e làm Khải đau.

Tôi lầm. Sau khi đọc “Đi tìm cái tôi đã mất” tôi mới hiểu Khải không phải không biết. Nhưng anh đã giữ kín những gì mình thấy, che khuất chúng dưới màu hồng của những dòng tụng ca. 

Chính Nguyễn Khải đã từng viết thế này:

“ …Bỗng nhiên có một nhà chính trị, cũng là dân làm văn làm báo của Đảng từ trước cách mạng, nhưng đã mất ngôi mất quyền, liền đứng ra tổ chức tờ báo cho những nghệ sỹ ham chuộng tự do được tự do bày tỏ nỗi niềm. Mình thì nói tự do về nghệ thuật, họ thì nói tự do về chính trị, họ muốn giành quyền, muốn đòi quyền. Nhưng họ không thể làm được những chuyện đó. Thân phận họ tầm thường, tài nghệ thì vớ vẩn , tập hợp thế nào được dư luận và công chúng, nhất là công chúng của chúng ta, mượn cả tiếng kêu thống thiết và cảm động đòi tự do để sáng tạo của chúng ta nữa. Nhà chính trị ấy là ông Nguyễn Hữu Đang, ông đó mới thật là linh hồn, kẻ xúi giục và tổ chức ra mọi sự của cái thời ấy. Mưu mô bị vỡ lở, kẻ chủ mưu phải ngồi tù, anh em mình không đi tù nhưng bị treo bút những mấy chục năm còn đau khổ cực hơn cả đi tù. Mấy ông chính trị thất thế, lắm tham vọng, lắm mưu mô có đi tù tôi cũng không thương. Đã theo cái nghề ấy ắt phải chịu cái nghiệp ấy. Chỉ thương anh em mình lòng trong dạ thẳng, nông nổi thơ ngây, cứ nghĩ bụng dạ họ cũng như mình, nào ngờ họ lại nghĩ ngợi sâu xa như thế. ”

Cũng trong bức thư đó Nguyễn Khải tiếp lời trần tình của mình:

“Lại thêm một kinh nghiệm nữa của riêng tôi thôi. Năm 74 một nhà chính trị đương quyền có nhờ tôi viết một loạt bài chống cách sống tiêu cực, góp phần xây dựng một cách sống thật cộng sản. Tôi nhận lời ngay, và đã viết một loạt bài trong tâm trạng hào hứng và xúc động. Vì nó cần thiết, vì nó thỏa lòng. Bỗng dưng bài gửi tiếp không được đăng nữa. Những bài được đăng được các cơ quan có trách nhiệm duyệt xét lại, và tôi trở thành tên cầm đầu của một nhóm “Nhân văn giai phẩm” gì đó, nhưng nguy hiểm hơn là đã lấy chính báo Đảng làm diễn đàn để truyền bá tư tưởng chống đối của mình. Người phê phán tôi gay gắt nhất là người đã yêu cầu tôi viết bài. Tôi không nói lại một lời nào, cũng không oán hận một ai cả… Nhưng tôi tự thề với mình là từ nay chỉ viết bằng vài suy nghĩ độc lập của chính tôi, không nghe lời dẫn dụ của bất cứ ai, cho dầu là người mình rất quý mến. 

Mình là người tử tế chẳng lẽ suy nghĩ riêng lại không tử tế hay sao?  Tôi không thích lại một lần nữa Hội nhà văn và lĩnh vực văn nghệ lại trở thành trận địa quyết chiến của mấy ông lắm mưu tranh bá đồ vương. Tôi không nói vu đâu, cái sự chửi bới bôi nhọ vu khống tất cả ai dám nói ngược, đe dọa ra mặt hoặc bắn tin đe dọa bất cứ ai tỏ vẻ lạnh nhạt, hoài nghi cái sự tàn sát tận diệt, gây một không khí căng thẳng hung bạo ấy là sặc mùi chính trị …Một lần nữa , với mấy anh muốn mượn nhà văn để xây mộng công hầu , tôi xin có lời kêu gọi khẩn thiết: “Hãy buông tha chúng tôi, đừng xúi giục anh em tôi đánh nhau lần nữa , đừng quấy rầy chúng tôi, đừng lợi dụng chúng tôi.”

Nguyễn Khải là người có tài. Tài là cái không chịu bị chìm lấp. Nó đòi được biết đến, đòi được phơi mình dưới ánh sáng mặt trời. Với người này là toán học, người kia là hội hoạ, không trừ cả nghề bói toán. Khải có con mắt quan sát sắc sảo, có tài viết ra những gì mắt anh thấy. Anh đã chiều theo cái tài của mình để cho nó được thiên hạ biết đến. Anh viết, bắt đầu bằng những bài báo tường, rồi báo giấy, rồi những cuốn sách. 

Anh sinh ra trong một thời đặc biệt khe khắt với mọi sản phẩm chữ nghĩa. Mọi thứ viết đều phải nhất nhất tuân theo ý kẻ cai trị. Viết khác ý nó thì nó đập cho kỳ chết. Anh muốn phô cái tài của mình thì anh phải làm ra những cái mà nó muốn. Thế là người đọc có một nhà văn Nguyễn Khải như ta biết. Một thằng nịnh, một thằng hèn, một văn nô, như nhiều người nghĩ.

 Khải thèm được viết để chiều cái tài thiên phú. Dần dà cái sự thèm ấy trở thành một bản năng được cấy ghép vào người. Nói cách khác, nó là một thứ ma tuý, không có nó không sống được. Đã bập vào nó khó dứt ra lắm. Khải đã bập vào, đã vật vã, đã không dứt ra được. Mãi cho tới cuối đời. 

Nguyễn Khải đã từng lầm đường. Như rất nhiều người, trước khi tỉnh ngộ.

“Đi tìm cái tôi đã mất” đến với tôi khi Khải không còn. 

Tôi đã ở rất xa, cả quá khứ lẫn địa lý. Với bài viết này Khải bộc bạch những suy nghĩ được giấu kín trong lòng. Không thể tưởng tượng nổi nhà văn được coi là con yêu của đảng lại có thể nói toạc về đảng của mình đến thế này: “Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ…”

Người ta thường nói về “cái quan định luận”. Khi chiếc đinh cuối cùng được đóng xuống tấm ván thiên cho một kiếp người, chúng ta mới có thể, mới có quyền nói lời nhận xét chung cuộc về người đã khuất. 

Nguyễn Khải đã nằm yên dưới ba tấc đất. Mọi điều thiên hạ bình phẩm về mình anh chẳng còn biết, chẳng còn quan tâm. Chúng ta sẽ phải nói về anh, như sản phẩm của một thời thế nào đây, cho đúng? Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này. Nói thế nào mới phải, mới công bằng đây? Cho anh, và cho cả một thế hệ cầm bút. 

Chẳng lẽ Nguyễn Khải không để lại được chút gì cho lớp người sau? Chẳng lẽ chúng ta không rút ra được bài học nào từ Nguyễn Khải? Chí ít thì cũng ở văn chương, bút pháp. 

Nói về một con người sao mà khó thế!   

“Bất cứ nhà nước nào lấy học thuyết xã hội hoặc tôn giáo thay cho hiến pháp thì trước sau sẽ chuyển đổi thành nhà nước chuyên chế”. Và “Những gì mà chủ nghĩa cộng sản hứa sẽ thành hiện thực trong tương lai thì cái hiện thực ấy sẽ giết chết cả loài người”. 

Khái quát được đến thế, không một nhà văn Việt Nam nào làm được. 

Không sự ly khai nào có thể rốt ráo hơn.

Paris, 2015

Tuesday, October 12, 2021

Thơ thời đại dịch

 Biết bao người đã vĩnh biệt ra đi

trong mùa dịch..

Mà không một lời trối trăn.. 

Chẳng được nhìn mặt người thân.

Chẳng ai vuốt mắt, chia tay lần cuối..

Và ngày về chỉ còn là tro lạnh tàn canh.!

           CÁT BỤI  TÀN TRO

          ( Kỷ Vật  Trần Gian )

Hôm nao  đi nhận tro tàn..

Hành trang  kỷ vật nhân gian.

Bao năm dấu chân địa đàng.?

Còn chăng vành khăn hoa trắng.!

Cánh chim.. xa đồi  ái ân..

Hoa rơi.. ngỡ ngàng gối chăn.

Võ vàng  di ảnh nến tàn..

Người đi  bẽ bàng xuân xanh.!

Còn đây khói hương Trầm nhang

Mắt cay  lệ nhòa hợp tan.

Giờ đây  giấc mơ úa tàn..

Môi nồng  nỗi nhớ chứa chan.!

Còn chăng  tro lạnh tàn canh.?

Không lời  cuối cùng trối trăn.

Thôi đành xuôi miền  tử sanh..

Chuông ngân ngậm ngùi thế nhân.!

Nguyện cầu.. Cánh Nhung thiên thần

Trăm năm  cố nhân thiên đàng,

Chim bay chốn ấy vĩnh hằng..

Rừng xanh mây trắng bâng khuâng.!

Người về  Cố quận mù tăm..

Long lanh  nước mắt cuối đàng

Tro tàn  gởi lại quan san..

Mộng vàng sao đành sang ngang.!

Thuận Hào

Tranh : Hs Lê Sa Long

Monday, October 11, 2021

Về nhà

 

CHUYỆN TƯỞNG CHỈ CÓ TRONG TIỂU THUYẾT 

Tiền không, xe máy không, xe đạp cũng không, nhóm người Đan Lai quyết định đi bộ. Họ biết rõ hành trình 1.400km không hề dễ dàng, có thể mất một tuần, một tháng hay nhiều hơn thế nữa, nhưng rồi họ vẫn quyết lên đường.
Hành trang mang theo của mỗi người là những gói mì, những chai nước lọc, xoong nồi và vài bộ quần áo. Xuất phát từ sáng sớm, song đến chiều tối họ vẫn chưa thể ra khỏi địa phận Bình Dương.
"Tụi tui tính đi bộ nửa tháng là về đến nhà. Một gói mì tôm 3 nghìn, mỗi ngày ăn 2 gói, 15 ngày 30 gói là hết 90 nghìn. Thêm tiền nước và phát sinh nữa, tụi tui tính tất cả hết khoảng 300 nghìn mỗi người. Về nhà, ăn thì có lúa tự gieo, rau tự trồng, không phải trả tiền nhà trọ. Không giàu nhưng không mắc nợ", chị Lý nói.

VTC

Sunday, October 10, 2021

Hoạ sĩ của thủ đô

Cố họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920 - 1988) một danh họa của Việt Nam ngang tầm thế giới, đặc biệt nổi tiếng với các tác phẩm về phố cổ Hà Nội (phố Phái).Ông được giải thưởng Hồ Chí Minh  về văn học nghệ thuật năm 1996. Tên ông được đặt cho giải thưởng Bùi Xuân Phái - vì tình yêu Hà Nội. 

Ảnh do phó đại sứ Anh John Ramsden chụp năm 1980

Nước Đức: Đông và Tây (7)

 Bức tường Berlin (7) – Bức tường trong đầu

(tiếp theo)
Giữa các vùng miền nước Đức cũng có những khác biệt về văn hóa, lich sử. Trước khi đế chế Đức ra đời năm 1871, đây từng là nhiều vương quốc, công quốc khác nhau. Người Hanseat giỏi kinh doanh ở Bắc Đức từng coi người vùng Rheinland (nơi tôi đang sống) là bọn thợ mỏ lam lũ và người Bavaria (Bayern) là đám nông dân cục mịch. Nay sự phân biệt đó bị xóa nhòa.
Hiện tại các danh từ lóng “Ossi” hay “Wessi” vẫn được dùng để ám chỉ người Đông hay Tây (như người Việt vẫn kêu “Thằng Nam kỳ” hay “ Con mẹ Bắc kỳ”). Lúc đầu tôi nghĩ sự phân biệt này sẽ sớm mất đi. Nhưng 31 năm rồi, nó vẫn còn đó, mặc dù phần lớn người dân Đông Đức hiện nay sinh ra sau năm 1989, hoặc chỉ biết đến CHXH vào tuổi thiếu nhi.
Đông và Tây Đức có những cách biệt từ ngôn từ [1], tôn giáo [2] đến lịch sử, vì Đông Đức chính là trung tâm của nước Phổ, như tôi đã nêu trong bài 1 của loạt bài này, so với phần còn lại của nước Đức. Thêm vào đó sự tụt hậu về kinh tế, xã hội khiến cho phân biệt Đông Tây không dễ xóa nhòa như phân biệt giữa người Hanseat với dân Rheinland cùng ở miền Tây.
Có người cho là nếu Đông Đức chọn liệu pháp „mềm“ như Tiệp, Ba-Lan... sẽ bớt đi nhiều sụp đổ, vì tư bản phương Tây dễ nhảy vào sử dụng nhân công rẻ ở đó. Nạn thất nghiệp và các bi kịch trong những năm 1990 đã không xảy ra.
Việc gì cũng có cái giá của nó.
Sau hơn 30 năm, dân tộc Đức đã chứng tỏ bản lĩnh của mình. Đông Đức ngày hôm nay đã không trở thành sân sau để gia công hàng hóa cho công nghiệp Phương Tây, mà là bộ phận cấu thành của một nền kinh tế hàng đầu thế giới. Thành phố dệt Chemnitz đã chứng kiến sự đổi thay này. Ngành dêt truyền thống đã teo đi, chỉ còn các nhà máy sản xuất thiết bị dệt may cao cấp. Thay vào đó chính phủ đưa nhiều cơ quan liên bang (Bundesanstalt) cùng 3 viện nghiên cứu khoa học Fraunhofer về đây. Kéo theo đó là hàng loạt Startup về IT và AI ra đời. Trường đại học kỹ thuật Chemnitz được nâng cấp để nhận 11.000 sinh viên, trong một thành phố 245.000 dân (Thị xã Quảng Ngãi có 265.000 dân).
Chemnitz bỏ qua giai đoạn phục hồi công nghiệp, tiến thẳng vào hậu công nghiệp là một trong nhiều ví dụ của Đông Đức.
Cùng với việc dời thủ đô từ Bonn sang Berlin để kéo trọng tâm về miền Đông, nhiều cơ quan liên bang và các viện nghiên cứu được chuyển về đây. Đầu tư mới 100% vào hạ tầng đã tạo cho miền Đông hệ thống đường cao tốc tốt hơn, mạng điện năng lượng xanh dày đặc hơn và trang bị ở các trường đại học, bệnh viện hiện đại hơn. Từ năm 1998, nhà nước đã thành lập cơ quan „Đặc ủy xây dựng miền Đông“ mà chủ nhiệm luôn là Đông Đức [3]. Từ 2005 nước Đức được lãnh đạo bởi một phụ nữ từ miền Đông.....
Bất chấp tất cả những cố gắng trên, khoảng cách Đông-Tây vẫn tồn tại. Thu nhập ở miền Đông vẫn dậm chân ở mức 85 % miền Tây. Nguyên nhân nằm ở cấu trúc dân cư (demography).
Thế hệ trẻ Đông Đức hầu như không dính dáng đến quá khứ „CHDC Đức“. Họ hoàn toàn hòa nhập và có mức sống ngang, thậm chí cao hơn bạn bè miền Tây. Nhưng quanh họ là rất nhiều người già thuộc thế hệ cũ. Những người này hưởng lương hưu hoặc trợ cấp xã hội, chỉ đủ sống. Người sống bằng trợ cấp tất phải ăn tiêu tằn tiện. Vì vậy, dù lương của giáo sư, hay bác sỹ miền đông cao bằng miền tây, nhưng cấu trúc dân số này đã tạo ra sức mua thấp ở đó (Biểu đồ 1). Sức mua quyết định phát triển kinh tế. Đó là một quy luật khắc nghiệt, không chính sách nào thay đổi được.
Tỷ lệ người già ở miền Đông khá cao vì trong nhiều năm liền, giới trẻ bỏ sang phía tây làm ăn. Nạn „Chết làng“ (Dorfsterben) cũng là một vấn đề trầm trọng ở Đông Đức. Do thanh niên kéo bỏ đi nên rất nhiều làng chỉ còn người già. Trường học, nhà trẻ đóng cửa. Sức mua giảm khiến vài làng chung nhau một siêu thị. Các cô bảo mẫu, giáo viên, bán hàng lại vào thành thị kiếm sống. Vòng luẩn quẩn này chưa dừng lại. Trong khi ở miền tây, người giàu đổ về sống ở nông thôn để hưởng môi trường trong lành thì ở miền đông, không khí sạch không ai mua….
Tôi có thể đưa ra nhiều dẫn chứng khác về những tồn đọng ở Đông Đức, từ sự gần gũi của dân chúng với các đảng phái cực đoan, đến sự thờ ơ của họ trong các hoạt động chính trị. Chắc chắn là phân biệt Đông Tây rồi sẽ biến mất như phân biệt giữa người Hanseat ở Bắc với người Bayer ở miền Nam Đức. Có điều cái hố sâu cần nhiều thời gian hơn để lấp.
Nhưng cuộc đời đâu chỉ bị cản trở bởi bức tường vùng miền. Cản trở lớn nhất là bức tường giam hãm con người trong sự hèn hạ nhưng ngạo mạn, là bức tường của sự tự ti nhược tiểu. Người Đức đã thống nhất được đất nước một cách rất văn minh, vì đa số vượt qua chính cái bóng của họ.
Phẩm chất đó không phải của chế độ nào.
30 năm sau ngày thống nhất có đến 75% người Đức coi qua trình thống nhất đất nước là một thành công, chỉ 23% coi đó là thất bại. Ở một xã hội tử tế thì 75% hạnh phúc này cảm thấy có trách nhiệm phải làm sao hiểu và giúp đỡ 23% bất hạnh kia. Không ai coi họ là phản động hay bất mãn.
Người Đông Đức không bao giờ phải trả lời câu hỏi rất đểu trong lý lịch: Trước ngày 03.10.1990 ông, bà hoặc bố mẹ ông bà làm gì?
Tôi đã viết nhiều về đề tài này, lần nào cũng có người phán: Nhờ Mỹ, hoặc nhờ Liên Xô buông tay mà Đức mới được như thế. Người ta quên đi yếu tố nội lực. Vào lúc CNXH sụp đổ ở Liên Xô, có bao nhiêu nước bước vào kỷ nguyên dân chủ? Nhiều nước thuộc Liên Xô cũ dù thay đổi thể chế, nhưng độc tài vẫn tồn tại, như ở Belaruss hay các nước Trung Á. Ở Trung Quốc và Việt Nam CNXH biến tướng theo CNTB hoang dã…
Những khác biệt đó là do nội lực.
Nhiều người coi các thói xấu của đồng bào mình là do cộng sản giáo dục. Nhưng trong các cộng đồng Việt Nam ở Úc ở Mỹ, đa số ra đi từ 1975 cũng không thiếu trò tệ hại. Cách hành xử của họ còn kém những người Đông Đức, Tiệp hay Ba-Lan được giáo dục dưới chế độ XHCN. Chỉ riêng chuyện giữ trật tự và vệ sinh công cộng, về cách tranh luận, người Việt còn phải học dài dài nữa. Người Việt là quán quân thế giới về khôn lỏi, nấp nhìn người khác hy sinh hộ mình....
Hãy thôi tìm các cái cớ để mình khỏi phải thay đổi.
Một dân tộc có bản lĩnh luôn tự giải phóng được mình khỏi các gọng kìm của lịch sử, vì họ luôn biết vượt qua bức tường tự bao vây mình.
Tự nhốt mình trong tự mãn, u tối, chỉ trông chờ vào nước ngoài, chờ vận may thì cơ hội tốt mấy cũng bỏ lỡ. Dân tộc nào thì cũng chỉ được hưởng nền kinh tế, nền văn hóa, hệ chính trị mà nó xứng đáng được hưởng.
Đó là bài học về những bức tường.

Cuộc gặp gỡ giữa các học sinh Việt Nam và các thầy cô giáo Đức năm xưa tại Königs Wusterhausen hôm 1.9.2019. Đối với chúng tôi, họ là những công dân CHDC Đức tử tế

Màu đậm là tỷ lệ người Đức không thỏa mãn với công cuộc thống nhất đất nước. Màu xanh là tỷ lệ người thỏa mãn
----
[1] Vài ví dụ: “Con gà quay” ở Đông Đức gọi là Broiler, Tây Đức gọi là Brathähnchen. “Nhựa” ở Đông Đức gọi là Plaste, ở Tây Đức = Plastik. Món Grilletta của Đông Đức, bên Tây gọi là Hamburger : https://de.wikipedia.org/wiki/Sprachgebrauch_in_der_DDR#W
[2] Tôn giáo chính ở Đông Đức là Tin lành, ở Tây Đức là Thiên chúa
2 comments
Like
Comment
Share

Hà Nội ngày 10.10.1954

 

Bộ đội tiếp quản Phủ Toàn quyền Đông Dương

Bộ đội về tiếp quản thủ đô

Hà Nội: Ngày 10 tháng 10

 Từ thời thuộc địa đến thời của những người lật đổ chế độ thực dân.

KỈ NIÊM 67 NĂM TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ 

10/10/1954-10/10/2021

Đây là trích từ bài NGƯỜI HÀ NỘI của Tiến sĩ Dương Quốc Chính theo dạng Tự chỉ trích, chúng ta cùng đọc và suy nghĩ

Người HÀ NỘI biến mất.

.....

Sau hiệp định Geneva đa số những gia đình giàu có, người nước ngoài, trí thức có quan hệ với chính quyền thực dân đều di cư vào Nam hoặc sang Pháp. 

Đây là tầng lớp thượng lưu của người HN tạo nên hình ảnh về người HN và tạo nên khái niệm "Người HN" mà không tỉnh nào có. Thay vào đó là ùn ùn dân ngoại tỉnh đổ về lấp chỗ trống, họ mua các bất động sản do người ra đi bán lại với giá rẻ. 

Ngoài ra là những cán bộ, mà đa số xuất thân nông dân, cùng gia đình họ đổ về HN, họ cư xử với HN không khác gì các chú bộ đội năm 75 tiếp quản SG. HN bắt đầu bị nông thôn hóa bởi vì lãnh đạo HN không còn là "Người HN" nữa. Đến năm 2000 thì trong 9 vị lãnh đạo HN chỉ có 1 người HN gốc.

Tại sao nói HN bị nông thôn hóa?

Thời Pháp thuộc, giới tinh hoa chính là khuôn mẫu về lối sống của đa số thị dân. Tất nhiên cũng có những thứ đua đòi rởm đời hay được kể trong truyện trào phúng của Vũ Trọng Phụng hay Nguyễn Công Hoan. Nhưng đa phần lối sống tinh hoa là văn minh hơn mặt bằng chung. Hồi đó, người nghèo, ít học phải kính trọng người giàu, có học, có quyền thế và có xu hướng bắt chước họ.

Nhưng đến thời  tiếp quản thủ đô thì mọi sự lại bị đảo lộn. Vì lối sống tinh hoa sẽ bị coi là tiểu tư sản, cần phải loại bỏ khỏi xã hội. Nên giới trí thức phải thể hiện lối sống thanh lịch 1 cách du kích, kín đáo.

Chính vì thế nên lối sống tinh hoa, thanh lịch không còn được khuếch trương như cũ, thay vào đó là lối sống nông thôn và thợ thuyền. Bởi vì đó là thành phần cơ bản, là xương sống của chế độ. 

Thời kỳ này, trí thức không được dân nghèo coi trọng như xưa, thậm chí còn bị coi thường. Bởi vì đa phần cán bộ, công chức xuất thân từ giai cấp công nông. Giới tinh hoa cũ rất ít cơ hội để ngóc đầu lên được, trừ 1 số gia đình trí thức .

Kể từ đó đến hết thời bao cấp, lối sống bần nông ngự trị thủ đô, vì đó là chuẩn mực của chế độ. Cách thức vận hành bộ máy kinh tế, chính trị nó cũng tạo nên lối sống. 

Như chuyện xếp hàng thời bao cấp, cộng với việc bị đói khát, khiến người HN phải bon chen, hèn hạ đi mất mấy chục năm, sau nó ăn vào thành tính cách, không dễ mà bỏ được, ảnh hưởng nặng nhất là văn hóa xếp hàng, thứ nhì là việc ghen ăn tức ở, soi mói hàng xóm, đồng nghiệp. Thời bao cấp, soi mói lẫn nhau còn là trách nhiệm của mỗi công dân. Sau này mới biến thành tính cách.

Đến thời kỳ đổi mới, người HN giàu lên nhanh chóng, lúc đó lối sống tinh hoa nhà giàu ngày xưa được dịp trỗi dậy, nhưng những người gốc gác tinh hoa xưa kia không còn mấy, thay vào đó là tầng lớp nhà giàu mới nổi, còn gọi là trọc phú. 

Từ đó đến nay, phong cách sống của nhà giàu mới nổi (thường dưới 10 năm), trưởng giả, đang dần trở thành chuẩn mực về lối sống của người HN. Điển hình như mốt nhà Pháp nhái, nội thất Đồng Kỵ)...

Tuy nhiên, do truyền thống mấy chục năm qua, người nghèo và ít học ở HN vẫn hoàn toàn bình đẳng với giới trí thức tinh hoa, sẵn sàng chửi họ như chó (như vụ đấu tố Ngô Bảo Châu).

Bi kịch chính là ở chỗ đó, khi mà xã hội không có tôn ti trật tự. Giới tinh hoa lại không được coi là khuôn mẫu của xã hội.

Chính Quốc Dương 

Ảnh các thị trưởng đầu tiên và hiện nay của Hà nội : 

Trần Văn Lai

Thẩm Hoàng Tín

Trần Duy Hưng

Nguyễn Thế Thảo

Nguyễn Đức Chung

Chu Ngọc Anh

Saturday, October 9, 2021

Hai câu chuyện

Nhiều người thấy cuộc sống tốt hơn so với trước về khoản nhà cửa xe cộ mua sắm linh tinh...

Từ Đô thành Sài Gòn đến tp.HCM ko ít thay đổi.

Quy hoạch đô thị chủ yếu là phân lô bán nền và biến dạng như hiện nay chỉ là thay đổi chứ ko phải là phát triển.

-----------

CÂU CHUYỆN CŨ, MỚI Ở SÀI GÒN 

                            *

   1

    1.1 - Khoảng bốn rưỡi, năm giờ sáng ở khu phố Trần Quý Khoách, Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quang Khải, Trần Khát Chân... phường Tân Định, quận nhất, Sài Gòn có tiếng rao: Mì ngọt mì lạt! Mì mới ra lò! Tiếng rao ấy còn trở đi trở lại vài ba lần nữa thì trời sáng hẳn. Đó là tiếng rao bán bánh mì của ông già bắc 54 (cách gọi tắt, người Miền Bắc di cư vào Miền Nam năm 1954 do chiến tranh,... ). Bánh nóng, vàng xuộm, mới ra lò thật, uy tín, chất lượng, không kể thời tiết (hay chính xác hơn là bất chấp nắng mưa!).

   Hơn 30 mươi năm trôi qua. Khu phố nhà giàu có từ thời Việt Nam cộng hòa thay đổi khá nhiều. Tôi không còn nghe tiếng rao ấy nữa. Ông già đã ra đi từ bao giờ, lặng lẽ mang theo cùng với bao nhiêu khúc quanh, năm tháng tuổi tác cuộc đời!? Nhưng cái giọng trầm ấm, thật thà, lương thiện của ông len qua khe cửa, đánh thức giấc mơ tôi, thì tôi không quên. 

   1.2 - Hơn ba mươi năm trước cũng ở nơi đây, tôi đã nghe tiếng đàn Piano nhà ai thánh thót buồn nhưng không bi lụy. Trái lại là tiếng lòng khắc khoải, trầm hùng, vút lên, nuôi hy vọng cao vời ở khu sang trọng khét tiếng một thời. Mãi sau này tôi mới biết đấy là khúc luyện tập của Chopin, Souvenir paganini, Serenade, Serenata hay Elizabethan serenade. Tôi cũng dần quen với các tên tuổi âm nhạc thế giới Bethooven, Morart, Franz Schubert. Danh cầm Piano Richard Claydermam qua những băng Cassette bày bán ở các kiosk trên đường Nguyễn Huệ. Cây Violon Andre Rieu thì mãi sau này tôi không thể nào quên. Tôi thầm cảm ơn Solveig's Song - khúc ca tình yêu; càng yêu mẹ cha, quê hương, đất nước, con người... Âm nhạc nuôi dưỡng tâm hồn tôi cùng năm tháng...! 

Chợ Tân Định trước 1975

   2

   2.1 - Cứ độ bốn rưỡi, năm giờ nhưng mà là buổi chiều cách ngày thì đài truyền thanh phường tôi ở thuộc về quận ráp ranh vùng ven thành phố Hồ Chí Minh lại phát loa. Loa tuyên truyền an toàn phòng cháy chữa cháy, giữ gìn an ninh trật tự, tiêm chủng mở rộng thiếu nhi, chiêu sinh phổ cập năm học mới, tuyển dụng nhân lực lao động phổ thông, phòng ngừa bệnh dại, sốt xuất huyết, lao, dịch tả heo Châu Phi, dịch bệnh heo tai xanh, cúm gia cầm, bệnh chân tay miệng, kêu gọi và phát động phong trào phân loại thu gom rác thải, hạn chế và xử dụng hiệu quả bao ni lông, hiến máu nhân đạo, triều cường nước ngập, tắc nghẽn giao thông, đoàn kết ở khu dân cư, bầu cử Quốc Hội và hội đồng nhân dân các cấp. Tiếng loa phát các bài hát cách mạng, động viên thanh niên lên đường nhập ngũ, tham gia chiến dịch mùa hè xanh, chiến dịch vì người nghèo... Nghĩa là tất cả mọi thứ liên quan đến cuộc sống hiện đại, hàng ngày thời internet, @,... Mùa nào thức ấy và còn tùy thuộc thời tiết chính trị, thời sự phường, quận, thành phố, trong nước và quốc tế nữa. 

   Ngộ nhất, đơn giản nhất, dễ thực hiện nhất, nhiều người đồng tình nhất là thông báo về việc hộ cá nhân, gia đình nuôi chó thì nhốt, xích, rọ mõm, tiêm phòng; đặc biệt không thả rông, phóng uế bừa bãi... Loa phường còn trích dẫn thông tư, chỉ thị, điều luật xử phạt vi phạm hành chánh đối với chủ chó. Ấy thế mà nước đổ đầu vịt. Nước đổ lá môn... Loa cứ phát, chó cứ tự nhiên hành sự ở chốn đông người...

   2.2 - Rác cứ thải, đường cứ ngập; nhà cửa, đồ vật cứ lấn chiếm lòng lề đường, vỉa hè; số đề, số đầu, số đuôi ì xèo. Dòng sông lười dập dềnh xác chó, mèo, chuột chết. Nhạc sống, karaoke chói tai nhức óc ngày nghỉ cuối tuần. Người ta vẫn bán đất dưới danh nghĩa nhượng quyền sử dụng dù đất đai thuộc quyền nhà nước quản lý ghi trong hiến pháp - văn hoa là sở hữu toàn dân. Có mấy con chó lớn nhỏ còn tấn công học trò quàng khăn đỏ hay thiếu nhi thánh thể đi lễ nhà thờ nơi xóm đạo. Đôi khi chúng còn vu vơ ngửa cổ lên trời sủa ầm ĩ, át cả mọi thứ âm thanh vốn hỗn tạp. Loa phường nó còn bỏ ngoài tai, chẳng thèm nghe. Ai lỡ lời, đụng chạm chó thì phải biết (?!).

   3

   Hai câu chuyện cách nhau hơn 30 năm. Câu chuyện trước kể lúc rạng đông. Câu chuyện sau kể lúc nhá nhem khi Mặt Trời sắp lặn. Cái gì còn thì còn. Cái gì mất thì mất. Cái gì trường tồn với thời gian. Cái gì mới sinh ra đã chết yểu. Nguyên nhân sâu xa của cái hữu lý, cái vô lý, cái nghịch lý như nó đang là ?! Cái gì tồn tại đều có cái lý của nó! Tất cả những điều ấy khiến tôi đã, đang và còn suy nghĩ mãi không thôi...! 

... 

Chiêm Lưu Huy

(Saigon thu 2019)

Friday, October 8, 2021

Nước Đức: Đông và Tây (6)

 Bức tường Berlin (6) - Thất vọng và cay đắng

(tiếp theo)

Chiều 3.10.2021, tại quốc lễ kỷ niệm ngày thống nhất đất nước ở Halle (Đông Đức), bà Merkel có một bài phát biểu rất cảm động. Bên cạnh việc ca ngợi sự kiện lịch sử này, bà ôn lại thân phận của một phụ nữ miền Đông khi tham gia chính trị. Lúc đầu, nhiều chính khách Tây Đức đã coi bà chỉ là dân mới học nghề dân chủ, võ vẽ về Châu Âu. 

Bức tường trong đầu có cả ở hai bên. Nhiều người Tây Đức coi thường người Đông trong các cương vị quan trọng. Nhiều người Đông tủi hổ vì cảm giác của công dân hạng hai. Bà Merkel nói: Đối với đồng bào miền Tây, cuộc sống sau thống nhất vẫn tiếp tục như trước, nhưng người miền Đông thì phải nếm trải khá nhiều, phải lặn lội vào lối sống mới. 

Cuối năm 1989, năng suất lao động và thu nhập đầu người của CHDC Đức chỉ đạt 1/3 Tây Đức (1). Trình độ kỹ thuật của toàn Đông Âu lạc hậu hơn phương tây khoảng 20-25 năm. Nhưng vì 70% hàng hóa làm ra chỉ lưu thông trong khối XHCN, được thanh toán bằng đồng Ruble Liên Xô nên dù là xe ô tô Lada, Trabant, xe máy Minsk hay tủ lạnh Saratov, các sản phẩm đó vẫn bán chạy trong thị trường khép kín này.

Khi cánh cổng mở toang, các sản phẩm đó không đủ sức cạnh tranh với chất lượng từ phương tây. Ở các nước Đông Âu khác, do tiếp xúc với thị trường Tây Âu còn khó và thu nhập của người dân còn thấp nên các sản phẩm này vẫn tiếp tục bán được trong nhiều năm. Nhiều hãng tồn tại nhờ đó và dần dần cải tiến sản phẩm của họ theo kịp thời đại. Nhưng ở Đông Đức, người dân lĩnh tiền D-Mark, sang bên kia phố là mua được đồ xịn mà xưa nay vẫn mơ ước, với giá rẻ bất ngờ. Niềm hạnh phúc của họ lại là sự cáo chung của nền sản xuất hàng hóa Đông Đức. Cái chết của các loại xe Trabant, Wartburg, Barkas  và sự tồn tại của các hãng xe Skoda (Tiệp) và Dacia (Rumani) nói lên sự khác nhau giữa Đông Đức và Đông Âu.

Lý do thứ hai dẫn đến cái chết của kinh tế Đông Đức là thống nhất tiền tệ và thống nhất phúc lợi xã hội. Người ta không muốn một nước Đức có hai loại công dân, nên đã quyết định một chế độ bảo hiểm xã hội đồng nhất, một thang lương tương đối thống nhất cho toàn quốc. Kết quả chỉ qua đêm, người thợ CHDC Đức, với trình độ và năng suất lao động tương đương với đồng nghiệp Ba-Lan hay Tiệp Khắc, bỗng hưởng lương gấp 7-8 lần. Ngày đó công nhân Tiệp chỉ hưởng 200 DM/tháng, trong khi công nhân Đông Đức lĩnh 1500 DM, sản phẩm làm ra giá như nhau. Hãng Đông Đức phá sản là tất yếu. Công nhân Đức về nhà ăn thất nghiệp 800 DM/tháng, gấp 4 lần anh thợ Tiệp cày vã mồ hôi.

Các tập đoàn tư bản phương tây nhảy vào đông Âu lùng các cơ sở gia công rẻ tiền, tất sẽ yêu thợ Tiệp, Ba-Lan, Hungarie, Bulgarie, Croatia hơn là anh Đông Đức. Anh đắt quá và tuổi hưu của anh còn đắt hơn nữa. Đông Đức mất đi tính hấp dẫn cho tư bản phương Tây. Chỉ các nước Đông Âu khác được chuyển đổi kinh tế theo liệu pháp mềm và trở thành sân sau tích cực của kinh tế Tây Âu. 

Trong khi đó làn sóng phá sản ập vào Đông Đức ngay từ cuối năm 1990. Người ta rao bán các nhà máy cơ khí hàng nghìn công nhân với giá bèo, chỉ mong được các nhà tư bản miền tây nhảy vào, vực nó dậy. Vậy mà cho đến nay, 30 năm sau, nhiều nhà máy rộng hàng chục hecta vẫn chỉ để các bác Việt Nam thuê chứa hàng với giá 1-2 nghìn Euro/tháng.

Trong thời gian từ lúc bức tường „đổ“ tháng 11.1989 đến ngày thống nhất 3.10.1990, hai nhà nước bàn thảo rất căng về việc này. Ở đây các quyết định chính trị và kinh tế luôn được cân nhắc. Các chính khách Đức hiểu rõ tác hại của liệu pháp cứng đối với Đông Đức. Nhưng việc thống nhất nước Đức ngày đó không được cả thủ tướng Anh Thatcher và Tổng thống Pháp Mitterrand ủng hộ. Họ sợ một nước Đức quá mạnh sẽ lấn át ở Liên Âu. Tình hình chính trị ở Liên Xô thì như một thùng thuốc súng, không đảm bảo cho Gorbachov có thể ủng hộ việc thống nhất nước Đức như thỏa thuận. Thủ tướng Helmut Kohl e rằng, nếu dùng liệu pháp mềm, chấp nhận hai nền kinh tế, hai hệ thống tiền tệ, để chuyển đổi dần miền Đông, lòng dân sẽ không thuận và cơ hội lịch sử có thể tuột khỏi tay. 

Trước khi bước vào hội nghi 2+4 (Hai nước Đức + Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô), ông đã đi đến quyết định chính trị khó khăn nhất trong đời: „Liệu pháp cứng“ cho Đông Đức. 

Tây Đức sau 3 thập kỷ liên tục tăng trưởng, nhất là „câu chuyện thần kỳ của kinh tế Đức“, đã tích tụ được một nguồn dự trữ khổng lồ vài ngàn tỷ D-Mark. Đây là vũ khí lợi hại của ông Kohl trong cuộc đấu „thống nhất giang sơn“. Ông đã hào hiệp tặng Gorbachov và cả Jelzin sau này những khoản tín dụng và viện trợ khổng lồ để đổi lấy những thỏa thuận vô giá. 

Ông Kohl cho rằng sức mạnh kinh tế miền Tây có thể chu cấp xã hội nhiều năm cho hàng triệu đối tượng mà tin chắc là sẽ mất việc. Đó là cả bộ máy dân,chính, đảng, là lực lượng công an, quân đội mà ai cũng biết là khó hòa nhập vào xã hội mới. Để thêm phần chắc ăn, nhà nước thu thêm của người lao động Tây Đức một khoản „Phụ phí đoàn kết“ (Soli) để giúp đỡ đồng bào miền Đông.(2). Quỹ Soli này chỉ đem lại từ 10 đến 15 tỷ Eur/năm, trong khi số tiền miền Tây chuyển sang miền Đông khoảng 60-70 tỷ/năm để giữ vững cân bằng xã hội và phát triển hạ tầng. Theo viện nghiên cứu kinh tế IFO Dresden thì từ 1990 đến 2013 miền Tây đã viện trợ cho miền Đông 1600 tỷ EURO.[3] Cho đến nay con số này có lẽ đã vượt quá 2000 tỷ.

Lúc đầu người ta chỉ tính đến sự sụp đổ của một bộ phận công nghiệp nặng và hy vọng vào khả năng cải tạo công nghiệp nhẹ miền Đông. Nhưng việc kết thúc chiến tranh lạnh dẫn đến toàn cầu hóa làm đảo lộn mọi phép tính kinh tế. Các ngành dệt may, lắp ráp điện tử và sản xuất hàng tiêu dùng của  Đông Đức bỗng không thể cạnh tranh với các đối thủ có mức lương „tù“ từ châu Á. Ví dụ thành phố Karl-Marx, trung tâm công nghiệp dệt Đông Đức với 315.000 dân và hàng trăm xí nghiệp lớn nhỏ bỗng dưng biến thành thành phố ma với cái tên cũ là Chemnitz. Vì toàn bộ các nhà máy dệt, may mặc sập tiệm, nạn di dân sang miền Tây đã làm cho dân số tụt xuống còn 245.000 vào năm 2006. Các cô thợ dệt Việt Nam từng làm cho các nhà máy dệt ở Chemnitz giờ chỉ lo „đánh“ hàng dệt từ Châu Á sang 🙂.

Việc đóng cửa hàng loạt và tư nhân hóa ồ ạt các xí nghiệp quốc doanh không có sức cạnh tranh bỗng gây ra một làn sóng phẫn nộ ở Đông Đức. Dù biết rằng thất nghiệp sẽ không chết đói, không vô gia cư, nhưng những người thợ tự hào không chấp nhận mất tương lai. Các cuộc đình công chiếm giữ xưởng, hầm mỏ, tuyệt thực, chặn xe cảnh sát xảy ra thường xuyên ở Đông Đức từ đầu năm 91 đã đẩy mâu thuẫn xã hội lên cao. 

Đỉnh điểm của làn sóng này là vụ tổ chức RAF (Lữ đoàn đỏ) ám sát nhà công nghiệp Detlef Rohwedder hôm lễ phục sinh 1.4.1991 tại nhà riêng. Tháng 7.1990, ba tháng trước ngày thống nhất, nhà công nghiệp hàng đầu của Tây Đức được chính phủ Đông Đức mời sang làm giám đốc cục quản lý tài sản nhà nước (Treuhandanstalt), đặc trách việc việc tư nhân hóa tài sản quốc gia. Bọn khủng bố cánh tả đã xử án Rohwedder bằng hai phát đạn vì tội danh „Đại diện cho chủ nghĩa tư bản, cướp trắng tư liệu sản xuất của giai cấp công nhân“.

Tôi đã xúc động khi xem đoạn tin thủ tướng Kohl hôm 10.5.1991 đi thăm Halle, một thành phố công nghiệp đang khốn khó. Hàng ngàn người, mới năm ngoái còn coi ông là cứu tinh, nay bỗng xúm đến phản đối ông vì để cho họ mất việc làm. Thấy họ ném trứng, các vệ sỹ giữ ông lại. Nhưng ông Kohl đẩy vệ sỹ ra, chạy về phía đồng bào để nói chuyện với họ. Một quả trứng vỡ ngay trên mặt.

Lòng trắng trứng chảy trên mặt ông già, như những giọt nước mắt của mối tình Đông-Tây cay đắng.

Ông Helmut Kohl bị dân ném trứng hôm 10.05.1991 khi ông đến Halle để nghe họ kể khổ. Bất chấp can ngăn của vệ sỹ, ông vẫn chạy đến đối thoại với dân

Một nhà máy của CHDC Đức rao bán không được, sau hai năm thành đống sắt vụn

Ảnh ở trên chụp hai ngôi nhà tại Berlin vào tháng 8.1989. Bên trái góc phố Augustr. Bên phải là nhà đầu phố Tucholksy. Cả hai đều xuống cấp trầm trọng. Bức ảnh dưới là hai ngôi nhà đã được tân tạo, chụp năm 2008-2009.

Bà Merkel là một trí thức XHCN đã lãnh đạo nước Đức từ 2005 đến nay. Lúc đầu bà cũng từng bị các chính khách Tây Đức coi thường, cho là kẻ tập tành học nghề dân chủ

(Còn tiếp)

bài trước: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/6561966590488025

-----

[1] https://de.statista.com/.../vergleich-von-west-und.../

 [2]https://de.wikipedia.org/wiki/Solidarit%C3%A4tszuschlag

[3] https://www.bpb.de/.../die-frage-nach-den-kosten-der...


Wednesday, October 6, 2021

Đường về muôn nẻo

 

Hành trang con mang theo đầy đau buồn.

Hành trang con mang theo chất nặng tủi hờn của kiếp nghèo. 

Hình: lụm trên mạng.