Thursday, September 25, 2014

Hősök tere và Város liget


 Ngày xưa dãy bên này có Rạp Xiếc (Cirkusz), Bách Thú (Állat Kert) và Công viên Vui (Vidám Park). Bây giờ, do ngày càng ít người đến, nên người ta đã dẹp Vidám Park. Hồi đó tụi mình có bao giờ vào Cirkusz và Állat Kert, nên chỉ có kỷ niệm với Vidám Park là chính.

Mình ngán nhất mấy trò đu quay. Một lần bị Khánh và Bình to lừa lên Hullám Vasut, lòng phèo lộn xộn, mình thề không bao giờ lên chơi trò này. Có trò Vizi Vasut gì đó, nghe nói còn kinh khủng hơn, thì mình không vào. Đu quay cũng không nốt. Chỉ thấy nhớ và thích trò lái ô tô điện. Cứ có cô nào xinh là lao vào đâm kịch liệt.
    Đây là cửa Bách Thú

 
 Quảng trường Anh Hùng
 Bảo tàng Mỹ thuật Budapest



 Khu lâu đài cổ, bây giờ là bảo tàng nông nghiệp

 Những lùm cây um tùm, những con đường nhỏ sạch sẽ dễ thương bắt đầu lác đác lá rụng. Hai cô gái đang vừa chạy vừa cười ríu rít
 Bể bơi Széchenyi. Người ta nói đến Budapest nếu chỉ có thời gian làm một việc thì nên đi tắm ở bể bơi nước nóng Széchenyi. Ngày xưa là bể bơi của vua nên mới xây như một cung điện. Đến thời cộng hòa mới thành bể bơi công cộng. Thấy người ra vào toàn là những người đứng tuổi. Chẳng bù ngày xưa toàn con gái đẹp (chắc vì con nhà khá giả).
Mình có lần nhảy tùm xuống bơi ra giữa bể thì chìm xuống không bơi tiếp được. Khánh và Bình to phải bơi ra dìu vào.


 Mặt tiền của bể bơi

Wednesday, September 24, 2014

Gặp Ica

Buổi sáng, tôi đã có hẹn trước, nhưng Phương nói với tôi là hôm nay Ica từ Szolnok lên chỉ để gặp tôi. Thực ra tôi mới chỉ được anh Lê Minh kể về Ica, hình như gặp được 2 lần. Một lần nàng lên thăm anh Minh và một lần sau đó nàng lên ký túc xá trường tôi khi anh Minh đã về nước. Ký ức của tôi về nàng cũng tương đối mờ nhạt, chỉ biết đó là một cô gái trẻ, tình cảm và chân thành.
Tuy nhiên, tối hôm trước, Phương đã kể cho tôi quá trình tìm lại được nàng hộ anh Minh, cũng như Bình con đã kể cho tôi về chuyến đi của nàng và chồng về Nha Trang thăm anh Minh. Tôi thực sự trân trọng những người biết giữ gìn những gì thuộc về tâm hồn, ký ức và cảm xúc như thế. Do đó tôi quyết định cắt gần 2 tiếng đồng hồ từ một buổi hẹn rất quan trọng để về gặp Ica.
Xuất phát từ nhà một người bạn ở gần János Korház, phía khách sạn Budapest mà Bình con chắc còn nhớ, cách Quảng trường Moskva (nay đã mang tên khác, nhưng tôi cứ gọi như vậy cho nhớ kỷ niệm cũ) không xa. Nơi gặp là ở một quán cà phê trên đường Andrássy (Nép Koztársaság cũ). Có thể đi bằng Metro, nhưng tôi quyết định đi từ quảng trưởng Moskva, bằng tàu điện số 4 để ngắm đường phố. Đúng 2g kém 15, Phương đã gọi điện nói "Em và Ica ngồi đợi anh ở chỗ hẹn rồi". Rất xin lỗi vì đến muộn, nhưng giao thông ở Budapest ai dám hứa chắc là đúng giờ.
Trước tiên là bến ô tô bus ở quảng trường Moskva


Bến xe này ngày xưa, tôi, Khánh, Bình to thường đợi xe lên Vár, cũng là nơi tôi hay đợi xe để lên KFKI làm việc vào năm cuối đại học cũng như lần thứ hai quay lại Hung làm việc.
Từ đó đi xuống quảng trường, vẫn tấp nập như ngày xưa

Sang bến tàu điện số 4 và số 6, vừa vặn có tàu điện số 4 tới.
Tàu điện số 4 bây giờ là tàu hiện đại, ghế êm. Nhưng tôi không thích bằng chiếc tàu lộc cộc, leng keng cũ. Tàu vẫn chạy trên đường cũ. Cảnh vật vẫn gần như cũ


Tàu chạy qua cầu Margit


Quảng trường Jászai Mári
Nhà ga phía Tây (Nyugati pályaudvar)


Trên tàu điện, có nhiều người nhìn tôi chụp ảnh lia lịa cả những cảnh không có gì làm đẹp hay nổi tiếng, với vẻ hơi ngạc nhiên với một du khách "dở hơi". Trong số đó có một cô gái trẻ, khá xinh xắn, theo dõi tôi rất chăm chú trên một quãng đường dài, có vẻ tò mò, đoán xem ông này tại sao lại chụp ảnh lung tung như thế. Cuối cùng thấy mắt nàng sáng lên có vẻ như tìm được câu trả lời thích hợp. Tôi tự  nhủ thầm "Một nàng Ica hiện đại". Tôi thực không dám chĩa ống kính để chụp nàng, mặc dù rất muốn.
       Tôi xuống tàu điện ở Oktogon, nơi ngày xưa gọi là quảng trường November 7 (Ngày 7 tháng 11, kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga). Một chiếc tàu điện đang đi tới, giống như ngày xưa
Phong cảnh Quảng trường
Theo chân hai cô gái đi xuống ga tàu điện ngầm tuyến số 1. Đây là tuyến tàu điện ngầm cổ nhất Budapest

Phương chợt gọi lại dặn tôi xuống ga Bajza utca, lối vào Sứ quán cũ. Phong cảnh xung quanh, trên đường Andrássy, sau khi tôi rời bến tàu điện ngầm




Cố nhiên là lại đi sai hướng, lạc lối và trễ giờ hẹn. Đồng hồ chỉ 2g30, trễ nửa tiếng. Nhưng cuối cùng thì cũng đã gặp mặt



Tôi có một cuộc phỏng vấn rất hay với Ica, hơi tọc mạch nhưng được biến thành tế nhị và biết được thêm nhiều điều "bí mật".  Nếu anh Lê Minh cho phép tôi sẽ viết về cuộc phỏng vấn này, nếu không thì giữ cho riêng mình như một kỷ niệm vui vui.
   Có một số chi tiết không riêng tư lắm có thể viết ngay. Tôi nói với Ica là đã 40 năm mới gặp lại. Nàng cứ nhắc đi nhắc lại "Chưa đến 40 năm mà". Tính kỹ ra thì khoảng 38-39 năm, nào có khác gì. Nhưng thôi được, chiều nàng, chúng ta mới gặp nhau gần đây. Nàng có 2 con một trai một gái, đã có mấy cháu nội ngoại gì đó, rất thích chăm cháu. Riêng chuyến đi Budapest này, nàng nói là một chuyến đi bí mật, không thể cho chồng biết. Tôi hỏi tại sao không nói, nàng chỉ trả lời đơn giản "Em không thể" (Nem tudok). Có lẽ sợ chồng nghĩ là điên rồ, lên Budapest để gặp một người mới gặp thoáng qua 2 lần. Khi cùng ra xe, thấy nàng đi hơi khập khiễng, tôi hỏi, nàng nói là "Chân em bị đau". 

Lars Quidam


"Cuộc đời của bạn là vũ trụ của bạn.
Nếu không thích, hãy thay đổi nó!
Người khác sẽ không làm thay bạn,"


Tiểu luận: Giao thoa văn hóa (3)

                                                      Phần 3

II. Giao thoa văn hóa ở miền Nam
01. Trên đây là nói sơ lược về 100 năm giao thoa văn hóa Đông - Tây, Nam - Bắc của Việt Nam, thường lấy một hệ quy chiếu là Hà Nội, thủ đô Việt Nam “ngàn năm văn vật” thủ phủ Đông Dương trong nhiều năm của thế kỷ XX. Đấy cũng là nơi cư trú và địa bàn nghiên cứu tìm hiểu tương đối kỹ của tôi.
02. Nay, nếu ta “chuyển hệ”, lấy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định làm hệ quy chiếu cả “Nam kỳ lục tỉnh”, cả miền Nam hôm nay thì ta có thể nhận định gì về 100 năm giao thoa văn hóa ở Sài Gòn - miền Nam trong thế đối sánh với Hà Nội - Miền Bắc?
Có thể mô hình hóa, sơ đồ hóa Sài Gòn miền Nam như sau:

Thời Nguyễn Hữu Cảnh (1668) trung tâm chính trị của dinh trấn biên là Biên Hòa - và Cù Lao Phố tàn lụi cuối thế kỷ XVIII thì Bến Nghé - Sài Gòn - Chợ Lớn bật lên như một trung tâm cảng thị đã có xuất nhập khẩu phát triển, đã trở thành tâm điểm của “Nam kỳ lục tỉnh”.
Sài Gòn nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
Dưới thời Lê Văn Duyệt, Sài Gòn - Gia Định “mở” cả về tư duy kinh tế, cả về tư duy tôn giáo, là một cảng giao lưu kinh tế và giao thoa văn hóa vào bậc nhất ở vùng Viễn Đông. Cộng đồng người Hoa cũng đông đặc nhất ở đây và hình thành Chợ Lớn một “China town” cũng vào loại bậc nhất Viễn Đông. Không phải bỗng dưng mà dưới thời thuộc Pháp, Sài Gòn đã nổi tiếng “hòn ngọc Viễn Đông”. Giao thoa văn hóa có ngay trong lòng Sài Gòn - Chợ Lớn “Gia Định tam gia” - như Trịnh Hoài Đức - là Việt gốc Hoa. Minh Nho ở Đàng Trong phát triển trong khi ở Đàng Ngoài dường như vẫn chỉ dừng ở Tống Nho. Phật giáo phái Lâm Tế cũng phát triển mạnh ở miền Nam hơn ở miền Bắc với các thiền sư Nguyên Thiều, Nguyên Lượng... với các chùa Giác Viên, Giác Lâm... mà sư tổ ở đây là bạn thân Trịnh Hoài Đức. “Thiên địa hội” cũng hoạt động mạnh ở vùng đất mới này. Đó là vài chứng cứ của giao thoa Nam - Bắc.
Dưới thời thực dân Pháp, Nam kỳ là đất “trực trị” dưới quyền Thống đốc Pháp trong khi Trung - Bắc kỳ trên danh nghĩa là đất “bảo hộ” vẫn còn nặng cơ cấu quan liêu của Nam triều - cho dù là “bù nhìn”, “hình thức”. Và dân Nam kỳ có được hưởng chút ít quyền tự do, dân chủ hơn Trung - Bắc kỳ.
Nhiều trí thức Trung Bắc như Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Hà Huy Giáp, kể cả Tản Đà, Tô Hoài... không chịu nổi sự o ép của các trí thức thực dân ở Bắc - Trung kỳ đã vô Sài Gòn viết báo, viết văn, đả kích thực dân... “Từ Thành phố này, Người đã ra đi”, Nguyễn Ái Quốc và nhiều người yêu nước khác của cả nước (Võ An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Trần Văn Giàu, Bùi Công Trừng...) và chính họ là một thế hệ giao lưu văn hóa Đông - Tây để mang về Việt Nam những tư tưởng Dân chủ - Khoa học, Mác-xít...
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gần như suốt thập kỷ 30 là đóng ở Sài Gòn - Côn Đảo, để giao lưu với Pháp và phương Tây, nơi này nhiều “Tân thư” của Trung Hoa (Chợ Lớn), nhiều sách báo tiến bộ, Mác-xít được truyền bá.
03. Không thể nói rằng chính sách “chia để trị” của thực dân đã không có ảnh hưởng (dù là phần nào) đến tâm thức Việt Nam, nhất là với phần tử lớp trên, kẻ đại diện cho ý thức dân tộc.
Đàng Trong - Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII-XVIII đến hết thế kỷ XIX vẫn là Trong - Ngoài của một Đại Việt, một triều Lê.
Với Gia Long - Minh Mạng, đã có một chính quyền quân chủ trung ương liền một dải từ Lạng Sơn cho đến Cà Mau. Tuy vậy vẫn có một Bắc thành, một Gia Định thành, một phủ Thừa Thiên Thuận Hóa trực kỳ. Đầu thời thuộc Pháp, vẫn có Kinh lược sứ Bắc kỳ dù là Khâm sai đại thần.
Thời thực dân, dấu nhấn Nam - Trung - Bắc kỳ mạnh hơn, nặng nề hơn. Người Bắc (như mẹ tôi) muốn vô Sài Gòn (thăm bố tôi làm công chức ở trỏng) vẫn phải cậy cục đi lấy “tít” (...d’ Identité) ở các phủ Thống sứ Bắc kỳ, phủ Toàn quyền Đông Dương, như đi “ngoại quốc”. Nguyễn Công Hoan, trong Kép Tư Bền đã đặt vào miệng người dân Bắc kỳ câu: “Đi nước Sài Gòn!” nhẽ ra là “xứ Sài Gòn” dù trong sâu thẳm ký ức tâm linh, đấy vẫn là một bộ phận của nước Việt Nam xưa.
Tâm thức Nam kỳ thì cũng vậy, mà đến tột cùng “phản văn hóa” là các quái thai “Nam kỳ quốc” của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh để cuối cùng phải tìm đến sự tự sát về hối hận và tuyệt vọng.
Có vấn đề địa - văn hóa - lịch sử: nước Việt “hình cong như chữ S” này quá hẹp chiều Đông - Tây (nhất là ở miền Trung) nhưng lại quá dài (tương đối) chiều Nam - Bắc. Bắc là đất Tổ lâu đời mấy ngàn năm; Nam là “Đất (tương đối) mới” (“Ba trăm năm Sài Gòn - Gia Định” (1698-1998)).
Tâm thức vùng đất mới, dễ tiếp thu cái mới, dễ bỏ rũ nhiều truyền thống. Thầy tôi (GS. Trần Văn Giàu, người Nam) khi ở Đại học Văn khoa Hà Nội đã có lần dạy chúng tôi rằng: Người Việt trong lịch sử ngàn năm đã có công cuộc “Nam tiến” tìm đất mới làm ăn. Trèo núi đèo (“một đèo, một đèo, lại một đèo”) lội qua suối, qua sông, từng chặng, từng chặng... lại bỏ bớt dần “gánh nặng truyền thống” rồi giao hòa cuộc sống mới với cư dân bản địa Chăm, Mạ, Khơme...
Nhìn theo khía cạnh Văn hóa học, hiện thực lịch sử lớn đó nên gọi là “Giao thoa văn hóa bên trong một quốc gia đa dạng học, đa dạng văn hóa và tộc người” (Inter-Acculturation).
04. “Miền Nam đi trước về sau” thành ngữ đó vốn là của chính trị học, nói về phong trào và chiến tranh Giải phóng dân tộc.
Nhưng theo tôi, miền Nam - Sài Gòn, trên nhiều mặt cũng “đi trước” về giao thoa văn hóa Đông - Tây. Vì đây là một tiểu luận nên không thể viết dài, dẫn giải cặn kẽ, chỉ xin lược kê như sau, để sau này, có điều kiện, sẽ phát triển thành một công trình dài hơi hơn.
1. Sài Gòn - Gia Định (và lục tỉnh Nam kỳ vốn ít ông Tú, ông Cử (Cống), ông Nghè hơn miền Bắc, lại bỏ các kỳ thi Nho giáo sớm hơn hai miền Trung Bắc (từ nửa cuối thế kỷ XIX, Bắc kỳ - 1915, Trung kỳ - 1918).
2. Nền giáo dục kiểu phương Tây phát triển sớm hơn, nhà trường dùng tiếng Pháp, dùng chữ Quốc ngữ sớm hơn (xem Petrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của...).
3. Báo chí chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Hoa phát triển sớm hơn và theo dòng thời gian lịch sử có số lượng phong phú hơn, thủ tục xin ra báo dễ hơn hai miền Trung - Bắc (Thầy tôi, GS. Đào Duy Anh (gốc Bắc) ở thập kỷ 20, bỏ dạy học ở Đồng Hới (Quảng Bình) để vào Nam làm báo. Đến Đà Nẵng, gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng - Viện trưởng dân biểu Trung kỳ - cảm nể quay về Huế giúp cụ Huỳnh ra báo Tiếng Dân).
4. Các thể loại văn học, viết theo lối mới (ký, tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết...), dù có cái “nửa Tây nửa Tầu”, đã phát triển ở Sài Gòn - Gia Định sớm hơn Trung - Bắc (Petrus Ký, Paulus Của, Hồ Biểu Chánh ...).
5. Như tôi đã viết trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (Bộ Văn hóa Thông tin) để dẫn giải vì sao Nam bộ lại là mảnh đất sản sinh ca kịch cải lương (từ thập kỷ 10-20) sau mới lan tỏa ra Bắc - Trung. Cũng vậy, về các dòng “nhạc tài tử” về điệu “Vọng cổ”...
6. Các nghệ thuật chớp bóng (điện ảnh: 1898), chụp hình (nhiếp ảnh - tuy vẫn biết cụ Đặng Huy Trứ mở hiệu ảnh ở Hà Nội sớm (nửa cuối XIX) song theo tôi đấy chỉ là hiện tượng cá biệt, chụp chân dung tiên tổ để thờ (“cảm hiếu”) chưa phải là một nghệ thuật chụp hình (“cái thường ngày”), kể cả nghệ thuật thể thao lối Tây (đá banh (bóng), quần vợt, đua xe đạp, đua bơi lội) đã phát triển sớm hơn và mạnh hơn ở Sài Gòn - Gia Định, Lục tỉnh Nam kỳ, so với hai miền Trung - Bắc.
7. Sài Gòn - Gia Định, lục tỉnh Nam kỳ “làm quen” với nền kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa, xuất nhập khẩu... mạnh hơn hai miền Trung Bắc.
8. Trên báo Sài Gòn giải phóng Tết Bính Thìn (1976), từ Hà Nội, tôi đã viết bài đối sánh Hà Nội - Sài Gòn và ngay từ lúc đó “người Hà Nội” là tôi đã dám ca ngợi người dân Sài Gòn có tinh thần dân chủ hơn, tuân thủ kỷ luật hơn (tính pháp chế, pháp quyền), bộc trực thẳng thắn hơn tôi, người trí thức đại diện cho tâm lý tiểu nông châu thổ sông Hồng, tỉ mẩn hơn, khép kín hơn, vờ vịt hơn...
9. Tôi rất thích lời khái quát này của GS.TS. Keith Taylor “người Mỹ nhưng mà tốt”, bạn tôi, viết trong cuốn The Birth of Viet Nam (Sự sinh thành của Việt Nam): “The North resolve, The South release” (miền Bắc quyết tâm, quyết ý, miền Nam phóng khoáng, thích thẳng).
Đúng hay Sai, xin các vị cao minh thức giả ba miền Nam Trung Bắc vui lòng chỉ giáo cho. Xin cảm ơn!

Tuesday, September 23, 2014

Tin hay không tin...


"Bất kể bạn tin rằng bạn có khả năng làm một điều gì đó,
hay bạn tin rằng bạn không thể,
bạn vẫn luôn luôn đúng." 


Monday, September 22, 2014

Andrew Matthews


"Khi bạn hạ quyết tâm:
'tôi sẽ làm việc này
bất kể khó khăn đến đâu,'
lúc đó, cuộc đời bắt đầu ủng hộ bạn!"