Saturday, April 2, 2022

Chuyện trò với người Israel

 CÁCH NGƯỜI ISRAEL GIỮ NƯỚC 

Khi nghe người ta nói “nếu Wall Street (Phố Wall) hắt hơi, cả thế giới bị cảm cúm”, nhiều bạn tưởng tượng phố Wall to lớn lắm, thực tế nó là một con đường bề ngang chỉ vài mét, chiều dài khoảng 1,1 km. Wall Street là nơi tọa lạc các định chế tài chính lớn nhất thế giới. Người làm việc ở Phố Wall là tinh hoa của giới tài chính toàn cầu.

Mùa đông năm 2014, mình đến New York du lịch. Thông qua vài người bạn, mình có quen một vài tinh hoa Phố Wall, trong đó có Gidon – người Israel. Gidon trạc 30 tuổi, tốt nghiệp cử nhân toán ở Israel trước khi học thạc sĩ tài chính ở ĐH Columbia. Học xong, Gidon về nước làm cho quỹ đầu tư trước khi quay lại Mỹ phụ trách giao dịch cổ phiếu của một số công ty Israel trên các sàn chứng khoán New York. Gidon hôm đó được nghỉ phép, anh mời mình đến quán Manon Café, ngay đầu phố Wall. 

1. Khởi nghiệp kiểu Israel

Mình lúc đó chưa từng đến Israel, kiến thức về đất nước này chỉ thông qua sách báo, tivi (sau này thì có đến vài lần). Khi nghe Gidon xác nhận thông tin trong cuốn sách Quốc gia khởi nghiệp, trong số 3.850 công ty mới ra đời được niêm yết trên sàn NASDAQ, có tới 1.884 công ty là của Israel, quốc gia có 7,1 triệu dân so với 7 tỉ dân toàn cầu, mình không biết nói gì hơn. Ở Israel, mọi sinh viên từ năm 2 là đã bắt buộc thành lập doanh nghiệp để thử nghiệm (trừ các ngành đặc thù như y khoa, sư phạm, …). Gidon bảo với người trẻ, ý tưởng và khả năng điều hành doanh nghiệp mới là cái khó chứ không phải vốn. Vì ở phố Wall hay bất cứ thị trường chứng khoán nào, tiền vẫn cứ đang nằm chờ để giải ngân vào các ý tưởng điên rồ nhất. Khi phát triển doanh nghiệp, các bạn trẻ người Israel lập tức mang dự án mình đến các quỹ đầu tư có văn phòng đặt tại Tel Aviv, trung tâm kinh tế của Israel, để “kén rể”. Các quỹ này đánh giá thấy “cô dâu” này “ngon ăn” sẽ giúp các bạn “mai mối” trên sàn chứng khoán New York, London, Tokyo, Hong Kong, Singapore, …

 Khi có một doanh nghiệp ăn nên làm ra hoặc khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, người Israel chia ra cả chục phần cho các cường quốc, nhưng sẽ không để nước nào chiếm cổ phần chi phối. Ví dụ, công ty A, người Israel vẫn giữ cổ phần 20%, 80% còn lại chia đều cho các tập đoàn tài chính, các nhà tài phiệt của Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức, Nga, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Ý, Úc, Nam Phi, Hàn Quốc, Singapore, … Một khi có quyền lợi ở đấy, các cường quốc sẽ bảo vệ Israel khỏi mối nguy hiểm của 22 nước Ả Rập bên cạnh, vốn rất giàu có nhờ vào dầu mỏ. Theo người Do Thái, không có bạn bè đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích là vĩnh viễn.

2. Họ chào đón thất bại

Gidon nói khoảng 99% các bạn trẻ Israel thất bại ở lần khởi nghiệp đầu tiên, nhưng thất bại là cơ hội để rút kinh nghiệm nên họ luôn chào đón thất bại (We welcome failure). Vì người ta chỉ có thể học tập nhiều nhất từ thất bại của chính bản thân mình, kinh nghiệm của người khác chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu bạn không ngã một vài lần thì sẽ không biết chạy xe đạp, chưa uống vài ngụm nước trong bể bơi thì sẽ không biết bơi. Đọc nhiều, kiến thức rộng, nói hay...không có ý nghĩa nhiều. Làm giỏi, có thành tựu mới là thành đạt. Chưa ai đọc sách làm giàu, học ĐH về kinh tế hay học các khóa làm giàu, nghe người khác kể chuyện khởi nghiệp mà tự mở doanh nghiệp thành công được cả.

3. Quốc tế hóa để không ai dám xâm lược

Bài toán lợi ích luôn là một bài toán khó. Nhưng với những cái đầu Do Thái thông minh, họ luôn có cách giải xuất sắc nhất. Với những vùng đất, biển đảo tranh chấp, … họ đều quốc tế hóa, thành lập một pháp nhân để quản lý, khai thác, cổ phần chia đều cho các cường quốc, Israel vẫn giữ một tỉ lệ nhỏ dưới danh nghĩa chủ nhà. Gidon bảo các thế kỉ trước, người Anh, người Pháp, người Bồ, người Hà Lan, … đi chiếm thuộc địa, mục đích duy nhất là đem của cải về mẫu quốc, chứ họ không di dân đến sống ở đó, người Tây phương không sống ở xứ nóng. Mày xem đấy, Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Nam Phi,…đều là xứ lạnh cả. Sát cạnh đó là Mexico, Trung Mỹ, Đông Nam Á, Trung Đông, Trung Phi, … là xứ nóng, họ chỉ đến để khai thác lợi ích kinh tế. Chính sách nước nào cũng đều khuyến khích người phương Tây đến mua nhà, vì thật sự muốn làm ăn hay sinh sống lâu dài thì người phương Tây mới tính chuyện đó, không có khái niệm đầu cơ nhà cửa như dân châu Á. Nếu người Thụy Sĩ có nhà ở thành phố Jerusalem thì đại sứ quán Thụy Sĩ ở đó sẽ bảo vệ công dân họ. Nếu các tập đoàn đa quốc gia như Unilever, Nestlé, … mở nhà máy ở Haifa thì thành phố đó sẽ yên bình. Một quốc gia đứng trước một mối nguy từ láng giềng to lớn thì tốt nhất là cho các tập đoàn G20 thành lập các khu công nghiệp, càng nhiều càng tốt. 

Tiếng Anh bắt buộc học từ lớp 1, PHẢI LÀ NGÔN NGỮ THỨ 2 (the second language) (chứ đừng xem là 1 ngoại ngữ (a foreign language), cái này quốc hội đã thông qua. Ngoại ngữ thì tiếng Pháp, Đức, Ý, Trung, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha...Tạo cơ hội cho người dân giao lưu với người nước ngoài, người dân ai cũng có bạn bè quốc tế. Càng nhiều người nước ngoài đến du lịch hay làm ăn, tiếng nói chính nghĩa của mình sẽ được rộng khắp. Khi chiến tranh, người ta sẽ tuyên truyền theo hướng có lợi cho họ. Càng nhiều người biết tiếng Anh thì càng giành thắng lợi trên mặt trận truyền thông. 

Là một quốc gia nhỏ bé và ít dân, lại luôn rình rập bởi các nước Ả Rập xung quanh, người Israel giữ nước bằng cách cho các nước lớn có lợi ích trong mọi lĩnh vực. Gidon bảo ví dụ hãng hàng không ABC Airlines, nếu người Israel sở hữu 100% thì doanh số chỉ có 1 tỉ đô. Nhưng tụi tao chia 10 phần ra. Cho các cường quốc nắm giữ 80% thì doanh số lên tới 20 tỉ đô, dù tụi tao có 20% thôi nhưng số tuyệt đối là 2 tỉ. Mua máy bay Airbus của châu Âu hay Boeing của Mỹ đều được ưu tiên. Lúc hoạt đông, máy bay bay qua không phận nước nào, nước đó bảo vệ khí thế vì đó là tài sản của họ.

Mình bảo nhưng công sức mình khởi nghiệp đã đời mà tự nhiên đem bán, tiếc lắm. Gidon vừa uống cà phê vừa cười sặc sụa. "Do mày ít sáng tạo, lâu lâu nghĩ ra ý tưởng được một chút thì ráng giữ. Người giỏi rất khác. Dù có bị ai đó triển khai mất, họ lại có ý tưởng khởi nghiệp mới. Nên dù cho cái start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) đó có lợi nhuận khủng, các bạn trẻ Israel (làm chủ cái start-up đó) vẫn bán cho nước ngoài. Thậm chí nếu nước ngoài mua hết thì bán luôn, các bạn sẽ dùng tiền đó thành lập một start-up khác".

4. Luôn có một nơi gọi là tổ quốc

Gidon nói tụi tao về quê khởi nghiệp không chỉ vì bản thân và gia đình mình, mà còn vì tổ quốc. Chiến tranh liên miên ngàn năm, được miếng đất cắm dùi rồi, tụi tao phải ra sức xây dựng. Phải hùng mạnh về sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, quốc phòng, công nghệ, giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá...Phải mọi giá tự chủ trước và sau đó các doanh nghiệp sẽ đi đầu tư để nắm giữ thế giới, cho việc làm cho các nước nghèo để tạo sức mạnh. Làm ông chủ quốc tế như Hàn Quốc, Singapore, Đức thì ai dám đụng đến? 

Israel không có những thung lũng hoa hồng mọc tự nhiên, tụi tao sẽ đem hạt giống về trồng, chắn nắng, che mưa, che bom đạn, … để thành những thung lũng hoa hồng xanh mát. Quê hương sỏi đá, mày có thể lựa chọn, hoặc bỏ đi đến chỗ tốt tươi hơn, hoặc chung tay xây dựng nó. Sinh ra trong một gia đình nghèo thì mày có thể bỏ lên thành phố phồn hoa hoặc ở lại và cải tạo ngôi nhà đó thành nơi đáng sống. Tao có thể xin quốc tịch Mỹ, nhưng tao đã từ chối. Với người Israel, chỉ có một quê hương...

Gidon liếc nhìn đồng hồ rồi xin phép về trước. Mình đứng dậy siết chặt tay bạn, hẹn gặp lại tại Việt Nam. Bạn nói nếu nước mày muốn phát triển, hãy tự cường chứ không dựa vào đồng minh nào, vì ai cũng có lợi ích của họ cả. Hãy ra luật chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ 2 để ai cũng sử dụng thành thạo, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp sản xuất và khoa học kỹ thuật phát triển, hãy  gửi thật nhiều bạn trẻ tinh hoa đến Israel (học tập cái tinh thần chứ không phải bạn trẻ đầu óc nhỏ xíu chỉ nghĩ về lương bổng mấy đồng vớ vẩn). Giáo dục, nông nghiệp, quân sự, y khoa, start-up về công nghệ IT là 5 lĩnh vực người Israel giữ vị trí số 1 thế giới hiện nay. Tụi tao đã đào tạo nhân lực trong 5 lĩnh vực trên cho Hàn Quốc, sau đó là Singapore và thứ 3 có thể là Việt Nam, quốc gia mà người Israel có thiện cảm đặc biệt. Nếu nhân dân hai nước giao lưu thân mật, đường bay trực tiếp được thiết lập, Việt Nam hoàn toàn có thể nối tiếp Israel trở thành một quốc gia khởi nghiệp mới.

Bạn về, mình vẫn còn ngồi lại. Ngoài cửa sổ quán cà phê Manon, đèn đường đã bật sáng, tuyết bắt đầu rơi dày. Nhìn dòng người đủ màu da, chủng tộc vừa tan sở, bước ra khỏi các tòa nhà cao ốc tài chính và vội vã đi trên phố, mình nghĩ sâu thẳm trong tim mỗi người, ắt hẳn có một nơi gọi là Tổ quốc.

Từ fb Tony Buổi Sáng

HÀ NỘI BĂM SÁU (36) PHỐ PHƯỜNG

 Cụm từ "Hà Nội 36 phố phường" từ rất lâu đã quen thuộc với người Hà Nội và với đồng bào cả nước nhưng hiểu rõ ý nghĩa của cụm từ này thì nhiều người chưa hiểu hoặc mỗi người lại hiểu theo cách khác nhau.Qua những tài liệu nghiên cứu về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội của ông Nguyễn Vinh Phúc và nhiều tài liệu lịch sử mà tôi được đọc.Tôi muốn chia sẻ với quý vị, những người bạn có cùng đam mê yêu Hà Nội và thích tìm hiểu về Hà Nội để cùng hiểu rõ cụm từ này mà càng yêu Hà Nội nhiều hơn.

      Một câu ca dao cổ:

"Hà Nội băm sáu phố phường .

Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng muối trắng tinh ....."

     Hoặc một bài thơ, liệt kê 36 phố:

   "Rủ nhau chơi khắp Long thành,

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:

  Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,

  Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,

  Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,

  Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,

  Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,

  Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,

  Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,

  Hàng Hòm,hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,

  Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,

  Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,

  Quanh đi đến phố hàng Da,

  Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.

  Phồn hoa thứ nhất Long Thành,

  Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.

  Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

  Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền"

     Câu ca dao đó, bài thơ đó nhiều người biết nhưng không chính xác. Vì để cho đủ con số 36 phố và cho bài thơ có vần điệu nên được phố nọ lại thiếu phố kia.(Chẳng thấy các phố cổ: Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Lược, Hàng Rươi, Hàng Mành, Hàng Quạt đâu). Hơn nữa, phố và phường là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau.

  PHƯỜNG là gì?

 - Là một tổ chức của một nhóm người làm cùng một nghề như phường chèo, phường múa rối, phường múa sư tử, phường thợ gặt, phường bốc vác ..... Những phường này di động nay đây mai đó theo nhu cầu hoặc thời vụ ở các địa phương.

 - Là một phường nghề như phường thợ rèn, phường làm hàng mã, phường chế tác vàng bạc, phường thợ nhuộm vải .....Những phường này thường ở cố định một địa điểm gồm nhiều gia đình có quan hệ đồng hương, huyết thống, có cùng một nghề.

 - Phường còn là một đơn vị hành chính tương đương với xã, dưới cấp huyện trên cấp thôn, trại.Ở nơi kinh kỳ đã đô thị hóa thì một phường có thể bao gồm nhiều phố. Thí dụ phường Đông Các có phố Hàng Bạc, Hàng Mắm, Hàng Giầy. Do vậy phường không thể ngang hàng với phố mà bao trùm lên các phố.

  PHỐ là gì?

 Là một từ Hán - Việt cổ có nghĩa là chỉ một địa điểm bán hàng có thể là một khoảng đất trống hay một ngôi nhà, một gian hàng, một sạp hàng mà ngày nay thường gọi là Ki-ốt để bán một mặt hàng nào đó ở ven một con đường có nhiều người qua lại.Thí dụ ngôi nhà bán Chiếu gọi là phố hàng Chiếu, ngôi nhà bán Muối gọi là phố hàng Muối ...Dần dần có nhiều ngôi nhà bán cùng một mặt hàng ken sát vào nhau thành một dẫy ở cả hai bên con đường dài hoặc ngắn. Đáng lẽ phải nói dẫy các phố hàng Chiếu, dẫy các phố hàng Muối, một dẫy nhiều cái phố bán cùng mặt hàng thì lại nói vắn tắt là phố hàng Chiếu, phố hàng Muối. Như vậy từ Phố không để chỉ một ngôi nhà bầy bán hàng nữa mà để chỉ cả một dẫy các ngôi nhà bán hàng liền kề nhau. Và từ Phố được sử dụng thoáng hơn đối với những con đường mà hai bên chỉ có nhà ở không bán thứ hàng gì. Phố đã trở thành một từ có nghĩa như Rue của tiếng Pháp, Street của tiếng Anh.

      Do Phường và Phố có ý nghĩa khác nhau như vậy nên không thể gọi gộp với nhau được.

      Có người lại cho rằng Hà Nội 36 phố phường là để chỉ khu phố có 36 con phố mà tên gọi bắt đầu bằng từ HÀNG. Hoàn toàn sai vì khi Hà Nội hình thành khu phố cổ thì vào tk XIX đã có khoảng 80 con phố mà tên gọi bắt đầu bằng từ Hàng.Từ tk XX đến nay do bị đổi tên hoặc bị sáp nhập vào nhau nên Hà Nội cũng còn có trên 50 phố mà tên gọi bắt đầu bằng từ Hàng.

Phố Hàng Chĩnh năm 1884(ảnh st từ net)

      Những phố Hàng bị mất đi là: phố Hàng Hài nay là đoạn đầu Hàng Bông, Hàng Mụn là Hàng Bút, Hàng Bừa và Hàng Cuốc gộp thành Lò Rèn, Hàng Lọng là đoạn đầu Lê Duẩn, Hàng Bột là Tôn Đức Thắng, Hàng Chè là đoạn đầu Đinh Tiên Hoàng, Hàng Giò là đoạn đầu Bà Triệu, Hàng Kèn là đoạn Bà Triệu từ Trần Hưng Đạo đến Nguyễn Du, Hàng Đàn là đoạn giữa Hàng Quạt, Hàng Màn là đầu Hàng Giầy, Hàng Lam là đầu Hàng Ngang, Hàng Lờ là cuối Hàng Bông, Hàng Nâu là Trần Nhật Duật, Hàng Tiện là đầu Hàng Gai, Hàng Sơn là Chả Cá, Hàng Đẫy là Nguyễn Thái Học, Hàng Mã dưới và Hàng Mây thành Mã Mây, Hàng Trứng là cuối Hàng Mắm, Hàng Gạo là Đồng Xuân, Hàng Thêu là cuối Hàng Trống, Hàng Sắt là cuối Thuốc Bắc, Hàng Bông thợ nhuộm là Thợ nhuộm, Hàng Bông đệm và Hàng Bông Cửa quyền cùng với Hàng Bông Lờ nhập lại là Hàng Bông.

       Có một số phố mang tên Hàng như: Hàng Bột, Hàng Cháo, Hàng Bún, Hàng Chuối, Hàng Đẫy, Hàng Lọng, Hàng Cỏ và một ngõ: Hàng Thịt không nằm trong khu phố cổ. Nhưng ngược lại, có những phố, ngõ không mang tên Hàng lại nằm trong khu phố cổ như: Cầu Gỗ, Cầu Đông, Chợ Gạo, Nhà Hỏa, Cổng Đục, Tố Tịch, Tạ Hiện, Lương Ngọc Quyến.....

       Thế thì con số 36 ở đâu ra ?

       Vào thời Lê kinh thành Thăng Long gọi là phủ Phụng Thiên gồm hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận mỗi huyện có 18 phường,tổng cộng là 36 phường. Trong suốt ba thế kỷ nhà Lê,Thăng Long vẫn giữ nguyên sự phân định hành chính như vậy.

       Sang đầu TK XIX nhà Nguyễn đổi Thăng Long là phủ Hoài Đức. 1831 đời vua Minh Mạng thành lập tỉnh Hà Nội gồm có 239 phường thôn, trại.Đến giữa TK XIX đời vua Tự Đức Hà Nội lại chỉ còn 153 phường, thôn, trại. 

Phố Hàng Đồng năm 1884(ảnh st)

       Như vậy con số 36 chỉ liên quan đến 36 phường của Thăng Long thời Lê còn chẳng liên quan gì đến Hà Nội. Một lý giải khác về con số 36 là theo tín ngưỡng Á Đông con số 36 mang ý nghĩa Tài Lộc. Sách binh thư của Tôn Tử có 36 kế, đánh cờ có 36 nước, điệu hát Cửa đình có 36 giọng, Quan họ Bắc Ninh có bài 36 tiếng chim. Bên cạnh đó lại chịu ảnh hưởng của văn học, thơ ca với những tác phẩm nổi tiếng viết về "Hà Nội 36 phố phường" của Thạch Lam, Tô Hoài. Nhưng thực tiễn lịch sử cho biết cụm từ "Hà Nội 36 phố phường" chỉ mang tính ẩn dụ, ước lệ để chỉ Khu phố trung tâm của Hà Nội bao gồm toàn bộ Quận Hoàn kiếm,một phần Quận Hai Bà Trưng và một phần Quận Đống Đa ngày nay. Vì là ước lệ lại có từ lâu đời nên cụm từ "Hà Nội 36 phố Phường" chúng ta vẫn đang sử dụng là để nói đến khu trung tâm bao gồm các phố cổ, phố cũ của Hà Nội mà thôi chứ không có ý nghĩa về số học cho một cấu trúc đô thị.

Ngôi nhà cổ 87 phố Mã Mây, trong khu phố cổ Hà Nội (ảnh của NAG Nội Hà)

VietCuong Sarraut khảo cứu và biên tập

Friday, April 1, 2022

Về trách nhiệm của thể chế/chính quyền

 TRỊNH VĂN QUYẾT GIAO DỊCH NỘI GIÁN, TRÁCH NHIỆM THUỘC VỀ AI?

Khi bị cướp đất, chúng ta chỉ biết thù oán Viettel, anh Vượng...

Khi bị lừa ngoáy mũi để dịch bệnh tràn lan, chúng ta chỉ biết căm phẫn Việt Á.

Khi các trùm lừa đảo ngang nhiên hoành hành trên sàn chứng khoán, trắng trợn tung tin lừa bịp rồi mua bán chui mà thực chất là giao dịch nội gián, cướp hết tiền trong tài khoản của nhà đầu tư, làm rối loạn thị trường, phá hoại nền kinh tế, chúng ta chỉ biết oán thán anh Quyết, anh Bảy...

Chúng ta có nghĩ ai sinh ra những kẻ đó, ai dung dưỡng bảo kê cho những kẻ đó hoành hành?

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh chứng khoán, đảm bảo cho thị trường vận hành và phát triển lành mạnh. Nếu, UBCKNN có sự quản lý tài khoản chứng khoán của tất cả những người thuộc đối tượng quản lý buộc phải công bố giao dịch thì kẻ nào có thể dễ dàng mua bán chui trót lọt như mua bán mớ rau ngoài chợ? 

Một điều đơn giản nhất mà một em học sinh trung học cũng có thể làm được, là phong tỏa hết tài khoản chứng khoán của tất cả những người trong diện phải công khai giao dịch. Chừng nào họ muốn mua bán thì phải thông báo với UBCK theo quy định. Sau đó 5 ngày theo luật quy định, UBCK thông báo cho sàn chứng khoán mở phong tỏa để họ giao dịch. Quy định đã có, chẳng lẽ các biện pháp kỹ thuật để quản lý này họ không làm được? Đúng hơn là họ đã không hề quản lý tài khoản của những đối tượng thuộc diện quản lý, để mặc cho người ta tự do muốn giao dịch khi nào cũng được. Chính phủ điện tử và áp dụng công nghệ 4.0 để làm gì khi một thao tác đơn giản của một em học sinh làm được mà cả đội ngũ ngành quản lý chứng khoán gồm UBCK, các sàn giao dịch, các công ty lưu ký không làm nổi.

Buôn gian bán lận là bản chất của những kẻ kinh doanh thiếu đàng hoàng. Bởi vậy mới sinh ra luật pháp và nuôi một đội ngũ quản lý nhà nước để ngăn chặn gian lận. Đã có luật rồi mà để cho gian lận xảy ra là tội của cơ quan hành pháp.

"Chó treo mèo đậy". Để cho mèo ăn vụng cá là tại đứa nấu bếp không cẩn thận, không phải tại con mèo. "Mỡ để trước miệng mèo", mèo mù cũng biết ăn vụng.

Đàn bò phá hoại ruộng lúa là lỗi của đứa mục đồng chớ không phải bởi con bò.

Cái xe không đi, chúng ta không quất con ngựa mà cớ sao lại nhè đánh cái xe?

Lò của anh Tổng chừng nào mới thôi cháy khi tốc độ trồng rừng gây củi nhanh hơn tốc độ đốt lò? Chẳng lẽ, chúng ta cứ ngồi lỳ, vây quanh cái lò vạn niên đó để sưởi ấm cả khi mùa hè 40⁰C hở?

Chu Hồng Quí

A csoda

 "A csoda csakis azé, aki hisz benne. Csak az lát, aki látni akar. Csak az hall, aki hallani akar. Csak az ért, aki érteni akar."

(Müller Péter)

“Miracle is only for those who believe. Only those who want to see can see. Only those who want to hear can hear. Only for those who want to understand. "

(Peter Müller)

Photo : DeviantArt

Con kiến đi kiện củ khoai

 Doanh nhân đi kiện!

Giám đốc công ty xây dựng cười ngất khi tôi khuyên ông kiện đối tác ra tòa để đòi nợ hai tỷ đồng.

"Có thằng nợ tao hai tỷ, mày đòi được tao cho mày một nửa", chú tôi một hôm nói. Tôi hồn nhiên hỏi: "Sao chú không kiện ra tòa, án phí mất có mấy chục triệu". Ông cười, như chê tôi sinh viên năm cuối đại học Luật Hà Nội mà ngây thơ quá.

Sau này, ra trường, tư vấn pháp luật cho các doanh nghiệp, tôi mới biết, hệ thống tư pháp của Việt Nam không giống những gì chúng tôi được học trong trường và càng không giống những gì được viết trong luật. Để có thể đòi được hai tỷ đồng, người ta có khi còn mất nhiều hơn một nửa.

Nguyên do chủ yếu là từ những phiền phức, rào cản không thể gọi tên dẫn đến sự kéo dài lê thê của các thủ tục tố tụng. Từ nộp đơn đến thụ lý đơn kiện, tống đạt đến hòa giải, sơ thẩm đến phúc thẩm; rồi khi có bản án, người thắng kiện phải tiếp tục nộp đơn xin thi hành án, xác minh tài sản, kê biên, thẩm định giá, đấu giá... Mỗi giai đoạn lại đi kèm những rủi ro như: tòa yêu cầu bổ sung hồ sơ, tòa tạm đình chỉ vụ án, viện kiểm sát kháng nghị, cơ quan thi hành án không xác minh được tài sản, chính quyền địa phương không hỗ trợ kê biên, thẩm định giá không chính xác, đấu giá không thành, vân vân.

Có những yêu cầu của tòa án khiến nhiều người sửng sốt như yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp bản sao có công chứng giấy đăng ký kinh doanh của bị đơn. Thử hỏi, làm gì có ai cho người khác mượn giấy đăng ký kinh doanh đi công chứng để người ta kiện mình? Hay việc cơ quan thi hành án yêu cầu người thắng kiện phải tự tìm xem người thua kiện có tài khoản ở ngân hàng nào, có bao nhiêu tiền.

Trong vô số nguyên nhân dẫn đến sự quan liêu và chây ì của "con voi tư pháp", tôi cho rằng có cả sự lười nhác, tắc trách, vô cảm của cán bộ thi hành pháp luật cho đến tâm lý nhũng nhiễu để vòi tiền.

Chú tôi có thể không hiểu hết được mọi thủ tục và những zích zắc trên, nhưng với đầu óc nhạy bén của dân kinh doanh, ông thừa biết tốt hơn không nên sa chân vào mê trận đó. Khoản nợ hai tỷ của ông đến giờ vẫn chưa đòi được. Nhưng hệ lụy của nó lớn hơn hai tỷ gấp nhiều lần. Chú tôi không bao giờ thi công mà không có tạm ứng đầy đủ nữa. Và rất nhiều công trình bị kéo dài thời gian thi công gây các tổn hại khác cho doanh nghiệp, trong khi đáng ra họ có thể làm ăn hiệu quả hơn rất nhiều. Không chỉ chú tôi, hàng trăm, hàng ngàn công ty xây dựng khác đã và sẽ phải kinh doanh theo cách đó. Nó trì kéo sự phát triển của nền kinh tế.

Trong một khảo sát của VCCI đối với các doanh nghiệp tại TP HCM năm 2017, khi được hỏi: "Nếu có tranh chấp thì doanh nghiệp khởi kiện ra tòa không?", 90% các doanh nghiệp FDI nói "không", 9% nói "có" và 1% "sẽ cân nhắc". Tỷ lệ này ở khối doanh nghiệp dân doanh trong nước là 41%, 28% và 31%. Nguyên nhân lớn nhất khiến các doanh nghiệp này không lựa chọn tòa án khi có tranh chấp là do thủ tục kéo dài. 58% doanh nghiệp nêu lý do này.

Mỗi năm, ngành tòa án xét xử khoảng 400 ngàn vụ án. Trong đó tranh chấp kinh doanh thương mại chỉ chiếm khoảng 4% - khoảng 16 ngàn vụ. Do đó, có vẻ như chuyện hỗ trợ cải thiện môi trường kinh doanh chưa bao giờ là mục tiêu trọng tâm giữa những bề bộn của ngành tòa án.

Nhưng để xã hội vận hành, nền kinh tế phát triển, người dân và doanh nghiệp bắt buộc phải giao kết hợp đồng. Và chúng ta chỉ tôn trọng hợp đồng khi biết rằng nếu một trong các bên tham gia những khế ước này bất tuân cam kết thì tòa án và cơ quan thi hành án sẽ đứng ra xử lý, bảo vệ người bị thiệt. Doanh nghiệp cũng sẽ chỉ bỏ tiền đầu tư làm ăn kinh doanh để tạo giá trị cho mình và xã hội, đầu tư vào sáng chế, vào sở hữu trí tuệ nếu họ tin chắc rằng: bất kỳ ai xâm phạm quyền tài sản của họ đều sẽ bị tòa án can thiệp, phải đền bù.

Tôi có người bạn đang quản lý một trường tư thục. Chị có tiền, có nhân lực, có kinh nghiệm và muốn đầu tư xây dựng một bộ bài giảng riêng cho học sinh của trường. Chị đến gặp tôi và đặt câu hỏi: "Thế nếu giờ có người ăn cắp bộ bài giảng của chị thì chị phải làm gì?". Tôi nói: "Chị có thể đi kiện". "Kiện có hiệu quả không, có nhanh không, có tốn kém không?", bạn tôi chất vấn. Tôi đành phải thành thật rằng, "kiện rất mất thời gian, tiền lót tay không biết bao nhiêu mà kể, mà có khi cũng chẳng thành công". Tỷ lệ thu hồi tiền của cơ quan thi hành án vô cùng thấp, chỉ là 32% số tiền có khả năng thi hành. Nói cho dễ hiểu, nếu chị thắng kiện, tòa án yêu cầu đối thủ bồi thường cho chị 100 triệu đồng, đối thủ có tiền, có tài sản, thì cơ quan thi hành án cũng chỉ thu hồi được 32 triệu đồng.

Chị im lặng. Đến bây giờ, dự án làm bộ bài giảng của chị vẫn gác lại. Nhiều học sinh của chúng ta đã mất cơ hội tiếp cận tri thức theo cách tiến bộ hơn chỉ vì không ai đứng ra bảo vệ người đầu tư tạo ra tri thức đó.

Trong thế giới ngày nay, không quốc gia nào có thể đưa kinh tế đến trình độ cao mà không có một hệ thống tư pháp nhanh, hiệu quả và tin cậy. Điển hình trong khu vực là Singapore. Hệ thống tư pháp của nước này được đánh giá là nhanh nhất thế giới với mức độ tin cậy, khả năng có thể dự đoán (của doanh nghiệp và dân chúng với tư pháp) rất cao. Uy tín đó góp phần quan trọng kéo người làm ăn khắp nơi đổ về quốc đảo, như bước đệm để với tay sang các nước trong khu vực.

_________

Theo: Chuyên gia chính sách công Nguyễn Minh Đức | VnExpress

Ảnh: Chuyện Thương Trường 

Thursday, March 31, 2022

Lẽ đời

 9 CÂU NÓI CỦA NGƯỜI GIÀ ĐÁNG SUY NGẪM

Câu thứ 1: đừng bao giờ mong đợi bất cứ sự giúp đỡ về mặt kinh tế nào từ người khác. Tiền, đối với ai cũng đều không đủ dùng. (Học cách cho đi).

Câu thứ 2: bạn bè giúp bạn là thiện chí, là tình nghĩa; bạn bè không giúp bạn là lẽ đương nhiên, không nên ghi thù oán hận, người ta cũng không có nợ bạn! (Học cách cảm thông).

Câu thứ 3: cần phải biết rằng không có ai bắt buộc phải giúp đỡ khi bạn cần, chỉ có tự bản thân bạn mà thôi, vì vậy, khiến bản thân trở nên độc lập, kiên cường, vui vẻ và hạnh phúc, đây mới là điều bạn nên làm, dẫu sao thì thế gian này, chỉ có mình bạn bắt buộc phải đồng cam cộng khổ, cùng sống cùng chết với bạn mà thôi, bạn hiểu chứ? (Học cách kiên cường).

Câu thứ 4: đừng nhìn giàu nghèo để kết giao bạn bè, họ có hàng trăm nghìn tỷ đồng cũng không liên quan tới một cắc của bạn, đừng tự biến mình thành kẻ nịnh hót, theo đuôi. Ngược lại, vẫn có những người dù trong tay không có gì nhưng vẫn chia sẻ với bạn chiếc bánh bao chay duy nhất. (Học cách nhìn người).

Câu thứ 5: đừng vì “bạn bè giàu có về kinh tế” mà xa lánh “bạn bè giàu có về mặt tinh thần”. Dần dần, bạn sẽ hiểu ra, những người bạn giàu có về vật chất có thể đưa bạn đi ăn chơi hưởng lạc, nhưng cũng có thể đem tới cho bạn những rắc rối, phiền phức rồi bỏ bạn lại một mình với mớ bòng bong.

Còn những người bạn thật sự, những người bạn cổ vũ bạn về mặt tinh thần có lẽ chỉ có thể đưa bạn tới những cánh đồng, những dòng suối, con sông, nơi không có rượu ngon, không có sự hào nhoáng, không có sâm panh, sàn nhảy, nhưng họ có thể cùng bạn chạy, cùng bạn cười như một tên ngốc. (Học cách tự trọng).

Câu thứ 6: có thể tin tưởng rằng trên đời này quả thực tồn tại những tình yêu đơn thuần vĩnh cửu, nhưng nó chỉ thuộc về Ngưu Lang Chức Nữ, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài hay Romeo và Juliet, bởi lẽ họ đều không sống lâu cho lắm, còn chúng ta thì ai cũng muốn sống lâu sống thọ. (Học cách trân trọng).

Câu thứ 7: bất kể bạn kết hôn vì điều gì, chỉ cần đã có con cái, bạn phải yêu cái nhà này, bất luận có xa cách, lạnh nhạt tới đâu, bạn phải có nghĩa vụ khiến nó ấm áp lên, bởi lẽ bạn là cha mẹ. (Học cách gánh vác trách nhiệm).

Câu thứ 8: thanh xuân của chúng ta chớp mắt một cái là sẽ qua, nếp nhăn cũng sẽ mỗi ngày một nhiều hơn, chúng ta không thể ngăn cản năm tháng làm phai tàn nhan sắc bên ngoài, nhưng chúng ta có thể khiến cái “tâm” bên trong của mình dần dần được mài giũa theo thời gian, giống như hạt cát bên trong những con trai, theo năm tháng sẽ dần dần trở thành viên ngọc sáng loáng, đợi tới khi chúng ta già đi, bước chân chậm chạp, ta vẫn có thể dùng sự lộng lẫy của viên trân châu thắp sáng lên đoạn hành trình cuối cùng! (Học cách trưởng thành).

Câu thứ 9: đừng chấp niệm, cố chấp, đời người có rất nhiều điều không như ý, thế giới không phải lúc nào cũng chào đón bạn, trái đất cũng không phải vì bạn mà quay, vì vậy đừng quá cố chấp muốn có được thứ gì đó, ngay cả bản thân chúng ta cũng chỉ là người qua đường trong cõi hồng trần, đến với thế giới bằng hai bàn tay không, vậy ra đi rồi còn có thể đem theo cái gì? (Học cách buông bỏ).

Bài và ảnh: Sưu tầm từ net

Wednesday, March 30, 2022

Câu chuyện của 1 Hoàng tử bị lưu đày

 KỲ 1: VỊ VUA TÀI HOA NƠI ĐẤT KHÁCH 

(Ghi theo lời kể của Joseph Roger Vĩnh San, vị hoàng tử út của vua Duy Tân)

Tôi sinh ngày 18-4-1938 tại Réunion, một hòn đảo thuộc địa của Pháp nằm giữa Ấn Độ Dương. Đây vốn là một quả núi lửa mọc lên từ đáy biển, cao 3.000m so với mặt nước biển, cách phía Đông của Madagascar 700 km, cách Mauritius 200 km về phía Tây Nam. Réunion có chiều dài 63 km, rộng 45 km, diện tích khoảng 2.517 km², dân số chưa đến một triệu người, hiện thuộc quyền sở hữu của Pháp. Những người dân ở đây sống chủ yếu ở vành đai chân núi, một số nhỏ ở sườn núi. Vào mùa mưa, đất đá ở thân núi thường sụt lở từng mảng. Dân chúng ở đảo tự gọi mình là Réunionnais hay Créoles. Ngày tôi sinh đúng vào ngày bão giật, mưa giông, sấm chớp đùng đoàng, biển động dữ dội. Cha tôi bảo: "Số thằng này sau này vất vả, gian truân lắm đây".

Cha tôi bị đày ra đảo La Réunion vào ngày 20-11-1916, lúc ông mới 17 tuổi. Chia sẻ số phận lưu đày cùng cha tôi có thân phụ Hoàng thân Bửu Lân, tức vua Thành Thái, 37 tuổi, thân mẫu Hoàng Thị Định, hiền thê Mai Thị Vàng, em trai Hoàng thân Vĩnh Chuôn và em gái, công chúa Lương Nhân cùng những người phụ tá. Lúc đặt chân lên đảo từ con tàu Guadiana, chỉ có cha tôi và ông nội mặc âu phục còn tất cả những người khác đều mặc đồ Việt Nam.

Vừa đến đảo, cha tôi bị ốm nặng, phải đi nghỉ ở vùng Hell Bourg một thời gian, trước khi trở lại thành phố Saint Dennis, đảo Réunion. Cha tôi đã phải thay đổi nhà nhiều lần, toàn là nhà đi thuê chứ không có đủ tiền để mua nhà, biệt thự như nhiều vị vua chúa các nước khác cũng bị lưu đày ở đây. Bởi chính phủ Pháp trợ cấp cho ông mỗi tháng một số tiền khá nhỏ nhưng không khi nào ông chịu tự hạ mình phàn nàn hay xin tăng lương. Vì đời sống quá kham khổ, khí hậu ở đảo lại khắc nghiệt, cộng với nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, bà nội tôi và Hoàng phi Mai Thị Vàng đã xin được hồi hương. Từ bấy, cha tôi sống một mình nơi đất khách quê người. 

Cũng cần nói thêm rằng, tuy cùng bị lưu đày với vua cha Thành Thái ở đảo Reunion nhưng cha tôi không sống cùng ông bởi những bất đồng không giải quyết được trong quan điểm cứu nước. Đó là mâu thuẫn lớn nhất của hai cha con. Thế nhưng không vì thế mà tình cảm của cha tôi dành cho vua cha Thành Thái bị sứt mẻ. Ông luôn dạy chúng tôi phải biết hiếu lễ, ngoan ngoãn với ông nội. Hàng tuần, ông đều dặn mẹ tôi nấu súp mang sang biếu cha.

Mẹ tôi tên là Fernande Aniter, sinh năm 1913 trong một gia đình người Pháp nhưng đã sinh sống lâu đời ở đảo Reunion bằng việc mở một tiệm cơm bình dân chuyên phục vụ cho học sinh và những người có thu nhập thấp. Cha tôi sống độc thân trong một căn nhà nhỏ, vừa học tập trau dồi kiến thức, vừa mở cửa hàng sửa chữa vô tuyến điện để kiếm sống. Ông là người rất ham mê máy móc kỹ thuật, nhất là kỹ thuật truyền tin. Vì vậy, chính quyền đảo La Réunion đã đặt ông thiết lập một hệ thống truyền tin đầu tiên trên đảo thời bấy giờ.

Do khoản thu nhập và trợ cấp eo hẹp nên ông không có điều kiện để thuê người giúp việc. Ông ăn mặc và sinh hoạt giản dị như bao người dân bình thường khác ở đảo. Ông không biết tự nấu nướng. Với thu nhập khiêm nhường của mình, ông thường qua quán cơm tháng của gia đình mẹ tôi ăn cơm rồi dần trở thành khách quen. Từ đó, ông nảy sinh tình cảm với mẹ tôi, khi ấy bà mới tròn 15 tuổi.

Mẹ tôi tuy kém cha tôi 13 tuổi nhưng hai người lại rất tâm đầu ý hợp. Ở đảo Réunion, cha tôi dành rất nhiều thời gian để học luật và các tri thức khác. Ông cũng là người có năng khiếu âm nhạc đặc biệt. Ông chơi violon rất giỏi nên có chân trong ban nhạc đại hòa tấu tại Saint Denis. Không những thế, ông còn viết văn, nuôi ngựa và đua ngựa. Ông đã từng giật giải nhất trong cuộc thi đua ngựa lớn nhất toàn đảo. Ở trường đua ngựa, ông và Hoàng thân Vĩnh Chuôn, tuy người nhỏ con (cao 1m51, nặng 41kg) lại là hai nài kiện tướng, quần chúng thường hoan hô cha tôi ông là "Vua Tàu". Ông học đánh kiếm và đánh rất giỏi. Ông chú trọng về nghệ thuật quân sự. Trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới, ông luôn găm bản đồ trên tường tiệm hàng để theo dõi chiến sự. Nhiều lúc, ông hùng hồn giải thích chiến trận làm lóa mắt cử tọa kính cẩn ngồi nghe.

Say mê văn chương Pháp, ông đọc rất nhiều sách, sáng tác thơ ca. Ông có nhiều bài được đăng trên tờ báo Le Peuple (Dân chúng), Le Progrès (Tiến bộ) với bút danh Georges Dry. Ông cũng thích viết văn xuôi lãng mạn. Trong bài Tiếng nói của vạn vật, ông bắt đầu với những câu: "Tôi thích tiếng thì thầm của cơn gió nhẹ khi nó hát hay khóc trong các cành cây. Tôi thích những lời tâm sự du dương của gió với cây trong rừng, với sóng dưới biển, với sao trên trời. Nhưng hơn nữa, ru ngủ tôi, làm tôi say mê, khoái trá là tiếng gọi của đại dương, lời rên rỉ vạn năng vang lên trong cảnh đêm im lặng như một bài tụng ca vô tận". Rồi ông kết luận: "Tiến lên Thượng đế, đấy là mục đích đời bạn và của mọi đời sống khác. Bạn nên học yêu thương, đấy là bí quyết của hạnh phúc. Bạn nên học đau khổ, đấy là bí quyết của sự thanh lọc, của cuộc tiến lên ánh sáng. Đau khổ là chị em của vui sướng. Hai mặt giữ thăng bằng, bổ sung nhau và tô điểm nhau. Bạn nên học tự biết mình và chế ngự những sức mạnh tiềm tàng và ẩn kín. Từ đấy, bạn khám phá ra bí mật của vũ trụ và những quyền lực đã chi phối. Sự huy hoàng của sự nghiệp thần thánh sẽ tiết lộ ra ngay trong lòng bạn và trong mọi mặt".

Trong bài Variations sur une lyre brisée (Những biến tấu của một cây đàn gẫy vỡ) được Giải nhất văn chương của Viện hàn lâm khoa học và văn chương La Réunion (1924), ông tâm tình: "Ở một vài đầu óc, nếp cũ hoài nghi, thói quen mỉa mai ngay cả chính mình, làm khó mọi chi phối xúc cảm. Trong cuộc phòng vệ có đạo đức, hoài nghi là mang một vỏ sắt, mỉa mai là vận dụng một cái khiên. Nhưng ta không thể luôn được bảo vệ; đến một lúc, khi ta tưởng được an toàn, khi ta lột bỏ áo giáp mà ta đã kiên cường chịu đựng với một nụ cười, đấy là khi ta rất nhạy cảm với một vết châm cũng như với một cái vuốt dù nhỏ nhẹ".

Ông là thành viên Hội khoa học, văn chương và nghệ thuật La Réunion. Bà Hội trưởng Eléonora Revest đánh giá ông là một người có học thức, một nhà diễn thuyết hùng biện. Chính trí tuệ, sự thông minh, hiểu biết của ông đã chinh phục được mẹ tôi, khi ấy là thiếu nữ Fernande Antier nhan sắc nổi tiếng cả phố. Năm 1925, cha tôi có gửi cho Hội đồng hoàng tộc một bức thư kèm đơn ly dị và xin Hội đồng hoàng tộc chứng nhận để bà Mai Thị Vàng đi lấy chồng khác, lúc này bà 27 tuổi. Nhưng bà Vàng một lòng thủ tiết cho đến cuối đời và thường ngâm: "Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời".

Bí mật về năm tháng cuối đời của vị vua yêu nước Duy Tân qua lời kể của hoàng tử út - Ảnh 3.

Vua Duy Tân tham gia hoạt động của Mặt trận Bình dân Pháp (Tuổi Trẻ)

(Chỗ này Tuổi Trẻ rất sai vì Mặt Trận Bình Dân Pháp chỉ "sống" có 2 năm (5/1936-4/1938)

trong khi Vua Duy Tân chỉ đến Pháp trong hay sau Thế Chiến 2, 1945)

https://fr.wikipedia.org/wiki/Front_populaire_(France)

Sau khi gửi đơn ly hôn về cho Hoàng phi Mai Thị Vàng được 3 năm, cha tôi kết hôn với mẹ tôi. Đám cưới diễn ra giản dị tại đảo Réunion, với sự góp mặt của người dân trên đảo và cả ông nội tôi, cựu hoàng Thành Thái. Tuy đám cưới đã diễn ra nhưng vì Hoàng phi Mai Thị Vàng không đồng ý ly hôn nên cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi vẫn chưa được nhà thờ công giáo ở đảo Réunion công nhận. Chính vì thế mà sau này, bốn anh em chúng tôi đều mang họ mẹ. Phải mãi về sau, khi cha tôi qua đời năm 1946, tòa án ở Réunion mới xem xét lại và đồng ý để chúng tôi chuyển sang họ cha.

Cha mẹ tôi sinh hạ được 8 người con nhưng chỉ nuôi được 4 người. Đó là chị gái lớn, Hoàng nữ Rita Suzy Georgette Vĩnh San (6-8-1929); Hoàng tử Guy Georges Vĩnh San (31-1-1933); Hoàng tử Yves Claude Vĩnh San (8-4-1934) và tôi. Lúc còn nhỏ, anh em chúng tôi rất sợ cô Lương Nhàn bởi cô rất nghiêm khắc. Anh Georges thường hay bị đòn roi của cô. Nhưng cha tôi còn nghiêm khắc hơn. Ngày ngày, cha tôi làm việc ở căn phòng nhỏ tầng 1, nơi ông mở một tiệm sửa chữa máy móc cho cư dân trên đảo, kiếm tiền nuôi vợ con. Tiệm có tên là La Radio Laboratoire Vinh San. Anh em chúng tôi không bao giờ dám bén mảng đến căn phòng đó. Bữa ăn cơm, chúng tôi cũng không dám nói chuyện, cười đùa. Cha tôi rất ít nói. Mỗi lần kể về người, trong tôi vẫn còn lưu dấu một nỗi buồn u uẩn của một con người, một vị vua sa cơ thất thế phải sống kiếp lưu đày.

Cha tôi không có một ưu đãi vật chất nào trong những tháng ngày trên đảo. Nơi ở của ông không có lò sưởi, vòi nước tắm, thậm chí cả bồn rửa mặt. Nhưng ông vẫn vui vẻ sống. Ông ít giao thiệp với người Pháp. Chính quyền hoàn toàn quên bỏ ông. Ông chỉ giao du với một nhóm bạn bè. Ông thích trèo núi, đi câu, không ngần ngại bắt chuyện với những người ngồi câu bản xứ, phần nào cũng giúp khuây khỏa nỗi nhớ thuở: "Chiều chiều trước bến Văn Lâu. Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm". Nghiêm khắc nhưng cha tôi rất yêu thương vợ con, yêu thương một cách kín đáo. Khéo tay, tự ông làm đồ chơi cho chúng tôi như những hình tượng trong truyện "Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn". Vì thế, anh em chúng tôi vẫn gọi ông bằng cái tên thân mật Dede (Bố), biến âm của những danh từ Âu Mỹ Daddy, Papa. Ngoài việc trao đổi sinh hoạt bình thường trong gia đình, ông rất ít khi thổ lộ tâm tư tình cảm, nhất là chuyện đất nước, chính sự với vợ con. Ông không bao giờ nói chuyện về Việt Nam với những người dân trên đảo Réunion và kể cả với vợ mình. Có lẽ bởi do chúng tôi sinh ra vào thời điểm đặc biệt nên cha tôi không tiết lộ danh phận, gốc gác để bảo đảm an toàn cho con cái mình. Song cũng có đôi lần ông thổ lộ với mẹ tôi rằng: Ông lúc nào cũng khao khát thoát khỏi Réunion, thoát khỏi tay người Pháp để trở về Việt Nam, tìm cách cứu nước.

CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA VUA DUY TÂN VÀ CUỘC TRỞ VỀ MUỘN MÀNG CỦA ÔNG VUA YÊU NƯỚC SAU 70 NĂM BỊ LƯU ĐÀY

Ngay từ năm 1927, cha tôi đã tham gia Hội địa phương bảo vệ nhân quyền và quyền công dân, đồng thời có chân trong Hội kín Franc-Maconnerie (Hội Tam Điểm), hội của những người thông thái và bác ái, ở nhiều quốc gia khác nhau muốn hiến thân cho sự vươn lên về phương diện tinh thần và luân lý. Nó khuyến khích thành viên hành động vì sự tiến bộ nhân loại. Trong một thông điệp gửi cho Hội, cha tôi đã viết mở đầu như thế này: "Chúng ta đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng. Khắp mọi nơi trên hành tinh, nhiều triệu chứng, có khi ít được nhận thức, chứng tỏ nhân loại đạt đến ngưỡng đòi hỏi phải thay đổi chiều hướng trên con đường phát triển mà chính ngay những triết gia vĩ đại nhất cũng khó lòng miêu tả một cách kiên quyết nếu họ ý thức khả năng sai lầm của chủng loại chúng ta". Rồi ông kết luận: "Hy vọng rồi một ngày, nhờ công tác của các bạn, Hội sẽ chiến thắng những hận thù giữa con người và giữa các nước, đồng thời hợp nhất nhân loại trong một tình huynh đệ trong sáng bằng cách bãi bỏ mãi mãi mọi tương phản giữa các giai cấp và các chủng tộc".

Cha tôi đã công khai nói đến tự do, không ngần ngại đề cao tinh thần dân chủ, giải phóng dân nghèo tại một hòn đảo mà quyền hành nằm gọn trong tay một chính thể quý tộc. Song ông lại ngậm câm về quá khứ của mình, về những ước mong cho tương lai đất nước Việt Nam, về triều đại nhà Nguyễn. 

Chỉ có một lần duy nhất trong đời, ngày 5-6-1936, cha tôi đã viết một lá đơn gửi cho ông Bộ trưởng bộ thuộc địa, kể lại cuộc khởi nghĩa cùng Việt Nam Quang phục Hội vào ngày 3-5-1916 và vai trò bất đắc dĩ của ông với mục đích xin được ân xá. "Tôi đứng trước trường hợp phải chọn giữa hai đường: Hoặc mặc để ám sát người Pháp và rồi dự một cuộc trấn áp đẫm máu hoặc tố cáo những đồng bào của tôi và phạm một cử chỉ hèn hạ. Để thoát ra trường hợp đau xót ấy, tôi chỉ còn một phương cách: Nhận làm chỉ huy cuộc khởi nghĩa". Lá đơn ấy của cha tôi đã không được hồi âm. Suốt những năm tháng ở đảo La Réunion, cha tôi luôn nuôi hy vọng trở về Việt Nam để làm được một điều gì đó cho đất nước. Có ít nhất 4 lần cha tôi được một số người đề nghị cùng trốn khỏi đảo để trở về Việt Nam nhưng cha tôi đều từ chối. Bởi người muốn về một cách công khai, đàng hoàng.

Cha tôi là người cầu tiến, ham học hỏi. Ông là người tiên phong tiếp cận với kỹ thuật vô tuyến điện trên hòn đảo hẻo lánh này và đã tham gia xây dựng đài thu phát truyền tin đầu tiên ở đây. Hiện nay, tại nơi này, vẫn còn lưu dấu ấn của cha tôi bằng việc chính quyền sở tại xây một cây cầu nhỏ mang tên ông và đến năm 1992, thành phố Saint-Denis, nơi cả gia đình tôi trú ngụ ngày xưa (số 67 Sainte-Anne), đã khánh thành đại lộ Duy Tân.

Cha tôi rất say mê chơi thể thao, rèn luyện sức khỏe và học tập không ngừng để mở mang trí tuệ. Nhưng niềm say mê lớn nhất của ông chính là vô tuyến điện. Bởi ngành kỹ thuật này không chỉ giúp cha tôi nuôi sống cả gia đình mà còn là phương tiện duy nhất giúp ông liên lạc được với thế giới bên ngoài. Rất tinh thông trong ngành vô tuyến điện nhờ đã tự học thêm, ông có viết nhiều bài kỹ thuật trong các báo chuyên môn và tiếp xúc với nhiều chuyên viên vô tuyến nghiệp dư các nước khác qua tín hiệu FR8VX. Ngay chính quyền địa phương cũng nhờ ông dựng một đài thu phát cho đảo. Nhờ có máy mạnh, ông đã bắt được những đài quốc tế, từ Delhi, Sài Gòn qua Tokyo, Melbourne, ngay cả những đài bên Mỹ. Nhờ đó mà vào ngày 18-6-1940, cha tôi đã nghe được bản tin hiệu triệu của tướng Charles De Gaulle - người đứng đầu của tổ chức chống Phát xít Đức mang tên Pháp tự do, ở đài BBC trong chương trình "Tiếng nói của nước Pháp". Sự việc nước Pháp bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, đầu hàng phát xít Đức và sau đó lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do tướng Charles De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh trở về tái chiếm đất Pháp đã có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của cha tôi. Ông xem Charles De Gaulle là thần tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình. Lập tức ông nối liên lạc với nước Pháp tự do và tìm cách chuyển tin cho quân đội Pháp chưa đến đảo. Nhờ ông mà nhóm người kháng chiến ở đảo theo dõi được diễn biến của cuộc thế chiến thứ hai và nhất là những bước tiến của quân Đồng Minh. Ông trở thành linh hồn của nhóm kháng chiến ở đảo. Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền La Réunion (lúc đó theo Chính phủ Vichy) bắt giam sáu tuần, từ ngày 7-5 đến ngày 19-6-1942.

Sau ngày giải phóng, chính phủ nước Pháp tự do, qua đề nghị của ông Capagorry, Thống đốc mới, không quên công lao của cha tôi, đã tặng thưởng ông Huy chương kháng chiến với phù hiệu. Trong thư cám ơn Tướng De Gaulle, cha tôi viết: "Khi tiếp nhận tôi trong số những người không chấp nhận nước Pháp bị hạ thấp vì thua một trận, ông đã làm vinh dự tôi, khiến tôi gắn bó nhiều hơn nữa, với lời thề phụng sự một Tổ quốc đã cho tôi thừa kế một gia sản tinh thần".

Ngày 28-11-1942, khi chiếc khu trục hạm Léopard dưới quyền của ông thuyền trưởng Richard cập bến Saint-Denis, cha tôi đã tình nguyện nhập ngũ. Ông phó thuyền trưởng Baraquin thấy cha tôi có nhiều kiến thức về vô tuyến điện, nhận ngay ông làm hạ sĩ vô tuyến. Vài ngày sau, khi tàu rời bến, cha tôi đã bận đồ thủy thủ rời đảo La Réunion, chấm dứt 26 năm biệt xứ và mở một trang sử mới cho đời ông.

Ba tháng phục vụ với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến, cha tôi bị giải ngũ vì lý do sức khỏe. Sau nhờ thống đốc La Réunion là ông A. Capagory can thiệp, cha tôi gia nhập bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Catroux với cấp bậc binh nhì. Một thời gian sau, ông được thăng lên chuẩn úy rồi sang châu Âu. Ngày 5-5-1945, cha tôi được lệnh chuyển về phòng Quân sự của tướng Charles De Gaulle ở Paris. Ngày 20-7-1945, ông được đưa qua phục vụ tại Bộ tham mưu của Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa đóng ở Foret Noire, nước Đức. Ngày 29-10-1945, tướng Charles de Gaulle ký một sắc lệnh hợp thức hóa những sự thăng cấp liên tiếp của cha tôi trong Quân đội Pháp: Thiếu úy từ ngày 5-12-1942, Trung úy từ ngày 5-12-1943, Đại úy tháng 12-1944 và Thiếu tá ngày 25- 9-1945.

Việc cha tôi, một ông vua đã từng nổi dậy chống chính quyền thuộc địa Pháp thống trị nước ông, bây giờ lại chạy theo ông tướng lưu vong Charles De Gaulle muốn giải phóng nước Pháp khỏi cuộc chiếm đóng của phát xít Đức khiến nhiều người xem đây là một trường hợp oái ăm, một trong những mâu thuẫn lớn nhất trong đời Hoàng thân Vĩnh San. Bởi "nước Pháp tự do" và nước Pháp thực dân mà ông chống đối đều là một nước Pháp. Nhưng thật ra, cha tôi chỉ tranh đấu giành tự do độc lập cho một quốc gia, một dân tộc, dù là Việt Nam hay Pháp. Tinh thần này ông đã có từ lâu, có thể ngay từ những ngày thụ giáo ông thái phó Eberhardt, tiến sĩ khoa học, ở kinh đô Huế. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng, cựu hoàng Duy Tân đã bị dùng như một con bài chính trị trong kế hoạch mật tái chiếm Đông Dương của Pháp.

Ngày 14-12-1945, tướng Charles De Gaulle đã tiếp cha tôi. Trong tập "Hồi ký chiến tranh", tướng De Gaulle ghi: "Tôi sẽ tiếp Cựu hoàng (Vĩnh San) và sẽ cùng ông xét xem chúng tôi sẽ làm được những gì? Đó là một nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mờ trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam".

Trong tác phẩm "Histoire du Việt Nam de 1940 à 1952" (Lịch sử Việt Nam 1940-1942), sử gia Philippe De Villers nhận xét: "Bảo Đại đã thoái vị và bị phê bình nghiêm khắc. Nhưng lần này, người được chú ý chính là nhân vật tiền nhiệm, Duy Tân. Bị lưu đày năm lên 16 tuổi, ông đã đầu quân vào Không lực Pháp và tham gia các cuộc chiến đấu ở Pháp và Đức. Ông đã trình bày chính kiến với Chính phủ Pháp và với một trung úy của Quân đoàn I sắp qua Đông Dương là ông Bousquet, cựu chánh văn phòng của Tổng trưởng Abel Bonnard".

Một bạn thân của cha tôi là E.P Thébault kể lại trong bài "Số phận bi thảm của một hoàng đế An Nam: Vĩnh San - Duy Tân" đăng trên Revue France-Asie, năm 1970: "Trở lại Paris ngày 16-12-1945, tôi thấy Ngài mặc một bộ đồ nhà binh rất đẹp, có gắn bốn lon. Bây giờ Ngài trọ ở khách sạn Louvres, trước hý viện Pháp. Ngài nói: "Như vậy là xong rồi, quyết định rồi! Chính phủ Pháp sẽ đặt tôi lại trên ngôi Hoàng đế Việt Nam. Tướng De Gaulle sẽ theo tôi trở về bên đó (Việt Nam) vào những ngày đầu tháng 3-1946". Từ nay tới đó, người ta sẽ chuẩn bị dư luận của Pháp cũng như quốc tế và Đông Dương. Vả lại, cũng còn cần phải dự thảo các bổn thoả ước giữa hai chính phủ nữa".

Trong hồi ký "Bên dòng lịch sử 1940-1965", linh mục Cao Văn Luận ghi lại rằng, mùa đông 1944 và đầu năm 1945, cùng với một số du học sinh Việt và Việt kiều, ông có tiếp xúc ba lần với cha tôi ở Paris. Lần đầu, cha tôi giải thích: "Người Pháp đang cần sự hợp tác của chúng ta để tái chiếm Đông Dương. Họ có thể chấp nhận cho ta thành một quốc gia tự trị trong Liên hiệp Pháp. Điều đó không trái với quyền lợi quốc gia. Dần dà chúng ta đòi thêm quyền hành. Chúng ta biết làm gì hơn trước binh lực hùng hậu của Pháp và hậu thuẫn của đồng minh Tây phương? Chúng ta đã thấy những gương chống Pháp và tôi đây là nạn nhân của một lối chống nóng nảy, vụng về. Rồi đất nước chúng ta phải chịu một cảnh chiến tranh tàn khốc mà kết quả chưa biết là thắng hay bại". 

Lần thứ hai, cha tôi tâm sự: "Riêng về phần tôi, lòng yêu quê hương Việt Nam không cho phép tôi để ngỏ cửa cho một cuộc tranh chấp nội bộ nào. Điều mà tôi mong muốn là tất cả các con dân Việt Nam ý thức được rằng: Họ là một quốc gia và ý thức ấy sẽ thúc đẩy họ dựng lên một nước Việt Nam xứng đáng là quốc gia. Tôi tưởng rằng tôi sẽ làm tròn bổn phận của một công dân Việt Nam khi nào mà tôi làm cho những người nông dân Lạng Sơn, Huế, Cà Mau ý thức được tình huynh đệ của họ. Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: Cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ. Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia".

Suốt đời mình, cha tôi chỉ mong ước duy nhất một điều, đó là được trở về Việt Nam và tìm cách giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi sự thống trị của thực dân Pháp. Năm 1945, Thực dân Pháp đã dự định sử dụng ông như một quân cờ để quay lại tái chiếm Đông Dương. Nhưng sau này, người Pháp nhận ra, sau gần 30 năm lưu đày, cựu hoàng Duy Tân vẫn là người yêu nước, muốn chống Pháp và muốn giành quyền tự quyết cho dân tộc, nên thực dân Pháp đã từ bỏ ý định đưa ông về Việt Nam. Bộ thuộc địa đã phê trong tờ lý lịch cá nhân của cha tôi (được giải mật sau này): "Parait difficile à acheter, extrêmement indépendant...intrigue pour quitter la Réunion et rétablissement trône d'Annam". (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam). Cũng vì lẽ đó mà cha tôi đã không có cơ hội hồi hương như ước mơ của ông suốt những năm tháng bị lưu đày.

Trong những tháng năm phục vụ cho quân đội Pháp, cha tôi vẫn hết lòng quan tâm, lo lắng cho anh em chúng tôi. Ông thường xuyên gửi thư về, dặn dò anh em chúng tôi đủ điều. Trong một bức thư viết cho anh Yves Claude Vĩnh San vào ngày 17-11-1945, ông nói: "Con đừng đi học mà đem về những điểm số yếu kém vì đối với người cha già đang yêu quý con đây thì cái cách duy nhất mà con cần bày tỏ là học cho thật giỏi và ăn ở tốt. Không có ngày nào mà cha không nghĩ đến con. Con nên biết rằng, giờ đây, con là con trai của một vị chỉ huy quân đội Pháp. Con nên sống xứng đáng với tình cảm mà cha mẹ đã dành cho con. Lần sau cha sẽ viết thư dài cho con. Trìu mến hôn con. Dede".

Ngày 24-12-1945, cha tôi lên chiếc phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ sân bay Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới ở Việt Nam. Nhưng trên đường về, chiếc máy bay đã gặp một tai nạn rất khó hiểu, rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M'Baiki, Cộng hòa Trung Phi khiến ông cùng 5 người có mặt trên chuyến bay tử nạn. 

Theo nhiều người, đây có thể là một vụ mưu sát. Bởi việc cha tôi trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc trao trả các thuộc địa. Cũng trong bài "Số phận bi thảm của một hoàng đế An Nam: Vĩnh San - Duy Tân", E.P Thébault viết: "Ngày 17-12-1945, mười hôm trước khi tử nạn, Duy Tân có linh cảm tính mạng ông bị đe dọa. Khi cả hai đi ngang, lần chót, vườn Tuileries, cựu hoàng nắm tay Thébault nói: "Anh bạn già Thébault của tôi ơi! Có cái gì báo với tôi rằng tôi sẽ không trị vì. Anh biết không, nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt Nam. Họ đề nghị tặng tôi 30 triệu quan nếu tôi bỏ ý định ấy".

Mãi đến ngày 28-3-1987, hài cốt của cha tôi mới được gia đình đưa từ M'Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng trọng thể tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, chấm dứt hành trình lưu đày 70 năm ở xứ người của một ông vua yêu nước thất cơ lỡ vận. Lúc đưa hài cốt cha tôi về Huế, Nhà nước rất nhiệt tình giúp đỡ và nhiều vị quan chức cao cấp đã đến nghiêng mình, thắp nhang trước bàn thờ cha tôi. Từ bấy, anh em chúng tôi thường xuyên về Việt Nam để thăm phần mộ vua cha.

Bí mật về năm tháng cuối đời của vị vua yêu nước Duy Tân qua lời kể của hoàng tử út - Ảnh 5.

Vua Duy Tân trong triều phục nhà Nguyễn (Tạp Chí Sông Hương)

Viết về cuộc trở về của cha tôi, nhà thơ Nguyễn Duy đã có những vần thơ giản dị mà thấm thía, da diết:

VIẾNG VUA DUY TÂN

Ước gì về được Sông Hương

Thắp nhang mà lạy nắm xương lưu đày

Thế là đã trở về đây

Một con người ở chân mây cuối trời

Nắm xương lưu lạc xứ người

Tâm hồn thì vẫn ở nơi quê nhà

Ngai vàng vừa cũ vừa xa

Ánh vàng vương miện cũng là hư không

Mặt trời vẫn mọc đằng Đông

Lăng Minh Quân vẫn ở trong lòng người

Bao triều vua phế đi rồi

Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ…

Trở lại cái chết thảm khốc của cha tôi trong vụ tai nạn máy bay đầy bí ẩn ngày 26-12-1945 trên bầu trời tỉnh Lobaye, thuộc Trung Phi mà nhiều người nghi ngờ cha tôi bị ám sát. Trước đó, hay tin cha tôi lên máy bay trở về đảo La Réunion để đón Giáng sinh và năm mới cùng gia đình, cả nhà tôi náo nức đến mức suốt đêm không ngủ. Mấy anh chị em chúng tôi nóng lòng gặp cha để đón nhận quà giáng sinh. 

Noel năm ấy, mẹ tôi trang hoàng cây thông thật đẹp. Căn nhà sáng trưng bởi nến và những bóng đèn màu. Đêm Noel, cả nhà quây quần chờ cha về nhưng chờ mãi không thấy. Mẹ ra ngó vào trông. Bọn trẻ chúng tôi cũng nhấp nhổm không yên. Hết chạy vào nhà nhìn đồng hồ lại chạy ra đường ngóng cha. Mãi mấy ngày sau, chúng tôi mới nhận được hung tin, máy bay của cha bị nạn và cháy ở Trung Phi. Mẹ tôi khóc ngất lên ngất xuống. Mấy anh em chúng tôi thì ôm chặt lấy nhau gào khóc đến khản giọng. Năm ấy, tôi mới tròn 7 tuổi. Đó là cái Tết Noel sầu thảm nhất trong đời.

Cái chết đột ngột của cha tôi khiến cả gia đình lâm vào cảnh khốn cùng. Bởi từ trước đến nay, cha tôi là người kiếm tiền nuôi cả nhà. Mẹ chỉ lo việc cơm nước, giặt rũ, lau nhà, chăm sóc các con. Nay cha mất chẳng khác chi trụ cột ngôi nhà sụp đổ, cả nhà điêu đứng, tan hoang. 

Tôi vẫn nhớ mẹ tôi lúc đó chỉ nhận được khoản trợ cấp 200 phờ-răng. Số tiền này so với thời giá lúc đó quá ít ỏi, chỉ đủ nuôi sống cả nhà được vài ngày. Vì thế, mẹ tôi vuốt nước mắt, tạ tội với linh hồn cha, bắt cả bốn anh chị em chúng tôi phải nghỉ học. Chị Suzi và anh Claude phải đi làm. Anh Goerhes Vĩnh San đăng lính. Riêng tôi, dù còn nhỏ cũng phải cùng mẹ lao động cực nhọc. Làm việc quần quật suốt ngày đêm mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái đói vẫn bám riết lấy chúng tôi. Vì thế, năm 1955, mẹ đánh liều, rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, đưa cả nhà qua Madagascar sinh sống. Mười năm sau, gia đình tôi lại làm một cuộc di cư đến nước Pháp và cùng định cư cho đến ngày nay.

Năm tháng cuối đời của vua Duy Tân qua lời kể vị hoàng tử út (Kỳ 2) - Ảnh 1.

Phần mộ vua Duy Tân ở Huế (Tuổi Trẻ)

Lúc ở Madagascar, tôi làm nghề rải đường. Thu nhập ổn định nhưng công việc vô cùng cực nhọc. Được cái sức trai trẻ nên tôi làm miết ngày đêm. Tiền kiếm được bao nhiêu, tôi mang về đưa hết cho mẹ. Vì thế, sinh hoạt gia đình cũng khấm khá hơn. Đến khi chuyển về Pháp, tôi xin làm chân lái xe vận tải trong sân bay Charles-de-Gaulle ở Paris. Thu nhập khá cao, túi tiền rủng rỉnh, lại sống một mình nên tôi bắt đầu tìm đến những chỗ ăn chơi. Gần 30 tuổi đời, tôi mới biết đến quầy bar, vũ trường. Tôi giao du rộng, tính tình xởi lởi nên rất đông bạn bè. Ai cũng quý mến tôi, thích đi chơi với tôi.

Chơi bời được vài năm cũng thấy chán. Ở một mình nhiều lúc cũng thấy trống trải, cô đơn. Năm 1970, 32 tuổi, tôi cưới vợ. Vợ tôi là tiến sĩ hóa, công tác ở Trung tâm hạt nhân nguyên tử Pháp. Cô ấy khá xinh đẹp, thông minh nhưng mắc bệnh trầm cảm, rất dễ bị kích động, nổi nóng. Cứ chớm phật ý một tý là cô ấy nổi xung, quát mắng, gào thét, đập phá. Nhiều lần, nhà tôi ngổn ngang như chiến trường sau mỗi lần nổi xung khủng khiếp. Chịu đựng hết nổi, tôi quyết định ly hôn, kết thúc cuộc hôn nhân địa ngục kéo dài suốt 10 năm. 

Ngẫm lại, tôi thấy, đời mình thật lạ. Cứ sau mỗi chu kỳ 10 năm lại có một bước ngoặt lớn trong đời. Ví như 10 năm sau ngày cha tôi mất, mẹ tôi quyết định rời bỏ quê cha đất tổ La Réunion đến xứ lạ Madagascar mưu sinh những mong thoát cảnh đói nghèo. Ở đó, bán mặt cho đất bán lưng cho trời đúng 10 năm, mẹ tôi và tôi lại quyết định làm cuộc di cư đến Kinh đô ánh sáng tìm vận may. Và rồi, ở chính thủ đô Paris tráng lệ, hào hoa, cuộc hôn nhân kinh hoàng của tôi kéo dài đúng 10 năm thì kết thúc. Tôi chợt nhớ đến ngày sinh đầy giông gió, bão giật, mưa giông, sấm chớp đùng đoàng, biển động dữ dội của mình, nhớ đến lời tiên tri của vua cha Duy Tân: "Số thằng này sau này vất vả, gian truân lắm đây" mà lòng đầy lo âu nặng trĩu. Biết đến bao giờ đời mình mới hết vất vả, gian truân?

10 năm sống trong căng thẳng, sợ hãi và đau khổ nhưng cuộc chia tay lại diễn ra vô cùng nhẹ nhàng, chóng vánh. Tài sản chúng tôi chia đôi. Thời gian, vật lực chăm sóc hai cậu con trai, chúng tôi cũng chia đôi. Cô ấy chăm sóc, đón đưa hai đứa những ngày đầu tuần. Tôi chịu trách nhiệm chăm sóc hai đứa những ngày cuối tuần. 

Và chính những lần đến đón đưa hai cháu ở nhà cô bảo mẫu, tôi đã để ý và phải lòng cô ấy lúc nào không hay. Cô ấy tên là Lebreton Marguerite, kém tôi 3 tuổi, cũng từng đổ vỡ hôn nhân, có 3 con riêng, hai gái, một trai. Cô ấy là người giản dị, hiền lành, phúc hậu, giàu tình thương. Hai đứa con tôi, khi đó, một đứa mới 7 tuổi, một đứa 4 tuổi, được cô ấy chăm sóc, thương yêu như con đẻ. Đã từng đi qua những đổ vỡ nên chúng tôi đến với nhau một cách thận trọng. Sau mấy năm tìm hiểu kỹ lưỡng, thấy rằng đã hiểu sâu sắc về nhau, chúng tôi mới đến tòa thị chính đăng ký kết hôn. Cô ấy là người Pháp nhưng vì hiểu tôi, thương tôi nên đã dành rất nhiều thời gian tìm hiểu về lịch sử Việt, văn hóa Việt. Thấm thoắt đã hơn 40 năm trôi qua. Càng sống, chúng tôi càng hiểu nhau, thương nhau. Hạnh phúc vì thế càng thêm vững bền.

Có điều, tuy sinh ra và lớn lên tại La Réunion, đến làm việc tại Madagascar suốt 10 năm, rồi chuyển sang làm việc ở Pháp cho đến tận lúc nghỉ hưu nhưng trong trái tim tôi, đất nước Việt Nam, quê nhà Việt Nam luôn là 2 tiếng thiêng liêng. Bởi nửa dòng máu Việt vẫn đang chảy trong tôi và tâm hồn Việt vẫn hiển hiện trong tôi, bắt đầu từ những thói quen đời thường, nhất là văn hóa ẩm thực. 

Từ bé, quê hương Việt Nam đã rất thân quen với tôi qua những món ăn dân dã của Việt Nam do mẹ nấu. Sau này, trưởng thành, đi nhiều nơi, tôi đều tự nấu cho mình các món ăn Việt. Tôi nấu rất ngon. Và chính tình yêu Việt Nam ấy đã lan truyền sang người bạn đời của tôi. Từ sự ngượng nghịu khi lần đầu tiên cầm đôi đũa, đến nay, không những bà Lebreton Marguerite đã quen với món ăn Việt mà còn có thể nấu khá ngon các món ăn Việt Nam. Bữa ăn thường ngày của chúng tôi đều là các món ăn Việt. Cũng chính từ tình yêu ấy mà bà Lebreton Marguerite đã nguyện cùng tôi trở về sống trọn đời ở Việt Nam.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Điều gì đã khiến ông quyết định trở về Việt Nam sống trọn đời?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Chim có tổ, người có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn. Năm 1987, sau khi đưa di hài của cha tôi, vua Duy Tân về an táng trọng thể tại An Lăng, Huế, chấm dứt hành trình lưu đày 70 năm ở xứ người của một ông vua yêu nước thất cơ lỡ vận, tôi về Việt Nam thường xuyên hơn. 

Những chuyến về Việt Nam ban đầu mang ý nghĩa hành hương bái yết tổ tiên, ra mắt bà con dòng họ, dần dà đã trở thành thông lệ thường xuyên, thành thói quen, thành niềm vui lẽ sống của tôi, một người con sống xa quê hương. Tôi đã nhiều lần trở về Việt Nam để tìm lại gia phả, gốc gác, cội nguồn. Từ trong sâu thẳm, tôi luôn nghĩ mình là một người con của quê cha đất tổ tìm về cội nguồn vì cha tôi là một người Việt Nam yêu nước. Năm 2005, sau khi nghỉ hưu, vợ chồng tôi đã quyết định ở lại Việt Nam để an dưỡng tuổi già. Và thành phố biển Nha Trang xinh đẹp là nơi mà chúng tôi dự định gắn bó đến cuối đời.

Năm tháng cuối đời của vua Duy Tân qua lời kể vị hoàng tử út (Kỳ 2) - Ảnh 3.

An Lăng - lăng mộ của các vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân (Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế)

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Tại sao ông lại chọn thành phố Nha Trang?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Tôi thấy cuộc sống ở Nha Trang rất dễ chịu, thoải mái. Phong cảnh nơi đây thật hữu tình. Khí hậu điều hòa, không ẩm ướt hay quá nhiều mưa, môi trường trong lành, con người tốt bụng, hiền lành, mộc mạc. Hồi mới về đây, vợ chồng tôi thuê một căn hộ trong một con hẻm nhỏ trên đường Lê Hồng Phong, rồi chuyển đến đường Bắc Sơn ở khu vực Hòn Chồng, và nay là trên đường Nguyễn Phong Sắc, thuộc khu dân cư mới mở phía nam đèo Rù Rì cách trung tâm thành phố 8 km về phía Bắc. Nơi ở mới thật yên tĩnh và trong lành, kín đáo mà lại rất thoáng đãng, tràn ngập nắng gió. Trước cổng nhà, tôi đóng tấm bảng nhỏ trên tường ghi rõ "Mr & Mrs Vĩnh San Joseph". Ở thành phố này, việc người nước ngoài đến sinh sống đã trở nên quá đỗi quen thuộc nên những người hàng xóm rất thân thiện, gặp chúng tôi là chào ông, chào bà. Có điều, họ không hề biết tôi xuất thân từ hoàng tộc.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Chắc hẳn ông bà rất hài lòng với cuộc sống ở đây?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Chúng tôi rất hài lòng. Cuộc sống thực sự thư thái và an nhàn nơi phố biển. Hai con trai của tôi giờ đều đã trưởng thành nên bây giờ là lúc chúng tôi tận hưởng cuộc sống. Sáng sớm và chiều tối, chúng tôi tay trong tay, an nhàn tản bộ, ngắm hoàng hôn buông dần trên mặt biển, cảm nhận nhịp sống bình yên, êm ả pha lẫn một chút sôi động của phố biển. Thỉnh thoảng, tôi chở bà ấy đi chơi, đi mua sắm bằng xe máy hay tạt vào một vỉa hè nào đấy ăn uống đúng kiểu bình dân. Nếu không, hai vợ chồng ở nhà đọc sách, xem ti vi hoặc cùng lên mạng internet xem báo, viết thư điện tử.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Bà Lebreton Marguerite tự đi chợ hằng ngày sao?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Ồ không! Bà ấy chỉ thỉnh thoảng thôi. Tôi mới thường xuyên. Vì bà ấy vẫn chưa quen cách tính tiền Việt, đi chợ cứ nhầm lẫn. Vả lại ngôn ngữ ta phong phú quá. Ví dụ món hàng giá 25.000 đồng thì chỗ này nói hai nhăm, chỗ kia nói hai mươi lăm, chẳng biết đường nào mà lần. Bà nhà tôi nấu ăn rất ngon, nhất là các món Việt.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Sau hơn 40 năm chung sống, tôi vẫn thấy tình yêu thương ông bà dành cho nhau thật nồng ấm. Mỗi khi nhắc đến ông, bà Lebreton Marguerite thường nói: "Je suis très fier". (Tôi rất tự hào). Bà không ngừng lặp lại điều đó và niềm hạnh phúc vẫn còn ngời ngời trong ánh mắt mỗi khi hướng về phía ông. Ông có bí quyết gì để giữ gìn, nuôi dưỡng hạnh phúc?

Năm tháng cuối đời của vua Duy Tân qua lời kể vị hoàng tử út (Kỳ 2) - Ảnh 4.

Hoàng tử Vĩnh San Joseph (Tuổi Trẻ & Đời Sống)

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Tôi thật may mắn khi lấy được một người vợ hiểu mình, thương mình hết mực. Anh có tin không? Suốt hơn 40 năm qua, sáng nào bà ấy cũng đích tay pha cà phê, nấu đồ ăn sáng rồi bưng vào tận giường cho tôi. Bà ấy làm một cách tự nguyện và hạnh phúc. Anh hỏi tôi có bí quyết gì ư? Không. Tôi chẳng có bí quyết gì ghê gớm. Tôi nghĩ, điều quan trọng nhất để duy trì hạnh phúc là hai người phải hiểu nhau để rồi cảm thông, độ lượng, bao dung trước những thói hư, tật xấu của nhau. Nếu không hiểu nhau, cảm thông cho nhau, không thể yêu thương nhau dài lâu được. Vì trong mỗi chúng ta, ai chẳng có điều hay, điều dở. Nếu không hiểu nhau, chấp nhận những cái hay cái dở của nhau thì cuộc sống chỉ toàn là hờn giận, trách móc.

Tôi vẫn thường nói với bà ấy là tình yêu cũng giống như cái cây, cần phải chăm sóc, tưới mát nó hàng ngày. Nguồn nước tưới tẩm tốt nhất đó chính là sự quan tâm, săn sóc, là ái ngữ, là những lời nói yêu thương. Hơn 40 năm chung sống với nhau, điều đầu tiên vợ chồng tôi làm mỗi sáng thức dậy là trao nhau một nụ hôn và lời nói: "Anh yêu em". "Em yêu anh". Có những chiều ngồi ôm nhau trên bờ cát trắng ngắm hoàng hôn, tôi nhìn sâu vào mắt bà ấy rồi bảo: "Em thấy không. Cảnh sắc nơi đây đẹp như chốn thiên đường. Và thiên đường ấy chỉ có mỗi hai ta, anh và em. Cảm ơn cuộc đời đã sinh ra em. Cảm ơn thượng đế đã mang em đến cho anh". Tôi thấy, nhiều khi, những lời nói yêu thương trân thành ấy lại khiến cho bà ấy xúc động nhất, hạnh phúc nhất, hơn bất cứ món quà vật chất nào. Nó nuôi dưỡng tình yêu của chúng tôi nhiều lắm. Cho nên, theo tôi, muốn có hạnh phúc xin đừng tiết kiệm lời nói yêu thương.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Sống với nhau hơn 40 năm, ông bà có giận dỗi nhau bao giờ không?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Có chứ. Đến cái bát cái đũa đặt cạnh nhau còn có lúc va chạm, sứt mẻ nữa là. Điều quan trọng là phải nhận ra lỗi lầm của mình và bày tỏ lời xin lỗi với đối phương.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Xác định gắn bó đến cuối đời ở Nha Trang, sao ông bà không mua nhà mà phải đi thuê mãi như thế này?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Đồng lương hưu của một công chức chỉ đủ giúp cho chúng tôi thuê một căn nhà nhỏ và sống bình dị thế này thôi.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Ông có bao giờ buồn vì mình là dòng dõi hoàng tộc mà cuộc sống lại giản dị, khiêm nhường thế này không?

Năm tháng cuối đời của vua Duy Tân qua lời kể vị hoàng tử út (Kỳ 2) - Ảnh 5.

Công trình mang tên vua Duy Tân trên đảo Réunion (Khám phá Huế)

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Không! Không bao giờ! Hồi nhỏ, khi còn sống ở đảo La Réunion, bọn học cùng lớp thấy tôi nghèo đói, rách rưới đã hỏi: "Ê! Sao mày là hoàng tử, con ông vua Tàu mà lại nghèo thế?". Tôi cười bảo: "Thì tao sinh ra đã thế. Biết làm sao?". Sau này, lớn lên, lúc làm ở sân bay Charles-de-Gaulle, tiền kiếm rủng rỉnh, tôi lao vào ăn chơi. Bạn bè đông không biết bao nhiêu mà kể. Ai cũng muốn chơi với tôi, kết thân với tôi. Nhưng sau này, khi có gia đình, không còn nhiều tiền mời bạn bè ăn chơi nữa, họ xa lánh tôi. Bẵng đi một thời gian, chẳng còn thấy mặt mũi ai nữa. Khi ấy, tôi chợt hiểu, vì sao các cụ ngày xưa lại gọi đồng tiền là tiền bạc. Tiền quan trọng thật đấy nhưng nhiều khi nó cũng bạc lắm. Nhiều khi nó khiến mắt ta nhòe mờ, không nhìn rõ được chân tướng của sự việc, sự vật.

Tôi thấy nhiều người không dư dả về tiền bạc, ra ngoài cứ rúm ró, tự ti. Tôi thì không. Với tôi, hạnh phúc nằm chính trong sự giản đơn. Càng đơn giản bao nhiêu, càng dễ có nhiều hạnh phúc bấy nhiêu. Hạnh phúc không nằm trong tiền bạc. Hạnh phúc nằm ở trong tâm. Tâm mình an, tâm mình lạc thì khi ấy, mình đích thực là người có hạnh phúc.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Ông có điều gì tiếc nuối không?

Hoàng tử Vĩnh San Joseph: Chúng tôi đã già rồi nên chẳng mong muốn gì cho riêng mình. Điều tiếc nuối duy nhất là tôi không biết tiếng Việt. Nếu biết tiếng Việt, tôi đã có thể dạy tiếng Pháp cho trẻ em nghèo ở Nha Trang. Sống ở đây một thời gian, tôi cứ giật mình tự hỏi: vì sao ngày càng có nhiều bạn trẻ thờ ơ với lịch sử nước nhà đến vậy. Nguy hiểm quá.

Tôi luôn nghĩ mình là một người con của quê cha đất tổ tìm về cội nguồn vì cha tôi là một người Việt Nam yêu nước. Từ tận đáy lòng, tôi mong được mọi người nhìn nhận như một người Việt hơn là một Việt kiều. Năm 1988, trong chuyến viếng thăm quê chồng, mẹ tôi - bà Fernande Antier - đã ước ao sớm khôi phục lại những con đường mang tên Duy Tân ở Việt Nam. Tạ thế vào năm 2005, có lẽ giờ này ở suối vàng mẹ tôi cũng mãn nguyện phần nào khi đã xuất hiện những con đường mang tên ông ở một số địa phương.

ST từ net

Con trẻ và ảnh hưởng từ gia đình

TRẺ KHÔNG CÓ LÒNG BIẾT ƠN, SAU NÀY SẼ THÀNH NGƯỜI RẤT ĐÁNG SỢ

Văn hóa truyền thống rất coi trọng việc giáo dục trong gia đình và nề nếp gia phong. Trong lịch sử, nhiều danh môn vọng tộc sở dĩ có thể bồi dưỡng ra vô số những nhân vật lẫy lừng, không thể không nhắc đến giáo dục gia đình mà nền tảng chính là lòng biết ơn.

Tuy nhiên, trẻ em ngày nay thường chiếm vị trí “chức cao vọng trọng” trong gia đình. Cả nhà xoay quanh một đứa trẻ, thời thời khắc khắc chúng đóng vai diễn được yêu thương, chiều chuộng, muốn gì được nấy. Lâu dần về sau, rất nhiều trẻ sẽ cho rằng những thứ chúng có được từ gia đình là hiển nhiên, từ đó chỉ biết yêu cầu, nhận lấy mà không biết hồi báo, càng không biết quan tâm và cảm kích người khác.

Là cha mẹ, ai cũng mong muốn những gì tốt nhất cho con mình. Tuy nhiên, cái tốt nhất đó không nên thiên về hướng vật chất, tức là đáp ứng tất cả những gì chúng muốn, mà nên cho trẻ được hưởng thụ một nền giáo dục chất lượng cao và bồi dưỡng chúng thành những người có phẩm chất ưu tú. Trong đó, giáo dục trẻ lòng biết ơn là nền tảng rất quan trọng.

Có một câu chuyện như thế này. Một người đàn ông Hoa kiều rất giàu có, sau khi về nước đã ủng hộ tiền cho những học sinh vùng khó khăn. Dưới sự giúp đỡ của các bên liên quan, cuối cùng ông cũng tìm được cách thức liên hệ với một vài đứa trẻ có nhu cầu cần được giúp đỡ. Ông gửi cho mỗi em một quyển sách và vài chiếc bút trên đó ghi rõ thông tin điện thoại, địa chỉ và email liên hệ của mình.

Nhiều người không hiểu vì sao chỉ tặng có một vài thứ ít ỏi mà ông cũng cần để lại thông tin liên hệ.

Người đàn ông kia trước sự hoài nghi của mọi người tỏ ra không quan tâm, trái lại, ông như đang chờ đợi một điều gì đó. Ông luôn giữ điện thoại bên mình, mỗi ngày kiểm tra hòm thư hoặc kiểm tra thư điện tử mấy lần.

Một hôm, cuối cùng ông cũng nhận được một tấm thiệp chúc mừng của một cậu bé được giúp đỡ gửi cho. Cậu này cũng là đứa trẻ duy nhất liên lạc với ông. Ông rất vui mừng, hôm đó bắt đầu khai mở học bổng và gửi cho cậu bé kia khoản tiền hỗ trợ đầu tiên và không hỗ trợ những đứa trẻ không hồi đáp.

Lúc này, mọi người mới hiểu, thì ra ông dùng cách này để đặc biệt giải thích cho đạo lý: ‘Người không biết cảm ơn thì không đáng nhận được giúp đỡ’.

Việc giáo dục trẻ biết cảm ơn và tôn trọng người khác là chuyện rất quan trọng. Nếu cha mẹ chỉ biết nuông chiều mà không dạy trẻ biết hồi báo, thì cho dù có bước ra ngoài xã hội, trẻ cũng sẽ gặp nhiều trắc trở, thậm chí coi Trời bằng vung. Đối tượng mà trẻ cần biết ơn không chỉ có cha mẹ, mà còn là những ai từng giúp đỡ chúng.

Câu chuyện vài năm trước của cậu sinh viên Uông Giai Tinh người Trung Quốc là một ví dụ điển hình về hậu quả của việc không giáo dục trẻ lòng biết ơn.

Uông Giai Tinh du học ở Nhật bản 5 năm, trước giờ chưa từng đi làm, học phí và phí sinh hoạt mỗi tháng đều do một tay người mẹ vất vả chu cấp. Đến khi mẹ cậu không thể kiếm được tiền gửi nữa và cậu phải về nước, ngay khi vừa ra khỏi sân bay, cảnh tượng cậu bạo lực với mẹ khiến ai cũng rùng mình.

Thanh niên 25 tuổi vốn dĩ cần tự lập, dựa vào tiền làm thêm để trang trải cuộc sống. Nhưng Uông Giai Tinh lại thản nhiên hưởng thụ số tiền mà người mẹ vất vả chu cấp hàng tháng. Khi người mẹ kia không thể kiếm được tiền gửi nữa thì cậu ta không màng đến tình mẫu tử, trong tâm tràn đầy oán hận mà ra tay tàn ác với chính người sinh ra mình.

Câu chuyện trên đã thức tỉnh rất nhiều bậc cha mẹ: Những đứa trẻ không biết cảm ơn sau này sẽ còn đáng sợ hơn cả sói dữ. Vì vậy, giáo dục trẻ sống có trách nhiệm và biết cảm ơn thực sự rất quan trọng.

Những gia đình kiểu này, do khi trẻ còn nhỏ đã luôn thuận theo ý của chúng mà không có bất kỳ ước thúc nào. Mặc dù vậy, trong mắt trẻ thì những bậc cha mẹ kiểu như vậy lại hoàn toàn không có uy tín, vì vậy đương nhiên giáo dục cũng sẽ không hiệu quả.

Những đứa trẻ này đưa ra những đòi hỏi vô tận trước những nỗ lực của cha mẹ chúng. Khi những yêu cầu nhỏ không đạt thoả mãn sẽ càng không hài lòng. Còn có những sinh viên chỉ trong mấy năm đại học đã tiêu tốn của gia đình không biết bao nhiêu tiền, trong khi cha mẹ tiết kiệm ăn không dám ăn, dùng không dám dùng, thậm chí chẳng ngần ngại đi vay nợ để nuôi con.

Còn những bạn trẻ này lại đem số tiền đó đi mua những món đồ trang sức, quần áo, giày dép hàng hiệu, điện thoại, máy tính đắt tiền để khoe mẽ, thậm chí thuê những căn chung cư đắt tiền, ăn nhà hàng, tiêu tiền một cách không thương xót và xem đó là điều đương nhiên. Mặc dù có những người đã đi làm rồi nhưng vẫn có tâm lý dựa dẫm vào cha mẹ để sống.

Kỳ thực, nếu không cho trẻ thử nhịn đói, chúng sẽ không biết giá trị của đồ ăn. Không để trẻ thử chịu lạnh, chúng sẽ không biết ấm áp đáng quý nhường nào. Không để trẻ nếm trải thất bại, chúng sẽ không thể hiểu được gian nan của thành công.

Cha mẹ yêu thương con cái quá mức trên thực tế chính là lấy đi cơ hội trải nghiệm những kinh nghiệm phụ diện trong cuộc sống của chúng.

Một đứa trẻ biết ơn, chúng cũng biết cảm kích khi người khác làm giúp chúng và sẽ trân quý tất cả những gì mình có được. Vì vậy, chúng sẽ luôn cảm thấy đầy đủ, hài lòng, tất cả trước mắt đều là vui vẻ, hạnh phúc.

Nếu bạn không muốn trẻ bị đào tạo thành một con “sói kiêu ngạo”, thì tuyệt đối không nên thay trẻ làm quá nhiều thứ, không nên để trẻ nhận quá nhiều mà không biết cảm ơn. Hơn nữa chúng ta cũng cần dạy cho chúng hiểu được tầm quan trọng của lòng biết ơn.

Trong cuộc sống hằng ngày, cha mẹ nên tạo điều kiện dạy bảo trẻ học cách cảm ơn, từ cảm ơn cha mẹ đến những ai giúp đỡ chúng. Thông qua những việc nhỏ này, những cảm xúc nhỏ sẽ khiến trẻ thành thục hơn với câu nói ‘cảm ơn’, cuối cùng sẽ học được cách biểu thị lòng biết ơn của mình đối với người khác.

Lòng biết ơn chính là chất dinh dưỡng của sự trưởng thành về tâm hồn. Khi trẻ cảm nhận được những hành động tử tế từ người khác, chúng sẽ biết rằng ngày sau mình cũng nên làm như vậy, cũng nên yêu thương và giúp đỡ người khác.

Nguồn: KanZhongGuo – Ngọc Trân biên dịch

Tuesday, March 29, 2022

Hà Nội của tôi

 Thưa các bạn trang ảnh HN xưa. Tôi rât hạnh phúc khi được thưởng thức những bức ảnh của các bạn post lên. Tôi ko có điều kiện sưu tập ảnh như các bạn. Hôm nay tôi xin phép được chia sẻ với các bạn tình cảm của tôi, một người con của HN. Rất mong các ad thông cảm cho đăng để góp vui cùng các bạn với những kỷ niệm xưa về Hà Nội.

Tôi xin trân trọng cảm ơn.

HÀ NỘI TUỔI THƠ TÔI

Hà nội của tôi phố cũ vẫn gầy

Vẫn những hàng cây đợi ai trong nắng

Vang đâu đó

Tiếng rao quà ngõ vắng

Cho âm thanh ngày rơi …

Hà nội trong tôi

Ôm sắc trời thu xanh cao 

Nơi Tháp bút , đài nghiên chào đón

Mặt hồ 

Có bóng gươm thiêng chìm lắng 

Liễu rủ nỗi chờ 

Thê húc đợi trong thơ …

Tuổi học trò theo gió sông Hồng mơ 

Gửi cánh diều thả bao khát vọng

Hoài theo mãi một màu lam xa ngái

Để nặng lòng

Trăn trở nỗi phù sa …

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà nội . Hiện nay , cuộc sống của tôi lại gắn bó với thành phố Hồ Chí Minh . Cho dù cuộc sống giữa chốn phồn hoa này sôi động , đầy bộn bề nhưng thẳm sâu trong tôi vẫn lưu giữ một nguồn tình cảm thiêng liêng - nguồn hoài niệm da diết về Hà nội. Với tình cảm một người con của Hà nội thân thương đang ở xa Hà nội , qua trang viết này tôi xin được chia sẻ những kỷ niệm của tôi về Hà nội – nơi có khung trời ký ức riêng ,lưu giữ “ một thời thơ thiếu nhỏ “ của tôi với tất cả các bạn là người Hà nội và với tất cả các bạn ở khắp nơi có tình yêu hướng về Hà nội.

Hà nội ký ức tuổi thơ tôi là những ngày rong chơi cùng lũ trẻ trong Khối ( tương tự như Cụm bây giờ ) . Đó là những buổi trưa hè chốn ngủ rủ nhau đi theo lũ đàn anh câu cá cờ ( có nơi gọi là cá săn sắt ) , Đó là những hôm lang thang đi kiếm nút chai bia ( hình như bia Trúc Bạch thì phải ) và những nút chai xi – rô ở những cừa hàng bán nước giải khát về gõ phẳng ra làm “ xèng “ , cùng với đồng “ cái chì “ chơi đánh đáo mà chúng tôi thường gọi là “ chơi xèng “ . Tôi còn hình dung được mùi cháy khét của mặt đường nhựa giữa trưa hè chang chang đổ nắng . Lũ trẻ con chúng tôi mang những cọc “ xèng “ ra đường ray tàu điện rải lên chờ tàu điện chạy qua để bánh tàu nghiến thành những đồng “ xèng “ phẳng lì , trông rất đẹp . Tôi rất ham đánh “xèng “ và chơi cũng rất “ mả “ , thường thắng được nhiều “xèng “ và bán cho lũ bị thua cứ 5 xu là 30 đồng “xèng “ . 5 xu ngày ấy rất giá trị vì chỉ có 2 xu là mua được một phích nước đun sôi ở cửa hàng phục vụ thôi ! Rồi những cuộc chơi bi “ hầm “ . Bị hầm om lâu đến giờ ăn cơm mà vẫn chưa được tha cho về nhà . Cay cú lắm nhưng mà rất vui . Chúng tôi còn nhiều trò chơi với nhau vào thời đó như : “ Trồng nụ trồng hoa “ , “ Thả đỉa ba ba “ , “ Rồng rắn lên mây “ , “ Chi chi chành chành “ … với những bài đồng dao ngộ nghĩnh , chẳng biết có tự thuở nào . Ngày nay , chẳng hiểu sao lũ trẻ lại tự nhiên quên đi và hầu như không còn chơi nữa .

Tuổi thơ êm đềm của lứa tuổi chúng tôi cùng Hà nội chẳng kéo dài được lâu . Cuộc chiến leo thang phá hoại bằng không quân của Mỹ đã khiến những lũ trẻ chúng tôi phải rời xa Hà nội đi sơ tán . Những chiều buồn nơi thôn quê tôi nhớ nhà , nhớ Hà nội của tôi ghê lắm . Trong trại trẻ chúng tôi đã có đứa trốn trại bỏ về Hà nội bị các cô , chú tìm lại đánh phạt đòn đến tím mông trước toàn trại để làm gương và răn đe . Chúng tôi biết Hà nội là trung tâm oanh tạc của máy bay Mỹ . Lo cho gia đình và Hà nội , đêm đêm chỉ biết mang nỗi nhớ nhìn về phía có ánh đèn vàng – nơi đó là Hà nội của tôi .

Rồi Mỹ cũng chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc ( hình như cuối năm 1968 ) , chúng tôi trở về Hà nội . Hà nội tuổi thơ tôi thời gian này là những năm tháng của tuổi học trò với những bước chân tôi hàng ngày đi học dọc theo con phố Ngô Quyền , một con phố có nhiều cây me , cây sấu cổ thụ và nhiều khu nhà biệt thự có sân rải sỏi trong vườn với những ô cửa màu xanh lúc nào cũng đóng im ỉm như nuôi giấu những bí mật , để tuổi thơ tôi cứ phải thả trí tưởng tượng tò mò mà chẳng bao giờ được biết . Còn nhớ , có lần đi học về chúng tôi cùng nhau cởi dép cao su để ném me và một chiếc dép của tôi đã vụt qua bức tường bay vào … thăm khu nhà biệt thự . Thế là chiều hôm ấy , còn một mình tôi cứ phải ngồi chờ , chờ mãi đến xẩm tối mới có một chiếc ô tô con vào biệt thự . Thu hết can đảm cho đỡ run , tôi mới dám gọi bà lão vừa ra mở cổng cho tôi vào lấy chiếc dép . Bà lão nhìn tôi như móc thịt , rồi cũng lấy cho tôi chiếc dép và không quên tặng tôi mấy cái cốc đầu đau điếng , kèm theo lời đe doạ lần sau sẽ tịch thu chứ không cho vào lấy lại . 

Phố Ngô Quyền còn là nơi toạ lạc của toà nhà Bắc Bộ Phủ ( nay là Nhà Khách Chính Phủ ) , phía đối diện với vườn hoa Con Cóc . Tôi còn nhớ ở hàng rào sắt bên ngoài nơi gần cổng chính toà nhà này có rất nhiều vết đạn. Còn có cả một viên đạn đồng vẫn găm vào một thanh sắt . Những lần đi học qua , tôi vẫn thích … sờ vào viên đạn ấy .

Có lẽ , sẽ có nhiều người Hà nội như tôi vẫn còn nuối tiếc về khu nhà Bách Hoá Tổng Hợp Hà nội . Cứ mỗi lần có dịp đi qua phố Hàng Bài , Tràng Tiền là tôi lại ngậm ngùi nhớ về khu nhà Bách hoá to nhất của Hà nội thời “ Bao cấp “ ấy . Tôi nhớ , có lần vào những ngày giáp tết , lũ trẻ học sinh chúng tôi rủ nhau vào chơi trong Tổng Hợp để … đốt pháo .Chúng tôi chia nhau mỗi đứa mấy quả pháo tép ( loại pháo thân bé như quê hương nhưng nổ rất đanh ) rồi tản ra thi nhau đốt và chạy thục mạng vì có đứa hô : “ Bảo vệ đuổi “ . Đến giờ , tôi cũng vẫn còn nhớ tiếng pháo đốt ngày ấy , tuy là pháo tép nhưng nổ trong nhà Tổng Hợp nó khác – to và đanh hơn rất nhiều. 

Tổng hợp ngày ấy nhộn nhịp lắm. Khách hàng là những anh bộ đội vai còn đeo ba lô , là các bác các anh chị công nhân trong bộ bảo hộ lao động , là những người dân Hà nội và những người dân tỉnh lẻ đi mua sắm và tranh thủ … ngắm hàng . Từ tầng 1 lên tầng 2 , nơi nào có những mặt hàng hiếm đang bán là có cảnh chen chúc , rồng rắn xếp hàng để mua . Đã nhiều lần tôi được mẹ và chị gái cho cùng đi mua sắm ở Tổng Hợp. Tôi được thoả sức ngắm nghía cơ man nào là hàng hoá đủ các loại . Được ngắm các cô nhân viên bán hàng .Cô nào cũng ăn mặc đẹp , da mặt và tay cứ … trắng muốt !

Nhiều người , kể cả những người ở Hà nội vẫn quen gọi những phố trong khu phố cổ là phố Tàu . Thực ra , người Tàu ở đây không nhiều . Đa phần ở những phố này là những người tỉnh lẻ mang nghề thủ công truyền thống quê nhà lên Hà nội định cư sinh sống lâu đời , tập chung theo từng dòng họ . Câu “ Hà nội 36 phố phường “ chỉ cho ta thấy sự quần tụ của nhiều đại diện làng nghề thủ công xưa tập trung nơi đất Kinh kỳ đô hội này . Những cửa hàng buôn bán ở khu phố cổ rất thấp , thường không cao quá hai tầng . Tôi còn nhớ thời “ Bao cấp “ , cứ vào khoảng 9 đến 10 giờ tối là hầu như các nhà hàng phố đã đóng kín hết cửa rồi . Điểm đặc trưng của những khoang cửa ở khu phố cổ là cửa được ghép bằng những tấm gỗ đánh số , có hèm âm dương . Tôi vẫn nhớ hình ảnh những bà cụ ngồi bán hàng , đầu vấn khăn nhung the , tay nghiền cối trầu , mắt rất lanh lợi đon đả chào mời khách hàng . Những năm tháng đổi mới sau này , hầu như những tấm cửa gỗ hèm âm dương này đã được thay thế bằng những cánh cửa sắt kéo , cửa cuốn cho tiện dụng . Nhưng với tôi , những cánh cửa sắt kia đã xoá đi một hình ảnh đặc trưng rất rõ nét cho bộ mặt của một cửa hàng khu phố cổ - những tấm cửa gỗ hèm âm dương !

Chúng tôi lớn lên trưởng thành cùng Hà nội khi chế độ bao cấp làm chủ đạo trong nền kinh tế đất nước . Tuổi trẻ của chúng tôi ôm nhiều hoài bão cho lý tường vào đời . Trong những năm tháng tôi đi học xa Hà nội , lần nào trở về tôi cũng mang trong mình nỗi khát khao sớm được nhìn thấy phố . Từ xa , khi nhìn thấy cầu Long Biên là tôi đã thấy tim mình đập rộn rồi ; lên đến trên cầu lại nhìn về Hà nội tiếp , cứ hướng theo nóc toà nhà Bác Cổ và sau này là hộp đèn đồng hồ Bưu điện Bờ hồ là thấy mình đang càng về rất gần Hà nội . 

Rồi những “ trai thanh , gái lịch “ Hà nội chúng tôi đã biết yêu Hà nội không chỉ là những con phố nhỏ lưu dấu những kỷ niệm tuổi thơ . Chúng tôi yêu Hà nội theo những vòng xe đèo nhau lên Hồ tây ăn bánh tôm , ăn ốc nóng . Hồ tây rất rộng và chúng tôi “ khai thác “được nhiều chỗ để bơi lội , trò chuyện . Những đêm trăng thanh gió mát , dạo xe trên đường Cổ Ngư , ngồi trên bãi cỏ ngắm các đôi tình nhân , ngắm mặt hồ ảo huyền trong đêm rất thú vị .Cũng từ khi tôi biết đến những vùng ngoại ô , tôi mới cảm nhận Hà nội của mình thật đẹp .

Còn rất nhiều những kỷ niệm về Hồ tây trong tôi . Đặc biệt nhất là những dấu ấn của tình cảm lứa đôi mà cứ mỗi độ thu về , trong tôi lại không khỏi bâng khuâng , man mác khi nhớ về Hà nội .Tôi có ghi lại những cảm xúc đó trong ca khúc THU VÀNG - ca khúc tôi sáng tác khi còn ở Hà nội , và tôi cũng đã post lên blog này để chia sẻ cùng các bạn .

Nhớ về Hà nội không thể tôi không nhớ đến Sông Hồng , con sông gắn bó với ký ức tuổi thơ của tôi rất nhiều. Tôi có những buổi chiều được bố dắt ra hóng mát dưới triền sông , theo những bãi ngô , dẫm lên những con sóng nhẹ gợn cát phù sa mát lịm dưới chân .Tôi có những chiều mê mải theo lũ trẻ bãi sông đi chao tôm bằng những cái rá trên những bè nứa chạy dài , làm bố mẹ tôi phải phiền lòng lo lắng . Tôi cũng có những chiều tắm trên những mảng bè nứa , ngắm ánh hoàng hôn trải trên sóng sông Hồng soi bóng cầu Long Biên vắt qua lung linh lộng gió . Những khoảnh khắc ấy vẫn mãi in đậm trong tôi về một Hà nội của tôi - thanh bình lắm ! êm đềm lắm ! …

Hà nội đã không còn Bách Hoá Tổng Hợp . Cả cái nhà 12 Bờ Hồ chuyên bán đồ chơi cho thiếu nhi cũng không còn nữa . Dạo quanh Bờ Hồ tìm về ký ức những năm tháng tuổi thơ , lần nào tôi cũng không khỏi thấy lòng mình nao nao mất mát . Đâu rồi tiếng leng keng của tàu điện vào , rời bến . Đâu rồi tiếng khua kéo vui tai của ông lão bán nộm “ thịt bò khô “ khu vực nơi Tháp Bút . Đâu rồi những ông già Tàu thắt Tạp - dề bên những khay gỗ luôn lau sạch bóng , trên có tảng bánh “ Chín tầng mây “ với những xắt bánh hình thoi quyến rũ đủ sắc màu , mềm mại bên tháp Hoà Phong ( một bến tàu điện lẻ bên bờ hồ phía đối diện nhà Bưu điện thành phố bây giờ ) và những ông bán “ Táo dầm “ với những cóng táo ngâm nước đường đặc sánh cùng những xiên táo vàng bóng nhẫy như phủ mật ngọt lịm bên hồ … Rồi bà bán Thạch đá ở vườn hoa Chí Linh chỉ xuất hiện trong những đêm hè và dường như cũng chỉ để phục vụ cho những đôi nam thanh , nữ tú đi chơi về khuya tạt vào giải khát . Đâu rồi , bóng chú lùn quày quả bên xe kem Hàng Vôi dưới gốc me ngày ấy …

PHỐ

Một sáng về ngỡ lạ hình bóng phố

Không … phố vẫn ồn ào , vẫn đáng yêu sao

Phố - ánh hào hoa , phố - bước lạ quen

Vẫn thấy phố ấm lên từng góc phố …

Lũ trẻ tung tăng phố nắng cười

Chẳng gió đùa nhưng mắt phố vui

Ông vá xe ngồi đâu - gốc bàng côi

Dăm gánh rau tươi xanh ngời cổng chợ

Em chẳng thấy quán trà giờ cửa hé

Sáng ánh duyên nhà bóng mẹ thoáng qua

Cây Bằng lăng chùm quả gọi về thơ

Hạ tím nhớ một mùa ai thả nhớ …

Phố vẫn đong đưa gánh quà nẻo phố

Thả trôi rơi hương phố mỗi mùa qua

Chật chội quá – mà lòng ta giữ phố

Bước hàng rong - phố gánh những kiếp đời …

Phố thương ơi lối cũ tuổi thơ rời

Còn đứng đó hàng cây thầm nhắc nhớ

Vẫn đợi em mơ một lần về phố

Đọng nỗi chờ tình bên phố trong thơ …

Các bạn ơi ! Vẫn biết chẳng có gì là tồn tại mãi với thời gian . Kỷ niệm của tuổi thơ giờ chỉ còn trong ký ức . Nhưng , những gì thuộc về Hà nội xưa đã gắn bó với tuổi thơ tôi , khi lớn lên phải đi xa Hà nội tôi mới thực sự thấy nhớ , thấy cuộn dâng trong tôi một tình yêu mang một nỗi niềm riêng khao khát : Mơ … một ngày tôi được trở về ...

Lamca Pham

Đi về đâu?

 TRỊNH VĂN QUYẾT GIAO DỊCH NỘI GIÁN, TRÁCH NHIỆM THUỘC VỀ AI?

Khi bị cướp đất, chúng ta chỉ biết thù oán Viettel, anh Vượng...

Khi bị lừa ngoáy mũi để dịch bệnh tràn lan, chúng ta chỉ biết căm phẫn Việt Á.

Khi các trùm lừa đảo ngang nhiên hoành hành trên sàn chứng khoán, trắng trợn tung tin lừa bịp rồi mua bán chui mà thực chất là giao dịch nội gián, cướp hết tiền trong tài khoản của nhà đầu tư, làm rối loạn thị trường, phá hoại nền kinh tế, chúng ta chỉ biết oán thán anh Quyết, anh Bảy...

Chúng ta có nghĩ ai sinh ra những kẻ đó, ai dung dưỡng bảo kê cho những kẻ đó hoành hành?

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh chứng khoán, đảm bảo cho thị trường vận hành và phát triển lành mạnh. Nếu, UBCKNN có sự quản lý tài khoản chứng khoán của tất cả những người thuộc đối tượng quản lý buộc phải công bố giao dịch thì kẻ nào có thể dễ dàng mua bán chui trót lọt như mua bán mớ rau ngoài chợ? 

Một điều đơn giản nhất mà một em học sinh trung học cũng có thể làm được, là phong tỏa hết tài khoản chứng khoán của tất cả những người trong diện phải công khai giao dịch. Chừng nào họ muốn mua bán thì phải thông báo với UBCK theo quy định. Sau đó 5 ngày theo luật quy định, UBCK thông báo cho sàn chứng khoán mở phong tỏa để họ giao dịch. Quy định đã có, chẳng lẽ các biện pháp kỹ thuật để quản lý này họ không làm được? Đúng hơn là họ đã không hề quản lý tài khoản của những đối tượng thuộc diện quản lý, để mặc cho người ta tự do muốn giao dịch khi nào cũng được. Chính phủ điện tử và áp dụng công nghệ 4.0 để làm gì khi một thao tác đơn giản của một em học sinh làm được mà cả đội ngũ ngành quản lý chứng khoán gồm UBCK, các sàn giao dịch, các công ty lưu ký không làm nổi.

Buôn gian bán lận là bản chất của những kẻ kinh doanh thiếu đàng hoàng. Bởi vậy mới sinh ra luật pháp và nuôi một đội ngũ quản lý nhà nước để ngăn chặn gian lận. Đã có luật rồi mà để cho gian lận xảy ra là tội của cơ quan hành pháp.

"Chó treo mèo đậy". Để cho mèo ăn vụng cá là tại đứa nấu bếp không cẩn thận, không phải tại con mèo. "Mỡ để trước miệng mèo", mèo mù cũng biết ăn vụng.

Đàn bò phá hoại ruộng lúa là lỗi của đứa mục đồng chớ không phải bởi con bò.

Cái xe không đi, chúng ta không quất con ngựa mà cớ sao lại nhè đánh cái xe?

Lò của anh Tổng chừng nào mới thôi cháy khi tốc độ trồng rừng gây củi nhanh hơn tốc độ đốt lò? Chẳng lẽ, chúng ta cứ ngồi lỳ, vây quanh cái lò vạn niên đó để sưởi ấm cả khi mùa hè 40⁰C hở?

Chu Hồng Quí

Học hành và thi cử ở miền Nam

 CHUYỆN ĐI HỌC, ĐI THI...

  📖 Trước năm 1975 học sinh Miền Nam cũng phải qua nhiều kỳ thi. Sau khi học xong 5 năm bậc tiểu học, học sinh thi lấy bằng tiểu học.

    Về sau không tổ chức thi tiểu học nữa mà xét duyệt điểm trung bình năm cuối cấp để cấp Bằng Tiểu Học. 

   Sau khi lấy bằng tiểu học, học sinh thi tuyển vào lớp Đệ Thất (sau này là lớp 6). Đây là kỳ thi khó vì số lượng tuyển vào trường trung học công lập có giới hạn và đã vào được trường công lập sẽ được miễn học phí. (Những bạn không vào được công lập sẽ học trường tư, phải đóng học phí nhưng chất lượng không thua gì trường công lập).

   Sau khi học xong lớp Đệ Tứ (lớp 9) học sinh sẽ thi kỳ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (sau này bỏ không thi lấy bằng trung học nữa). 

   Sau khi học xong lớp Đệ Nhị (lớp 11), học sinh sẽ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất (hay gọi là Tú Tài Bán Phần). Kỳ thi khó vì chỉ đỗ chừng 25 - 30%. 

   Đậu Tú Tài Bán Phần, nam sinh nếu đi lính, sẽ vào Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, ra trường với lon chuẩn úy, ai có bằng Tú Tài bán phần có thể thi vào trường Quốc Gia Sư Phạm Quy Nhơn, học hai năm ra làm giáo viên tiểu học.

     Lên lớp Đệ Nhất (lớp 12) học sinh sẽ thi Tú Tài Phần Thứ Hai (còn gọi là tú tài toàn phần). 

   Sau khi đậu Tú Tài Toàn Phần học sinh sẽ được tự do ghi danh học đại học, ghi danh học thì vô cùng dễ nhưng ra trường thì quả là khó. 

   Ví dụ ghi danh học Đại Học Luật Khoa hàng ngàn sinh viên nhưng sau 4 năm học tập ra trường chừng mươi lăm người.

    Muốn vào học các trường Đại Học Sư Phạm, Quốc Gia Hành Chánh, Y Khoa, Kỹ Sư Phú Thọ sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển chọn vô cùng khó. (Sau khi thi viết đậu sẽ phải thi vấn đáp).

    Kỳ thi tuyển sinh do các trường đại học chủ động tổ chức, tự ra đề, tự chấm thi và quyết định danh sách sinh viên được tuyển chọn một cách nghiêm túc mà không cần bất cứ cơ quan nào giám sát hay kiểm tra gì cả.

    📖Về các kỳ thi Tú Tài, Hội Đồng Giám Thị được thành lập và hoán chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác và Hội Đồng Giám Khảo chỉ có 3 hay 4 Hội Đồng Giám Khảo trên toàn quốc.

    Sau khi có kết quả thi, Chánh Chủ Khảo Hội Đồng Khảo Thí ký cấp bằng Tú Tài luôn. Chưa thấy ai kiện cáo ì xèo gì về các kỳ thi.

    Trong đời mình tôi may mắn được học với quý Thầy Cô, từ bậc tiểu học cho đến bậc đại học, Thầy Cô nào cũng mẫu mực, Thầy Cô nào cũng thương yêu học trò (dù ở bậc tiểu học các thầy "quánh" cũng ghê - tôi là thằng nghịch ngợm nên hay bị thầy đánh và ông nội tôi vót một cái roi tre mang tới trường nhờ thầy trị cho cái tội ham chơi và nghịch ngợm của tôi) 🙂.

    Các Thầy đã để lại cho thế hệ chúng tôi bao nhiêu là tri thức, bao nhiêu là tấm gương mẫu mực, những tấm lòng nhân hậu và đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước và tình người mà Quý Thầy Cô, qua từng bài giảng, đã ươm vào tâm hồn thơ trẻ của chúng tôi. 

   (Chỉ có một chuyện kinh khủng xảy ra tại Hội Đồng Thi Nha Trang: Thầy Trần Vinh Anh, hiệu trưởng trường trung học Phan Châu Trinh của chúng tôi, bị một thí sinh "tự do" đâm chết tại Nha Trang vì lập biên bản vi phạm quy chế thi Tú tài của thí sinh đó và cả nước đã lên án hành vi vô đạo của một kẻ côn đồ...)

    Chúng tôi đã có một thời đi học vô cùng thơ mộng, những ngày đến trường của chúng tôi là những tháng ngày vô tận vui và đầy những kỷ niệm ngọt ngào... (học sinh chúng tôi không phải học thêm bất cứ môn nào và ba tháng hè là ba tháng vui chơi thoải mái). 

    Giờ đây thỉnh thoảng tôi kể với các bạn trẻ nghe về thời đi học của mình và các bạn trẻ cứ nghĩ là tôi kể chuyện tưởng tượng ở một thế giới không có thực.

Nguyễn Văn Gia