Showing posts with label Chân dung. Show all posts
Showing posts with label Chân dung. Show all posts

Wednesday, April 30, 2025

TBT Lê Duẩn và cuộc chiến tranh VN: Giai đoạn chống Mỹ

 Ông Lê Duẩn là vị tổng chỉ huy đánh thắng Mỹ Ngụy và thống nhất đất nước. (copy từ FB-Nguyen Leanh)

NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN

Những dòng này, tôi xin viết cho ông trong ngày kỷ niệm 50 năm này. Bởi vì ông xứng đáng được lịch sử cúi đầu. 

Tiêu đề bài viết được lấy cảm hứng từ bài trả lời phỏng vấn của tiến sĩ Lê Kiên Thành tròn 10 năm về trước: “Cha tôi không bao giờ biết vì sao mình là người được lựa chọn!” Người cha đó của tiến sĩ Lê Kiên Thành là Cố tổng bí thư Lê Duẩn. Vị tổng bí thư được đặt cho tên con đường chính của lễ đài diễu binh sáng nay: đường Lê Duẩn, con đường nối từ đường Thảo Cầm Viên đến dinh Độc Lập, con đường dài chưa tới 2km nhưng hiện thân cho 30 năm khói lửa của dân tộc để đi đến cái ngày non sông thống nhất. Và hành trình ấy được dẫn dắt bởi tài năng, sự quyết liệt, nỗi đau, nước mắt, nụ cười, thương tâm, hạnh phúc, gan dạ, lì lợm, khí phách của một con người gánh trên vai cả lịch sử nhưng đã chiến thắng ngoạn mục: Lê Duẩn.

Ông sinh ra ở Triệu Phong, Quảng Trị. Khi hiệp định Genevo 1954 chia cắt đất nước, quê hương của ông thuộc về bên kia vĩ tuyến. Cho nên câu nói “Giải phóng quê hương” với người khác có thể là lời nói mang tính biểu tượng. Nhưng còn với tổng bí thư Lê Duẩn, đó chính là trách nhiệm của người con Quảng Trị không thể để quê hương nằm trong tay giặc. Và ông là người con nói được làm được, dù việc ấy trong mắt thế giới chẳng khác gì “đội đá vá trời”, khi đó là 30 năm một dân tộc bé nhỏ đấu với Hoa Kỳ, bên cạnh sự kèm cặp của Liên Xô và Trung Quốc (tôi sẽ nói ở đoạn sau bài viết).

Từ năm 1930 đến 1946, ông hai lần bị thực dân Pháp bắt, hai lần bị đày ra Côn Đảo. Từ năm 1946 đến năm 1957, Lê Duẩn là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, là người tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Đến năm 1957, ông tập kết ra Bắc theo lệnh của chủ tịch Hồ Chí Minh để điều hành cuộc cách mạng Giải phóng dân tộc từ bộ máy trung ương. Cho nên hai chữ “Đồng đội” với một vị lãnh đạo khác có thể vừa xa, vừa gần, nhưng còn với tổng bí thư Lê Duẩn, đó chính là trách nhiệm của người đồng đội: “Tôi không thể bỏ rơi đồng đội ở trong Nam”.

Khát vọng thống nhất non sông của ông đến từ vũ lực, bằng khẩu súng, bằng nắm đấm không chỉ đi từ nước mắt quê hương, mà còn đi từ nước mắt đồng đội. Đó là sự khác biệt rất lớn của tổng bí thư Lê Duẩn. Cho nên nếu ta không đặt mình vào trong con người của ông, xuất thân của ông, nước mắt của ông, nỗi đau đớn khôn nguôi của ông, ta sẽ dễ dàng phán xét lố bịch về ông. Văn hào Nga Ylia Erenbua đã từng viết: “Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu con phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh... Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê đã trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

Yêu quê hương đồng đội đi đến nắm đấm sắt đánh địch để giải phóng quê hương, cứu lấy đồng đội, đó là Lê Duẩn. 

Và để làm được điều đó, Lê Duẩn xác định, muốn đánh Mỹ thì trước tiên phải có ba cái không sợ: không sợ Mỹ, không sợ Liên Xô, và không sợ Trung Quốc

Không sợ Mỹ là tất nhiên, tại sao phải không sợ Liên Xô và Trung Quốc, hai đồng minh của ông khi ấy? Ngay từ năm 1954, khi hiệp định Geneva được ký kết, Lê Duẩn đã đánh giá: “Nam Bộ không tán thành, đây là do Trung Quốc và Liên Xô ép”. Năm 1955, khi bộ đội và cán bộ cách mạng tập kết ra Bắc, ông xin ở lại miền Nam. Ngày chia tay theo lời kể lại, Lê Duẩn đã nói với Lê Đức Thọ: “Anh ra báo cáo với Bác, không phải hai năm, mà có thể phải hai mươi năm nữa, tôi mới được ra gặp Bác”. Ngay thời điểm mà nhiều người ở cả miền Nam và miền Bắc vui mừng về Hiệp định Geneve. Nhưng Lê Duẩn đã khóc rất nhiều khi nhìn những gia đình miền Nam trước khi ra Bắc tập kết hẹn 2 năm sau gặp lại. Khi được Hồ Chủ Tịch giao cho nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng miền Nam. Những người thân cận của tổng bí thư Lê Duẩn đã kể lại rằng: “Anh Ba mất ba đêm không ngủ để suy nghĩ về thái độ của Liên Xô, Trung Quốc, rằng họ giúp mình nhưng có chi phối đường lối chiến tranh của mình không? Đó là cái gay gắt nhất”. 

Và đó là lý do TBT Lê Duẩn hành động.

Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, chiến tranh bắt đầu leo thang, quân đội chính quy của miền Bắc cũng bắt đầu vượt vĩ tuyến 17, đi qua đường Hồ Chí Minh để vào nam bắt đầu trận chiến giải phóng dân tộc. Người dẫn đầu cuộc chiến này chính là vị tướng đứng đầu trong phái chủ chiến tại Quân Đội miền Bắc: tướng Nguyễn Chí Thanh. Đi sau lưng tướng Thanh là vị tướng đánh trận giỏi nhất lịch sử Việt Nam thời hiện đại: Lê Trọng Tấn. Chưa kể còn có Hoàng Cầm và Trần Độ. Bản thân TBT Lê Duẩn cũng vạch ra kế hoạch táo bạo của mình được gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy”, sau này là “Chiến dịch Quang Trung” năm 1968. Về đối nội trong Đảng, ở cương vị nắm quyền lực cao nhất Đảng, và được Bác Hồ chọn làm người kế nhiệm, TBT Lê Duẩn gần như cũng thay thế hoàn toàn nhóm “quá thân với Trung Quốc”, hoặc nhóm “quá thân với Liên Xô”. Đương nhiên cũng giống cuộc cách mạng ở ngoài chiến trường, thì cuộc cách mạng nhung này cũng có thương đau, vụ án “Xét chống lại Đảng” năm 1964 ấy về sau có lẽ cũng là một trong những lý do đẩy ông đi vào trong sự phán xét của hậu thế. Nhưng tôi nghĩ, ông chấp nhận tất cả. Chỉ có như thế, ông mới chấm dứt được những khác biệt trong quan điểm về đường lối cách mạng sau này về chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường đấu tranh vũ trang, chỉ có như thế chiếc tăng 390 mới có thể húc được cổng Dinh Độc Lập mà không bị ngăn lại bởi một cuộc điện thoại nào khi đoàn quân đang thần tốc về Sài Gòn. Nhắc lại, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Lê Duẩn, chứ không phải chọn Phạm Văn Đồng, Trường Chinh hay Võ Nguyên Giáp kế vị mình. Tướng Võ Nguyên Giáp khi lịch sử cần, cũng đã gác hết tất cả để nắm lấy binh phù, vạch binh chiến lược cho Đại thắng mùa xuân 1975. 

Quay lại câu chuyện, tất cả đều đúng với những gì TBT Lê Duẩn nhận định. Đến năm 1972, dưới bàn tay đạo diễn của Henry Kissingger, tổng thống Mỹ Nixon sang thăm Trung Quốc. Chuyến thăm không chỉ gây phẫn nộ từ Sài Gòn, mà từ Hà Nội, TBT Lê Duẩn cũng xác định được sự sáng suốt trong những hy sinh của ông từ năm 1964 (và kéo dài cho đến cả hôm nay), ông đã nhìn được lá bài của các nước lớn dành cho các nước nhỏ: họ chỉ cần lợi ích, sẵn sàng bỏ rơi đồng minh, và một Việt Nam bị chia cắt sẽ vĩnh viễn ở mãi thế chư hầu mới là điều họ cần.

Nhưng cái hay của Lê Duẩn là không vì sự nóng giận đó mà đánh mất đại cục. Suốt 30 năm chinh chiến ấy, ông không để mất lòng cả Trung Quốc lẫn Liên Xô. Vẫn tận dụng được viện trợ của cả hai cường quốc này, vẫn giữ được tính chất độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Mà nên nhớ đây là điều cực kỳ khó, tất cả các cuộc hội đàm của VN với các nước xã hội chủ nghĩa khi ấy đều chỉ nhận về những ánh mắt nghi ngờ: họ không tin VN thắng Mỹ, họ sợ chiến tranh thế giới thứ III sẽ xuất phát ở đây. Nhưng họ không đặt mình vào trong cảm giác của người Việt Nam, của Lê Duẩn, của Nguyễn Thị Bình…. Và đó là cái sai của họ. 50 năm sau, họ vẫn sai, họ vẫn phán xét TBT Lê Duẩn trong sự dũng cảm can trường mà ông và những người đồng chí của ông đi trong hành trình đầy xương máu đó, trong những mất mát của 30 năm và cả Mậu Thân 1968 để rồi lấy những Hàn Quốc, hay CHLB Đức để lên mặt dạy dỗ. Nhưng nếu nhìn cảnh cả hàng nghìn con người xếp hàng qua đêm để xem diễu binh hôm nay, để ôm lấy lá cờ tổ quốc, để khóc và được cười thì họ sẽ hiểu hơn về những con người nhỏ bé, yêu đất nước nhỏ bé này tha thiết đến dường nào. TBT Lê Duẩn âm thầm đi một con đường giữa, gai góc, nguy hiểm, đầy máu và nước mắt, đầy súng đạn gươm đao, và cả bia miệng cuộc đời, nhưng ông đã đi được. Ngoài ông, không có ai đi nổi con đường khó khăn ấy.

50 năm đủ dài để thấy TBT Lê Duẩn đã không sai, non sông đã lựa chọn ông để lèo lái dân tộc qua khúc ngoặt lịch sử ấy. Còn ông thì công lao khủng khiếp mà nhường cho người khác, chấp nhận mọi đánh giá, vẫn ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Và những bi thương lịch sử cứ để ông gánh, im lặng, không giải thích. 

Con gái ông Lê Duẩn, bà Lê Thị Muội, viết trong hồi ký: “Gần trưa 30/4/1975, tôi hay tin là ta đã chiếm Dinh Độc Lập. Tôi hấp tấp ra khỏi Viện Di truyền, phóng xe máy về nhà và lao thẳng vào phòng ba tôi. Ở đấy, một mình ba tôi đang ngồi lặng lẽ. Người ngước mắt cười với tôi, rồi nước mắt bỗng trào ra. Đột nhiên, tôi thấy thời gian như ngưng lại và ánh sáng trong căn phòng cũng không còn là thứ ánh sáng thông thường của trời đất nữa…”

Người đã mang những gánh nặng khủng khiếp đè trĩu lên vai ông, vẫn dám cõng lấy nó, để dìu dắt non sông đi đến ngày khải hoàn.

Xin kết bài bằng 2 câu thơ này, lịch sử dân tộc ta, anh hùng thì nhiều nhưng người xứng đáng với 2 câu thơ này chắc chỉ lơ thơ vài người, trong đó có TBT Lê Duẩn:

“Trả món nợ non sông trước mắt

Mặc đời sau thiên hạ luận bàn”.

(Dũng Phan, 30/4/2025)

Tuesday, March 12, 2024

Hồi ký Lý Quang Diệu

Sau nhiều gián đoạn vì công việc và vì những cuốn sách khác, cuối cùng tôi cũng đã đọc xong hai tập hồi ký dày gần 1600 trang sách khổ to của ông Lý Quang Diệu.

Có rất nhiều điều để nói về cuốn hồi ký đồ sộ này và chúng không chỉ cần phải có cảm hứng mà cần cả thời gian nữa.

Sau đây chỉ là vài tóm lược vắn tắt nhất về bộ sách.

Trước hết Lý cho thấy ông có sự am hiểu sâu sắc về văn hóa Trung Hoa, các nước Đông Nam á, văn hóa Hồi Giáo, nền chính trị Anh quốc và châu Âu, văn hóa chính trị Hoa Kỳ, mô hình cai trị kiểu XoViet...

Từ những hiểu biết và khảo sát các mô hình ấy, ông tìm ra mô hình phát triển riêng cho Singapore và thành công.

Ông nhận xét, đánh giá về hàng trăm nhân vật chính trị (trong đó có bóng dáng vài nhà lãnh đạo Việt Nam) được coi là có ảnh hưởng đến sự thay đổi thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á, trong vòng một trăm năm qua.

Ông đưa ra các tiên đoán về tương lai của nhiều mô hình xã hội, trong đó có cả tương lai của mô hình phát triển của Singapore.

Ông cho thấy, cùng với thời gian mọi thứ đều có thể thay đổi. Do vậy những gì luôn được tung hô “muôn năm” chỉ là ảo giác do hoang tưởng tự đại, hoặc mị dân một cách có chủ đích.

Xuyên suốt trong tác phẩm của mình, dù nêu ra nhiều khiếm khuyết của mô hình chính trị dân chủ Mỹ và cách mà nước Mỹ muốn ở các quốc gia khác, nhưng ông khẳng định bất cứ sự chống đối, gây hấn nào với nước Mỹ, đều ngu ngốc và tất yếu gây thiệt hại lớn cho sự phát triển của đất nước mình.

Phần khảo sát về Trung Quốc khá dài, cũng là phần thú vị nhất. Ông cũng dành ra một số trang để nói về Việt Nam, nhưng khá sơ sài.

(Một người bạn của tôi cho biết, phần viết về Việt Nam của ông Lý, khi dịch sang tiếng Việt đã bị lược bỏ những chỗ ông phê phán hay bày tỏ sự thất vọng. Tôi không có điều kiện và hiểu biết để kiểm chứng).

Chống cộng, nhưng theo xu hướng Xã hội chủ nghĩa, ông Lý đề cao mô hình Bắc Âu. Tuy vậy chắc chắn ông là một nhà độc tài. Trong nồi lẩu tư tưởng cai trị của ông có đủ thứ: Nho giáo, kỉ luật chiến binh Nhật, luật pháp Anh quốc, thực dụng Mỹ... và có cả một chút "bác ái" kiểu Thiên chúa giáo?

Nhiều quan điểm về phát triển, về trật tự xã hội, về tự do, về quyền cá nhân của ông chỉ phù hợp với Singapore và không ai có thể biết trước tương lai của nó. Chính ông đã cảnh báo về điều đó. Chẳng hạn ông nghi ngờ về sự trường tồn của đảng PAP, của mô hình chính trị do ông dày công tạo dựng và tạo ra sự thịnh vượng, thậm chí ông nghi ngờ cả về khả năng tồn tại lâu dài của một quốc gia kiểu thành bang như Singapore trong một thế giới thay đổi điên loạn (Trang 152 và trang 837, tập II).

Tuy nhiên, những gì ông thực hành thành công có thể bị các chế độ độc tài, toàn trị khai thác, quảng bá không phải để thuyết phục dân chúng coi như một lựa chọn đúng đắn, mà chủ yếu để biện hộ cho sự tàn bạo, tồi tệ trong cai trị hà khắc của họ.

Đó là lý do vì sao các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc sau Mao luôn tìm cách mang mô hình Singapore về áp dụng tại đất nước rộng lớn của họ. Chỉ có điều họ bỏ đi những mẩu dân chủ - dù còn hình thức - hiếm hoi mà ông giữ lại (Chẳng hạn Lý Quang Diệu quyết định để Tòa án ở Singapore được xét xử độc lập như thời Anh cai trị, cho phép các đảng đối lập tranh cử công khai với đảng PAP thống soái… để ít ra, như chính ông nói, gây áp lực lên các ứng viên đảng PAP trong việc rèn luyện phẩm hạnh, học tập và khiến đảng cầm quyền phải nỗ lực tiến bộ không ngừng).

Dù có nhiều biện hộ, dù cho thấy là một người đề cao sự trung thực, nhưng chỉ cần tinh ý một chút, vẫn có thể nhận ra không ít chỗ tác giả tìm cách che dấu sự thật mà ông không đủ can đảm nói ra, hoặc nói ra sẽ làm lung lay hình ảnh về một "người cha lập quốc huyền thoại" trong suy nghĩ của nhiều người Singapre, cũng như những người hâm mộ ông với tư cách là người kiến tạo nên một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới từ một hòn đảo nghèo đói, đầy rẫy tệ nạn.

(Chẳng hạn đoạn ông biện hộ về sự cần thiết phải kiểm soát ngôn luận, cấm tụ tập biểu tình, những vụ án chính trị được hình sự hóa, hay từ chính những phản bác của ông về ý kiến quy cho ông thực hiện chế độ “gia đình trị”.)

Chắc chắn Lý Quang Diệu là một chính khách lớn của thế giới trong thế kỷ 20.

Với cá nhân tôi, ông còn xứng đáng là một nhà văn, nhà văn hóa uyên bác và tinh tế.

Dù thế nào thì đây cũng là một cuốn sách đáng để đọc và đọc kĩ. Tôi đã phải gạch chân và đánh dấu ngoài lề hàng trăm đoạn, những chỗ mà tôi thấy cần phải nghiền ngẫm tiếp về những điều tác giả viết.

Lý Quang Diệu cũng cho tôi biết, để thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình và vươn lên hàng ngũ phát triển, một quốc gia phải có tăng trưởng hai con số (từ 12-14% một năm) liên tục ít nhất trong vòng 30 năm.

Vì thế ông yêu cầu các quan chức cũng như người dân Singapore phải không ngừng cảnh giác với căn bệnh thành tích và thói tự mãn.

Tạ Duy Anh

Saturday, March 2, 2024

BÉLA BARÉNYI

BARÉNYI BÉLA, THE FATHER OF AUTOMOTIVE SAFETY AND CO-DESIGNER OF THE MERCEDES PAGODA WAS BORN ON THIS DAY 117 YEARS AGO.

Today, we celebrate the legacy of a true engineering genius, a Hungarian visionary who shaped the automotive world with his iconic designs. Béla Barényi, born 117 years ago today, left an indelible mark on the industry, creating some of the most iconic and beloved cars of all time.

As a car restoration company based in Hungary, we are honored to pay tribute to his works of art. From the timeless elegance of the Mercedes 280SL designed together with Paul Bracq to the enduring charm of the VW Beetle, Barényi's designs continue to inspire and captivate enthusiasts around the world. 

What truly sets Barényi apart is his unwavering commitment to safety. He was a pioneer in the field, advocating for the use of crumple zones and other safety features that are now standard in modern vehicles.

Join us in celebrating the life and achievements of this extraordinary engineer. Let's raise a toast to the legacy he left behind.

Copy từ Motor Classic Hungary

Friday, September 1, 2023

Con đường đau khổ: Khi cuộc đời xiêu vẹo

Nhân 21 năm ngày mất của nhạc sĩ Văn Cao

VĂN CAO : MỘT THIÊN TÀI BỊ LƯU ĐẦY

 Văn hóa - nghệ thuật (Nguồn: dân luận )

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư...” - Trịnh Công Sơn.

Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn nghệ Văn Cao - người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.

Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.

Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều...

Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…

Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường mùa vui nay đã về

mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng cho bao tâm hồn.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh

Niềm vui phút giây như đang long lanh.

ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.

ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Từ đây người biết quê người

Từ đây người biết thương người

Từ đây người biết yêu người.

Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu

với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm... nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: “một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà trưa xao xác não nùng”.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót nhớ...

Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?

Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị cấm)?

Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu tiên”

Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?

Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.

Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:

    “Sau khi bài "Tiến về Hà Nội" ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa... Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng...

    Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

    Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

    Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.” - Trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180

Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh Matxcova:

    “Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.””

Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.

Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn - Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu”.

Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:

    “Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano - đối diện với chiếc đivăng tôi đang ngủ.

    Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.

    Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.

    Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” - Nhà thơ NGHIÊM BẰNG - THU HÀ ghi

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chinh chủ trương đánh “Nhân Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem thú thích dưới bài)

Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)

Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.

Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.

Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương Chi”, “Thiên Thai”...) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu quân thù”... “đường ta đi xây xác quân thù”... đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo mát...

Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”... nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!

Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến - một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn - Giai phẩm”...

Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng...) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con...”

Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì...”

Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?

Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông...?

Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn - Giai Phẩm” (NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối bài)

Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo sau năm 1975...

Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn ngào “Mùa xuân đầu tiên” này...

Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy...

Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của mình.

Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:

Ai lướt đi ngoài sương gió,

Không dừng chân đến em bẽ bàng,

Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,

Từ từ xa đường vắng.

Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.

Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.

Người ơi còn biết em nhớ mong,

Tình xưa còn đó xa xôi lòng.

Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên

Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.

Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,

Chàng ngày nào tìm đến?

Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa

Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.

Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.

Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”...

Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu...

Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái - Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”...

Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của nỗi buồn, của Cái - Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?

Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon - thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos - thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?

Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên

Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên

theo gió tiếng đàn xao xuyến

Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền

Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi

Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời

Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền nan

Quê hương dần xa lấp núi ngàn

Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền

Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian

Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần

Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm

Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên

đây đó nỗi lòng mong nhớ

Này khúc bồng lai

là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi

Đàn xui ai quên đời dương thế

Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian

Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa

Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn

Cùng bầy tiên đàn ca bao năm

Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về

Tiên nữ ơi!

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về

Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?

Những khi chiều tà trăng lên

Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly khác, ảo diệu khác... do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.

Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu - Nguyễn - Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức...

Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ

Trầm trầm không gian mới rung thành tơ

Vương vất heo may hoa yến mong chờ

Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,

Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan

Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng

Đây đó từng song the hé đợi đàn.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân

Hò khoan mơ bóng con đò trôi

Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời

Anh Trương Chi

Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,

Anh thương nhớ.

Oán trách cuộc từ ly não nùng.

Đò trăng cắm giữa sông vắng.

Gió đưa câu ca về đâu?

Nhìn xuống đáy nước sông sâu.

Thuyền anh đã chìm đâu!

Từng khúc nhạc xa vời

Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.

Sương thu vừa buông xuống

Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông

Ai qua bến giang đầu tha thiết,

Nghe sông than mối tình Trương Chi

Dâng úa trăng khi về khuya,

Bao tiếng ca ru mùa thu.

Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn

Còn nghe như ai nức nở và than,

Trầm vút tiếng gió mưa

Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?

Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn

Về phương xa ai nức nở và than,

Cùng với tiếng gió vương,

Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.

Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao

Mà ai hát dưới trăng ngà

Ngồi đây ta gõ ván thuyền,

Ta ca trái đất còn riêng ta.

Đàn đêm thâu

Trách ai khinh nghèo quên nhau,

Đôi lứa bên giang đầu.

Người ra đi với cuộc phân ly,

Đâu bóng thuyền Trương Chi?

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?

Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.

Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời.

Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng Mỵ Nương - Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)...

Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi - Văn Cao:

“Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ - chua thêm TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

Sài Gòn ngày 23-01-2013

Trần Mạnh Hảo

Phần chú thích:

Chú thích <*1*>:

“Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy - Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là cuộc quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ Nhân văn - Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của Lúy[2] vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế - bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp. Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!" Lúy nghe, mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này nữa: Lúy muốn mình phải hiểu - tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy xu?.

http://vi.wikipedia.org/.../Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V...

Chú thích <*2*>:

"Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (...)

Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (...)

Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền

Ta ca trái đất còn riêng ta! (...)

Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước.

Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

Ta là đàn chim bay trên mây xanh

Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan...

...Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!

Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", hay như bài "Ngoại ô mùa đông 46" (Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):

Ta đi trong nhà đổ

Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình

Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh

Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…

...

Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp

Gió lạnh khi qua viện tàng thư

Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ

Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (...)

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?

Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả (...)

Trên đất nước ta, “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy (...)

Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất cũng biết chúng ta vĩ đại!" (Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc Nxb Văn học, Hà Nội 1963, tr. 101-114. Bản điện tử do Lại Nguyên Ân cung cấp 

Nguồn Nơi góc phố - Hà Nội ngày tháng cũ

Tuesday, August 22, 2023

Con đường đau khổ: Đời nghệ sĩ

 Rất. Rất nhiều người viết về Văn Cao... nhưng lẽ Phùng Quán viết về Văn Cao là lay động nhất bởi chất mộc và thật trong con người Phùng Quán. 

☆ 

MỘT THOÁNG VĂN CAO

     Hồi làm việc ở Vụ Văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51, Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Lúc ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xế bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc, Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc. 

      Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai. 

     - Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: Chị cho tôi gói thuốc lào. Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán: Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?. Chị chủ quán ngơ ngác: Làm gì có thuốc lào Tây ạ? 

      Tôi cười giải thích: Ý anh ấy muốn hỏi thuốc lào của chị là thuốc lào mậu dịch hay thuốc lào chui. Thuốc lào mậu dịch là thuốc lào Tây. 

       Chị chủ quán nói: Thế thì thưa ông anh, thuốc lào Tây ạ, em không có thuốc lào ta.

Một ông khách móc túi lấy gói thuốc lào bọc trong túi giấy bóng, đưa cho anh: Tôi có thuốc lào ta đây. Chính hiệu Tiên Lãng, mời ông ăn thử. 

       Văn Cao đỡ gói thuốc lào, vê một điếu bỏ vào nõ, nói với ông khách: "Ăn thuốc" đó mới đúng là ngôn ngữ của người ghiền thuốc lào. Văn Cao rít một hơi tận sức, từ từ nhả khói. Đúng là chính hiệu Tiên Lãng, ông cho tôi xin thêm điếu nữa? Mời ông cứ tự nhiên. 

       Văn Cao hỏi tôi: Quán có tiền đó không, cho mình vay 5 đồng. Hai thằng từ sáng đến giờ chỉ toàn rượu suông, muốn đi ăn bát cháo. Em chỉ có ba đồng, anh cầm tạm. 

      Văn Cao bỏ tiền vào túi. Hai người đứng lên, lại vịn vào nhau, xiêu vẹo dắt nhau đi. 

      Ông khách cho thuốc lào ái ngại nhìn theo hai người đi khuất ở ngã tư Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo. Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa. Tôỉ hỏi ông: - Ông có biết ông ấy là ai không? 

       - Không, tôi đoán là dân ở Thái Bình mới lên. Từ hôm gạo lên 3 đồng một ký, dưới đó nhiều người đứt bữa… 

       Tôi nói: Ông ta là người đã viết một bài hát mà mỗi lần hát lên, cả nước phải đứng nghiêm, kể cả cụ Hồ. Ông khách trợn tròn mắt: - Ông ta là nhạc sĩ Văn Cao? 

      - Đích thị là Văn Cao! 

       Ông khách đang uống dở hớp nước, ngồi ngẩn ra một lúc lâu như người bị nghẹn, rồi buông lửng một câu: - Thế thì còn ra thế nào nữa…! 

        Lát sau chị Băng từ trong cửa Bộ đi ra. Vừa nhìn thấy tôi, chị túm lấy hỏi: - Từ sáng tới giờ anh có thấy anh Văn đi ngang qua đây không? - Anh vừa đi cách đây hai mươi phút. Anh hỏi vay tôi năm đồng, tôi chỉ có ba đồng đưa cho anh. 

      - Có khổ thân tôi không! Ở nhà khách người ta đợi suốt từ sáng tới gần trưa. 

      - Khách ở đâu đến mà quan trọng thế? Chắc là nhà báo quốc tế đến phỏng vấn anh về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác. Chị Băng nhăn nhó khổ sở: Khách từ Hà Giang xuống, ở Xí nghiệp chế biến chè. Họ muốn nhờ anh Văn vẽ cho cái nhãn chè. Người ta đem xuống 50 đồng với 10 gói chè loại 1. Chờ mãi không được thế là người ta đem tiền, đem chè đi nhờ họa sĩ khác. 

         Nghe chị kể tôi cũng thầm tiếc cho anh. 50 đồng với 10 gói chè Hà Giang loại 1. Chao ôi, thật đáng tiếc! 

      Hôm sau tôi gặp Văn Cao, kể lại chuyện hôm qua, hỏi anh: 

     - Sao anh lại bỏ dở một cái đơn đặt hàng ngon lành thế? Hay anh quên? 

     - Mình nhớ chứ, chỉ cần ngoạch trong nửa tiếng là có 50 đồng… Nhưng mình bỏ đi lang thang uống rượu suông với thằng Chúc và phải hỏi vay con gái. 

       Anh lắc đầu: Mình rất cần tiền mà cũng vô cùng chán tiền… 

   (*)  Ảnh - Văn Cao do Nguyễn Đình Toán chụp ngày 3/7/1995. Đúng 1 tuần sau Văn Cao rời cõi dương gian vào ngày 10/7/1995.

(Copy từ FB-Nhạc sĩ Văn Cao)

Sunday, August 20, 2023

Made in Japan

CHẤP NHẬN THUA LỖ THAY VÌ SA THẢI NHÂN VIÊN, "VUA NỢ NHẬT BẢN" MỞ RA THỜI ĐẠI PANASONIC CỰC HƯNG THỊNH 

Nhà sáng lập của Panasonic Konosuke Matsushita (1894-1989) được biết đến là một Doanh nhân huyền thoại của Nhật Bản. Năm 17 tuổi, Matsushita đến làm cho một công ty cơ điện do bị hấp dẫn bởi ngành công nghiệp này. Vì đam mê quá lớn nên 7 năm sau đó, ông xin nghỉ việc và đứng ra mở cửa hàng chuyên bán đồ điện với số vốn vỏn vẹn chỉ có… 97 yên. Đến chiếc áo Kimono, của hồi môn và nữ trang của vợ cũng phải bán đi để làm vốn kinh doanh. 

Cuối năm 1929, cơn đại khủng hoảng gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế toàn thế giới nói chung và tại Nhật Bản nói chung. Các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đều cắt giảm nhân công mỗi nhà máy khi không có việc. Trong lúc đó, công ty của Matsushita còn một lượng lớn hàng tồn kho, cách tốt nhất là phải hạn chế sản xuất.

Cũng trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc, sức khỏe của Matsushita Konosuke không được tốt nên ông phải dưỡng bệnh tại nhà. Cấp dưới tìm ông để đề nghị việc cắt giảm nhân viên. Tuy nhiên, Matsushita cương quyết nói rằng sẽ cắt giảm dù chỉ là một nhân viên. Ông nói:

“Tình trạng khủng hoảng này có thể chỉ là tình trạng tạm thời. Nếu vậy, làm sao chúng ta có thể sa thải những nhân viên tận tụy với công ty cho đến tận bây giờ? Khi cần thì tuyển, khi muốn thì sa thải, nếu cứ suy nghĩ thiển cận như vậy thì còn ai muốn cống hiến hết mình vì công ty không? Dù chỉ một người thôi cũng không được đuổi. Tiền công cho nửa ngày làm việc hay nửa ngày sản xuất, dù là một phần trăm cũng không được cắt!”

Thay vào đó, ông nghĩa ra giải pháp mới là bảo nhân viên bỏ hàng mẫu vào trong cặp đi chào hàng và cố gắng để có nhiều đơn đặt hàng hơn. Điều này đã được các nhân viên hưởng ứng và tích cực làm việc, mang những sản phẩm mẫu tới mọi nơi ở Osaka và Kyoto. Cứ thế, hàng tồn kho nhanh chóng được giải quyết và nhà máy lại đi vào hoạt động như bình thường. 

Năm 1931, phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của Mashushita đã vang dội cả nước với 200 loại sản phẩm điện. Công nhân đã lên tới hơn 1.000 người. Năm 1935, công xưởng Mashushita trở thành Công ty công nghiệp điện khí Mashushita. Năm 1938, Mashushita chế tạo được mô hình máy thu hình. Năm 1941, công ty của Masushita thành một doanh nghiệp lớn với hơn 10.000 công nhân.

Năm 1945 Nhật Bản sau thế chiến, Mỹ tiếp quản Nhật, khi ấy, Mỹ đưa ra những hạn chế với các công ty Nhật, và đưa công ty của Masushita vào danh sách tài phiệt, ông bị yêu cầu từ chức. Khi ấy ông đã mười mấy lần đến Mỹ để đàm phán, nhưng không có kết quả. May thay, công đoàn lao động sau khi biết chuyện này đã đồng lòng cứu giám đốc của mình, Masushita cuối cùng thoát khỏi danh sách tài phiệt, và giữ được vị trí của mình.

Năm 1951 là năm mở đầu cho sự nghiệp xây dựng lại danh hiệu Mashushita. Lần này Masushita sang Mỹ và châu Âu để khảo sát thị trường. Sau đó, ông đã bắt đầu xây dựng những nhà máy sản xuất đầu tiên ở Mỹ, sau đó đến Đông Nam Á, châu Mỹ Latin, châu Phi…Năm 1955, lần đầu tiên, công ty xuất khẩu loa sang Mỹ dưới thương hiệu Panasonic. Từ đây, thời đại của thương hiệu này đã rộng mở và trở thành biểu tượng cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản.

Năm 1960, số vốn của Công ty Matsushita tăng 15 tỷ yên, số nhân viên công ty cũng tăng 25 nghìn người. Cũng trong năm này, Mashushita đã là công ty được xếp thứ 74 trong 100 "Đại gia của thế giới". Năm 1962, tạo chí Times của Mỹ in hình Masushita trên trang bìa, đó là sự phá lệ của tờ báo này bởi đây là lần đầu tiên, chân dung một nhà doanh nghiệp Nhật Bản được đăng trên trang bìa với dòng chữ: "Ông chủ Công ty Mashushita, một công ty có tiếng tăm trên thế giới, hàng hóa có chất lượng tốt nhất và sử dụng có hiệu quả cao nhất". 

Tuy đã thoát được khó khăn này, việc kinh doanh của ông lại tiếp tục nảy sinh vấn đề khác, khoản nợ của công ty ngày càng chồng chất. Riêng tiền nợ đã lên đến một tỷ yên. Ông được đặt biệt danh là “Vua nợ” của Nhật Bản. Thậm chí đến những bữa ăn hàng ngày, ông cũng phải nhờ cậy vay mượn bạn bè. Thời khắc khó khăn, nhưng điều đó không thể khiến ông gục ngã. 

Dưới sự dẫn dắt và nỗ lực của ông, Panasonic tăng trưởng nhanh chóng trong thời điểm kinh tế khó khăn. Năm 1973, Panasonic một lần nữa rơi vào khó khăn khi bùng phát khủng hoảng dầu mỏ. Masushita đã bình tĩnh phân tích, điều chỉnh phương hướng và chiến lược kinh doanh, một lần nữa giúp Panasonic lại lần nữa vượt qua thử thách. Đến ngày nay, Panasonic tự hào là một doanh nghiệp hàng đầu thế giới.

Trang FB-TS Tô Nhật

Monday, January 2, 2023

Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Petőfi Sándor

200 éve ezen a napon született Petőfi Sándor költő, forradalmár, nemzeti hős, a magyar költészet egyik legkiemelkedőbb alakja.  A szabadságról és autonómiáról szóló álmai magyarok nemzedékeit motiválták és inspirálják ma is.

Hungarian poet, revolutionary, national hero, and one of the most outstanding figures in Hungarian poetry Sándor Petőfi was born on this day 200 years ago. His dreams of freedom and autonomy have motivated generations of Hungarians and still inspire today.

US Embassy Budapest

Sunday, September 4, 2022

Teréz anya, a szegények szentje

Szilágyi Éva emlékezetes írása a Nők Lapja archívumából.

Forró, fülledt, páratelt a levegő. A monszuneső függönyt képez. Megszólal a lélekharang. Akiért a harang szól, azt már életében szentként tisztelték. Teréz anya – így nevezték a szegények és elesettek önfeláldozó oltalmazóját. Szíve nyolcvanhét éves korában szűnt meg dobogni. Aranyszíve volt. Erős, vasakaratú. Indiában jelképpé vált. Megrendültén fogadták világszerte a szomorú hírt, távozásával szegényebb lett az emberiség.

India kétnapos gyászt tartott, félárbocra eresztették a nemzeti lobogókat, az államfő lemondta összes hivatalos programját, a kormányfő Calcuttába utazott, hogy fejet hajtson az ország nagy halottja előtt. Állami, kormányfőnek járó tiszteletadással temették el e rendkívüli teremtést. II. János Pál pápa „mélységes szomorúsággal” fogadta Teréz anya halálhírét. „Napjaink egyik óriását vesztettük el” – jelentette ki Clinton elnök. „Ragyogó példája volt az irgalmasságnak” – hangsúlyozta az ENSZ főtitkára. Chirac francia elnök szerint „…Teréz anya távozásával kevesebb szeretet, kevesebb együttérzés, kevesebb fény maradt a földön”. Milliók gyászolják korunk legtiszteletreméltóbb személyiségét.

Nővérei fehér száriba öltöztették, jégágyra fektették Teréz anyát, sorra elvonultak előtte, az indiai hagyományt követve, a tiszteletadás gesztusaként megérintették mezítelen lábát. Küldetése befejeződött. Mi tette ilyen naggyá, ilyen tiszteletreméltóvá? Hogyan vált Teréz anya nemzetközi hírűvé, példátlanul népszerűvé, példaképpé?

Küldetés

1910-ben, Szkopjében jött a világra Ágnes Gonxha Bojaxhiu, albán nemzetiségű szülők gyermeke. Apja módos építész volt. A családi védett fészek hamarosan elárvult, a papa korai, váratlan halála után megváltozott életük. A mama ruhákat, hímzéseket árulva kereste meg a kenyerüket. Agnes a helyi plébánia fiatalokból álló csoportjának a tagja lett. A velük foglalkozó jezsuita pap egy életre szóló hatást gyakorolt a tizenéves lányra. Elhivatottságot érezve, tizennyolc évesen jelentkezett a katolikus missziós apácák, a Lorettói Nővérek Rendjébe. Írországba küldték, megtanult angolul, majd Indiába irányították.

1929-ben érkezett meg Kalkuttába. Eskütételekor a Teréz nevet választotta, közel érezte magához Lisieux-i Szent TWzf. Kalkutta Ázsia és a világ egyik legnagyobb és legszegényebb városa. Modem, egyszerre gazdag és elképzelhetetlenül nyomorúságos. Emberek milliói születnek, élnek és meghalnak az utcán. Egész életük az utcán zajlik le. Kéregető kisgyerekek, testüket áruba bocsátó kislányok, koldusok serege, csontvázemberek, betegek, nyomorékok, haldoklók… Reménytelennek tűnik a helyzetük. Az utcán élők serege nem csökken. Az újszülöttektől a haldoklókig mindannyian kiszolgáltatottak.

Teréz anya Kalkuttában földrajzot és katekizmust oktatott egy rendi iskolában, ahová jómódú gyerekek jártak. Nap mint nap elé tárult az utca apokaliptikus képe. A feneketlen nyomor, a mérhetetlen szenvedés láttán összeszorult a szíve. Tüdőbajos lett. Dardzsilingbe, a Himalája lábánál lévő hegyi üdülőhelyre küldték gyógyulni. Ekkor született meg benne az elhatározás: a jólétből átköltözik a sorsukon segíteni nem tudó elesettek közé. 1948-ban a katolikus egyház engedélyezte, hogy tanítás helyett szolgálja a „szegények legszegényebbjeit”.

Megtanult hindi és bengáli nyelven. 1949-ben megkapta az indiai állampolgárságot. Egy év múlva a Vatikán jóváhagyásával megalapította A Szeretet Misszionáriusai Rendet. Nyolc ágra oszlik a rend: aktív nővérek, szemlélődő nővérek, aktív testvérek (papok), szemlélődő testvérek, misszionárius atyák, laikus misszionáriusok, önkéntesek, a betegek és szegények közül jelentkező munkatársak. A végső fogadalomtétel előtt a nővérek három hétre hazatérnek családjukhoz, hogy eldöntsék: valóban végleg a rendben akarnak-e maradni, szolgálni egy életen át. Lemondanak a magánéletről. Spártai életmódot folytatnak, mértékkel étkeznek, nincs külön szobájuk, csak egy ágyuk, egy váltás ruhájuk, egy pár szandáljuk és egyetlen fatányéruk. Mindenkihez egyformán kedvesek, figyelmesek, jóindulatúak. Teréz anya arcát többnyire szelíden mosolyogva láttuk.

Az első Nobel-díjas apáca

Első otthonukat 1952-ben, Tiszta Szív néven nyitották meg. Fizikai és lelki segélynyújtás, orvosi ellátás, oktatás, szociális tevékenység, a tbc-s, a leprás, az AIDS-es betegek ápolása, elhagyott, mozgássérült, szellemi fogyatékos gyerekek gondozása, mozgóklinikák működtetése, szakmai képzés tartozik feladataikhoz. A hajléktalanok, az alkoholisták, a kábítószeresek, a leányanyák istápolása, otthonok alapítása, főtt étel osztása (naponta legalább ezer emberre főznek). Tevékenységüket az emberszeretet diktálja. Mindez Teréz anya kezdeményezésére, ösztönzésére jött létre.

A misszionárius nővérek járják az utcákat, összeszedik a haldoklókat, hogy tiszta ágyon fekve, békében, emberi méltóságukat visszanyerve távozhassanak az élők sorából. Lepra… Már az említése is félelmet kelt. Bár a leprás beteg korunkban nincs halálra ítélve. Negyven évvel ezelőtt kezdték el a leprások kezelését. Ma falunak beillő központban látják el őket.

Számtalan kérés érkezett Teréz anyához a világ minden tájáról. Az AIDS új kihívást jelentett. Észak- és Dél-Amerika, Afrika, Európa, Ázsia számos városában létesítettek AIDS-otthonokat, -gondozókat.

Zöld ágyak sorakoznak a gyerekotthonban, a beteg, alultáplált kicsinyekbe lassan visszatér az élet. Játszószoba, játszóudvar — napjaikat igyekeznek megszépíteni. Az utca népe naponta találkozik a nővérekkel, akik a legelesettebbeket magukkal viszik, megfürdetik, lefektetik, infúziót adnak, felerősítik őket.

Első, Indián kívüli otthonuk a venezuelai Cocorotében nyílt meg. A fehér-kék száris nővérek megjelentek és otthonokat nyitottak minden kontinensen. Egyedül Indiában ekkor már 168 rendház működött.

Teréz anya „a szegények és nélkülözők, a betegek és árvák közötti emberbaráti tevékenységéért” 1979-ben Nobel-békedíjban részesült. Előtte még sohasem kapott apáca Nobel-díjat. Kérte, hogy a hagyományos díszvacsoráról mondjanak le, a hétezer dollárt hadd fordítsa szegényeire. VI. Pál pápa, hogy megkönnyítse Teréz anya közlekedését, drága Lincoln gépkocsiját neki ajándékozta. Természetesen ezt is értékesítette, élelmet vett belőle.

Számos kitüntetésben részesült, India messzemenő tiszteletét legmagasabb érdemrendjével fejezte ki. A XXIII. János pápáról elnevezett díjat először adták nőnek, Teréz anyának 1971-ben. Megkapta a Kennedy Alapítvány kitüntetését, Pertini olasz köztársasági elnök nyújtotta át neki a Balzan-díjat és sorolhatnánk tovább.

Hódolat és bírálat

India lakosságának csak három százaléka katolikus. Teréz anya nem nézte, ki milyen vallású, a rászoruló emberre tekintett, és segített. A társadalom kasztokra osztása több évezredes maradvány. A kasztrendszert eltörölték, de a gyakorlatban nehéz felszámolni. Gandhihoz hasonló nézeteket vallott.

Kemény bírálatok is érték. Mereven elutasította az abortuszt, csak a természetes családtervezést tanította a szegényeknek: „gyöngyfüzért adunk az asszonyoknak, amelyen kiszámíthatják ciklusuk napjait.” Tette ezt Indiában, ahol ötven évvel ezelőtt, a függetlenné váláskor 360 millió lakos volt és most vészesen közelít az egymilliárd felé. Távol tartotta magát a világ bajaitól, nem lépett fel okainak megszüntetéséért, bár közelről látta a nyomort, az igazságtalanságot. Szeretetek törődést, menedéket, gyógyírt, „felszíni kezelést” nyújtott védenceinek. Rosszallták, hogy adományokat bárkitől elfogadott, még a gyűlölt haiti diktátortól, Duvalier-től is. A haldoklóknak nem adott fájdalomcsillapítót, mert bár élete átívelt a XX. századon, ő mégis mintha a régi idők eszményképeit idealizálta volna. „Csak” segíteni akart, tette ezt tiszta szívvel, rendíthetetlen hittel, kitűnően.

Ma több mint százhúsz országban 4500 áldozatkész apáca követi Teréz anya útmutatását, 569 központban nyújtanak segítséget a „szegények közt a legszegényebbeknek”. E sorok írója az etiópiai éhínség idején, UNICEF Nemzetközi Küldöttség tagjaként találkozott Teréz anya lányaival. Iszonyatos körülmények között, éjt nappallá téve próbálták kiragadni a halálból a még megmenthető gyerekeket. Pontosan tudták, vészhelyzetben mit kell tenniük, kicsik és nagyok felnéztek rájuk, nemcsak tejet és tápszert kaptak, hanem biztatást, bátorítást is. Elmentek a nővérek Csernobilbe, a radioaktív sugárzás áldozatait ápolni. Az örmény földrengéskor a hajléktalanná váltak segítségére siettek. Magyarországon 1989-ben telepedtek meg Teréz anya nővérei.

Anyai szeretet

Óriás volt a törékeny, töpörödött, barázdált arcú, idős rendfőnöknő. Nem le-, felnéztek rá, csodálták heroizmusát. Legyőzhetetlennek tűnt. Még a betegségek, a tuberkulózis, a tüdőgyulladás, a maláriás rohamok, a csonttörések is csak időlegesen döntötték le lábáról. Lelki ereje legyőzte fizikai gyengeségét. 1983-ban kapta első szívrohamát, 1989-ben a másodikat, csaknem végzeteset. Szívritmus-szabályozóval élt tovább. 1990-ben még nem fogadták el lemondását, 1997 tavaszán súlyosan megrendült egészségi állapota miatt, érműtéte után már kénytelenek voltak.

„Én nem vagyok Teréz anya, Nirmala nővér vagyok. Kérem, ne hívjanak engem anyának” – mondta megválasztása után hatvannégy éves utódja, aki a rend első önkéntesei közé tartozott. Teréz anya jogi egyetemre küldte, ő lett a misszió jogtanácsosa. Ő ápolta Teréz anyát, ő volt a kísérője, szellemi gyermekének tekintik.

Teréz anya… Millióknak nyújtott meleg, anyai szeretetet. A legszegényebbeknek! Szolgálata lejárt… Példája él és hat. Életműve az emberiség öröksége. 

Szilágyi Éva

Saturday, July 16, 2022

Một thiên tài đa tài

RICHARD FEYNMAN…

copy từ FB-Quốc Khánh 

---------------------------------------

GIUN ĐŨA

Richard Feynman (1918~1988) là một nhà vật lý lỗi lạc, người Mỹ gốc Do Thái. Bố mẹ ông di cư từ Nga và Ba Lan sang Mỹ. Mẹ làm nội trợ, bố bán hàng rong. Ông từng tham gia nhóm làm bom nguyên tử cho chính phủ Mỹ. Được tặng Giải Nobel Vật lý năm 1965. Một thiên tài rất đa tài. Đọc các bài giảng vật lý của ông như đọc thơ, ai thích triết học và khoa học tự nhiên nên đọc. Ngoài vật lý học, Feynman am hiểu nhiều môn từ âm nhạc, hội hoạ, sinh học đến yoga.

Cái ti-vi màu bạn xem hàng ngày được chế tạo trên các nghiên cứu của ông về mắt người đấy.

Giun đũa thì liên quan gì?

Cô thư ký của Feynman mắc chứng viêm mũi dị ứng. Vào mùa hoa cô suốt ngày sụt sịt, mặt sưng húp, nước mắt, nước mũi đầm đìa, không thể làm việc gì. Chữa tỷ cách không khỏi.

(Tôi cũng bị bệnh này, chữa đủ cách, đi vài chục bệnh viện mà không khỏi.)

Feynman thương người giúp việc của mình, bỏ công nghiên cứu bệnh này.

Ông phát hiện ra rằng trước năm 1945 bệnh này rất hiếm. Sau 1945 thì số người bị bệnh tăng dần, chủ yếu là người giàu, ở thành phố và các nước phát triển. Người nghèo, vùng nông thôn, nước nghèo không bị bệnh này.

Ông loay hoay tìm lý do và phát hiện vùng nào tỷ lệ người mắc giun đũa cao thì có tỷ lệ người mắc viêm mũi dị ứng thấp và ngược lại.

Vì sao Feynman tìm thấy mối liên hệ này thì trời biết. Thế mới tài. Ty tỷ người bị trái cây, thậm chí gạch đá rơi vào đầu nhưng chỉ có Newton nghĩ ra định luật vạn vật hấp dẫn. Bạn đừng dại dột thả mít vào đầu chồng mình, chẳng ra nổi định luật nào đâu. Cũng đừng cởi đồ chạy rông ngoài phố hét "Eureka," bởi làm thế không thể phát minh được cái gì ngang tầm định luật Archimedes.

Feynman đặt giả thuyết rằng sự tồn tại của giun đũa trong cơ thể người sẽ tạo nên một sự cân bằng nào đấy và giúp cơ thể không bị dị ứng.

Suy cho cùng, loài giun đũa vô hại. Bình thường nó nằm trong dạ dày và ruột, xơi thức ăn của người. Nghèo đói thì thành vấn đề. Giàu như dân Mỹ, toàn người thừa cân thì không sao, tốt là khác.

Giun đũa chỉ nguy hiểm khi cơ thể chủ đói, giun đói theo, bò lung tung tìm thức ăn khiến người có giun nôn nao, và nếu giun chui vào ống mật thì phải cấp cứu.

Nếu người có giun lúc nào cũng ăn đủ no thì ô-kê.

Vấn đề còn lại là tính toán lượng giun ký sinh cho phù hợp.

Giun đũa rất đặc biệt. Trứng giun theo đường thức ăn vào bụng người nở ra giun. Giun đẻ trứng trong bụng người nhưng lứa trứng này không thể nở luôn thành giun ngay, chúng phải ra ngoài theo đường tiêu hoá rồi quay trở lại bụng người theo đường ăn uống thì mới nở tiếp thành giun được.

Không cần uống thuốc, chỉ cần ăn uống sạch sẽ, giun trong người sẽ tự chết đi, không có trứng giun bổ sung để nở thành giun mới thì cơ thể sẽ tự hết giun. Việc tẩy giun là vô nghĩa.

Điều này giúp cho việc kiểm tra số lượng giun trong cơ thể trở nên dễ dàng, bằng phương pháp chụp X quang.

Feynman lập tức tính ra số giun cần thiết cho cô thư ký và kiếm ngay mớ trứng giun đũa cho cô uống, dặn cô phải thường xuyên ăn no và hàng tuần soi chiếu X quang. Khi hết giun (vì vệ sinh thực phẩm ở Mỹ rất tốt) lại làm lọ trứng nữa, như uống thực phẩm chức năng.

Quả nhiên cô thư ký khỏi hoàn toàn bệnh viêm mũi dị ứng. Một hiệu ứng phụ tuyệt vời là cô giảm cân từ 95 ki-lô xuống còn 65. Cô lập tức tăng số trứng giun phải uống lên để được ăn uống thoải mái mà không tăng cân.

Giun thần chứ không phải giun đũa nữa.

Chữa khỏi cho cô thư ký chứng viêm mũi dị ứng, Feynman tặng luôn người trợ tá của mình bản quyền liệu pháp y khoa này. Tuy nhiên, ngay sau đó cô thư ký đi lấy chồng, việc hoàn thiện đề tài để đăng ký bản quyền với DEA đã bị gác bỏ.

Phí của.

.oOo.

Lời chú:

Nhiều sinh viên Việt Nam khi còn ở trong nước thì không bị viêm mũi dị ứng. Chỉ khi sang châu Âu học, sau khi tẩy hết giun thì mới bị viêm mũi dị ứng. Tôi đã bị đúng như vậy.

~~~~~~

Richard Feynman đang giảng bài. Ảnh lấy từ Internet

Nguyen Van Bao

17-Jul-2017

Sunday, July 10, 2022

Vĩnh biệt một con người đáng kính!

TÔI ĐAU BUỒN VÌ SỰ RA ĐI CỦA MỘT NHÂN CÁCH LỚN!

Ông là nguyên thủ quốc gia 

Nghỉ hưu ông cũng chỉ là thường dân 

Tự lo chăm sóc bản thân 

Không có Nhà đẹp - Chẳng cần xe sang.

Ông ấy chính là cựu thủ tướng Nhật bản Shinzo Abe .

Sau khi xin từ chức vì lý do sức khỏe ông đã về quê sống một cuộc đời lặng lẽ bình dị như bao người dân quê ông.

Ông tuyệt đối không đi thăm viếng khai trương ở bất cứ nơi nào. Không vỗ ngực phơi mặt khoe khoang mình là lãnh đạo tiền bối như ở xứ ta.

Luật pháp của cái xứ tư bản giãy chết này đã về hưu là bình đẳng.

Không cấp nhà cấp xe, không thư ký, không cần vệ sỹ hoặc ban bảo vệ sức khỏe, không tham nhũng hay gây thù chuốc oán mà chỉ sống cống hiến và hưởng thụ bằng đồng lương chân chính.

Cuộc đời của ông ấy bình dân giản dị và lương thiện đáng trân trọng sau cả cuộc đời cống hiến vì nước vì dân không mệt mỏi.

Tự đáy lòng tôi là người dân Việt Nam chân chính rất ngưỡng mộ kính trọng ông.

Ông Shinzo Abe sinh 21/9/1954 trong một gia đình có truyền thống kinh tế và chính trị lớn ở Nhật Bản.

Nay ông ra đi về cõi vĩnh hằng để lại bao thương tiếc quí mến ông qua những hình ảnh khác ghi dấu ấn không phai.

Làm điều gì tốt cho thế giới thập ác này đều rất khó nhưng làm những việc xấu thì có khi chẳng ai động đến! Làm lãnh đạo cũng vậy. Nếu dẫn dắt con người đi theo đường chính đạo, chống lại cái xấu ác thì sẽ gặp nguy hiểm. 

Nhưng có câu: Hổ chết để lại da, người chết để lại tiếng.

Thế giới này không phải là khu vườn lạc thú cho tà ác tung hoành. Chỉ là để thức tỉnh con người, phân rõ chính - tà, thiện - ác, lựa chọn tương lai mà thôi!

Nguyễn Học

Sunday, June 26, 2022

HLV đội tuyển bóng đá nữ: Bác Chung gái

 "Bố Chung gái

Bức ảnh này đang viral dã cmn ngan sau khi các cô gái trà đá của chúng mình húp soạt lẩu thái để vô địch SEA Games. 

Có thể bạn đã biết HLV Mai Đức Chung có nickname là Chung gái. Nguyên do bố ông đã huấn luyện bóng đá gái từ năm 1997.

Trong 25 năm qua, bố chưa từng gọi riêng bất cứ nữ cầu thủ nào vào phòng làm việc.

25 năm qua, bố được xu tiền thưởng nào là ase..nôn hết cho cô Uyển- Mai Thị Nóc đang túm áo (trong hình).

Có lần, bố Chung gái kể: Phòng sinh hoạt của bọn nó ở CLB nằm dưới gầm cầu thang sân vận động. Có bữa nắng nhiệt độ lên tới 40oC, cả đêm chúng nó ko sao ngủ được. 

Có lần bố bào một ngôi sao như Quang Hải, tiền lót tay 10 -15 tỉ/ năm, số tiền “đủ nuôi nguyên một đội nữ mấy chục con người”., chưa nói đến lương vài chục triệu/ tháng, chưa nói đến thưởng.

Trong khi thì các cô gái trà đá cuối tháng trừ hết mọi khoản xong, mỗi đứa chỉ còn 1,9 triệu.

1,9 củ, chưa bằng bữa nhậu- nhưng “chỉ giữ lại tầm 400k cho mọi khoản xà phòng, kem chống nắng, kem dưỡng da, và cả…băng vệ sinh.

Bố Chung bảo “chúng nó” tháng chưa tới 2 củ thì “lót tay” hay danh vọng-vietsub- cái cmj.

Bố Chung, được xu thưởng nào trừ thuế thu nhập đồng đó, trong khi vẫn có niềm vui “khao” các nữ tuyển thủ khi họ nuốt hết giáo án. 

Mỗi bữa bố Chung khao hết 500k, bữa nào “đỡ đỡ hơn” thì 450k.

Ối chao ơi 450-500k cho một bữa khao 28-30 cô gái, một bữa khao “chúng mày uống gì thì uống”!

Dường như không ngẫu nhiên các nữ tuyển thủ được gọi một cách yêu thương là các cô gái trà đá. 

Có đứa con nào mà yêu thương người cha grab, thợ hàn.. bằng cách vung tay toé loe đòi trà sữa, lẩu thái ko hở giời"

-Nhà báo Đào Tuấn chia sẻ-

--------------------

Khi đọc những dòng chia sẻ trên tôi thực sự đã rưng rưng nước mắt, những khó khăn vất vả của đội tuyển nữ và HLV Mai Đức Chung từng ấy năm trải qua, nếu không có thành công như ngày hôm nay thì những khó khăn này đâu ai biết đến. Cảm ơn HLV Mai Đức Chung và những cô gái kiên cường mạnh mẽ, đã không quản ngại những khó khăn vất vả đó vẫn yêu nghề, kính nghiệp, gắn bó không rời suốt bao nhiêu năm qua.

Không có thành công nào trải đầy cánh hoa hồng, kiên trì và bền bỉ đội tuyển nữ của chúng ta đã xuất sắc và cực kỳ xứng đáng với những thành công vang dội năm châu bốn biển.

Quá xuất sắc, quá xuất sắc rồi các chị ơi ❤

#rabbit #IPC

Thursday, February 4, 2021

Nhận xét về ông Lý Quang Diệu

Nhiều người có chung đánh giá: ông là người tinh anh/thông thái mang tầm vóc toàn cầu với hiểu biết sâu rộng và phân tích sắc sảo.

Chẳng hạn về một quốc gia đặc biệt như Thổ Nhĩ Kỳ:

"Thổ Nhĩ Kỳ không thực sự là một phần của thế giới Ả Rập. Họ là người Thổ, là con cháu dòng dõi Ottoman tự coi mình là những người chinh phục người Ả Rập. Họ phát triển đất nước tốt hơn những nước khác chỉ vì họ là những người được giáo dục cao hơn."

Trích One Man's View Of The World

Tuesday, May 26, 2020

Người anh hùng mang danh Hùm Xám Đường Số 4


Bác Đặng Văn Việt tham gia cách mạng từ năm 1943. Năm 1945 bác đã là Giám đốc Trường quân chính Trung Bộ. Về giai đoạn này, tác giả Nguyễn Thế Nghiệp ghi lại theo lời bác kể như sau: "Sau khi đỗ tú tài Việt ra Hà Nội học Đại học Y khoa và tham gia Tổng hội Sinh viên cứu quốc rồi trở thành thành viên bí mật của Việt Minh. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Việt tham gia tổ Hướng đạo đi thu gom xác người chết đói để đưa đi chôn, mỗi hố cả trăm xác người. Rời Hà Nội, Việt trở về Huế tham gia Trường Thanh niên tiền tuyến của luật sư Phan Anh và giáo sư Tạ Quang Bửu. Việt bắt đầu hoạt động trong tổ Việt Minh dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Anh. Sáng ngày 20.8.1945, Việt trực tiếp đảm nhiệm việc cắm lá cở đỏ sao vàng rộng 100 m2 trên cột cờ Huế trước sự hân hoan của đông đảo của đông đảo nhân dân kinh đô Huế. Hai hôm sau, ngày 23.8.1945, hàng chục vạn người ủng hộ Việt Minh đã nổi dậy giành chính quyền tại Huế. Việt cùng 42 Thanh niên tiền tuyến khác trở thành lực lượng vũ trang nòng cốt của Cách mạng Tháng Tám tại Huế. Họ làm nhiệm vụ giải giáp các lực lượng vũ trang của đối phương, bảo vệ cuộc mít tinh lớn ra mắt Chính quyền cách mạng, niêm phong các kho của triều đình Huế, tịch thu các kho vũ khí của Pháp và của Nhật, mở cửa nhà tù để giải phóng tù chính trị...
    Ngày 1.9.1945, Thanh niên tiền tuyến Huế được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ sau 15 ngày đã thành lập xong 25 phân đội Giải phóng quân. Ngay sau đó, các phân đội được phân đi để chi viện cho các mặt trận, từ Sài Gòn-Gia Định đến Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Pleiku, Thuận An, Lăng Cô, Truồi và sang cả đường số 9 để chi viện cho Mặt trận Lào yêu nước.
   Sau chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947, ở tuổi 27, Việt được điều từ trường Võ bị Trần Quốc Tuấn về làm Trưởng phòng Tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu. Ít lâu sau, trực tiếp tham gia chiến đấu và trở thành Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 đến năm 1949 và tiếp theo là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 đến tận năm 1953. Ít ai nhớ rằng Trung đoàn 174 và Trung đoàn 209 (Trung đoàn trưởng là Lê Trọng Tấn) là 2 trung đoàn chủ lực đầu tiên của nước ta (!). Chiến công lừng lẫy của Đặng Văn Việt là giai đoạn là Chỉ huy Mặt trận đường số 4 (1947-1950). Trung đoàn 174 do anh chỉ huy đã 2 lần được tuyên dương Anh hùng, 2 tiểu đoàn cũng được tuyên dương Anh hùng, 10 cán bộ, chiến sĩ được phong Anh hùng, nhiều cán bộ được phong quân hàm cấp Tướng (1 Thượng tướng, 6 Trung tướng, 12 Thiếu tướng, 100 Đại tá). Vậy mà người Trung đoàn trưởng đầu tiên Đặng Văn Việt chỉ được giữ mãi đến cuối đời quân hàm Trung tá (!).

(Lược ghi từ bài Người anh hùng chưa được vinh danh của Nguyễn Lân Dũng, KTNN No.962)

Thursday, June 21, 2018

CHÂN LÝ CỦA TÔI

Đây là cuốn tự truyện của bà Indira Gandhi, một người phụ nữ mà tôi rất kính trọng. Bà là một trong những người Ấn Độ, như ông nội, cha mẹ và nhiều nhân vật tiêu biểu khác, đã tranh đấu liên tục vì nền độc lập của đất nước và tự do, hạnh phúc của nhân dân Ấn Độ.


Nối tiếp sự nghiệp của cha mình, với vai trò là Thủ tướng Ấn Độ từ năm 1966 đến 1977, và từ năm 1980 đến 1984, Indira Gandhi đã góp phần đưa nước Ấn Độ nghèo nàn, lạc hậu, cực kỳ phức tạp về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa trở thành một quốc gia phồn vinh, hùng mạnh và thống nhất, có vị trí quan trọng trên thế giới...

"CHÂN LÝ CỦA TÔI được viết với sự cộng tác của một nhà sử học, ông Emmanuen Pusơpađatx, ghi lại một số nét khái quát về cuộc đời và quá trình hoạt động của bà Indira Gandhi từ năm 1917 đến năm 1977, là năm bà tạm rời chức Thủ tướng do việc đảng Quốc Đại của bà thất bại trong cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội."[1]

Ông Emmanuen Pusơpađatx đã đề nghị được ghi lại cuốn tự truyện và đã được bà Gandhi nhận lời. Ông nói: đây là một điều ngoại lệ kỳ lạ đối với một người đã đạt đến một địa vị như bà. Vì hơn ai hết, bà Gandhi biết rằng: điều này bắt nguồn từ nhận thức riêng biệt và nhận thức đó, không ai có thể bày tỏ rõ hơn bà về cuộc sống và những lựa chọn, vì thế, những điều này chân thực hơn những gì mà báo chí và các phương tiện truyền thông thường mô tả về các nhân vật đã đạt tới đỉnh tột cùng của quyền lực.

Cuốn sách đã được thực hiện suốt những trang sách với những lời nói của bà Indira Gandhi. Các câu hỏi chỉ được đặt ra khi cần phải ghi nhận hoặc gợi mở sự suy nghĩ, khi cần làm rõ những mối quan hệ liên quan đến từng thời kỳ và các sự kiện. Và cuối cùng, để đảm bảo tính nhất quán của một bản tường thuật bằng những nét chấm phá, về nguồn gốc gia đình, môi trường sống, sự đào tạo, những ước mơ của thời thơ ấu, của tuổi niên thiếu, và của tuổi trẻ; những ý đồ, những hoạt động, những thành công và thất bại, và những phản ứng của bà cũng như thái độ của bà trước thời cuộc.

Vì thế, CHÂN LÝ CỦA TÔI vừa là một cuốn sách ghi lại một cách tổng quát, vừa là những gì kết tinh, tinh hoa thuộc về phẩm chất và nhân phẩm của một người phụ nữ có vai trò lớn lao đối với lịch sử của đất nước Ấn Độ như bà Indira Gandhi, người mà tất cả những dòng chữ trong một cuốn sách nhỏ này là hoàn toàn chưa đủ với những gì bà đã làm.

[1]: trích từ phần Cùng bạn đọc (NXB Phụ Nữ)