Showing posts with label NAV. Show all posts
Showing posts with label NAV. Show all posts

Sunday, July 12, 2026

Logic và bản chất của tri thức,

  1. Logic là quy tắc suy luận được những người suy nghĩ đồng thuận cùng chấp nhận chọn làm tiêu chuẩn cho suy luận. Logic được hệ thống hóa lần đầu cách đây khoảng 2400 năm và trở nên mạnh mẽ làm cơ sở cho tư duy khoa học và đặc biệt là toán học. Ngày nay hệ thống logic này vẫn là cơ sở của máy tính, AI và đang ngày càng tràn ngập trong đời sống của chúng ta, những sinh vật có ý thức và tri thức. Loại logic này là logic mệnh đề. 

    2. Đến thế kỷ 19, G.Frege mở rộng logic với logic vị từ cho những quy tắc cơ bản của diễn dịch và quy nạp trong việc sử dụng các câu có lượng từ "với mọi" và "tồn tại". Tuy logic lượng từ không có gì mới lạ và hiển nhiên như "thiên kinh địa nghĩa" nhưng hầu hết các sai lầm trầm trọng của chúng ta đều đến từ lỗi logic vị từ. Khi chúng ta, đặc biệt khi có tí quyền, suy diễn và giải thích luật, chụp mũ chính trị, phân biệt chủng tộc, chúng ta đều sử dụng lỗi vị từ, tổng quát hóa vô lối, cảm tính và sử dụng cảm xúc thay thế lý trí. 

Cho đến đây thì những gì tôi vừa nói không có gì mới lạ, ai cũng có thể nói. 

     3. Điều đáng nói là người Á Đông không sử dụng logic mà họ sử dụng một lối diễn ngôn, mang màu sắc ngụy biện từ góc độ logic, từ quan sát và trực giác áp đặt chân lý.  Vì thế vào thế kỷ 17-18 khi khoa học phương Tây tràn vào Trung Quốc và tỏ ra sức mạnh của nó, trước hết là việc Thang Nhược Vọng sử dụng khoa học thiên văn để cải tiến nông lịch Trung Quốc, thì người Trung Quốc tâm phục khẩu phục coi đó là một bí kíp gọi là "la tập kinh". Đó là phiên âm chữ logic, người Trung Quốc phiên âm đọc khá giống "lâu chịch", sang Hán Việt mới khác hẳn thành "la tập".  Người Việt thì đáng buồn là tới thế kỷ vẫn khinh rẻ khoa học phương Tây dựa trên logic đến nỗi phủ nhận bóng đèn mọc ngược và xe không ngựa kéo do ám ảnh khiếp sợ "âm dương ngũ hành" học mãi không hiểu bản chất. Điều đó trong giới sĩ phu ngày nay vẫn còn khá phổ biến.

    4. Bây giờ chúng ta đặt một câu hỏi thực chất hơn bắt đầu từ nhận xét sau: nếu phép suy diễn là việc từ một chân lý (giả định) tổng quát hơn để đi đến một kết luận đặc thù ít tổng quát hơn, kiểu "mọi người đều chết, Socrates là người, nên Socrates chết". Nghĩa là phép suy diễn không cho ta tri thức mới. Chúng ta đã biết mệnh đề tổng quát rồi thì suy diễn chỉ cho ta một bộ phận của thông tin đã biết. Như vậy, việc suy diễn, chứng minh chỉ để thuyết phục người khác chứ không phải là cách sản xuất tri thức mới.  Cố nhiên trong những tình huống phức tạp thì phép suy diễn không hiển nhiên, do bộ não của chúng ta không có thuật toán phân tích tốt. Nhưng trong tương lai, một thế hệ AI đủ mạnh sẽ có khả năng xử lý các suy diễn phức tạp.  Tuy nhiên, nhưng nếu vậy thì vì sao toán học và khoa học sử dụng tư duy logic lại mạnh mẽ, dẫn chúng ta đến tri thức mới. Đó là câu hỏi không hề tầm thường tôi đặt cho lớp học sinh tinh hoa VIENOVA trong bài giảng gần đây nhất. 

     5. Từ đó chúng ta có thể đặt tiếp câu hỏi: tri thức mới sẽ sinh ra trong nghiên cứu khoa học công nghệ ở thao tác nào, nếu không từ suy diễn logic. Và nếu suy diễn không tạo ra tri thức mới vai trò của logic trong việc tìm ra tri thức mới là gì và vì sao logic lại mạnh mẽ đến mức ở thế kỷ 17-19 người Tàu khiếp sợ, người Việt dửng dưng như vậy?

      6. Trước hết, quyết định của chúng ta, coi như kết quả của "tư duy" dựa trên 2 yếu tố: "cảm tính" và "lý tính". Lý tính lựa trên lập luận bằng logic "tôi quyết A với do B đúng, B đúng bởi vì X và/hoặc Y đúng".  Còn "cảm tính" dựa trên cảm xúc và trực giác "Tôi quyết C vì tôi cho rằng Z, thích U và/hoặc ghét V". Chúng ta là một loài sinh vật thượng đẳng khác biệt bởi vì có lý tính ở mức cao. Mọi thú có vú đều có chút lý tính, tuy ở trình độ thấp hơn chúng ta do chúng không có ngôn ngữ logic và không biết cười (Tôi nói "do" là hơi liều, nhưng rõ ràng người khác vật ở lập luận và cười, còn chó cũng biết khóc và sủa). Dù vậy, thật bất ngờ, chưa tới 20% quyết định của con người đến từ lý tính, phần còn lại là do cảm tính.  Bạn hỏi tôi lấy đâu ra con số đó? Có nghiên cứu hẳn hoi, nhưng đơn giản nhất là thống kê từ Tây Du Ký, Đường Tăng nghe Trư Bát Giới (cảm tính) bao nhiêu lần so với nghe Tôn Ngộ Không (lý tính). Mà đó là cụ Trần Huyền Trang đạo cao đức trọng chứ không phải người trần mắt thịt như ta. Con số 81 kiếp nạn cũng đủ là thống kê số lớn.

      7. Và đương nhiên quyết bằng cảm tính thì sai rất nhiều, mặc dù cũng có khi đúng với xác suất không cao. Những người bán hàng hẳn biết người mua hàng ít khi quyết mua (đặc biệt là mua sắm công) dựa  trên các yếu tố như hàng tốt, giá rẻ, dịch vụ thuận tiện. Họ mua dựa trên cảm xúc một phần (nhân viên bán hàng đẹp đẽ, nói hay) phần còn lại là chính họ cũng không biết tại sao. Ta suy đoán nó là từ "trực giác" tức là không từ quan sát, cảm xúc, lý trí, niềm tin có lẽ là "trí huệ bát nhã ba la mật đa" (tôi nói đùa chút cho đỡ căng thẳng) hay cái gì đó tương tự. Cảm tính sai do áp dụng ngụy biện ngược với logic, đặc biệt là logic vị từ, tổng quát hóa vô nguyên tắc. Kiểu như vua Sở nói chuyện với Án Anh khi bắt được mấy người Tề ăn trộm ở Sở "người Tề hay ăn trộm lắm nhỉ", Án Anh trả lời cũng bằng logic ngụy biện đó "người Tề ở Tề không thấy ăn trộm, hay vì sang nước Sở mới học thói ăn trộm chăng".

      8. Như vậy logic có chức năng lọc các ảo giác sai lầm của cảm tính. Nếu chỉ có vai trò bộ lọc thì logic chắc không thể mạnh mẽ như chúng ta đã thấy. Bởi vì nếu chúng ta công nhận một hệ tiên đề hình học và giải các bài toán, chứng minh mọi định lý có thể suy ra từ hệ tiên đề đó, thì không thể ra tri thức mới mà chỉ là "vận dụng tinh xảo" hệ tiên đề đó mà thôi và mọi thứ chúng ta tìm ra đều chỉ là chân lý cục bộ, trường hợp riêng của tập tri thức do hệ tiên đề đó đem lại. Tri thức mới chỉ xuất hiện khi chúng ta đặt giả thiết "nếu không phải vậy thì sao". Chúng ta có thể đặt ra giả thuyết đó từ hai cách: a. Phát hiện mâu thuẫn với "cảm giác"  b. "giả thuyết" hoàn toàn dựa trên "lý tính". 

     9. Kẽ hở bằng lỗ kim nhưng đủ cho con lạc đà chui qua là logic thuần túy không có đúng sai mà chỉ có "hợp lệ". Logic hợp lệ cho phép chúng ta xét tới các khả năng còn lại mà tri thức hiện tại chưa xét tới thậm chí mâu thuẫn với tri thức hiện tại. Cho dù bài toán thực tế có đơn giản đến mấy chúng ta cũng thường có một bài toán hình thức đơn giản hơn với vô số "giả thiết ẩn" (Nếu sai thì gọi là "ngộ nhận", nếu đúng thì gọi là "trực giác thiên tài". Đương nhiên đúng trường hợp này có thể sai trong trường hợp kia và ngược lại). 

   10. Như vậy tri thức gồm các "chân lý" diễn ngôn (Tôi không xét tới các tri thức không thể diễn ngôn như của nhà Phật. May thay, người Việt chúng ta có các từ khác như "trí huệ" mà người Tàu không thể phân biệt được với "trí tuệ") và thuộc về hai mảng. Mảng chúng ta suy diễn ra từ một số nguyên lý cơ bản và khi đó Toán học và logic là quyền năng tối thượng, cho đến khi AI có thể tạo ra các máy suy diễn tốt hơn, vét cạn mọi chân lý diễn ngôn cục bộ. Mảng còn lại chính là nhờ cảm giác và trực giác không ngừng nghi ngờ và mở rộng hệ tri thức đã có. Nói một cách khác cảm giác và trực giác tuy hay sai lầm nhưng đó mới là cội nguồn sáng tạo. Đó cũng là cái giá phải trả cho sáng tạo. Các nhà thiên tài có thể sai lầm lẩn thẩn, hiển nhiên, nhưng chúng ta vẫn phải quý trọng và cưng họ như trứng mỏng vì tài năng vốn mong manh. Ta vẫn cần và phải chịu đựng được họ.

    9. Cuối cùng tôi muốn nói thêm, chính vì sáng tạo và tài năng, chúng ta vẫn nên dành thời gian thích đáng cho văn học, nghệ thuật, tôn giáo, triết học là những nơi rèn giũa "trực giác" và ra thiên nhiên, gặp gỡ các cô gái xinh đẹp là nơi rèn giũa "cảm giác".

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Wednesday, April 15, 2026

Khảo cứu: Nguồn gốc dân tộc (1)

 Nguồn gốc người Đông Á (1)

      1. Có rất nhiều người quan tâm đến vấn đề "nguồn gốc người Việt". Bản thân tôi cũng đã từng là một trong số đó. Tôi nghĩ đó là một câu hỏi tự nhiên đối với những người yêu lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, sau này tôi không còn đặt vấn đề đó ra nữa, mặc dù câu hỏi này vẫn còn ám ảnh tôi. Có lẽ do cách đặt vấn đề của nhiều người dựa trên các khái niệm sai làm tôi không muốn tham gia vào một cuộc đối thoại khi những người nói sử dụng các khái niệm khác nhau. 

     2. Dần dần tôi nhận ra, vấn đề còn đơn giản hơn nhiều. Thế nào là "người Việt"? Chúng ta đang nói về người Việt hiện đại, hay nói về người Việt cổ (có thể họ chẳng có tí dính dáng huyết thống nào với chúng ta, mà chỉ sống trên mảnh đất mà chúng ta đang sống).

Người Việt tiền sử, huyền sử, lịch sử ở các thời và người Việt hiện đại có thể hoàn toàn khác nhau. Nguồn gốc cũng là một khái niệm mờ, thường mặc định là duy nhất. Thực ra có thể có tới hàng tỷ sợi dây thiết lập giữa chúng ta với những người cổ đều có thể coi là nguồn gốc theo một cách nào đó.

    3. Chẳng hạn, một "sử gia" nghiệp dư (kiến thức rất đáng nể) khẳng định rằng Viêm Đế là tổ tiên của chúng ta, mà người Hán nhận xằng là tổ tiên họ. Nếu tính từ trận Bản Tuyền được cho là Hoàng Đế đánh bại Viêm Đế, đến nay là khoảng 6000 năm. Nếu tính trung bình 30 năm một thế hệ, sẽ có khoảng 200 thế hệ. Mỗi người trung bình có khoảng 2 hậu duệ, thì số hậu duệ về nguyên tắc có thể bao gồm cả người Hán và người Việt. Và ngược lại nếu chúng ta lấy bất cứ một anh lính nào trong trận Bản Tuyền, thì xác suất để nối được với chúng ta về huyết thống hẳn là không thấp. 

    4. Thực ra, người Việt với tư cách là một khái niệm lịch sử có lẽ không tới 1000 năm tuổi. Khái niệm con Hồng, cháu Lạc như Hùng Vương, Kinh Dương, Lạc Long đều là huyền sử (tức là sử tranh tối tranh sáng mà Herodotus đã từng nói là có thể không bao giờ rõ được). Vì vậy, sử học có phần là khoa học, và có phần là niềm tin. Và vì thế sử luôn luôn được viết lại, mang theo quan niệm đương thời về căn tính hay văn hóa của một dân tộc. 

    5. Nếu chúng ta muốn bàn về một cái gì đó khả thi hơn có dính dáng tới ước mơ ngây thơ "nguồn gốc người Việt", có lẽ nên bàn về "nguồn gốc người Đông Á", có lẽ sẽ làm chúng ta sáng tỏ phần nào tính xác định của ước mơ đó. 

    6. Hầu như những người đàn ông Đông Á chúng ta đều mang trong mình gene Y thuộc nhóm haplo O. Nếu nhìn bản đồ nhiệt của phân bố gene nhóm O, chúng ta sẽ thấy tâm nhiệt ở vùng Tây Nam Trung Quốc.  Điều đó gợi ý rằng chúng ta đi từ phía Tây lại bằng cách vượt qua dãy Himalaya. Tất nhiên tổ tiên của chúng ta không thể và cũng không ngu gì mà trèo qua đỉnh Everest để vào Tây Nam Trung Quốc. Họ sẽ đi đường vòng qua những điểm bằng phẳng ở Đông Bắc Ấn, Miến Điện là chỗ Himalaya kết thúc. Ở rìa phía bắc của bản đồ nhiệt O sẽ có những haplo group C tâm nhiệt ở Đông Bắc Trung Quốc, hay R có tâm nhiệt ở Tây Bắc. Điều kỳ lạ là nhóm D có 2 tâm nhiệt ở Tây Tạng và Nhật Bản. 

     7. Nhóm O tách ra làm 3 nhóm chính: O1, O2-M134 và O2-N5. Đa số người Đông Nam Á, Đông Á đều mang gene thuộc 3 nhóm này. Nhóm O1-M95 có tâm nhiệt cũng ở Tây Nam Trung Quốc, tập trung trong người Thái-Kadai. Người Việt hiện đại có tới 50-60% gene O1-M95. Tất nhiên, không thể nói một cách đơn giản tổ tiên chúng ta là người Thái, mà nên nói rằng chúng ta là họ hàng gần với người Thái. Chúng ta có một lượng tới 30-50% gene thuộc nhóm O2-134, nhiều hơn nhóm Thái-Kadai. Nhóm O2-M134 có tâm nhiệt ở Hoa Bắc, vùng Hoàng Hà. Đó có thể là kết quả của những cuộc di cư từ phương Bắc. Chúng ta có một phần nhỏ gene thuộc một nhóm haplo hiếm hơn là O1a, thường có ở dân bản địa Đài Loan, dân đa đảo phương Nam, người Champa, các dân tộc thiểu số như Gia Rai, Ê Đê. 

      8. Nhóm O2-N5 đương nhiên là gần với nhóm O2-M134 hơn, nhưng có tâm nhiệt ở phương Nam, vùng trung lưu Trường Giang, Hồ Nam, Quý Châu, Hồ Bắc, Giang Tây. Người Mèo (Hmong), người Dao của Việt Nam, người Miêu-Dao ở Trung Quốc mang nhiều nhóm này nhất. Đương nhiên, chúng ta cũng sẽ có một ít, như người Thái-Kadai, hoặc người Hán. 

    9. Câu hỏi đặt ra là các nhóm này tách ra khỏi nhóm O từ lúc nào? Nhóm O1 tách khỏi nhóm O khoảng 25.000-30.000 năm trước đây. Nhóm O2 có thể muộn hơn, khoảng 20.000 năm trước đây. Tất nhiên đó là thời tiền tiền sử, không thể nói về người Việt, Thái-Tráng, Miêu-Dao, Hán-Tạng, Đông Di, Tibet-Nhật Bản. Nhóm O1a và O1-M95 tách ra khỏi nhau có lẽ khá sớm. Chúng ta sẽ thấy người Đài Loan bản địa thuần chủng sẽ có tỷ lệ O1a rất cao, rất ít O1-M95 và rất ít O2. Mặt khác, so với các trung tâm có tỷ lệ O1a cao khác như Phillipnes, Polynesia, O1a ở Đài chia làm nhiều nhánh hơn, chứng tỏ Đài là tâm gốc, các trung tâm khác là trung tâm bùng nổ dân số do di cư. 

   10. Tiếp theo là người Chăm có O1a trung bình, một tỷ lệ đáng kể O1-M95 và O2-M134. Sau đó là người Ê Đê, Gia Rai có tỷ lệ O1a thấp hơn nữa, tỷ lệ O1-M95 khá cao, O2-M134 cũng cao hơn người Champa một chút. So với người Việt, người Ê Đê, GIa Rai có tỷ lệ O1a và O1-M134 cao hơn, và O2-M134 cao hơn.

  11. Đó là mới nói về gene của người hiện đại. Để phục dựng được lại những cột mốc lịch sử và những kịch bản, chúng ta cần phải có thêm một số giả thiết lấy từ huyền sử, văn hóa, ngôn ngữ,.... Chẳng hạn để trả lời các câu hỏi như O2 tách khỏi nhau khi nào và ở đâu, các dữ liệu nói trên không thể đủ. Khi dùng các giả thiết không hề chắc chắn này, chúng ta phải thống nhất là tính đúng đắn chỉ mang ý nghĩa xác suất.  Chúng ta sẽ bàn về chuyện đó trong một bài tiếp theo để phân định rõ cái gì nằm trong sự chắc chắn, cái gì là phỏng đoán dù có lý.

12. Có lẽ điều thú vị ở chỗ những gì chúng ta biết về thời kỳ xa hơn, thời tiền sử lại chắc chắn hơn những gì chúng ta biết vào thời kỳ muộn hơn, thời huyền sử. Có lẽ nghịch lý đó là vì kỳ vọng của chúng ta về thời huyền sử quá lớn và thường bị ảnh hưởng bởi quan điểm dân tộc chủ nghĩa hoặc các khái niệm sai ngay từ đầu như người này là "chúng ta", người kia là "chúng nó" là những thứ không hề tồn tại thời huyền sử.

(còn nữa)

Nguyễn Ái Việt

Sunday, October 5, 2025

Tầng lớp tinh hoa và dân tộc

 Không có tinh hoa thì ngộ nhận của dân tộc do đám đông thúc đẩy sẽ lên ngôi và ngược lại.

Ngộ nhận dân tộc và tinh hoa

    1. Ngày nay chúng ta thường mặc định là  ý chí của đa số là chân lý, ý chí của một người thường dẫn tới độc tài.  Điều đó nói chung là đúng trong xã hội văn minh như Âu Mỹ, tuy không phải không có ngoại lệ. 

     2. Ở các xã hội kém văn minh (hiện tại hoặc đã từng có trong lịch sử), điều đó trở nên tranh cãi. Một dân tộc có thể ngộ nhận và đồng lòng tự nguyện chọn khả năng sai lầm. Người ta thường cố giữ chân lý đầu bằng cách giải thích bằng cách giải thích rằng dân tộc đó không có tự do lựa chọn và bị áp đặt bởi độc tài. Tuy nhiên ở đây có một ranh giới mờ như Ceasar nói "Không có sư tử nếu như không có đàn cừu". Độc tài không phải bao giờ cũng bắt đầu bằng vũ lực, mà bắt đầu bằng sự tôn vinh của đám đông, khi có một cá thể gãi đúng chỗ ngứa ngộ nhận của xã hội, rồi dẫn đến sự lên đồng tập thể. 

      3. Tôi không tin ở sự quyết định dựa trên đám đông sẽ dẫn tới chân lý. Đám đông là một phép lấy trung bình. Phép trung bình chỉ có thể là phương án sáng suốt nhất trong một số hoàn cảnh ngoại lệ đặc thù. Tôi cho rằng xã hội cần có những bộ óc lóe sáng, với tư duy bừng sáng soi đường, như Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Copernicus, Bruno Giordano,... Hầu như luôn luôn họ đơn độc và thiểu số. Lão Tử viết xong Đạo Đức Kinh phải cưỡi lừa mà bỏ nhân thế mà đi. Stendhal viết Đỏ và Đen chỉ in được 300 cuốn, bán không hết. Hàn Phi viết Cô phẫn, xong thấy mình cô đơn cùng cực.  Lấy ý kiến đám đông những tư tưởng đi trước thời đại như vậy là một sự man rợ. Khổng Tử được tôn vinh vạn thế sư biểu, thiết kế ra các thiết chế cho hàng ngàn năm, khi sống cũng "chạy như chó nhà có tang".

     4.  Plato cũng đã từng theo đuổi ý tưởng xã hội phải được vận hành bởi các tinh hoa. Ở đâu đó chân lý nằm giữa dân chủ phổ thông đầu phiếu và dân chủ tinh hoa. Chính vì thế ở một nơi dân trí đủ văn minh cho việc bầu tổng thống trực tiếp như Mỹ, vẫn phải có hai viện, Hạ Viện theo nguyên tắc đầu phiếu phổ thông, có quyền đề xuất,  Thượng Viện theo nguyên tắc tinh hoa, có quyền phủ quyết.   

     5.  Một dân tộc có thể ngộ nhận vì nhiều nguyên do, nhưng nói chung là do thiếu một điều gì đó. Có thể thiếu tri thức, thiếu một căn tính hoặc thiếu một số thứ quan trọng khác. Việt Nam thời Tự Đức là trường hợp thiếu tri thức, lạc hậu với thế giới, nhưng không thể nói là thiếu căn tính. Căn tính của tộc Việt đã được hình thành trong một thời gian dài, thử thách qua nhiều cuộc chiến giữ nước, mất nước rồi cứu nước từ Trần, Lê, Tây Sơn,... Nước Đức thời Hitler đã là cái nôi của khoa học, triết học không thể nói là thiếu tri thức mà là thiếu căn tính. Chủ nghĩa dân tộc thái quá đều bắt nguồn từ mặc cảm thiếu căn tính. 

      6.  Khi cả một dân tộc ngộ nhận, sẽ là thời cơ của những người dân túy, hoặc những kẻ có máu độc tài biết nói giọng dân túy. Nói một cách khác dân tộc đó sẽ tôn vinh một kẻ đại diện cho sự ngộ nhận của mình, cho dù kẻ đó trong thâm tâm có chia sẽ ý thức ngộ nhận đó hay không. Tôi nghĩ Mao Trạch Đông, không phải không thấy được vấn đề của xã hội Trung Quốc như Lỗ Tấn đã chỉ ra, tất nhiên không thể sâu sắc bằng, nhưng ông ta được một bầy cừu tôn làm sư tử để phục vụ ý thức hệ và lý tưởng làm cừu của đám đông nông dân theo ông đến Tây An.  Độc tài có thể cũng là nhân vật rất cô đơn.

     7. Napoleon là một nhà độc tài trên cơ sở một tư tưởng cách mạng. Ông kiên quyết xuất khẩu tư tưởng chống trật tự phong kiến cũ ra toàn châu Âu. Tuy nhiên ông phải lên ngôi hoàng đế, trở thành một nhà độc tài, trái với lý tưởng ban đầu. Có thể nước Pháp lúc đó đã chán chường với sự bất ổn của cách mạng đem lại, cần một vị hoàng đế dù là miễn cưỡng. Cromwell có lẽ cũng gần như vậy, mặc dù ông không lên ngôi hoàng đế. Piotr Đại đế cũng đã phải trở thành độc tài, độc đoán với cả con trai, để cải cách nước Nga. Nếu không muốn độc tài các nhà độc tài này đã không thể ngồi đó, đơn giản vì xã hội đang cần sự độc tài. 

        8. Có những trường hợp may mắn hơn, nhà lãnh đạo không cần trở thành độc tài, nhưng cần sự quả cảm để quyết định sáng suốt nhưng đơn độc. Tổng thống Mỹ Kennedy cho rằng quả cảm, dám quyết định một mình là ưu điểm lớn nhất của nhà lãnh đạo. Tất nhiên, để quả cảm quyết định thành công, mà không phải trở thành độc tài, nhà lãnh đạo cần một môi trường văn minh và phù hợp. Nhưng thật không may, ngay cả tổng thống Kennedy và môi trường dân chủ tự do như Mỹ cũng dẫn tới kết thúc bi thảm của cá nhân ông. 

      9. Tôi thấy Chu Công, Jefferson thật là may mắn được sinh ra ở một thời kỳ có thể áp đặt những tư tưởng tinh hoa, thiểu số và đi trước thời đại để tạo là một thể chế lâu dài và rực rỡ. Trong khi đó Vương An Thạch, Calvin thất bại xót xa. Chẳng qua cũng chỉ là vì môi trường không phù hợp, đâu có phải vì do thiếu ủng hộ của đám đông. Cũng có thể nói đó cũng là kết quả của một sự ngộ nhận dân tộc. Có thể một môi trường tâm lý dân tộc bớt căng cứng sẽ ít có khả năng ngộ nhận hơn. Khi đó có thể chúng ta sẽ cần Bergsson, Molièrre hơn một Nietzche.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

27 Apr. 2022

Friday, September 12, 2025

Thông điệp KH

NAV: Xem lại thì status có trước NQ57 gần 3 năm, và các đề xuất đều đã thành sự thật. Không biết có phải nói liều may rủi mà trúng không.

-----------

Cơ chế phối hợp trong khoa học công nghệ,

      1. Trong bóng đá chúng ta hay nói "phong độ là nhất thời, đẳng cấp là mãi mãi". Trong phát triển KHCN, chúng ta có thể nói "tài chính là nhất thời, phối hợp là mãi mãi". 

      2. Chúng ta có tiền để làm KHCN không? Trước hết, không có cũng phải có, bởi chúng ta không còn cửa nào khác, tất cả các cơ hội lừng khừng về KHCN đều đã bị Covid cuốn trôi. Chúng ta thiếu tiền vì chúng ta vô cùng lãng phí. Chúng ta thiếu tiền vì chúng ta chưa nghĩ đến chuyện làm gì đã nghĩ đến tiền.

      3. Sắm một chiếc xe ô tô thiếu 4 bánh không thể chạy được sẽ là lãng phí. Không ai bảo đó là hành động tiết kiệm được đầu tư vào 4 bánh xe. Thực tế chúng ta đang làm chuyện đó, mọi nơi mọi chỗ. 

     4. Rất nhiều đầu tư thiết bị đắt tiền đang đắp chăn, không được khai thác chỉ vì không có phụ kiện thay thế, nhân viên kỹ thuật vận hành, tiền điện để chạy. Tôi đã tận mắt trông thấy các dây chuyền máy móc tự động đắp chăn nhiều năm do không có tài liệu sử dụng. 

     5. Có 3 cơ chế phối hợp chủ thể trước hết cần phải có ngay hành lang pháp lý bắt buộc:  

       - Phối hợp viện- trường - doanh nghiệp 

       - Phối hợp quân sự - dân sự 

       - Chia sẻ tài nguyên và nguồn lực 

      Nếu nói chính sách thì đều có cả. Nhưng thực tế chỉ ở mức khẩu hiệu. Quan trọng nhất là cơ chế và phải bắt buộc.  

    6.  Phối hợp chủ thể vẫn chưa đủ, phải có cơ chế phối hợp cho các dự án, chương trình. Tôi không tin ở các chương trình, chiến lược theo lĩnh vực như vật lý, toán học, hóa học, thậm chí AI, vi mạch. Ngày nay không có sản phẩm nào thuần túy của một ngành cả.  Nếu chúng ta xây dựng các sản phẩm bằng cách tích hợp các kết quả từ các đề tài, ngành riêng rẽ, chi phí, giá trị nỗ lực sẽ vượt quá việc mua chính sản phẩm đó. Các chương trình chiến lược, dự án phải đủ lớn và có mục tiêu cũng như danh mục sát với các bài toán kinh tế xã hội. Còn XYZ sẽ cung cấp giải pháp gì cho bài toán ABC thì phải do các nhà khoa học đề xuất và hậu kiểm.

    7. Vì thế chiến lược AI, chương trình vi mạch, không có nghĩa lý gì cả. AI, vi mạch bán cho ai, nhân lực ở đâu ra. Ngược lại, AI, vi mạch có giải quyết được bụi mịn ở Hà Nội, ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, năng suất lao động thấp, công nghiệp phụ trợ không hình thành được, vệ sinh thực phẩm, giải cứu nông phẩm,... hay không? Chắc chắn là có thể. Muốn vậy, phải có các chương trình lớn như 

        - KHCN  phát triển cộng đồng 

        - KHCN  dẫn đầu công nghiệp 

        - KHCN  an ninh quốc phòng 

    Đó là thông điệp tại buổi nói chuyện hôm qua cùng các anh Phạm Thế Long và Nguyễn Quân.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, September 2, 2025

Huy Phương – Con người nồng nhiệt

 NAV: Trong cuốn Tự kể, nói đến chuyện cha tôi thuộc lòng nhiều thơ, tôi viết: “Cha tôi mê thơ. Một lần nhắc đến Huế, ông đọc ngay bài thơ có khung cảnh Huế, rồi bảo tôi giở sổ ra nghe ông đọc tại chỗ mà chép lại: Thuở ấy miền Hương Ngự / Dịu dàng như một lá thư xanh / Một dòng sông xinh / Đôi bờ thông nhỏ / Có con đường ngát gió / Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh / Em tôi áo biếc hiền lành / Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài…”

Nhà thơ Huy Phương

Năm 1988, chú Huy Phương vào thư viện Hội Nhà văn, kể với chị Bích Hà rằng chú vừa đọc tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng và thích. Chị Hà nói, Thái là em cháu, chú bèn bảo chị Hà nhắn tôi đến gặp cho biết mặt và chuyện trò cho vui. Thế là tôi gặp chú lần đầu, cũng trong thư viện hội ở 65 Nguyễn Du. Tôi kể với chú rằng từ bé tôi đã được cha tôi đọc cho nghe bài Em tôi.

Chú Huy Phương cười có vẻ rất thú vị: Ồ, bài ấy của một thời rồi, chú viết cho cô em gái là Thanh Hương đấy mà. Cô Thanh Hương nhà văn, vợ nhà văn Vũ Tú Nam, cũng mãi về sau này tôi mới gặp. Nhân vật cô em gái “em tôi áo biếc hiền lành” khi tôi gặp đã là một bà ngoài bảy chục tuổi. Dịp ấy hội Nhà văn Hà Nội chúng tôi tổ chức trại sáng tác, cô Thanh Hương tham gia, tôi có ngồi cùng cô một chuyến xe từ Tam Đảo về Hà Nội. Và tôi lại nhắc với cô về việc cha tôi thuộc lòng bài Em tôi. Hình như bài thơ ấy chỉ in đâu đó có một lần thời kháng Pháp rồi thôi. Chất lãng mạn của nó, dù là lãng mạn cách mạng, cũng không được khích lệ trong thời chiến cũng như thời xây dựng sau này.

Đến năm 2014, trong Tuyển tập Huy Phương, NXB Văn Học, bài thơ Em tôi được in lại chính thức sau hàng thập kỷ chỉ được truyền miệng và lưu giữ trong trí nhớ của nhiều thế hệ. Tôi nhìn thấy bài thơ mà như gặp lại người quen cũ. Nhìn thấy bài thơ như gặp lại chú Huy Phương, dù chú đã ra đi từ năm 2009. Thơ Huy Phương từ thời kháng Pháp và những năm đầu hòa bình trên miền Bắc đã rất hiện đại, có khi là thơ bậc thang mới mẻ và khỏe khoắn. Vì nhiều lẽ, sau này Huy Phương ít làm thơ mà tập trung vào văn xuôi.

Tuyển tập Huy Phương tập hợp những tác phẩm quan trọng nhất của một tác giả. 36 bài thơ, 9 tiểu luận, 6 bài ký, 8 truyện ngắn, 3 truyện vừa và một tiểu thuyết là cuốn Xi măng. Huy Phương không phải là người viết nhiều, và khi tôi biết chú thì thấy chú viết không nhanh. Một truyện ngắn như Căn phòng lạnh giá hay Sa mạc, chú viết rất cẩn thận, tỉ mỉ, ngôn từ chính xác và tinh tế, không bao giờ là viết vội. Huy Phương còn kể với tôi về ý tưởng hình thành hai cái truyện ngắn ấy mà tôi cho là hay nhất trong các truyện ngắn của chú.

Ở đầu tuyển tập có bài Thế giới của Huy Phương, do con trai nhà văn là anh Nguyễn Ái Việt viết. Bài viết kể lại những giai thoại, những kỷ niệm xúc động của Huy Phương với bạn bè văn nghệ sĩ. Chẳng hạn chuyện Huy Phương và nhà thơ Trần Hữu Thung là bạn thân, thân đến mức khi về làm việc ở Hà Nội, hai người vẫn tiêu tiền chung. Nhuận bút tập thơ Gió Nam của Trần Hữu Thung được dành để mua sữa cho con trai Huy Phương. Còn nhuận bút tập Những ngôi sao đỏ của Huy Phương là để cho Trần Hữu Thung cưới vợ.

Bìa sách Huy Phương tuyển tập

Thời kỳ văn chương của Huy Phương sung sức nhất, sự nghiệp văn chương của ông có một mảng rất quan trọng là dịch văn chương. Giỏi ngoại ngữ, văn tiếng Việt của ông lại hay, Huy Phương đã cho ra những bản dịch khiến người đọc say mê một thời như Ông già và biển cả của Hemingway, Những con đường đói khát của Jorge Amado, Gieo mầm của Emile Zola. Sau này có thêm nhiều bản dịch khác, nhưng bản Ông già và biển cả do Huy Phương dịch đến bây giờ vẫn được coi là bản hay nhất.

Lần đầu chú Huy Phương nhắn tôi đến gặp để nói rằng chú thích cuốn tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, đúng vào lúc tôi đang chịu đôi chút vướng mắc ở cơ quan vì có một ông sếp khó chịu với cuốn này và muốn xử lý tác giả. Rất may đấy là khi bắt đầu công cuộc đổi mới nên người ta không còn dám tự tiện ra tay vùi dập. Rất may là tôi có những người ủng hộ nhiệt tình như chú Huy Phương, như chú Xuân Thiều, nhà văn Trần Thanh Giao, nhà thơ Vân Long, Vũ Đình Minh… Mọi người đã viết bài phân tích đánh giá cuốn sách trên các tờ báo sôi sục không khí đổi mới lúc bấy giờ. Chú Huy Phương và mọi người cũng ủng hộ nhiệt thành và bỏ phiếu thuận để cuốn sách được giải thưởng 1986-1990 của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng công đoàn Việt Nam. Huy Phương là người quyết liệt bảo vệ điều gì mà mình tin yêu.

Mấy năm sau, chú Huy Phương chuyển vào Sài Gòn. Tôi có việc vào Sài Gòn đều đến thăm chú. Lần đầu, gọi điện thoại trước để hỏi địa chỉ, vẫn nghe tiếng cười sảng khoái trên đường dây, chỉ vẽ tỉ mỉ đường đi vào trong ngõ. Chú còn ra tận đầu ngõ để đón. Tôi kể mới đây có dịp vào Cửa Lò ở Nghệ An, đến đấy thì nhớ đấy là quê chú, đầu óc cứ vẩn vơ ngày xưa anh thanh niên Huy Phương (sinh năm 1926) đã qua lại trên bãi biển này như thế nào. Đến Hội An lại nhớ Huy Phương kể đây là quê mẹ của chú. Gặp Huy Phương, vẫn là chuyện trò sôi nổi không dứt về văn chương về thế sự. Nhiều chuyện thế sự được Huy Phương chuyển hóa thành tiểu luận rất thấm thía. Một già một trẻ, một lão làng văn chương và một người mới bước vào làng văn, thế mà chú chuyện trò cứ như người ngang hàng và tỏ ra rất mực trân trọng. Điều đó khiến cho tôi mỗi lần sửa soạn đến thăm chú là một lần lại thấy thoải mái và hào hứng.

Hà Nội, 11.2.2015

HỒ ANH THÁI

Saturday, August 16, 2014

Dịch lại và bình về thuật bảy mươi hai kế của Quỷ Cốc Tiên Sinh

Tiện tay dịch Quỷ Cốc Tử, không phải vì mưu kế, mà muốn vạch ra
    1. Cách dịch và hiểu cẩn thận, không chạy theo thương mại, man rợ sơ khai.
    2.  Người Việt học chữ Hán cả bốn ngàn năm mà vẫn hiểu sai
    3.  Hiểu đúng Quỷ Cốc Tử, để gỡ những cái khó trước mắt trong đường đi của dân tộc

Xem ở đây

Sunday, August 10, 2014

Ebedli Zoltán và Torocsik András

Thời chúng tôi ở Hungari là thời cạnh tranh của Újpesti (Dózsa) và Fradi. Thỉnh thoảng có thêm mấy anh Vasas, Kispest (Honvéd), Vidi (Videoton) và Rába (ETO).

Chắc mạnh nhất vẫn là Újpest với giàn csatár Bene, Zámbó, Fazekas, kozéppályás Dunai,  hậu vệ có Tóth, Horváth, Harsányi. Sau thời này mới nổi lên csoda gyerek Torocsik András với những câu cổ vũ của cổ động viên "Táncolj, Toro!". Anh chàng này đi bóng rất hay.

Nhưng cũng vào thời đó, Újpest bắt đầu đi xuống, và Fradi bắt đầu nổi lên với Ebedli Zoltán và Nyilasi Tibor. Tôi không khoái xem Nyilasi chơi lắm. Nhưng Ebedli đá thì rất hay, thông minh. Ebedli và Torocsik là bạn thân. Một lần đi xem Újpest đá, Khánh chỉ cho tôi Ebedli cũng đi xem, mặc quần bò áo phông đi lẫn với khán giả.

Sau này Ebedli sang đá cho Újpest. Do đó, mặc dù có số trận đá cho Fradi nhiều số 3 trong câu lạc bộ, danh sách các cầu thủ đá cho Fradi không có tên Edbedli Zoltán

Vừa tìm thấy một bài viết về đôi bạn cầu thủ thần tượng một thời này. Mọi người đọc cho vui.

Đọc ở đây




Sunday, August 3, 2014

Dịch phải trung thành từng chữ

Một trong những tật xấu của dịch giả Việt Nam là hay dịch bịa, suy luận theo chủ quan, thêm bớt chữ nghĩa. Bốn ngàn năm học tiếng Tàu vẫn máy móc dịch "ngưu" là "trâu", "dương" là "dê", "mão" là "mèo". Rồi là tâng bốc nhau là sáng tạo, dịch thoát. Tôi đồng ý với quan điểm của Thái Bá Tân cho rằng khi một câu dịch sang tiếng Việt, thấy lạ tai, thì đó không phải là nguyên nhân để thay đổi, bóp méo, điều chỉnh.
   Tôi cho rằng chỉ nên điều chỉnh nếu như câu dịch có thể gây ra hiểu lầm. Còn nếu chỉ "lạ tai" thì càng tốt, để học hỏi thêm ý tưởng mới. Ý tưởng có mới thì mới lạ, có lạ thì mới phải dịch. Hôm nay dịch lại một câu của Quỷ Cốc Tử, thấy người Việt dịch ẩu, hèn gì bốn ngàn năm học bách gia chư tử Tàu, không sinh ra được một tác gia nào ra hồn. Mời các bạn đọc chơi cho vui. Đây là chữ Tàu, nhưng chữ Hung, Anh, Pháp gì cũng như thế.
Xem bài ở đây

Tuesday, July 22, 2014

Địa chính trị thế giới và tương lai của Việt Nam

Xin lỗi các bạn vì bận nhiều việc nên chưa có thời gian lo cho Hoàng Tử Bé. Phần nữa cũng đang phải hoàn thành bài viết đại cà sa này. Bạn nào quan tâm tới thời sự thì xem cho biết.

Đọc tại đây

Saturday, July 12, 2014

Hội chứng ký ức giả tạo của Trung Quốc

Đang bàn chuyện vui vẻ phải tạm gác để đi chống Tàu một cái. Tranh thủ vừa họp vừa dịch trong vòng hai tiếng đồng hồ cho kịp thời sự

HỘI CHỨNG KÝ ỨC GIẢ TẠO CỦA TRUNG QUỐC


Đọc thêm bài này cho bớt căng thẳng

Bình Tam Quốc tuần này

Monday, June 30, 2014

Vấp ngã dại khờ

Stumblin in đúng nghĩa là vấp ngã. Vấp ngã tiếng Việt có thể nghĩa đen, nghĩa bóng, có thể là lảo đảo, cho người tỉnh, người say. Trong văn cảnh là vấp váp sai lầm do khi yêu quá chân thành, cuồng nhiệt. Vì vậy mình tạm đặt tên là Vấp ngã dại khờ, vả lại trong bài hát, ý đó phải dài hơn như vậy mới hát được.

Bài này tôi không viết ở Blog VIDI vì không có nội dung gì liên quan đến Hungari lắm. Tuy nhiên cũng có chút kỷ niệm với đảo Margit, Budapest mà màu sắc, âm thanh, đường nét đã phủ sương khói huyền hoặc của dĩ vãng.

Đọc ở Blog của Nguyễn Ái Việt

Saturday, June 28, 2014

Vạn lý bi thu thường tác khách

Đang thử máy dịch thì gặp câu này "Vạn lý bi thu thường tác khách". Nghĩa là: Ta thường (phải? muốn?) làm khách buồn (cho) mùa thu (trên đường) vạn dặm (ý nói lang thang xa nhà).  Không biết tác giả thích làm người khách chuyên buồn cho mùa thu vạn dặm hay số phận đã bắt tác giả phải vậy. Có lẽ cả hai. Bắt đầu là lựa chọn của tác giả, rồi đến số phận, đến cái nghiệp dính vào không thể gỡ ra.
Tự nhiên cảm khái nên kỳ cạch dịch và giải nghĩa. Mời các bạn đọc và chia sẻ
http://aivietnguyen.blogspot.com/2014/06/tho-uong-len-cao-o-phu.html

Friday, June 27, 2014

Bình Tam Quốc

BÌNH TAM QUỐC: ĐẠI CHIẾN BA PHÁI BẢO HOÀNG, QUÂN ĐỘI VÀ TUYÊN HUẤN 

Lấy từ Blog của mình, mời diễn đàn đọc cho vui. Nghe nói vừa có lệnh Đảng viên không được phê bình Trung Quốc. Cũng may mình đếch phải đảng viên, nói thoải mái

Đọc ở đây