Một thời đã xa
Egy régmúlt idő: Volt egyszer – Amikor fiatalok voltunk
Ký ức một thời tuổi trẻ đã lùi xa, nhưng vẫn in đậm trong chúng tôi khoảng thời gian đẹp nhất và đáng nhớ nhất: Once Upon a Time - When We Were Young.
Cánh cửa Hungary mở rộng đưa chúng tôi vào một thế giới rộng lớn, giúp chúng tôi "vỡ lẽ" để cảm nhận/thấm thía nhiều điều về cuộc sống và con người. Với tôi, đây là chân trời mới, là vùng trời tự do. Dù thời gian sống ở Hungary chỉ là một phần nhỏ so với trước đó và sau này, nhiều người trong chúng tôi đều thấy được ảnh hưởng của Hungary là rất lớn, rất quyết định đối với sự phát triển về mặt trí tuệ cũng như về nhân cách của mỗi người.
Với nhiều LHS, đó là thời kỳ học hành gian khổ, đầy nỗ lực vì nghĩa vụ với đất nước, để giữ trọn lời hứa với gia đình và những bậc tiền bối khả kính của mình. Tiêu biểu trong số này là chị Tăng Kim Đoan, sang Hungary vào năm 1969. Cũng như tôi, chị là học sinh miền Nam (đi theo diện Mặt trận DTGPMNVN). Khi cầm trên tay quyển học bạ ở "thời đẹp nhất tuổi thanh xuân" chị nhớ lại "trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt, bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt, hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên."
Học bạ ĐH SEMMELWEIS (Hình ảnh: Chị Đoan, M69)
Chị Đoan nhớ lại nơi ấy "là phương trời mơ ước mà sau 6 năm đã trở thành thân thương như quê hương thứ hai không bao giờ quên được - Hungary! Đất nước ấy không to lớn,giàu có hùng mạnh nhưng giàu lòng nhân ái, thông minh, xinh đẹp đã giúp chúng tôi sống và học tập để khi trở về nước có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Giờ đây mọi người đã ở tuổi U80 chúng tôi vẫn cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, vẫn nhớ da diết Hungary yêu dấu, có bất cứ dịp nào cũng muốn trở lại nhiều lần và luôn tự hào rằng mình đã được đào tạo ở đất nước Hungary. Cầu chúc cho đất nước Hungary yêu dấu phát triển ngày càng vững mạnh lên, vẫn luôn xinh đẹp và nhân ái!"
Với các bạn của mình, và những anh chị lớn hơn, những người làm tròn bổn phận của ''hạt giống đỏ'' hay những người ''bôn sệt'' chân chính, tôi luôn dành cho họ sự tôn trọng chân thành vì tự thấy mình có lỗi và thua kém mọi người do đã ko có sự chuyển đổi phù hợp cả về ngành học và cố gắng hơn nữa để có thể học tập và hoàn thành tốt trách nhiệm của 1 LHS khi đó.
Vào năm chúng tôi đến Hungary thì GS. Trần Văn Nhung đang là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thời gian 1978-1982, ông học tiếng Hung, làm NCS và bảo vệ luận án PTS tại Trường Đại học Bách Khoa Budapest (BME). Những năm 1988-1990, ông giảng dạy Toán cho sinh viên quốc tế bằng tiếng Anh tại Đại học Bách khoa Budapest, đồng thời làm và bảo vệ luận án Tiến sĩ.
GS. Trần Văn Nhung kể về bước ngoặt đối với ông là vào năm 1965 được dự cuộc thi học sinh giỏi toán lớp 8 toàn miền Bắc để tuyển vào học Lớp Toán đặc biệt (sau này gọi là Lớp chuyên Toán), Khoá I (1965-1967), của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTH HN, nay là ĐHQG HN). Tên viết tắt thời đi sơ tán trong chiến tranh chống Mỹ là Lớp Ao. Cả Trường ĐHTH Hà Nội sơ tán trên Thái Nguyên được gắn ký hiệu mật là T104, Khoa Toán là A, Khoa Lý là B, Khoa Hoá là C,... Trùng hợp làm sao khi ông vừa học xong lớp 8 thì Lớp Toán đặc biệt Ao lại ra đời bắt đầu từ lớp 9 và lứa học sinh của ông được vào học với học bổng toàn phần 20 đồng/tháng do Nhà nước cấp. Nếu Lớp này chỉ cần ra đời muộn hơn một, hai năm hoặc chỉ bắt đầu từ lớp tám như thông lệ sau này của nó thì câu chuyện của ông sẽ khác! Ông ko những đã ko phải bỏ học ở quê mà lại còn được vào học Lớp Toán đặc biệt Ao khoá I, được nghe những bài giảng sâu sắc, hấp dẫn và rất sư phạm của các giáo sư toán học tài năng và giàu nhiệt huyết như Hoàng Tụy, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường, Nguyễn Thừa Hợp, Lê Minh Khanh, Nguyễn Duy Tiến, Nguyễn Viết Phú, Đặng Hữu Đạo,...
Ông còn nhớ vào một ngày tháng 9 năm 1965 đã nhận được giấy gọi vào học Lớp 9 Chuyên Toán khoá I, trường ĐHTH HN, do nhà Toán học, cố GS TSKH, Phó Hiệu trưởng Lê Văn Thiêm ký. Từ một vùng quê của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, ông đã về Hà Nội tập trung cùng các bạn mình thành một lớp gồm 38 học sinh và đã di chuyển ngay lên khu sơ tán của trường ĐHTH HN tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Các học sinh giỏi của miền Bắc lúc đó được triệu tập từ nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có cả những học sinh miền Nam theo gia đình tập kết ra Bắc.
Những năm 1960-1970 ở Hà Nội có ít trường cấp 3 lắm, trong nội thành chỉ có mấy trường phổ thông Chu văn An, 3A, 3B (đến năm 1964, đi sơ tán mới tách ra thành mấy trường mới : Thăng Long, Đoàn kết…). Ngoại thành có Yên Hòa, Việt- Ba, Nguyễn Gia Thiều, Đông anh… Rất ít trường, nhưng số lượng học sinh cũng ko nhiều nên vào học cấp 3 cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần tốt nghiệp cấp 2 đến phòng Giáo dục khu phố (nay là Quận) nộp hồ sơ để xếp vào trường và theo hẹn đến nhận giấy báo nhập trường.
Những ngày sơ tán rất quen thuộc với dân HN chúng tôi. Lúc đi sơ tán thì tôi còn nhỏ, mới học cấp 2. Lên cấp 3 thì về HN học. Thời gian sơ tán của tôi trải qua ở nhiều huyện khác nhau thuộc Hà Tây và Hưng Yên. Hồi học lớp 6, tôi đi theo trại trẻ của Ban Thống Nhất TW ở Chương Mỹ. Chúng tôi sơ tán ở 1 làng ven sông Đáy, chỗ học nằm ở rìa 1 ngôi làng bị ném bom, may mà thoát chết. Sau đó, chúng tôi chuyển đến 1 vùng khác.
Lán học nơi sơ tán (Hình chọn từ net)
Về những năm tháng ở Hungary, GS Trần Văn Nhung bày tỏ: “Hungary khiến tôi ngạc nhiên và thán phục...". Mảnh đất này đã chắp cánh cho ông trong việc phát triển tư duy và sự nghiệp khoa học. Ông thổ lộ với Nhịp Cầu Thế Giới: “Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người”.
Ông cũng chia sẻ thêm nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian học tập và nghiên cứu ở Hungary:
"Đất nước “bé hạt tiêu” này đã để lại cho tôi những ấn tượng và kỷ niệm đặc biệt, gây cho tôi từ ngạc nhiên, thán phục này đến ngạc nhiên, thán phục khác. Đó là: tiếng Hung khó, dân tộc Hung thông minh, chính sách cởi mở và toán học phát triển.
Thật khó tưởng tượng: một đất nước chỉ có khoảng 10 triệu dân, với diện tích 93 nghìn km vuông, nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoạt giải Nobel lên tới 15 người (về con số này, do những lý do địa lý, chính trị, lịch sử, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, có những ý kiến cho rằng con số này thực tế còn nhiều hơn thế).
Đó là một kỳ tích mà trên thế giới hiếm có quốc gia nào đạt được. Đúng như một câu ngạn ngữ Hungary: “Kicsi a bors, de nagyon erős” (Bé hạt tiêu).
Tiếng Hung gây cho tôi ấn tượng, kỷ niệm và cả sự sợ hãi đầu tiên. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngay tiếng nói đã chứng tỏ dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới.
Nhắc lại câu chuyện cũ tôi vẫn muốn nói lời cám ơn đến TS. Vũ Hoài Chương, GS. TSKH. Trần Văn Đắc và các tác giả khác đã có đóng góp rất quan trọng cho cộng đồng lưu học sinh Việt Nam tại Hungary với bộ từ điển Hung - Việt “gối đầu giường” gồm hai tập.
Tôi được học chuyên tu tiếng Đức nhưng không được nhận đi làm NCS ở CHDC Đức. Vì vậy tôi là một trong số ba NCS Việt Nam khóa 1978-1982 chưa được học tiếng Hung trước khi lên đường sang Hung.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm ngay trong tuần đầu tiên khi vừa đến Budapest và đi tìm thầy hướng dẫn NCS. Anh Đỗ Văn Thành (nay là Lãnh sự danh dự, Lãnh sự quán Hungary tại TP. HCM) đã dẫn tôi đến Đại học Tổng hợp Budapest danh tiếng mang tên Eötvös Loránd xin gặp GS. TSKH. Schipp Ferenc.
Sau mấy câu đầu bằng tiếng Hung nhờ anh Thành phiên dịch, chúng tôi chuyển sang trao đổi trực tiếp bằng tiếng Đức. Lúc đó tôi chưa có thể sử dụng tiếng Anh, tiếng Nga được như tiếng Đức.
GS Schipp đã giới thiệu tôi sang gặp và làm NCS với GS. TSKH. Farkas Miklós ở Trường Đại học Bách khoa Budapest, người cùng làm một hướng với tôi về ổn định của các hệ động lực, dù rằng GS. Farkas làm về các hệ tiền định, còn tôi nửa tiền định nửa ngẫu nhiên.
Trong lần gặp gỡ đầu tiên, GS. Farkas đã ưu tiên tôi dùng tiếng Đức, mặc dù giáo sư hay dùng tiếng Anh.
Với cơ chế mềm dẻo, Hungary đã tạo cho chúng tôi nhiều may mắn: các giáo sư hướng dẫn NCS có thể sử dụng nhiều thứ tiếng quốc tế như Anh, Đức, Pháp, Nga hoặc Tây ban Nha; cho phép NCS nước ngoài viết báo khoa học, luận án PTS, TS và bảo vệ bằng tiếng Hung hoặc một trong các thứ tiếng quốc tế.
Cũng như một số NCS Việt Nam, từ khá sớm ngay khi mới bắt đầu làm NCS, trong các năm 1981-1983 tôi đã được mời đi hợp tác nghiên cứu toán học với các nước Tây Âu như Áo, CHLB Đức, Pháp."
Về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời mình, GS cho biết:
"Với những công dân thông minh, với các chính phủ khôn ngoan và với cơ chế mềm dẻo, đất nước này luôn được xem là một hình mẫu thành công của cả phe XHCN (cũ).
Là một anh “nhà quê ra tỉnh” muộn, sau khi tốt nghiệp đại học ở Việt Nam, thi đỗ NCS, mãi năm 30 tuổi tôi mới được qua Moscow bằng máy bay Nga, rồi từ Nga đi tàu hỏa sang Budapest. Đã từng “nằm mơ nước Nga”, chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài này đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như sang hành tinh mới.
Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người.
Tôi tiếp tục được học toán, làm toán và dạy toán khi sang Hungary. Thật may mắn cho tôi và một số nhà toán học Việt Nam, Hungary “bé hạt tiêu” này là một trong những cường quốc toán học.
Chúng ta đã được nghe tên các nhà toán học Hungary lừng danh thế giới như: Bolyai János, Riesz Frigyes, Neumann János, Rényi Alfréd, Erdős Pál… và các nhà toán học xuất sắc hiện thời, trong đó có GS. Lóvász László (sinh năm 1948), nguyên là Chủ tịch Hội Toán học thế giới (khi GS Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields năm 2010) và hiện nay (2015) là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.
GS Lóvász đã sang dự một hội nghị toán học chuyên đề quốc tế được tổ chức năm 2009 tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Con trai giáo sư là László Miklós Lóvász cũng đã sang Việt Nam tham dự Olympic Toán Quốc tế 2007 (IMO 48) dành cho học sinh phổ thông xuất sắc về Toán học, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của 93 nước và vùng lãnh thổ. Năm đó anh đã giành được Huy chương Bạc."
Với những ấn tượng mang nhiều cảm xúc, GS cho rằng: "Hungary vẫn là nước năng động nhất trong phe XHCN" lúc đó.
Gia đình GS Trần Văn Nhung tại buổi bảo vệ luận án TSKH Toán học của ông ở Hungary (1990). Nguồn: Nhịp Cầu Thế Giới
Thời tuổi trẻ, chúng tôi sống rất vô tư, vui vẻ hòa thuận với nhau. Với hầu hết các sv VN học ở Hungary, những năm học ở đây là những năm sống trong bầu ko khí của tự do. Đến trường ko phải làm trực nhật, ko có giờ đạo đức nhạt nhẽo và phải học chính trị nặng nề. Đảng và Đoàn được xác định thuộc về lĩnh vực chính trị, ko có vị trí tối cao trong trường học và các công sở. Người Hung ăn mặc tùy thích, ai thích râu tóc xồm xoàm thì cứ để, ko thích có thể cạo trọc, muốn quần loe thì loe, ko thích thì bó. Những gì thuộc về cá nhân, kể cả chuyện yêu đương, hoàn toàn tự do, ko phải xin phép và báo cáo với ai hết. Trong 1 xh như thế, họ chỉ cần chúng tôi cọ́ kiến thức khoa học, kiến thức tiếp thu ntn tùy thích, có thể ở nhà tự đọc tài liệu, có thể đi nghe giảng, giờ lý thuyết ko bắt buộc, nếu đi nghe, hết giờ, giảng viên lại cúi đầu cảm ơn chứ ko bao giờ nặng lời chỉ trích nếu thấy những điều lẻ tẻ ko đáng để bận tâm...
Ngay từ năm thứ nhất ĐH, đã có các GS, viện sĩ đầu ngành trong số các giảng viên tới thuyết trình những thành quả nghiên cứu mới nhất, chứ ko phải chỉ có các giảng viên nhại đi nhại lại các kiến thức đã thuộc lòng. Vì thê,́ thi cử ở đây nghiêm khắc và hầu hết là vấn đáp....Về sau, ở thời kỳ du học sinh (DHS), sau khi học xong, ai muốn về nước thì về, ai thích ở lại làm việc hoặc học tiếp cũng được, ko bắt buộc phải về nước như trước.
Do đó, nhiều người đã ở lại, có lẽ vì cái tự do ngọt ngào từng được trải nghiệm đó... đã ngấm vào người nên nước Hung trở thành Tổ quốc thứ 2. Dần dần, họ trở thành bạn bè và gắn bó với cộng đồng mới. Hàng xóm láng giềng cũ, mới người Hung gần gũi như người thân. Nếu có điều kiện, vào dịp những kỳ nghỉ và thời gian thoải mái có thể mời nhau vui vẻ bên chén rượu, tách trà đàm đạo sự đời. Những khi gia đình muốn đi du lịch xa, có thể trao chìa khóa nhà, nhờ hàng xóm trông và cho chó mèo hay cá ăn hộ. Nhiều người còn nhờ tưới cây, chăm sóc sân vườn, mà phần lớn là được hàng xóm tặng. Cuộc sống vui và thoải mái.
Một thời để nhớ
Khi viết những dòng này, tôi muốn nói đến những mảnh ghép của chúng ta, những người đã từng có nhiều kỷ niệm với đất nước và con người Hungary. Cũng như Hoàng tử và những người từng gắn bó với đất nước này, tình cảm cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.
Và như thế, đây là câu chuyện dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì lưu giữ trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng, những gì còn lại ko bao giờ mất, chỉ có thể cảm nhận, vô cùng quý giá.
Trong số chúng tôi, nhiều bạn đã trở lại thăm mảnh đất được coi như quê hương thứ hai, nơi chúng tôi đã sống, và hầu hết đều nhớ và gọi đó là "những ngày đẹp nhất thời tuổi trẻ".
Bạn Nguyễn Thị Xuân, sang Hung cùng năm với tôi và cũng học cùng trường ở Pécs đã kể lại chuyến đi đầy cảm xúc của mình trong bài Trở lại một thời... chốn cũ tình xưa: "Lần trở lại này tuy ko dài, nhưng đủ để tôi cảm nhận đc tình bạn-tình yêu ko hề bị thời gian làm thay đổi. 40 năm đã có thể gọi là dài trong một đời người, cảnh vật thay đổi, vẻ ngoài của mọi người thay đổi đến mức khó nhận ra, nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn tươi mới, trong veo như thuở ban đầu.
Một số bạn VN đã hỏi khi tôi chuẩn bị chuyến đi này, rằng sao tôi ko đi dài ngày hơn, dành thời gian đi nhiều nước hơn? Tôi biết các bạn mong tôi nhân dịp này thăm thú thêm cảnh sắc Châu Âu tuyệt đẹp. Tôi đã nghĩ khác. Tôi đi để tìm lại tuổi trẻ, tìm lại tình bạn của chúng tôi (một cô bé VN vui chơi+học hành vô tư cùng các bạn Hungary), và tôi đã thực sự bị sốc, thực sự cảm động, tôi đã khóc. Các bạn tôi (41 con người đã có mặt vì đc tin tôi sang, mặc dù nơi họ sống cách địa điểm gặp mặt 300-400km) vẫn nhớ những kỷ niệm về tôi như giữa chúng tôi chưa hề có 40 năm xa cách.
Mừng vui gặp mặt, những vòng tay ôm chặt, những nụ hôn thắm thiết chưa nói lên đc hết tình cảm các bạn gìn giữ dành cho tôi. Các bạn nhớ hết những "thói hư tật xấu" của tôi (tôi cũng đã quên ngày đó mình như thế nào) và mang ra tố với tôi (khi muốn hỏi gì tôi đã thường nhướng mắt lên, cái mặt vênh lên và hỏi "na és?"), và những kỷ vật rất nhỏ liên quan tới tôi đều đc các bạn cất giữ ở những nơi trang trọng trong nhà, tôi đã đc thấy chúng khi đến nhà các bạn chơi (bưu thiệp chúc năm mới, chúc giáng sinh, ... mà có lẽ chúng ta sau bao nhiêu năm đâu còn giữ đc mấy).
Tranh giành nhau để đc đón tôi về nhà chơi là cuộc thảo luận mà tôi phải giả vờ ko nghe, ko thấy vì tôi đã chảy nước mắt rồi. (Tôi chỉ có 10 ngày với đất Hung và với các bạn thôi, tôi muốn dành 1 ngày về thăm thành phố Miskolc, các ngày còn lại là dành cho các bạn, nhưng đi đâu-với bạn nào-bao lâu thì các bạn phải tự thống nhất với nhau).
Tôi đoán chắc ko nhiều bạn VN khi quay trở lại Hungary nói riêng, các nước Châu Âu nói chung, nơi các bạn đã từng là sinh viên, từng kết bạn với rất nhiều bạn bản xứ, lại có đc chuyến đi đầy kỷ niệm cảm động như tôi đc cảm nhận. Tôi đã sống, sinh hoạt cùng các bạn học của mình như người thân trong nhà, đc các bạn đưa đi chơi thăm vẻ đẹp nơi các bạn sống, đc trải nghiệm làm nhân viên bán hàng, kỹ sư trong nhà máy, kiểm nghiệm viên phòng thử nghiệm,... nơi các bạn đang làm việc (ở Hung 64 tuổi mới đc nghỉ hưu, nam nữ như nhau).
Tôi cũng biết, nhiều bạn khi quay lại thăm quê hương thứ hai của mình thường kết hợp du ngoạn nhiều đất nước khác, thăm nhiều cảnh đẹp khác, và ký ức đọng lại là nơi này đẹp, nơi kia hoành tráng.
Còn tôi, là kỷ niệm sâu sắc về tình bạn, là sự khẳng định những người bạn trời Âu của mình vẫn sống rất tình cảm, vẫn như xưa.
Đối với riêng tôi, đây là một chuyến đi thành công ngoài mong đợi, chuyến đi càng gắn kết chúng tôi với nhau hơn, để từ nay trở đi, tôi chắc chắn tình bạn của chúng tôi là vĩnh cửu.
Chia tay nhau, chúng tôi thường phải quay đi trong nước mắt lưng tròng với lời hẹn hãy-sẽ quay lại ở lần gặp mặt tới.
Tôi thường ko viết dài, càng ko hay viết về cảm nhận của mình, nhưng đây là một hành trình đặc biệt, tôi viết ra đây là mong các bạn khác, đã từng du học như tôi, nếu có điều kiện nên có chuyến đi dành nhiều hơn nữa thời gian cho các kỷ niệm xưa, cho các bạn học cũ của mình để thấy tình người nơi ấy vẫn đáng trân trọng biết bao.
Và tôi cũng tiếc cho một số bạn đã hoàn toàn ko còn liên lạc gì với nơi ấy, nơi các bạn từng yêu mến nó, từng muốn ở lại như quê hương của mình nhưng nay vì những nguyên nhân nào đó ko quay lại đc lấy một lần, hoặc có dịp quay lại cũng chỉ như một khách du lịch bình thường."
Xuân và các bạn của mình (Ảnh của nhân vật)
Nếu chị Đoan là tấm gương của tôi về học tập, thì trong số những sinh viên VN xuất sắc có thể nói đến anh Đinh Hoàng Thắng, người mà tôi đã nhắc đến ở phần trước, khi nói đến cảm nhận về nước Hung, về tâm trạng của chúng tôi khi mới đặt chân lên đất Hung và "bước ra thế giới...". Với tôi, anh là 1 trong những LHS tiêu biểu nhất mà tôi biết.
Anh Thắng đã nói về ý nghĩa lớn nhất, điều mà anh nhận thấy từ những gì nhận được từ đất nước này: "mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, vì đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình”.
Thuộc hàng những LHS tiền bối sang Hungary từ năm 1966, anh Thắng tốt nghiệp Cử nhân/Thạc sĩ về Văn học và Ngôn ngữ Hungary tại Trường Đại học Tổng hợp Eötvös Loránd, Budapest đúng vào năm chúng tôi sang Hung (1972). Thời gian 1983-1986, anh nghiên cứu và nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Trường Đại học Kinh tế Karl Marx, Budapest (nay là Đại học Corvinus Budapest).
Được đào tạo cả về văn, triết lẫn chính trị học, sở hữu kiến thức chuyên sâu về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại từ ELTE, TS. Đinh Hoàng Thắng từng hoạt động trong ngành ngoại giao và là người quan tâm đến các vấn đề liên quan đến chính trị thế giới và ngoại giao của Việt Nam.
“Chàng Ngố” tốt nghiệp đại học năm 1972 - Ảnh do nhân vật cung cấp
Là một cây bút từng giữ chức TBT báo “Quốc tế” (nay là tờ “Thế giới & Việt Nam”, cơ quan truyền thông của Bộ Ngoại giao), TS. Đinh Hoàng Thắng đã tham gia với NCTG bằng một bài viết đầy tình cảm dành cho nước Hung, nơi anh từng có nhiều năm học tập, nghiên cứu và gắn bó.
"Lần đầu tiên, một chàng ngố hơn 17 tuổi, từ mảnh đất đói nghèo và chiến tranh của Nghệ Tĩnh bước ra thế giới, gặp gỡ nhiều người ngoại quốc (külföldiek), được tiếp xúc với cộng đồng quốc tế hẳn hoi (cánh sinh viên Ba Lan, Tiệp, Nga, Anh, Pháp cùng học với bọn mình ngay từ đầu), chứ không chỉ là với thầy cô giáo người Hungary (magyarok).
“Külföldiek”, “Magyarok”… hình như đó là những từ Hung đầu tiên mình học. Cảm giác là sốc và choáng! Quan hệ quá cởi mở (nhìn họ hôn nhau trong lớp vừa ngượng, vừa thích), tự do cá nhân được đề cao ghê gớm. Trong năm đầu học tiếng Hung, bọn mình bị cấm đi nhảy cuối tuần, dù các buổi sinh hoạt văn hóa đó tổ chức ngay trong ký túc xá. Thay vì đi nhảy, bọn mình họp chi đoàn, họp đơn vị, đọc báo Việt (nghe ngộ nhỉ?)… Sự lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới… Có lẽ đó là điều ám ảnh mình suốt những năm sau này, đến bây giờ mình vẫn còn bị hội chứng LPS (Lost Puppy Syndrome).
Vì là dân Tổng hợp, cả trường chỉ có 3 sinh viên Việt Nam nên ngay từ năm thứ nhất mình đã “phải” ở chung phòng với Tây (sinh viên Hung) nhưng đấy là điều thật may mắn. Từ năm thứ hai, thứ ba, mình đã đi dịch được cho Sứ quán, dịch một nhưng phải đoán đến hai… ba… phần - như người Hung hay nói, “a fordítás ferdítés” (?) (1) - mà vẫn được các chú ở Sứ cho là khá (lúc bấy giờ chả có chú sứ nào biết tiếng Hung, ngoài vài câu chào hỏi thông thường như “jó reggelt / jó napot kívánok”). Đi đến các buổi mít-tinh hội họp thì đã có bài viết sẵn, cứ thế mà đọc, may mà phần ngữ âm của mình khá (tiếng Nghệ Tĩnh vốn trầm trầm, phân biệt giữa “sờ” nặng (sör - bia) với “xờ” nhẹ (szabad - tự do) rất rõ ràng, nên khá thuận lợi để học tiếng Hung.
Có một sự kiện mình nhớ rất lâu, đó là được đi dịch cho Đoàn cấp cao Đảng và Chính phủ nước ta lần đầu tiên thăm Hungary. Về chuyến đi quốc tế của Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi đó đều có phim chiếu trong nước, chiếu ngay tại làng Quỳnh Đôi của mình. Thế là đột nhiên mình trở thành “vĩ nhân tỉnh lẻ”. Ba mẹ mình mừng lắm, vì được bà con bàn tán mãi về thằng “cu Đen” ngày nào mà bây giờ được đi cạnh và còn “dám nói chuyện” với ông Duẩn và ông Đồng (thực ra mình chỉ “nhai lại” lời của các cụ mà thôi!).
Năm năm đại học tiếp xúc với toàn sinh viên/các thầy cô ngữ văn, triết học, nhiều hôm mình ngồi café tranh luận sau các seminar chuyên đề ở lớp quên cả lên giảng đường. Đổi lại, mình đã được nghe các bạn nói về những Lukács György, Márkus György, Háy Gyula (2) cùng nhiều tên tuổi khác.
Mình thích đọc các giáo trình tham khảo hơn là những tài liệu bắt buộc. Sách giáo khoa và các tài liệu chọn lọc đều phải mua, nhưng bọn mình thích đọc các sách “chui” từ các nhà xuất bản bên Tây Đức. Nhất là về các biến cố sôi động ở Hungary từ 1953, rồi 1956, đặc biệt, trước và sau 1968, mình dành khá nhiều thời gian đọc và tìm hiểu về cải cách kinh tế. Mình được đi dịch cho rất nhiều đoàn cán bộ cao cấp từ Việt Nam sang nghiên cứu về cải cách kinh tế ở Hungary trong những năm ấy."
Nói về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh, anh viết:
"Không thể thay thế! Nếu mình đi nước khác, học trong những môi trường khác chắc rằng giờ đây mình không được như thế này. Môi trường giáo dục làm nên con người, chứ không phải là quần áo (3)! Dù rằng trần thế chỉ là hư dối và tạm bợ, mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình. Nếu mình chỉ học trong nước, hay học kỹ thuật, có lẽ mình khó có duyên với ngành ngoại giao sau này.
Cuối cùng, nếu không đi học ở Hung, chắc mình không làm được nghiên cứu sinh. Không phải là vì nhà trường chiếu cố gì cả. Đơn giản là cái đề tài mình đề xuất - “Phân tích hệ thống (rendszerelemzés) như một vấn đề phương pháp luận trong nghiên cứu quốc tế” - đã không được trong nước chấp nhận, vì lý do a, b, c… Viện Hàn lâm Khoa học Hungary cùng hai trường Tổng hợp và Kinh tế đã hỗ trợ tối đa, nhất là với cái quy chế “cắc cớ” của mình (không đi qua con đường học bổng), mình đành quyết định bỏ tiền túi để học NCS. Nặng nhất là khâu thi tối thiểu (minimum), phải nạp khoảng hơn 4.000 Forint (mệnh giá năm 1983-84). Theo mình biết, ở các nước khác, làm kiểu “tư nhân” (maszek) như vậy là bất khả!"
---------
(1) Dịch là xuyên tạc (chơi chữ trong tiếng Hung, tương đương “dịch là phản” trong tiếng Pháp và Anh).
(2) Các triết gia, nhân sĩ, nhà văn nổi tiếng của Hungary.
(3) Chơi chữ, theo một câu thành ngữ tiếng Hung “Nem a ruha teszi az embert” (Quần áo không làm nên con người, chiếc áo không làm nên thầy tu).
Ghi chú của NCTG
Nhà báo Nguyễn Võ Lệ Hà, người sang cùng năm với Ngô Việt, đã viết về khoảng thời gian học tập tại Hungary như sau:“Đó là những năm tháng tuổi thanh xuân đẹp nhất của tôi, là cánh cửa mở cho tôi hiểu biết về Thế giới. Cho tôi tri thức, mở mang trí tuệ và dạy cho tôi phải có nghị lực sống thế nào thì mới vượt qua được mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống”.
Bên bờ Danube - Ảnh do nhân vật cung cấp (NCTG)
Lệ Hà, thường được biết đến với bút danh Hà Huy Anh (trong các tác phẩm dịch) hay Hà Anh My (trong các bài dịch, bài viết trên báo). Hà từng là phóng viên tờ “Phụ nữ Việt Nam”, đồng thời, là tác giả của nhiều đầu sách về đề tài tình yêu, gia đình và thiếu nhi.
Trong loạt bài đăng trên NCTG của một số cựu du học sinh, NCS, cũng như với những người đã có thời gian công tác và sinh sống tại Hungary về những kỷ niệm, ấn tượng trong những năm tháng trên đất bạn, cũng như, vị trí của Hungary trong lòng mỗi người, bài viết của Lệ Hà, bao hàm những tự sự về cuộc đời và tâm tư về xứ sở mà Hà đã coi như quê hương thứ hai. Dưới đây là phần lược trích của tôi, tóm lược những gì mà tác giả muốn chia sẻ với rất nhiều cảm xúc.
"Ba mẹ tôi là Việt kiều tại Lào, đến năm 16-17 tuổi thì đều thoát ly gia đình tham gia quân tình nguyện. Ba tôi được gửi về Việt Nam học trường lục quân Trần Quốc Tuấn vài năm. Lúc quay trở lại Thái Lan thì gặp mẹ tôi vừa cùng gia đình tản cư nhưng mãi đến vài năm sau, khi hai người tái ngộ trong quân ngũ - ba tôi là sĩ quan còn mẹ tôi là y tá - thì hai người mới yêu nhau.
Họ cưới nhau trong quân đội và mẹ tôi đã có mang tôi chừng nửa năm thì Việt Nam chiến thắng Pháp và cả sư đoàn 335 tập kết về Tổ quốc.
Tất nhiên thời đó phải đi bộ vượt Trường Sơn mà về. Ba tôi sợ mẹ vất vả nên khuyên mẹ ở lại sinh nở, sau này hẵng hay. Nhưng mẹ tôi linh tính là nếu ở lại sẽ chẳng bao giờ con biết mặt cha nên vẫn quyết định lên đường. Ba tôi đã dẫn đại bộ phận về trước hàng tháng, mẹ ở bộ phận Quân y nên đi sau. Tất nhiên quân trang, quân dụng của mẹ được đồng đội nam giúp cầm hết, và lúc nào cũng có hai đồng đội kèm mẹ trước và sau.
Không thể kể hết được nỗi mệt nhọc của người phụ nữ mang bầu 6 tháng mà lại đi bộ ròng rã hàng tháng trời trong rừng, trong nắng trong mưa, lội suối, trèo đèo và cả qua sông khi nước lũ tràn về... Chắc mẹ đã phải khóc nhiều, cảm thấy tủi thân nên cô con gái đầu lòng có tên là Lệ Hà (dòng sông lệ), và gồm cả họ ba lẫn họ mẹ. Sau cái tết năm 1955 tôi chào đời ở Thanh Hóa, rồi mẹ lên Mộc Châu nơi sư đoàn đóng quân để đoàn tụ với ba tôi.
Cả tuổi thơ của tôi gắn bó với núi rừng Tây Bắc. Ba tôi lại đi học khóa sĩ quan pháo binh, thế là tôi trở thành đứa con của trung đoàn pháo binh. Mẹ tôi sinh thêm các em nhỏ nên tôi theo ba đi diễn tập, ăn ngủ chung với các chú bộ đội. Lúc nào không đi tập thì tôi lại hát múa theo các cô chú văn công và họ trìu mến gọi tôi là “Aliosha của trung đoàn” (Aliosha là tên một nhân vật đáng yêu trong phim Liên Xô mà dĩ nhiên lúc đó tôi chưa được xem).
Năm tôi 7 tuổi thì ba mẹ tôi phục viên chuyển về Hà Nội. Ba tôi làm trong Ban Công tác Miền Tây (Lào) rồi sau này chuyển sang Bộ Ngoại giao. Mẹ tôi theo học trường Y rồi ra làm y tế Sở Điện lực Hà Nội, về sau chuyển vào Sở Điện lực Miền Nam. Nếu không đi học ở Hungary thì tôi đã là một bác sĩ vì năm 1972 tôi đã đỗ trường Y với điểm khá cao.
Rốt cục, tôi học tiếng Nga một năm tại trường Ngoại ngữ Hà Nội (Thanh Xuân) nhưng phải đi sơ tán ở Mỹ Hào, Hải Hưng vì năm đó B52 của Mỹ bắn phá thủ đô rất quyết liệt. Ngày 7-8-1973 chúng tôi lên tàu hỏa rời ga Hàng Cỏ, vài trăm những đứa trẻ lần đầu xa nhà đến những đất nước xa xôi. Tàu của chúng tôi đi xuyên qua Trung Quốc, Liên Xô rồi mới đến Hungary.
Chặng đường 12 ngày này tôi có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ, bởi vì đối với cô bé mơ mộng như tôi thì đó là cả một thế giới cổ tích rồi. Ngày đó tôi đã viết những vần thơ sau:
Đường anh đi dọc theo đất nước
Trải màu xanh xứ sở quê hương
Những đêm trường bom rơi, đạn nổ
Súng trong tay anh giữ mầu xanh.
Màu xanh rừng núi, xanh áo anh
Đã cho em ngày ra đi ấy
Taiga, Baican những gì em đã thấy
Đanuýp trôi cũng vẫ mầu xanh
Đường em đi cách xa Tổ quốc
Bầu trời xanh sắc thắm hòa bình
Những đêm dài học đến bình minh
Em - người lính, chiến trường: Khoa học.
(trích trong bài “Những con đường và những mầu xanh”)
Ngày 19-8-1973, đoàn tàu vào ga Budapest. Chúng tôi được hưởng tình cảm và sự nuôi dạy của nước Hung, nhân dân Hung trong vài năm - đó là những năm tháng tuổi thanh xuân đẹp nhất của tôi, là cánh cửa mở cho tôi hiểu biết về Thế giới. Cho tôi tri thức, mở mang trí tuệ và dạy cho tôi phải có nghị lực sống thế nào thì mới vượt qua được mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống.
Tôi phải nói điều này vì số phận luôn luôn đưa đẩy chúng ta đến những điều không ngờ tới. Vốn dĩ định trở thành một bác sĩ thì sau một năm học tiếng Hung tôi lại bị phân vào học trường Công nghiệp Xây dựng, khoa Kinh tế Đô thị mới mẻ (trước đó chưa có sinh viên Việt Nam nào học ngành này) với các môn toán, lý, cơ, máy tính, kinh tế, thiết kế nhà, sức bền vật liệu, điện, đường sá, v.v...
Tôi hoang mang vô cùng và thấy điều đó thật là cay nghiệt đối với một cô gái thích thơ ca nhạc họa và mơ mộng như tôi. Nhưng rồi các bạn Hung lại là những người giúp đỡ tôi rất nhiệt tình, với tình cảm rất thương yêu của các thầy cô giáo sau 4 năm tôi đã tốt nghiệp. Chúng tôi về nước cũng bằng tàu liên vận - đoàn tôi là một trong những đoàn cuối cùng đi bằng tàu hỏa.
Vào ngày 5-5-2013 khóa chúng tôi họp mặt các cựu sinh viên tròn 40 năm sang Hung. Cả khóa hơn 100 người, vì nhiều lý do chỉ có hơn 30 người đến dự nhưng khi ôn lại chuyện hồi đi học chúng tôi vẫn ríu rít như thời còn trẻ.
Kỷ niệm trên đất Hung nào sâu sắc với tôi ư? Kể thì không thể hết được, ở đây chỉ xin nói về hai kỷ niệm mà tôi rất nhớ cho đến tận bây giờ.
Kỷ niệm thứ nhất liên quan đến bản tính ưa văn nghệ của tôi. Từ khi học ngoại ngữ (tiếng Hung) tại Học viện Dự bị Quốc tế (NEI, Budapest) tôi đã là một nhân tố văn nghệ tích cực, mê đàn hát, nhảy múa khi có dịp. Tôi đã được các chú trên hai sứ quán (Miền Bắc thì bác Nguyễn Mạnh Cầm là đại sứ, còn Miền Nam là bác Nguyễn Phú Soại) mời lên để giúp việc mỗi khi có lễ lạt gì đó.
Việc của tôi là mặc áo dài rồi khi thì hát, khi thì làm phiên dịch cho các quý bà, v.v..., hoặc tham gia đi thăm viếng ở một tỉnh nào đó. Nhân dịp truyền hình Hungary có đưa tin về “thần đồng” thơ Trần Đăng Khoa, anh Đinh Hoàng Thắng cũng gọi tôi đến dự. Anh Thắng dịch thơ ra tiếng Hung, còn tôi thì hát, chương trình ấy được người dân Hung rất thích.
Anh Thắng kể trưa hôm đó anh đi mua thịt mà quên tiền ở nhà, thế là ông hàng thịt bảo: “Mày vừa đọc thơ trên TV chứ gì? Tao cũng xem... cho mày nợ tiền đấy”. Chúng tôi rất tiếc là không có cái video ấy làm kỷ niệm.
Kỷ niệm thứ hai là về ngày 30-4-1975, chúng tôi đến trường được bạn bè, thầy cô reo vui ôm chầm lấy mà reo lên: “Việt Nam hòa bình rồi... Việt Nam hết chiến tranh rồi...”. Tối hôm đó tôi cũng được sứ quán gọi đến dự buổi tiệc chúc mừng chiến thắng do chính phủ Hung và các sứ quán, với nhiệm vụ phiên dịch cho các phu nhân. Cờ hoa sôi động và những lời hô to “Việt Nam chiến thắng...”.
Vui thế mà tôi lại chảy nước mắt, tôi biết từ giờ tôi không còn phải canh cánh nỗi lo khi nghĩ tới quê nhà nữa.
Nước Hung đã cho tôi cái gì ư? Với những kiến thức được học, tôi đã làm tốt công việc của mình 7 năm ở Viện Quy hoạch Hà Nội với vai trò kỹ sư kinh tế. Trong thời gian đó, tôi bắt đầu làm những việc mà tôi yêu thích như dịch truyện, dịch thơ từ tiếng Hung, vì tình yêu đất nước, con người và nền văn hóa của xứ sở này.
Tôi làm những điều này hoàn toàn vô tư, không nghĩ là nó sẽ đem lại cho tôi cái gì, nhưng một lần nữa số phận lại... chen ngang. Thấy tôi có khả năng viết, vài tờ báo muốn nhận tôi về và thế là tôi chọn lựa làm nghề báo. Năm 1984, tôi chuyển sang làm ở báo “Phụ nữ Việt Nam” tới khi về hưu. Cũng do tôi dịch được một số tác phẩm văn học Hungary nên tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhưng tôi cho rằng thành công nhất đối với một phụ nữ là nuôi dạy thành công những đứa con của mình. Tôi có hai con gái và ngay từ khi các cháu vừa ra đời tôi đã nuôi dạy chúng toàn diện (cả về trí tuệ, tâm hồn và thể lực) theo những gì mà tôi được thấy, đọc, nghe khi còn là cô sinh viên, sao cho chúng cũng có thể bước ra cánh cửa Thế giới và làm Công dân toàn cầu.
Có lẽ một phần nhờ phương châm nuôi dưỡng và dạy bảo như thế, cùng với sự chuyên cần cá nhân, các con tôi đã vào được các trường chuyên ở Việt Nam và học hết phổ thông cả hai đều đi học ở Anh Quốc bằng học bổng các cháu tự kiếm được. Vũ Nguyễn Hà Anh, con gái lớn của tôi cũng đạt được chút danh vọng trong lĩnh vực thời trang và được biết đến cả trong và ngoài nước.
Nhưng điều khiến tôi vui là dù đã trưởng thành, có điều kiện đi đây đó và đạt được một số thành công trong đời sống và công việc, các cháu vẫn ngưỡng mộ mẹ và các cô, chú, bác... từng đi học ở Hung về. Đó cũng là nhờ nước Hung, con người Hung mà mãi mãi tôi mang ơn..."
Trong số những bậc tiền bối kỳ cựu nổi tiếng nhất của LHS VN tại Hung mà tôi nghe danh khi mới sang Hung là anh Nguyễn Quang A. Anh lớn hơn tôi 9 tuổi và học ở Khoa Điện tử, chuyên ngành Viễn thông tại Đại học Kỹ thuật Budapest (BME). Sau khi tốt nghiệp vào năm 1971, anh là NCS ở Viện Nghiên cứu Viễn thông (Táki). Bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1975, anh về nước và làm việc tại Viện Kỹ thuật Quân sự Hà Nội (1976-1982).
Năm 1982, anh trở lại Hungary, từ 1983-1987 anh tham gia nghiên cứu Tin học của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary tại Đại học Kỹ thuật Budapest trên cương vị một NCS cấp cao. Năm 1987, anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học, chuyên ngành Điện tử Viễn thông, rồi về nước làm việc tại Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật Tin học Việt Nam.
Trong những năm “cải tổ” thập niên 80 thế kỷ trước, TS. Nguyễn Quang A là một trong những trí thức đầu tiên của Việt Nam chuyển sang kinh doanh cá thể rất thành công với các cương vị Tổng giám đốc Liên doanh Genpacific (1988-1993), sáng lập viên Công ty Máy tính Truyền thông Điều khiển 3C (1993), sáng lập viên, Chủ tịch Ngân hàng VPBank (1993).
Bên cạnh công việc kinh doanh, anh cũng là một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng trên tư cách Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS, một tổ chức mở và độc lập, phi lợi nhuận, tập hợp một đội ngũ trí thức tinh hoa chuyên tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội).
TS. Nguyễn Quang A còn dành nhiều thời gian cho việc dịch thuật và chủ trương Tủ sách SOS2 do anh chuyển ngữ miễn phí, phố biến và quảng bá những tác phẩm kinh điển của thế giới với chủ đề hệ phần mềm điều hành xã hội - làm thế nào để vận hành xã hội một cách hữu hiệu và suôn sẻ, thông qua những lý thuyết, chính sách, thể chế, những kinh nghiệm thất bại và thành công.
TS. Nguyễn Quang A cũng từng giữ chức Chủ tịch khóa 3 của Hội Tin học Việt Nam (VAIP), và là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam - Hungary khóa đầu tiên (2007-2012).
Anh Quang A đã nói về Hungary, nơi có ảnh hưởng quyết định với anh như thế nào, trong lần trò chuyện với NCTG nhân dịp Quốc khánh Hungary 20-8-2013.
NCTG: Từng có một khoảng thời gian dài du học, và sau đó làm luận án Tiến sĩ rồi Tiến sĩ Khoa học tại Hungary, anh có thể chia sẻ với độc giả NCTG một kỷ niệm sâu sắc thời ở Hung?
TS. Nguyễn Quang A (N.Q.A.): Cho đến khi về nước vào năm 1976 tôi biết về Hungary nhiều hơn về Việt Nam rất nhiều. Đơn giản khi còn là học sinh ở Việt Nam tôi không có cơ hội đi đâu cả. Đến 1965 tôi mới ra Hà Nội lần đầu, còn trước đó chỉ quanh quẩn trong huyện là chính.
Tại Hung đi theo lớp học mỗi học kỳ đi một nơi, đi dự mít-tinh thời đó ở mọi nơi, ngang cùng ngõ hẻm tôi đều được đến. Khi làm xong Phó tiến sĩ, tôi thật xấu hổ thấy mình biết quá ít về Việt Nam.
Một kỷ niệm có liên quan: đến nhà ăn tối cùng hai ông viện sĩ Hung, họ nghĩ mình từ một đất nước Phật giáo thì chắc biết kỹ lắm, Đại thừa ra sao, Tiểu thừa thế nào. Tôi bảo tôi không biết gì cả. Lúc đó tôi chỉ muốn có cái lỗ nào chui xuống đất cho đỡ xấu hổ!
Hôm sau tôi ra hiệu sách mua một cuốn sách về các tôn giáo lớn rồi đọc ngấu nghiến, sau đó tôi đã biết thêm chút ít. Các lần sau tôi còn có thể tán gẫu với họ cả về các tôn giáo khác nữa.
NCTG: Đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh?
N.Q.A.: Tổng cộng tôi ở Hungary hơn 13 năm một chút. Toàn bộ tuổi thanh niên của tôi ở đó. Không có thời gian ở Hungary chắc chắn đời tôi sẽ khác hẳn. Hungary có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển trí tuệ của tôi.
Những điều này, tôi cũng đã có dịp thổ lộ trong phát biểu ngắn nhân dịp được Bộ Ngoại giao Hungary trao tặng giải thưởng “Vì các mối quan hệ quốc tế” của Cộng hòa Hungary (năm 2008). Tôi có nói về hai “giải tỏa” rất riêng tư, nhưng cần thiết cho sự hợp tác và hội nhập, cho sự phát triển của mỗi người, mỗi nước.
Thứ nhất, đó là giải tỏa sự đóng kín về địa lý. Như đã nói ở trên, trước khi ra Hà Nội để chuẩn bị đi Hungary, tôi chưa bao giờ ra khỏi tỉnh nhà là Bắc Ninh. Cho dù chẳng ai cấm đoán, nhưng điều kiện và hoàn cảnh lúc đó như vậy. Cho đến khi về nước, tôi rất xấu hổ nhưng đồng thời cũng tự hào để nói với bạn bè rằng mình biết đất nước Hungary nhiều hơn Việt Nam.
Sau này, tôi mới được biết nhiều hơn về Việt Nam. Giải tỏa sự đóng kín về địa lý gắn với phát triển kinh tế - kỹ thuật, với quyền tự do đi lại của con người, với sự hội nhập quốc tế. Tại các quốc gia đang phát triển, đã có sự phát triển vượt bực, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để giải tỏa sự đóng kín về địa lý đối với người dân.
Thứ hai, là giải tỏa sự đóng kín về tư tưởng, để cho đầu óc mở mang với những luồng tư tưởng mới. Không như thế sẽ không thể có sự phát triển. Suốt thời gian qua, tôi đã cố gắng giúp mình giải tỏa khỏi sự đóng kín đó và hy vọng có thể giúp được một số người khác thông qua các bản dịch, những bài viết và hoạt động xã hội của mình.
Trong những năm tháng học tập và nghiên cứu tại Hungary, tôi đã học được cách tư duy và hành động đóng vai trò quyết định khiến tôi giải tỏa được hai vấn đề trên.
Anh Quang A tại cuộc gặp mặt hữu nghị Việt - Hung 2013 - Ảnh: Bích Ngọc
Nhớ lại thời gian mà anh tự gọi mình là "lính cậu", anh kể: "Khi đó mình đang là "lính cậu", chẳng biết bắn là gì, nhưng các chiến hữu trong Viện Kỹ Thuật Quân sự cũng khối người đã trực tiếp tham gia đánh quân Polpot rồi quân Tàu.
Sau 17-2-1979 khí thế rất sục sôi, nhiều "lính cậu" cũng mang trang bị mới phát triển ở Viện ra chiến trường. Lúc đó người hăng hái tham gia là đại úy Vĩnh (bác đã về SG ở và đã mất ở đó), thượng úy Trạch.
Một lần đi theo 2 thủ trưởng này (lúc đó mình là trung úy thì phải) đi từ Hà Nội vòng Tiên Yên lên Móng Cái, quay sang phía Lạng Sơn, Cao Bằng rồi về Hà Nội. Cảnh chiến tranh tàn phá thật khủng khiếp.
Bọn mình bị dân Móng Cái mắng cho một trận vì cứ đi xe vượt qua cầu. Họ bảo mấy chú điên à! Hôm qua 1 xe tương tự đã bị bọn Tàu cho 1 quả B40 tan sạch. Lúc quay lại anh Vĩnh quyết định đi cầu phao.
Đó là vài kỷ niệm khó quên của một gã "lính cậu"."
(còn nữa)