Một thời đã xa
Egy régmúlt idő: Volt egyszer – Amikor fiatalok voltunk
Ký ức một thời tuổi trẻ đã lùi xa, nhưng vẫn in đậm trong chúng tôi khoảng thời gian đẹp nhất và đáng nhớ nhất: Once Upon a Time - When We Were Young.
Cánh cửa Hungary mở rộng đưa chúng tôi vào một thế giới rộng lớn, giúp chúng tôi "vỡ lẽ" để cảm nhận/thấm thía nhiều điều về cuộc sống và con người. Với tôi, đây là chân trời mới, là vùng trời tự do. Dù thời gian sống ở Hungary chỉ là một phần nhỏ so với trước đó và sau này, nhiều người trong chúng tôi đều thấy được ảnh hưởng của Hungary là rất lớn, rất quyết định đối với sự phát triển về mặt trí tuệ cũng như về nhân cách của mỗi người.
Với nhiều LHS, đó là thời kỳ học hành gian khổ, đầy nỗ lực vì nghĩa vụ với đất nước, để giữ trọn lời hứa với gia đình và những bậc tiền bối khả kính của mình. Tiêu biểu trong số này là chị Tăng Kim Đoan, sang Hungary vào năm 1969. Cũng như tôi, chị là học sinh miền Nam (đi theo diện Mặt trận DTGPMNVN). Khi cầm trên tay quyển học bạ ở "thời đẹp nhất tuổi thanh xuân" chị nhớ lại "trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt, bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt, hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên."
Chị Đoan nhớ lại nơi ấy "là phương trời mơ ước mà sau 6 năm đã trở thành thân thương như quê hương thứ hai không bao giờ quên được - Hungary! Đất nước ấy không to lớn,giàu có hùng mạnh nhưng giàu lòng nhân ái, thông minh, xinh đẹp đã giúp chúng tôi sống và học tập để khi trở về nước có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Giờ đây mọi người đã ở tuổi U80 chúng tôi vẫn cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, vẫn nhớ da diết Hungary yêu dấu, có bất cứ dịp nào cũng muốn trở lại nhiều lần và luôn tự hào rằng mình đã được đào tạo ở đất nước Hungary. Cầu chúc cho đất nước Hungary yêu dấu phát triển ngày càng vững mạnh lên, vẫn luôn xinh đẹp và nhân ái!"
Với các bạn của mình, và những anh chị lớn hơn, những người làm tròn bổn phận của ''hạt giống đỏ'' hay những người ''bôn sệt'' chân chính, tôi luôn dành cho họ sự tôn trọng chân thành vì tự thấy mình có lỗi và thua kém mọi người do đã ko có sự chuyển đổi phù hợp cả về ngành học và cố gắng hơn nữa để có thể học tập và hoàn thành tốt trách nhiệm của 1 LHS khi đó.
Vào năm chúng tôi đến Hungary thì GS. Trần Văn Nhung là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thời gian 1978-1982, ông học tiếng Hung, làm NCS và bảo vệ luận án PTS tại Trường Đại học Bách Khoa Budapest (BME). Những năm 1988-1990, ông giảng dạy Toán cho sinh viên quốc tế bằng tiếng Anh tại Đại học Bách khoa Budapest, đồng thời làm và bảo vệ luận án Tiến sĩ.
GS. Trần Văn Nhung đã chia sẻ về những năm tháng ở Hungary, ông bày tỏ:“Hungary khiến tôi ngạc nhiên và thán phục...". Mảnh đất này đã chắp cánh cho ông trong việc phát triển tư duy và sự nghiệp khoa học. Ông thổ lộ với Nhịp Cầu Thế Giới: “Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người”.
Ông cũng chia sẻ nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian học tập và nghiên cứu ở Hungary:
"Đất nước “bé hạt tiêu” này đã để lại cho tôi những ấn tượng và kỷ niệm đặc biệt, gây cho tôi từ ngạc nhiên, thán phục này đến ngạc nhiên, thán phục khác. Đó là: tiếng Hung khó, dân tộc Hung thông minh, chính sách cởi mở và toán học phát triển.
Thật khó tưởng tượng: một đất nước chỉ có khoảng 10 triệu dân, với diện tích 93 nghìn km vuông, nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoạt giải Nobel lên tới 15 người (về con số này, do những lý do địa lý, chính trị, lịch sử, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, có những ý kiến cho rằng con số này thực tế còn nhiều hơn thế).
Đó là một kỳ tích mà trên thế giới hiếm có quốc gia nào đạt được. Đúng như một câu ngạn ngữ Hungary: “Kicsi a bors, de nagyon erős” (Bé hạt tiêu).
Tiếng Hung gây cho tôi ấn tượng, kỷ niệm và cả sự sợ hãi đầu tiên. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngay tiếng nói đã chứng tỏ dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới.
Nhắc lại câu chuyện cũ tôi vẫn muốn nói lời cám ơn đến TS. Vũ Hoài Chương, GS. TSKH. Trần Văn Đắc và các tác giả khác đã có đóng góp rất quan trọng cho cộng đồng lưu học sinh Việt Nam tại Hungary với bộ từ điển Hung - Việt “gối đầu giường” gồm hai tập.
Tôi được học chuyên tu tiếng Đức nhưng không được nhận đi làm NCS ở CHDC Đức. Vì vậy tôi là một trong số ba NCS Việt Nam khóa 1978-1982 chưa được học tiếng Hung trước khi lên đường sang Hung.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm ngay trong tuần đầu tiên khi vừa đến Budapest và đi tìm thầy hướng dẫn NCS. Anh Đỗ Văn Thành (nay là Lãnh sự danh dự, Lãnh sự quán Hungary tại TP. HCM) đã dẫn tôi đến Đại học Tổng hợp Budapest danh tiếng mang tên Eötvös Loránd xin gặp GS. TSKH. Schipp Ferenc.
Sau mấy câu đầu bằng tiếng Hung nhờ anh Thành phiên dịch, chúng tôi chuyển sang trao đổi trực tiếp bằng tiếng Đức. Lúc đó tôi chưa có thể sử dụng tiếng Anh, tiếng Nga được như tiếng Đức.
GS Schipp đã giới thiệu tôi sang gặp và làm NCS với GS. TSKH. Farkas Miklós ở Trường Đại học Bách khoa Budapest, người cùng làm một hướng với tôi về ổn định của các hệ động lực, dù rằng GS. Farkas làm về các hệ tiền định, còn tôi nửa tiền định nửa ngẫu nhiên.
Trong lần gặp gỡ đầu tiên, GS. Farkas đã ưu tiên tôi dùng tiếng Đức, mặc dù giáo sư hay dùng tiếng Anh.
Với cơ chế mềm dẻo, Hungary đã tạo cho chúng tôi nhiều may mắn: các giáo sư hướng dẫn NCS có thể sử dụng nhiều thứ tiếng quốc tế như Anh, Đức, Pháp, Nga hoặc Tây ban Nha; cho phép NCS nước ngoài viết báo khoa học, luận án PTS, TS và bảo vệ bằng tiếng Hung hoặc một trong các thứ tiếng quốc tế.
Cũng như một số NCS Việt Nam, từ khá sớm ngay khi mới bắt đầu làm NCS, trong các năm 1981-1983 tôi đã được mời đi hợp tác nghiên cứu toán học với các nước Tây Âu như Áo, CHLB Đức, Pháp."
Về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời mình, GS cho biết:
"Với những công dân thông minh, với các chính phủ khôn ngoan và với cơ chế mềm dẻo, đất nước này luôn được xem là một hình mẫu thành công của cả phe XHCN (cũ).
Là một anh “nhà quê ra tỉnh” muộn, sau khi tốt nghiệp đại học ở Việt Nam, thi đỗ NCS, mãi năm 30 tuổi tôi mới được qua Moscow bằng máy bay Nga, rồi từ Nga đi tàu hỏa sang Budapest. Đã từng “nằm mơ nước Nga”, chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài này đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như sang hành tinh mới.
Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người.
Tôi tiếp tục được học toán, làm toán và dạy toán khi sang Hungary. Thật may mắn cho tôi và một số nhà toán học Việt Nam, Hungary “bé hạt tiêu” này là một trong những cường quốc toán học.
Chúng ta đã được nghe tên các nhà toán học Hungary lừng danh thế giới như: Bolyai János, Riesz Frigyes, Neumann János, Rényi Alfréd, Erdős Pál… và các nhà toán học xuất sắc hiện thời, trong đó có GS. Lóvász László (sinh năm 1948), nguyên là Chủ tịch Hội Toán học thế giới (khi GS Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields năm 2010) và hiện nay (2015) là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.
GS Lóvász đã sang dự một hội nghị toán học chuyên đề quốc tế được tổ chức năm 2009 tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Con trai giáo sư là László Miklós Lóvász cũng đã sang Việt Nam tham dự Olympic Toán Quốc tế 2007 (IMO 48) dành cho học sinh phổ thông xuất sắc về Toán học, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của 93 nước và vùng lãnh thổ. Năm đó anh đã giành được Huy chương Bạc."
Với những ấn tượng mang nhiều cảm xúc, GS cho rằng: "Hungary vẫn là nước năng động nhất trong phe XHCN" lúc đó.
(còn nữa)





.png)


