DU HỌC SINH HUNGARI KHÓA 1972-1979
MAGYARORSZÁGON TANULÓ VIETNAMI DIÁKOK 1972-1979 IDŐSZAKASZBAN
Thursday, October 15, 2026
The Best Bands and Songs of 60's, 70's, 80's
Wednesday, October 7, 2026
Lịch sử đô thị
QUY HOẠCH ĐÔ THỊ MỸ: NHỮNG CỘT MỐC ĐỊNH HÌNH DÁNG VÓC NĂM THÀNH PHỐ LỚN
________________________________________
NEW YORK
Sự hình thành dáng vóc của New York, đặc biệt là quận Manhattan, gắn liền với ba cột mốc quy hoạch mang tính bước ngoặt, biến một thị trấn cảng phía Nam đảo Manhattan thành siêu đô thị chọc trời. Đầu thế kỷ 19, dân số bùng nổ khiến khu vực phía Nam đảo Manhattan rơi vào tình trạng quá tải và mất vệ sinh. Năm 1811, chính quyền bang New York thông qua Commissioners' Plan, bản quy hoạch ô bàn cờ mang tính cách mạng cho phần đất chưa khai phá từ Houston Street lên đến 155th Street, do các ủy viên Gouverneur Morris, John Rutherfurd và Simeon De Witt soạn thảo. Bản quy hoạch tạo ra 12 đại lộ đánh số chạy theo chiều dọc hòn đảo, rộng 30 m, cắt vuông góc với 155 con phố chạy ngang, hình thành khoảng 2.000 khối nhà hình chữ nhật, tối ưu hóa việc phân lô bán đất và xây dựng thương mại (1, 2).
Do bám theo trục của hòn đảo, toàn bộ lưới phố nghiêng khoảng 29 độ so với hướng bắc địa lý. Broadway là ngoại lệ nổi bật nhất: một phần con đường này đi theo tuyến đường cũ của người bản địa, chạy xiên qua mạng lưới ô bàn cờ và tạo ra các giao lộ hình tam giác độc đáo, tiêu biểu là Times Square (1).
Nhận thấy bản quy hoạch 1811 quá thực dụng và thiếu không gian xanh, thành phố quyết định xây một công viên lớn giữa Manhattan. Năm 1858, thiết kế Greensward Plan của kiến trúc sư Frederick Law Olmsted và Calvert Vaux thắng cuộc thi thiết kế Central Park (3). Công viên được mở rộng dần và đạt diện tích hiện tại 341 ha vào năm 1873 (4), trở thành một kiệt tác cảnh quan nhân tạo đóng vai trò lá phổi cân bằng lại mật độ bê tông dày đặc của Manhattan.
Sự ra đời của thang máy và kết cấu khung thép cuối thế kỷ 19 dẫn đến cuộc đua xây nhà cao tầng. Năm 1915, tòa nhà Equitable Building cao khoảng 40 tầng hoàn thành ngay sát mặt đường mà không có bất kỳ khoảng lùi nào, che khuất ánh sáng mặt trời của các con phố xung quanh và gây ra làn sóng phản đối của người dân New York. Năm 1916, chính quyền thành phố thông qua Zoning Resolution 1916, đạo luật phân khu toàn diện đầu tiên của nước Mỹ, quy định cả mục đích sử dụng đất, chiều cao và mật độ xây dựng (5, 6).
Theo đạo luật, các tòa nhà phải lùi dần khi lên cao để ánh sáng và không khí chiếu xuống mặt đường, riêng khoảng 25% diện tích lô đất được phép dựng tháp không giới hạn chiều cao (7). Hệ quả phổ biến là dáng vẻ giật cấp kiểu bánh sinh nhật kinh điển của các tòa nhà chọc trời New York thập niên 1920-1930, tiêu biểu như Empire State Building hay Chrysler Building.
________________________________________
CHICAGO
Khác với New York phát triển tiệm tiến qua quy hoạch, Chicago lột xác nhờ tái thiết sau thảm họa. Từ ngày 8 đến 10/10/1871, trận đại hỏa hoạn thiêu rụi toàn bộ trung tâm thương mại bằng gỗ của thành phố, phá hủy khoảng 17.500 công trình và khiến khoảng 100.000 người mất nhà cửa ( 8 ). Đống tro tàn trở thành trang giấy trắng cho các kiến trúc sư tham vọng nhất thời đại: để tiết kiệm diện tích đất đắt đỏ tại khu trung tâm The Loop và chống hỏa hoạn, kiến trúc sư William Le Baron Jenney dùng khung sườn kim loại gồm sắt và thép gánh phần lớn tải trọng thay cho tường chịu lực dày (9), còn Louis Sullivan phát triển ngôn ngữ thẩm mỹ nhấn mạnh chiều cao và trang trí gốm. Năm 1885, tòa nhà Home Insurance Building do Jenney thiết kế hoàn thành tại Chicago, thường được coi là tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới (10).
Năm 1909, kiến trúc sư Daniel Burnham cùng cộng sự Edward Bennett công bố Plan of Chicago, một trong những bản quy hoạch đô thị có ảnh hưởng nhất lịch sử nước Mỹ, đưa triết lý phong trào City Beautiful vào thực địa (11). Burnham cho rằng bờ Lake Michigan thuộc về toàn thể người dân, và bản quy hoạch đề xuất biến dải bờ hồ thành chuỗi công viên và bãi biển công cộng thay vì để công nghiệp và đường sắt chiếm dụng. Đây là văn bản tư vấn không có hiệu lực pháp lý, còn nền tảng bảo vệ bờ hồ đến từ nguyên tắc tài sản công có từ trước và các vụ kiện do Aaron Montgomery Ward theo đuổi, mà Burnham củng cố và phổ biến (13). Nhiều phần của kế hoạch được thực hiện dần trong những thập niên sau, mở rộng chuỗi công viên ven hồ mà Grant Park là một phần trung tâm (12).
Bản quy hoạch còn đề xuất hệ thống đại lộ hướng tâm và đường vành đai kết nối khu trung tâm với các vùng phụ cận, cùng một hệ thống công viên và đại lộ rợp bóng cây bao quanh thành phố để mọi cư dân đều tiếp cận được không gian xanh trong khoảng cách đi bộ (11).
________________________________________
WASHINGTON D.C.
Khác với New York hay Chicago vốn phát triển vì thương mại và công nghiệp, Washington D.C. là thủ đô liên bang đầu tiên của Mỹ được thiết kế ngay từ đầu để làm trung tâm quyền lực chính trị. Năm 1791, Tổng thống George Washington giao cho kiến trúc sư người Pháp Pierre Charles L'Enfant thiết kế thủ đô mới trên vùng đất ven sông Potomac. L'Enfant mang tư duy quy hoạch Baroque châu Âu vào một quốc gia non trẻ: bộ khung là lưới ô bàn cờ đánh số và chữ cái, bên trên là các đại lộ chéo cực rộng đặt theo tên các tiểu bang như Pennsylvania Avenue, nơi các đường chéo cắt nhau tạo thành những quảng trường vòng xoay làm điểm nhấn thị giác. L'Enfant đặt Capitol trên Jenkins Hill làm tâm điểm chính, còn White House được đặt ở một trục vuông góc, nối với Capitol qua Pennsylvania Avenue (14, 15).
Đến cuối thế kỷ 19, quy hoạch của L'Enfant bị lấn át và biến dạng bởi sự bùng nổ của đường sắt thương mại và sự phát triển tự phát nhếch nhác. Năm 1901, Thượng nghị sĩ James McMillan thành lập Senate Park Commission, công bố báo cáo năm 1902 sau này được gọi là McMillan Plan, đưa phong trào City Beautiful vào cuộc đại cải tạo thủ đô. Bản quy hoạch đề xuất dỡ bỏ nhà ga đường sắt trên National Mall và mở rộng khu này thành đại lộ công viên thảm cỏ dạng chữ thập kéo dài từ Capitol đến Lincoln Memorial, đồng thời bố trí các bảo tàng và đài tưởng niệm quốc gia dọc theo dải thảm cỏ theo phong cách tân cổ điển. Bản quy hoạch chưa từng được chính thức thông qua nhưng được thực hiện dần trong những thập niên sau, trong đó đường ray cắt ngang National Mall được dỡ bỏ (16).
Height of Buildings Act, ban hành năm 1899 và sửa đổi năm 1910, hạn chế chặt chẽ chiều cao công trình tại Washington D.C., với mức tối đa bằng chiều rộng con phố cộng thêm khoảng 6 m và trần tuyệt đối khoảng 40 m cho phố thương mại, khoảng 27 m cho phố dân cư. Nhờ đó, Washington Monument cao khoảng 169 m vẫn là công trình cao nhất thủ đô, còn Capitol cùng các công trình quốc gia chi phối đường chân trời (17, 18).
________________________________________
LOS ANGELES
Trái ngược hoàn toàn với sự nén chặt của New York hay tính trật tự của Washington D.C., Los Angeles đại diện cho một triết lý đô thị hoàn toàn khác của nước Mỹ: đô thị dàn trải lấy xe hơi làm trung tâm tuyệt đối. Ít ai biết rằng trước khi ngập tràn xe hơi, Los Angeles từng sở hữu mạng lưới tàu điện liên đô thị (interurban) lớn nhất thế giới. Năm 1901, trùm tư bản Henry Huntington thành lập Pacific Electric Railway, xây dựng mạng lưới xe điện Red Cars dài khoảng 1.600 km nối liền các thị trấn ven biển với trung tâm nhằm đưa cư dân đến các khu bất động sản ông phát triển ở ngoại ô. Thay vì nén dân cư vào khu trung tâm, hệ thống Red Cars kéo giãn người dân ra sinh sống tại các ngôi nhà ngoại ô có sân vườn, đặt nền móng cho cấu trúc đô thị phân tán đa trung tâm của Los Angeles từ rất sớm (19, 20).
Sau Thế chiến II, sự bùng nổ của ngành công nghiệp ô tô cùng việc khai tử dần hệ thống tàu điện, với tuyến hành khách cuối cùng ngừng chạy năm 1961, đã biến Los Angeles thành thí nghiệm xe hơi lớn nhất hành tinh (20). Năm 1947, Collier-Burns Highway Act của bang California tạo cơ chế tài chính cho hệ thống cao tốc toàn bang (21, 22), mở đường cho mạng lưới freeway khổng lồ cắt xuyên qua vùng lòng chảo Los Angeles. Các tuyến đường huyết mạch như I-5, I-10, US-101 cùng các nút giao tầng phức hợp trở thành khung định hình đi lại, trong khi khu trung tâm suy giảm vai trò và vùng đô thị trở thành tập hợp của hàng chục thành phố và khu vực nối với nhau bằng đường cao tốc, như Santa Monica, Pasadena, Long Beach. Phần lớn diện tích đất được dành cho nhà ở gia đình đơn lập thấp tầng, bãi đỗ xe khổng lồ và các trung tâm thương mại ngoài trời kiểu strip mall.
________________________________________
SAN FRANCISCO
San Francisco là trường hợp độc nhất trong lịch sử đô thị Mỹ: một bán đảo với địa hình đồi núi dốc đứng nhưng lại bị áp mạng lưới ô bàn cờ phẳng, để rồi lột xác hoàn toàn sau một trong những thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất lịch sử nước Mỹ. Năm 1847, kỹ sư Jasper O'Farrell hiệu chỉnh và mở rộng mạng lưới ô bàn cờ do Jean Jacques Vioget vạch từ năm 1839, và trước sức ép của các chủ đất vẫn giữ lưới cứng nhắc này trên địa hình đồi núi chập chùng của thị trấn, tạo ra những con phố dốc đứng như Filbert Street (23, 25). Khi cơn sốt vàng bùng nổ năm 1849, San Francisco biến chuyển thần tốc từ một thị trấn ven biển nhỏ bé thành đô thị sầm uất. Độ dốc quá lớn khiến ngựa kéo xe gặp tai nạn liên tục, và năm 1873 kỹ sư Andrew Smith Hallidie phát triển thành công hệ thống xe cáp kéo ngầm (24), giải cứu quy hoạch ô bàn cờ và biến những ngọn đồi hiểm trở thành vùng đất bất động sản đắt giá nhất thành phố như Nob Hill.
Sáng ngày 18/4/1906, trận động đất cường độ 7,9 cùng trận đại hỏa hoạn kéo dài nhiều ngày sau đó đã phá hủy hơn 80% thành phố và khiến ước tính khoảng 3.000 người thiệt mạng (26). Ngay trước thảm họa, kiến trúc sư Daniel Burnham từng đề xuất một bản đại quy hoạch phong cách City Beautiful với các đại lộ chéo tráng lệ kiểu Paris, nhưng sau thảm họa, các chủ đất và doanh nghiệp đã bác bỏ kế hoạch này để ưu tiên tái thiết thần tốc trên bộ khung ô bàn cờ cũ nhằm khôi phục kinh tế nhanh nhất. Thành phố xây dựng hệ thống cấp nước dự phòng chống hỏa hoạn khẩn cấp. Phần lớn thiệt hại năm 1906 đến từ hỏa hoạn sau động đất chứ không phải từ rung chấn, và nhiều nhà gỗ khung phong cách Victorian, Edwardian chịu rung chấn tương đối tốt, tiêu biểu là dãy nhà Painted Ladies ở công viên Alamo Square xây trước thảm họa và vẫn đứng vững (27).
Thập niên 1930, hai cây cầu lớn nối San Francisco với các khu vực quanh vịnh được hoàn thành: San Francisco-Oakland Bay Bridge khánh thành năm 1936 nối sang East Bay, Golden Gate Bridge khánh thành năm 1937 nối sang Marin ở phía Bắc, mở ra kỷ nguyên mở rộng vùng đô thị Bay Area (28).
________________________________________
NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Wikipedia, Commissioners' Plan of 1811
2. Wikipedia, List of numbered streets in Manhattan
3. NYC Municipal Archives, The Greensward
4. NYC Parks, thông cáo kỷ niệm Central Park
5. NYC Department of City Planning, Zoning Resolution 1916
6. AIA New York, 100 năm zoning New York
7. McGill Office for Science and Society, Building the Modern Skyscraper
8. US Census Bureau, Great Chicago Fire 1871
9. Linda Hall Library, William Le Baron Jenney
10. Council on Tall Buildings and Urban Habitat, Debating Tall
11. Wikipedia, Burnham Plan of Chicago
12. University of Chicago, Burnham Plan Centennial
13. Encyclopedia of Chicago History, Plan of Chicago
14. Wikipedia, L'Enfant Plan
15. National Park Service, tài liệu giới thiệu Washington D.C.
16. The Cultural Landscape Foundation, McMillan Plan
17. National Capital Planning Commission, Height of Buildings Act
18. National Capital Planning Commission, Height Master Plan
19. American Rails, Pacific Electric Railway
20. Southern California Railway Museum, Pacific Electric
21. Wikipedia, Collier-Burns Highway Act of 1947
22. KCET, My Way Or The Highway
23. Wikipedia, Jasper O'Farrell
24. SFMTA, lịch sử xe cáp San Francisco
25. Wikipedia, danh sách các con phố dốc nhất
26. Wikipedia, động đất San Francisco 1906
27. SF Museum, Symphonies in Steel
28. Structure Magazine, San Francisco-Oakland Bay Bridge
Vuong Cuong (Nghiên cứu Lịch sử)
Tuesday, October 6, 2026
XH đáng sống, giải phóng và tự do
NIETZSCHE VÀ MARX – ĐỨNG VỀ PHÍA AI?
Có những người muốn giải phóng con người khỏi những giá trị mà họ đã quen chấp nhận. Có những người muốn giải phóng con người khỏi những điều kiện xã hội khiến họ phải sống trong lệ thuộc. Nietzsche và Marx, theo một cách khái quát của Bertrand Russell, đứng ở hai hướng rất khác nhau ấy.
Trong A History of Western Philosophy (1945), Bertrand Russell đưa ra một nhận xét đáng chú ý về Nietzsche và Marx: Nietzsche không ngần ngại đứng về phía số ít, trong khi Marx đặt mình về phía số đông. Đây dĩ nhiên không phải một định nghĩa đầy đủ về hai triết gia, nhưng nó gợi ra một câu hỏi rộng hơn: khi nói đến giải phóng con người, ta đang muốn giải phóng cá nhân khỏi sức ép của cộng đồng, hay khỏi những điều kiện xã hội khiến họ bị lệ thuộc?
Nietzsche và Marx đều không hài lòng với thế giới mà họ đang sống. Nhưng một người nhìn trước hết vào những giá trị đang định hình con người, người kia nhìn vào những quan hệ vật chất và xã hội trong đó con người tồn tại. Vì vậy, dù cùng nói về giải phóng, họ bắt đầu từ hai nơi rất khác nhau.
* Nietzsche và câu hỏi về những giá trị ta đang sống theo
Nietzsche đặc biệt nghi ngờ những giá trị được xem là đúng chỉ vì chúng đã được số đông chấp nhận.
Ông truy vấn nguồn gốc của đạo đức, cách con người hình thành những phân biệt giữa thiện và ác, và những chuẩn mực khiến cá nhân tự kiềm chế ngay cả khi không còn một quyền lực bên ngoài trực tiếp buộc họ phải làm như vậy.
Một xã hội có thể ca ngợi sự khiêm nhường, phục tùng, bình đẳng hay lòng vị tha. Nhưng với Nietzsche, việc một giá trị được tôn vinh rộng rãi chưa đủ để chứng minh nó luôn đúng hoặc luôn có lợi cho sự phát triển của con người. Cần hỏi sâu hơn: giá trị ấy xuất hiện từ đâu, phục vụ cho kiểu đời sống nào, và nó đã làm gì đối với con người?
Từ đó, Nietzsche quan tâm đến những cá nhân có khả năng tự vượt qua giới hạn của mình, sáng tạo những giá trị mới và không sống hoàn toàn theo kỳ vọng của cộng đồng.
Đây là lý do ông thường được đọc như một nhà phê phán mạnh mẽ đối với tâm lý bầy đàn và sự đồng thuận vô thức. Nhưng cũng cần thận trọng khi biến Nietzsche thành một người đơn giản “đứng về phía kẻ mạnh” hay chống lại mọi hình thức bình đẳng. Điều ông quan tâm sâu hơn là phẩm chất của những hình thức sống khác nhau, khả năng tự vượt lên và năng lực sáng tạo giá trị của cá nhân.
Chính quan niệm có tính thứ bậc ấy cũng khiến Nietzsche trở thành một đối tượng tranh luận gay gắt khi đặt cạnh các lý tưởng bình đẳng và dân chủ hiện đại.
Câu hỏi của ông vì thế không dừng ở chuyện xã hội nên được tổ chức thế nào. Nó quay trở lại chính cá nhân:
Một con người phải trở thành ai để không sống cả đời theo những giá trị mà mình chưa từng thực sự lựa chọn?
* Marx và câu hỏi về những điều kiện ta đang sống trong đó
Marx bắt đầu từ một hướng khác.
Ông quan tâm đến cách con người sản xuất, lao động, sở hữu và trao đổi trong một xã hội cụ thể. Muốn hiểu những xung đột của một thời đại, theo Marx, không thể chỉ nhìn vào tư tưởng hay ý thức mà bỏ qua những điều kiện vật chất và những quan hệ xã hội trong đó con người đang sống.
Trong xã hội công nghiệp thế kỷ XIX, sản xuất tạo ra ngày càng nhiều của cải, nhưng quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền quyết định đối với quá trình lao động lại được phân phối rất không đồng đều. Người lao động có thể tạo ra của cải cho xã hội mà không có quyền kiểm soát tương xứng đối với tư liệu sản xuất, sản phẩm lao động hay những điều kiện định hình đời sống của chính mình.
Với Marx, đây không đơn thuần là chuyện người giàu đối xử tốt hay xấu với người nghèo. Vấn đề nằm trong cấu trúc của các quan hệ sản xuất và sở hữu.
Nếu sự lệ thuộc được tạo ra và duy trì bởi chính những quan hệ ấy, lời kêu gọi từng cá nhân hãy cố gắng hơn hoặc sống tốt hơn sẽ không đủ để giải quyết tận gốc vấn đề.
Bởi vậy, Marx hướng sự chú ý đến giai cấp công nhân và khả năng hành động tập thể của những người có chung vị trí trong hệ thống sản xuất. Sự giải phóng, theo hướng này, không thể chỉ diễn ra trong ý thức của từng cá nhân; nó còn đòi hỏi thay đổi những quan hệ xã hội đang tạo ra sự lệ thuộc.
Nếu Nietzsche hỏi con người có thể tự vượt qua những giá trị đang thống trị mình đến đâu, Marx hỏi con người có thể tự do đến đâu khi những điều kiện vật chất và quan hệ xã hội quanh họ vẫn khiến họ phải sống trong lệ thuộc.
* Một người nhìn vào con người, một người nhìn vào những quan hệ quanh con người
Đặt Nietzsche cạnh Marx, nhận xét của Russell trở nên thú vị hơn.
Nietzsche nghi ngờ quyền lực của số đông đối với cá nhân. Marx nghi ngờ quyền lực của những quan hệ kinh tế và sở hữu đối với con người.
Một người lo rằng cá nhân đánh mất mình khi quá dễ dàng phục tùng những giá trị của cộng đồng. Người kia lo rằng cá nhân không thể thực sự tự do nếu những điều kiện vật chất khiến họ phụ thuộc vào một hệ thống mà họ không kiểm soát.
Nhưng sự khác biệt này cũng cho thấy một điều: hai triết gia không hoàn toàn tranh luận với nhau về cùng một vấn đề.
Hãy hình dung một người sinh ra trong nghèo khó nhưng vẫn có khả năng suy nghĩ độc lập, chống lại những chuẩn mực mà họ không chấp nhận. Theo Nietzsche, chiều kích ấy của con người rất đáng chú ý. Nhưng từ góc nhìn Marx, khả năng suy nghĩ độc lập không tự động xóa bỏ những giới hạn do điều kiện vật chất tạo ra.
Ngược lại, một xã hội có thể giảm bớt bất bình đẳng về kinh tế nhưng điều đó cũng không bảo đảm con người sẽ biết mình muốn sống như thế nào. Họ vẫn có thể chạy theo những giá trị được số đông tôn vinh, tìm kiếm địa vị, tiêu dùng, danh tiếng hoặc sự công nhận mà không bao giờ tự hỏi vì sao mình lại muốn những thứ ấy.
Ở đây, hai cách nhìn bắt đầu bổ sung cho nhau, dù không vì thế mà trở thành một học thuyết thống nhất.
* Khi tự do bên trong gặp những giới hạn bên ngoài
Một trong những điều đáng suy nghĩ khi đọc Nietzsche và Marx cùng nhau là tự do của con người dường như không nằm hoàn toàn ở một phía.
Một người có thể rất độc lập trong suy nghĩ nhưng bị giới hạn nghiêm trọng bởi điều kiện vật chất. Một người khác có thể sống trong điều kiện vật chất thuận lợi nhưng lại hoàn toàn phụ thuộc vào những chuẩn mực mà họ chưa từng tự mình chất vấn.
Điều này xuất hiện ngay trong đời sống hiện đại.
Một người có thể tự do lựa chọn nghề nghiệp trên giấy tờ, nhưng lựa chọn ấy bị giới hạn bởi gia đình, thu nhập, giáo dục và cơ hội việc làm. Một người có điều kiện kinh tế tốt lại có thể dành cả đời chạy theo một định nghĩa về thành công mà họ chưa từng tự hỏi có thực sự là của mình hay không.
Ở trường hợp thứ nhất, câu hỏi của Marx trở nên quan trọng: những điều kiện nào đang giới hạn lựa chọn của con người?
Ở trường hợp thứ hai, câu hỏi của Nietzsche lại xuất hiện: những giá trị nào đang quyết định cách con người lựa chọn?
Một bên nhìn vào hoàn cảnh. Một bên nhìn vào sự hình thành của chính con người bên trong hoàn cảnh ấy.
* Russell thực sự gợi ra điều gì?
Có lẽ giá trị trong nhận xét của Russell không nằm ở việc chia triết học thành hai phe: một phe của cá nhân và một phe của số đông.
Điều đáng chú ý hơn là phía sau mỗi quan niệm về tự do luôn có một câu hỏi trước đó: điều gì đang khiến con người không tự do?
Nếu vấn đề nằm ở việc con người phục tùng những giá trị mà họ chưa bao giờ tự mình chất vấn, giải phóng phải bắt đầu từ khả năng tự suy nghĩ và tự vượt qua.
Nếu vấn đề nằm ở những quan hệ xã hội khiến con người phụ thuộc vào quyền sở hữu, bán sức lao động và không kiểm soát được những điều kiện căn bản của đời sống, chỉ yêu cầu cá nhân “mạnh mẽ hơn” sẽ không đủ.
Hai câu hỏi ấy có thể cùng tồn tại trong một con người.
Một người có thể cần thay đổi xã hội quanh mình, đồng thời phải thay đổi cách mình nhìn chính mình. Một xã hội có thể tạo ra những điều kiện bình đẳng hơn, nhưng những con người sống trong đó vẫn phải tự quyết định họ muốn trở thành ai.
Đây có lẽ là nơi sự đối lập giữa Nietzsche và Marx trở nên đáng suy nghĩ nhất. Nó không buộc ta phải chọn một người rồi loại bỏ người kia. Nó buộc ta phải nhìn vào hai tầng khác nhau của sự lệ thuộc: những thứ nằm trong các quan hệ xã hội và những thứ đã đi vào chính cách con người suy nghĩ, ham muốn và đánh giá cuộc đời mình.
Nietzsche đặt câu hỏi: “Anh có đang sống theo những giá trị mà anh thực sự lựa chọn không?”
Marx đặt câu hỏi: “Anh có thực sự được lựa chọn khi những điều kiện sống của anh đã được quyết định từ trước đến một mức nào đó?”
Giữa hai câu hỏi ấy là một phần rất lớn của vấn đề về tự do, công bằng và phẩm giá con người.
Có lẽ một xã hội đáng sống không thể chỉ yêu cầu con người tự giải phóng mình, cũng không thể chỉ chờ một sự thay đổi từ bên ngoài để biến họ thành những con người tự do.
Bởi sau cùng, con người vừa sống trong một thế giới do người khác tạo ra, vừa góp phần tạo nên thế giới ấy bằng chính những lựa chọn của mình.
Ảnh: Friedrich Nietzsche và Karl Marx – hai cách đặt câu hỏi khác nhau về tự do, con người và xã hội.
David Phung (Nghiên cứu Lịch sử)
Monday, October 5, 2026
Thế giới người đẹp
BÍ QUYẾT ĐỂ PHỤ NỮ CÓ MỘT ĐỜI AN YÊN, TỐT ĐẸP NẰM TRỌN TRONG 9 CÂU NÓI NÀY
Thứ nhất: Cho dù trên xe buýt chẳng còn một bóng người, bác tài vẫn sẽ lái xe đến bến cuối cùng. Điều này có nghĩa là bạn không được vì sự rời đi của bất kỳ ai mà dừng lại cuộc sống vốn có của mình.
Thứ hai: Bạn đến thế giới này không phải là để duy trì nòi giống, mà là để ngắm nhìn hoa nở thế nào, nước chảy ra sao, mặt trời mọc lên và hoàng hôn buông xuống. Bạn sống trên đời này chẳng qua là muốn thấu hiểu một vài đạo lý, gặp gỡ một vài điều thú vị mà thôi.
Thứ ba: Trạng thái tốt nhất của một người chính là: Khi cần đọc sách thì đọc sách, khi cần vui chơi hãy vui chơi hết mình. Gặp người ưu tú biết cách tán thưởng, gặp người s/a c/ơ l/ỡ v:ận cũng tuyệt đối không c/o.i k:hinh. Hãy có cuộc sống nhỏ và những niềm vui riêng, nỗ lực sống cuộc đời của chính mình. Khi chưa có ai yêu thương, hãy chuyên tâm vào bản thân. Khi có người yêu thương, hãy có đủ năng lực để ôm lấy đối phương.
Thứ tư: Bạn chính là bạn. Việc người khác nhìn nhận bạn ra sao một chút cũng không quan trọng. Bạn vốn dĩ không cần đến sự phán xét hay đánh giá của bất kỳ ai.
Thứ năm: Khi bạn thực sự được yêu thương, bạn không cần ngày ngày lo nghĩ phải ăn diện thế nào, phải hùa theo người ta ra sao. Một tình yêu mà bạn phải kiễng chân lên để với lấy thì chẳng thể nào đứng vững được. Người thực sự yêu bạn, họ sẽ tự nguyện c/ú.i người xuống vì bạn.
Thứ sáu: Chỗ dựa vững chắc nhất, thực sự có thể c/h.ố.n.g l:ưng cho bạn chính là: Vốn tri thức phong phú, nền tảng kinh tế đủ đầy, cảm xúc luôn ổn định, nhịp sống nằm trong tầm kiểm soát và một bản thân kiên cường không bao giờ bị đ/á.n.h b/ạ.i.
Thứ bảy: Bạn có thể g/h.é.t một thứ gì đó, nhưng xin hãy cho phép nó tồn tại. Cũng xin hãy cho phép người khác được thích nó. Không c/h.ê b/a.i, hạ thấp sở thích của người khác, đó chính là sự tu dưỡng cơ bản nhất.
Thứ tám: Bạn kết hôn là vì hạnh phúc, bạn ly hôn cũng là vì muốn hạnh phúc. Hơn thế nữa, không tùy tiện kết hôn lại càng là vì hạnh phúc.
Thứ chín: Bạn không cần phải cố làm cho những người không thích mình quay sang thích mình. Hãy làm sao để những người yêu mến bạn cảm thấy rằng việc họ yêu mến bạn là một sự lựa chọn cực kỳ tinh tường và đúng đắn.
TnBS
Sunday, October 4, 2026
2 hệ thống thuộc địa
SO SÁNH DI SẢN CAI TRỊ THUỘC ĐỊA CỦA ANH VÀ PHÁP
Cựu thuộc địa Anh và cựu thuộc địa Pháp đi theo những quỹ đạo phát triển khác nhau rõ rệt, và câu hỏi đặt ra là sự chênh lệch đó đến từ mô hình cai trị, từ điểm xuất phát hay từ cả hai. Bài viết đi lần lượt qua vùng đất mỗi bên chiếm được, cách hai nước cai trị, câu hỏi thể chế hay điểm xuất phát, trường hợp Ấn Độ, chủ nghĩa Françafrique cùng đồng CFA, và vấn đề cái gọi là thuế thuộc địa.
________________________________________
VÙNG ĐẤT MỖI BÊN CHIẾM VÀ MỨC GIÀU CÓ CỦA CÁC VÙNG ĐẤT TRƯỚC THỜI THUỘC ĐỊA
Anh đi trước và chọn trước nhờ ưu thế hải quân. Họ lấy những nơi có dân số đông làm thị trường như Ấn Độ, những điểm nút hàng hải như Singapore, Hồng Kông, Aden, Gibraltar, Mũi Hảo Vọng, và những vùng ôn đới rộng lớn cho người định cư như Bắc Mỹ, Úc, New Zealand.
Pháp thua Anh trong Chiến tranh Bảy Năm (1756 đến 1763) và mất Canada cùng phần lớn vị thế ở Ấn Độ. Khi dựng lại đế chế thuộc địa ở thế kỷ 19, phần lớn các vùng giá trị đã có chủ, nên Pháp dồn vào châu Phi và Đông Dương. Thuộc địa Pháp ở Bắc và Tây Phi rộng mênh mông nhưng phần lớn là Sahara và bán hoang mạc, mật độ dân cư thấp, giá trị thương mại ban đầu yếu. Việc chiếm đất nhiều khi mang động cơ uy thế chính trị và không muốn thua Anh trên bản đồ hơn là tính toán kinh tế thuần túy.
Về quy mô kinh tế trước thời thuộc địa, Ấn Độ là trường hợp áp đảo. Theo ước tính của Angus Maddison, Ấn Độ chiếm 24,4% GDP thế giới năm 1700 [1], là trung tâm dệt may và gia vị của thế giới, với hệ thống ngân hàng bản địa hundi tài trợ cho thương mại xuyên lục địa. Bán đảo Mã Lai là ngã tư thương mại từ thế kỷ 15, còn các đô thị Swahili như Mombasa và Lamu giàu lên nhờ buôn ngà voi và vàng từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 16.
Nhóm Pháp khiêm tốn hơn. Đông Dương là kinh tế lúa nước tự cung tự cấp, và Việt Nam thời Nguyễn hạn chế giao thương quốc tế. Algeria và Madagascar có quy mô tích lũy thấp. Haiti là trường hợp khác: Saint-Domingue trở thành vùng sản xuất đường giàu có nhờ lao động nô lệ dưới thời Pháp, nên sự giàu có ở đây hình thành sau khi thành thuộc địa chứ không có từ trước.
Trong nhóm Anh cũng có những nơi xuất phát thấp. Botswana trước thời thuộc địa là vùng chăn nuôi theo bộ tộc, khô hạn, không có thương cảng. Nam Phi trước đó chủ yếu là nông nghiệp và chăn nuôi, rồi giàu lên sau khi phát hiện kim cương ở Kimberley năm 1867 và vàng ở Witwatersrand năm 1886.
________________________________________
MÔ HÌNH CAI TRỊ CỦA ANH VÀ PHÁP VÀ HỆ QUẢ SAU ĐỘC LẬP
Pháp cai trị theo hướng trực tiếp. Quyền lực tập trung vào bộ máy hành chính do quan chức Pháp nắm giữ, và chính sách đồng hóa nhắm tới việc người bản địa tiếp thu tiếng Pháp, văn hóa Pháp, thậm chí cả Công giáo. Trên thực tế, tỷ lệ người bản địa đạt tư cách công dân Pháp rất thấp, và chính sách này tạo ra một tầng lớp trí thức nói tiếng Pháp xa rời quần chúng. Mô hình này không đồng đều: ở Morocco, Tunisia hay Campuchia, Pháp vẫn giữ vua bản địa dưới chế độ bảo hộ.
Anh ở nhiều nơi cai trị gián tiếp. Họ giữ nguyên vua, sultan, tù trưởng bản địa và đặt một quan chức giám sát (Resident hoặc Commissioner) bên trên, như ở Nigeria, Malaya và các tiểu quốc Ấn Độ. Tuy vậy phần lớn lãnh thổ Ấn Độ thuộc Anh vẫn do Anh cai trị trực tiếp. Tầng lớp tinh hoa bản địa được đào tạo chủ yếu để làm trung gian hành chính, còn tầng lớp cai trị Anh giữ khoảng cách chủng tộc và xã hội, không có mục tiêu biến người bản địa thành người Anh.
Về pháp luật, Pháp áp dụng Bộ luật Napoléon (dân luật) trên toàn bộ thuộc địa, còn Anh áp dụng thông luật kết hợp với luật tục địa phương, kể cả luật Hồi giáo và Ấn Độ giáo ở nơi có sẵn.
Về tôn giáo, ở thuộc địa Pháp các dòng tu Công giáo vận hành nhiều trường học, bệnh viện, hoạt động song hành với nhà nước thuộc địa, với mục tiêu gắn người bản địa với mẫu quốc. Anh coi tôn giáo là việc của cộng đồng bản địa và không chủ trương biến cư dân thuộc địa thành tín đồ Tin lành trên diện rộng. Chính quyền thuộc địa Anh có lúc còn hạn chế nhà truyền giáo vì sợ bất ổn, như ở Ấn Độ hay vùng Hồi giáo phía Bắc Nigeria.
Về kinh tế, Anh ưu tiên thương mại tự do và hạ tầng phục vụ lưu thông hàng hóa như đường sắt, cảng biển ở Ấn Độ, Singapore, Hồng Kông. Pháp theo hướng bảo hộ thương mại chặt chẽ, thuộc địa cung cấp nguyên liệu thô như cao su, khoáng sản, lúa gạo và là thị trường tiêu thụ độc quyền cho hàng hóa chính quốc, trong khi các tập đoàn Pháp nắm đặc quyền kinh tế.
Sau độc lập, cựu thuộc địa Anh thường tiếp quản bộ máy công vụ, tòa án và quân đội đã vận hành sẵn, nhưng mang theo các xung đột sắc tộc và tôn giáo hình thành từ chính sách chia để trị và biên giới tùy tiện, như cuộc chia cắt giữa Ấn Độ và Pakistan hay các xung đột ở Nigeria và Myanmar. Ở nhiều nước, cựu thuộc địa Pháp thiếu tầng lớp quản lý bản địa được đào tạo bài bản, và nhất là ở Tây và Trung Phi, nhiều nước rơi vào chuỗi đảo chính quân sự, quyền lực dồn vào tổng thống theo mô hình Cộng hòa Pháp.
________________________________________
SỰ CHÊNH LỆCH PHÁT TRIỂN DO THỂ CHẾ HAY DO ĐIỂM XUẤT PHÁT
Theo lập luận của Daron Acemoglu và James Robinson, thể chế mới là yếu tố quyết định dài hạn. Họ phân biệt thể chế bao trùm, bảo vệ quyền sở hữu và hạn chế quyền lực nhà nước, với thể chế bóc lột. Một bằng chứng họ nêu là sự đảo ngược vận mệnh: nhiều vùng giàu và đông dân trước thời thuộc địa như Ấn Độ nghèo đi, trong khi những nơi xuất phát thấp như Úc, Singapore, Botswana vươn lên. Về pháp luật, nghiên cứu của Rafael La Porta cùng cộng sự cho thấy cựu thuộc địa theo thông luật Anh có thị trường vốn phát triển hơn cựu thuộc địa theo dân luật Pháp.
Singapore được Anh trao quyền tự trị năm 1959, gia nhập Malaysia năm 1963 rồi tách khỏi Malaysia ngày 9 tháng 8 năm 1965, khi chỉ là một hòn đảo nhỏ không tài nguyên và thiếu nước ngọt. Botswana độc lập ngày 30 tháng 9 năm 1966 với 12 km đường nhựa, 22 người tốt nghiệp đại học và 100 người tốt nghiệp trung học, theo số liệu Acemoglu, Johnson và Robinson nêu [2]. Kim cương được phát hiện năm 1967 [2], một năm sau độc lập, và theo lập luận của Acemoglu và Robinson, thể chế quản lý nguồn thu này là lý do Botswana thành công.
Với Pháp, lập luận là thể chế bóc lột mang tính tập trung và triệt tiêu động lực nội tại. Chính sách độc quyền thương mại không cho tầng lớp thương nhân bản địa tự do hình thành, và Pháp không xây dựng thể chế tài chính độc lập cho thuộc địa mà chỉ lập các ngân hàng phát hành như Ngân hàng Đông Dương, gắn chặt với chính quốc. Sau độc lập, tầng lớp tinh hoa bản địa ngồi vào chiếc ghế của người Pháp trong bộ máy quan liêu có sẵn, nơi thủ tục rườm rà tạo kẽ hở cho tham nhũng và cửa quyền. Niger có uranium và Gabon có dầu mỏ, đều là cựu thuộc địa Pháp, nhưng tài nguyên không đủ để tạo ra phát triển bền vững.
________________________________________
ẤN ĐỘ VÀ LẬP LUẬN VỀ DI SẢN THỂ CHẾ CỦA ANH
Sự trì trệ của Ấn Độ sau độc lập thường được dùng để phản bác ý kiến cho rằng thể chế Anh để lại tốt hơn thể chế Pháp. Lập luận đáp lại bắt đầu từ chỗ Anh áp dụng hai kiểu thể chế khác nhau. Ở Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, người Anh đến định cư lâu dài và mang theo thông luật cùng quyền sở hữu tư nhân. Ở Ấn Độ, Nigeria, Myanmar, họ đến để cai trị và khai thác. Tại Ấn Độ, hệ thống thu thuế và quản lý đất đai Zamindari biến nhiều nông dân thành tá điền, và chính sách chia để trị khoét sâu mâu thuẫn giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo.
Theo ước tính của Maddison, tỷ trọng GDP thế giới của Ấn Độ chỉ còn 4,2% năm 1950 [1]. Năm 1947, Anh rời đi để lại một Ấn Độ bị chia cắt đẫm máu thành Ấn Độ và Pakistan.
Sau độc lập, Nehru và tầng lớp lãnh đạo Ấn Độ từ bỏ mô hình thị trường tự do, chọn kinh tế kế hoạch hóa tập trung chịu ảnh hưởng mô hình Xô Viết, kèm bảo hộ mạnh. Hệ thống License Raj yêu cầu doanh nhân xin hàng chục loại giấy phép để mở xưởng, đổi sản lượng hay nhập máy móc, và nhà nước độc quyền nhiều ngành công nghiệp. Tăng trưởng nhiều thập kỷ chỉ ở mức khoảng 3,5% mỗi năm, bị gọi mỉa mai là tốc độ tăng trưởng Ấn Độ giáo.
Năm 1991, đứng trước nguy cơ cạn ngoại hối, Ấn Độ bỏ License Raj, mở cửa thị trường và tự do hóa kinh doanh. Từ đó các di sản Anh mới phát huy tác dụng: thông luật giúp bảo vệ hợp đồng và thu hút vốn nước ngoài, tiếng Anh giúp Ấn Độ trở thành trung tâm phần mềm và dịch vụ hậu cần, thị trường chứng khoán Bombay thành lập từ thế kỷ 19 giúp các tập đoàn như Tata, Reliance, Infosys huy động vốn, và thể chế nghị viện kiểu Anh giữ cho một quốc gia nhiều ngôn ngữ và sắc tộc không rơi vào độc tài quân sự liên tục.
Theo số liệu IMF công bố tháng 4 năm 2025, Ấn Độ đã vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới về GDP danh nghĩa, với thu nhập bình quân đầu người danh nghĩa khoảng 2.880 USD năm 2025 [3, 4].
________________________________________
FRANÇAFRIQUE, ĐỒNG CFA VÀ CÁI GỌI LÀ THUẾ THUỘC ĐỊA
Françafrique là tên gọi mạng lưới quan hệ chính trị, quân sự và kinh tế mà Pháp duy trì với các cựu thuộc địa ở châu Phi. Cả cánh tả lẫn cánh hữu Pháp đều coi châu Phi là nền tảng cho vị thế quốc gia, nên việc Pháp thiên tả hay thiên hữu trong nước không làm thay đổi chính sách ở châu Phi. François Mitterrand viết năm 1957 trong cuốn Présence française et abandon: "Không có châu Phi, sẽ không có lịch sử nước Pháp trong thế kỷ 21." [5, 6] Trong nhiều thập kỷ, các tập đoàn Pháp như TotalEnergies, Orano, Bolloré giữ vị trí lớn trong khai thác dầu mỏ, uranium, cảng biển và vận tải ở Tây và Trung Phi, cho đến khi Bolloré bán toàn bộ mảng vận tải và logistics ở châu Phi cho MSC ngày 21 tháng 12 năm 2022 [7].
Đồng CFA ra đời năm 1945, hiện gồm hai khu vực tiền tệ với 14 nước: 8 nước Tây Phi và 6 nước Trung Phi [8, 9]. Đồng tiền neo cố định vào euro ở mức 655,957 CFA đổi 1 euro, Pháp bảo đảm khả năng chuyển đổi, và theo cơ chế gốc, các ngân hàng trung ương phải gửi ít nhất 50% dự trữ ngoại hối tại Kho bạc Pháp, với mức lãi tối đa 0,75% mỗi năm [8, 9, 10]. Giới phê phán cho rằng cơ chế này tước chủ quyền tiền tệ, định giá đồng tiền cao khiến xuất khẩu kém cạnh tranh và cho phép các tập đoàn Pháp chuyển lợi nhuận về nước dễ dàng. Đổi lại, các nước dùng CFA giữ được lạm phát thấp và tỷ giá ổn định hơn.
Ngày 21 tháng 12 năm 2019 tại Abidjan, Emmanuel Macron và Alassane Ouattara công bố cải cách đồng CFA Tây Phi [10]. Quốc hội Pháp thông qua luật tháng 5 năm 2020 chấm dứt nghĩa vụ ký gửi 50% dự trữ ngoại hối và đại diện của Pháp trong các cơ quan quản trị của khối, đồng tiền được định đổi tên thành Eco [11, 12]. Pháp vẫn bảo đảm khả năng chuyển đổi và tỷ giá vẫn neo vào euro, nên nhiều nhà phân tích gọi đây là thay đổi mang tính biểu tượng. Khu vực CFA Trung Phi không nằm trong cải cách này và nghĩa vụ ký gửi 50% đến nay vẫn còn ở đó [11]. Liên minh các quốc gia Sahel gồm Mali, Burkina Faso và Niger đã công bố kế hoạch rời đồng CFA [11].
Về quân sự, các cuộc đảo chính ở Mali (2020, 2021), Burkina Faso (2022), Niger (2023) và Gabon (2023) đi kèm làn sóng chống Pháp. Quân Pháp đã rút khỏi Mali, Burkina Faso và Niger, các chính quyền quân sự ở đó xích lại gần Nga. Chad chấm dứt hiệp ước quốc phòng với Pháp vào tháng 11 năm 2024, Pháp bàn giao căn cứ Port-Bouët ở Abidjan, Côte d'Ivoire, ngày 20 tháng 2 năm 2025 và rút quân khỏi Senegal ngày 17 tháng 7 năm 2025 [13, 14, 15]. Pháp còn hai căn cứ thường trực ở châu Phi là Djibouti và trại de Gaulle ở Libreville, Gabon, nay là căn cứ dùng chung với Gabon, tập trung vào huấn luyện và thu hẹp xuống còn khoảng 100 quân vào năm 2026 [16, 17].
Tin đồn lan trên mạng xã hội rằng 14 nước châu Phi hằng năm nộp thẳng một khoản thuế thuộc địa cho ngân sách Pháp, với con số 500 tỷ USD mỗi năm. Không có khoản thuế nào mang tên đó trong ngân sách chính thức, cũng không có văn bản pháp lý nào bắt các nước này chuyển một khoản tiền hằng năm cho chính phủ Pháp, và con số 500 tỷ USD không có nguồn chính thức nào.
Tiền lệ bắt cựu thuộc địa trả tiền cho chính quốc thì có thật, điển hình là Haiti. Ngày 17 tháng 4 năm 1825, vua Charles X ban sắc lệnh công nhận độc lập của Haiti với điều kiện bồi thường 150 triệu franc vàng cho các chủ đồn điền cũ, chia thành 5 đợt hằng năm, mỗi đợt 30 triệu [18, 19]. Chiến hạm Pháp xuất hiện ở vịnh Port-au-Prince vào tháng 7 năm 1825 và Haiti phải chấp nhận [18]. Haiti vay các ngân hàng Pháp để trả những đợt đầu [18]. Năm 1838 phần còn nợ giảm xuống 60 triệu, tổng cộng 90 triệu franc, nhưng các khoản vay kèm lãi và phí khiến chuỗi nợ chỉ được thanh toán xong năm 1947 [18, 19]. Một phân tích của New York Times năm 2022 ước tính Haiti đã trả khoảng 560 triệu USD theo giá trị ngày nay [18].
Trường hợp Guinea năm 1958 là ví dụ về cái giá của việc rời Pháp. Trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 28 tháng 9 năm 1958, Guinea là thuộc địa duy nhất ở châu Phi bỏ phiếu bác đề nghị của de Gaulle, và tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 10 năm 1958 dưới Sékou Touré [20, 21]. Pháp phản ứng bằng cách gọi về toàn bộ công chức và kỹ thuật viên, mang đi mọi thiết bị có thể vận chuyển, cắt viện trợ và cắt quan hệ kinh tế [20, 21].
Ngày nay, thứ được gọi là thuế thuộc địa tồn tại dưới dạng cơ chế gián tiếp. Một dạng là cơ chế ký gửi dự trữ của đồng CFA nêu ở trên, hiện còn ở khu vực Trung Phi. Dạng còn lại là các hiệp định hợp tác ký quanh thời điểm độc lập có điều khoản ưu tiên Pháp trong khai thác nguyên liệu chiến lược, và lợi nhuận từ những hợp đồng độc quyền của các tập đoàn Pháp chảy về Pháp.
____________________________________
NGUỒN TÀI LIỆU
[1] Số liệu tỷ trọng GDP thế giới của Ấn Độ năm 1700 và năm 1950 theo Angus Maddison (Contours of the World Economy), qua bảng trích trong bài của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ
[2] Số liệu Botswana lúc độc lập (12 km đường nhựa, 22 người tốt nghiệp đại học, kim cương phát hiện năm 1967) theo Acemoglu, Johnson và Robinson, qua Economic Freedom of the World 2023, chương 5, Cato Institute
[3] Ấn Độ vượt Nhật Bản, GDP danh nghĩa 4,187 nghìn tỷ USD và thu nhập bình quân 2.880 USD theo IMF World Economic Outlook tháng 4 năm 2025, qua Outlook Business (PTI)
[4] Cùng số liệu IMF, qua Angel One
[5] Câu nói của Mitterrand năm 1957 trong Présence française et abandon, Burkina24
[6] Thông tin xuất bản Présence française et abandon (Plon, 1957), thư viện số Bộ Quốc phòng Pháp
[7] Bolloré bán mảng logistics châu Phi cho MSC, thông cáo báo chí ngày 21 tháng 12 năm 2022, Euronext
[8] Cấu trúc đồng CFA, 14 nước gồm 8 nước Tây Phi và 6 nước Trung Phi, cơ chế ký gửi 50% dự trữ, New Currency, Same Story, Journal of Law and Commerce, Đại học Pittsburgh
[9] Đồng CFA ra đời ngày 26 tháng 12 năm 1945 và mức lãi tối đa 0,75% mỗi năm, bản tin AFP qua Namibian Sun
[10] Thông báo cải cách ngày 21 tháng 12 năm 2019 tại Abidjan và tỷ giá 655,96 CFA đổi 1 euro, Arab News (AFP)
[11] Cải cách đồng CFA Tây Phi và tình trạng khu vực Trung Phi, Dubawa Ghana
[12] Dự luật cải cách CFA của Pháp tháng 5 năm 2020, Fasken
[13] Pháp rút khỏi Senegal ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Chad chấm dứt hiệp ước quốc phòng, Reuters qua Citizen Digital
[14] Pháp rút khỏi Senegal, AFP qua Al Jazeera
[15] Ngày Chad công bố chấm dứt hiệp ước và ngày bàn giao căn cứ Port-Bouët, Janata Weekly
[16] Căn cứ de Gaulle ở Libreville, AFP qua eNCA
[17] Quân số Pháp ở Gabon năm 2026, AFP qua Channels TV
[18] Khoản bồi thường của Haiti năm 1825, giảm năm 1838, ước tính 560 triệu USD của New York Times năm 2022, WLRN
[19] Haiti trả xong khoản nợ năm 1947, Caribbean Beat
[20] Guinea năm 1958, Britannica
[21] Guinea năm 1958, EBSCO Research Starters
Minh Nhựt (Nghiên cứu lịch sử)
Saturday, October 3, 2026
Sống già
NGƯỜI 65–80 TUỔI CÒN GIỮ ĐƯỢC 7 KHẢ NĂNG NÀY, CƠ THỂ THƯỜNG KHỎE HƠN TUỔI THẬT
Bạn già thân mến, càng có tuổi, chúng ta càng nhận ra một điều:
tuổi tác không chỉ nằm ở con số trên căn cước, mà còn thể hiện qua cách cơ thể vận động mỗi ngày.
Có người 70 tuổi nhưng vẫn tự đi chợ, tự nấu ăn, đi bộ mỗi sáng, lên xuống cầu thang khá nhẹ nhàng.
Nhưng cũng có người mới ngoài 60 đã cảm thấy cơ thể nặng nề, đi một đoạn ngắn đã mệt và nhiều việc nhỏ cũng phải nhờ con cháu.
Vậy làm sao biết cơ thể mình đang khỏe đến đâu?
Bạn già có thể thử nhìn vào 7 khả năng rất quen thuộc dưới đây.
Một là, vẫn đi bộ khá nhanh và vững vàng.
Đi bộ tưởng đơn giản nhưng lại cần sự phối hợp của đôi chân, cơ bắp, tim phổi và khả năng giữ thăng bằng.
Nếu bạn vẫn có thể đi bộ đều đặn, bước chân vững, không quá hụt hơi và không phải thường xuyên dừng lại nghỉ, đó là một dấu hiệu đáng mừng.
Vì vậy, còn đi được thì hãy cố gắng đi mỗi ngày, vừa sức mình.
Hai là, có thể tự đứng lên từ ghế.
Hãy thử ngồi trên một chiếc ghế chắc chắn rồi đứng lên mà không cần dùng tay chống đỡ.
Nếu bạn vẫn làm được tương đối dễ dàng, điều đó cho thấy sức mạnh của đôi chân và khả năng vận động vẫn đang được duy trì.
Đừng để đến lúc chân yếu mới bắt đầu tập. Những động tác nhẹ nhàng như đứng lên, ngồi xuống, đi bộ hoặc vận động chân mỗi ngày đều rất đáng quý.
Ba là, vẫn giữ được thăng bằng.
Tuổi càng cao, khả năng giữ thăng bằng càng quan trọng.
Bạn có thể thử đứng gần tường hoặc một điểm tựa chắc chắn rồi nhấc một chân lên trong vài giây. Nếu thấy chông chênh, hãy tập từ từ và tuyệt đối đặt an toàn lên trước.
Dưỡng sinh, đi bộ, Thái Cực Quyền hoặc những bài tập nhẹ phù hợp có thể giúp cơ thể linh hoạt hơn.
Bốn là, leo cầu thang không quá hụt hơi.
Leo cầu thang là lúc tim, phổi và cơ chân cùng phải làm việc.
Nếu bạn vẫn có thể leo một hoặc hai tầng với tốc độ vừa phải mà không thấy khó thở bất thường, chóng mặt hay đau ngực, đó là dấu hiệu khá tốt về khả năng vận động.
Nhưng nếu thường xuyên tức ngực, choáng váng hoặc khó thở nhiều khi vận động, đừng cố chịu đựng. Hãy nghỉ ngơi và kiểm tra sức khỏe khi cần thiết.
Năm là, bàn tay vẫn còn khỏe.
Khả năng cầm nắm cũng phản ánh phần nào sức mạnh cơ bắp và khả năng thực hiện những công việc hằng ngày.
Nếu bạn vẫn có thể mở nắp chai, xách một túi đồ vừa sức, cầm đũa, làm bếp hoặc chăm sóc cây cối mà không gặp quá nhiều khó khăn, đó là điều đáng quý.
Càng lớn tuổi, càng nên duy trì những hoạt động vừa sức thay vì để cơ thể hoàn toàn thụ động.
Sáu là, giấc ngủ và khả năng hồi phục vẫn tương đối tốt.
Không phải cứ lớn tuổi là phải ngủ rất ít.
Nếu sau một ngày hoạt động, bạn vẫn có thể ngủ tương đối ổn định, sáng thức dậy cảm thấy cơ thể dễ chịu và có sức làm những việc quen thuộc, đó là một dấu hiệu tích cực.
Hãy cố gắng giữ giờ ngủ đều đặn, vận động ban ngày và hạn chế dùng điện thoại quá lâu trước khi đi ngủ.
Bảy là, vẫn tự làm được những việc của chính mình.
Đây có lẽ là dấu hiệu quan trọng nhất.
Tự mặc quần áo, tự tắm rửa, tự nấu một bữa cơm, tự dọn dẹp, tự đi lại, tự chăm sóc bản thân...
Những việc ấy nhìn qua rất bình thường, nhưng với người lớn tuổi, đó chính là sự tự chủ và phẩm giá của tuổi già.
Con cháu thương cha mẹ thì nên giúp khi cha mẹ cần.
Nhưng khi còn đủ sức, hãy để người già được tự làm những việc vừa sức.
Bởi vận động chính là cách cơ thể duy trì sức mạnh.
Bạn già thân mến, chúng ta không thể chống lại thời gian.
Nhưng chúng ta có thể cố gắng để những năm tháng phía trước vẫn còn đôi chân để bước đi, đôi tay để làm việc, cơ thể để tự chăm sóc mình và một tinh thần đủ bình thản để sống vui mỗi ngày.
Tuổi 70 không nhất thiết phải giống tuổi 70 của người khác.
Điều quan trọng là hôm nay bạn vẫn còn làm được những việc mà chính mình từng làm hôm qua.
Còn khỏe thì hãy vận động.
Còn tự làm được thì đừng vội nhờ người khác.
Và còn một ngày bình an, hãy biết trân trọng một ngày ấy.
Cảm ơn bạn già đã dành ít phút lắng nghe và cùng Tĩnh Lặng Mỗi Đêm nhìn lại sức khỏe của chính mình.
Mong rằng mỗi ngày trôi qua, chúng ta vẫn còn đủ sức khỏe để tự chăm sóc bản thân, đủ bình an để mỉm cười, và đủ nhẹ lòng để tận hưởng những năm tháng phía trước.
FB-Tĩnh lặng mỗi đêm
Friday, October 2, 2026
Vì sao ngày nay chúng ta trở nên thô lỗ và hung dữ
1. Làm người quý nhất là yêu người. Người càng có học, đọc sách tâm càng phải thiện lương. Dường như xã hội đang ngày càng xa rời quy luật đó. Người thường cư xử với nhau ngày càng thô lỗ, hung bạo, bạo lực bạo hành xảy ra thường xuyên. Không biểt có phải vì mạng xã hội nên chúng ta mới nhận thức được một sự thật có sẵn.
2. Người có học, thậm chí có đạo cũng đang trở nên hung dữ với nhau. Mạt sát nhau vì những bất đồng nhỏ xíu. Tôi vẫn không hiểu sao người có học lại có thể đề xuất bắt bớ người này, bỏ tù người khác chỉ vì họ có quan điểm khác lạ. Cơ quan hình sự đã đành là phải thực hiện lệnh của toà. Nhưng là cần thiết để chống lại các hành vi bạo lực.
3. Thô lỗ là biến tướng và thể hiện xấu xa của tính trung thực, một trong đức tính tốt của con người. Tôi nghĩ thế thì tôi thể hiện thế được coi là trung thực. Với một người tàn tật, xấu xí hay dốt nát mà mình cứ kể lể về những điểm yếu của người ta thì liệu có thể vin vào “tôi chỉ nói sự thật” để biện hộ?
4. Ngược lại của thô lỗ là lịch sự. Nhưng liệu lịch sự kiểu người Pháp, cái gì cũng khen quá lời có trở thành điêu trác. Có lẽ thói giả tạo điêu trác là một biết tướng xấu của lịch sự.
5. Để phản ứng cái giả tạo, dối trá thì thô lỗ là hiệu quả nhất. Một câu văng tục, hình tượng grotesque đúng lúc như câu chuyện “trời sinh ra thế” có tác dụng bằng trăm ngàn lần tranh cãi. Có lẽ thời kỳ thô tục tới là để thay thế cho thời gian dài phải giả tạo như một tất yếu.
6. Nhưng liệu cái gì là khắc tinh của con ngựa bất kham sổng chuồng mang mang tên thô lỗ. Dĩ nhiên không thể bằng lịch sự. Người có học thì mong manh không chịu nổi áp lực thô lỗ dù là chủ thể hay khách thể. Lịch sự đấu với thô lỗ cũng như văn hoá đấu với mọi rợ. Chỉ còn hy vọng ở luật pháp hay lễ giáo.
Nguyễn Ái Việt (Debrecen.vidi72)
Thursday, October 1, 2026
Câu chuyện của chúng tôi (7)
Haverok
Nằm gần Halászbástya (Pháo đài Ngư phủ/Fisherman's Bastion), một trong những di sản kiến trúc nổi tiếng nhất của Budapest, thuộc Budai Várnegyed, có một nơi đã để lại rất nhiều kỷ niệm với tôi, đó là tòa nhà số 1 Szentháromság tér, trước đây là ktx Vár. Nếu HTB gọi ktx sinh viên của hắn ở Debrecen là tổ ấm thì tôi cũng có thể gọi ktx Vár như thế. Thật khó hình dung nơi này mà lại không có các bạn thân thiết của tôi ngày xưa. Tôi thật may mắn khi có được những ông bạn "vàng" ở đây, nơi mà mọi người từ khắp nơi kéo đến để ngắm nhìn và thán phục. Ở đây, tôi đã có những ngày thật dễ chịu. Các bạn chắc còn nhớ những căn phòng của sinh viên ở Vár, tuy tồi tàn và nhếch nhác không được như các ktx mới nhưng lại nằm trong một tòa nhà rất đẹp. Các bạn của tôi cũng vậy, tuy đơn giản và thiếu thốn nhưng tấm lòng thì tuyệt vời. Tôi không bao giờ quên Gyümölcslé, Halászlé… và cả những "đặc sản" quý hóa của thời sinh viên ở đây khi cả bọn nhẵn túi. Nhất là Vietnámi ebéd và Svéd vacsora!
Vár và những ngọn đồi ở Buda là những nơi tuyệt vời để dạo chơi và khám phá, chỉ cần cả bọn chúng tôi kéo nhau cùng đi là có đủ trò vui rồi. Cả lũ đều vui vẻ và hồn nhiên vô tư trong khung cảnh tuyệt vời của Budapest - "A szabadság fővárosa". Với chúng tôi, những năm 70-es là những năm chúng tôi cảm thấy thế giới thật đẹp đẽ và thân thiện. Tuyệt vời vô cùng!












