Monday, September 21, 2026

Khả năng nhìn người

Khả năng tuyệt vời của một người chính là biết cách nhìn người, chia thành 4 cấp độ.

Cấp độ cơ bản: Dùng thời gian

​Cấp độ cơ bản nhất là dùng thời gian để nhìn người. Đó là "lửa thử vàng, gian nan thử sức" hay thời gian biết lòng người. Dành thời gian từ từ tiếp xúc, giống như chờ đợi nước tự đóng băng, cần phải đợi rất lâu mới có thể hiểu được một người

Hơn nữa, phương pháp này rất dễ sai sót. Rất nhiều trường hợp nhìn lầm người. Một số người trông có vẻ thật thà nhưng thực tế có thể không phải như vậy. Lại có những người cực kỳ giỏi ngụy trang, thời gian dài cũng không thấy được bộ mặt thật.

​Cấp độ 2: Quan sát tướng mạo và hành động

​Cấp độ thứ 2 là phán đoán thông qua quan sát tướng mạo và các chi tiết hành động của một người. Tục ngữ có câu "tâm sinh tướng", tâm thái lâu dài của một người sẽ biểu hiện trên khuôn mặt. Ví dụ, cảm xúc kéo dài sẽ làm thay đổi cơ mặt, người hay cáu giận dễ xuất hiện nếp nhăn.

​Đồng tử của con người rung nhẹ 30 lần mỗi giây, có thể để lộ cảm xúc thật trong lòng. Đồng thời, nhìn cách họ giao tiếp với người khác, xử lý sự việc cũng có thể phát hiện ra một số thông tin ẩn giấu.

​Tuy nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế nhất định. Ngay cả chuyên gia nghiên cứu hành vi cũng có tỷ lệ phán đoán sai.

​Cấp độ 3: Dùng lợi ích để thử thách

​Trước lợi ích, lý trí và dục vọng của con người sẽ đấu tranh quyết liệt. Biểu hiện nhất thời này phản ánh chân thực nhất suy nghĩ thật. Tuy nhiên, mặc dù phương pháp này trực tiếp và hiệu quả, nhưng có thể làm tổn hại đến sự tin tưởng lẫn nhau.

​Cấp độ cao nhất: Chủ động tạo tình huống

​Cách lợi hại nhất là cố tình để lộ sơ hở. Đây là phương pháp chính xác và hiệu quả nhất, thông qua việc tạo ra những tình huống có áp lực, có thể khiến 99% mọi người lộ ra phản ứng thật.

​Ví dụ như giả vờ rơi vào tình thế khó khăn hoặc phạm sai lầm để xem đối phương có nhân cơ hội để giẫm đạp lên không, hay là sẵn lòng đưa tay giúp đỡ. Hoặc cố tình tạo ra tình huống phân chia không đủ nguồn lực, quan sát cách đối phương phân chia. Đưa ra sự lựa chọn tiến thoái lưỡng nan để kiểm tra ranh giới đạo đức của đối phương. 

Cách chủ động thiết lập tình huống này có thể nhìn rõ năng lực và nhân phẩm của một người nhanh nhất.

​Khi nhìn người, hãy ghi nhớ một vài nguyên tắc quan trọng:

Thứ nhất: Chỉ nhìn bề ngoài thì không chuẩn. Người mặc vest chưa chắc đã là quý ông, người trông yếu đuối cũng có thể rất thâm trầm.

Thứ hai: Nhân tính rất phức tạp. Trong lòng mỗi người đều có mặt thiện và ác, biểu hiện cụ thể còn tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Thứ ba: Liệu có thể nhìn thấu một người hay không phụ thuộc vào góc độ bạn quan sát vấn đề và liệu tư duy của chính bạn có điểm mù hay không.

​Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều kỹ năng nhìn người có thể sử dụng:

- Tạo ra tình trạng khan hiếm nguồn lực hoặc tình huống cơ hội có hạn để xem cách đối phương phân chia nguồn lực.

- Từ từ tiết lộ bí mật cho đối phương, quan sát xem họ có giữ kín được không.

- Tìm hiểu kinh nghiệm quá khứ và vòng tròn xã hội của đối phương thông qua những lựa chọn quan trọng của họ trong 5 năm gần đây, cũng như loại hình và số lượng bạn bè để đánh giá tính cách thực sự.

- Quan sát thái độ của họ đối với nhân viên phục vụ, điều này cho thấy rõ nhất sự giáo dục thực sự của một người.

TnBS

Sunday, September 20, 2026

Khẩu nghiệp

 Miệng của bạn chính là vận mệnh của bạn 

Người bình thường dễ phạm nhất chính là “khẩu nghiệp”. Một người có vận mệnh tốt hay không, nhìn vào việc họ có giữ được “khẩu đức” hay không là có thể thấy rõ.

Vì vậy, khẩu nghiệp rất quan trọng. Cả đời một người có thể không làm chuyện thất đức mỗi ngày, nhưng lời nói thất đức, lời khó nghe, lời không đứng đắn thì rất có thể lại nói ra mỗi ngày.

Lâu dần tích tụ, phúc báo đều theo cái miệng mà trôi đi hết. Cho nên, người nói chuyện không có khẩu đức, cả đời thường cũng lận đận, khổ sở.

1. Miệng xấu đến đâu, mệnh khổ đến đó

Khẩu đức đối với bất kỳ ai cũng như vậy. Rất nhiều phúc báo đều bị chính lời nói làm hao tổn. Có người nói: “Tôi đâu có làm việc xấu gì đâu?” Nhưng phải biết rằng, khẩu nghiệp không tốt thì hao tổn phúc báo rất nghiêm trọng.

Người xưa nói: “Lời nói sinh ra từ tâm.” Nếu miệng cứ nói những điều không tốt, nói chuyện thị phi về người khác, hoặc nói lời nguyền rủa, thì phúc báo mất đi rất nhanh. Không chỉ nói thị phi, mà ngay cả nói xấu người lớn trong nhà, cũng là làm hao tổn phúc báo.

Có những người phụ nữ thích than phiền về chồng, nói chồng cái này không tốt, cái kia không tốt. Khi cãi nhau thì thậm chí chửi luôn cả cha mẹ, tổ tiên bên kia, lời gì khó nghe cũng nói ra.

Như vậy là tạo khẩu nghiệp rất nặng. Gia đình vì thế chỉ càng ngày càng nghèo đi, vì phúc báo đã bị chính lời chửi mà tiêu tán hết. Cho nên, cửa ải “khẩu nghiệp” này nhất định phải chú ý.

2. Miệng phải giữ đức, đừng cay nghiệt chua ngoa

Miệng phải giữ đức, đừng nói lời cay nghiệt, như vậy mới giữ được phúc báo. Vì sao lời nói có thể làm hao tổn phúc báo?

Phải hiểu rằng, phúc báo là do nhân duyên mà thành, là kết quả của nhiều yếu tố hòa hợp, cũng là một dạng biểu hiện của trường năng lượng.

Ví dụ, bạn đến chùa làm công quả, việc quét sân hay lau bàn có mang lại phúc báo không?

Không phải. Chính là tâm niệm mới mang lại phúc báo. Khi ta khởi tâm muốn lợi ích cho người khác, đi quét dọn, sắp xếp vệ sinh, là đang kết thiện duyên với mọi người.

3. Oán trách, than thân trách phận khiến phúc mất rất nhanh

Việc làm mất phúc báo cũng là do tâm mà ra. Khi trong lòng thiên về ích kỷ, thích oán trách, ganh tị, keo kiệt, tham lam, lãng phí… thì phúc báo sẽ dần bị tiêu hao. Phúc báo bị mất cũng là do tâm, rồi phối hợp với hành động mà thành.

Người hay oán trời trách người, không biết trân trọng những gì mình đang có, cứ than vãn không ngừng, lại còn dùng miệng nói ra mãi, thì lúc đó phúc báo mất đi rất nhanh.

4. Miệng nói lời tốt, tâm giữ điều thiện

Trong kinh Phật có nói: lời nói của Phật mềm mại, khiến người nghe vui lòng. Chúng sinh trong mười cõi nghe lời Phật đều hoan hỷ, đều được cảm hóa bởi lời nói ấy. Đó cũng là do Phật tu luyện qua nhiều đời, luôn nói lời yêu thương.

Miệng phải nói lời tốt, tâm phải giữ điều thiện, như vậy vũ trụ sẽ phát ra trường năng lượng tốt, và ta cũng nhận lại kết quả tốt.

Thế nào là tâm tốt? Trước hết là biết đủ và biết ơn.

Biết đủ là một biểu hiện của sự trưởng thành. Một người càng tu dưỡng, càng phải biết đủ. Đối với hoàn cảnh bên ngoài, luôn giữ tâm biết đủ và biết ơn, như vậy mới gọi là có tiến bộ.

5. Giữ lại chút khẩu đức cho mình

Hiểu người không cần nói hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại chút khẩu đức cho mình.

Trách người không cần quá mức, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại chút bao dung cho mình.

Có tài không cần khoe hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại chiều sâu cho mình.

Sắc bén không cần lộ hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại sự kín đáo cho mình.

Có công không cần nhận hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại sự khiêm nhường cho mình.

FB-Người bản lĩnh

Saturday, September 19, 2026

Ko phải người lớn là trưởng thành

 8 bí mật trần trụi về tiền bạc và quan hệ: Không nhìn thấu, cả đời làm quân cờ cho kẻ khác

1. Khi bạn nghèo, lời nói thật của bạn cũng thành lời nói dối; khi bạn giàu, lời nói đùa của bạn cũng được coi là chân lý. Đừng trách người đời thực dụng, hãy trách bản thân chưa đủ giá trị.

2. Cách nhanh nhất để thử thách một mối quan hệ là mượn tiền; cách nhanh nhất để hủy hoại một mối quan hệ là cho mượn tiền.

3. Trong thế giới của người trưởng thành, không có sự đồng cảm tự nhiên. Họ chỉ tôn trọng hai thứ: Năng lực áp đảo của bạn và lợi ích bạn mang lại cho họ.

4. Đừng bao giờ khoe khoang sự giàu có hay hạnh phúc trước mặt những người đang chật vật. Sự đố kỵ của con người là một thứ vũ khí vô hình nhưng có thể g/i.ế.t c/h.ế.t bạn bất cứ lúc nào.

5. Đối xử quá tốt với người khác mà không có nguyên tắc, họ sẽ không biết ơn bạn, họ chỉ nghĩ rằng bạn là kẻ dễ bắt nạt và việc bạn hy sinh là điều hiển nhiên.

6. Khi ai đó đột ngột đối xử tốt với bạn sau một thời gian dài lạnh nhạt, đừng vội mừng. Hãy kiểm tra xem họ đang cần nhờ vả bạn điều gì, hoặc bạn vừa có thứ gì đó để họ lợi dụng.

7. Kẻ đ/â.m sau lư:ng bạn đau nhất chưa bao giờ là kẻ thù, mà là người từng biết rõ mọi bí mật và điểm yếu của bạn. Giữ cái miệng lại là cách phòng vệ rẻ nhất.

8. Tiền không mua được hạnh phúc, nhưng tiền mua được sự tôn nghiêm và quyền lựa chọn. Khi bạn có tiền, bạn có quyền nói "Không" với những thứ mình ghét.

Tony BS st

Friday, September 18, 2026

Második világ: Jó viccek

10 truyện tiếu lâm hay nhất thời Xô-viết (Liên Xô) và Đông Âu

Giải nhất: Ba công nhân vừa bước vào nhà tù, hỏi nhau vì sao bị tù. Người thứ nhất: “Ngày nào tôi cũng đi muộn 10 phút, họ bảo tôi phạm tội phá hoại”. Người thứ hai: “Ngày nào tôi cũng tới sớm 10 phút, họ bảo tôi là gián điệp”. Người thứ ba: “Ngày nào tôi cũng đến đúng giờ, họ bảo tôi có đồng hồ ngoại”.


Sau đây là 9 giải còn lại:

2. Trong một túp lều ở thảo nguyên có một ông lão đang hấp hối.

Có tiếng gõ cửa dồn dập.

– Ai đấy? – ông lão hỏi.

– Thần chết, – có tiếng đáp.

– Lậy chúa tôi! – ông già nói – Cứ tưởng là KGB.


3. Báo Sự Thật nói rằng tất cả thư từ gửi tới tòa soạn đều được tiếp nhận một cách trọng thị. Người gửi cần ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình và của những người thân nhất trong gia đình.


4. Tại sao bao giờ KGB cũng đi thành nhóm 3 người? Trả lời: một người biết đọc, một người biết viết, người thứ ba có nhiệm vụ theo dõi hai tay có học đó.


5. Leonid Brejnev thăm chính thức Pháp. Người ta đưa ông thăm quan Paris. Ông được đưa đến Điện Élysée, nhưng cũng như mọi khi, mặt ông vẫn lạnh như tiền. Rồi người ta đưa ông đến viện bảo tàng Louvre, nhưng vẫn không ai thấy phản ứng gì. Rồi người ta đưa ông tới Khải hoàn môn, nhưng vẫn không thấy một tí biểu hiện nào trên nét mặt hết. Cuối cùng, đoàn xe đến tháp Eiffel. Brejnev vô cùng kinh ngạc. Ông ta quay sang những người dẫn đường Pháp và hỏi: “Này, ở Paris có đến 9 triệu người… Các vị chỉ cần một tháp canh thôi ư?”


6. Stalin quyết định vi hành quanh thành phố xem công nhân sống như thế nào, một lần ông ta bí mật ra khỏi Điện Cẩm Linh. Sau đó ông rẽ vào rạp chiếu bóng. Phim vừa hết thì quốc ca vang lên và trên màn ảnh xuất hiện hình Stalin. Tất cả đều đứng dậy và hát quốc ca, riêng Stalin vẫn tiếp tục ngồi, tỏ vẻ rất hài lòng. Rồi ông ta thấy một người ngồi phía sau ghé vào tai thì thầm: “Này đồng chí, tất cả chúng tôi đều cảm thấy y chang như anh, nhưng hãy tin tôi đi, đứng dậy sẽ an toàn hơn cho anh nhiều.”


7. Một công dân Liên Xô tiết kiệm đủ tiền mua ô tô. Sau khi trả tiền, người ta nói với anh là ba năm nữa sẽ được nhận xe.

– Ba năm nữa! – Anh ta nói – Tháng mấy?

– Tháng tám.

– Tháng tám à? Ngày mấy?

– Ngày 2 tháng tám.

– Buổi sáng hay buổi chiều?

– Buổi chiều. Mà chuyện gì vậy?

– Buổi sáng sẽ có một thợ sửa ống nước đến nhà tôi.


8. Tại sao các cựu sĩ quan Stasi lại là những người lái taxi thông thạo nhất ở Berlin? Vì anh chỉ cần nói tên là họ đã biết anh sống ở đâu rồi.


9. Moskva những năm 1970. Mùa đông giá rét. Có tin đồn là ngày hôm sau cửa hàng bán thịt số 1 sẽ có thịt.

Ngay hôm đó trước cửa hàng đã có hàng chục ngàn người với áo khoác ấm, giày cao cổ, rượu và bàn cờ đứng thành hành dài.

Lúc 3 giờ chiều một người bán thịt đi ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng không đủ thịt bán cho tất cả mọi người vì vậy mà dân Do Thái nên về nhà”.

Dân Do Thái nhẫn nhục bước ra khỏi hàng. Những người khác tiếp tục đợi.

Lúc 7 giờ tối người bán thịt lại bước ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng hóa ra là không có thịt vì vậy mọi người nên về nhà”.

Đám đông tản ra, vừa đi họ vừa lầm bầm: “Bọn Do Thái khốn nạn lúc nào cũng gặp may!”.


10. Sĩ quan KGB vào công viên và trông thấy một ông già đang cầm cuốn sách.

Người sĩ quan hỏi: “Ông già đang đọc gì đấy”.

Ông già đáp: “Tôi đang tự học tiếng Ivrit (tiếng Do Thái)”.

“Ông học tiếng Ivrit làm gì? Thị thực đi Israel phải chờ mấy năm lận. Ông sẽ chết trước khi làm xong giấy tờ”.

“Tôi học tiếng Ivrit để khi lên Thiên đàng tôi có thể nói chuyện với Abraham và Moise. Trên Thiên đàng chỉ nói bằng tiếng Ivrit thôi”.

“Thế nếu ông xuống địa ngục thì sao?” – Người sĩ quan hỏi.

“Tiếng Nga thì tôi biết rồi” – ông già trả lời. See less

Thursday, September 17, 2026

Đời người: Là tự chỉnh đốn để sống cân bằng

 BẢN NĂNG VÀ SỰ TRƯỞNG THÀNH

Nửa thân trên của phụ nữ là cám dỗ, nửa thân dưới lại là cạm bẫy. Nửa thân trên của đàn ông là sự tu dưỡng, nửa thân dưới lại là bản năng.

Nói cho bạn nghe, mười người đàn ông thì có đến chín kẻ háo sắc, điều này chẳng liên quan gì đến nhân phẩm. 

Mười người phụ nữ thì có đến chín người thực dụng, chỉ là ở những mức độ khác nhau mà thôi. 

Có "thất tình lục dục" thì mới được gọi là con người; không có, đó chỉ là vật vô tri vô giác. Nhưng kẻ nào có thể làm chủ được thất tình lục dục của mình, kẻ đó mới đích thị là nhân vật kiệt xuất.

Đàn ông có hai khao khát vô cùng mâu thuẫn: muốn kéo gái nhà lành vào chốn bùn nhơ, lại muốn khuyên gái bán hoa hoàn lương giải nghệ. Phụ nữ cũng có hai khao khát tương tự: thích bàn chuyện tiền bạc với người nghèo, lại thích bàn chuyện yêu đương với người giàu.

Phụ nữ cả đời chỉ thích hai kiểu đàn ông: kiểu thứ nhất là khi còn trẻ có nhiều tiền, kiểu thứ hai là khi đã già nhưng vẫn nhiều tiền. Còn đàn ông cả đời cũng chỉ thích hai kiểu phụ nữ: kiểu thứ nhất là thiếu nữ mang vẻ đẹp đằm thắm của thiếu phụ, kiểu thứ hai là thiếu phụ mang vẻ đẹp trong trẻo của thiếu nữ.

Nghe thì có vẻ phiến diện, nhưng háo sắc và thực dụng vốn là bản năng sinh tồn của con người.

Nếu bạn để lộ tài sản, kẻ tham lam sẽ rình rập. Nếu bạn để lộ nhan sắc, kẻ háo sắc sẽ dòm ngó. Nếu bạn để lộ sự chân thành, kẻ ích kỷ sẽ giẫm đạp lên nó.

Cái gọi là "yêu từ cái nhìn đầu tiên" chẳng qua là sự trỗi dậy nhất thời của thú tính. Cái gọi là "tình sâu nghĩa nặng" thực chất là sự cân nhắc kỹ lưỡng về lợi hại giữa đôi bên. 

Tình yêu vốn bắt đầu từ nhan sắc, chìm đắm bởi tài năng, chung thủy nhờ nhân phẩm, nhưng cuối cùng lại dễ chia ly vì vật chất và gục ngã trước hiện thực phũ phàng.

Vì vậy, đời người nhất định phải vứt bỏ ba thứ: Một là, Đôi giày không vừa chân.

Hai là, Người không có hình bóng bạn trong tim. Ba là, Những người bạn chỉ xã giao trên bàn nhậu.

Đồng thời, bạn phải sở hữu bằng được bốn điều cốt lõi:

- Sự tự tin hiển hiện trên khuôn mặt.

- Lòng lương thiện ẩn giấu trong tim.

- Khí phách chảy trong huyết quản.

- Sự kiên cường khắc sâu trong xương tủy.

Cùng với sự trưởng thành theo năm tháng, bạn sẽ nhận ra thế giới này ngày càng phức tạp, xã hội ngày càng thực dụng. Bạn sẽ nếm đủ mọi thăng trầm, nhìn thấu muôn hình vạn trạng của nhân sinh. 

Thế nhưng, nếu đi qua hết thảy những giông bão ấy mà sâu thẳm trong tim bạn vẫn giữ được một niềm tin, trong ánh mắt vẫn đọng lại sự trong trẻo, thì đó mới được xem là sự trưởng thành thực sự.

Giống như câu nói nổi tiếng: "Nếu bạn luôn toan tính, một sợi lông nhỏ rơi xuống cũng đủ làm bạn tổn thương. Nhưng nếu bạn biết buông bỏ và khoáng đạt, thì dù ngoài kia giông bão gầm rú, bạn vẫn an nhiên tự tại".

Đời người chính là sự cân bằng giữa việc nỗ lực hết mình và tùy duyên đón nhận. Hãy cứ chân thành sống hết mình và để mọi thứ thuận theo tự nhiên. 

Thế sự như bàn cờ, nhân tâm sâu tựa biển. Khi đã thấu suốt những góc khuất trần trụi về bản năng và danh lợi, bạn mới có thể sống thức thời để tự vệ, và giữ tâm khoáng đạt để an nhiên.

 (Bài được viết lại và thêm "mắm muối"

theo ý rao giảng của một triết gia về "Thất tình luc dục" của kiếp nhân sinh)

FB-Lê Thọ Bình

Tuesday, September 15, 2026

PHƯƠNG TÂY, KITÔ GIÁO VÀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN

 KHAI SÁNG HAY BÓC LỘT?

Lịch sử hiếm khi cho chúng ta một thế giới chỉ có hai màu. Một nền văn minh có thể tạo ra những tư tưởng mở đường cho tự do, đồng thời xây dựng những đế quốc dựa trên chinh phục và thống trị. Một thuộc địa có thể được xây trường học, đường sắt và cảng biển, trong khi người dân tại đó vẫn không có quyền quyết định tương lai chính trị của mình.

Có lẽ đây là một trong những nghịch lý quan trọng nhất khi nhìn lại lịch sử phương Tây.

Khi nhắc đến phương Tây, người ta thường nhớ đến Hy Lạp và La Mã, Kitô giáo, Phục Hưng, Cải cách Tin Lành, Cách mạng Khoa học, Khai sáng, cách mạng công nghiệp, nhà nước pháp quyền và những tư tưởng hiện đại về tự do, bình đẳng, quyền con người.

Những thành tựu ấy là có thật và có ảnh hưởng sâu rộng đến thế giới hiện đại.

Nhưng lịch sử phương Tây cũng bao gồm một mặt khác: những đế quốc thuộc địa, buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương, cưỡng bức lao động, chiếm đất đai và những cuộc chiến tranh để lại hậu quả kéo dài qua nhiều thế hệ.

Hai mặt ấy không tự động phủ định nhau.

Một nền văn minh có thể tạo ra những tư tưởng tiến bộ trong một thời kỳ và một lĩnh vực, nhưng đồng thời duy trì những quan hệ quyền lực rất bất bình đẳng ở nơi khác. Điều cần làm không phải là chọn một phía rồi xóa phía còn lại, mà là tìm hiểu vì sao những điều tưởng như mâu thuẫn ấy có thể tồn tại cùng lúc.

* Phương Tây chưa bao giờ là một khối thống nhất

Khi nói về chủ nghĩa thực dân, một cách đơn giản hóa thường gặp là đặt phương Tây, Kitô giáo và chủ nghĩa đế quốc vào cùng một khối.

Lịch sử châu Âu không vận hành như vậy.

Các quốc gia châu Âu từng cạnh tranh và chiến tranh với nhau. Công giáo, Tin Lành và các truyền thống Kitô giáo khác có những lịch sử riêng. Ngay bên trong các đế quốc thuộc địa cũng xuất hiện những người phản đối chế độ nô lệ, bảo vệ người bản địa và chất vấn tính chính đáng của việc chinh phục.

Vì thế, nói “Kitô giáo tạo ra chủ nghĩa thực dân” là quá đơn giản.

Nhưng nói tôn giáo hoàn toàn đứng ngoài quá trình thuộc địa hóa cũng không đúng với lịch sử.

Trong quá trình chinh phục châu Mỹ, ngôn ngữ về truyền giáo và Kitô hóa từng được sử dụng cùng với các lập luận pháp lý và chính trị để biện minh cho quyền cai trị. Đồng thời, chính bên trong truyền thống Kitô giáo lại xuất hiện những cuộc tranh luận rất sớm về quyền của người bản địa. Những nhân vật như Francisco de Vitoria và Bartolomé de Las Casas đã chất vấn tính chính đáng của việc chinh phục và đối xử với người bản địa.

Điều này cho thấy một điểm quan trọng: một hệ tư tưởng có thể vừa được sử dụng để biện minh cho quyền lực, vừa tạo ra những nguyên tắc để chất vấn chính quyền lực ấy.

Lịch sử Kitô giáo trong chủ nghĩa thực dân vì thế không phải một câu chuyện đơn tuyến.

* Một tuyến đường sắt có thể mang nhiều ý nghĩa

Ấn Độ thuộc Anh là một ví dụ điển hình.

Hệ thống đường sắt được xây dựng trong một cấu trúc thuộc địa và ban đầu phục vụ nhiều mục tiêu của chính quyền Anh: vận chuyển quân đội, củng cố kiểm soát lãnh thổ, kết nối vùng sản xuất với cảng biển và thúc đẩy thương mại. Các tài liệu và nghiên cứu về đường sắt thuộc địa cho thấy yếu tố quân sự, thương mại và quản trị đều đóng vai trò trong việc xác định mạng lưới này.

Nhưng nếu từ đó kết luận rằng đường sắt chỉ là công cụ bóc lột thì cũng chưa đủ.

Nghiên cứu kinh tế của Dave Donaldson cho thấy đường sắt làm giảm mạnh chi phí vận tải và thúc đẩy thương mại liên vùng cũng như thương mại quốc tế của Ấn Độ.

Nói cách khác, một hạ tầng có thể được xây dựng trong một quan hệ quyền lực bất bình đẳng nhưng vẫn tạo ra những hiệu quả kinh tế và xã hội vượt ra ngoài mục đích ban đầu của người xây dựng.

Điều cần phân biệt là giá trị của công trình với cách người dân bị cai trị và đối xử trong chế độ đã xây dựng công trình đó.

Một tuyến đường sắt hữu ích không biến chế độ thuộc địa thành công bằng. Nhưng sự tồn tại của chế độ thuộc địa cũng không khiến mọi công trình được xây dựng trong thời kỳ ấy trở nên vô giá trị.

Lịch sử thường phức tạp chính ở điểm đó.

* Khi một con số lớn đi vào lịch sử

Những tranh luận về Ấn Độ thuộc Anh trở nên đặc biệt gay gắt khi các nghiên cứu đưa ra những ước tính rất lớn về tử vong và tổn thất kinh tế.

Một nghiên cứu của Dylan Sullivan và Jason Hickel, công bố năm 2023, đặt ra một câu hỏi: Trong thời kỳ Anh cai trị, số người chết ở Ấn Độ cao hơn bao nhiêu so với mức có thể xảy ra nếu tỷ lệ tử vong vẫn ở mức thấp hơn?

Để tính toán, các tác giả lấy tỷ lệ tử vong trung bình của Ấn Độ trong những năm 1880 làm cơ sở. Họ dùng tỷ lệ này để ước tính xem, trong những năm sau đó, nếu tỷ lệ tử vong vẫn giữ ở mức ấy thì sẽ có khoảng bao nhiêu người chết. Sau đó, họ đem con số này so với số người chết thực tế.

Theo cách tính đó, trong giai đoạn 1881–1920, có khoảng 50 triệu người chết nhiều hơn con số được ước tính theo mức làm cơ sở.

Nhưng nếu thay bằng một cách tính khác, sử dụng tỷ lệ tử vong trung bình ở Anh trong thế kỷ XVI–XVII làm cơ sở, số người chết vượt mức được ước tính lên tới khoảng 165 triệu người.

Nói đơn giản, các nhà nghiên cứu đang so sánh hai con số: số người chết thực tế và số người đáng lẽ có thể chết nếu tỷ lệ tử vong ở mức được chọn để làm cơ sở. Phần chênh lệch giữa hai con số là số người chết vượt mức.

Hai con số 50 triệu và 165 triệu vì thế không phải là số người được xác định trực tiếp là đã chết vì người Anh giết họ. Đó là hai kết quả ước tính, dựa trên hai cách chọn mức để so sánh. Cách chọn mức nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuối cùng.

Dù vậy, nghiên cứu vẫn đưa ra một nhận định đáng quan tâm: theo cả hai cách tính, số người chết ở Ấn Độ trong thời kỳ này đều được ước tính là cao hơn rất nhiều so với mức dùng để so sánh.

Chính vì vậy, câu nói “Anh đã giết 165 triệu người Ấn Độ” thường được lan truyền trên mạng cần được sử dụng thận trọng. Nó biến một ước tính về tử vong vượt mức thành một con số người được cho là đã bị giết trực tiếp, trong khi nghiên cứu không đưa ra kết luận như vậy.

Điều quan trọng hơn nằm ở chỗ: những con số thống kê lớn có thể cho chúng ta thấy quy mô của một vấn đề, nhưng tự chúng chưa đủ để giải thích vì sao những người đó chết và trách nhiệm thuộc về đâu.

Muốn trả lời câu hỏi ấy, cần đi sâu hơn vào những điều cụ thể như lương thực, giá cả, thu nhập, dịch bệnh, chiến tranh, chính sách thương mại và cách chính quyền thuộc địa phản ứng trước khủng hoảng.

Nạn đói Bengal năm 1943 là một trường hợp tiêu biểu để nhìn rõ vấn đề này.

* Khi có lương thực mà con người vẫn chết đói

Amartya Sen, trong Poverty and Famines, đã đưa ra một cách tiếp cận có ảnh hưởng lớn đối với nghiên cứu nạn đói.

Thay vì chỉ hỏi xã hội có bao nhiêu lương thực, ông chú ý đến khả năng tiếp cận lương thực của từng nhóm dân cư: thu nhập, việc làm, giá cả và khả năng trao đổi những gì họ có để lấy thực phẩm.

Trong nghiên cứu của Sen, con số tử vong được dẫn khoảng 1,5 triệu trong phạm vi dữ liệu mà ông sử dụng. Các nghiên cứu sau đó đưa ra những ước tính khác nhau, thường cao hơn, cho thấy quy mô tử vong của nạn đói Bengal vẫn phụ thuộc vào cách xác định thời kỳ và phương pháp thống kê.

Điều quan trọng trong lập luận của Sen không phải là tìm một con số duy nhất.

Ông muốn chỉ ra rằng nạn đói không nhất thiết xảy ra chỉ vì xã hội không có đủ lương thực. Một nhóm dân cư có thể mất khả năng mua hoặc tiếp cận lương thực ngay cả khi tổng nguồn cung không giảm tương ứng.

Đối với Bengal năm 1943, chiến tranh, mất nguồn cung từ Miến Điện, biến động giá cả, thị trường, phân phối và chính sách của chính quyền thuộc địa đều cần được đặt trong cùng một bức tranh.

Điều này giúp chúng ta nhìn nạn đói theo một cách rộng hơn: không chỉ là vấn đề sản lượng, mà còn là vấn đề quyền tiếp cận nguồn lực và trách nhiệm của những người có quyền quyết định.

* 45 nghìn tỷ USD nói lên điều gì?

Một con số khác thường xuất hiện trong tranh luận về thuộc địa Anh tại Ấn Độ là 45 nghìn tỷ USD.

Nhà kinh tế học Utsa Patnaik đưa ra ước tính về “drain of wealth” – dòng chuyển nguồn lực khỏi Ấn Độ – trong giai đoạn 1765–1938. Cách tính của bà lấy thặng dư xuất khẩu của Ấn Độ làm cơ sở rồi áp dụng lãi suất cộng dồn 5%, từ đó tính ra khoảng 9,2 nghìn tỷ bảng Anh, tương đương khoảng 45 nghìn tỷ USD theo cách quy đổi của bà.

Điều cần nói rõ là 45 nghìn tỷ USD không phải số tiền mặt mà Anh đã lấy khỏi Ấn Độ rồi chuyển nguyên vẹn về London.

Đó là một giá trị được tạo ra từ một phương pháp tính toán cụ thể.

Vì thế, tranh luận sẽ có ý nghĩa hơn nếu đi vào cơ chế tạo ra và chuyển dịch nguồn lực thay vì chỉ tập trung vào con số 45 nghìn tỷ USD. Cần xem nguồn lực được tạo ra từ đâu, phần thặng dư của Ấn Độ được chuyển đi bằng những cơ chế nào, ai kiểm soát hoạt động thương mại và quyết định nguồn lực đó được sử dụng ra sao. Quan trọng hơn, người dân Ấn Độ có quyền quyết định đến đâu đối với những nguồn lực được tạo ra từ chính nền kinh tế của họ.

Ngay cả khi không chấp nhận toàn bộ phương pháp tính của Patnaik, vấn đề mà nghiên cứu đặt ra vẫn đáng được xem xét: trong một nền kinh tế thuộc địa, ai kiểm soát nguồn lực, ai quyết định cách sử dụng chúng và lợi ích cuối cùng thuộc về ai?

Vì vậy, giá trị của một con số lớn đôi khi không nằm ở việc nó có thể được dùng để kết luận bao nhiêu tiền đã bị lấy đi, mà ở chỗ nó buộc chúng ta nhìn sâu hơn vào cấu trúc quyền lực chi phối dòng tiền, hàng hóa và nguồn lực trong xã hội thuộc địa.

* Có một đường thẳng từ chủ nghĩa thực dân đến Hitler?

Một trong những tranh luận khó hơn là mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự hình thành của chủ nghĩa Quốc xã.

Cuộc diệt chủng người Herero và Nama tại Tây Nam Phi thuộc Đức đầu thế kỷ XX thường được đưa vào cuộc tranh luận này. Nhiều sử gia xem đây là một trường hợp quan trọng để nghiên cứu bạo lực thuộc địa, tư tưởng chủng tộc và những khả năng tiếp nối trong lịch sử Đức.

Benjamin Madley lập luận rằng kinh nghiệm của Đức tại Tây Nam Phi đã góp phần hình thành một số tư tưởng và thực hành mà chủ nghĩa Quốc xã về sau tiếp nhận và phát triển.

Nhưng không phải tất cả học giả đều chấp nhận một đường nối trực tiếp từ Tây Nam Phi đến Holocaust.

Patrick Bernhard, chẳng hạn, cho rằng khi Đức Quốc xã xây dựng các kế hoạch thuộc địa hóa Đông Âu, họ đặc biệt tham khảo kinh nghiệm của phát xít Ý tại châu Phi. Một số nghiên cứu khác lại nhấn mạnh rằng việc đồng nhất cuộc diệt chủng Herero–Nama với Holocaust có thể làm mất đi những khác biệt quan trọng về bối cảnh, tư tưởng và cơ chế bạo lực.

Điều này không có nghĩa giữa chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa Quốc xã không tồn tại bất kỳ mối liên hệ nào.

Nó chỉ có nghĩa rằng mối liên hệ lịch sử không đồng nghĩa với một chuỗi nhân quả duy nhất.

Chủ nghĩa Quốc xã còn hình thành từ chủ nghĩa bài Do Thái, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tư tưởng chủng tộc, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa bành trướng và những điều kiện chính trị đặc thù của nước Đức sau Thế chiến I.

Lịch sử tư tưởng thường không đi theo một đường thẳng. Những ý tưởng có thể được vay mượn, biến đổi, kết hợp với những ý tưởng khác rồi xuất hiện trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới.

* Kitô giáo nằm ở đâu trong câu chuyện này?

Kitô giáo cho thấy rõ nhất sự phức tạp của lịch sử phương Tây.

Trong nhiều thế kỷ, các truyền thống Kitô giáo góp phần vào giáo dục, nghệ thuật, triết học, hoạt động từ thiện và đời sống xã hội châu Âu.

Nhưng tôn giáo cũng từng gắn với quyền lực chính trị và được sử dụng để biện minh cho một số hoạt động chinh phục và truyền giáo.

Điều đáng chú ý là sự phản biện cũng xuất hiện từ chính bên trong truyền thống ấy.

Tại Tây Ban Nha thế kỷ XVI, các tu sĩ và học giả Kitô giáo đã tranh luận gay gắt về quyền của người bản địa tại châu Mỹ. Francisco de Vitoria và Bartolomé de Las Casas phản đối nhiều lập luận dùng để biện minh cho việc chinh phục và nô dịch người bản địa, dù lập trường của họ cũng không hoàn toàn giống nhau và vẫn nằm trong giới hạn tư tưởng của thời đại.

Điều này cho thấy không thể xem Kitô giáo như một chủ thể duy nhất.

Tôn giáo có thể cung cấp ngôn ngữ để biện minh cho quyền lực, nhưng cũng có thể cung cấp những nguyên tắc để chất vấn quyền lực.

Hai khả năng ấy có thể tồn tại trong cùng một truyền thống.

* Một nền văn minh có thể tự mâu thuẫn

Thực ra, đây không phải vấn đề riêng của phương Tây.

La Mã xây dựng một truyền thống pháp luật có ảnh hưởng sâu rộng nhưng vẫn duy trì chế độ nô lệ.

Các xã hội Kitô giáo đề cao tình yêu thương nhưng từng tiến hành chiến tranh nhân danh tôn giáo.

Các đế quốc châu Âu nói về văn minh trong khi cai trị những dân tộc mà họ cho rằng chưa đủ văn minh để tự quyết định vận mệnh của mình.

Các quốc gia hiện đại nói về quyền con người nhưng trong lịch sử vẫn từng tiến hành chiến tranh, đàn áp và phân biệt đối xử.

Điều này không nhất thiết khiến những lý tưởng ấy trở thành giả dối.

Nó cho thấy một vấn đề sâu hơn: Con người có thể tin vào một lý tưởng và đồng thời hành động trái với chính lý tưởng ấy.

Thậm chí, lý tưởng đôi khi còn có thể trở thành ngôn ngữ để quyền lực tự biện minh.

Một trường học có thể mở ra tri thức, nhưng cũng có thể phục vụ chính sách đồng hóa.

Một hệ thống luật pháp có thể bảo vệ quyền con người, nhưng trong một xã hội thuộc địa, luật pháp có thể được áp dụng theo những tiêu chuẩn khác nhau đối với người cai trị và người bị cai trị.

Một tuyến đường sắt có thể phục vụ lợi ích thương mại và quân sự của đế quốc, đồng thời trở thành hạ tầng quan trọng cho xã hội sau thuộc địa.

Những điều ấy không xóa bỏ lẫn nhau.

Chính sự tồn tại đồng thời của chúng mới là điều lịch sử cần giải thích.

* Phương Tây là khai sáng hay bóc lột?

Đến đây, có lẽ chính câu hỏi ban đầu đã trở nên quá chật.

Nếu chỉ nhìn phương Tây như một nền văn minh khai sáng, chúng ta sẽ khó giải thích được chủ nghĩa thực dân, chế độ nô lệ và những bất bình đẳng từng tồn tại trong các đế quốc châu Âu.

Nhưng nếu chỉ nhìn phương Tây như một nền văn minh bóc lột, chúng ta cũng sẽ không giải thích đầy đủ nguồn gốc của khoa học hiện đại, đại học, pháp quyền, những tư tưởng về tự do và những phong trào chống lại chính các bất công đã tồn tại trong lòng phương Tây.

Điều tương tự cũng đúng với Kitô giáo.

Không thể lấy hành động của một đế quốc để đại diện cho toàn bộ Kitô giáo. Nhưng cũng không thể dùng những đóng góp của Kitô giáo cho giáo dục, nghệ thuật hay triết học để xóa bỏ những thời kỳ tôn giáo gắn với quyền lực chính trị và thuộc địa.

Lịch sử vì thế không phải một phiên tòa trong đó chúng ta phải tuyên bố một nền văn minh hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu.

Nó cũng không phải bảng thành tích để các nền văn minh được cộng điểm rồi trừ điểm.

Điều quan trọng hơn là hiểu quyền lực đã vận hành như thế nào.

Một nền văn minh có thể tạo ra những tư tưởng về phẩm giá con người nhưng đồng thời phủ nhận phẩm giá ấy đối với những người nằm ngoài cộng đồng chính trị của mình.

Một nhà nước có thể xây dựng hạ tầng, trường học và pháp luật nhưng vẫn duy trì một cấu trúc trong đó những người được cai trị không có quyền bình đẳng quyết định tương lai của chính họ.

Một tôn giáo có thể truyền bá những nguyên tắc về tình thương và phẩm giá con người, nhưng những người nhân danh tôn giáo ấy vẫn có thể sử dụng quyền lực theo cách trái ngược với các nguyên tắc đó.

Đây không phải nghịch lý chỉ thuộc về quá khứ.

Nó là một vấn đề thường trực của lịch sử con người.

Một nền văn minh cần được nhìn qua những gì nó tạo ra, nhưng cũng phải được nhìn qua cách nó sử dụng quyền lực đối với những người có ít khả năng chống lại quyền lực ấy.

Nhìn như vậy, câu chuyện về phương Tây và chủ nghĩa thực dân không còn là cuộc lựa chọn giữa “khai sáng” và “bóc lột”.

Nó trở thành một câu hỏi rộng hơn về con người: Làm thế nào một xã hội có thể tạo ra những tư tưởng rất cao đẹp, nhưng vẫn sử dụng quyền lực theo những cách đi ngược lại chính những tư tưởng ấy?

Và quan trọng hơn, một nền văn minh có khả năng nhận ra mâu thuẫn đó và tự sửa mình đến đâu?

Có lẽ đó mới là bài học đáng giữ lại khi nhìn vào lịch sử phương Tây.

Không phải để phủ nhận những thành tựu của nó.

Cũng không phải để biện minh cho những gì nó từng làm.

Mà để hiểu rằng văn minh không chỉ được đo bằng những gì một xã hội xây dựng được, mà còn bằng giới hạn mà xã hội ấy đặt ra cho quyền lực của chính mình.

Ảnh: Xây dựng tuyến đường sắt Bombay–Poona, Ấn Độ, thập niên 1860

David Phung (Nghiên cứu lịch sử)

Saturday, August 15, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (5)

Quảng trường Vörösmarty là một trong những nơi để lại nhiều kỷ niệm với những người bạn của tôi, nơi có tiệm bánh ngọt đẹp nhất thế giới của HTB. Hoàng tử tự hứa sẽ viết về Vörösmarty téri cukrászda, như một giấc mơ đã nằm trong tay mình. Nhưng cậu ta đã lừng chừng trong nhiều năm, cho đến khi quyết định "bây giờ hoặc không bao giờ", cuối cùng hắn cũng làm được điều mình muốn: viết tặng cho Magdi và các bạn của mình câu chuyện này bằng tiếng Hung và tiếng Việt.

"Quảng trường Vörösmarty nằm ở cuối phố Váci útca, một bên có lối đi ra khách sạn Duna Kontinentál phía bờ sông Duna, bên kia có lối đi bộ ra quảng trường Deák là bến xe bus liên tỉnh. Ở phố Váci útca và quảng trường Vörösmarty, người ta chỉ đi bộ. Không có bất cứ một phương tiện cơ giới nào chạy qua quảng trường, ngoại trừ tàu điện ngầm chạy trong lòng đất, cửa ga ra quảng trường trông giống như một cái hàng rào của nhà ai đó. Quảng trường Vörösmarty luôn có rất nhiều chim bồ câu. Ngày nắng, ngồi phơi nắng giữa quảng trường, nhìn người tất bật đi lại một cách lười biếng, cảm giác rất tuyệt. Xung quanh quảng trường có các tòa nhà cổ kính, có thể nhìn không chán mắt và tưởng tượng ra nhiều câu chuyện về số phận và cuộc đời, đan chen rồi lại rời xa.

Vörösmarty tér a Váci útca végén van, az egyik oldalán egy keskeny járat a Duna Kontinentál szállodába vezet, a másikon egy kis ustca nyilik a Deák Ferenc terére, ahol buszok várják a vidéki utazókat. A Váci útcán és a Vörösmarty terén csak gyalogon járnak. Nem mukodik bármilyen mechnikai járgány a tér teruletén, kivéve a foldalatti villámosok, amik mélyen a tér alatt jonnek és mennek. A foldalatti megálónak kijárata a tér kozepén van és úgy néz ki mint valamilyen háznak a kerítése. A Vörösmarty téren nagyon sok galamb van. Egy napos napon, a téren lustálkodva heverve a napsutésben és bámulva a sieto utazókra, egy olyan gyonyoru érzést tapasztalhat az ember. A tér kornyékén régi stilusú épuletek vannak, amelyekre soha nem únva bámulhatsz és kiképzelhetsz emberi sorsokat, életeket és torténeteket, amelyek átszonik egymást és távoznak egymástól.

Quán bánh ngọt là tầng dưới của một tòa nhà cổ chiếm hẳn một phía quảng trường, trước nhóm tượng đài vừa là đài phun nước, ở một góc nhìn đẹp nhất. Đây là quán bánh ngọt đẹp nhất Hungari và cũng là quán bánh ngọt đẹp nhất thế giới mà tôi đã từng biết. Đối với tôi quán bánh ngọt này có không ít kỷ niệm. Với tôi, quán bánh ngọt này chính là Budapest. Những khi nghĩ về Budapest, tôi lại nhớ đến quán bánh ngọt này. Nằm mơ về Budapest, cũng thấy quán bánh ngọt này. Chắc hẳn Bình "to" và Khánh còn có thể nhớ được cái quán bánh ngọt này, nơi ba chúng tôi đến đây lần đầu tiên, và đã ăn ngô luộc "fozott kukorica" bán rong gần trước cửa quán, ở trước cửa lối rẽ xuống đường metro. Ngô luộc của Hung vừa dẻo vừa ngọt, lại không non quá như ngô Mỹ nên có vị đậm đà thơm hơn, có thể ăn vài bắp không chán. Rồi chúng tôi mua kem để ăn ở quán bánh ngọt này. Chúng tôi thường chọn loại vị punch, màu hồng có vị hơi chua chua. Khánh chọn cho tôi, tôi không sành về kem. Đối với tôi, cảm giác mát lạnh của kem là quan trọng hơn cả.

A cukrászda egy régi épulet foldszintjén van, amely a tér az egyik oldalát foglalja, egy szobor-szokokút elott, a legszebb kilátással. Ez a Magyarország legszebb cukrászdája, és állitólag egyben a világ legszebbje is, legalább a tudásom szerint. Nekem ez a cukrászda orzott sok jó emléket. Bennem ez a cukrászda a Budapest jelképe. Az álmaimban a Budapestrol mindig látom a Vörösmarty téri cukrászdát. Egykori haveraim, "Nagy" Binh és Khanh, biztosan még emlészenek erre a cukrászdára ahol amikor mentunk oda eloszor ettunk fozott kukoricát, amit árultak a cukrászda mellet, a foldalatti bejárat irányában. A magyar fozott kukoricának jobb ize mint az amerikainak, mi gyakran fogyasztottunk jó néhány darabot. Utána veszunk fagyit a cukrászdában. Gyakran kértunk a puncsot, egy rózsszinu és enyhén savanyú fagyi fajtája. Khanh választott nekem, mert nem voltam nagy fagyi szakértoje. Nekem a fagyi huvossége a legfontosabb nem az ize.

Gerbeaud Kávéház

Rồi năm thứ năm đại học, về ở Budapest, tôi cũng thường ghé qua quán bánh ngọt này thường xuyên hơn, khi thì đi cùng với Khánh, Bình, khi thì với Ánh, khi thì một mình trước khi về ăn cơm ở nhà ăn của trường ELTE với Nhân ở đầu cầu Erzsébet, ở cuối bên kia của Váci útca. Tên Ánh thì thích học cách chơi sang, thường hay gọi một ly Martini gì đó, uống mãi chẳng hết. Bình "to", Khánh và tôi vẫn chén ngô, ăn kem hoặc uống coca cola cho nó bình dân và ngon thực sự.Một vài lần, tôi cũng hẹn Magdi đến đây. Nàng gọi một chai bia gì đó, không phải của Hung, hai đứa uống chung. Tôi cũng gọi thêm hai suất bánh ngọt. Bánh ngọt ở đây có nhiều loại làm rất tuyệt, không ngọt quá.

       Az egyetem otodik évében, Budapesten diploma munkáztam KFKI-ben és néhány tantárgyat hallgattam ELTÉN, tobb alkalmom volt a cukrászdát látogatni, néha Khanhhal és Binnhel, néha Ánnhal, náha egyedul az ebéd elott Nhannal, az ELTE menzán az Erzsébet hídfonél a Vasci útca másik végén. Ánh szeretett tanulni a luxus életmódot, gyakran parancsolt egy Martinit egy sárga citrom szelettel, de soha nem végzett el az ivással. Én, "nagy" Binh és Khánh  mindig fozott kukoricat és fagyit ettunk kolával jóizuen.  Úgy emlékszem hogy egy kétszer jottem Magdi-val. Egy sort kért és egyutt ittunk. Két torta adagot is kértem. Sok torta fajtája van a cukrászdában, mesterien készítve, és foleg nem túl édes.

       Lần thứ hai trở lại Hung, tôi trở lại quảng trường này cùng vợ con vào một ngày lạnh. Bé Fanni mới ba tuổi. Chúng tôi cũng ăn ngô luộc, bánh ngọt và kem punch. Fanni chạy theo đàn bồ câu trên quảng trường. Bầu không khí thật êm đềm hạnh phúc và đột nhiên tôi rất nhớ những người bạn cũ và những năm đi học. Ánh vẫn ở Budapest, nhưng chúng tôi không còn thời gian cho nhau, để cùng ngồi trước một ly Martini, chia nhau ăn một cái bánh ngọt như ngày xưa. Không rõ chúng tôi đang vội vã đi đâu hay đi về cuối đường đời. Và vội để làm gì, khi kết cục đều như vậy, không có gì mới lạ hấp dẫn. Vài lần, trong năm đầu, tôi cũng có dịp gặp Magdi tại đây. Nàng ở cách đấy vài bến tàu điện nên đến hẹn đến cũng tiện. Chúng tôi cũng uống cùng một chai bia, nhấm nháp một lát bánh ngọt, nói những chuyện không đầu không đuôi, đôi khi ngồi yên, chẳng nói gì, cùng nhấm nháp không khí trên quảng trường, nắng trên khung cửa, và căn phòng lớn, trang trí với những đồ gỗ của mấy thế kỷ trước với những chùm đèn pha lê uy nghi.

         Amikor Magyarországra jottem másodszor, elvittem feleségemet és kis lányom, Fannit a Vörösmarty terre egy hideg napon. Kis Fannikám három éves volt. Ettunk fozott kukoricát, tortát és fagylaltot. Fanni futott lelkesen a galambok után a téren. A légkor nagyon békés és boldog volt és hirtelenul nagyon sokat hiányoztak a régi barátok és diák kori évek. Ánh Budapesten volt, de nem volt idejunk egymásnak, hogy egyutt ulhessunk egy Martini elott, vagy osztozzunk egy tortát mint régen. Nem világos volt hogy hová siettunk, vagy egyszeruen csak az élet végére. Minek a sietés, amikor ugyanaz a vég lesz,  nincs bármilyen izgamas meglepetés. Az elso évben, Magdival találkoztam néhányszor. Magdi csak  néhány villámos megálóval lakott a Vörösmarty tértol, így konnyu volt neki jonni a találkozásunkra. Ittunk egyutt egy sort, bele kóstoltunk a régi torták ízébe, beszéltunk a kezdet and vég nélkuli dolgokról. Néha csak halgattunk, élvezve a Vörösmarty teri légkort, az ablakon átszuro napsugárt és az a nagy termet diszítve a múlt évszázadok bútoraival és a tekintélyes kristályos csillárokal.

     Nhưng rồi, cuộc sống thời đó trôi qua hối hả. Chúng tôi cũng không còn thời gian cho nhau. Cũng chẳng biết với thời gian đó, chúng tôi làm được gì hơn cho đời, cho mình. Rồi tôi sắm được xe hơi, ít khi có dịp đi bộ để trở về Quảng trường Vörösmarty. Đôi khi, có việc lái xe đi qua khách sạn Duna hoặc quảng trường Deák tôi cố nghển cổ nhìn về hướng quảng trường Vörösmarty để mường tượng lại quán bánh ngọt đẹp tuyệt vời và hình ảnh Bình, Khánh, Ánh, Nhân ngày xưa. Tất nhiên tất cả chỉ là ảo ảnh, tưởng tượng.  Hiện thực rất dễ dàng đạt được đó chỉ cách vài bước chân. Nhưng luôn có một khó khăn vô hình đẩy chúng ta ra xa cuộc gặp với những hoài niệm cũ. Mặc dù đôi lúc giấc mơ hiện thực đến mức không phải cố gắng gì. Nhưng người ta vẫn ngại ngùng làm một việc nhỏ xíu, để nó cứ mãi nằm trong mơ tưởng và nuối tiếc. Có lẽ điều cản trở lớn nhất là sự lười biếng. Tôi cũng không rõ lười biếng và già cỗi, cái nào là nguyên nhân của cái nào. Cũng như một lần tôi đã nói với một người bạn vong niên về ước mơ có một ngày nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn trời xanh và mây trắng thỏa thích. Người bạn đó nghi ngờ đó là một ước mơ thực sự vì thực hiện giấc mơ đó không hề mất gì. Thế rồi mấy chục năm trôi qua, cái ước mơ đó vẫn chỉ vẫn là ước mơ. Con người cũng thật kỳ lạ, luôn tự trói buộc mình, hoặc ngại ngùng với những ràng buộc vô hình.

     De utána, az akkori élet rohant sok kulonbozo eseménnyel. Nem volt tobbé idonk egymásnak. Most már nem igazán tudom hogy azt az idot használva mit tehettunk magunknak vagy az életnek. Nekem elég pénzt sikerult keresnem hogy egy autokocsit vehettem, nem volt tobbé alkamam gyalogolni hogy viszalátogathassam a Vörösmarty teret. Néha dolgom volt arra felé, akkor vezettem autót a Duna Kontinentál szálloda vagy Deák tér mellett, probáltam felemelni a nyakomat és igyekeztem nézni a Vorosmarty tér felé, és hiába képzeltem el a régi cukrászdát a régi Binh, Khanh, Anh, Nhan,.... barátaimmal. De minden csak elképzelés volt. A nagyon konnyen elérheto valóság csak néhány lépéssel tovább van. De mindig valami láthatatlan nehézség taszított el bennunket a régi emlékekkel való találkozástól. Akár néha az álom olyan reális, nem túl sok eroltetés kell hozzá. De az ember tétovázik egy kis igyekvéssel, így az álom orokké egy álom maradt az orok sajnálatban. Talán legnagyobb akadály a lustaságunk. Nem tudom lustaság és és oregedés melyik az oka a melyiknek. Egyszer mondtam egy barátomnak hogy azt akarom hogy van egy teljes napom, nem csinálnék semmit csak bámulnék a kék égre és a fehér felhore. A barátom nagyon kételkedett hogy az az igazi álmom, mert annak az álomnak megvalósitása nem kerul semmibe. Évek teltek el, de az álom tényleg mindig csak egy álomnak marad.  Az ember olyan furcsa, mert mindig koti le magát, vagy tétovázik a láthatatlan kotésekkel.

     Trước khi rời Hungari đi Mỹ không lâu, tôi nhớ còn có dịp gặp Magdi tại quán bánh ngọt này. Nàng vẫn gọi chai bia và nói một câu đã nói bao nhiêu lần "Iszunk egyutt egy sort, jó?". "Chúng mình uống chung một chai bia, được không?" Tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt, một trắng (vanila) một đen (sô cô la). Trên bánh trắng là một lớp caramel vàng, thơm vị chanh, trên bánh đen là một lớp kem trắng muốt thơm mùi hồ đào. Chúng tôi vẫn im lặng ăn, thưởng thức không khí xưa cũ đặc quánh, với một linh cảm, bầu không khí tĩnh lặng hàng chục năm này sắp biến đổi. Chúng tôi chia tay nhau, như thể rồi sẽ gặp lại sau vài hôm, mặc dù biết thời gian trước mắt sẽ dài đằng đẵng, mỗi người đi trên con đường riêng của mình, rất khó lòng tìm lại một điểm giao nhau để gặp lại. 

         Roviden az Amerikába való távozás elott, úgy emlékszem hogy Magdival találkoztam a Vörösmarty teri cukrászdában. Mindig egy sort kért és mondta ugyanazt a mondatot, mit már tobbszor is mondott "Iszunk egy sort, jó?". Én is mindig ketto tortát kértem, egy fehér (vaniliás) és egy sotét barna (csokoládé). A fehér tortán volt egy sárga, citrom izu cukor réteg, a sotét barna tortán pedig volt egy hó fehér krém réteg a dió illattal. Csendesen fogyasztottunk, élvezve a régi surített légkort, egy jovore szóló érzéssel hogy ez a nem változott régi csendes hangulat a változásra készult. Elkoszontunk egymástól, mintha találkozni fogunk néhány nap után, bár tudtuk hogy nagyon hosszú távolét várt, egyikunk a saját utját fogja menni, és nagyon nehéz lesz visza találni egy metszo pontot, hogy viszaláthassuk egymást

        Cũng may, mười lăm năm sau, chúng tôi đã gặp lại nhau. Tôi đến Budapest từ Viên, chỉ có đúng một ngày. Chúng tôi hẹn gặp, tại bến metro ga Keleti. Chúng tôi thấy nhau, mỉm cười, và tiến lại gần nhau, không vội vã, không quá đon đả, như một đôi bạn vẫn thường gặp nhau hàng tuần, từ hàng chục năm. Sau khi cùng đi bộ lang thang trên đường Budapest hàng tiếng đồng hồ, chúng tôi chợt thấy mình đang đi trên quảng trường Vörösmarty. Không ai bảo ai, chúng tôi đi về phía quán bánh ngọt. Quán bánh ngọt được trang hoàng lộng lẫy hơn mang một tên mới lạ lẫm, nhưng vẫn còn phảng phất chút phong vị ngày xưa. Magdi lại gọi một chai bia, tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt. Câu chuyện lặp lại y nguyên như cũ, đến mức có lúc tôi tưởng mấy chục năm vừa qua biến mất, nàng mới gọi bia và tôi mới gọi bánh ngọt ở lần đầu. Bia rót ra cốc, nàng cười và nâng ly "Szia" (Chào anh). Tôi không còn thói quen chào hỏi khi uống, nhưng còn nhớ người Hung uống bia không bao giờ cụng ly, nên chỉ cười và uống cạn cốc bia lạnh. Chúng tôi nhẩn nha nhấm nháp xong hai suất bánh ngọt cùng hai ly cà phê rồi đứng dậy. Có cảm giác chúng tôi đã ngồi đó suốt  mấy chục năm vừa qua. Khi đứng dậy, xung quanh đều đã có chút đổi thay.

     Szerencsésen, tizenot év után, találkoztunk még egyszer. Bécsbol jottem Budapestre, és csak egy szabad napom volt. Keleti pályaudvari metró volt a találkozásunk a helye. Láttuk egymást és mosolyogva kozelkedtunk egymáshoz, nem túl sietve, nem túl lelkesen, mintha mindig találkoztunk volna minden heten,  évek óta. Néhány órás sétáltunk a budapesti útcákon és hirtelenul felfedeztuk hogy Vörösmarty téren voltunk. Szótlanul sétáltunk a cukrászda felé. A régi cukrászda jobban nézett ki, de egy új idegen nevet viselt, a régi hangulat láthatatlanul lebegett a levegoben. Magdi kért egy sort, én ketto tortát ketto presszó kávéval. A torténet úgy ismétlodott, mintha a távoléti évek eltuntek volna Magdi sort és én tortát kértunk csak eloszor. A sort pohárba ontve, mosolygott, emelt poharat és mondta "Szia". Már sokáig elfelejtettem az ivás elotti koszontést, de mindig tudtam hogy egy magyarral nem illik kocintgatni a sorozéskor. Igy mosolyogtam és fenekig urítettem a huvos poharomat. Lassan befejeztunk a tortákkal és felálltunk. Olyan érzésem volt hogy ott ultunk évek óta és felálláskor a kornyezetunk már  egy kicsit változott.

      Nắng bên ngoài quảng trường vẫn rực rỡ như năm nào. Đàn chim bồ câu vẫn đậu kín khắp trên quảng trường. Không biết có còn cặp chim câu nào của ngày xưa cũ. Gió từ Duna ùa về lồng lộng như  vẫn gió năm xưa.

      A napsutés ragyogott kint mint régen. A tér még mindig tele volt a galambokkal. Nem tudtam, hogy kozuluk volt-e olyan galamb pár, amelyik is volt a régi napokban. Dunáról fújtott a szél uvoltve mint a régi év szele.

Sau này, Hoàng tử vẫn giữ nguyên cảm xúc với những kỷ niệm thời trai trẻ của mình. Mỗi lần trở lại Budapest là một lần trở lại với hoài niệm dĩ vãng. Volt Egyszer Egy Idő… Azok a szép napok, chú ta thổ lộ: "Cảm xúc dồn dập và man mác. Những câu hỏi về thời gian, ý nghĩa của cuộc sống chợt trỗi dậy như những đợt sóng từ quá khứ. Hồi đó, mình đang say mê đọc các loại triết học, để đến hôm nay nhiều câu hỏi vẫn còn quay lại. Nhưng tất nhiên không đợt sóng nào giống đợt sóng nào. Những giọt nước năm xưa đã đi mãi vào quá khứ. Chỉ còn một hình hài cũ quay lại lượm nhặt những mảnh vụn của những kỷ niệm đang dần nhạt nhòa".

Để đóng lại phần Tiệm bánh ngọt trên Quảng trường Vörösmarty, tôi trở lại ký ức của Hoàng tử với hình ảnh từ 2007. 

"Magdi vừa gửi cho tôi mấy tấm ảnh chụp tại tiệm bánh ngọt năm 2007 (Có bạn tốt là để tôi không bao giờ phải giữ ảnh). Nàng nói là tôi không hề uống bia ở lần cuối. Đúng ra là viết hoài niệm cũng như chơi bài nói dối, nhiều quân bài thật trộn lẫn với một ít quân bài giả. Thực tế, thì trong ảnh có thể thấy tôi đang bị cảm lạnh (có tên một tiểu thuyết Hung "Người bị lạnh mùa hè", chính hắn là tôi,  vì tôi luôn luôn và chỉ bị cảm về mùa hè) và vì thế tôi uống nước ngọt, nhưng kem thì không thể cưỡng nổi. Tôi không bao giờ biết cưỡng lại những cám dỗ. Mũi tôi ướt rượt. Có một ảnh chụp chung với Magdi (do nàng tự chụp), nhưng nàng không cho đăng lại vì, miệng đầy bánh ngọt vị chanh màu vàng, trông giống như mới đến từ Rumani (xứ sở của ma cà rồng. Xin lỗi Magdi anh chỉ đùa). Tôi không có lỗi."

     "Trong tiệm bánh ngọt quảng trường Vörösmarty (bây giờ hình như gọi là Gerbaud), tháng 6, 2007, buổi sáng duy nhất ở Budapest. Kem vị punch (thực ra bây giờ tôi cũng không chắc lắm, bọt sữa, bên cạnh nước ngọt. Căn phòng được bài trí ngày xưa, bàn ghế có vẻ mới." (HTB)

"Vörösmarty téri (most Gerbaud) cukrászdában. Julius 2007, egyetlen délelott Budapesten.  Puncs izu fagylalt (már nem annyira vagyok biztos), tejszínhabbal, jaffa mellett. Régi diszes terem." (HTB)

(còn nữa)

Wednesday, August 5, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (4)

Bóng đá và âm nhạc là sở thích và cũng là nhu cầu của thể chất và tinh thần. Đó là những điều mà với mỗi người có ảnh hưởng khác nhau. Tuy nhiên, yêu thích thể thao ntn ko phải ai cũng như ai. Và âm nhạc cũng vậy, cùng với thời gian dành cho sự yêu thích của mình là khả năng thể hiện của bản thân. Có người được Trời phú tài năng nổi bật hơn người, còn đa số chỉ ca hát và ra sân cho vui, cho khỏe. Riêng tôi thì đá bóng rất nhiều. Nếu tôi sinh ra vào thời buổi này, tôi rất thích được đào tạo một cách bài bản từ nhỏ. Ko phải để trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, mà ít ra cũng có phẩm chất của 1 cầu thủ, cả trên sân bóng và trong cuộc sống hàng ngày.

Ko như bóng đá hay âm nhạc, Budapest đã hầu như chinh phục tất cả chúng tôi với vẻ đẹp diễm lệ của dòng Duna giữa những lâu đài thành quách uy nghi của Buda và Pest, rất duyên dáng và thanh lịch.  

Thủ đô của nước Hung đã để lại ấn tượng vô cùng sâu đậm trong ký ức của tôi. Budapest làm tôi phải sững sờ trước vẻ đẹp hài hòa của những kiến trúc cũ và mới xen kẽ lẫn nhau. Ngay từ những ngày đầu thành phố là điều vô cùng hấp dẫn với tất cả chúng tôi. Nhìn thành phố từ trên cao, tôi vẫn thường tự hỏi: "Đã có bao nhiêu con người tài hoa chạm tay vào từng góc nhỏ của Budapest trong hơn 1000 năm qua để làm nên một thành phố như ta đang thấy?". Thành phố này đã làm bao nhiêu người phải đặt những câu hỏi như thế từ những lối đi lát đá, những vòm cây um tùm và những bãi cỏ xanh mượt đến những bậc thang ngoài trời hun hút lên thành Vár, từ những quảng trường đến những đại lộ sầm uất và duyên dáng với những tiệm café, nhà hàng hấp dẫn, từ những công trình văn hóa tuyệt đẹp mang những phong cách khác nhau đến Parlament huy hoàng tráng lệ... Budapest như một hòn ngọc bên dòng Duna, lấp lánh thơ mộng đầy mê hoặc như hiện ra từ những câu chuyện cổ tích đẹp man mác và huyền ảo vô cùng. 

   Tôi ngỡ ngàng nhìn không chán mắt những đường phố và con người xung quanh tôi, còn TV, báo chí và phim ảnh thì thật lôi cuốn và tạo được vô số ấn tượng với những quảng cáo đủ loại... Tất cả đều thú vị và lạ lẫm... Riêng HTB vốn rất lãng mạn, thích khám phá và "ham vui" hơn tôi đã có lý khi cho rằng tàu điện là một "đặc sản" của Budapest và rất thích thú khi trốn học/du ngoạn thành phố bằng phương tiện này.

Ko riêng gì HTB, cũng có nhiều người coi tàu điện Budapest là điều đáng nhớ nhất của tp này. TS. Vũ Hà Văn, dân nhảy tàu HN, học chuyên toán và Hà Nội - Amsterdam, sang Hung sau chúng tôi 15 năm với cảm nhận về Budapest: "cái gì cũng khác, cũng mới, từ đường phố, cửa hàng, thức ăn, cho đến phim ảnh và màu mắt của các cô gái. Quê hương nhất, chính là anh tàu điện. Tàu điện ở Budapest cũng màu vàng, và cũng leng keng, y hệt như tàu điện Bờ Hồ, có điều nó có cửa nghiêm chỉnh và phải mua vé. Ba mươi năm trước dáng nó bè bè béo béo chứ không thanh thoát chân dài như bây giờ.

Tàu điện quen thuộc nhất với sinh viên Việt Nam phải là tàu số 4 và 6, vì hai tàu bắt đầu ở gần ký túc xá của Đại học Bách Khoa, nơi quá nửa học sinh Việt Nam theo học. Tàu chạy dọc đại lộ một thời mang tên Lenin, mà tên người luôn xuất hiện một cách bất ngờ nhất trong các tạp chí sinh viên lưu hành trong các ký túc xá, cho đến Quảng trường Mátxcơva. Quảng trường Mátxcơva nay đã trở lại cái tên cũ Széll Kálmán (vị Thủ tướng Hungary cuối thế kỷ 19), còn đại lộ Lenin, cũng không khác với số phận của thành phố cùng tên bên Nga, đã chuyển thành con đường mang tên Teréz và Erzsébet, hai bà hoàng của Đế quốc Áo - Hung ngày trước".

Về những nơi thân quen với LHS trước đây và thế hệ Du học sinh (DHS) sau này (tôi phân biệt như vậy cho 2 khoảng thời gian: thời chiến và thời bình), Vũ Hà Văn nhớ đến Vár và Budapest với những hình ảnh và cảm nhận rất đẹp: "Đây là địa điểm du lịch số một của Budapest, có nhà thờ vua Matyás và pháo đài Những người đánh cá (thật ra là chỗ thu thuế cá ngày xưa), hai điểm mà hầu như du khách nào cũng ghé qua. Cái hay là ở trong thành không phải chỗ nào cũng làm du lịch cả, mà còn nhiều nhà dân sinh sống trong các dẫy phố nho nhỏ, có cột đèn bằng sắt xen lẫn cây cổ thụ, lòng đường lát đá đen, và dọc phố lác đác vài ngôi mộ chí.

Thành Vár ở địa thế ở cao, có thể nhìn xuống toàn cảnh thành phố, sông Danube xanh và những cây cầu tuyệt vời của nó. Cây cầu đẹp nhất có lẽ là Cầu Xích (Lánchíd - Chain Bridge), một trong những cầu treo bằng sắt đầu tiên trên thế giới. Được xây từ nửa đầu thế kỷ 19, Cầu Xích là một thành tựu kỹ thuật đáng kể của thời đó. Ở hai đầu cầu, nhà kiến trúc tài ba đã cho đắp sừng sững một đôi sư tử nhe nanh, như có ý nhắc nhở rằng sợ vợ không chỉ là đặc tính của đàn ông Châu Á. Dẫu vậy, người Hung thật xứng đáng là một dân tộc thông minh, cái gì cũng hơn người thường một chút, vì nếu nhìn gần, thì các bà sư tử này hình như không có lưỡi.

Budapest có những dãy phố cổ dọc theo bờ sông, phía Buda, tối mở cửa sổ có thể nhìn sang thành Vár và Nhà Quốc hội bên kia sông rực ánh đèn. Các khu cổ này một nhà to có nhiều căn hộ, có lẽ là chỗ ở cho các thị dân giàu có ngày xưa, cửa sổ cao và thoáng, mỗi nhà có một cái cổng đá xây rất phong cách, nhô ra đường để khi trời mưa khách vãng lai có thể vào trú được. Chiếc cổng đã che bao thế hệ thanh niên đi ngang qua nó. Ngày hôm nay là những cô cậu sinh viên của thế hệ iPad, 30 năm trước là thế hệ của tôi và bạn, 30 năm trước nữa là những sinh viên của năm 1956 đầy biến động, mà trong lòng họ không biết đất nước và bản thân sẽ đi về đâu…"

HTB thì kể lại ký ức về tàu điện nhiều hơn. Tên này còn nhớ rõ: "Ở Hungari thời đó, vé xe điện là 1Ft màu vàng, vé xe bus 1.5Ft màu xanh. Vé tháng xe điện là 20Ft đi được tất cả các xe điện, vé tháng bus giá 50 Ft đi được tất cả các phương tiện. Lên xe tự giác bấm. Thỉnh thoảng có người khám vé, nếu tóm được phạt bằng tiền vé tháng xe bus là 50Ft

Học bổng hàng tháng của chúng tôi là 500Ft, sau khi đã trừ phiếu ăn và ký túc xá, tiêu chừng 1 tuần thì hết. Vì vậy hiếm có tên nào đã từng là sinh viên mà không trốn vé xe. Cố nhiên 50Ft là một món tiền lớn, có thể vào tiệm ăn hạng 3 hai lần. Sau này khi tôi đã trở thành nghiên cứu viên, rồi giáo sư đại học, lương hàng tháng 12-16 nghìn FT (cố nhiên khi đó vé xe điện xe bus tăng gấp 2-3 gì đó) tôi vẫn trốn vé xe. Không phải vì tiền nhưng ngại đi mua vé và hay quên, lên xe rồi mới nhớ ra. Có lần trốn vé, thấy có cô soát vé rất xinh lên, tính lẩn, thì cô bám ngay lấy mình. Nhưng cô ấy không hỏi vé mà bắt chuyện lăng nhăng và khen mái tóc đen của mình. Cũng chém tích cực nên lờ được chuyện vé. Hú vía.

Ở Debrecen là tỉnh lẻ, mua vé tháng đi được có mỗi một cái tàu điện và khoảng 3 tuyến bus, nên cực kỳ lãng phí." HTB học Vật lý lý thuyết ở KLTE, Debrecen và từng có thời gian dạy ở đây nên mới có nhận xét như thế. Về tàu điện ở Budapest, tên này đã viết 1 bài với tâm trạng hoài cổ về cảnh đẹp của Budapest và những kỷ niệm của hắn trong bài "Budapesti villamosok - Những chiếc xe điện thành Budapest".

"Có lẽ đặc sản của Budapest là tàu điện. Kỷ niệm thời sinh viên là tàu điện. Khi buồn không biết làm gì lên tàu điện lang thang là thú vị nhất. 

Budapest có hàng chục tuyến tàu điện khác nhau, nhưng có một số tuyến tàu điện quen thuộc như 4, 6, 19, 18, 49, 47 mà ai cũng biết. Trong số các tuyến tàu điện tôi thích nhất và có kỷ niệm nhiều nhất với tàu số 2 và tàu số 19 chạy dọc hai bờ sông Duna bên Pest và bên Buda.

Đường tàu điện số 2, từ quảng trường Jászai Mari, ở đầu cầu Margit chạy đến Kozvágó híd, sát bến tàu Hév ra Csepel và Ráckeve. Có lẽ đây là tuyến đường đẹp nhất, chạy dọc bờ sông Duna bên Pest, chạy qua nhà quốc hội, Viện Hàn Lâm, khách sạn Duna, cầu Margit, cầu Xích (Lánc Híd), cầu Erzsébet, cầu Szabadság, cầu Petofi, chợ Szabadság, trường Kinh tế. Tàu điện số 2 tương đối đẹp đẽ và luôn được tân trang đàng hoàng hơn so với các tuyến tàu điện khác. (Hình như ngoài tàu điện số 2 còn có tàu điện số 18 cũng mới vì chạy đến bệnh viện János).

Có lẽ đây là tuyến tàu điện tôi có nhiều kỷ niệm nhất, vì tôi thường đi tàu điện số 2 để đón tàu Hév đi Ráckev đến nhà cô bạn là Magdi. Sau này, cô bạn lấy chồng, nhà lại ở sát cuối bên kia của bến tàu số 2 tại quảng trường Jásszai Mari, đi bộ chỉ mấy bước chân là về nhà hoặc ra đảo Margit đi dạo cũng rất gần.

Đường tàu 19, chạy từ ga Kelenfoldi đến quảng trường Batthány. Tôi cũng yêu tuyến tàu điện này, nhất là đoạn chạy dọc bờ sông bên Buda, có lối đi lên thành Vár, chạy qua cầu Lánc, cầu Erzsébet, cầu Szabadság, quảng trường tròn (Moricz Zsigmond Kortér), quảng trường Kosztolányi Dezso tér.

Hồi học ngoại ngữ , mỗi dịp trốn học đi chơi, tôi hay ngồi trên tàu điện 19 chạy dọc bờ sông. Hồi ở ký túc xá Budaors thì vì không muốn mua vé tháng xe bus, chúng tôi thường đi bộ ra đường Bartók Béla đón tàu 19, 49, 47 từ Kelenfold về. Sau này đi lên Vár chúng tôi vẫn thường đón tàu 19 và đi bộ lên Vár. Còn ga Batthány tér có chuyến xe bus (hình như số 16) mà bạn Nguyễn Cao Bình thường đón xe bus lên Óbuda có việc riêng. (Chuyện này tôi nghe láng máng, nhớ cũng loáng thoáng, phải đợi Cao Bình kể lại). Bến quảng trường Batthány đối diện với nhà Quốc hội và cũng là bến Metro nối vào tuyến từ quảng trường Moszkva (nay chắc đã đổi tên khác) đi đến Sugár và bến tàu Hév đi Godollo.

       Đối diện với bến Metro là một cái chợ rất lớn. Đi chợ ở Hungari cũng là một cái thú không thể quên và nếu bạn nào chưa có cái thú đó thì sẽ là một thiệt thòi vô cùng lớn, không thể bù đắp được. Khi nào rảnh sẽ nói thêm về chuyện này.

    Tôi nhớ tuyến xe điện 19 thường mở cửa, gió sông Duna thổi vào từ bốn phía mùa hè rất sướng, mùa đông hơi khổ một chút. Sau đoạn chạy qua cầu Lánc, chỗ có một con đường hầm xuyên qua núi Buda, là bến để chuyển qua xe bus hoặc đi bộ lên Vár nếu bụng không đói lắm. Đoạn này đặc biệt xóc, tàu rung lên xòng xọc, bánh xe xiết vào đường ray ken két, rất ồn. Bây giờ hình như đều đã thay bằng tàu điện mới hiện đại, nhưng chắc không có cái hương vị cổ điển như ngày xưa."

Tàu điện số 2 được coi là một trong những lựa chọn cho chương trình tham quan rẻ nhất ở Budapest. Vào thời của chúng tôi, đây là loại tàu điện đẹp nhất của Hungary (hoạt động cùng với những tuyến còn lại hầu hết là tàu loại cũ). Tuyến đường này uốn lượn dọc theo sông Duna từ Quảng trường Jászai Mari đến Nhà hát Quốc gia, đưa du khách đi giữa những công trình kiến ​​trúc mang tính biểu tượng của thành phố. Tất cả những cảnh quan vô cùng ấn tượng trên đoạn sông Duna nổi tiếng đẹp nhất này chỉ tốn một vé BKV (hoặc hai vé nếu bạn mua vé khứ hồi). Cần chú ý quan sát cả 2 bên trái và phải khi di chuyển theo cả hai chiều, vì tàu điện đi qua Tòa nhà Quốc hội, Cung điện Gresham, Cầu Lánchíd và dưới Cầu Erzsébet và nhiều địa điểm khác. Ở phía Buda, có thể nhìn thấy những ngọn đồi, Khu Lâu đài và Suối nước nóng Gellért. Và tất nhiên, cũng ko thể bỏ lỡ 2 trường ĐH Corvinus và BME, một ở bên Pest và một ở phía đối diện của Buda, cả 2 đều rất cuốn hút.

Đến nay tôi vẫn còn tiếc và vẫn tự trách mình vì đã ko có trải nghiệm thú vị như HTB về tàu điện Bp. Có lẽ do ham đá bóng quá? Nhẽ ra, tôi cũng phải khám phá ra điều có 1 ko 2 này mới phải. Ít ra, như vậy mới biết về Bp nhiều hơn, có nhiều chuyện để viết hơn! Nếu có dịp trở lại Hungary, nhất định tôi sẽ dành thời gian du ngoạn Budapest bằng tàu điện trong chương trình du hành của mình.

Budapest rất lôi cuốn với những cây cầu nối liền bờ Pest bằng phẳng với vùng đồi của Buda, mỗi cây cầu là một công trình nghệ thuật, trong đó nổi tiếng nhất là cầu Lánchíd - hoàn thành năm 1849. HTB đã dành cho cây cầu này những dòng đầy cảm xúc, và dù theo tiếng Hung tên đúng ra là Cầu Xích, nhưng theo ý hắn thì gọi là Cầu Sư Tử hay hơn.

"Đây là cây cầu đẹp nhất trong các cây cầu ở Budapest, mặc dù cầu Erzsébet và cầu Szabadság đều có những vẻ đẹp và duyên dáng riêng. 

Những con sư tử nằm làm bằng đá ở hai đầu cầu trông luôn luôn suy tư. Cầu Sư Tử có thể nhìn từ nhiều góc, nhưng tôi thích nhất là góc nhìn từ phía Buda, hơi chéo góc một chút về phía tòa nhà của Viện Hàn Lâm, nhưng đừng chéo quá để nhìn thấy nhà Quốc Hội. Thế mới biết, không phải nhiều cái đẹp ở bên cạnh nhau là hay. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi chán xem các cuộc thi hoa hậu đến thế. Tình cờ góc nhìn này lại đúng là góc nhìn trong phim Chủ Nhật Buồn (Szomorú Vasárnap).

Cầu Sư Tử trong đêm rất diễm lệ, do ánh sáng bố trí rất tuyệt vời, hòa hợp với hình khối cổ kính, hơi lỉnh kỉnh những xích sắt, cùng với đám sư tử đá, và không khí mát lạnh, hơi lung linh từ nước sông Duna phả lên. Vừa có vẻ trong một nhà bảo tàng, vừa có vẻ như trong một cửa hàng đồ cổ, mà người ngắm cảnh lại có cảm giác đang nhâm nhi nước đá từ một cái cốc pha lê, đá chạm vào thành cốc kêu lanh canh trong một quá khứ xa xôi nào đó.

Ban ngày Cầu Sư Tử lại có vẻ đẹp khác. Chúng ta  có thể đứng ở Pest nhìn về phía Buda để thấy Bảo tàng tranh Dân tộc ở hậu trường. Hoặc chúng ta nhìn thẳng vào đường hầm, hoặc nhìn chéo về phía thành cổ. Tôi chưa bao giờ có dịp đi bộ qua cầu, hoặc đứng trên thành cầu nhìn sông Duna, Pest và Buda cho thỏa thích. Chắc cảm giác đó phải tuyệt vời lắm. Đôi khi có những việc dễ dàng và thú vị, mà người ta ngu ngốc không làm, có khi lại chỉ vì sợ người khác cười mình là lẩn thẩn hoặc ngốc nghếch. Tôi chỉ nhớ nhất là hình ảnh của cầu Sư tử nhìn thẳng vào gầm cầu từ bến tàu điện số 19.

Tôi sẽ nhớ mãi những lần lái xe qua cầu từ trên Vár xuống, hoặc chạy xuyên qua hầm ngầm xuyên núi Buda, cảm giác thật mạnh mẽ và thú vị. Cũng may là  đến bây giờ tôi vẫn còn giữ lại được một số cảm giác và cảm xúc.

Dưới đây là cầu Sư tử trong đêm, không thể xác định được đây là góc nhìn từ Buda hay nhìn sang Buda. Tôi nghĩ là góc nhìn của phim Szomorú Vasárnap, từ Buda nhìn sang.

Nhìn sang Buda, trong ánh sáng đẹp và tinh khiết.

Nhìn về phía Nemzeti Galéria (Bảo tàng tranh dân tộc), có cảm giác như một chuỗi xà tích nạm ngọc quý.

Cầu Sư tử đẹp cả trong ánh sáng ban ngày, nhìn về phía Pest. Một thứ ánh sáng dịu dàng, xanh trong vắt đến xao lòng.

Ánh sáng chiếu trên cầu Sư tử. Đây chưa phải là khoảnh khắc đẹp nhất. Dường như là một buổi chiều muộn, cầu Sư tử đã lên đèn, và đang đợi những ngôi sao sớm thắp lên trên bầu trời đang ngả màu tím sẫm.

Tôi hay nhìn cầu Sư tử nhất là từ góc nhìn này, từ dưới chân cầu nhìn lên.


Tại sao mình không có một buổi chiều nào hay một sáng nào đứng tha thẩn một mình trên cầu như bóng người trong ảnh. Không phải mình không muốn điều đó, không phải vì điều đó không hay, không phải vì mình không có thời gian. Chỉ là ngại thôi và thói quen ngần ngại ngu ngốc. Con người ta hay xấu hổ vì cảm xúc. Đó là một mâu thuẫn vô lý của con người. Bây giờ tôi mới thấy biết ơn Magdi về những khoảng thời gian làm những việc ngốc nghếch vô tích sự, nhưng để lại những cảm xúc lâu dài suốt đời như thế."

Pest có một con đường nổi tiếng mà LHS chúng tôi ai cũng biết, đó là Népköztársaság útja, nay là Đại lộ Andrássy. Đại lộ này là một bảo tàng trưng bày các phong cách kiến ​​trúc của nửa cuối thế kỷ 19. Phong cách tân Phục Hưng chiếm ưu thế, nhưng chúng ta cũng tìm thấy các công trình kiến ​​trúc tân Baroque, Cổ điển, Art Nouveau và Lãng mạn. Đại lộ Andrássy là cầu nối giữa trung tâm thành phố năng động và không gian xanh của thành phố, Városliget. Nó bắt đầu với những tòa nhà chung cư, như một con đường chính rộng lớn ở trung tâm thành phố, sau đó dần dần mở rộng, xanh tươi hơn, trải dài thành một đại lộ rợp bóng cây với những biệt thự hai bên và kết thúc ở Quảng trường Anh hùng. Đại lộ này cũng rất nổi tiếng với Đường sắt ngầm Földalatti Vasút.

Đại lộ Andrássy hình thành bởi ý nguyện của bá tước Andrássy Gyula.Với chiều dài 2310m, đây là đại lộ "sugár útja" dài nhất của Budapest và là con đường đầy quyến rũ giữa thành phố, một con đường hoa lệ với nhiều công trình của các kiến trúc sư nổi tiếng nhất đương thời. Người ta phải phá bỏ rất nhiều ngôi nhà để xây dựng lại quy củ theo trường phái neo-Renaissan; trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất phải kể đến nhà hát Opera/Magyar Állami Operaház (1884) do kiến trúc sư Ybl Miklós thiết kế mang phong cách mới của thời kỳ đó, rất độc đáo khi kết hợp với phong cách Baroque, đây là một kiệt tác của con đường nổi tiếng này và cũng là niềm hãnh diện của Budapest cũng như của người Hungary. 

Magyar Állami Operaház

HTB thì quen dùng tên cũ, Népköztársaság útja, vì nó gắn với nhiều kỷ niệm. Đường này chạy từ quảng trường Deák Ferenc, qua quảng trường Liszt Ferenc, sau đó đến quảng trường November 7, bây giờ gọi là quảng trường Bát giác (Oktogon), sau đó đến Kodály Körönd, rồi đến quảng trường Anh Hùng nổi tiếng. Đây là tuyến đường của xe bus số 1, chạy từ Kelenföld (phía trường Ngoại ngữ) lên. Đoạn từ quảng trường Deák Ferenc đến quảng trường November 7, có những hàng cây tán lá rất rợp, dường như nắng không bao giờ tới được mặt đường. Hai bên rất nhiều cửa hàng cửa hiệu. Đoạn từ quảng trường November 7 đến quảng trường tròn Kodály là những nhà sát mặt đường, kiến trúc rất đẹp. Đặc biệt có một nhà hàng sang trọng, cắm rất nhiều ô, và có một cửa vào trông rất bắt mắt mà hắn ta quên mất tên. Từ quảng trường tròn Kodály đến quảng trường Anh Hùng là các biệt thự rất đẹp.

Trên đường Népköztársaság có một địa điểm đáng nhớ vì nó gắn liền với kỷ niệm về những ngày đầu chúng ta đến Budapest. Đó là Divat Csarnok, nơi chúng ta đều đến đó mua những bộ quần áo đầu tiên khi đến Hungary. HTB còn nhớ ngày hôm đó như mới ngày hôm qua. Anh Quang Việt, dẫn nhóm HTB đi và đưa ra một số tư vấn. Hoàng tử đi với Khánh và Trung, dĩ nhiên là cả bọn bàn luận với nhau xem nên mua gì. Trước tiên là phải mua một cái áo bành tô (kabát) để chống lại cái lạnh của mùa đông. Cả nhóm đều nhất trí mua một cái áo to dày, lót lông, nhồi bông, có mũ. Hình như cái áo của HTB màu tím, Trung và Khánh chọn màu nâu. Sau đó đến áo kardigán, một loại áo thay áo len, có khuy mở ở phía trước, bằng một thứ sợi nhân tạo nào đó. Loại này chỉ có một màu duy nhất là xanh lá cây đậm. Vậy là cả ba đứa mua 3 cái giống hệt nhau. Sau đó đến quần, lẽ dĩ nhiên Hoàng tử chọn quần 2-3 loe. Được tự do lựa chọn phải hưởng thụ một cái. Các chú sứ đã cấm, càng nên chọn cho khoái. Hắn nhớ một chiếc kẻ sọc màu hơi hung hung bằng len. Một chiếc kia bằng sợi tổng hợp màu boóc đô. Khánh hình như cũng chọn giống HTB. Riêng Trung thì cứ băn khoăn mãi về quần loe, cứ săm soi tìm loại nào không loe. Nhưng cuối cùng hình như cũng phải theo HTB. Cái quần thứ hai của Khánh là màu xanh đậm.

      Áo sơ mi thì dễ hơn, HTB chọn một cái màu vàng, một cái màu hồng và một cái màu trắng. Khánh và Trung cũng chọn cái màu vàng và một cái trắng. Về màu hồng thì hình như cả hai cậu đều ngần ngừ, chọn một cái màu trứng sáo thì phải. Riêng Trung, Hoàng tử ép phải mua cái màu hồng như hắn, vì Khánh nhất định không chọn màu hồng, vì có vẻ táo bạo về màu sắc quá. Hoàng tử khoái màu hồng để đi kèm với màu boóc đô của cái quần. Đến phút cuối cùng hắn phát hiện ra một chiếc áo màu trắng bằng một thứ vải trong suốt như đăng ten có hoa loang lổ, hắn bèn đổi để khác biệt áo trắng đơn giản của Trung. Hoàng tử nhớ mang máng nhưng không chắc lắm là Khánh cũng tán thành ý tưởng này và cũng chọn một chiếc giống như vậy. Vậy là ba đứa cứ mỗi cặp lại có 2 cái áo giống nhau.

Từ Divat Csarnok đi vài bước nữa là quảng trường Liszt Ferenc, nơi có một trường trung học, ở đó có cô bạn của Hoàng tử là Magdi dạy môn vẽ. Hồi sinh viên HTB ít khi có dịp qua lại quảng trường này, sau này mới có dịp qua quảng trường này mấy lần, hắn cũng đến thăm cô bạn cùng năm là Nguyễn Kim Bân (ELTE.M72), hình như nhà số 7, nhà ở tầng trệt trong một cái sân sạch sẽ nhưng cổ lỗ.

Từ quảng trường Liszt Ferenc đi thêm bước nữa là đến quảng trường November 7 (Cách mạng Tháng 10 Nga), ngày nay gọi là Oktogon. Đây vốn là giao lộ của đường Népköztársaság và Lenin körút (ngày nay gọi là Erzsébet körút) có các tàu điện số 4 và số 6 chạy qua.

 Dọc đại lộ Népköztársaság có tuyến đường tàu điện ngầm Földalatti số 1. Đây là tuyến đường nối tiệm bánh ngọt, chứa những kỷ niệm của HTB, trên quảng trường Vörösmarty đến khu mà HTB quên mất tên mà vào những năm 1985 HTB đã đến thăm Trương Đăng Dung (ELTE, M72) và Magdi (hồi đó ở gần đó, đang chuẩn bị sinh con gái là Linda).

   Bây giờ, chúng ta quay trở lại quảng trường tròn Kodály. Chắc các bạn sẽ phải nhớ ra vì nó là chỗ đẹp nhất trên đường đến sứ quán. Nếu bạn đi xe bus số 1, sau quảng trường November 7, bạn sẽ thấy một vòng tròn lớn, có bãi cỏ, các tượng đồng, và nhiều ngôi nhà có kiến trúc tuyệt đẹp bao quanh. Đó chính là quảng trường tròn Kodály một thời đã được gọi là quảng trường Adolf Hitler.

Quảng trường Anh Hùng nằm ở cuối đường Népköztársaság, đây là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị của Hungari, giống như quảng trường Ba Đình và cũng là một danh thắng của Budapest. HTB sẽ có một bài riêng về quảng trường này và các tượng đài. Cần nhắc là ở đây có Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Budapest, quần thể tượng đài trên quảng trường. Cuối quảng trường là khu vườn bách thảo của Budapest (Város Liget) nơi có một tòa lâu đài cổ đẹp tuyệt vời. HTB cũng sẽ có một bài riêng về Város Liget.

 Chéo bên kia quảng trường Anh Hùng, gần cuối đường Népköztársaság là Sứ Quán Nam Tư cũ. Là nơi Thủ tướng Hung năm 1956 Nagy Imre vào ẩn náu trước khi nộp mình cho Hồng quân của Andropov. Hoàng tử nhớ Khánh đã chỉ cho hắn tòa Đại Sứ này khi vừa ở Sứ quán Việt Nam qua. Nó là một tòa biệt thự rất đẹp, cổng và hàng rào sắt sơn đen. Hoàng tử đứng lặng yên ngắm cánh cửa và ước ao có một lần được vào đó xin visa để qua Nam Tư. Chắc Khánh cũng nghĩ vậy. Thậm chí hai tên này cũng thảo luận xem hộ chiếu của chúng tôi có đi Nam Tư được không, vì Nam Tư theo quan niệm của nhiều người Hung và Nam Tư thời đó cũng là xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng thì cả hai cũng không đủ dũng cảm để thử. Mãi tới sau này, 20 năm sau, năm 1990 Hoàng tử mới có cơ hội vào cánh cửa đó lấy thị thực qua Nam Tư để đi Ý. Hắn rất tiếc là chuyến đi này không có người bạn vàng thuở nào. Lúc lấy xong thị thực cho cả vợ con, Hoàng tử có chút xúc động nhớ lại chuyện ngày xưa.

(còn nữa)

Monday, July 20, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (3)

(tiếp theo)

Ấn tượng Hungary bắt đầu đảo lộn giấc mơ Liên Xô từ khi tôi bước lên con tàu Hungary ở Moskva. Lần đầu tiên tôi bị Hungary chinh phục là khi cầm trên tay chai Coca Cola, thứ đồ uống của tư bản mà tôi chỉ đọc được trong sách ở Việt Nam, không thể kiếm được trên tàu Trung Quốc hay tàu Nga. Sau này tôi còn mê nó hơn khi uống cùng với szendvics trong những giờ giải lao ở NEI (Nemzetközi Előkészítő Intézet/Viện Dự bị Quốc tế), có lẽ đó là những lúc tôi thấy Coca Cola và szendvics dùng với nhau ngon không thể tả. 

Nếu ga Keleti là nơi đầu tiên tôi đặt chân lên đất Hung thì trường tiếng NEI ở số 73-75 Budaörsi út là nơi tôi bắt đầu cuộc sống của mình ở Hungary. Tôi rất yêu thích ngôi trường này, từ kiến trúc hiện đại của tòa nhà cho đến các thầy cô giáo và cuộc sống ở đó. Đây là lần đầu tiên tôi được học trong một lớp học chỉ có hơn mười trò nên tiếp thu rất tốt những gì được học. Những người Hung đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là các giáo viên với phong cách sống rất thoải mái và phóng khoáng: bao giờ cũng rõ ràng trong mọi vấn đề, không "ấm ớ hội tề" như người Việt. Họ cũng là những người châu Âu đầu tiên mà tôi có dịp được gần gũi và học hỏi. Tôi cũng rất thích và hãnh diện với các bạn khác vì cô Mária, giáo viên chủ nhiệm dạy tiếng Hung của chúng tôi, là 1 phụ nữ trẻ đẹp và lôi cuốn nhất trường.

Tôi còn may mắn hơn khi được sống trong tòa nhà chính của trường, vì nó được thiết kế rất tiện lợi cho học sinh. Chúng tôi được ăn ở và học ngay trong tòa nhà này trong khi rất nhiều bạn phải ở chỗ khác và đến đây học. Tôi còn nhớ phòng của tôi số 517 (nằm ở lầu 5). Tôi vẫn nhớ cảnh tượng mà tôi nhìn thấy vào đêm đầu tiên ở ký túc xá. Khi kéo rèm che cửa sổ phòng của tôi để nhìn ra ngoài, Budapest hiện ra trước mắt tôi thật ấn tượng với vẻ đẹp từ những ánh đèn làm tôi ngây người sửng sốt vì chưa bao giờ được thấy một thành phố rực rỡ đến thế.

Các phòng của học sinh trường tiếng nằm ở các tầng trên các lớp học (bố trí ở lầu 1 và tầng Trệt). Mỗi phòng được thiết kế cho 2 học sinh, có tủ áo, bàn học, lavabo rửa mặt và giường đệm tươm tất. Toilet và chỗ tắm giặt ở 2 đầu hành lang. Mùa đông có hệ thống sưởi bằng hơi nước. Nhà ăn được bố trí ở tầng dưới cùng, nếu muốn tập tành thì xuống phòng gym (tornaterem). Tuy lúc đó chưa biết bóng bánh là gì nhưng mấy cái sân bóng thật cuốn hút, có điều, lúc đó tôi không biết rằng: chúng sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi sau này.

Tôi vẫn còn giữ Thời khóa biểu của năm học đầu tiên @ NEI. Tôi thích trình bày những gì theo ý mình. Từ Việt Nam đến với Hungary xa cách nghìn trùng. Tôi học và cảm nhận được nhiều thứ, những cái lặt vặt như cái Thời khóa biểu này (lớp của tôi là lớp học được chuẩn bị cho những học sinh sẽ học theo chuyên ngành Mérnök szakirány), nếu không sang Hung thì chắc tôi chẳng bao giờ làm được, nó hấp thụ tinh thần hiện đại của châu Âu lúc bấy giờ.

Đây là cái Thời khóa biểu tôi tự làm, trên đó có thể nhận ra các môn học được ghi bằng chữ viết tắt, con số là số phòng học của từng môn:

X: Magyar nyelv; F: fizika; M: Matematika; K: Kémia; Á: Ábrázoló geometria

Trong những bài học tiếng Hung có một bài về cầu Erzsébet mà tôi rất thích. Cầu Erzsébet và Halászbástya là những hình ảnh đầu tiên của Hungary đã để lại ấn tượng mạnh với tôi khi còn học ở Hà Nội những năm phổ thông. Do đó, với riêng tôi nó mang một kỷ niệm đặc biệt hơn so với những cây cầu khác. Vì bây giờ không thể post được đúng bài học đó nên tôi sẽ ghi lại những nét chính và cảm nhận của mình về cây cầu tuyệt đẹp này; cây cầu màu trắng duyên dáng vô cùng ấn tượng mỗi lần tôi qua, nó đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc khác nhau với những khung cảnh có một không hai... để đến bây giờ vẫn còn nhớ mãi. 

Là một trong những cây cầu nổi tiếng nhất của Budapest, cầu Erzsébet nối quận V (Pest) và quận I (Buda) với nhau. Đây là cây cầu được nhìn thấy rõ nhất trong toàn cảnh (panorama) nổi tiếng của Budapest trên dòng Duna. Nó đã được dựng lại thay cho cây cầu cũ bị phá hủy trong chiến tranh thế giới thứ 2.

      Về cảm nhận, ấn tượng ban đầu của tôi khi xem cầu Erzsébet qua ảnh chụp so với ấn tượng nhìn từ đỉnh Gellért là một sự khác biệt rất lớn. Cầu Erzsébet nhẹ nhàng mảnh mai không che khuất cảnh quan phía sau. Hình ảnh cân đối của nó với những đường cong tuyệt mỹ trong toàn cảnh của Budapest không một bức ảnh chụp nào có thể sánh nổi vì chúng không thể hiện hết sự tuyệt vời của một khung cảnh được con người và thiên nhiên tạo ra, hòa quện với nhau thành một kiệt tác "nhạc không gian" mà không ngôn ngữ nào diễn tả hết được.

Erzsébet là cây cầu cuối cùng của Budapest được xây dựng lại. Nó đã gây nhiều tranh cãi vì nhiều người muốn khôi phục lại như cây cầu cũ và không muốn có một cây cầu mới theo phong cách hiện đại. Cuối cùng, cầu Erzsébet đã được thực hiện như chúng ta thấy; Sávoly Pál là người đã mang lại dáng vẻ cho cây cầu mới này. Mọi việc bắt đầu từ năm 1961 trên nền móng của cây cầu cũ còn lại. Để thực hiện được yêu cầu thiết kế về mặt kỹ thuật, các kỹ sư Hungary đã có nhiều sáng tạo vào thời đó khi chọn giải pháp cầu treo và hoàn thành vào năm 1964.

      Từ việc này, tôi nhận thấy được một vấn đề: đó là việc bảo tồn giá trị cũ và sáng tạo những giá trị mới đều cần thiết để phát triển.

Tại sao Budapest không chọn giải pháp khôi phục cây cầu cũ mà lại làm cầu treo hiện đại; trong khi vẫn khôi phục những cây cầu khác y như cũ?

       Ở cả Buda và Pest, chúng ta đều thấy những kiến trúc cũ và mới xen lẫn nhau nhưng không phá vỡ cảnh quan, chúng hài hòa với nhau trong một đô thị được quản lý tốt, có ý thức và trách nhiệm với di sản lịch sử trong việc xóa bỏ và đổi mới. Chính vì vậy, cầu Erzsébet hoặc Hilton Hotel (dù nằm sát Halászbástya và Mátyás-templom) vẫn rất đẹp trong tổng thể kiến trúc/cảnh quan của toàn khu vực. Chúng đều được xem xét và nghiên cứu rất kỹ lưỡng để mang lại những vẻ đẹp mới bên cạnh những vẻ đẹp cũ. Và người Hung đã thành công trong việc phát triển và giữ gìn vẻ đẹp của Budapest qua nhiều giai đoạn lịch sử với nhiều công trình mang những phong cách khác nhau. Họ tạo được sự phong phú cho bộ mặt kiến trúc của thành phố, một thành phố nổi tiếng về vẻ đẹp đa dạng của châu Âu chứ không phải là những tòa nhà chọc trời. Và tôi thấy rằng với óc thẩm mỹ của mình người Hung hoàn toàn có quyền tự hào về những thành quả của họ. Họ đã rất quyết đoán, có thể đã rất khó khăn và tiếc nuối khi dám xóa bỏ một công trình đẹp đẽ của thời trước để thay thế bằng một công trình tiêu biểu cho cái mới vì nếu không từ bỏ cái cũ thì cái mới không thể có được chỗ đứng xứng đáng với nó.

Năm đầu tiên, là năm ko chỉ tiếp thu kiến thức cho việc học tập, được coi là nghĩa vụ của chúng tôi (cũng như với thanh niên nam nữ trong nước lúc đó là nghĩa vụ quân sự), từ thế giới của bom đạn và chiến tranh, chúng tôi đến với thế giới của hòa bình, với riêng tôi, Hungary là "vùng trời tự do". Tôi đã học hỏi được rất nhiều, đã vỡ lẽ ra nhiều thứ mà ở VN tưởng rằng đó là chân lý.

Tiếng Hung làm tôi có nhận thức về một ngoại ngữ đặc biệt. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngôn ngữ của họ cho thấy: dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới. Tuy nhiên, tối rất tiếc vì đã ko tìm hiểu sâu về tiếng Hung nên ko nhận thấy sự tinh tế của nó. Bây giờ, tôi mới nhận ra rằng: mình học tiếng Hung không đến nơi đến chốn. Từ vựng của tiếng Hung vô cùng phong phú, một sắc thái tình cảm có rất nhiều từ để thể hiện, mỗi từ có một mức độ khác nhau, có lẽ chỉ người Hung mới hiểu hết. Giá được sống lại những ngày đẹp ấy - azok a szép napok - tôi cũng sẽ lựa chọn học tiếng Hung, nhưng với tư cách của một người muốn nói và dùng như người Hung, bởi chỉ như thế mới thấy hết cái hay, cái đẹp của tiếng Hung.

Người Việt ta có thể nói: Tôi muốn uống nước. Còn người Hung khi nói với một cô gái Hung thì phải nói: Szeretnék inni chứ đừng nói : Akarok inni. Giờ đây khi trở lại với tiếng Hung tôi nhận ra rằng: tiếng Hung là 1 ngôn ngữ tuyệt vời. 

Cuối năm học đầu tiên, nhà trường cho chúng tôi đi tham quan các vùng khác nhau (theo ngành học) để có cái nhìn thực tế về đất nước Hungary. Đó là những kỷ niệm khó quên với chúng tôi. Rời NEI, chúng tôi ko thể quên các thầy cô giáo đầu tiên của mình ở đây. Những bước đi đầu tiên của chúng tôi trên đất Hungary là từ đây. Chúng tôi rất biết ơn những người đã tạo cho chúng tôi có được cơ hội để trưởng thành hơn. Với riêng tôi, thời gian ở NEI giúp tôi bắt đầu mở rộng thế giới quan của mình. Con người và văn hóa Hungary đã giúp tôi nhận ra nhiều điều, đôi khi chỉ là những chuyện rất nhỏ, nhưng đều có ý nghĩa đối với cuộc sống trên đất nước vô cùng tươi đẹp này.

Qua những thành phố và những vùng thôn quê khác nhau của Hungary, chúng tôi được biết một nước Hungary rất giàu bản sắc. Những chuyến đi ô-tô đường trường, những buổi lao động vất vả nhưng vui vẻ giúp chúng tôi hiểu được vị trí của mình trong xã hội, về khả năng của chúng tôi trong những việc có thể làm được đồng thời thêm tự tin vào khả năng đóng góp trong việc thay đổi quê hương của mình sau này, dù chỉ là một phần rất nhỏ.

Cho đến bây giờ, các bạn của tôi vẫn cho rằng: những kiến thức cơ bản mà chúng tôi nhận được trên đất Hungary là những điều quý báu vô giá để vận dụng trong công việc và cuộc sống. Thời gian sống và học tập ở Hungary đã giúp chúng tôi mở nhiều cánh cửa và nhiều cơ hội hơn, nhiều người trong chúng tôi đã thành công. Bây giờ, khi nhìn lại, Hungary là nơi ko thể quên trong cuộc du hành vạn dặm của cuộc đời. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là “make the best of what you have” - luôn luôn cố gắng vươn tới dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và thay đổi môi trường xung quanh chứ đừng chỉ để hoàn cảnh của mình quyết định số phận của bản thân.

Đó là tinh thần mà tôi đã được tiếp nhận từ những thầy cô giáo Hungary, những người đã có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với chúng tôi về nhận thức và quan điểm từ học tập và cuộc sống.

Hungary thật sự cho tôi một cuộc sống vô tư/gondtalan, rất bình yên và thoải mái. Dân tộc này có rất nhiều giá trị văn hóa, từ đó tạo nên khí chất riêng và định hình lịch sử của họ. Đó là một chặng đường hình thành đất nước Hungary như chúng tôi thấy: rất tráng lệ và cũng rất bi hùng, như bản quốc ca của họ, hay trong thi ca mang tâm hồn Hung của Petőfi, József Attila, hoặc mang tính biểu tượng về nghệ thuật & kiến trúc như Parlament, Quảng trường Anh hùng, Szabadság szobor.

Hơn một ngàn năm dựng nước và giữ nước của Hungary là những trang sử oai hùng, nhưng cũng trải qua nhiều biến cố bi thảm, khi vương quốc này đại bại trước quân Mông Cổ và gần như bị san bằng (1241-1242), bị Đế quốc Otthoman cai trị một phần đáng kể đất nước trong 150 năm (1541-1699), và sau đó là hơn 150 năm dưới ách đô hộ của Đế quốc Áo. Phải đến thời kỳ nền "song quốc quân chủ" Áo - Hung (1867-1918), Hungary mới giành được độc lập và trải qua nửa thế kỷ hòa bình, hạnh phúc và phát triển vượt bậc.

Trong thế kỷ 20, Hungary đứng về "phe bại trận" trong cả hai cuộc thế chiến, và hậu quả là hai phần ba diện tích đất nước bị cắt qua các nước láng giềng, hai phần ba cư dân Hung chỉ trong chốc lát biến thành công dân "xứ lạ". Những nỗi đau trong quá khứ ấy đến bây giờ người Hung vẫn nhắc nhớ, nhưng luôn đi kèm với niềm tự hào của một dân tộc anh dũng, không chịu khuất phục, đầu hàng, với khí phách "Chết tự do không chịu sống tôi đòi - Không yên nghỉ khi tự do chưa có" như đại thi hào Petőfi Sándor từng ca ngợi.

Dân tộc này đã có những người con vĩ đại trong khoa học, khi giới khoa học thế giới gọi các nhà bác học Hungary di cư từ Hungary qua Mỹ là "người Hỏa tinh" vì những phát minh xuất chúng của họ. Bom nguyên tử, bom khinh khí, máy điện toán... là một vài trog số rất nhiều công trình mà thế giới phải cám ơn Hungary, với những tên tuổi như Neumann János, Szilárd Leó, Teller Ede... 

Khi đó, sống giữa một đất nước như thế, hòa nhập ntn với cuộc sống và xã hội Hungary là thời kỳ có nhiều vấn đề với chúng tôi. Tôi biết, có những người rất hòa hợp, nhưng đa số thì ko như thế. 

Còn tôi, vốn từ bé đã có tư tưởng "hướng ngoại". Những lần trở về Hà Nội từ nơi sơ tán là những dịp để tôi lân la tìm hiểu về thế giới ở ngoài những trang sách. Những nơi tôi hay đến là các Đại sứ quán nước ngoài hoặc cơ quan đại diện văn hóa của các tổ chức quốc tế và các nước chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tôi dán mũi vào mặt kính xem không biết chán hình ảnh các nước được giới thiệu trong những Bảng tin (được làm như những cái hộp với mặt kính lớn và lắp đèn ống bên trong) đặt trước các cơ quan đại diện này.

Tôi đọc say sưa những câu chuyện thần thoại, bị lôi cuốn vào những câu chuyện cổ tích rồi đọc thêm những cuốn sách, tiểu thuyết được dịch ra tiếng Việt của các tác giả Đông Âu và Tây phương, thích thú xem những bộ phim nước ngoài và cũng không bỏ qua các tạp chí, báo ảnh các nước hoặc bài viết của các tác giả Việt Nam về các nước mà tôi muốn tìm hiểu (riêng Trung Quốc thì bị "dội" vì tôi cho rằng không hơn gì Việt Nam, có khi còn "hủ lậu" hơn nữa là khác. Tôi giống HTB ở chỗ không ưa nổi cái bản mặt của Mao được tô vẽ hết mức với chứng "sùng bái cá nhân" đầy rẫy trên sách báo đỏ lòe về "đại cách mạng văn hóa" TQ). 

Vì vậy, sang Hung, tôi vẫn muốn "tu tỉnh" bản thân khi được tiếp xúc với những cơn gió lành, những điều mới mẻ đến từ những phương trời xa lạ.

Anh Đinh Hoàng Thắng, sang Hung năm 1966, học Văn học và Ngôn ngữ Hungary (ELTE) tự nhận mình là "một chàng ngố bước ra thế giới". Anh mô tả cuộc sống của LHS khi đó là "lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới", "cảm giác là sốc và choáng". Người Hung quan hệ với nhau quá cởi mở so với người Việt do tự do cá nhân của họ được đề cao hơn. LHS thì bị bó buộc rất nhiếu thứ, cấm đi nhảy, ko được xem phim tư bản, ko được mặc quần "bò", nam ko được để tóc dài, nếu ăn mặc theo phong cách thoải mái của thanh niên ở các nước châu Âu lúc đó sẽ bị coi là đua đòi lố lăng.

Cuộc sống của LHS ở Hung trong sự quản lý chung thường là họp hành (họp chi đoàn, họp đơn vị) và sinh hoạt văn hóa thường xuyên là đọc báo Việt ... Các cán bộ đơn vị có trách nhiệm theo dõi và nhắc nhở mọi người chấp hành những quy định của BQL và Sứ quán. Nhìn chung thì thấy những hoạt động này có vẻ mang tính hình thức và nghèo nàn, trừ khi mang tính tự phát do ham thích (và ko bị cấm) như bóng đá, bóng chuyền hay bóng bàn (tùy đơn vị).

Ở trong nước tôi chỉ hay đá cầu, cũng thích đá bóng nhưng hầu như ko có điều kiện vì có muốn cũng ko được. Sang Hung thì khác, sân bãi và bạn chơi đều có, chỉ cần mua giày, tất và áo quần là có thể ra sân. Máu me đá bóng là một chuyện, còn những trận cuồng phong trên sân cỏ qua màn ảnh nhỏ cũng rất cuốn hút tôi. Thần tượng của tôi những ngày ấy (tới nay vẫn ít người vượt qua được) là Johan Cruyff.

Johan Cruyff là linh hồn của Cơn Lốc Màu Cam và là cầu thủ (thủ lĩnh trên sân cỏ) tạo nên cuộc cách mạng bóng đá mang tên “Bóng đá tổng lực" (Total football) từng làm mưa làm gió trên khắp các sân cỏ châu Âu trong thập kỷ 70 và ảnh hưởng rất lớn đến bóng đá hiện đại ...Với lối đá tổng lực này, bóng đá châu Âu đã đè bẹp lối đá hoa mỹ cùng các thần tượng Nam Mỹ @ World Cup 1974 mà đại diện gồm cả Brazil, Argentina, Urugoay ...đều bị cuốn trôi khỏi các ngôi vị cao nhất. (1. Đức, 2. Hà Lan, 3. Ba Lan). Đây là 1 trong những WC hay nhất mà tôi được xem từ trước đến nay. 

Tôi đã xem những trận đấu đầu tiên của Cruyff trên màn hình TV tại phòng khách, đối diện với phòng thường trực, nằm ở tầng trệt của NEI. Lúc đầu, tôi chưa biết ông là ai nhưng ông đã làm tôi chú ý trong một trận đấu của đội tuyển Hà Lan bằng sự nổi bật trong chiếc áo số 14. Sau đó, khi biết ông đang là cầu thủ nổi tiếng nhất của châu Âu thì tôi đã không bỏ lỡ một trận đấu nào của Ajax và đội tuyển Hà Lan mà tôi biết. Cruyff được biết đến như một danh thủ toàn năng, chói sáng với kỹ thuật/khả năng xử lý bóng của phù thủy, tốc độ tuyệt vời, di chuyển ko bóng cực kỳ thông minh, nhạy bén trong mọi tình huống ghi bàn ...nhưng trên tất cả là tầm nhìn bao quát trận đấu và sự cảm nhận được từng vị trí của đồng đội để tổ chức và phối hợp thật ăn ý cả trong tấn công và phòng ngự.

Johan Cruyff  - Thần tượng của tôi

Xem trực tiếp các trận đấu của FIFA World Cup 1974 là 1 trải nghiệm ko thể quên của tôi. Đó là điều mà những người sống ở miền Bắc VN ko thể có được lúc đó. Giải đấu tuyệt vời này tôi đã xem cùng với những đàn anh học toán năm thứ 5 ở ký túc xá ELTE. Đây cũng là nơi tôi thường xuyên đá bóng, luyện tập cùng các tuyển thủ hay nhất của đội tuyển ELTE, 1 đội bóng mạnh của LHS ở Budapest. Lúc đó, tôi ở chung phòng với anh Hoàng Minh Chương trên tầng 11 nên mới có được "cái duyên" bóng bánh như thế, và nhờ thế mới "lên chân" sau thời gian đầu làm quen với trái bóng ở NEI.

Đây là những gương mặt của ELTE - 5 évesek csapata, trong đó có nhiều cầu thủ trụ cột của đội tuyển ELTE.
Hàng đứng (trái qua): (1) anh Thanh ?  (2) anh Phúc, cận nặng, rất ham bóng (3) anh Hoàng Minh Chương, là người cưu mang tôi, nhờ có anh mà tôi mới "cắm trại" được ở tầng 11, ký túc xá ELTE cả 1 năm trời. Hiếm khi được chơi bóng với anh vì anh ít khi ra sân, anh học rất chăm. Anh Chương là mẫu người đứng đắn và quy củ mà tôi rất nể (nhưng ko phục mấy) (4) anh Lượng, đá rất xông xáo (5) anh Nguyễn Quý Phương, sư phụ của tôi, nhờ anh mà tôi biết được nhiều điều, anh đọc và biết rất nhiều, rất uyên bác, đá bóng 'mồm' hay hơn 'đá trên sân'. Theo anh Chương, nếu chịu học thì anh Phương là người có triển vọng nhất về Toán trong số VIDI68 @ ELTE (6) Anh Tuyến (?)  (7) Anh Sỹ  (8) anh Hùng, cầu thủ nhanh nhẹn và có kỹ thuật khéo léo nhất, csapat kapitány của ELTE và là huấn luyện viên của tôi.
Hàng quỳ (trái qua): (1) "bu" Cừ, nhờ có anh mà tôi không bị đói, anh là tấm gương chí tình của tôi (2) ? (3) ?  (4) ? (5) anh Bùi Liêm, người hay pha trò và kể nhiều chuyện vui, bình luận viên bóng đá trứ danh của ELTE.

Tôi bắt đầu chú ý đến các ngôi sao Hà Lan thi đấu ở giải này. Nếu Johan Cruyff là cầu thủ không thể bị đánh bại ngay từ trận mở đầu với Uruguay thì Robbie Rensenbrink đã có màn trình diễn tuyệt vời khi Hà Lan xé toạc đội hình Bulgaria bằng chiến thắng 4:1. Johan Neeskens đã sớm mở tỷ số ngay ở phút thứ 5 với một quả phạt đền. Một phút trước khi hiệp một kết thúc, Rensenbrink phối hợp với Wim Jansen để tạo được cơ hội ghi bàn, Jansen bị đốn ngã và HL được hưởng quả phạt đền thứ hai. Neeskens ghi bàn một lần nữa, đưa bóng vào lưới để nâng tỉ số lên 2:0. Rep đã ghi bàn thắng thứ 3 của trận đấu (bàn thắng thứ 3 của anh trong giải đấu), bằng cú sút vô lê tung lưới Bulgaria sau khi họ không cản phá được quả đá phạt của Cruyff. 

World Cup 1974 là lần đầu tiên FIFA quyết định áp dụng thể thức chia nhóm để quyết định đội đi tiếp vào trận chung kết. Đứng đầu bảng 3, HL được xếp vào vòng hai bảng A. Cũng vượt qua vòng loại từ vòng bảng đầu tiên cùng với HL là; Đông Đức, Argentina và Brazil, đương kim vô địch World Cup. Bảng còn lại, B, là giải toàn châu Âu gồm Tây Đức, Thụy Điển, Ba Lan và Nam Tư.

Các cầu thủ HL tiến vào vòng tiếp theo đầy tự tin với bộ ba tấn công Cruyff-Rensenbrink-Rep. Họ bắt đầu với chiến thắng vùi dập Argentina với tỷ số 4:0. Hàng tiền vệ và hàng công của HL áp đảo hoàn toàn đội bóng của Roberto Perfumo ở Gelsenkirchen. Cruyff đã mở đầu những bàn thắng của mình tại giải đấu sau 11 phút bằng cách khống chế một đường chuyền đẹp mắt, vượt qua thủ môn Daniel Carnevali và ghi bàn. Ruud Krol đã ghi bàn thắng thứ hai khi anh ấy sút một quả từ rìa vòng cấm vào giữa hiệp một, trong khi Johnny Rep ghi bàn thắng thứ tư của giải đấu bằng một cú đánh đầu đẹp mắt từ quả tạt chính xác bên cánh trái của Cruyff. Cruyff đã tự mình quyết định trận đấu, bắt vô lê từ một góc hẹp sau khi cú sút của Wim van Hanegem bị cản phá.

Tiếp theo là đội bóng từ Đông Đức. Đội bóng đã gây chấn động làng bóng đá thế giới khi đánh bại chủ nhà Tây Đức với tỷ số 1-0 ở lượt trận cuối cùng của vòng bảng, qua đó giành ngôi đầu bảng 1. Cũng như trận gặp Argentina, HL bắt đầu thực sự mạnh mẽ và vượt lên dẫn trước từ đầu trận, Neeskens ghi bàn thắng thứ 3 của giải đấu (phút thứ 7) sau một pha hỗn chiến trong vòng cấm. Rensenbrink cuối cùng đã ghi bàn thắng đầu tiên của giải đấu bằng một cú sút chân trái đẹp mắt vào góc lưới, nâng tỷ số lên 2:0.

Chiến thắng trước Đông Đức tạo cơ hội quyết định vòng bảng trước Brazil, nhà đương kim vô địch cũng đã thắng hai trận mở màn vòng bảng, đánh bại Đông Đức 1:0 và đối thủ truyền kiếp Argentina 2:1. Trận đấu có tất cả các tác phẩm của một trận đấu kinh điển tuyệt đối. Brazil vẫn được nhớ đến với thứ bóng đá đẹp mắt của họ từ năm 1970, trước những đứa trẻ mới lớn - Bóng đá tổng lực của HL.

Tuy nhiên, thứ bóng đá đẹp mắt của Brazil ở Mexico năm 1970 dường như đã trở thành một ký ức xa vời, vì rõ ràng là họ đến với một trận chiến sức lực hơn là thể hiện kỹ năng. Brazil đã kết thúc hiệp 1 với tỷ số 0:0, nhưng 5 phút đầu hiệp hai, hai cầu thủ Johan, Cruyff và Neeskens, đã phối hợp tuyệt vời để đồng đội ghi bàn bằng một pha lốp bóng xuất sắc. Mười lăm phút sau, Rensenbrink kiến tạo cho Cruyff nâng tỷ số lên 2-0 với một nỗ lực bằng chân tuyệt vời. Thế là xong, trận đấu kết thúc, khi một Brazil ngày càng thất vọng dường như có ý định "đấu đá" với người HL hơn là cố gắng quay trở lại trận đấu. Và trận đấu đã kết thúc tồi tệ với Rensenbrink khi anh bị chấn thương phải nghỉ thi đấu ngay sau khi tạo cơ hội cho Cruyff ghi bàn.

Trước trận chung kết, HL chỉ có ba ngày để nghỉ ngơi. Ban huấn luyện và nhân viên y tế của HL đã làm việc cật lực để Rensenbrink có thể thi đấu với tình trạng tốt nhất. Michels biết bộ ba tấn công Cruyff, Rensenbrink và Rep đã thành công như thế nào. Đội ngũ y tế cuối cùng đã cho phép Rensenbrink thi đấu trận chung kết. Như thế, Michels có thể bố trí đội hình đã đánh bại Brazil để đối đầu với Tây Đức ở trận đấu cuối cùng.

Khúc bi tráng của những chiến binh ''da cam''

Trận chung kết diễn ra vào ngày 7 tháng 7 tại Olympiastadion, Munich. Ngoài lợi thế sân nhà, Tây Đức (TĐ) còn có rất nhiều ngôi sao: Thủ môn Sepp Maier là một trong những thủ môn xuất sắc nhất thế giới, Hoàng đế Franz Beckenbauer đã điều khiển hàng thủ một cách xuất sắc, trong khi tuyến trên của họ không ai nguy hiểm hơn Gerd Müller về khả năng ghi bàn.

Tuy nhiên, HL là những người được yêu thích hơn. Ngay phút đầu tiên, họ lập tức thực hiện 15 đường chuyền từ quả phát bóng và giành được một quả phạt đền - Uli Hoeness kết thúc pha solo tuyệt vời của Cruyff bằng cách hạ gục thủ lĩnh HL trong vòng cấm. Neeskens đã sút quả phạt đền ghi bàn nâng tỉ số lên 1:0. Các cầu thủ TĐ vẫn chưa chạm bóng!

HL tiếp tục làm chủ thế trận, họ gần như đùa giỡn với người Đức trong 20 phút tiếp theo. Trong những năm sau đó, đây là điều làm họ phải nhận nhiều lời chỉ trích, vì họ quá chú ý đến việc làm bẽ mặt các cầu thủ TĐ bằng cách chơi giữ bóng hơn là tận dụng lợi thế của mình và ghi ít nhất một bàn thắng khác. Đó là một trận đấu nguy hiểm, và như người ta thường thấy trong bóng đá, họ đã bị trừng phạt. Vào nửa đầu Hiệp 1, người Đức có được bàn gỡ hoà từ chấm phạt đền với một pha dâng cao đẹp mắt của cầu thủ chạy cánh trái Bernd Hölzenbein đã bị cản phá bởi một pha phạm lỗi vụng về của Wim Jansen. Đây là một quyết định gây tranh cãi của trọng tài người Anh Jack Taylor và các cầu thủ HL với lập luận gay gắt rằng ko có va chạm giữa Jansen và Hölzenbein. Nhưng Taylor ko thay đổi quyết định. Jongbloed hầu như bất động khi Paul Breitner thực hiện quả phạt đền ở bên trái. Người Đức đã lấy lại thế trận cân bằng, các cầu thủ HL dường như choáng váng trước quyết định của trọng tài.

Hậu vệ phải Berti Vogts luôn cố gắng ngăn chặn Cruyff và đã tỏ ra rất hiệu quả, đặc biệt là khi anh ta đã nhận một thẻ vàng. HL cầm cự chặt chẽ trước những đợt tấn công của Tây Đức và đáp trả bằng một pha đột phá nguy hiểm với cú sút của Rep bị Maier cản phá.

Chỉ còn hai phút nữa là đến giờ nghỉ giữa hiệp, tưởng chừng như HL sẽ tận dụng cơ hội trong khoảng thời gian bù giờ nhưng TĐ đã vượt lên dẫn trước. Gerd Müller vĩ đại đã ghi một bàn thắng chứng tỏ khả năng săn bàn đáng kinh ngạc của mình. Một pha xuyên phá tuyệt vời và một kỹ năng khéo léo bên cánh phải của Rainer Bonhof đã chuyền bóng chính xác cho Müller. Quay lưng về phía khung thành, Müller xoay người theo đường chuyền của trái bóng và ngay lập tức đưa bóng vào lưới.

Các cầu thủ HL quay vào phòng thay đồ trong tâm trạng nặng nề với tỷ số 2:1. Khi họ rời sân, Cruyff bị thẻ vàng vì tiếp tục phàn nàn với Jack Taylor về quả phạt đền.

HL cần phải ngẩng cao đầu và kiểm soát trận đấu một lần nữa. Rensenbrink ko thể thi đấu đúng sức của mình và được thay thế bởi René van de Kerkhof. Giờ nghỉ giải lao chính là điều người HL cần, và họ bước vào Hiệp 2 với những gì mà họ có thể làm được.

Đầu tiên, Breitner phải đánh đầu phá bóng cận thành từ một quả phạt góc, sau đó Rep và Van Hanegem đã áp sát rất khó chịu. Tuy nhiên, khi các nỗ lực của HL nhắm vào khung thành, Sepp Maier đã ngăn chặn mọi thứ nhắm vào mình. Johnny Rep lại áp sát, ở khoảng cách tối đa, Rep đã nỗ lực hết sức trong gang tấc, trong khi Neeskens thực hiện một cú sút từ rìa vòng cấm nhưng bóng lại đi chệch cột dọc. Và đó là nỗ lực cuối cùng thực sự gây khó khăn cho khung thành Maier. TĐ dưới sự chỉ đạo của Helmut Schön, đã chơi một trận đấu tuyệt vời, đặc biệt là sau bàn thua sớm, và đã tìm cách vô hiệu hóa thứ bóng đá thực sự tự do mà chúng ta đã thấy của Cruyff và HL trong phần còn lại của giải đấu.

Quả là một kết thúc đáng thất vọng cho HL, thậm chí còn tồi tệ hơn khi đối đầu với đối thủ lớn nhất của họ. Johan Cruyff có tên trong đội hình tiêu biểu của giải đấu, cùng với các đồng đội Rob Rensenbrink, Johan Neeskens và Ruud Krol.

Dù ko vô địch World Cup, đội tuyển HL năm 1974 vẫn là một trong những đội bóng được yêu thích nhất mọi thời đại của nhiều người hâm mộ bóng đá, với một di sản và tình yêu thực sự của bóng đá.

HL ko chỉ là một trong những đội bóng vĩ đại nhất chưa bao giờ vô địch World Cup, mà còn là một trong những đội bóng vĩ đại nhất thế giới từ trước đến nay.

Bức ảnh dưới đây là 1 trong những tấm hình trong cuốn tạp chí Bóng đá của Pháp (Futbol Mundial) phát hành ngay sau WC-74 với những tấm hình in màu rất đẹp (nguyên khổ giấy) của các cầu thủ nổi bật nhất ở giải này mà tôi rất thích. Riêng hình của đội tuyển HL được in 2 mặt (trang giữa) là hình lớn nhất (ko phải hình của đội Tây Đức). Tôi vẫn nhớ giá của nó là 50Ft với trang bìa là hình của "Gerd" Müller 2 tay giơ cao khẩu đại pháo (1 biểu tượng của Müller lúc đó). Tôi đã mua nó ở Quảng trường Tròn và cắt hình của các cầu thủ treo lên tường trong phòng của mình (ktx @ Pécs). Chừng này cũng là một món tiền kha khá đối với những LHS khốn khổ như chúng tôi lúc đó (tương đương với 1 cái vé xe buýt mỗi tháng).

Đội tuyển màu cam
Hàng đứng (từ trái qua): 1. Jongbloed, 2. Rijsbergen, 3. Haan, 4. Neeskens, 5. Krol, 6. Suurbier
Hàng ngồi (từ trái qua): 1. Rep, 2. Cruyff, 3. Rensenbrink, 4. Jansen, 5. Van Hanegem

Với những cầu thủ tiêu biểu cho sức mạnh của bóng đá tổng lực, đội HL được giới hâm mộ kỳ vọng sẽ chứng tỏ được vị thế số 1 của mình trước những đại diện mạnh nhất của thế giới: là ứng cử viên lớn nhất cho ngôi vị vô địch tại sân đấu WC ở Tây Đức năm 1974.

Tuy vậy, tại WC-1974 HL ko thi đấu với đội hình mạnh nhất của mình. Hàng thủ của HL bị yếu đi do sự vắng mặt của Barry Hulshoff (libero của Ajax, bị chấn thương đầu gối). Một cầu thủ khác, tiền vệ Gerrie Muhren cũng ko thể thi đấu. Đây cũng là 1 mất mát của HL vì Muhren là cầu thủ quan trọng trong lối chơi tổng lực của Rinus Michels.

Thủ môn Jan van Beveren của PSV Eindhoven từng là sự lựa chọn số một trong suốt vòng loại WC nhưng cũng đã dính chấn thương nên Rinus Michels buộc phải chọn Jongbloed thay thế.

Michels đã tìm cách thay đổi hệ thống với hàng tấn công ba người. Cruyff đóng vai trò trung phong linh hoạt, Rob Rensenbrink của Anderlecht ở bên trái và ngôi sao 22 tuổi của Ajax, Johnny Rep ở bên phải.

''Đội tuyển Hà Lan giữa những năm 1970 là một trong những đội bóng đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá. Cuộc cách mạng của Bóng đá tổng lực, bộ đồ adidas màu cam mang tính biểu tượng cùng đội hình của những cầu thủ với đẳng cấp thế giới, tất cả kết hợp lại để biến họ trở thành một trong những đội bóng vĩ đại nhất từ trước đến nay của môn thể thao này."

Trích từ 'THE STORY OF THE NETHERLANDS AT THE 1974 WORLD CUP' (C.F. CLASSICS)

Hungary còn là nơi mà các ban nhạc, ca sĩ và cầu thủ nổi tiếng được biết đến nhiều hơn các vị lãnh đạo nhà nước. Hình tượng lãnh tụ, cờ quạt, khẩu hiệu, bích chương cổ động và ca tụng chế độ...không nhiều như ở Việt Nam và những nước chúng tôi đã đi qua cũng là điều đáng ghi nhận của đất nước này. Ở Budapest, thay cho tượng đài hùng vĩ của cách mạng thường thấy ở các nước khác, biểu tượng của Tự do được đặt ở nơi cao nhất của thành phố là một phát hiện làm tôi càng tôn trọng hơn dân tộc này.

Đến với Hungary là đến với nhiều con đường mới. Trong đó, phải kế đến âm nhạc. Ko chỉ là thú vui, với tôi, nó là 1 phần ko thể thiếu của cuộc sống. Năm học đầu tiên, cũng là năm tràn ngập âm thanh của tôi với nhạc Hung và nhạc nước ngoài. Ở khu nội trú của Viện Dự bị Quốc tế, tôi hay qua phòng của anh Nguyễn QuangViệt để nghe nhạc vì anh ấy vốn tốt bụng, rất thoải mái và không bao giờ phiền hà gì.

Khi còn ở VN, tôi thường nghe nhạc nước ngoài qua radio. Riêng nhạc Nga thì tôi hay lên mấy tầng trên nghe ké đĩa nhạc của những nhà có con du học từ Liên Xô về. Tôi nghe nhiều nhất trong một nhà ở tầng 2 vì nhà này có cái radio "Rigonda" nghe đĩa rất đã. Hành trang nhạc nước ngoài theo tôi sang Hung chỉ có vậy.

Khi mới sang Hungari, trong số các bạn VN cùng khóa 1972, tôi cũng hay qua phòng của Khánh vì đều là dân Hà Nội và cùng ở 1 tầng @ NEI (ban đầu, tôi và Bình "to" không nhập bọn với nhóm 3 tên 'Khánh-Việt-Trung' vì thời gian đầu ở NEI tôi hay đi chơi và chụp hình với hội miền Nam, còn Bình "to" thì hình như gắn bó với những tên "Đức văn" hơn do đi theo đoàn từ Đại Từ, Thái Nguyên). Tôi còn nhớ khi đó tôi không ưa HTB vì mặc mấy cái áo màu mè quá, trong đó tôi ghét nhất cái áo màu hồng như đồ đàn bà con gái...  còn Bình "to" thì khệnh khạng mồm miệng oang oang rất ngứa mắt, nhức tai... 

Riêng Khánh thì gần như tökéletes vì ngoài tính cách "ăn ở" hết sức quy củ, không chê chỗ nào được rất riêng của mình, tôi mến Khánh ở chỗ tên này có vốn nhạc hơn hẳn tôi, Khánh biết chơi guitar rất bài bản và hiểu biết nhiều về nhạc cổ điển. Từ Khánh mà tôi thích Tchaikovsky vì ở VN thì tôi chỉ nghe nhạc cổ điển cho biết chứ không để tâm vào một nhạc sĩ nào dù có những bản nhạc mà tôi nhận thấy nhiều đoạn đáng chú ý. Về sau, Khánh còn chỉ tôi đánh đàn, rất tiếc là tôi mới học được từ Khánh có 2 bài, bài đầu tiên là bài "Ngôi sao ban chiều" còn bài kia có tiết tấu nhanh hơn thì tôi quên mất tên. Nếu chuyên chú và chăm chỉ hơn thì tôi cũng có thể có ngón đàn tàm tạm gọi là khả năng âm nhạc ko chuyên. 

Năm học ngoại ngữ, tôi chỉ nghe nhạc từ băng và đĩa. Về sau, vào ngày nghỉ hay những lúc rảnh rỗi, tôi thích theo dõi chương trình nhạc ưa thích trên TV và radio của Hung (FM). Vì rất mê những chương trình nhạc chọn lọc này nên tôi thường xem báo RTV (Részletes Rádióműsor, Tv műsor) để biết giờ phát và đánh dấu những bài mình đã biết đồng thời tìm hiểu thêm về những bài mới. Tôi hầu như không thể bỏ qua những chương trình này, trừ khi lao ra sân đá bóng (dù rất tiếc) nhưng không thể có được cả hai nên phải chọn điều mà không phải chỉ mình muốn là được (vì vậy mà tôi rất ghét mấy thằng máu gái bỏ bê bóng đá, thậm chí tôi còn xếp bọn này vào loại "chết vì gái". Bây giờ nghĩ lại thấy mình tức cười quá :)). Tôi thích cả nhạc nước ngoài và nhạc Hung, dĩ nhiên là nhạc nước ngoài thường được đánh giá cao hơn, kể cả nhạc hòa tấu gồm những bài hát nổi tiếng của các nước.

Về nhạc hòa tấu, Paul Mauriat là dàn nhạc rất quen thuộc ngay từ thời NEI, về sau tôi nghe nhiều hơn từ đĩa và radio. 


Tôi có ý tưởng này khi đọc lại những bài viết của HTB trong mục "Từ phương trời ấy". Với trí nhớ của cậu ta, tất cả hiện ra thật sinh động như những đoạn phim, rất rõ nét, chân thực và đầy cảm xúc. HTB là một cây bút tuyệt vời khi đã dành nhiều thời gian để dồn tâm trí của mình vào những dòng chữ ghi lại những ngày đẹp ấy. Phải nói rằng, tất cả đều là những bài viết hay nhất, đáng đọc nhất, thể hiện đúng tính chất và nội dung của blog này mà chính cậu ấy đã bộc bạch ở "Mục đích thành lập Blog VIDI 72-73".

Tôi đã nói đến những mảnh ghép của chúng ta, tôi cảm ơn HTB và cũng nghĩ như HTB khi góp ý về blog này gần đây. Cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung này, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.

Và như thế, những cảm nhận Từ phương trời ấy là chuyên mục dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì chất chứa trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng.

Mong mỏi của tôi là chân thật, hy vọng nó không rơi vào hư vô và tan biến vào nó.

(còn nữa)