Saturday, October 31, 2026

Tin buồn

Sáng nay nhận tin buồn về hành trình Élet/Csillagok útján của các haver, Quang Bình gọi điện thoại từ Mỹ cho biết: bạn mình đã dừng lại ở mùa Thu này. Đây là mùa Thu cuối cùng đã đi cùng bạn, là mùa Thu buồn và trở thành 1 phần ko thể quên trong "Câu chuyện của chúng tôi"!

Photo: Albert Dros

Có một điều bây giờ chúng ta mới nhận ra: khi còn trẻ chúng ta khó có được, nhưng đến lúc đã đủ để trải đời, mới nghiệm ra, coi đó là một bí quyết để sống đời: Ko bao giờ trách bất cứ ai trong cuộc đời mình. 

Bởi những người tốt sẽ đem đến cho bạn hạnh phúc. Những người xấu đem đến cho bạn kinh nghiệm. Những người tồi tệ cho bạn bài học. Còn những người tốt đẹp nhất cho bạn những kỉ niệm.

Mọi chuyện trên đời xảy ra đều có lý do. Quan trọng là ta nhìn ra đó là gì. Luôn có những khía cạnh tích cực trong những gì xảy ra với ta...

Friday, October 30, 2026

Vĩnh biệt Phan Nguyễn Khánh

ÔNG PHAN NGUYÊN KHÁNH, CỰU SINH VIÊN TẠI BUDAPEST, QUA ĐỜI

Hội Hữu nghị Việt Nam-Hungary, Ban liên lạc Lưu học sinh M1972 và Ban liên lạc cựu sinh viên VN tại BME thương tiếc báo tin:

Ông PHAN NGUYÊN KHÁNH, sinh năm 1955,

sang Hungary năm 1972,

tốt nghiệp khoa Điện, trường Đại học Kỹ thuật Budapest (BME),

tham gia sinh hoạt Hội Việt Hung từ đợt đầu tiên (1995),

Cơ quan trước đây:  Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Bộ Tổng Tham mưu,

đã mất vào hồi 15g 26 phút ngày 30-10-2026, tức ngày 21-09 năm Bính Ngọ, hưởng thọ 72 tuổi.

Chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới bà quả phụ Quản Duy Ngân Hà, trưởng nam Phan Duy Nam và toàn gia quyến.


Vũ Hoài Chương (Hội Hữu nghi Việt - Hung)

Thursday, October 29, 2026

Nghiên cứu lịch sử: Thời Phục Hưng và Florence

 FLORENCE THỜI PHỤC HƯNG – KHI TRIẾT HỌC HY LẠP, CHIÊM TINH VÀ NHỮNG BÍ ẨN CỔ ĐẠI TRỞ LẠI

Những lá bài Tarot, thuật giả kim, chiêm tinh học, thần số học hay hình học thiêng liêng ngày nay thường được xếp chung dưới cái tên New Age. Nhưng ít ai biết rằng, cách đây hơn 500 năm, Florence đã trải qua một thời kỳ say mê các tư tưởng huyền học và triết học cổ đại. Đứng sau cuộc phục hưng trí tuệ ấy là gia tộc Medici cùng một học giả có ảnh hưởng sâu rộng: Marsilio Ficino.

Câu chuyện bắt đầu từ Cosimo de’ Medici (1389–1464), người đứng đầu gia tộc ngân hàng quyền lực nhất Florence. Bên cạnh việc bảo trợ các họa sĩ và kiến trúc sư, Cosimo dành nhiều tiền bạc để tìm kiếm bản thảo Hy Lạp, xây dựng thư viện và hỗ trợ dịch thuật những tác phẩm triết học ít được biết đến ở Tây Âu thời bấy giờ.

Khoảng năm 1463, một bản thảo Hy Lạp chứa các trước tác được gán cho Hermes Trismegistus được đưa tới Florence. Cosimo yêu cầu Marsilio Ficino, khi ấy khoảng 30 tuổi, tạm gác công việc dịch Plato để ưu tiên văn bản này.

Hermes Trismegistus, nghĩa là Hermes Ba Lần Vĩ Đại, là nhân vật huyền thoại kết hợp thần Hermes của Hy Lạp với Thoth, vị thần chữ viết và tri thức của Ai Cập. Trong thời Phục hưng, nhiều học giả tin rằng Hermes là một hiền triết sống cùng thời Moses, nắm giữ những kiến thức cổ xưa về Thượng đế, vũ trụ và linh hồn.

Ngày nay, các nghiên cứu văn bản xác định phần lớn những trước tác triết học được tập hợp dưới tên Corpus Hermeticum ra đời trong những thế kỷ đầu Công nguyên, thuộc môi trường văn hóa Hy Lạp–Ai Cập, chứ không phải tác phẩm của một người sống từ thời các pharaoh.

Tuy nhiên, đối với Florence thế kỷ XV, những văn bản ấy thực sự gây chấn động. Chúng bàn về nguồn gốc vũ trụ, mối liên hệ giữa con người và thần linh, bản chất của trí tuệ và khả năng nhận thức thế giới. Ficino nhận thấy nhiều điểm tương đồng giữa tư tưởng Hermes, Plato và thần học Kitô giáo.

Bản dịch Latin của ông hoàn thành năm 1463 và được in lần đầu năm 1471. Nó góp phần đưa truyền thống Hermes trở lại trung tâm đời sống trí thức châu Âu.

Dấu ấn của niềm tin ấy còn hiện diện ngay trên sàn Nhà thờ Siena.

Năm 1488, nghệ nhân Giovanni di Stefano thực hiện một bức tranh khảm đá cẩm thạch lớn ngay lối vào gian giữa nhà thờ. Nhân vật trung tâm chính là Hermes Trismegistus, mặc áo choàng dài, đội mũ cao, trao một văn bản cho người đứng bên cạnh.

Phía dưới ghi dòng Latin: Hermes Mercurius Trismegistus Contemporaneus Moysi, nghĩa là Hermes Mercurius Trismegistus, người cùng thời với Moses.

Thật thú vị khi một nhân vật bắt nguồn từ truyền thống tôn giáo Hy Lạp–Ai Cập lại xuất hiện trang trọng trong một thánh đường Công giáo. Điều này phản ánh quan niệm của một số học giả Phục hưng rằng các triết gia ngoại giáo cổ đại đã phần nào nhận thức được những chân lý mà Kitô giáo về sau mặc khải.

Tại Florence, Ficino trở thành nhân vật trung tâm của mạng lưới học giả nghiên cứu Plato. Cosimo cấp cho ông một cơ sở tại Careggi, ngoại ô thành phố, nơi các hoạt động nghiên cứu, trao đổi triết học được nuôi dưỡng dưới sự bảo trợ của Medici.

Ngày nay, mạng lưới ấy thường được gọi là Học viện Plato Florence. Tuy nhiên, nó không phải một học viện chính thức theo nghĩa hiện đại, và cũng không có bằng chứng đáng tin cậy rằng đây là tổ chức bí mật chuyên thực hành huyền thuật.

Trong môi trường trí thức này, các học giả như Cristoforo Landino, Angelo Poliziano và Giovanni Pico della Mirandola tiếp tục nghiên cứu tư tưởng cổ đại. Đặc biệt, Pico quan tâm tới Kabbalah, truyền thống huyền nhiệm của Do Thái giáo, và tìm cách diễn giải một số khái niệm của nó trong khuôn khổ triết học Kitô giáo.

Ficino còn nghiên cứu chiêm tinh học, âm nhạc và quan niệm cổ đại về sự hòa hợp của vũ trụ. Ông đặc biệt quan tâm tới Musica Universalis, hay âm nhạc của các thiên cầu, tư tưởng cho rằng chuyển động của các thiên thể tuân theo những tỷ lệ hài hòa có thể diễn đạt bằng toán học và âm nhạc.

Theo Ficino, con người sở hữu một linh hồn bất tử, có khả năng vươn tới nhận thức cao hơn thông qua tri thức, tình yêu và sự chiêm nghiệm. Ông xem triết học Plato là con đường giúp con người hiểu sâu hơn về đời sống tinh thần, đồng thời tìm cách dung hòa nó với đức tin Kitô giáo.

Hình ảnh Ficino còn được lưu giữ trong bức bích họa The Annunciation to Zacharias do Domenico Ghirlandaio thực hiện khoảng năm 1486–1490 tại nhà nguyện Tornabuoni, nhà thờ Santa Maria Novella ở Florence. Ông xuất hiện trong nhóm bốn học giả nổi tiếng, bên cạnh Landino, Poliziano và Demetrios Chalkokondyles. Những gương mặt ấy cho thấy tầng lớp trí thức đã chiếm vị trí đáng kể trong đời sống nghệ thuật Florence cuối thế kỷ XV.

Cũng trong thời kỳ này, các bộ bài có hình ảnh ngụ ngôn bắt đầu phổ biến tại những triều đình miền Bắc nước Ý.

Một ghi chép năm 1440 của Giusto Giusti nhắc đến những lá bài trionfi được làm tại Florence. Đây là một trong những chứng cứ sớm nhất về tiền thân của Tarot.

Từ truyền thống chơi bài ấy, Florence về sau phát triển bộ Minchiate gồm 97 lá, nhiều hơn bộ Tarot 78 lá quen thuộc ngày nay. Bộ bài bổ sung 12 cung hoàng đạo, bốn nguyên tố đất, nước, lửa, khí cùng các đức hạnh như Đức Tin, Hy Vọng, Bác Ái và Thận Trọng.

Minchiate vì vậy trở thành một tập hợp hình ảnh phản ánh cách người thời Phục hưng hình dung thế giới: thiên văn, đạo đức, tôn giáo và trật tự tự nhiên.

Tuy nhiên, Tarot ban đầu chủ yếu được sử dụng để chơi bài. Quan niệm rằng các lá bài che giấu bí mật Ai Cập cổ đại và có thể dùng để tiên đoán số phận chỉ thực sự được hệ thống hóa tại Pháp từ cuối thế kỷ XVIII, đặc biệt qua các tác giả Antoine Court de Gébelin và Etteilla. Không có cơ sở lịch sử vững chắc cho câu chuyện người Florence phải giả vờ đánh bài vì bói Tarot có thể bị xử tử.

Lịch sử Phục hưng cũng phức tạp hơn sự đối lập đơn giản giữa khoa học và Giáo hội. Ficino là một linh mục Công giáo, trong khi những cuộc tranh luận về chiêm tinh, triết học tự nhiên và giáo lý diễn ra với nhiều quan điểm khác nhau. Những xung đột về sau liên quan đến Giordano Bruno hay Galileo cần được nhìn nhận trong hoàn cảnh lịch sử riêng, thay vì xem mọi nhà tư tưởng bị kết án đều chỉ vì phát hiện khoa học.

Điều đáng quan tâm ở Florence thời Medici chính là khát vọng đọc lại những văn bản xưa, so sánh các nền triết học và mở rộng giới hạn hiểu biết của con người. Những tư tưởng tưởng chừng đối lập đã được các học giả đặt cạnh nhau, tranh luận và diễn giải lại.

Ngày nay, khi bước qua nhà thờ Siena, ngắm nhóm chân dung học giả của Ghirlandaio tại Santa Maria Novella hay tìm hiểu những bộ bài Minchiate cổ, người ta vẫn bắt gặp dấu vết của một thời kỳ trí thức đặc biệt ấy.

Nhiều hình ảnh và khái niệm hiện được quảng bá dưới tên New Age thực ra có tiền sử rất dài. Nhưng điều khiến Florence thế kỷ XV đáng nhớ hơn cả là sự tò mò và tinh thần nghiên cứu đã đưa những di sản cổ đại trở lại đời sống châu Âu, góp phần định hình triết học, nghệ thuật và văn hóa Phục hưng.

FB-Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Wednesday, October 28, 2026

Nữ thần Tự do ở Florence

 FLORENCE – NỮ THẦN TỰ DO BẰNG ĐÁ CẨM THẠCH VÀ CÂU CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT Ở SANTA CROCE

Bên trong Vương cung thánh đường Santa Croce ở Florence, một pho tượng phụ nữ bằng đá cẩm thạch trắng đứng uy nghi dưới mái vòm cổ điển. Cánh tay phải giơ cao, chiếc vương miện tỏa những tia sáng, mái tóc buông xuống vai và những nếp áo dài mềm mại gợi nhớ đến Tượng Nữ thần Tự do nổi tiếng tại New York. Nhưng tác phẩm này được hoàn thành trước khi pho tượng khổng lồ của nước Mỹ khánh thành năm 1886.

Đó là Libertà della Poesia – Tự do của Thi ca, tác phẩm của nhà điêu khắc Pio Fedi (1818–1892), thuộc đài tưởng niệm Giovanni Battista Niccolini, nhà thơ và nhà viết kịch nổi tiếng xứ Toscana.

Sinh ngày 29/10/1782 tại San Giuliano Terme, Niccolini trưởng thành trong môi trường trí thức Florence, từng giảng dạy lịch sử và thần thoại tại Học viện Mỹ thuật, đồng thời là thành viên Accademia della Crusca, viện hàn lâm ngôn ngữ danh tiếng của Italia. Những vở bi kịch lịch sử của ông phản ánh khát vọng tự do và tinh thần thống nhất đất nước trong thế kỷ XIX.

Sau khi Niccolini qua đời năm 1861, Pio Fedi, người từng là học trò của ông, thực hiện đài tưởng niệm tại Santa Croce. Pho tượng được điêu khắc từ năm 1870 đến 1876, nhưng toàn bộ công trình chỉ chính thức khánh thành năm 1883.

Nữ thần khoác trang phục cổ điển Hy Lạp – La Mã, tay phải nâng cao một đoạn xiềng xích đã đứt, tượng trưng cho sự giải phóng tư tưởng. Bàn chân phải giẫm lên phần xích còn lại. Tay trái cầm vòng nguyệt quế, bên cạnh là cây đàn lyre đặt trên những cuốn sách của Niccolini. Chân dung nhà thơ được chạm nổi trong một huy chương đá phía sau.

Những đường xếp nếp trên trang phục, tỷ lệ cơ thể, gương mặt thanh tú và cách xử lý ánh sáng trên đá Carrara cho thấy kỹ thuật điêu khắc hàn lâm tinh tế của Pio Fedi.

Sự tương đồng giữa tác phẩm này và Statue of Liberty tại New York từ lâu đã thu hút giới nghiên cứu. Nhà điêu khắc người Pháp Frédéric Auguste Bartholdi từng đến Italia trong giai đoạn 1875–1876 và có khả năng đã nhìn thấy một phiên bản tượng của Fedi. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng xác nhận ông trực tiếp lấy tác phẩm ở Florence làm nguyên mẫu.

Hai pho tượng cùng sử dụng hình tượng nữ thần cổ điển để diễn đạt ý niệm tự do, nhưng mang thông điệp khác nhau. Nữ thần của Fedi đề cao quyền tự do tư tưởng và sáng tạo nghệ thuật, trong khi tác phẩm của Bartholdi hướng đến lý tưởng tự do của một quốc gia.

Ngày nay, giữa những lăng mộ và kiệt tác điêu khắc trong Santa Croce, Libertà della Poesia vẫn đứng đó, với cánh tay nâng cao đoạn xiềng xích đứt, lưu giữ tư tưởng của một nhà văn Toscana qua ngôn ngữ đá cẩm thạch.

FB-Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Tuesday, October 27, 2026

Tuổi Ngọ

Gửi người tuổi Ngọ – người ta vẫn thường trầm trồ trước bước chân tự do và nụ cười rạng rỡ như nắng mai của bạn, nhưng chẳng mấy ai nhận ra sau những cuộc hành trình không nghỉ ấy, có những chiều bạn đứng giữa ngã tư đường đông đúc mà lòng chợt hỏi: đâu mới thực sự là nơi mình có thể yên tâm dừng lại…

Theo quan niệm tử vi dân gian, người tuổi Ngọ thường nhiệt huyết, phóng khoáng, trọng sự tự do và luôn mang đến nguồn năng lượng tích cực cho những người xung quanh. Bạn xuất hiện ở đâu là nơi đó có tiếng cười, nhưng ẩn sâu dưới vẻ ngoài tưởng chừng vô tư lự ấy lại là những khoảng lặng rất sâu mà bạn hiếm khi cho phép ai chạm tới.

Bạn nhớ những chặng đường dài mình đã tự bươn chải một mình nơi đất khách. Nhớ những lần nhiệt tình trao đi cả tấm lòng rồi nhận lại sự hờ hững, phũ phàng. Cũng nhớ cả cảm giác trống trải đến lạnh người khi cuộc vui vừa tàn, ai nấy đều có chốn ấm êm để quay về, còn mình thì cứ mãi loay hoay với những trăn trở chưa thể gọi thành tên.

Bạn rất sợ làm chùng xuống tâm trạng của người khác, nên hiếm khi mở miệng than vãn hay kể khổ. Nỗi buồn của tuổi Ngọ thường đến nhanh nhưng lại lắng rất sâu, chỉ có điều bạn luôn chọn cách giấu nhẹm nó đi đằng sau sự bận rộn và những câu chuyện vui vẻ thường ngày.

Có một điều rất đặc biệt ở tuổi Ngọ: càng đi qua nhiều miền đất, gặp gỡ nhiều kiểu người, bạn càng khao khát những điều chân thành và giản dị. Ngày trước, bạn có thể thích những nơi náo nhiệt, thích cảm giác được tung vó vẫy vùng giữa biển lớn nhân sinh. Nhưng về sau, bạn nhận ra tự do thực sự không phải là muốn đi đâu thì đi, mà là trong lòng không còn bị trói buộc bởi những ánh nhìn và kỳ vọng của người đời.

Trưởng thành đôi khi là biết dừng bước đúng lúc để lắng nghe và vỗ về tiếng thở dài của chính mình.

Về tài vận, tuổi Ngọ vốn nhạy bén với thời cuộc, dám xông pha và không ngại thử sức ở những con đường mới. Tiền bạc tìm đến bạn từ sự năng động, quyết đoán và cả cái duyên giao tiếp thu hút sự tin tưởng của người đối diện.

Tuy nhiên, đừng để tính cách phóng khoáng quá mức hoặc những quyết định dựa trên cảm xúc nhất thời làm gián đoạn sự tích lũy của bạn. Kiếm ra tiền bằng sự nhiệt huyết là rất tốt, nhưng nếu thiếu đi sự kiên nhẫn để giữ tiền và thói quen chi tiêu có chừng mực, bạn sẽ thấy mình làm lụng vất vả suốt nhiều năm mà nhìn lại vẫn chưa có được một điểm tựa tài chính thật sự vững vàng khi biến cố ập đến.

Trung vận là lúc bạn nên học cách chậm lại một nhịp để củng cố nền móng dưới chân mình. Thay vì cứ mải miết chạy theo những cơ hội xa xôi hào nhoáng, việc tập trung vào những giá trị cốt lõi, giữ cho mình một khoản tiết kiệm cố định và tránh xa những cuộc đầu tư vì cả nể sẽ giúp tiền tài của bạn ở lại lâu bền, sinh sôi nảy nở.

Trong tình cảm, tuổi Ngọ không cần một sợi dây trói buộc nhân danh tình yêu. Bạn chỉ cần một người đủ tin tưởng để tôn trọng khoảng trời riêng của bạn, đủ bao dung để mở rộng vòng tay đón bạn trở về sau những ngày mỏi gối chồn chân, và đủ tinh tế để hiểu rằng khi người tuổi Ngọ chịu dừng lại bên ai đó, nghĩa là họ đã trao đi cả sự tự do quý giá nhất của đời mình.

Về gia đạo, hãy nhớ rằng những chuyến đi xa dù thú vị đến mấy cũng không bao giờ thay thế được hơi ấm của một bữa cơm nhà. Đừng để guồng quay công việc cuốn bạn đi quá xa khỏi những người thân yêu, hãy dành thời gian ngồi xuống lắng nghe và sẻ chia, bởi sự hiện diện trọn vẹn của bạn chính là món quà lớn nhất dành cho gia đình.

Hậu vận tuổi Ngọ đáng quý nhất là khi đôi chân bạn đã tìm được bến đỗ bình yên và tâm trí thôi bị thúc giục bởi những cuộc đua vô định. Bạn biết đủ với những gì đang có, biết trân trọng sức khỏe và không còn để những tiếc nuối của tuổi trẻ làm xao động lòng mình.

Hậu vận tuổi Ngọ đẹp nhất khi kinh tế tự chủ vững vàng, có một mái hiên yên ả để thong dong ngắm nhìn nắng sớm mưa chiều, con cháu hòa thuận hiếu thảo và trong tim vẫn giữ được ngọn lửa ấm áp, yêu đời như thuở ban đầu.

Bạn không cần phải chạy thật nhanh suốt cả cuộc đời chỉ vì sợ bị bỏ lại phía sau. Đôi khi, cho phép mình đi chậm lại một chút để ngắm nhìn những bông hoa ven đường và tận hưởng từng nhịp thở bình yên cũng đã là một hành trình vô cùng trọn vẹn rồi.

FB-Nguyễn Đình Trường

Monday, October 26, 2026

Trí nhớ và cách nhớ

 CÁCH NHỚ LÂU GẤP 3 LẦN CHỈ VỚI 5 PHÚT MỖI NGÀY: ĐÁNH BẠI "ĐƯỜNG CONG LÃNG QUÊN" EBBINGHAUS

Bạn có thường xuyên rơi vào tình trạng học "trước quên sau"? Dành hàng giờ liền để tiếp thu một kiến thức mới, nhưng chỉ sau vài ngày, mọi thứ lại mờ nhạt như chưa từng được học? Nếu câu trả lời là có, bạn đang là nạn nhân của "Đường cong Lãng quên" Ebbinghaus.

Vào cuối thế kỷ 19, nhà tâm lý học Hermann Ebbinghaus đã chứng minh rằng sự lãng quên diễn ra cực kỳ nhanh. Chỉ sau khoảng một giờ học, chúng ta đã có thể quên hơn 50% thông tin. Sau một ngày, lượng kiến thức còn giữ lại chỉ còn khoảng 30%.

Đây không phải là lỗi của bạn. Bộ não có cơ chế tự động "dọn dẹp" những thông tin mà nó đánh giá là không quan trọng (vì không được sử dụng hoặc nhắc lại thường xuyên). Chính sự sụt giảm nhanh chóng này đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược ôn tập thông minh.

Tin mừng là Ebbinghaus cũng chỉ ra cách để "đánh lừa" và bẻ cong quy luật này: đó chính là Lặp lại Ngắt quãng (Spaced Repetition).

Mỗi lần bạn chủ động ôn tập kiến thức, bạn sẽ đẩy "đường cong" trí nhớ lên cao hơn. Quan trọng hơn, khoảng thời gian lãng quên tiếp theo sẽ diễn ra chậm hơn rất nhiều so với lần đầu. Bằng cách ôn tập tại các "thời điểm vàng", bạn sẽ dần chuyển kiến thức từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn một cách bền vững.

Lịch ôn tập "Thời điểm vàng" chỉ với 5 phút

Để ghi nhớ một thông tin mới lâu dài, bạn không cần phải nhồi nhét hay dành nhiều giờ đồng hồ. Thay vào đó, hãy áp dụng lịch ôn tập thông minh, tận dụng khoảng thời gian ngắn chỉ 5 phút cho mỗi lần:

Lần 1: Ngay sau khi học (khoảng 5-10 phút). Thời điểm quan trọng nhất để chống lại sự sụt giảm nhanh chóng.

Lần 2: Một ngày sau lần học đầu tiên. Củng cố kiến thức vào bộ nhớ tạm thời.

Lần 3: Một tuần sau lần học đầu tiên. Đảm bảo ghi nhớ trong vòng một tháng.

Lần 4: Một tháng sau lần học đầu tiên. Chuyển thông tin sang khu vực trí nhớ dài hạn.

Lần 5: Khoảng ba đến sáu tháng sau lần học đầu tiên. Giúp kiến thức trở nên gần như vĩnh viễn trong bộ nhớ của bạn.

Mỗi lần ôn tập chỉ kéo dài khoảng 5 phút, nhưng nó lại có sức mạnh kéo dài tuổi thọ của kiến thức lên nhiều tháng, thậm chí là năm.

Cách tối ưu hóa 5 phút ôn tập

Để 5 phút ôn tập thực sự hiệu quả, bạn nên tập trung vào Gợi nhớ Chủ động (Active Recall). Thay vì chỉ đọc lướt qua ghi chú, bạn hãy tự hỏi bản thân các câu hỏi liên quan, cố gắng nhớ lại câu trả lời trước khi xem lại tài liệu. Điều này buộc bộ não phải làm việc, củng cố các liên kết thần kinh và giúp bạn nhớ lâu hơn rất nhiều so với việc đọc thụ động.

Chỉ cần cam kết những khoảng thời gian ngắn, đúng lúc, bạn sẽ thấy khả năng ghi nhớ và hiệu suất học tập của mình được cải thiện vượt trội.

Khám phá phương pháp học sâu - nhớ lâu của Ebbinghaus qua cuốn sách Phương pháp học siêu trí nhớ của Ebbinghaus.

Sunday, October 25, 2026

CỘNG ĐỒNG DO THÁI Ở MỸ

 Mỹ là một quốc gia hợp chủng quốc, nên những doanh nhân thời kỳ đầu ở Mỹ vẫn giữ ít nhiều bản sắc của dân tộc mình trong lề lối làm ăn. Đôi khi tính dân tộc đó cộng hưởng nhau tạo sức ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế Mỹ. Cộng đồng doanh nhân gốc Do Thái là một ví dụ điển hình.

Tuy người Do Thái tại Mỹ chiếm thiểu số, chỉ có 5,4 triệu người (chiếm chưa tới 2% dân số Mỹ) nhưng họ đoàn kết rất chặt chẽ, rất giống với các bang hội của người Trung Quốc. Nếu so sánh với các sắc tộc khác, thì quyền lực mà cộng đồng Do Thái ở Mỹ tạo ra thật “khủng khiếp”. Ước tính khoảng 70% những người có thế lực trong ngành sản xuất phim ảnh của Hollywood là người Do Thái và cũng khoảng 60% đang nắm giữ những ngành quan trọng như ngân hàng, báo chí, chứng khoán… Đặc tính liên kết của họ rất cao, thông qua sự kết nối của các giáo sĩ, tạo ra độ tin cậy nhau cực lớn. 

Trên hết, người Do Thái rất thông minh, có kỹ năng quản trị nhạy bén và cách xử lý tài chính tài tình. Tôi có thể khẳng định rằng, không có dân tộc nào trên thế giới có thể bắt kịp người Do Thái trong lĩnh vực kinh doanh. Từ một quốc gia mới thành lập và không có tài nguyên thiên nhiên ưu đãi gì vào năm 1949, ngày nay Israel của người Do Thái đã trở thành một quốc gia phát triển kinh tế hàng đầu của thế giới.

Câu chuyện về ông chủ tịch hãng Eisenberg nơi tôi làm việc là một minh chứng rõ rệt. May mắn thoát khỏi trại diệt chủng ở Áo năm 1945 khi mới 17 tuổi, ông ta trở về Đức. Chỉ một năm sau, ông quyết định sang Nhật vì nghĩ rằng nơi đây có nhiều cơ hội tiềm năng hơn. Sau chiến tranh, đất nước Nhật điêu tàn, nhưng sự tàn phá đó đem đến cho ông một nguồn lợi rất lớn là kinh doanh sắt vụn. Rồi sau đó, khi chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên vừa chấm dứt, ông ta lại nắm ngay lấy cơ hội đầu tư thứ hai khi nhảy vào Hàn Quốc liên doanh với các công ty mà sau này trở thành các tập đoàn lớn như Hyundai, Samsung, Daewoo… Năm 1975, ông ta tiếp tục sang Bắc Kinh và làm chấn động giới lãnh đạo nơi đây khi đầu tư 200 triệu đô la. Sau đó, dù các dự án liên doanh 200 triệu này mất trắng, nhưng theo một nguồn tin, ông ta đã kiếm được 1,5 tỷ đô la nhờ bán vũ khí từ Trung Quốc cho Iran, Iraq. Cũng vì chuyện này, công ty của ông đã bị sở Tư Pháp Mỹ điều tra, kết quả là phải đóng cửa các công ty ở Đức, Mỹ. Sau vụ này, ông quyết định ở lại luôn Trung Quốc để tiếp tục nhiều thương vụ làm ăn. 

Eisenberg có tổng cộng hơn 43 công ty trên toàn thế giới. Tôi làm việc cho họ tới năm 1978, nhưng vẫn nhớ mãi những bài học từ họ đến tận ngày hôm nay. Cộng đồng doanh nhân Trung Quốc cũng có 3,8 triệu người ở Mỹ với nhiều đặc tính tương đồng, nhưng thực sự không tạo ra ảnh hưởng bằng cộng đồng Do Thái. Bởi suốt thế kỷ XX, Trung Quốc vẫn còn là một nước nghèo, nhiều khó khăn, những Hoa kiều khi đến Mỹ chỉ làm việc chân tay, buôn bán vặt vãnh... Trong khi đó, câu chuyện về gia đình Rothschild gốc Do Thái hoàn toàn tương phản. Có năm người con, ông bố Rothschild quyết định đầu tư đào tạo tất cả làm ngành ngân hàng. Nhưng ông suy tính, nếu sắp đặt cả năm người vào một nơi thì sẽ không phát huy được hết sức mạnh. 

Cuối cùng, ông gửi năm con trai đến năm quốc gia khác nhau (Đức, Mỹ, Pháp, Anh và Áo) để làm ăn. Sau này năm người con đã thành công và sở hữu năm ngân hàng lớn nhất ở năm quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới. Làm ở Eisentberg, tôi mới được biết là 30% nợ của chính phủ Trung Quốc ở nước ngoài đều thông qua môi giới từ văn phòng Rothschild Hồng Kông. 

Tuy nhiên, bản tính và cách làm ăn của người gốc Do Thái luôn là đề tài gây bàn tán. Nói thẳng ra, dù giàu có đến đâu, người Do Thái vẫn rất keo kiệt, thiên về tiền bạc, lợi ích cá nhân và gia đình, chứ ít thiên về tinh thần xã hội cộng đồng. Ở châu Âu và ngay cả ở Mỹ, dù không bộc lộ nhưng vẫn có xu hướng “bài” Do Thái. Bản thân tôi cũng từng là nạn nhân của một doanh nhân Do Thái. Năm 1996, tôi quen anh bạn Do Thái đúng lúc công ty anh ta đang gặp khủng hoảng, gia đình lại trục trặc vì nguy cơ phá sản. Để giúp đỡ anh ta, tôi mua lại công ty, rồi định sẽ tìm cách bán đi để lấy lại vốn. Theo thỏa thuận, tôi đồng ý trả bằng tiền mặt cộng với cổ phiếu của Hartcourt. Nhưng trong hợp đồng, do luật sư của tôi bất cẩn, không ghi rõ về hình thức trả, đến lúc thanh toán lại rơi vào đúng thời điểm giá cổ phiếu của Hartcourt tăng mạnh. 

Thế là anh bạn Do Thái nhất quyết đòi tôi phải trả toàn bộ bằng cổ phiếu. Theo thỏa thuận cũ, giá trị công ty mà tôi mua lại chỉ khoảng 200.000 đô la, nhưng nay đã tăng lên 2 triệu đô la nếu tôi buộc phải trả bằng cổ phiếu Hartcourt. Tôi không đồng ý, thế là anh ta kiện tôi ra tòa. 

Trước tòa, anh ta rất khôn khéo khi luôn chứng tỏ mình nghèo khó, còn tôi là một ông đại gia ức hiếp người yếu thế. Ngay cả luật sư của anh ta cũng tập trung vào các câu hỏi tôi giàu như thế nào, chi tiêu mua sắm ra sao… Chính vì chiếm được cảm tình từ bồi thẩm đoàn, cùng sơ suất của một hợp đồng không rõ ràng, “người nhận ơn” đã thắng kiện và tôi mất trắng 2 triệu đô la. 

- TS. Alan Phan –

Saturday, October 24, 2026

Thanh kiếm “Niềm vui”

JOYEUSE – THANH KIẾM HUYỀN THOẠI CỦA CHARLEMAGNE VÀ BÍ ẨN HƠN 1.200 NĂM LỊCH SỬ

Trong một tủ kính tại Bảo tàng Louvre ở Paris, thanh kiếm Joyeuse, nghĩa là “Niềm vui”, vẫn tỏa sáng với chuôi vàng chạm trổ tinh xảo. Tương truyền, đây là vũ khí của Charlemagne (742–814), vị hoàng đế vĩ đại đã thống nhất phần lớn Tây Âu và được trao vương miện Hoàng đế La Mã vào năm 800.

Trong sử thi La Chanson de Roland thế kỷ XI, Joyeuse được miêu tả là thanh kiếm có ánh thép biến đổi sắc màu ba mươi lần mỗi ngày. Truyền thuyết còn kể rằng chuôi kiếm chứa một chiếc đinh từ Thánh giá của Chúa Jesus, khiến nó mang sức mạnh thiêng liêng và có thể làm lóa mắt kẻ thù.

Nhưng liệu thanh kiếm đang trưng bày tại Louvre có thực sự từng nằm trong tay Charlemagne?

Các nghiên cứu cho thấy Joyeuse là một hiện vật được lắp ghép, tu sửa qua nhiều thế kỷ. Núm chuôi trang trí hình hai con chim đối xứng mang phong cách thế kỷ X–XI, thanh chắn tay tạo hình rồng có cánh thuộc thế kỷ XII, phần tay cầm bằng vàng khắc họa tiết hình thoi thuộc thế kỷ XIII–XIV. Ngay cả lưỡi kiếm cũng trải qua nhiều lần thay đổi, với niên đại được Louvre xác định thuộc thế kỷ XVIII–XIX.

Những chi tiết ấy khiến việc chứng minh Joyeuse chính là thanh kiếm nguyên bản của Charlemagne trở nên bất khả thi với các bằng chứng hiện có.

Từ năm 1271, thanh kiếm đã xuất hiện trong lễ đăng quang của Philippe III tại nhà thờ Reims. Trong nghi lễ, tổng giám mục trao kiếm cho nhà vua như biểu tượng của quyền lực và trách nhiệm bảo vệ vương quốc.

Suốt nhiều thế kỷ, Joyeuse được gìn giữ trong kho báu của Tu viện Saint-Denis. Sau Cách mạng Pháp, thanh kiếm được đưa về Louvre năm 1793, tiếp tục xuất hiện trong lễ đăng quang Napoleon năm 1804 và Charles X năm 1825.

Ngày nay, Joyeuse dài khoảng 100,5 cm, được trưng bày tại Louvre như một trong những báu vật vương quyền quý giá nhất còn tồn tại của nước Pháp.

Có thể thanh kiếm ấy chưa từng theo Charlemagne ra chiến trường, nhưng nó đã chứng kiến sự hình thành, thăng trầm và kết thúc của nhiều triều đại. Một vũ khí từng được truyền tụng trong sử thi đã trở thành biểu tượng quyền lực tồn tại qua hơn một thiên niên kỷ lịch sử châu Âu.

FB-Pane e Vino - 3 Nguyễn Khắc Cần

Friday, October 23, 2026

Magyar Slágerek

 Az 1973. június 10-én megrendezett diósgyőri popfesztivál (hivatalos nevén az I. Magyar Popfesztivál) volt Magyarország első nagyszabású, egész napos rock- és popfesztiválja, amit a rocktörténet-írás azóta is „kis magyar Woodstock” néven emleget.

Körülbelül 20 000 néző látogatott ki, 14 együttes és 2 szólista lépett színpadra, többek között:

Bergendy, Corvina, Generál, Illés / KITT-Egylet (Koncz-Illés-Tolcsvay), Neoton Família, P. Mobil, Syrius, Mini, Delhusa Gjon (V'73), Ex Vér és a Theatrum.

Nghe bản Hit ở đây

RETRO GOLD HUNGARY

Thursday, October 22, 2026

BUDAPEST: Mùa Thu

BUDAPEST THU NÀY

Mùa thu Budapest, chỉ cần ghé qua những di tích và nơi chốn rất quen thuộc như Quảng trường Anh Hùng, Công viên Thành phố, Lâu đài Vajdahunyad, Pháo đài Ngư phủ, Nhà thờ Mátyás, Phố cổ Buda, quần thể Lâu đài Hoàng gia... là cũng thấy đủ mọi sắc màu của lịch sử và thiên nhiên. Cho dù, cỏ cây hoa lá ở đây không đến mức... vàng khè quá trớn như nhiều nơi, hoặc như sắc ảnh dùng app quá đà, nhưng rất vừa phải và tinh tế 🙂.

Có dịp đưa gia đình bạn học cũ từ thời phổ thông đi lang thang Budapest, thời gian cũng không nhiều, hơn một ngày, nhưng có lẽ cũng đủ để "khoe" nơi này với các anh chị, cô chú đã đi một vòng Trung Âu, đã thưởng ngoạn và chụp rất nhiều ảnh từ Praha, Karlovy Vary đến München, Hallstatt, Vienna... Những ngày cuối, chân đã mỏi, ngắm cung điện lâu đài lăng tẩm thánh đường đã ngán, Budapest liệu có ấn tượng với mọi người?

Câu hỏi ấy phải đặt ra với đoàn, nhưng mình tin tưởng sâu sắc rằng sự hấp dẫn của một điểm đến không chỉ ở chỗ nó đẹp (ở đâu chả đẹp?), mà còn nằm ở những câu chuyện và con người ở đó, mà du khách tất nhiên không ai có thể nhớ hết, nhưng phần nào sẽ còn đọng lại qua những chùm ảnh. Những khoảnh khắc "kể chuyện" chớp nhoáng để khỏi phạm vào quỹ thời gian vốn dĩ không bao giờ nhiều của đoàn, luôn là kỷ niệm với mình.

Với bạn mình, người từng qua Budapest tầm 36 năm trước, thì chuyến đi này cũng là thử thách với trí nhớ, xem chỗ này là chỗ nào, sao không giống xưa, mọi thứ "vật đổi sao dời" thế nào, v.v... Bằng một cách thần kỳ nào đó, bạn còn giữ được mấy tấm ảnh xưa, cái thời sang lắm mới kiếm được cái máy ảnh, cuộn phim ORWO 36 hay Kodak 24 "bô", chụp xong hồi hộp đi rửa có khi hỏng cả cuộn. Bạn dùng ảnh ấy để so với bây giờ.

Đó là những giây phút cảm động và vượt lên hết thảy mọi danh lam thắng cảnh, khi ký ức rất xa xôi tỏ ra còn mạnh hơn là trưa nay mình từng ăn gì 🙂. Nhiều thứ bạn nói, là bọn mình đã đến chỗ này chỗ kia, với bạn A bạn B, mình không còn nhớ nữa nhưng hoàn toàn tin là nó đã như thế. Một hành trình như thế, giá trị và ý nghĩa hơn nhiều vì nó nhắc nhớ những năm tháng thời đi học, vô tư và ngu ngơ, một thời rất xa vắng...

Những ngày cuối thu, đồng hồ mới được chỉnh lại theo giờ mùa đông, trời mau tối dễ sợ, sau 4h chiều là đã sẩm tối và tối rất nhanh, không còn cái cảnh nắng chiều chạng vạng (chữ của cụ Phan Khôi) còn kéo dài nhiều giờ như lúc hè. Budapest vào đêm lung linh với ánh điện không quá chói sáng nhưng tinh tế phủ lên Tòa nhà Quốc hội và những cây cầu lịch sử ngang sông Danube, tạo cảm giác như bước vào một câu chuyện cổ tích.

Mình nghĩ, Budapest là thành phố có cảnh đêm đẹp và giàu sức gợi bậc nhất ở Trung Âu, với cảnh quan trải dài hai bên sông Danube và kết nối với nhau bằng những cây cầu sáng đèn trong đêm. Những gì du khách thấy vào ban ngày, ban đêm vẫn có thể gây ngạc nhiên khi hiện ra với sắc vẻ khác. Vẻ đẹp kỳ diệu ấy, bà con bên này nghiễm nhiên được thụ hưởng mà nhiều khi không biết, còn nhà bạn mình phải đi cả chục ngàn km 🙂.

Hai ngày trôi vèo, mà vẫn còn "Chợ Cầu Xanh" và Nhà Thờ Lớn chưa đi. Vẫn còn szalámi và Unicum "độc nhất vô nhị" tiến vua của Hungary chưa mua 🙂. Đất nước bé nhỏ này hàm chứa không ít những giá trị cho thế giới, và nhà bạn mình tới cuối ngày đã có thể tán thưởng và hưởng ứng những sự tích, tên tuổi, câu chuyện về lịch sử, văn hóa Hungary, có khi khâm phục, có lúc bùi ngùi - thì mình nghĩ đã làm được điều mình muốn...

Nguyễn Hoàng Linh

Những góc chụp tuyệt vời.

Köszönöm szépen!

Reply



Anh Ngoc Nguyen

 ·

 ·


by author

Em cũng công nhận Budapest có cảnh đêm tuyệt đẹp. Lúc đi tàu dọc sông Danube, khi đi ngang tòa nhà Quốc hội, cứ như khung cảnh lâu đài cổ tích, các công trình khác, các cây cầu khác cũng đẹp nữa.

Reply

Yen Tran

 ·

 ·


by author

Cảm ơn Nguyen Hoang Linh, lâu lắm mới quay lại Budapest, vẫn cảm giác là 1 Budapest lung linh nhưng đẹp hơn trước khá nhiều, 36 năm lại quá dài nên gần như mình ko còn nhớ chi tiết về chuyến đi trước, trừ những gì còn đọng lại trong các bức ảnh!



Wednesday, October 21, 2026

Ký ức của Hoàng tử: Cuốn sách kỷ niệm

 Romeo, Juliette và bóng tối. 

    Hôm nay tình cờ mua lại được cuốn sách tôi đọc lần đầu cách đây 60 năm. Đây là tái bản năm 2000. 

    Bản dịch rất hay của nhà văn Nguyễn Thành Long, bạn thân của bố tôi, là thân phụ của Que Huong Nguyen.

    Cuốn sách kỷ niệm chúng tôi gặp nhau lần đầu mở đầu cho một sự gắn kết về tinh thần suốt đời  với  Nógrádiné Kiss Magdolna.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, October 20, 2026

Câu chuyện của chúng tôi ( 8 )

Một thời đã xa

Egy régmúlt idő: Volt egyszer – Amikor fiatalok voltunk

Ký ức một thời tuổi trẻ đã lùi xa, nhưng vẫn in đậm trong chúng tôi khoảng thời gian đẹp nhất và đáng nhớ nhất: Once Upon a Time - When We Were Young.

Cánh cửa Hungary mở rộng đưa chúng tôi vào một thế giới rộng lớn, giúp chúng tôi "vỡ lẽ" để cảm nhận/thấm thía nhiều điều về cuộc sống và con người. Với tôi, đây là chân trời mới, là vùng trời tự do. Dù thời gian sống ở Hungary chỉ là một phần nhỏ so với trước đó và sau này, nhiều người trong chúng tôi đều thấy được ảnh hưởng của Hungary là rất lớn, rất quyết định đối với sự phát triển về mặt trí tuệ cũng như về nhân cách của mỗi người. 

Với nhiều LHS, đó là thời kỳ học hành gian khổ, đầy nỗ lực vì nghĩa vụ với đất nước, để giữ trọn lời hứa với gia đình và những bậc tiền bối khả kính của mình. Tiêu biểu trong số này là chị Tăng Kim Đoan, sang Hungary vào năm 1969. Cũng như tôi, chị là học sinh miền Nam (đi theo diện Mặt trận DTGPMNVN). Khi cầm trên tay quyển học bạ ở "thời đẹp nhất tuổi thanh xuân" chị nhớ lại "trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt, bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt, hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên."

Học bạ ĐH SEMMELWEIS (Hình ảnh: Chị Đoan, M69)

Chị Đoan nhớ lại nơi ấy "là phương trời mơ ước mà sau 6 năm đã trở thành thân thương như quê hương thứ hai không bao giờ quên được - Hungary! Đất nước ấy không to lớn,giàu có hùng mạnh nhưng giàu lòng nhân ái, thông minh, xinh đẹp đã giúp chúng tôi sống và học tập để khi trở về nước có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Giờ đây mọi người đã ở tuổi U80 chúng tôi vẫn cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, vẫn nhớ da diết Hungary yêu dấu, có bất cứ dịp nào cũng muốn trở lại nhiều lần và luôn tự hào rằng mình đã được đào tạo ở đất nước Hungary. Cầu chúc cho đất nước Hungary yêu dấu phát triển ngày càng vững mạnh lên, vẫn luôn xinh đẹp và nhân ái!"

Với các bạn của mình, và những anh chị lớn hơn, những người làm tròn bổn phận của ''hạt giống đỏ'' hay những người ''bôn sệt'' chân chính, tôi luôn dành cho họ sự tôn trọng chân thành vì tự thấy mình có lỗi và thua kém mọi người do đã ko có sự chuyển đổi phù hợp cả về ngành học và cố gắng hơn nữa để có thể học tập và hoàn thành tốt trách nhiệm của 1 LHS khi đó. 

Vào năm chúng tôi đến Hungary thì GS. Trần Văn Nhung đang là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thời gian 1978-1982, ông học tiếng Hung, làm NCS và bảo vệ luận án PTS tại Trường Đại học Bách Khoa Budapest (BME). Những năm 1988-1990, ông giảng dạy Toán cho sinh viên quốc tế bằng tiếng Anh tại Đại học Bách khoa Budapest, đồng thời làm và bảo vệ luận án Tiến sĩ.

GS. Trần Văn Nhung kể về bước ngoặt đối với ông là vào năm 1965 được dự cuộc thi học sinh giỏi toán lớp 8 toàn miền Bắc để tuyển vào học Lớp Toán đặc biệt (sau này gọi là Lớp chuyên Toán), Khoá I (1965-1967), của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTH HN, nay là ĐHQG HN). Tên viết tắt thời đi sơ tán trong chiến tranh chống Mỹ là Lớp Ao. Cả Trường ĐHTH Hà Nội sơ tán trên Thái Nguyên được gắn ký hiệu mật là T104, Khoa Toán là A, Khoa Lý là B, Khoa Hoá là C,...  Trùng hợp làm sao khi ông vừa học xong lớp 8 thì Lớp Toán đặc biệt Ao lại ra đời bắt đầu từ lớp 9 và lứa học sinh của ông được vào học với học bổng toàn phần 20 đồng/tháng do Nhà nước cấp. Nếu Lớp này chỉ cần ra đời muộn hơn một, hai năm hoặc chỉ bắt đầu từ lớp tám như thông lệ sau này của nó thì câu chuyện của ông sẽ khác! Ông ko những đã ko phải bỏ học ở quê mà lại còn được vào học Lớp Toán đặc biệt Ao khoá I, được nghe những bài giảng sâu sắc, hấp dẫn và rất sư phạm của các giáo sư toán học tài năng và giàu nhiệt huyết như Hoàng Tụy, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường, Nguyễn Thừa Hợp, Lê Minh Khanh, Nguyễn Duy Tiến, Nguyễn Viết Phú, Đặng Hữu Đạo,...

Ông còn nhớ vào một ngày tháng 9 năm 1965 đã nhận được giấy gọi vào học Lớp 9 Chuyên Toán khoá I, trường ĐHTH HN, do nhà Toán học, cố GS TSKH, Phó Hiệu trưởng Lê Văn Thiêm ký. Từ một vùng quê của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, ông đã về Hà Nội tập trung cùng các bạn mình thành một lớp gồm 38 học sinh và đã di chuyển ngay lên khu sơ tán của trường ĐHTH HN tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Các học sinh giỏi của miền Bắc lúc đó được triệu tập từ nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có cả những học sinh miền Nam theo gia đình tập kết ra Bắc.

Những năm 1960-1970 ở Hà Nội có ít trường cấp 3 lắm, trong nội thành chỉ có mấy trường phổ thông Chu văn An, 3A, 3B (đến năm 1964, đi sơ tán mới tách ra thành mấy trường mới : Thăng Long, Đoàn kết…). Ngoại thành có Yên Hòa, Việt- Ba, Nguyễn Gia Thiều, Đông anh… Rất ít trường, nhưng số lượng học sinh cũng ko nhiều nên vào học cấp 3 cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần tốt nghiệp cấp 2 đến phòng Giáo dục khu phố (nay là Quận) nộp hồ sơ để xếp vào trường và theo hẹn đến nhận giấy báo nhập trường.

Những ngày sơ tán rất quen thuộc với dân HN chúng tôi. Lúc đi sơ tán thì tôi còn nhỏ, mới học cấp 2. Lên cấp 3 thì về HN học. Thời gian sơ tán của tôi trải qua ở nhiều huyện khác nhau thuộc Hà Tây và Hưng Yên. Hồi học lớp 6, tôi đi theo trại trẻ của Ban Thống Nhất TW ở Chương Mỹ. Chúng tôi sơ tán ở 1 làng ven sông Đáy, chỗ học nằm ở rìa 1 ngôi làng bị ném bom, may mà thoát chết. Sau đó, chúng tôi chuyển đến 1 vùng khác.

Lán học nơi sơ tán (Hình chọn từ net)

Về những năm tháng ở Hungary, GS Trần Văn Nhung bày tỏ: “Hungary khiến tôi ngạc nhiên và thán phục...". Mảnh đất này đã chắp cánh cho ông trong việc phát triển tư duy và sự nghiệp khoa học. Ông thổ lộ với Nhịp Cầu Thế Giới: “Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người”.

Ông cũng chia sẻ thêm nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian học tập và nghiên cứu ở Hungary:

"Đất nước “bé hạt tiêu” này đã để lại cho tôi những ấn tượng và kỷ niệm đặc biệt, gây cho tôi từ ngạc nhiên, thán phục này đến ngạc nhiên, thán phục khác. Đó là: tiếng Hung khó, dân tộc Hung thông minh, chính sách cởi mở và toán học phát triển.

Thật khó tưởng tượng: một đất nước chỉ có khoảng 10 triệu dân, với diện tích 93 nghìn km vuông, nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoạt giải Nobel lên tới 15 người (về con số này, do những lý do địa lý, chính trị, lịch sử, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, có những ý kiến cho rằng con số này thực tế còn nhiều hơn thế).

Đó là một kỳ tích mà trên thế giới hiếm có quốc gia nào đạt được. Đúng như một câu ngạn ngữ Hungary: “Kicsi a bors, de nagyon erős” (Bé hạt tiêu).

Tiếng Hung gây cho tôi ấn tượng, kỷ niệm và cả sự sợ hãi đầu tiên. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngay tiếng nói đã chứng tỏ dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới.

Nhắc lại câu chuyện cũ tôi vẫn muốn nói lời cám ơn đến TS. Vũ Hoài Chương, GS. TSKH. Trần Văn Đắc và các tác giả khác đã có đóng góp rất quan trọng cho cộng đồng lưu học sinh Việt Nam tại Hungary với bộ từ điển Hung - Việt “gối đầu giường” gồm hai tập.

Tôi được học chuyên tu tiếng Đức nhưng không được nhận đi làm NCS ở CHDC Đức. Vì vậy tôi là một trong số ba NCS Việt Nam khóa 1978-1982 chưa được học tiếng Hung trước khi lên đường sang Hung.

Tôi còn nhớ một kỷ niệm ngay trong tuần đầu tiên khi vừa đến Budapest và đi tìm thầy hướng dẫn NCS. Anh Đỗ Văn Thành (nay là Lãnh sự danh dự, Lãnh sự quán Hungary tại TP. HCM) đã dẫn tôi đến Đại học Tổng hợp Budapest danh tiếng mang tên Eötvös Loránd xin gặp GS. TSKH. Schipp Ferenc.

Sau mấy câu đầu bằng tiếng Hung nhờ anh Thành phiên dịch, chúng tôi chuyển sang trao đổi trực tiếp bằng tiếng Đức. Lúc đó tôi chưa có thể sử dụng tiếng Anh, tiếng Nga được như tiếng Đức.

GS Schipp đã giới thiệu tôi sang gặp và làm NCS với GS. TSKH. Farkas Miklós ở Trường Đại học Bách khoa Budapest, người cùng làm một hướng với tôi về ổn định của các hệ động lực, dù rằng GS. Farkas làm về các hệ tiền định, còn tôi nửa tiền định nửa ngẫu nhiên.

Trong lần gặp gỡ đầu tiên, GS. Farkas đã ưu tiên tôi dùng tiếng Đức, mặc dù giáo sư hay dùng tiếng Anh.

Với cơ chế mềm dẻo, Hungary đã tạo cho chúng tôi nhiều may mắn: các giáo sư hướng dẫn NCS có thể sử dụng nhiều thứ tiếng quốc tế như Anh, Đức, Pháp, Nga hoặc Tây ban Nha; cho phép NCS nước ngoài viết báo khoa học, luận án PTS, TS và bảo vệ bằng tiếng Hung hoặc một trong các thứ tiếng quốc tế.

Cũng như một số NCS Việt Nam, từ khá sớm ngay khi mới bắt đầu làm NCS, trong các năm 1981-1983 tôi đã được mời đi hợp tác nghiên cứu toán học với các nước Tây Âu như Áo, CHLB Đức, Pháp."

Về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời mình, GS cho biết:

"Với những công dân thông minh, với các chính phủ khôn ngoan và với cơ chế mềm dẻo, đất nước này luôn được xem là một hình mẫu thành công của cả phe XHCN (cũ).

Là một anh “nhà quê ra tỉnh” muộn, sau khi tốt nghiệp đại học ở Việt Nam, thi đỗ NCS, mãi năm 30 tuổi tôi mới được qua Moscow bằng máy bay Nga, rồi từ Nga đi tàu hỏa sang Budapest. Đã từng “nằm mơ nước Nga”, chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài này đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như sang hành tinh mới.

Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người.

Tôi tiếp tục được học toán, làm toán và dạy toán khi sang Hungary. Thật may mắn cho tôi và một số nhà toán học Việt Nam, Hungary “bé hạt tiêu” này là một trong những cường quốc toán học.

Chúng ta đã được nghe tên các nhà toán học Hungary lừng danh thế giới như: Bolyai János, Riesz Frigyes, Neumann János, Rényi Alfréd, Erdős Pál… và các nhà toán học xuất sắc hiện thời, trong đó có GS. Lóvász László (sinh năm 1948), nguyên là Chủ tịch Hội Toán học thế giới (khi GS Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields năm 2010) và hiện nay (2015) là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.

GS Lóvász đã sang dự một hội nghị toán học chuyên đề quốc tế được tổ chức năm 2009 tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Con trai giáo sư là László Miklós Lóvász cũng đã sang Việt Nam tham dự Olympic Toán Quốc tế 2007 (IMO 48) dành cho học sinh phổ thông xuất sắc về Toán học, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của 93 nước và vùng lãnh thổ. Năm đó anh đã giành được Huy chương Bạc."

Với những ấn tượng mang nhiều cảm xúc, GS cho rằng: "Hungary vẫn là nước năng động nhất trong phe XHCN" lúc đó. 

Gia đình GS Trần Văn Nhung tại buổi bảo vệ luận án TSKH Toán học của ông ở Hungary (1990). Nguồn: Nhịp Cầu Thế Giới

Thời tuổi trẻ, chúng tôi sống rất vô tư, vui vẻ hòa thuận với nhau. Với hầu hết các sv VN học ở Hungary, những năm học ở đây là những năm sống trong bầu ko khí của tự do. Đến trường ko phải làm trực nhật, ko có giờ đạo đức nhạt nhẽo và phải học chính trị nặng nề. Đảng và Đoàn được xác định thuộc về lĩnh vực chính trị, ko có vị trí tối cao trong trường học và các công sở. Người Hung ăn mặc tùy thích, ai thích râu tóc xồm xoàm thì cứ để, ko thích có thể cạo trọc, muốn quần loe thì loe, ko thích thì bó. Những gì thuộc về cá nhân, kể cả chuyện yêu đương, hoàn toàn tự do, ko phải xin phép và báo cáo với ai hết. Trong 1 xh như thế, họ chỉ cần chúng tôi cọ́ kiến thức khoa học, kiến thức tiếp thu ntn tùy thích, có thể ở nhà tự đọc tài liệu, có thể đi nghe giảng, giờ lý thuyết ko bắt buộc, nếu đi nghe, hết giờ, giảng viên lại cúi đầu cảm ơn chứ ko bao giờ nặng lời chỉ trích nếu thấy những điều lẻ tẻ ko đáng để bận tâm...

Ngay từ năm thứ nhất ĐH, đã có các GS, viện sĩ đầu ngành trong số các giảng viên tới thuyết trình những thành quả nghiên cứu mới nhất, chứ ko phải chỉ có các giảng viên nhại đi nhại lại các kiến thức đã thuộc lòng. Vì thê,́ thi cử ở đây nghiêm khắc và hầu hết là vấn đáp....Về sau, ở thời kỳ du học sinh (DHS), sau khi học xong, ai muốn về nước thì về, ai thích ở lại làm việc hoặc học tiếp cũng được, ko bắt buộc phải về nước như trước.

Do đó, nhiều người đã ở lại, có lẽ vì cái tự do ngọt ngào từng được trải nghiệm đó... đã ngấm vào người nên nước Hung trở thành Tổ quốc thứ 2. Dần dần, họ trở thành bạn bè và gắn bó với cộng đồng mới. Hàng xóm láng giềng cũ, mới người Hung gần gũi như người thân. Nếu có điều kiện, vào dịp những kỳ nghỉ và thời gian thoải mái có thể mời nhau vui vẻ bên chén rượu, tách trà đàm đạo sự đời. Những khi gia đình muốn đi du lịch xa, có thể trao chìa khóa nhà, nhờ hàng xóm trông và cho chó mèo hay cá ăn hộ. Nhiều người còn nhờ tưới cây, chăm sóc sân vườn, mà phần lớn là được hàng xóm tặng. Cuộc sống vui và thoải mái.

Một thời để nhớ

Khi viết những dòng này, tôi muốn nói đến những mảnh ghép của chúng ta, những người đã từng có nhiều kỷ niệm với đất nước và con người Hungary. Cũng như Hoàng tử và những người từng gắn bó với đất nước này, tình cảm cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.

Và như thế, đây là câu chuyện dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì lưu giữ trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng, những gì còn lại ko bao giờ mất, chỉ có thể cảm nhận, vô cùng quý giá.

Trong số chúng tôi, nhiều bạn đã trở lại thăm mảnh đất được coi như quê hương thứ hai, nơi chúng tôi đã sống, và hầu hết đều nhớ và gọi đó là "những ngày đẹp nhất thời tuổi trẻ". 

Bạn Nguyễn Thị Xuân, sang Hung cùng năm với tôi và cũng học cùng trường ở Pécs đã kể lại chuyến đi đầy cảm xúc của mình trong bài Trở lại một thời... chốn cũ tình xưa: "Lần trở lại này tuy ko dài, nhưng đủ để tôi cảm nhận đc tình bạn-tình yêu ko hề bị thời gian làm thay đổi. 40 năm đã có thể gọi là dài trong một đời người, cảnh vật thay đổi, vẻ ngoài của mọi người thay đổi đến mức khó nhận ra, nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn tươi mới, trong veo như thuở ban đầu.

Một số bạn VN đã hỏi khi tôi chuẩn bị chuyến đi này, rằng sao tôi ko đi dài ngày hơn, dành thời gian đi nhiều nước hơn? Tôi biết các bạn mong tôi nhân dịp này thăm thú thêm cảnh sắc Châu Âu tuyệt đẹp. Tôi đã nghĩ khác. Tôi đi để tìm lại tuổi trẻ, tìm lại tình bạn của chúng tôi (một cô bé VN vui chơi+học hành vô tư cùng các bạn Hungary), và tôi đã thực sự bị sốc, thực sự cảm động, tôi đã khóc. Các bạn tôi (41 con người đã có mặt vì đc tin tôi sang, mặc dù nơi họ sống cách địa điểm gặp mặt 300-400km) vẫn nhớ những kỷ niệm về tôi như giữa chúng tôi chưa hề có 40 năm xa cách.

Mừng vui gặp mặt, những vòng tay ôm chặt, những nụ hôn thắm thiết chưa nói lên đc hết tình cảm các bạn gìn giữ dành cho tôi. Các bạn nhớ hết những "thói hư tật xấu" của tôi (tôi cũng đã quên ngày đó mình như thế nào) và mang ra tố với tôi (khi muốn hỏi gì tôi đã thường nhướng mắt lên, cái mặt vênh lên và hỏi "na és?"), và những kỷ vật rất nhỏ liên quan tới tôi đều đc các bạn cất giữ ở những nơi trang trọng trong nhà, tôi đã đc thấy chúng khi đến nhà các bạn chơi (bưu thiệp chúc năm mới, chúc giáng sinh, ... mà có lẽ chúng ta sau bao nhiêu năm đâu còn giữ đc mấy).

Tranh giành nhau để đc đón tôi về nhà chơi là cuộc thảo luận mà tôi phải giả vờ ko nghe, ko thấy vì tôi đã chảy nước mắt rồi. (Tôi chỉ có 10 ngày với đất Hung và với các bạn thôi, tôi muốn dành 1 ngày về thăm thành phố Miskolc, các ngày còn lại là dành cho các bạn, nhưng đi đâu-với bạn nào-bao lâu thì các bạn phải tự thống nhất với nhau).

Tôi đoán chắc ko nhiều bạn VN khi quay trở lại Hungary nói riêng, các nước Châu Âu nói chung, nơi các bạn đã từng là sinh viên, từng kết bạn với rất nhiều bạn bản xứ, lại có đc chuyến đi đầy kỷ niệm cảm động như tôi đc cảm nhận. Tôi đã sống, sinh hoạt cùng các bạn học của mình như người thân trong nhà, đc các bạn đưa đi chơi thăm vẻ đẹp nơi các bạn sống, đc trải nghiệm làm nhân viên bán hàng, kỹ sư trong nhà máy, kiểm nghiệm viên phòng thử nghiệm,... nơi các bạn đang làm việc (ở Hung 64 tuổi mới đc nghỉ hưu, nam nữ như nhau).

Tôi cũng biết, nhiều bạn khi quay lại thăm quê hương thứ hai của mình thường kết hợp du ngoạn nhiều đất nước khác, thăm nhiều cảnh đẹp khác, và ký ức đọng lại là nơi này đẹp, nơi kia hoành tráng.

Còn tôi, là kỷ niệm sâu sắc về tình bạn, là sự khẳng định những người bạn trời Âu của mình vẫn sống rất tình cảm, vẫn như xưa.

Đối với riêng tôi, đây là một chuyến đi thành công ngoài mong đợi, chuyến đi càng gắn kết chúng tôi với nhau hơn, để từ nay trở đi, tôi chắc chắn tình bạn của chúng tôi là vĩnh cửu.

Chia tay nhau, chúng tôi thường phải quay đi trong nước mắt lưng tròng với lời hẹn hãy-sẽ quay lại ở lần gặp mặt tới.

Tôi thường ko viết dài, càng ko hay viết về cảm nhận của mình, nhưng đây là một hành trình đặc biệt, tôi viết ra đây là mong các bạn khác, đã từng du học như tôi, nếu có điều kiện nên có chuyến đi dành nhiều hơn nữa thời gian cho các kỷ niệm xưa, cho các bạn học cũ của mình để thấy tình người nơi ấy vẫn đáng trân trọng biết bao.

Và tôi cũng tiếc cho một số bạn đã hoàn toàn ko còn liên lạc gì với nơi ấy, nơi các bạn từng yêu mến nó, từng muốn ở lại như quê hương của mình nhưng nay vì những nguyên nhân nào đó ko quay lại đc lấy một lần, hoặc có dịp quay lại cũng chỉ như một khách du lịch bình thường."

Xuân và các bạn của mình (Ảnh của nhân vật)

Nếu chị Đoan là tấm gương của tôi về học tập, thì trong số những sinh viên VN xuất sắc có thể nói đến anh Đinh Hoàng Thắng, người mà tôi đã nhắc đến ở phần trước, khi nói đến cảm nhận về nước Hung, về tâm trạng của chúng tôi khi mới đặt chân lên đất Hung và "bước ra thế giới...". Với tôi, anh là 1 trong những LHS tiêu biểu nhất mà tôi biết.

Anh Thắng đã nói về ý nghĩa lớn nhất, điều mà anh nhận thấy từ những gì nhận được từ đất nước này: "mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, vì đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình”.

Thuộc hàng những LHS tiền bối sang Hungary từ năm 1966, anh Thắng tốt nghiệp Cử nhân/Thạc sĩ về Văn học và Ngôn ngữ Hungary tại Trường Đại học Tổng hợp Eötvös Loránd, Budapest đúng vào năm chúng tôi sang Hung (1972). Thời gian 1983-1986, anh nghiên cứu và nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Trường Đại học Kinh tế Karl Marx, Budapest (nay là Đại học Corvinus Budapest).

Được đào tạo cả về văn, triết lẫn chính trị học, sở hữu kiến thức chuyên sâu về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại từ ELTE, TS. Đinh Hoàng Thắng từng hoạt động trong ngành ngoại giao và là người quan tâm đến các vấn đề liên quan đến chính trị thế giới và ngoại giao của Việt Nam.

“Chàng Ngố” tốt nghiệp đại học năm 1972 - Ảnh do nhân vật cung cấp

Là một cây bút từng giữ chức TBT báo “Quốc tế” (nay là tờ “Thế giới & Việt Nam”, cơ quan truyền thông của Bộ Ngoại giao), TS. Đinh Hoàng Thắng đã tham gia với NCTG bằng một bài viết đầy tình cảm dành cho nước Hung, nơi anh từng có nhiều năm học tập, nghiên cứu và gắn bó.

"Lần đầu tiên, một chàng ngố hơn 17 tuổi, từ mảnh đất đói nghèo và chiến tranh của Nghệ Tĩnh bước ra thế giới, gặp gỡ nhiều người ngoại quốc (külföldiek), được tiếp xúc với cộng đồng quốc tế hẳn hoi (cánh sinh viên Ba Lan, Tiệp, Nga, Anh, Pháp cùng học với bọn mình ngay từ đầu), chứ không chỉ là với thầy cô giáo người Hungary (magyarok).

“Külföldiek”, “Magyarok”… hình như đó là những từ Hung đầu tiên mình học. Cảm giác là sốc và choáng! Quan hệ quá cởi mở (nhìn họ hôn nhau trong lớp vừa ngượng, vừa thích), tự do cá nhân được đề cao ghê gớm. Trong năm đầu học tiếng Hung, bọn mình bị cấm đi nhảy cuối tuần, dù các buổi sinh hoạt văn hóa đó tổ chức ngay trong ký túc xá. Thay vì đi nhảy, bọn mình họp chi đoàn, họp đơn vị, đọc báo Việt (nghe ngộ nhỉ?)… Sự lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới… Có lẽ đó là điều ám ảnh mình suốt những năm sau này, đến bây giờ mình vẫn còn bị hội chứng LPS (Lost Puppy Syndrome).

Vì là dân Tổng hợp, cả trường chỉ có 3 sinh viên Việt Nam nên ngay từ năm thứ nhất mình đã “phải” ở chung phòng với Tây (sinh viên Hung) nhưng đấy là điều thật may mắn. Từ năm thứ hai, thứ ba, mình đã đi dịch được cho Sứ quán, dịch một nhưng phải đoán đến hai… ba… phần - như người Hung hay nói, “a fordítás ferdítés” (?) (1) - mà vẫn được các chú ở Sứ cho là khá (lúc bấy giờ chả có chú sứ nào biết tiếng Hung, ngoài vài câu chào hỏi thông thường như “jó reggelt / jó napot kívánok”). Đi đến các buổi mít-tinh hội họp thì đã có bài viết sẵn, cứ thế mà đọc, may mà phần ngữ âm của mình khá (tiếng Nghệ Tĩnh vốn trầm trầm, phân biệt giữa “sờ” nặng (sör - bia) với “xờ” nhẹ (szabad - tự do) rất rõ ràng, nên khá thuận lợi để học tiếng Hung.

Có một sự kiện mình nhớ rất lâu, đó là được đi dịch cho Đoàn cấp cao Đảng và Chính phủ nước ta lần đầu tiên thăm Hungary. Về chuyến đi quốc tế của Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi đó đều có phim chiếu trong nước, chiếu ngay tại làng Quỳnh Đôi của mình. Thế là đột nhiên mình trở thành “vĩ nhân tỉnh lẻ”. Ba mẹ mình mừng lắm, vì được bà con bàn tán mãi về thằng “cu Đen” ngày nào mà bây giờ được đi cạnh và còn “dám nói chuyện” với ông Duẩn và ông Đồng (thực ra mình chỉ “nhai lại” lời của các cụ mà thôi!).

Năm năm đại học tiếp xúc với toàn sinh viên/các thầy cô ngữ văn, triết học, nhiều hôm mình ngồi café tranh luận sau các seminar chuyên đề ở lớp quên cả lên giảng đường. Đổi lại, mình đã được nghe các bạn nói về những Lukács György, Márkus György, Háy Gyula (2) cùng nhiều tên tuổi khác.  

Mình thích đọc các giáo trình tham khảo hơn là những tài liệu bắt buộc. Sách giáo khoa và các tài liệu chọn lọc đều phải mua, nhưng bọn mình thích đọc các sách “chui” từ các nhà xuất bản bên Tây Đức. Nhất là về các biến cố sôi động ở Hungary từ 1953, rồi 1956, đặc biệt, trước và sau 1968, mình dành khá nhiều thời gian đọc và tìm hiểu về cải cách kinh tế. Mình được đi dịch cho rất nhiều đoàn cán bộ cao cấp từ Việt Nam sang nghiên cứu về cải cách kinh tế ở Hungary trong những năm ấy."

Nói về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh, anh viết:

"Không thể thay thế! Nếu mình đi nước khác, học trong những môi trường khác chắc rằng giờ đây mình không được như thế này. Môi trường giáo dục làm nên con người, chứ không phải là quần áo (3)! Dù rằng trần thế chỉ là hư dối và tạm bợ, mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình. Nếu mình chỉ học trong nước, hay học kỹ thuật, có lẽ mình khó có duyên với ngành ngoại giao sau này.

Cuối cùng, nếu không đi học ở Hung, chắc mình không làm được nghiên cứu sinh. Không phải là vì nhà trường chiếu cố gì cả. Đơn giản là cái đề tài mình đề xuất - “Phân tích hệ thống (rendszerelemzés) như một vấn đề phương pháp luận trong nghiên cứu quốc tế” - đã không được trong nước chấp nhận, vì lý do a, b, c… Viện Hàn lâm Khoa học Hungary cùng hai  trường Tổng hợp và Kinh tế đã hỗ trợ tối đa, nhất là với cái quy chế “cắc cớ” của mình (không đi qua con đường học bổng), mình đành quyết định bỏ tiền túi để học NCS. Nặng nhất là khâu thi tối thiểu (minimum), phải nạp khoảng hơn 4.000 Forint (mệnh giá năm 1983-84). Theo mình biết, ở các nước khác, làm kiểu “tư nhân” (maszek) như vậy là bất khả!"

---------

(1) Dịch là xuyên tạc (chơi chữ trong tiếng Hung, tương đương “dịch là phản” trong tiếng Pháp và Anh).

(2) Các triết gia, nhân sĩ, nhà văn nổi tiếng của Hungary.

(3) Chơi chữ, theo một câu thành ngữ tiếng Hung “Nem a ruha teszi az embert” (Quần áo không làm nên con người, chiếc áo không làm nên thầy tu).
 
Ghi chú của NCTG


Nhà báo Nguyễn Võ Lệ Hà, người sang cùng năm với Ngô Việt, đã viết về khoảng thời gian học tập tại Hungary như sau:“Đó là những năm tháng tuổi thanh xuân đẹp nhất của tôi, là cánh cửa mở cho tôi hiểu biết về Thế giới. Cho tôi tri thức, mở mang trí tuệ và dạy cho tôi phải có nghị lực sống thế nào thì mới vượt qua được mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống”.

Bên bờ Danube - Ảnh do nhân vật cung cấp (NCTG)

Lệ Hà, thường được biết đến với bút danh Hà Huy Anh (trong các tác phẩm dịch) hay Hà Anh My (trong các bài dịch, bài viết trên báo). Hà từng là phóng viên tờ “Phụ nữ Việt Nam”, đồng thời, là tác giả của nhiều đầu sách về đề tài tình yêu, gia đình và thiếu nhi.

Trong loạt bài đăng trên NCTG của một số cựu du học sinh, NCS, cũng như với những người đã có thời gian công tác và sinh sống tại Hungary về những kỷ niệm, ấn tượng trong những năm tháng trên đất bạn, cũng như, vị trí của Hungary trong lòng mỗi người, bài viết của Lệ Hà, bao hàm những tự sự về cuộc đời và tâm tư về xứ sở mà Hà đã coi như quê hương thứ hai. Dưới đây là phần lược trích của tôi, tóm lược những gì mà tác giả muốn chia sẻ với rất nhiều cảm xúc.

"Ba mẹ tôi là Việt kiều tại Lào, đến năm 16-17 tuổi thì đều thoát ly gia đình tham gia quân tình nguyện. Ba tôi được gửi về Việt Nam học trường lục quân Trần Quốc Tuấn vài năm. Lúc quay trở lại Thái Lan thì gặp mẹ tôi vừa cùng gia đình tản cư nhưng mãi đến vài năm sau, khi hai người tái ngộ trong quân ngũ - ba tôi là sĩ quan còn mẹ tôi là y tá - thì hai người mới yêu nhau.

Họ cưới nhau trong quân đội và mẹ tôi đã có mang tôi chừng nửa năm thì Việt Nam chiến thắng Pháp và cả sư đoàn 335 tập kết về Tổ quốc.

Tất nhiên thời đó phải đi bộ vượt Trường Sơn mà về. Ba tôi sợ mẹ vất vả nên khuyên mẹ ở lại sinh nở, sau này hẵng hay. Nhưng mẹ tôi linh tính là nếu ở lại sẽ chẳng bao giờ con biết mặt cha nên vẫn quyết định lên đường. Ba tôi đã dẫn đại bộ phận về trước hàng tháng, mẹ ở bộ phận Quân y nên đi sau. Tất nhiên quân trang, quân dụng của mẹ được đồng đội nam giúp cầm hết, và lúc nào cũng có hai đồng đội kèm mẹ trước và sau.

Không thể kể hết được nỗi mệt nhọc của người phụ nữ mang bầu 6 tháng mà lại đi bộ ròng rã hàng tháng trời trong rừng, trong nắng trong mưa, lội suối, trèo đèo và cả qua sông khi nước lũ tràn về... Chắc mẹ đã phải khóc nhiều, cảm thấy tủi thân nên cô con gái đầu lòng có tên là Lệ Hà (dòng sông lệ), và gồm cả họ ba lẫn họ mẹ. Sau cái tết năm 1955 tôi chào đời ở Thanh Hóa, rồi mẹ lên Mộc Châu nơi sư đoàn đóng quân để đoàn tụ với ba tôi.

Cả tuổi thơ của tôi gắn bó với núi rừng Tây Bắc. Ba tôi lại đi học khóa sĩ quan pháo binh, thế là tôi trở thành đứa con của trung đoàn pháo binh. Mẹ tôi sinh thêm các em nhỏ nên tôi theo ba đi diễn tập, ăn ngủ chung với các chú bộ đội. Lúc nào không đi tập thì tôi lại hát múa theo các cô chú văn công và họ trìu mến gọi tôi là “Aliosha của trung đoàn” (Aliosha là tên một nhân vật đáng yêu trong phim Liên Xô mà dĩ nhiên lúc đó tôi chưa được xem).

Năm tôi 7 tuổi thì ba mẹ tôi phục viên chuyển về Hà Nội. Ba tôi làm trong Ban Công tác Miền Tây (Lào) rồi sau này chuyển sang Bộ Ngoại giao. Mẹ tôi theo học trường Y rồi ra làm y tế Sở Điện lực Hà Nội, về sau chuyển vào Sở Điện lực Miền Nam. Nếu không đi học ở Hungary thì tôi đã là một bác sĩ vì năm 1972 tôi đã đỗ trường Y với điểm khá cao.

Rốt cục, tôi học tiếng Nga một năm tại trường Ngoại ngữ Hà Nội (Thanh Xuân) nhưng phải đi sơ tán ở Mỹ Hào, Hải Hưng vì năm đó B52 của Mỹ bắn phá thủ đô rất quyết liệt. Ngày 7-8-1973 chúng tôi lên tàu hỏa rời ga Hàng Cỏ, vài trăm những đứa trẻ lần đầu xa nhà đến những đất nước xa xôi. Tàu của chúng tôi đi xuyên qua Trung Quốc, Liên Xô rồi mới đến Hungary.

Chặng đường 12 ngày này tôi có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ, bởi vì đối với cô bé mơ mộng như tôi thì đó là cả một thế giới cổ tích rồi. Ngày đó tôi đã viết những vần thơ sau:
Đường anh đi dọc theo đất nước
Trải màu xanh xứ sở quê hương
Những đêm trường bom rơi, đạn nổ
Súng trong tay anh giữ mầu xanh.

Màu xanh rừng núi, xanh áo anh
Đã cho em ngày ra đi ấy
Taiga, Baican những gì em đã thấy
Đanuýp trôi cũng vẫ mầu xanh
 
Đường em đi cách xa Tổ quốc
Bầu trời xanh sắc thắm hòa bình
Những đêm dài học đến bình minh
Em - người lính, chiến trường: Khoa học.
(trích trong bài “Những con đường và những mầu xanh”)

Ngày 19-8-1973, đoàn tàu vào ga Budapest. Chúng tôi được hưởng tình cảm và sự nuôi dạy của nước Hung, nhân dân Hung trong vài năm - đó là những năm tháng tuổi thanh xuân đẹp nhất của tôi, là cánh cửa mở cho tôi hiểu biết về Thế giới. Cho tôi tri thức, mở mang trí tuệ và dạy cho tôi phải có nghị lực sống thế nào thì mới vượt qua được mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống.

Tôi phải nói điều này vì số phận luôn luôn đưa đẩy chúng ta đến những điều không ngờ tới. Vốn dĩ định trở thành một bác sĩ thì sau một năm học tiếng Hung tôi lại bị phân vào học trường Công nghiệp Xây dựng, khoa Kinh tế Đô thị mới mẻ (trước đó chưa có sinh viên Việt Nam nào học ngành này) với các môn toán, lý, cơ, máy tính, kinh tế, thiết kế nhà, sức bền vật liệu, điện, đường sá, v.v...
Tôi hoang mang vô cùng và thấy điều đó thật là cay nghiệt đối với một cô gái thích thơ ca nhạc họa và mơ mộng như tôi. Nhưng rồi các bạn Hung lại là những người giúp đỡ tôi rất nhiệt tình, với tình cảm rất thương yêu của các thầy cô giáo sau 4 năm tôi đã tốt nghiệp. Chúng tôi về nước cũng bằng tàu liên vận - đoàn tôi là một trong những đoàn cuối cùng đi bằng tàu hỏa.

Vào ngày 5-5-2013 khóa chúng tôi họp mặt các cựu sinh viên tròn 40 năm sang Hung. Cả khóa hơn 100 người, vì nhiều lý do chỉ có hơn 30 người đến dự nhưng khi ôn lại chuyện hồi đi học chúng tôi vẫn ríu rít như thời còn trẻ.

Kỷ niệm trên đất Hung nào sâu sắc với tôi ư? Kể thì không thể hết được, ở đây chỉ xin nói về hai kỷ niệm mà tôi rất nhớ cho đến tận bây giờ.

Kỷ niệm thứ nhất liên quan đến bản tính ưa văn nghệ của tôi. Từ khi học ngoại ngữ (tiếng Hung) tại Học viện Dự bị Quốc tế (NEI, Budapest) tôi đã là một nhân tố văn nghệ tích cực, mê đàn hát, nhảy múa khi có dịp. Tôi đã được các chú trên hai sứ quán (Miền Bắc thì bác Nguyễn Mạnh Cầm là đại sứ, còn Miền Nam là bác Nguyễn Phú Soại) mời lên để giúp việc mỗi khi có lễ lạt gì đó.

Việc của tôi là mặc áo dài rồi khi thì hát, khi thì làm phiên dịch cho các quý bà, v.v..., hoặc tham gia đi thăm viếng ở một tỉnh nào đó. Nhân dịp truyền hình Hungary có đưa tin về “thần đồng” thơ Trần Đăng Khoa, anh Đinh Hoàng Thắng cũng gọi tôi đến dự. Anh Thắng dịch thơ ra tiếng Hung, còn tôi thì hát, chương trình ấy được người dân Hung rất thích.

Anh Thắng kể trưa hôm đó anh đi mua thịt mà quên tiền ở nhà, thế là ông hàng thịt bảo: “Mày vừa đọc thơ trên TV chứ gì? Tao cũng xem... cho mày nợ tiền đấy”. Chúng tôi rất tiếc là không có cái video ấy làm kỷ niệm.

Kỷ niệm thứ hai là về ngày 30-4-1975, chúng tôi đến trường được bạn bè, thầy cô reo vui ôm chầm lấy mà reo lên: “Việt Nam hòa bình rồi... Việt Nam hết chiến tranh rồi...”. Tối hôm đó tôi cũng được sứ quán gọi đến dự buổi tiệc chúc mừng chiến thắng do chính phủ Hung và các sứ quán, với nhiệm vụ phiên dịch cho các phu nhân. Cờ hoa sôi động và những lời hô to “Việt Nam chiến thắng...”.

Vui thế mà tôi lại chảy nước mắt, tôi biết từ giờ tôi không còn phải canh cánh nỗi lo khi nghĩ tới quê nhà nữa.

Nước Hung đã cho tôi cái gì ư? Với những kiến thức được học, tôi đã làm tốt công việc của mình 7 năm ở Viện Quy hoạch Hà Nội với vai trò kỹ sư kinh tế. Trong thời gian đó, tôi bắt đầu làm những việc mà tôi yêu thích như dịch truyện, dịch thơ từ tiếng Hung, vì tình yêu đất nước, con người và nền văn hóa của xứ sở này.

Tôi làm những điều này hoàn toàn vô tư, không nghĩ là nó sẽ đem lại cho tôi cái gì, nhưng một lần nữa số phận lại... chen ngang. Thấy tôi có khả năng viết, vài tờ báo muốn nhận tôi về và thế là tôi chọn lựa làm nghề báo. Năm 1984, tôi chuyển sang làm ở báo “Phụ nữ Việt Nam” tới khi về hưu. Cũng do tôi dịch được một số tác phẩm văn học Hungary nên tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhưng tôi cho rằng thành công nhất đối với một phụ nữ là nuôi dạy thành công những đứa con của mình. Tôi có hai con gái và ngay từ khi các cháu vừa ra đời tôi đã nuôi dạy chúng toàn diện (cả về trí tuệ, tâm hồn và thể lực) theo những gì mà tôi được thấy, đọc, nghe khi còn là cô sinh viên, sao cho chúng cũng có thể bước ra cánh cửa Thế giới và làm Công dân toàn cầu.

Có lẽ một phần nhờ phương châm nuôi dưỡng và dạy bảo như thế, cùng với sự chuyên cần cá nhân, các con tôi đã vào được các trường chuyên ở Việt Nam và học hết phổ thông cả hai đều đi học ở Anh Quốc bằng học bổng các cháu tự kiếm được. Vũ Nguyễn Hà Anh, con gái lớn của tôi cũng đạt được chút danh vọng trong lĩnh vực thời trang và được biết đến cả trong và ngoài nước.

Nhưng điều khiến tôi vui là dù đã trưởng thành, có điều kiện đi đây đó và đạt được một số thành công trong đời sống và công việc, các cháu vẫn ngưỡng mộ mẹ và các cô, chú, bác... từng đi học ở Hung về. Đó cũng là nhờ nước Hung, con người Hung mà mãi mãi tôi mang ơn..."

Trong số những bậc tiền bối kỳ cựu nổi tiếng nhất của LHS VN tại Hung mà tôi nghe danh khi mới sang Hung là anh Nguyễn Quang A. Anh lớn hơn tôi 9 tuổi và học ở Khoa Điện tử, chuyên ngành Viễn thông tại Đại học Kỹ thuật Budapest (BME). Sau khi tốt nghiệp vào năm 1971, anh là NCS ở Viện Nghiên cứu Viễn thông (Táki). Bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1975, anh về nước và làm việc tại Viện Kỹ thuật Quân sự Hà Nội (1976-1982).

Năm 1982, anh trở lại Hungary, từ 1983-1987 anh tham gia nghiên cứu Tin học của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary tại Đại học Kỹ thuật Budapest trên cương vị một NCS cấp cao. Năm 1987, anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học, chuyên ngành Điện tử Viễn thông, rồi về nước làm việc tại Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật Tin học Việt Nam.

Trong những năm “cải tổ” thập niên 80 thế kỷ trước, TS. Nguyễn Quang A là một trong những trí thức đầu tiên của Việt Nam chuyển sang kinh doanh cá thể rất thành công với các cương vị Tổng giám đốc Liên doanh Genpacific (1988-1993), sáng lập viên Công ty Máy tính Truyền thông Điều khiển 3C (1993), sáng lập viên, Chủ tịch Ngân hàng VPBank (1993).

Bên cạnh công việc kinh doanh, anh cũng là một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng trên tư cách Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS, một tổ chức mở và độc lập, phi lợi nhuận, tập hợp một đội ngũ trí thức tinh hoa chuyên tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội).

TS. Nguyễn Quang A còn dành nhiều thời gian cho việc dịch thuật và chủ trương Tủ sách SOS2 do anh chuyển ngữ miễn phí, phố biến và quảng bá những tác phẩm kinh điển của thế giới với chủ đề hệ phần mềm điều hành xã hội - làm thế nào để vận hành xã hội một cách hữu hiệu và suôn sẻ, thông qua những lý thuyết, chính sách, thể chế, những kinh nghiệm thất bại và thành công.

TS. Nguyễn Quang A cũng từng giữ chức Chủ tịch khóa 3 của Hội Tin học Việt Nam (VAIP), và là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam - Hungary khóa đầu tiên (2007-2012). 

Nhớ lại thời gian mà anh tự gọi mình là "lính cậu", anh kể: "Khi đó mình đang là "lính cậu", chẳng biết bắn là gì, nhưng các chiến hữu trong Viện Kỹ Thuật Quân sự cũng khối người đã trực tiếp tham gia đánh quân Polpot rồi quân Tàu.

Sau 17-2-1979 khí thế rất sục sôi, nhiều "lính cậu" cũng mang trang bị mới phát triển ở Viện ra chiến trường. Lúc đó người hăng hái tham gia là đại úy Vĩnh (bác đã về SG ở và đã mất ở đó), thượng úy Trạch.

Một lần đi theo 2 thủ trưởng này (lúc đó mình là trung úy thì phải) đi từ Hà Nội vòng Tiên Yên lên Móng Cái, quay sang phía Lạng Sơn, Cao Bằng rồi về Hà Nội. Cảnh chiến tranh tàn phá thật khủng khiếp.

Bọn mình bị dân Móng Cái mắng cho một trận vì cứ đi xe vượt qua cầu. Họ bảo mấy chú điên à! Hôm qua 1 xe tương tự đã bị bọn Tàu cho 1 quả B40 tan sạch. Lúc quay lại anh Vĩnh quyết định đi cầu phao.

Đó là vài kỷ niệm khó quên của một gã "lính cậu"."

Anh Quang A đã nói về Hungary, nơi có ảnh hưởng quyết định với anh như thế nào, trong lần trò chuyện với NCTG nhân dịp Quốc khánh Hungary 20-8-2013. 

NCTG: Từng có một khoảng thời gian dài du học, và sau đó làm luận án Tiến sĩ rồi Tiến sĩ Khoa học tại Hungary, anh có thể chia sẻ với độc giả NCTG một kỷ niệm sâu sắc thời ở Hung?

TS. Nguyễn Quang A (N.Q.A.): Cho đến khi về nước vào năm 1976 tôi biết về Hungary nhiều hơn về Việt Nam rất nhiều. Đơn giản khi còn là học sinh ở Việt Nam tôi không có cơ hội đi đâu cả. Đến 1965 tôi mới ra Hà Nội lần đầu, còn trước đó chỉ quanh quẩn trong huyện là chính.

Tại Hung đi theo lớp học mỗi học kỳ đi một nơi, đi dự mít-tinh thời đó ở mọi nơi, ngang cùng ngõ hẻm tôi đều được đến. Khi làm xong Phó tiến sĩ, tôi thật xấu hổ thấy mình biết quá ít về Việt Nam.

Một kỷ niệm có liên quan: đến nhà ăn tối cùng hai ông viện sĩ Hung, họ nghĩ mình từ một đất nước Phật giáo thì chắc biết kỹ lắm, Đại thừa ra sao, Tiểu thừa thế nào. Tôi bảo tôi không biết gì cả. Lúc đó tôi chỉ muốn có cái lỗ nào chui xuống đất cho đỡ xấu hổ!

Hôm sau tôi ra hiệu sách mua một cuốn sách về các tôn giáo lớn rồi đọc ngấu nghiến, sau đó tôi đã biết thêm chút ít. Các lần sau tôi còn có thể tán gẫu với họ cả về các tôn giáo khác nữa.

NCTG: Đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh?

N.Q.A.: Tổng cộng tôi ở Hungary hơn 13 năm một chút. Toàn bộ tuổi thanh niên của tôi ở đó. Không có thời gian ở Hungary chắc chắn đời tôi sẽ khác hẳn. Hungary có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển trí tuệ của tôi.

Những điều này, tôi cũng đã có dịp thổ lộ trong phát biểu ngắn nhân dịp được Bộ Ngoại giao Hungary trao tặng giải thưởng “Vì các mối quan hệ quốc tế” của Cộng hòa Hungary (năm 2008). Tôi có nói về hai “giải tỏa” rất riêng tư, nhưng cần thiết cho sự hợp tác và hội nhập, cho sự phát triển của mỗi người, mỗi nước.

Thứ nhất, đó là giải tỏa sự đóng kín về địa lý. Như đã nói ở trên, trước khi ra Hà Nội để chuẩn bị đi Hungary, tôi chưa bao giờ ra khỏi tỉnh nhà là Bắc Ninh. Cho dù chẳng ai cấm đoán, nhưng điều kiện và hoàn cảnh lúc đó như vậy. Cho đến khi về nước, tôi rất xấu hổ nhưng đồng thời cũng tự hào để nói với bạn bè rằng mình biết đất nước Hungary nhiều hơn Việt Nam.

Sau này, tôi mới được biết nhiều hơn về Việt Nam. Giải tỏa sự đóng kín về địa lý gắn với phát triển kinh tế - kỹ thuật, với quyền tự do đi lại của con người, với sự hội nhập quốc tế. Tại các quốc gia đang phát triển, đã có sự phát triển vượt bực, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để giải tỏa sự đóng kín về địa lý đối với người dân.

Thứ hai, là giải tỏa sự đóng kín về tư tưởng, để cho đầu óc mở mang với những luồng tư tưởng mới. Không như thế sẽ không thể có sự phát triển. Suốt thời gian qua, tôi đã cố gắng giúp mình giải tỏa khỏi sự đóng kín đó và hy vọng có thể giúp được một số người khác thông qua các bản dịch, những bài viết và hoạt động xã hội của mình.

Trong những năm tháng học tập và nghiên cứu tại Hungary, tôi đã học được cách tư duy và hành động đóng vai trò quyết định khiến tôi giải tỏa được hai vấn đề trên.

Anh Quang A tại cuộc gặp mặt hữu nghị Việt - Hung 2013 - Ảnh: Bích Ngọc

Thế hệ LHS của chúng tôi kể từ năm 1975 đều tốt nghiệp vào những năm đầu của thập nên 80. Kể từ lúc này là bắt đầu 1 thời kỳ khác. Trong số những sinh viên đầu tiên của giai đoạn này, tôi muốn nói đến TS Bùi Việt Hoa. Bởi cô nhỏ hơn chúng tôi 7 tuổi, đầu thập niên 80 thế kỷ trước du học tại hai Đại học Tổng hợp của Hungary và tốt nghiệp năm 1987, khoa Ngữ văn Hungary, Ngôn ngữ và văn hóa Phần Lan. Sau đó, cô tiếp tục tham dự các khóa học về Ngôn ngữ và văn hóa, Văn học dân gian và Văn học Phần Lan tại Đại học Tổng hợp Helsinki (Phần Lan). Năm 2002, cô bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Chuyên ngành Folklore Phần-Ugor tại Đại học Tổng hợp Budapest.

Là người am hiểu sâu sắc về văn hóa, văn học hai nước Hungary và Phần Lan, TS. Bùi Việt Hoa từng có thời kỳ giảng dạy tiếng Hung tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, cũng như làm công việc dịch thuật, phiên dịch tự do. Tuy nhiên, tình yêu văn hóa Phần Lan đã là động lực thúc đầy cô hoàn thành tác phẩm dịch “Kalêvala”, bộ sử thi được đánh giá là đã nâng tầm Phần Lan từ chỗ là một dân tộc ít được biết đến trên thế giới, và góp phần phát triển ngôn ngữ Phần Lan, thúc đẩy ý thức dân tộc của người dân nước này.

TS. Bùi Việt Hoa là điều phối viên Dự án Nhịp cầu Văn hóa (Quỹ Juminkeko Phần Lan). Cô là hội viên Hội Văn học Phần Lan, Hội Kalêvala (Phần Lan) và Hội Nhà văn Việt Nam, đồng thời là Hội viên danh dự Hội Những người bạn Kalêvala (Budapest). Dịch phẩm Việt ngữ “Kalêvala” của cô đã được Giải A về dịch thuật (năm 1995) của Hội Nhà văn Việt Nam, và sau đó được các giải thưởng của Hội Kalêvala (Phần Lan).

TS. Bùi Việt Hoa cũng là tác giả và dịch giả của một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam, cũng như văn học Phần Lan và Hungary. Về những kỷ niệm đáng nhớ và sâu sắc trong thời gian học tập tại Hungary, vị trí của nước Hung trong lòng, cũng như cơ duyên nào khiến cô có mối quan hệ thân tình và trở thành con nuôi của một vị tổng thống Hungary, TS. Bùi Việt Hoa đã có những dòng tự sự sau đây.

"Sáng 18-9-1980, lũ chúng tôi ba mươi bảy đứa cả trai và gái của khóa 80-86 ngồi trên con tàu xình xịch tiến vào ga Keleti (1). Tôi cũng háo hức như các bạn cùng lứa, suốt cả mấy tiếng đồng hồ kể từ khi tàu qua biên giới Liên Xô chỉ thò đầu ra ngoài ngắm cảnh đất nước Hungary. Không biết các bạn khác thế nào, chứ tôi lúc ấy vẫn chưa ý thức được những năm tháng tới sẽ thay đổi cả cuộc sống và cách suy nghĩ của mình.

Tôi và Tôn Thiên Hương, người bạn học cùng phổ thông thuộc diện “đặc biệt” của năm. Đặc biệt ở chỗ hai chúng tôi được xếp học ngữ văn Hungary (magyar szak)! Trước chúng tôi, các anh các chị đi học ngành này cũng rất hiếm hoi: khóa gần nhất cũng là khóa của thầy Chiến, cô Diệp, anh Trương Đăng Dung… còn sau chúng tôi hình như tịch không có một ai. Đặc biệt ở điểm nữa, sau năm học tiếng Hung ở Viện Dự bị Quốc tế (N.E.I), chúng tôi bị “bắn” lên Đại học Tổng hợp Kossuth Lajos ở tận Debrecen, một thành phố cách thủ đô hơn hai trăm cây số để rồi hai năm sau, kỳ kèo với các ông ở Bộ Giáo dục Hungary, lại được chuyển về Đại học Tổng hợp Budapest (ELTE).

Cũng cái ông quyết định cho chúng tôi về lại Budapest, một năm sau ký quyết định cho chúng tôi được học thêm ngành nữa: Hương học Quốc tế ngữ Esperanto, tôi học ngôn ngữ và văn hóa Phần Lan. Tôi vẫn còn nhớ cảnh hai đứa xách chai rượu (nước Hung của những năm 1980 nhé!) lò dò vào tòa nhà của Bộ Giáo dục!

Dù sao, với quyết định – và được chấp nhận - lấy thêm ngành này, cuộc đời tôi đã chuyển sang một bước ngoặt lớn. Cũng vì học ngành xã hội, nên chúng tôi có điều kiện, và bắt buộc phải học thêm rất nhiều môn, liên quan đến văn hóa, tôn giáo, lịch sử… thế giới và châu Âu nói chung, cũng như của Hungary. Thế giới quan của tôi hình thành từ những ngày đó. Nếu không có những năm tháng ở Hung ngày ấy, chắc chắn tôi sẽ không là tôi của ngày hôm nay.

Bạn hỏi tôi một hai kỷ niệm cụ thể mà tôi vẫn nhớ và cho là sâu sắc. Thật là khó! Tôi vốn nhớ dai. Nhưng thời gian qua, bao nhiêu kỷ niệm vui hay buồn dần hòa quyện với nhau, nhiều lúc trở nên hư ảo, và không biết có thật hay không? Có lẽ là chuyện cùng nhóm sinh viên Việt Nam ở TP Debrecen đi dự Ngày Hữu nghị của công nhân nhà máy xay xát ngũ cốc ở Karcag. Chúng tôi đàn hát cho công nhân nghe – anh Đô, học toán phát biểu ca ngợi tình hữu nghị thì phải. Kết quả lúc chia tay, chúng tôi mỗi đứa được nhận một gói quà trong đó có mấy gói gạo.

Hay là chuyến đi điều tra phương ngữ vùng Hortobágy! Chúng tôi mới đầu năm thứ hai, cho dù suốt ngày chỉ đọc tiểu thuyết - như các bạn trong năm hay đùa – nhưng vốn tiếng chưa đủ để phân biệt được âm nào là tiếng địa phương, âm nào không. Có lẽ chỉ thích vì được vào nhà người Hung ngồi, thấy họ sống ra làm sao, nhà ở của họ thế nào, thay vào việc đi tìm và giải thích tên cánh đồng, mồ mả trong trời mưa rét.

Kỷ niệm một thời với Hungary và những người bạn Hung còn rất nhiều. Tôi đã dự định sẽ trả ”món nợ” nghĩa tình với Tổ quốc thứ hai của tôi trong một cuốn hồi ký. Các bạn cùng khóa tôi cũng đã giục giã nhiều lần. Có lẽ trong thời gian tới, tôi sẽ thu xếp thời gian để bắt đầu.

Vào đầu những năm 80 thế kỷ trước, phần nào đã có thể cảm nhận trong bầu không khí chính trị nước Hung bấy giờ đang có sự thay đổi. Cô bạn Hung cùng phòng với tôi ở KTX Kőrösi Csoma Sándor của ELTE đã từng rủ tôi tham gia câu lạc bộ của những người chống đối. Đấy là tôi đặt tên cho họ như vậy, bởi vì ở đó họ nói rất nhiều đến việc phải thay đổi, lật đổ chính thể Kádár (2)…, cho dù đó là một câu lạc bộ triết học! Tôi không quan tâm đến chính trị nên đã không đi. Nếu hồi đó mà đi, có lẽ tôi đã là bạn của Orbán Viktor (3) và nhóm đảng của ông ta rồi cũng nên! (Họ học Luật ở ELTE, dưới chúng tôi một năm, và ở cùng KTX)!

Không quen Orbán, tôi chẳng lấy đó làm tiếc! Cuộc đời đầy ắp những chuyện kỳ lạ, ngẫu nhiên mà ta không thể lý giải nổi. Như chuyện tôi đã từng học Göncz Árpád! (4)  

Đó là vào hè năm 1983, tôi cùng hơn 10 lưu học sinh nước ngoài tham gia vào Trại dịch thuật Mihályi, do Đoàn Thanh niên Cộng sản (KISZ) của Hội Nhà văn Hungary tổ chức. Là chủ tịch của Hội đồng dịch Hội Nhà văn Hungary lúc đó, Göncz đã tham dự và giảng dạy cho chúng tôi trong suốt khoảng 10 ngày của trại.

Trại dịch được tổ chức trong lâu đài Dőry, nằm giữa làng Mihályi, phía Nam của Kapuvár, thuộc tỉnh Győr-Moson-Sopron. Chúng tôi sống trong các căn phòng của một tòa lâu đài thời Trung cổ. Thường buổi sáng chúng tôi nghe giảng – hay nói đúng hơn nghe các dịch giả, nhà văn và nhà thơ Hungary nói chuyện về công việc sáng tác của họ. Lớp học, nếu trời đẹp là mấy cái ghế trong công viên cạnh lâu đài, dưới mấy gốc cây cổ thụ, bên cạnh dòng sông Kis-Rába.

Buổi chiều là lúc dành cho sáng tác, ai về phòng người ấy làm việc. Các lưu học sinh tự do chọn các tác phẩm Hung, cố gắng dịch ra tiếng mẹ đẻ của mình. Những vướng mắc trong dịch thuật được đưa ra mổ xẻ sau đó, dưới sự hướng dẫn tận tình của các tác gia Hungary. Göncz kể cho chúng tôi sự nghiệp dịch thuật của mình, những tác phẩm ông đã dịch, những tình huống khó ông đã gặp ở từng tác phẩm và cách ông giải quyết… Những câu chuyện ông kể đã khiến tôi tò mò, và sau này tôi đã tìm đọc những tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… của ông để hiểu hơn về một thời kỳ lịch sử – cuộc Cách Mạng 1956, mà lúc đó truyền thông chính thống vẫn ngày ngày ra rả: đó là cuộc chính biến Phản Cách Mạng.

Thú thật lúc đó tôi không tập trung học dịch cho lắm. Hai năm đầu ở Đại học Tổng hợp TP Debrecen chúng tôi học văn học cổ của Hungary và thế giới. Những tác phẩm cao siêu, khó vã mồ hôi. Tôi chẳng chọn được tác phẩm nào để thử sức, đành chọn mấy chuyện cổ tích dễ dễ. Điều tôi quan tâm lúc đó là đi chơi với mấy nhà thơ trẻ của Hung, có người nghề chính là nghiên cứu xã hội học. Chúng tôi mượn xe đạp của dân trong vùng, đạp đi thăm các vùng xung quanh vào thứ Bảy và Chủ nhật.

Tôi đã làm quen với thế giới của tác phẩm “Puszták népe” (Dân vùng thảo nguyên) của nhà thơ Illés Gyula vào thời gian đó. Mới thật hiểu, nước Hung ngoài những thành phố lớn, khu du lịch như Budapest, Debrecen…, còn là những cái làng nhỏ bé, với những người nông dân sống trong các dãy nhà như nhà tập thể xịn ở Hà Nội, sáng dậy từ 4 giờ ra cánh đồng hợp tác, hay cuốc cày trong khu vườn của mình, để rồi 9-10 giờ về ngồi ngà ngà bên chai rượu…

Những năm tiếp theo, khi đã chuyển về ELTE học, thỉnh thoảng tôi có gặp Göncz trong các buổi sinh hoạt giữa Hội đồng dịch và các dịch giả văn học tương lai. Bao giờ ông cũng chu đáo, tận tình giảng cho chúng tôi. Sau này, Göncz có kể là ông quý tôi từ những ngày ở trại. Nhiều lúc nghĩ lại, tôi hiểu: tình cảm ông dành cho tôi là tình cảm ông dành cho dân tộc Việt Nam. Số phận đã ưu ái để tôi là người Việt Nam đầu tiên ông tiếp xúc và làm việc. Lúc ấy tôi không biết điều đó, chỉ thấy vô cùng kính trọng ông, và không dám lại gần. 

Nhiều năm sau, khi tôi đang đi thực tập tiếng ở Phần Lan, và bắt tay vào dịch sử thi “Kalêvala”, thì có nghe cộng đồng người Hung ở Helsinki kể chuyện Göncz Árpád lên làm Tổng thống Cộng hòa Hungary. Tôi không hề nghĩ đến việc sẽ liên lạc với ông – một khi ông đã giữ trọng trách như vậy, còn đâu thời gian để nhớ đến một cô bé con thích rong chơi hơn là ngồi dịch thơ, dịch truyện. Tôi  chỉ nói với dịch giả Rácz István, người giúp đỡ tôi trong quá trình dịch “Kalêvala”, là tôi vô cùng kính trọng Göncz Árpád, và nghĩ ông sẽ là một tổng thống tốt.

Tôi không nghĩ là Rácz lại kể lại những điều đó cho Göncz nghe, trong chuyến thăm chính thức Cộng hòa Phần Lan của ông. Và điều thực sự khiến tôi bất ngời: Göncz đã yêu cầu thư ký tìm tôi với địa chỉ mà Rácz đưa, và qua Đại sứ quán Hungary ở Hà Nội.

Đó là vào cuối năm 1993. Tháng 4-1994 bản dịch sử thi “Kalêvala” ra mắt bạn đọc Việt Nam. Tôi đã chính thức trở thành đồng nghiệp của Göncz Árpád, điều ông mong mỏi và hy vọng từ những ngày hè 1983, tại lâu đài cổ thơ mộng ở làng Mihályi. Và, ông đã có thể tự hào nói với Tổng thống nước Cộng hòa tự trị Karelia (Liên bang Nga) trong chuyến thăm cái nôi đã sản sinh ra sử thi “Kalêvala”, rằng chính con gái nuôi của ông đã dịch sử thi này ra tiếng Việt! (5). Bên cạnh đó, với tư cách là một nhà văn, gần mười lăm năm sau tôi cũng có thể coi mình là đồng nghiệp của Göncz khi tác phẩm sử thi “Con cháu Mon Mân” của tôi với gần 17 ngàn câu thơ được xuất bản tại Hà Nội. 

Ghi chú (của NCTG):

(1) Ga xe lửa quốc tế phía Đông của thủ đô Budapest.

(2) Chính thể cộng sản tại Hungary, gắn liền với tên tuổi vị Tổng bí thư Kádár János (1912-1989), người đứng đầu ĐảngCông nhân Xã hội (tức Đảng Cộng sản Hungary) trong thời gian từ cuối năm 1956 cho đến cuối đời.

(3) Thủ tướng đương nhiệm Hungary, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Dân chủ (FIDESZ, hiện là đảng cầm quyền tại Hungary).

(4) Nhà văn, nhà soạn kịch, dịch giả, Tổng thống Hungary trong thời gian 1990-2000.

(5) Sử thi “Kalêvala” cũng được coi là một trong những xuất phát điểm sự hình thành các mối quan hệ giữa Phần Lan và Hungary - tác phẩm này đã có năm bản dịch tiếng Hung.

(còn nữa)