Monday, September 21, 2026

Khả năng nhìn người

Khả năng tuyệt vời của một người chính là biết cách nhìn người, chia thành 4 cấp độ.

Cấp độ cơ bản: Dùng thời gian

​Cấp độ cơ bản nhất là dùng thời gian để nhìn người. Đó là "lửa thử vàng, gian nan thử sức" hay thời gian biết lòng người. Dành thời gian từ từ tiếp xúc, giống như chờ đợi nước tự đóng băng, cần phải đợi rất lâu mới có thể hiểu được một người

Hơn nữa, phương pháp này rất dễ sai sót. Rất nhiều trường hợp nhìn lầm người. Một số người trông có vẻ thật thà nhưng thực tế có thể không phải như vậy. Lại có những người cực kỳ giỏi ngụy trang, thời gian dài cũng không thấy được bộ mặt thật.

​Cấp độ 2: Quan sát tướng mạo và hành động

​Cấp độ thứ 2 là phán đoán thông qua quan sát tướng mạo và các chi tiết hành động của một người. Tục ngữ có câu "tâm sinh tướng", tâm thái lâu dài của một người sẽ biểu hiện trên khuôn mặt. Ví dụ, cảm xúc kéo dài sẽ làm thay đổi cơ mặt, người hay cáu giận dễ xuất hiện nếp nhăn.

​Đồng tử của con người rung nhẹ 30 lần mỗi giây, có thể để lộ cảm xúc thật trong lòng. Đồng thời, nhìn cách họ giao tiếp với người khác, xử lý sự việc cũng có thể phát hiện ra một số thông tin ẩn giấu.

​Tuy nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế nhất định. Ngay cả chuyên gia nghiên cứu hành vi cũng có tỷ lệ phán đoán sai.

​Cấp độ 3: Dùng lợi ích để thử thách

​Trước lợi ích, lý trí và dục vọng của con người sẽ đấu tranh quyết liệt. Biểu hiện nhất thời này phản ánh chân thực nhất suy nghĩ thật. Tuy nhiên, mặc dù phương pháp này trực tiếp và hiệu quả, nhưng có thể làm tổn hại đến sự tin tưởng lẫn nhau.

​Cấp độ cao nhất: Chủ động tạo tình huống

​Cách lợi hại nhất là cố tình để lộ sơ hở. Đây là phương pháp chính xác và hiệu quả nhất, thông qua việc tạo ra những tình huống có áp lực, có thể khiến 99% mọi người lộ ra phản ứng thật.

​Ví dụ như giả vờ rơi vào tình thế khó khăn hoặc phạm sai lầm để xem đối phương có nhân cơ hội để giẫm đạp lên không, hay là sẵn lòng đưa tay giúp đỡ. Hoặc cố tình tạo ra tình huống phân chia không đủ nguồn lực, quan sát cách đối phương phân chia. Đưa ra sự lựa chọn tiến thoái lưỡng nan để kiểm tra ranh giới đạo đức của đối phương. 

Cách chủ động thiết lập tình huống này có thể nhìn rõ năng lực và nhân phẩm của một người nhanh nhất.

​Khi nhìn người, hãy ghi nhớ một vài nguyên tắc quan trọng:

Thứ nhất: Chỉ nhìn bề ngoài thì không chuẩn. Người mặc vest chưa chắc đã là quý ông, người trông yếu đuối cũng có thể rất thâm trầm.

Thứ hai: Nhân tính rất phức tạp. Trong lòng mỗi người đều có mặt thiện và ác, biểu hiện cụ thể còn tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Thứ ba: Liệu có thể nhìn thấu một người hay không phụ thuộc vào góc độ bạn quan sát vấn đề và liệu tư duy của chính bạn có điểm mù hay không.

​Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều kỹ năng nhìn người có thể sử dụng:

- Tạo ra tình trạng khan hiếm nguồn lực hoặc tình huống cơ hội có hạn để xem cách đối phương phân chia nguồn lực.

- Từ từ tiết lộ bí mật cho đối phương, quan sát xem họ có giữ kín được không.

- Tìm hiểu kinh nghiệm quá khứ và vòng tròn xã hội của đối phương thông qua những lựa chọn quan trọng của họ trong 5 năm gần đây, cũng như loại hình và số lượng bạn bè để đánh giá tính cách thực sự.

- Quan sát thái độ của họ đối với nhân viên phục vụ, điều này cho thấy rõ nhất sự giáo dục thực sự của một người.

TnBS

Sunday, September 20, 2026

Khẩu nghiệp

 Miệng của bạn chính là vận mệnh của bạn 

Người bình thường dễ phạm nhất chính là “khẩu nghiệp”. Một người có vận mệnh tốt hay không, nhìn vào việc họ có giữ được “khẩu đức” hay không là có thể thấy rõ.

Vì vậy, khẩu nghiệp rất quan trọng. Cả đời một người có thể không làm chuyện thất đức mỗi ngày, nhưng lời nói thất đức, lời khó nghe, lời không đứng đắn thì rất có thể lại nói ra mỗi ngày.

Lâu dần tích tụ, phúc báo đều theo cái miệng mà trôi đi hết. Cho nên, người nói chuyện không có khẩu đức, cả đời thường cũng lận đận, khổ sở.

1. Miệng xấu đến đâu, mệnh khổ đến đó

Khẩu đức đối với bất kỳ ai cũng như vậy. Rất nhiều phúc báo đều bị chính lời nói làm hao tổn. Có người nói: “Tôi đâu có làm việc xấu gì đâu?” Nhưng phải biết rằng, khẩu nghiệp không tốt thì hao tổn phúc báo rất nghiêm trọng.

Người xưa nói: “Lời nói sinh ra từ tâm.” Nếu miệng cứ nói những điều không tốt, nói chuyện thị phi về người khác, hoặc nói lời nguyền rủa, thì phúc báo mất đi rất nhanh. Không chỉ nói thị phi, mà ngay cả nói xấu người lớn trong nhà, cũng là làm hao tổn phúc báo.

Có những người phụ nữ thích than phiền về chồng, nói chồng cái này không tốt, cái kia không tốt. Khi cãi nhau thì thậm chí chửi luôn cả cha mẹ, tổ tiên bên kia, lời gì khó nghe cũng nói ra.

Như vậy là tạo khẩu nghiệp rất nặng. Gia đình vì thế chỉ càng ngày càng nghèo đi, vì phúc báo đã bị chính lời chửi mà tiêu tán hết. Cho nên, cửa ải “khẩu nghiệp” này nhất định phải chú ý.

2. Miệng phải giữ đức, đừng cay nghiệt chua ngoa

Miệng phải giữ đức, đừng nói lời cay nghiệt, như vậy mới giữ được phúc báo. Vì sao lời nói có thể làm hao tổn phúc báo?

Phải hiểu rằng, phúc báo là do nhân duyên mà thành, là kết quả của nhiều yếu tố hòa hợp, cũng là một dạng biểu hiện của trường năng lượng.

Ví dụ, bạn đến chùa làm công quả, việc quét sân hay lau bàn có mang lại phúc báo không?

Không phải. Chính là tâm niệm mới mang lại phúc báo. Khi ta khởi tâm muốn lợi ích cho người khác, đi quét dọn, sắp xếp vệ sinh, là đang kết thiện duyên với mọi người.

3. Oán trách, than thân trách phận khiến phúc mất rất nhanh

Việc làm mất phúc báo cũng là do tâm mà ra. Khi trong lòng thiên về ích kỷ, thích oán trách, ganh tị, keo kiệt, tham lam, lãng phí… thì phúc báo sẽ dần bị tiêu hao. Phúc báo bị mất cũng là do tâm, rồi phối hợp với hành động mà thành.

Người hay oán trời trách người, không biết trân trọng những gì mình đang có, cứ than vãn không ngừng, lại còn dùng miệng nói ra mãi, thì lúc đó phúc báo mất đi rất nhanh.

4. Miệng nói lời tốt, tâm giữ điều thiện

Trong kinh Phật có nói: lời nói của Phật mềm mại, khiến người nghe vui lòng. Chúng sinh trong mười cõi nghe lời Phật đều hoan hỷ, đều được cảm hóa bởi lời nói ấy. Đó cũng là do Phật tu luyện qua nhiều đời, luôn nói lời yêu thương.

Miệng phải nói lời tốt, tâm phải giữ điều thiện, như vậy vũ trụ sẽ phát ra trường năng lượng tốt, và ta cũng nhận lại kết quả tốt.

Thế nào là tâm tốt? Trước hết là biết đủ và biết ơn.

Biết đủ là một biểu hiện của sự trưởng thành. Một người càng tu dưỡng, càng phải biết đủ. Đối với hoàn cảnh bên ngoài, luôn giữ tâm biết đủ và biết ơn, như vậy mới gọi là có tiến bộ.

5. Giữ lại chút khẩu đức cho mình

Hiểu người không cần nói hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại chút khẩu đức cho mình.

Trách người không cần quá mức, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại chút bao dung cho mình.

Có tài không cần khoe hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại chiều sâu cho mình.

Sắc bén không cần lộ hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại sự kín đáo cho mình.

Có công không cần nhận hết, nên chừa lại ba phần cho người, cũng là giữ lại sự khiêm nhường cho mình.

FB-Người bản lĩnh

Saturday, September 19, 2026

Ko phải người lớn là trưởng thành

 8 bí mật trần trụi về tiền bạc và quan hệ: Không nhìn thấu, cả đời làm quân cờ cho kẻ khác

1. Khi bạn nghèo, lời nói thật của bạn cũng thành lời nói dối; khi bạn giàu, lời nói đùa của bạn cũng được coi là chân lý. Đừng trách người đời thực dụng, hãy trách bản thân chưa đủ giá trị.

2. Cách nhanh nhất để thử thách một mối quan hệ là mượn tiền; cách nhanh nhất để hủy hoại một mối quan hệ là cho mượn tiền.

3. Trong thế giới của người trưởng thành, không có sự đồng cảm tự nhiên. Họ chỉ tôn trọng hai thứ: Năng lực áp đảo của bạn và lợi ích bạn mang lại cho họ.

4. Đừng bao giờ khoe khoang sự giàu có hay hạnh phúc trước mặt những người đang chật vật. Sự đố kỵ của con người là một thứ vũ khí vô hình nhưng có thể g/i.ế.t c/h.ế.t bạn bất cứ lúc nào.

5. Đối xử quá tốt với người khác mà không có nguyên tắc, họ sẽ không biết ơn bạn, họ chỉ nghĩ rằng bạn là kẻ dễ bắt nạt và việc bạn hy sinh là điều hiển nhiên.

6. Khi ai đó đột ngột đối xử tốt với bạn sau một thời gian dài lạnh nhạt, đừng vội mừng. Hãy kiểm tra xem họ đang cần nhờ vả bạn điều gì, hoặc bạn vừa có thứ gì đó để họ lợi dụng.

7. Kẻ đ/â.m sau lư:ng bạn đau nhất chưa bao giờ là kẻ thù, mà là người từng biết rõ mọi bí mật và điểm yếu của bạn. Giữ cái miệng lại là cách phòng vệ rẻ nhất.

8. Tiền không mua được hạnh phúc, nhưng tiền mua được sự tôn nghiêm và quyền lựa chọn. Khi bạn có tiền, bạn có quyền nói "Không" với những thứ mình ghét.

Tony BS st

Friday, September 18, 2026

Második világ: Jó viccek

10 truyện tiếu lâm hay nhất thời Xô-viết (Liên Xô) và Đông Âu

Giải nhất: Ba công nhân vừa bước vào nhà tù, hỏi nhau vì sao bị tù. Người thứ nhất: “Ngày nào tôi cũng đi muộn 10 phút, họ bảo tôi phạm tội phá hoại”. Người thứ hai: “Ngày nào tôi cũng tới sớm 10 phút, họ bảo tôi là gián điệp”. Người thứ ba: “Ngày nào tôi cũng đến đúng giờ, họ bảo tôi có đồng hồ ngoại”.


Sau đây là 9 giải còn lại:

2. Trong một túp lều ở thảo nguyên có một ông lão đang hấp hối.

Có tiếng gõ cửa dồn dập.

– Ai đấy? – ông lão hỏi.

– Thần chết, – có tiếng đáp.

– Lậy chúa tôi! – ông già nói – Cứ tưởng là KGB.


3. Báo Sự Thật nói rằng tất cả thư từ gửi tới tòa soạn đều được tiếp nhận một cách trọng thị. Người gửi cần ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình và của những người thân nhất trong gia đình.


4. Tại sao bao giờ KGB cũng đi thành nhóm 3 người? Trả lời: một người biết đọc, một người biết viết, người thứ ba có nhiệm vụ theo dõi hai tay có học đó.


5. Leonid Brejnev thăm chính thức Pháp. Người ta đưa ông thăm quan Paris. Ông được đưa đến Điện Élysée, nhưng cũng như mọi khi, mặt ông vẫn lạnh như tiền. Rồi người ta đưa ông đến viện bảo tàng Louvre, nhưng vẫn không ai thấy phản ứng gì. Rồi người ta đưa ông tới Khải hoàn môn, nhưng vẫn không thấy một tí biểu hiện nào trên nét mặt hết. Cuối cùng, đoàn xe đến tháp Eiffel. Brejnev vô cùng kinh ngạc. Ông ta quay sang những người dẫn đường Pháp và hỏi: “Này, ở Paris có đến 9 triệu người… Các vị chỉ cần một tháp canh thôi ư?”


6. Stalin quyết định vi hành quanh thành phố xem công nhân sống như thế nào, một lần ông ta bí mật ra khỏi Điện Cẩm Linh. Sau đó ông rẽ vào rạp chiếu bóng. Phim vừa hết thì quốc ca vang lên và trên màn ảnh xuất hiện hình Stalin. Tất cả đều đứng dậy và hát quốc ca, riêng Stalin vẫn tiếp tục ngồi, tỏ vẻ rất hài lòng. Rồi ông ta thấy một người ngồi phía sau ghé vào tai thì thầm: “Này đồng chí, tất cả chúng tôi đều cảm thấy y chang như anh, nhưng hãy tin tôi đi, đứng dậy sẽ an toàn hơn cho anh nhiều.”


7. Một công dân Liên Xô tiết kiệm đủ tiền mua ô tô. Sau khi trả tiền, người ta nói với anh là ba năm nữa sẽ được nhận xe.

– Ba năm nữa! – Anh ta nói – Tháng mấy?

– Tháng tám.

– Tháng tám à? Ngày mấy?

– Ngày 2 tháng tám.

– Buổi sáng hay buổi chiều?

– Buổi chiều. Mà chuyện gì vậy?

– Buổi sáng sẽ có một thợ sửa ống nước đến nhà tôi.


8. Tại sao các cựu sĩ quan Stasi lại là những người lái taxi thông thạo nhất ở Berlin? Vì anh chỉ cần nói tên là họ đã biết anh sống ở đâu rồi.


9. Moskva những năm 1970. Mùa đông giá rét. Có tin đồn là ngày hôm sau cửa hàng bán thịt số 1 sẽ có thịt.

Ngay hôm đó trước cửa hàng đã có hàng chục ngàn người với áo khoác ấm, giày cao cổ, rượu và bàn cờ đứng thành hành dài.

Lúc 3 giờ chiều một người bán thịt đi ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng không đủ thịt bán cho tất cả mọi người vì vậy mà dân Do Thái nên về nhà”.

Dân Do Thái nhẫn nhục bước ra khỏi hàng. Những người khác tiếp tục đợi.

Lúc 7 giờ tối người bán thịt lại bước ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng hóa ra là không có thịt vì vậy mọi người nên về nhà”.

Đám đông tản ra, vừa đi họ vừa lầm bầm: “Bọn Do Thái khốn nạn lúc nào cũng gặp may!”.


10. Sĩ quan KGB vào công viên và trông thấy một ông già đang cầm cuốn sách.

Người sĩ quan hỏi: “Ông già đang đọc gì đấy”.

Ông già đáp: “Tôi đang tự học tiếng Ivrit (tiếng Do Thái)”.

“Ông học tiếng Ivrit làm gì? Thị thực đi Israel phải chờ mấy năm lận. Ông sẽ chết trước khi làm xong giấy tờ”.

“Tôi học tiếng Ivrit để khi lên Thiên đàng tôi có thể nói chuyện với Abraham và Moise. Trên Thiên đàng chỉ nói bằng tiếng Ivrit thôi”.

“Thế nếu ông xuống địa ngục thì sao?” – Người sĩ quan hỏi.

“Tiếng Nga thì tôi biết rồi” – ông già trả lời. See less

Thursday, September 17, 2026

Đời người: Là tự chỉnh đốn để sống cân bằng

 BẢN NĂNG VÀ SỰ TRƯỞNG THÀNH

Nửa thân trên của phụ nữ là cám dỗ, nửa thân dưới lại là cạm bẫy. Nửa thân trên của đàn ông là sự tu dưỡng, nửa thân dưới lại là bản năng.

Nói cho bạn nghe, mười người đàn ông thì có đến chín kẻ háo sắc, điều này chẳng liên quan gì đến nhân phẩm. 

Mười người phụ nữ thì có đến chín người thực dụng, chỉ là ở những mức độ khác nhau mà thôi. 

Có "thất tình lục dục" thì mới được gọi là con người; không có, đó chỉ là vật vô tri vô giác. Nhưng kẻ nào có thể làm chủ được thất tình lục dục của mình, kẻ đó mới đích thị là nhân vật kiệt xuất.

Đàn ông có hai khao khát vô cùng mâu thuẫn: muốn kéo gái nhà lành vào chốn bùn nhơ, lại muốn khuyên gái bán hoa hoàn lương giải nghệ. Phụ nữ cũng có hai khao khát tương tự: thích bàn chuyện tiền bạc với người nghèo, lại thích bàn chuyện yêu đương với người giàu.

Phụ nữ cả đời chỉ thích hai kiểu đàn ông: kiểu thứ nhất là khi còn trẻ có nhiều tiền, kiểu thứ hai là khi đã già nhưng vẫn nhiều tiền. Còn đàn ông cả đời cũng chỉ thích hai kiểu phụ nữ: kiểu thứ nhất là thiếu nữ mang vẻ đẹp đằm thắm của thiếu phụ, kiểu thứ hai là thiếu phụ mang vẻ đẹp trong trẻo của thiếu nữ.

Nghe thì có vẻ phiến diện, nhưng háo sắc và thực dụng vốn là bản năng sinh tồn của con người.

Nếu bạn để lộ tài sản, kẻ tham lam sẽ rình rập. Nếu bạn để lộ nhan sắc, kẻ háo sắc sẽ dòm ngó. Nếu bạn để lộ sự chân thành, kẻ ích kỷ sẽ giẫm đạp lên nó.

Cái gọi là "yêu từ cái nhìn đầu tiên" chẳng qua là sự trỗi dậy nhất thời của thú tính. Cái gọi là "tình sâu nghĩa nặng" thực chất là sự cân nhắc kỹ lưỡng về lợi hại giữa đôi bên. 

Tình yêu vốn bắt đầu từ nhan sắc, chìm đắm bởi tài năng, chung thủy nhờ nhân phẩm, nhưng cuối cùng lại dễ chia ly vì vật chất và gục ngã trước hiện thực phũ phàng.

Vì vậy, đời người nhất định phải vứt bỏ ba thứ: Một là, Đôi giày không vừa chân.

Hai là, Người không có hình bóng bạn trong tim. Ba là, Những người bạn chỉ xã giao trên bàn nhậu.

Đồng thời, bạn phải sở hữu bằng được bốn điều cốt lõi:

- Sự tự tin hiển hiện trên khuôn mặt.

- Lòng lương thiện ẩn giấu trong tim.

- Khí phách chảy trong huyết quản.

- Sự kiên cường khắc sâu trong xương tủy.

Cùng với sự trưởng thành theo năm tháng, bạn sẽ nhận ra thế giới này ngày càng phức tạp, xã hội ngày càng thực dụng. Bạn sẽ nếm đủ mọi thăng trầm, nhìn thấu muôn hình vạn trạng của nhân sinh. 

Thế nhưng, nếu đi qua hết thảy những giông bão ấy mà sâu thẳm trong tim bạn vẫn giữ được một niềm tin, trong ánh mắt vẫn đọng lại sự trong trẻo, thì đó mới được xem là sự trưởng thành thực sự.

Giống như câu nói nổi tiếng: "Nếu bạn luôn toan tính, một sợi lông nhỏ rơi xuống cũng đủ làm bạn tổn thương. Nhưng nếu bạn biết buông bỏ và khoáng đạt, thì dù ngoài kia giông bão gầm rú, bạn vẫn an nhiên tự tại".

Đời người chính là sự cân bằng giữa việc nỗ lực hết mình và tùy duyên đón nhận. Hãy cứ chân thành sống hết mình và để mọi thứ thuận theo tự nhiên. 

Thế sự như bàn cờ, nhân tâm sâu tựa biển. Khi đã thấu suốt những góc khuất trần trụi về bản năng và danh lợi, bạn mới có thể sống thức thời để tự vệ, và giữ tâm khoáng đạt để an nhiên.

 (Bài được viết lại và thêm "mắm muối"

theo ý rao giảng của một triết gia về "Thất tình luc dục" của kiếp nhân sinh)

FB-Lê Thọ Bình

Wednesday, September 16, 2026

Một giai đoạn cm

PÁC BÓ: SỰ LỰA CHỌN ĐỊA THẾ

Pác Bó, nơi lãnh tụ Việt Minh đặt chân từ ngày 28/1/1941, là căn cứ khởi đầu của phong trào. Từ đó Việt Minh đi qua các chặng xây dựng lực lượng, xuống đồng bằng năm 1945, rút lên Việt Bắc năm 1946, và cũng từ vùng chiến khu này chiến dịch Cải cách ruộng đất được chỉ đạo.

Pác Bó nằm sát đường biên giới với Trung Quốc nên có một hậu phương an toàn. Khi bị quân Pháp vây quét mạnh, lực lượng cách mạng có thể tạm rút sang phía bên kia biên giới để bảo toàn lực lượng và nhận hỗ trợ từ các tổ chức cách mạng bạn.

Địa hình ở đây dễ thủ khó công. Đó là vùng rừng núi hiểm trở, có hệ thống hang động, khe sâu và chỉ vài con đường mòn nhỏ độc đạo. Lực lượng đồn trú chỉ cần một số nhỏ binh lính chốt giữ các tử huyệt là có thể bẻ gãy các đợt tấn công lớn của quân chủ lực trang bị vũ khí nặng.

Việc chọn Pác Bó là sự chủ động chọn lựa từ kinh nghiệm lịch sử. Lãnh tụ Việt Minh về nước ngày 28/1/1941 và chọn Pác Bó dựa trên sự khảo sát kỹ lưỡng về phong trào quần chúng và địa hình nối liền sang Trung Quốc. Hội nghị Trung ương 8 họp tại lán Khuổi Nậm từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941 và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh.

Căn cứ vận hành dựa vào lòng dân. Pác Bó phát triển nhờ sự đùm bọc, nuôi giấu tự nguyện của nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, và mở rộng thành những làng chiến đấu, nơi người dân là tai mắt và nguồn tiếp tế cho cách mạng. Chỉ trong 3 tháng từ tháng 2 đến tháng 4/1941, phong trào Việt Minh đã thu hút khoảng 2.000 người thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông ở ba châu thí điểm.

________________________________________

NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ VIỆN TRỢ CỦA VIỆT MINH TRƯỚC TỔNG KHỞI NGHĨA

Ngân sách của Việt Minh thời Pác Bó không hề dồi dào mà luôn ở trạng thái thiếu thốn, được duy trì theo phương thức vốn nhỏ, phân tán, kết hợp đóng góp nhỏ lẻ của dân nghèo địa phương, sự tài trợ của tầng lớp có tài sản, tự cung tự cấp và sự tranh thủ khéo léo các nguồn viện trợ từ Trung Quốc và Mỹ trong bối cảnh Đệ nhị Thế chiến.

Nguồn đầu tiên là quyên góp từ quần chúng. Ngân sách ban đầu không đến từ ngân hàng hay tổ chức tài chính lớn nào mà do mạng lưới Hội Cứu quốc của nông dân, thanh niên, phụ nữ đi vận động. Thành viên đóng góp tiền mặt là đồng Đông Dương, gạo, muối, vải vóc hoặc gia súc, và ở các vùng Việt Minh kiểm soát ngầm tại Cao Bằng có hệ thống thuế tự nguyện hoặc phí hội viên định kỳ. Một phần ngân sách quan trọng đến từ các gia đình thổ ty, địa chủ nhỏ, thương nhân tiến bộ ở vùng biên giới và các gia đình Việt kiều có điều kiện tại Quảng Tây.

Nguồn thứ hai là tự cung tự cấp tại chỗ. Cán bộ và du kích tự trồng ngô, lúa, rau, chăn nuôi, tự may mặc và làm vũ khí thô sơ để giảm tối đa chi phí tiền mặt. Việc trao đổi chủ yếu là hàng đổi hàng với người dân bản địa, lương thực đổi lấy sự bảo vệ hoặc sự giúp đỡ về y tế, giáo dục.

Nguồn thứ ba là viện trợ từ bên ngoài. Việt kiều tại vùng biên giới Quảng Tây (Tĩnh Tây, Long Châu) và các mạng lưới Hoa kiều thân hữu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển ngân khoản, thuốc men, vải vóc và thiết bị in ấn về căn cứ.

Về phía Trung Quốc, lãnh tụ Việt Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ ngày 29/8/1942 ở Quảng Tây và được thả tháng 9/1943. Sau đó ông chấp nhận tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, tổ chức do Trung Hoa Quốc Dân Đảng bảo trợ, và nhờ danh nghĩa này Việt Minh nhận được một số khoản trợ cấp tài chính, quân trang và vũ khí để hoạt động tại vùng biên giới. Trước khi ông về nước năm 1944, tướng Trương Phát Khuê còn cấp bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc chữa bệnh và một khoản tiền làm chi phí đi đường và kinh phí huấn luyện, được báo Công an nhân dân ghi là 76.000 đồng quan kim. Ngày 20/9/1944, ông về đến Pác Bó.

Từ cuối năm 1944, nhờ việc hỗ trợ giải cứu phi công Mỹ bị bắn rơi và cung cấp tình báo về quân Nhật, Việt Minh bắt đầu nhận được sự tiếp tế trực tiếp từ Cơ quan Dịch vụ Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của CIA. Ngày 16/7/1945, toán Deer Team do thiếu tá Allison Thomas chỉ huy nhảy dù xuống Tân Trào và huấn luyện Việt Minh sử dụng bazooka, súng carbine và lựu đạn. Số vũ khí này được máy bay Đồng minh thả dù xuống Tân Trào. Lượng tiền mặt không lớn, nhưng nguồn tiếp tế vật tư này có giá trị kinh tế và quân sự rất lớn, giúp giảm áp lực tài chính cho căn cứ.

________________________________________

HÀNH TRÌNH TỪ PÁC BÓ XUỐNG ĐỒNG BẰNG RỒI TRỞ LẠI VIỆT BẮC

Mặt trận Việt Minh không đùng một cái tràn từ rừng núi xuống mà chuyển hướng hoạt động từ Pác Bó về đồng bằng qua hai bước chiến lược chính.

Bước thứ nhất, từ năm 1943 đến năm 1944, là mở rộng hành lang chính trị. Từ Pác Bó sát biên giới Trung Quốc, Việt Minh tổ chức 19 đội xung phong Nam tiến do Võ Nguyên Giáp chỉ huy để nối các căn cứ miền núi với vùng trung du và đồng bằng. Cuối tháng 11/1943, con đường này nối Cao Bằng với khu căn cứ Bắc Sơn, Võ Nhai và thiết lập được đường dây liên lạc với Trung ương ở miền xuôi. Họ không đi bằng quân đội lớn mà đưa cán bộ bí mật vào các làng xã ở Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên để lập các Hội Cứu quốc bí mật, chuẩn bị sẵn lực lượng quần chúng tại chỗ trước khi quân chủ lực xuất hiện. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời.

Bước thứ hai, từ tháng 3 đến tháng 8/1945, là chính thức tiến quân. Cơ hội đến từ việc Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, khi chính quyền thực dân Pháp sụp đổ hoàn toàn và tạo ra khoảng trống quyền lực lớn, Việt Minh lập tức phát động cao trào Kháng Nhật cứu nước. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp từ ngày 15 đến ngày 20/4/1945 tại Hiệp Hòa quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 4/5/1945, lãnh tụ Việt Minh rời Pác Bó, chuyển trung tâm chỉ đạo về Tân Trào, Tuyên Quang, gần đồng bằng và Hà Nội hơn rất nhiều. Ngày 15/5/1945, Việt Nam Giải phóng quân ra đời tại Định Hóa, Thái Nguyên, và ngày 4/6/1945 Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức thành lập.

Tổng khởi nghĩa diễn ra từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945. Khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào ngày 16/8, và chiều cùng ngày một đơn vị Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên, vào thị xã ngày 20/8/1945 rồi tiếp tục tiến về Hà Nội. Tuy nhiên, phần lớn các cuộc nổi dậy giành quyền lực ở đồng bằng và các thành phố lớn như Hà Nội ngày 19/8, Huế ngày 23/8, Sài Gòn ngày 25/8 thực chất do lực lượng tự vệ và quần chúng tại chỗ thực hiện, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Việt Minh ngầm đã cắm chốt từ trước, chứ không hoàn toàn chờ quân từ chiến khu kéo về. Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam đã giành được chính quyền tỉnh lỵ từ ngày 18/8, trước khi Giải phóng quân vào thị xã Thái Nguyên.

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược năm 1946, Việt Minh áp dụng chiến lược tiêu thổ kháng chiến, tức phá hủy hạ tầng để không cho địch sử dụng, và tiến hành cuộc rút quân quy mô lớn từ đồng bằng về vùng núi rừng phía Bắc. Tối ngày 19/12/1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ tại Hà Nội. Các đơn vị Vệ quốc đoàn và Trung đoàn Thủ đô giam chân quân Pháp trong lòng Hà Nội suốt 60 ngày đêm để các cơ quan trung ương, kho tàng, xưởng máy và tài liệu kịp sơ tán an toàn.

Trung ương Đảng, Chính phủ và lãnh tụ Việt Minh không quay lại Pác Bó vì quá sát biên giới, dễ bị đánh kẹp. Họ chọn vùng Việt Bắc gồm 6 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, thường gọi là Thủ đô kháng chiến, làm căn cứ địa chính. Các huyện Chợ Đồn, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Định Hóa, Đại Từ được chọn làm an toàn khu.

Lần trở lại núi rừng từ năm 1946 đến năm 1954 khác hoàn toàn giai đoạn Pác Bó từ năm 1941 đến năm 1945. Việt Minh không còn là những nhóm du kích vài chục người với súng thô sơ mà đã có chính quyền, các trung đoàn chủ lực, hệ thống quân y, xưởng công binh chế tạo vũ khí như súng bazooka và đạn dược, cùng sự ủng hộ của đông đảo quần chúng. Căn cứ Việt Bắc được tổ chức bài bản với các an toàn khu, hệ thống thông tin liên lạc, xưởng in tiền, báo chí và cơ quan đại diện của các nước sau năm 1950.

Nhờ chủ động rút lên núi rừng dựng căn cứ phòng thủ, Việt Minh bẻ gãy đợt tấn công quy mô lớn của Pháp vào Việt Bắc mùa thu đông năm 1947. Pháp huy động 12.000 quân và mở màn ngày 7/10/1947 bằng cuộc nhảy dù xuống Bắc Kạn, nhưng đến ngày 19/12/1947 đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc. Việt Minh bảo toàn được lực lượng và phát triển thành các đại đoàn chủ lực. Tháng 1/1950, Trung Quốc công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở đường cho những hỗ trợ tài chính và quân sự mà Việt Minh cần trong cuộc chiến chống Pháp, và từ nền tảng đó Việt Minh tiến tới chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

________________________________________

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT MỞ MÀN TỪ CHIẾN KHU VIỆT BẮC

Trong chiến dịch Cải cách ruộng đất diễn ra từ năm 1953 đến năm 1956, đầu não điều hành, tức các cơ quan trung ương chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch, được đặt tại vùng An toàn khu Thái Nguyên và Tuyên Quang thuộc Chiến khu Việt Bắc, sau đó từng bước chuyển về Hà Nội. Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nơi ra các quyết định đường lối về Cải cách ruộng đất, đóng tại Định Hóa thuộc Thái Nguyên và Sơn Dương thuộc Tuyên Quang. Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương, cơ quan trực tiếp triển khai và điều hành chiến dịch, do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách.

Hội nghị Trung ương lần thứ 4 họp từ ngày 25 đến ngày 30/1/1953 quyết định phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, giảm tức để tiến tới cải cách ruộng đất, và đợt phát động quần chúng giảm tô bắt đầu từ tháng 4/1953.

Vụ án bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là Cát Hanh Long, diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7/1953, giai đoạn mở đầu đợt thí điểm Cải cách ruộng đất tại Thái Nguyên. Bà sinh năm 1906, là chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ở Hải Phòng, từng làm Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên, và gia đình bà đã đóng góp tài chính lớn cho Việt Minh trước đó, đúng kiểu nguồn đóng góp từ tầng lớp có tài sản từng giúp nuôi căn cứ thời Pác Bó. Ngày 22/5/1953, bà bị đấu tố lần cuối trước gần 10.000 người dân địa phương và bị tuyên án tử hình.

Bà bị xử bắn ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trong tháng 7/1953, ở tuổi 47, và được báo chí đương thời coi là phát súng mở màn cho cuộc vận động lớn của chiến dịch. Nhiều nguồn ghi ngày xử bắn là 9/7/1953, tức 29 tháng 5 âm lịch, nhưng ngày chính xác chưa được xác nhận chắc chắn: một báo cáo ngày 14/7/1953 xác nhận bản án tử hình nhưng chưa nêu rõ số phận hiện tại của bà, còn một báo cáo ngày 17/7/1953 đã liệt bà vào số người bị xử bắn.

Bài báo Địa chủ ác ghê ký tên C.B. được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21/7/1953, sau vụ xử bắn, và được trang thông tin đặc biệt về lãnh tụ Việt Minh của báo Nhân Dân đăng lại như một bài viết của ông, với xuất xứ ghi là báo Nhân Dân số 125, từ ngày 21 đến ngày 25/7/1953. Bài báo kể tội bà với những cáo buộc như "Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người", và còn nói bà giết 14 nông dân.

Đợt thí điểm tại Đồng Bẩm cần một mô hình điểm để phát động quần chúng hưởng ứng chiến dịch, và trường hợp Cát Hanh Long được chọn. Bằng bài báo ký C.B. đăng trên cơ quan ngôn luận của Đảng lúc đó, bài mà chính báo Nhân Dân ghi nhận là của lãnh tụ Việt Minh. Ông và bộ máy tuyên truyền nhằm tạo luồng dư luận mạnh mẽ, hợp thức hóa chính sách phát động đấu tranh giai cấp khốc liệt đối với tầng lớp địa chủ, bất chấp những đóng góp tài chính lớn của gia đình bà cho Việt Minh trước đó.

Vào thời điểm vụ việc diễn ra và bài báo ra đời, toàn bộ quy trình tòa án, viết bài và in ấn báo chí đều được thực hiện tại Chiến khu Việt Bắc, chủ yếu ở Thái Nguyên, hoàn toàn chưa chuyển về Hà Nội. Năm 1953 Hà Nội vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp nên toàn bộ bộ máy truyền thông của Việt Minh hoạt động trong điều kiện sơ tán. Báo Nhân Dân và Tuyên huấn Trung ương đặt trụ sở tại khu vực an toàn khu Thái Nguyên thuộc các huyện Định Hóa, Đại Từ. Máy in do công nhân sơ tán chở từ đồng bằng lên được cất kỹ trong hang đá hoặc nhà sàn dưới tán rừng để tránh không quân Pháp, và báo sau khi in được các đội giao liên chuyển bằng đường bộ, xe đạp xuống các vùng tự do như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cùng các vùng căn cứ du kích ở đồng bằng.

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 họp vào trung tuần tháng 11/1953 bàn về nhiệm vụ cải cách ruộng đất, và Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 4/12/1953. Các lực lượng cán bộ được huấn luyện tại căn cứ Việt Bắc, sau đó tỏa đi thành các đội cải cách xuống làng xã ở vùng tự do như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Phải đến tháng 10/1954, sau Hiệp định Genève và cuộc tiếp quản Thủ đô, Báo Nhân Dân và các cơ quan xuất bản Trung ương mới chính thức chuyển máy móc và trụ sở về Hà Nội. Cùng thời điểm, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ và Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương chuyển về Hà Nội, từ đó chỉ đạo các đợt Cải cách ruộng đất quy mô lớn trên toàn bộ vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong những năm 1955 và 1956, cho đến khi chiến dịch dừng lại và chuyển sang giai đoạn Sửa sai vào giữa năm 1956. 

Minh Nhựt (Nghiên cứu lịch sử)

Tuesday, September 15, 2026

PHƯƠNG TÂY, KITÔ GIÁO VÀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN

 KHAI SÁNG HAY BÓC LỘT?

Lịch sử hiếm khi cho chúng ta một thế giới chỉ có hai màu. Một nền văn minh có thể tạo ra những tư tưởng mở đường cho tự do, đồng thời xây dựng những đế quốc dựa trên chinh phục và thống trị. Một thuộc địa có thể được xây trường học, đường sắt và cảng biển, trong khi người dân tại đó vẫn không có quyền quyết định tương lai chính trị của mình.

Có lẽ đây là một trong những nghịch lý quan trọng nhất khi nhìn lại lịch sử phương Tây.

Khi nhắc đến phương Tây, người ta thường nhớ đến Hy Lạp và La Mã, Kitô giáo, Phục Hưng, Cải cách Tin Lành, Cách mạng Khoa học, Khai sáng, cách mạng công nghiệp, nhà nước pháp quyền và những tư tưởng hiện đại về tự do, bình đẳng, quyền con người.

Những thành tựu ấy là có thật và có ảnh hưởng sâu rộng đến thế giới hiện đại.

Nhưng lịch sử phương Tây cũng bao gồm một mặt khác: những đế quốc thuộc địa, buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương, cưỡng bức lao động, chiếm đất đai và những cuộc chiến tranh để lại hậu quả kéo dài qua nhiều thế hệ.

Hai mặt ấy không tự động phủ định nhau.

Một nền văn minh có thể tạo ra những tư tưởng tiến bộ trong một thời kỳ và một lĩnh vực, nhưng đồng thời duy trì những quan hệ quyền lực rất bất bình đẳng ở nơi khác. Điều cần làm không phải là chọn một phía rồi xóa phía còn lại, mà là tìm hiểu vì sao những điều tưởng như mâu thuẫn ấy có thể tồn tại cùng lúc.

* Phương Tây chưa bao giờ là một khối thống nhất

Khi nói về chủ nghĩa thực dân, một cách đơn giản hóa thường gặp là đặt phương Tây, Kitô giáo và chủ nghĩa đế quốc vào cùng một khối.

Lịch sử châu Âu không vận hành như vậy.

Các quốc gia châu Âu từng cạnh tranh và chiến tranh với nhau. Công giáo, Tin Lành và các truyền thống Kitô giáo khác có những lịch sử riêng. Ngay bên trong các đế quốc thuộc địa cũng xuất hiện những người phản đối chế độ nô lệ, bảo vệ người bản địa và chất vấn tính chính đáng của việc chinh phục.

Vì thế, nói “Kitô giáo tạo ra chủ nghĩa thực dân” là quá đơn giản.

Nhưng nói tôn giáo hoàn toàn đứng ngoài quá trình thuộc địa hóa cũng không đúng với lịch sử.

Trong quá trình chinh phục châu Mỹ, ngôn ngữ về truyền giáo và Kitô hóa từng được sử dụng cùng với các lập luận pháp lý và chính trị để biện minh cho quyền cai trị. Đồng thời, chính bên trong truyền thống Kitô giáo lại xuất hiện những cuộc tranh luận rất sớm về quyền của người bản địa. Những nhân vật như Francisco de Vitoria và Bartolomé de Las Casas đã chất vấn tính chính đáng của việc chinh phục và đối xử với người bản địa.

Điều này cho thấy một điểm quan trọng: một hệ tư tưởng có thể vừa được sử dụng để biện minh cho quyền lực, vừa tạo ra những nguyên tắc để chất vấn chính quyền lực ấy.

Lịch sử Kitô giáo trong chủ nghĩa thực dân vì thế không phải một câu chuyện đơn tuyến.

* Một tuyến đường sắt có thể mang nhiều ý nghĩa

Ấn Độ thuộc Anh là một ví dụ điển hình.

Hệ thống đường sắt được xây dựng trong một cấu trúc thuộc địa và ban đầu phục vụ nhiều mục tiêu của chính quyền Anh: vận chuyển quân đội, củng cố kiểm soát lãnh thổ, kết nối vùng sản xuất với cảng biển và thúc đẩy thương mại. Các tài liệu và nghiên cứu về đường sắt thuộc địa cho thấy yếu tố quân sự, thương mại và quản trị đều đóng vai trò trong việc xác định mạng lưới này.

Nhưng nếu từ đó kết luận rằng đường sắt chỉ là công cụ bóc lột thì cũng chưa đủ.

Nghiên cứu kinh tế của Dave Donaldson cho thấy đường sắt làm giảm mạnh chi phí vận tải và thúc đẩy thương mại liên vùng cũng như thương mại quốc tế của Ấn Độ.

Nói cách khác, một hạ tầng có thể được xây dựng trong một quan hệ quyền lực bất bình đẳng nhưng vẫn tạo ra những hiệu quả kinh tế và xã hội vượt ra ngoài mục đích ban đầu của người xây dựng.

Điều cần phân biệt là giá trị của công trình với cách người dân bị cai trị và đối xử trong chế độ đã xây dựng công trình đó.

Một tuyến đường sắt hữu ích không biến chế độ thuộc địa thành công bằng. Nhưng sự tồn tại của chế độ thuộc địa cũng không khiến mọi công trình được xây dựng trong thời kỳ ấy trở nên vô giá trị.

Lịch sử thường phức tạp chính ở điểm đó.

* Khi một con số lớn đi vào lịch sử

Những tranh luận về Ấn Độ thuộc Anh trở nên đặc biệt gay gắt khi các nghiên cứu đưa ra những ước tính rất lớn về tử vong và tổn thất kinh tế.

Một nghiên cứu của Dylan Sullivan và Jason Hickel, công bố năm 2023, đặt ra một câu hỏi: Trong thời kỳ Anh cai trị, số người chết ở Ấn Độ cao hơn bao nhiêu so với mức có thể xảy ra nếu tỷ lệ tử vong vẫn ở mức thấp hơn?

Để tính toán, các tác giả lấy tỷ lệ tử vong trung bình của Ấn Độ trong những năm 1880 làm cơ sở. Họ dùng tỷ lệ này để ước tính xem, trong những năm sau đó, nếu tỷ lệ tử vong vẫn giữ ở mức ấy thì sẽ có khoảng bao nhiêu người chết. Sau đó, họ đem con số này so với số người chết thực tế.

Theo cách tính đó, trong giai đoạn 1881–1920, có khoảng 50 triệu người chết nhiều hơn con số được ước tính theo mức làm cơ sở.

Nhưng nếu thay bằng một cách tính khác, sử dụng tỷ lệ tử vong trung bình ở Anh trong thế kỷ XVI–XVII làm cơ sở, số người chết vượt mức được ước tính lên tới khoảng 165 triệu người.

Nói đơn giản, các nhà nghiên cứu đang so sánh hai con số: số người chết thực tế và số người đáng lẽ có thể chết nếu tỷ lệ tử vong ở mức được chọn để làm cơ sở. Phần chênh lệch giữa hai con số là số người chết vượt mức.

Hai con số 50 triệu và 165 triệu vì thế không phải là số người được xác định trực tiếp là đã chết vì người Anh giết họ. Đó là hai kết quả ước tính, dựa trên hai cách chọn mức để so sánh. Cách chọn mức nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuối cùng.

Dù vậy, nghiên cứu vẫn đưa ra một nhận định đáng quan tâm: theo cả hai cách tính, số người chết ở Ấn Độ trong thời kỳ này đều được ước tính là cao hơn rất nhiều so với mức dùng để so sánh.

Chính vì vậy, câu nói “Anh đã giết 165 triệu người Ấn Độ” thường được lan truyền trên mạng cần được sử dụng thận trọng. Nó biến một ước tính về tử vong vượt mức thành một con số người được cho là đã bị giết trực tiếp, trong khi nghiên cứu không đưa ra kết luận như vậy.

Điều quan trọng hơn nằm ở chỗ: những con số thống kê lớn có thể cho chúng ta thấy quy mô của một vấn đề, nhưng tự chúng chưa đủ để giải thích vì sao những người đó chết và trách nhiệm thuộc về đâu.

Muốn trả lời câu hỏi ấy, cần đi sâu hơn vào những điều cụ thể như lương thực, giá cả, thu nhập, dịch bệnh, chiến tranh, chính sách thương mại và cách chính quyền thuộc địa phản ứng trước khủng hoảng.

Nạn đói Bengal năm 1943 là một trường hợp tiêu biểu để nhìn rõ vấn đề này.

* Khi có lương thực mà con người vẫn chết đói

Amartya Sen, trong Poverty and Famines, đã đưa ra một cách tiếp cận có ảnh hưởng lớn đối với nghiên cứu nạn đói.

Thay vì chỉ hỏi xã hội có bao nhiêu lương thực, ông chú ý đến khả năng tiếp cận lương thực của từng nhóm dân cư: thu nhập, việc làm, giá cả và khả năng trao đổi những gì họ có để lấy thực phẩm.

Trong nghiên cứu của Sen, con số tử vong được dẫn khoảng 1,5 triệu trong phạm vi dữ liệu mà ông sử dụng. Các nghiên cứu sau đó đưa ra những ước tính khác nhau, thường cao hơn, cho thấy quy mô tử vong của nạn đói Bengal vẫn phụ thuộc vào cách xác định thời kỳ và phương pháp thống kê.

Điều quan trọng trong lập luận của Sen không phải là tìm một con số duy nhất.

Ông muốn chỉ ra rằng nạn đói không nhất thiết xảy ra chỉ vì xã hội không có đủ lương thực. Một nhóm dân cư có thể mất khả năng mua hoặc tiếp cận lương thực ngay cả khi tổng nguồn cung không giảm tương ứng.

Đối với Bengal năm 1943, chiến tranh, mất nguồn cung từ Miến Điện, biến động giá cả, thị trường, phân phối và chính sách của chính quyền thuộc địa đều cần được đặt trong cùng một bức tranh.

Điều này giúp chúng ta nhìn nạn đói theo một cách rộng hơn: không chỉ là vấn đề sản lượng, mà còn là vấn đề quyền tiếp cận nguồn lực và trách nhiệm của những người có quyền quyết định.

* 45 nghìn tỷ USD nói lên điều gì?

Một con số khác thường xuất hiện trong tranh luận về thuộc địa Anh tại Ấn Độ là 45 nghìn tỷ USD.

Nhà kinh tế học Utsa Patnaik đưa ra ước tính về “drain of wealth” – dòng chuyển nguồn lực khỏi Ấn Độ – trong giai đoạn 1765–1938. Cách tính của bà lấy thặng dư xuất khẩu của Ấn Độ làm cơ sở rồi áp dụng lãi suất cộng dồn 5%, từ đó tính ra khoảng 9,2 nghìn tỷ bảng Anh, tương đương khoảng 45 nghìn tỷ USD theo cách quy đổi của bà.

Điều cần nói rõ là 45 nghìn tỷ USD không phải số tiền mặt mà Anh đã lấy khỏi Ấn Độ rồi chuyển nguyên vẹn về London.

Đó là một giá trị được tạo ra từ một phương pháp tính toán cụ thể.

Vì thế, tranh luận sẽ có ý nghĩa hơn nếu đi vào cơ chế tạo ra và chuyển dịch nguồn lực thay vì chỉ tập trung vào con số 45 nghìn tỷ USD. Cần xem nguồn lực được tạo ra từ đâu, phần thặng dư của Ấn Độ được chuyển đi bằng những cơ chế nào, ai kiểm soát hoạt động thương mại và quyết định nguồn lực đó được sử dụng ra sao. Quan trọng hơn, người dân Ấn Độ có quyền quyết định đến đâu đối với những nguồn lực được tạo ra từ chính nền kinh tế của họ.

Ngay cả khi không chấp nhận toàn bộ phương pháp tính của Patnaik, vấn đề mà nghiên cứu đặt ra vẫn đáng được xem xét: trong một nền kinh tế thuộc địa, ai kiểm soát nguồn lực, ai quyết định cách sử dụng chúng và lợi ích cuối cùng thuộc về ai?

Vì vậy, giá trị của một con số lớn đôi khi không nằm ở việc nó có thể được dùng để kết luận bao nhiêu tiền đã bị lấy đi, mà ở chỗ nó buộc chúng ta nhìn sâu hơn vào cấu trúc quyền lực chi phối dòng tiền, hàng hóa và nguồn lực trong xã hội thuộc địa.

* Có một đường thẳng từ chủ nghĩa thực dân đến Hitler?

Một trong những tranh luận khó hơn là mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự hình thành của chủ nghĩa Quốc xã.

Cuộc diệt chủng người Herero và Nama tại Tây Nam Phi thuộc Đức đầu thế kỷ XX thường được đưa vào cuộc tranh luận này. Nhiều sử gia xem đây là một trường hợp quan trọng để nghiên cứu bạo lực thuộc địa, tư tưởng chủng tộc và những khả năng tiếp nối trong lịch sử Đức.

Benjamin Madley lập luận rằng kinh nghiệm của Đức tại Tây Nam Phi đã góp phần hình thành một số tư tưởng và thực hành mà chủ nghĩa Quốc xã về sau tiếp nhận và phát triển.

Nhưng không phải tất cả học giả đều chấp nhận một đường nối trực tiếp từ Tây Nam Phi đến Holocaust.

Patrick Bernhard, chẳng hạn, cho rằng khi Đức Quốc xã xây dựng các kế hoạch thuộc địa hóa Đông Âu, họ đặc biệt tham khảo kinh nghiệm của phát xít Ý tại châu Phi. Một số nghiên cứu khác lại nhấn mạnh rằng việc đồng nhất cuộc diệt chủng Herero–Nama với Holocaust có thể làm mất đi những khác biệt quan trọng về bối cảnh, tư tưởng và cơ chế bạo lực.

Điều này không có nghĩa giữa chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa Quốc xã không tồn tại bất kỳ mối liên hệ nào.

Nó chỉ có nghĩa rằng mối liên hệ lịch sử không đồng nghĩa với một chuỗi nhân quả duy nhất.

Chủ nghĩa Quốc xã còn hình thành từ chủ nghĩa bài Do Thái, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tư tưởng chủng tộc, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa bành trướng và những điều kiện chính trị đặc thù của nước Đức sau Thế chiến I.

Lịch sử tư tưởng thường không đi theo một đường thẳng. Những ý tưởng có thể được vay mượn, biến đổi, kết hợp với những ý tưởng khác rồi xuất hiện trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới.

* Kitô giáo nằm ở đâu trong câu chuyện này?

Kitô giáo cho thấy rõ nhất sự phức tạp của lịch sử phương Tây.

Trong nhiều thế kỷ, các truyền thống Kitô giáo góp phần vào giáo dục, nghệ thuật, triết học, hoạt động từ thiện và đời sống xã hội châu Âu.

Nhưng tôn giáo cũng từng gắn với quyền lực chính trị và được sử dụng để biện minh cho một số hoạt động chinh phục và truyền giáo.

Điều đáng chú ý là sự phản biện cũng xuất hiện từ chính bên trong truyền thống ấy.

Tại Tây Ban Nha thế kỷ XVI, các tu sĩ và học giả Kitô giáo đã tranh luận gay gắt về quyền của người bản địa tại châu Mỹ. Francisco de Vitoria và Bartolomé de Las Casas phản đối nhiều lập luận dùng để biện minh cho việc chinh phục và nô dịch người bản địa, dù lập trường của họ cũng không hoàn toàn giống nhau và vẫn nằm trong giới hạn tư tưởng của thời đại.

Điều này cho thấy không thể xem Kitô giáo như một chủ thể duy nhất.

Tôn giáo có thể cung cấp ngôn ngữ để biện minh cho quyền lực, nhưng cũng có thể cung cấp những nguyên tắc để chất vấn quyền lực.

Hai khả năng ấy có thể tồn tại trong cùng một truyền thống.

* Một nền văn minh có thể tự mâu thuẫn

Thực ra, đây không phải vấn đề riêng của phương Tây.

La Mã xây dựng một truyền thống pháp luật có ảnh hưởng sâu rộng nhưng vẫn duy trì chế độ nô lệ.

Các xã hội Kitô giáo đề cao tình yêu thương nhưng từng tiến hành chiến tranh nhân danh tôn giáo.

Các đế quốc châu Âu nói về văn minh trong khi cai trị những dân tộc mà họ cho rằng chưa đủ văn minh để tự quyết định vận mệnh của mình.

Các quốc gia hiện đại nói về quyền con người nhưng trong lịch sử vẫn từng tiến hành chiến tranh, đàn áp và phân biệt đối xử.

Điều này không nhất thiết khiến những lý tưởng ấy trở thành giả dối.

Nó cho thấy một vấn đề sâu hơn: Con người có thể tin vào một lý tưởng và đồng thời hành động trái với chính lý tưởng ấy.

Thậm chí, lý tưởng đôi khi còn có thể trở thành ngôn ngữ để quyền lực tự biện minh.

Một trường học có thể mở ra tri thức, nhưng cũng có thể phục vụ chính sách đồng hóa.

Một hệ thống luật pháp có thể bảo vệ quyền con người, nhưng trong một xã hội thuộc địa, luật pháp có thể được áp dụng theo những tiêu chuẩn khác nhau đối với người cai trị và người bị cai trị.

Một tuyến đường sắt có thể phục vụ lợi ích thương mại và quân sự của đế quốc, đồng thời trở thành hạ tầng quan trọng cho xã hội sau thuộc địa.

Những điều ấy không xóa bỏ lẫn nhau.

Chính sự tồn tại đồng thời của chúng mới là điều lịch sử cần giải thích.

* Phương Tây là khai sáng hay bóc lột?

Đến đây, có lẽ chính câu hỏi ban đầu đã trở nên quá chật.

Nếu chỉ nhìn phương Tây như một nền văn minh khai sáng, chúng ta sẽ khó giải thích được chủ nghĩa thực dân, chế độ nô lệ và những bất bình đẳng từng tồn tại trong các đế quốc châu Âu.

Nhưng nếu chỉ nhìn phương Tây như một nền văn minh bóc lột, chúng ta cũng sẽ không giải thích đầy đủ nguồn gốc của khoa học hiện đại, đại học, pháp quyền, những tư tưởng về tự do và những phong trào chống lại chính các bất công đã tồn tại trong lòng phương Tây.

Điều tương tự cũng đúng với Kitô giáo.

Không thể lấy hành động của một đế quốc để đại diện cho toàn bộ Kitô giáo. Nhưng cũng không thể dùng những đóng góp của Kitô giáo cho giáo dục, nghệ thuật hay triết học để xóa bỏ những thời kỳ tôn giáo gắn với quyền lực chính trị và thuộc địa.

Lịch sử vì thế không phải một phiên tòa trong đó chúng ta phải tuyên bố một nền văn minh hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu.

Nó cũng không phải bảng thành tích để các nền văn minh được cộng điểm rồi trừ điểm.

Điều quan trọng hơn là hiểu quyền lực đã vận hành như thế nào.

Một nền văn minh có thể tạo ra những tư tưởng về phẩm giá con người nhưng đồng thời phủ nhận phẩm giá ấy đối với những người nằm ngoài cộng đồng chính trị của mình.

Một nhà nước có thể xây dựng hạ tầng, trường học và pháp luật nhưng vẫn duy trì một cấu trúc trong đó những người được cai trị không có quyền bình đẳng quyết định tương lai của chính họ.

Một tôn giáo có thể truyền bá những nguyên tắc về tình thương và phẩm giá con người, nhưng những người nhân danh tôn giáo ấy vẫn có thể sử dụng quyền lực theo cách trái ngược với các nguyên tắc đó.

Đây không phải nghịch lý chỉ thuộc về quá khứ.

Nó là một vấn đề thường trực của lịch sử con người.

Một nền văn minh cần được nhìn qua những gì nó tạo ra, nhưng cũng phải được nhìn qua cách nó sử dụng quyền lực đối với những người có ít khả năng chống lại quyền lực ấy.

Nhìn như vậy, câu chuyện về phương Tây và chủ nghĩa thực dân không còn là cuộc lựa chọn giữa “khai sáng” và “bóc lột”.

Nó trở thành một câu hỏi rộng hơn về con người: Làm thế nào một xã hội có thể tạo ra những tư tưởng rất cao đẹp, nhưng vẫn sử dụng quyền lực theo những cách đi ngược lại chính những tư tưởng ấy?

Và quan trọng hơn, một nền văn minh có khả năng nhận ra mâu thuẫn đó và tự sửa mình đến đâu?

Có lẽ đó mới là bài học đáng giữ lại khi nhìn vào lịch sử phương Tây.

Không phải để phủ nhận những thành tựu của nó.

Cũng không phải để biện minh cho những gì nó từng làm.

Mà để hiểu rằng văn minh không chỉ được đo bằng những gì một xã hội xây dựng được, mà còn bằng giới hạn mà xã hội ấy đặt ra cho quyền lực của chính mình.

Ảnh: Xây dựng tuyến đường sắt Bombay–Poona, Ấn Độ, thập niên 1860

David Phung (Nghiên cứu lịch sử)

Sunday, September 13, 2026

Lý Quang Diệu và con đường Singapore

 Lý Quang Diệu Có Phải Là Nhà Độc Tài Không?

Ngày 23 tháng 3 năm 2015, khi Lý Quang Diệu trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 91, hàng trăm nghìn người Singapore xếp hàng nhiều giờ ngoài mưa để được nhìn mặt ông lần cuối. Không một chính phủ nào ép buộc họ ra đường. Họ đến vì cảm giác mình vừa mất đi một người cha.

Đây là điều đặc biệt kỳ lạ, bởi vì người đàn ông nằm trong quan tài đó đã từng bỏ tù đối thủ chính trị không qua xét xử, kiện những nhà báo nước ngoài dám chỉ trích ông ra tòa, và từng nói thẳng khi được phỏng vấn: "Tôi quyết định cái gì đúng, bất kể người dân nghĩ gì."

Lý Quang Diệu là nhà lãnh đạo khó phân loại nhất của thế kỷ 20. Gọi ông là độc tài thì đúng, nhưng chưa đủ. Gọi ông là anh hùng dân tộc thì cũng đúng, nhưng cũng chưa đủ. Ông là cả hai, đồng thời và không thể tách rời.

Bàn tay sắt — Tại sao Lý Quang Diệu là một nhà độc tài

Nếu áp dụng định nghĩa chính trị học cơ bản nhất — quyền lực tập trung vào một cá nhân hoặc một đảng, thiếu cơ chế kiểm soát độc lập, đàn áp tiếng nói bất đồng — thì Lý Quang Diệu thỏa mãn toàn bộ các tiêu chí đó.

Triệt hạ phe đối lập bằng mọi công cụ có trong tay

Vũ khí đầu tiên và thô bạo nhất là Đạo luật An ninh Nội địa (ISA), được kế thừa từ thời thuộc địa Anh, cho phép bắt giữ người vô thời hạn mà không cần xét xử. Ông dùng nó không hề do dự.

Chiến dịch Coldstore năm 1963 bắt giữ hơn 100 nhân vật cánh tả, lãnh đạo công đoàn và chính trị gia đối lập thuộc đảng Barisan Sosialis ngay trước thềm sáp nhập vào Malaysia — thời điểm mà họ đang là lực lượng đối trọng nguy hiểm nhất với Đảng Hành động Nhân dân (PAP) của ông. Một đòn chính trị được tính toán lạnh lùng.

Trường hợp cực đoan nhất là Chia Thye Poh — một nghị sĩ đối lập bị giam giữ và quản thúc tổng cộng 32 năm, từ 1966 đến 1998, không qua một phiên tòa nào. Lý do duy nhất: ông ta từ chối ký vào bản cam đoan từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Ba mươi hai năm, dài hơn cả thời gian Nelson Mandela ngồi tù.

Khi phương Tây bắt đầu chỉ trích các vụ bắt bớ bằng ISA, Lý Quang Diệu chuyển sang công cụ tinh vi hơn: vũ khí hóa luật phỉ báng. Tòa án Singapore liên tục xử cho các lãnh đạo PAP thắng kiện với những khoản tiền bồi thường kỷ lục, đẩy đối thủ vào phá sản và mất quyền ứng cử theo luật định.

Còn Chiến dịch Spectrum năm 1987 — bắt giữ 22 nhà hoạt động xã hội, tình nguyện viên Công giáo và luật sư dưới cáo buộc mơ hồ là "âm mưu lật đổ của phe Marxist" — cho thấy ông sẵn sàng đánh vào cả những người chưa bao giờ hoạt động chính trị, chỉ cần họ có đủ ảnh hưởng xã hội để trở nên nguy hiểm về mặt lý thuyết.

Kiểm soát báo chí toàn diện

Thông qua Đạo luật Báo chí và Nhà in (NPPA) để kiểm soát cổ phần biểu quyết tại Singapore Press Holdings (SPH), kết hợp nắm trọn quyền sở hữu MediaCorp qua quỹ Temasek, chính phủ biến toàn bộ truyền thông trong nước thành cánh tay của nhà nước. Các tờ báo quốc tế như Far Eastern Economic Review, The Economist, hay Asian Wall Street Journal từng bị hạn chế phát hành hoặc bị kiện khi đăng bài chỉ trích chính trị Singapore.

Không cần đốt sách. Chỉ cần làm cho việc đưa tin trở nên quá tốn kém về mặt tài chính và pháp lý là đủ.

Thiết kế bầu cử có lợi tuyệt đối cho phe cầm quyền

Singapore tổ chức bầu cử 5 năm một lần, nhưng sân chơi được thiết kế để PAP gần như không thể thua. Khu vực Bầu cử Đại diện Nhóm (GRC) từ năm 1988 buộc các đảng phải lập danh sách từ 3 đến 6 ứng viên — một rào cản khổng lồ với các đảng đối lập non trẻ và thiếu nhân sự. Ranh giới khu vực bầu cử được vẽ lại trước mỗi kỳ bầu cử bởi một cơ quan trực thuộc Văn phòng Thủ tướng, thường xuyên chia nhỏ các khu vực có tỷ lệ ủng hộ đối lập cao. Thời gian vận động tranh cử chỉ kéo dài khoảng 9 đến 10 ngày.

Bầu cử có tồn tại. Nhưng đó là bầu cử trong một hệ thống được thiết kế kỹ lưỡng để chỉ có một kết quả.

Can thiệp vi mô vào đời sống cá nhân

Đây là nét độc đoán gây tranh cãi nhiều nhất nhưng cũng đặc trưng nhất của Lý Quang Diệu. Ông không chỉ muốn kiểm soát chính trị — ông muốn định hình từng hành vi của người dân Singapore.

Danh sách các quy định phạt nặng hoặc cấm hoàn toàn bao gồm: cấm nhập khẩu kẹo cao su từ năm 1992, phạt tù và đánh roi tội phá hoại tài sản công, phạt tiền nặng tội khạc nhổ, xả rác, thậm chí không xả nước bồn cầu sau khi sử dụng nhà vệ sinh công cộng — một điều luật thực sự tồn tại cho đến tận ngày nay. Buôn lậu kẹo cao su qua biên giới Singapore có thể bị phạt đến 100.000 SGD.

Ông thành lập Đơn vị Phát triển Xã hội (SDU) để làm mối hôn nhân cho các cử nhân đại học với nhau — một chính sách ưu sinh học trần trụi. Trong thập niên 1970, chính sách "Stop at Two" (Dừng ở hai con) áp đặt hình phạt kinh tế nặng nề lên các gia đình nghèo đẻ nhiều con: ưu tiên trường học, nhà ở và phúc lợi xã hội sẽ bị cắt giảm với con thứ ba trở đi.

Ông từng nói thẳng: "Tôi thường bị cáo buộc là can thiệp vào đời sống riêng tư của công dân. Đúng vậy, nếu tôi không làm điều đó, chúng ta đã không có được vị thế ngày hôm nay."

Về mặt học thuật, giới nghiên cứu chính trị mô tả Singapore thời Lý Quang Diệu bằng các thuật ngữ như chế độ độc đoán bầu cử (electoral authoritarianism), độc đoán mềm (soft authoritarianism) hay thể chế lai (hybrid regime), không phải độc tài toàn trị theo kiểu Bắc Triều Tiên, nhưng cũng không phải dân chủ tự do theo tiêu chuẩn phương Tây. Một chế độ nằm ở vùng xám, được thiết kế cực kỳ tinh vi để duy trì tính chính danh bầu cử trong khi loại bỏ gần như hoàn toàn nguy cơ thất bại chính trị.

Kiến trúc sư của một kỳ tích

Nếu Lý Quang Diệu chỉ là một nhà độc tài thông thường như Ferdinand Marcos hay Mobutu Sese Seko, Singapore ngày nay đã là một quốc gia đổ nát với tài nguyên bị bòn rút. Điều phân biệt ông không phải là cách ông nắm quyền, mà là ông dùng quyền đó để làm gì.

Liêm chính tuyệt đối và bài trừ tham nhũng không có ngoại lệ

Lý Quang Diệu không có tài khoản bí mật ở Thụy Sĩ, không xây cung điện dát vàng, không mua du thuyền hay bất động sản xa hoa ở nước ngoài. Ông trao quyền lực tuyệt đối cho Cục Điều tra Hành vi Tham nhũng (CPIB) và đưa cơ quan này về trực thuộc thẳng Văn phòng Thủ tướng, có quyền bắt giữ và điều tra bất kỳ ai mà không cần thông báo trước.

Và ông áp dụng nó không có vùng cấm.

Năm 1986, Bộ trưởng Phát triển Quốc gia Teh Cheang Wan — một người bạn chiến đấu lâu năm — bị phát hiện nhận hối lộ 1 triệu SGD. Teh xin gặp riêng Lý Quang Diệu để xin ân giảm. Ông từ chối thẳng thừng. Biết rằng không có chỗ nào để trốn trong hệ thống mà chính ông đã dựng lên, Teh Cheang Wan uống thuốc độc tự sát trước khi phiên tòa mở ra. Đây không phải là một câu chuyện bi kịch đơn thuần đây là bằng chứng về độ tin cậy tuyệt đối của hệ thống chống tham nhũng mà ông xây dựng. Ngay cả những người thân cận nhất với ông cũng biết rằng không có ngoại lệ.

Ông trả lương rất cao cho các bộ trưởng, thẩm phán và công chức cao cấp — ngang ngửa các CEO tập đoàn lớn trong khu vực tư nhân — để thu hút nhân tài thực sự và triệt tiêu động cơ nhận hối lộ. Đây là một tư duy phản trực giác nhưng cực kỳ hiệu quả: đừng yêu cầu người ta hy sinh tài chính để phục vụ công cộng, hãy làm cho phục vụ công cộng trở nên xứng đáng về mặt tài chính.

Thượng tôn pháp luật kinh tế, Nghịch lý cốt lõi của Singapore

Đây là điểm phức tạp nhất trong di sản Lý Quang Diệu. Ông can thiệp vào tư pháp trong các vụ án chính trị, nhưng lại xây dựng một hệ thống pháp luật thương mại và dân sự chuẩn mực phương Tây đến mức hoàn hảo trong mọi vụ việc khác. Ông hiểu rằng để thu hút dòng vốn toàn cầu, Singapore bắt buộc phải đảm bảo quyền sở hữu tài sản, thực thi hợp đồng minh bạch và giải quyết tranh chấp công bằng.

Kết quả: Singapore trở thành một trong những môi trường pháp lý kinh doanh đáng tin cậy nhất hành tinh. Các tập đoàn đa quốc gia biết rằng ở Singapore, hợp đồng được thực thi, tài sản được bảo vệ, và tòa án không thể bị mua. Đây là điều ông sẵn lòng đảm bảo, chỉ là ông không áp dụng nguyên tắc tương tự cho đối thủ chính trị của mình.

Tầm nhìn địa chính trị bậc thầy

Năm 1968, khi quân Anh bất ngờ rút về nước — kéo theo 20% GDP và hàng chục nghìn việc làm của Singapore — phần lớn các nhà quan sát dự đoán Singapore sẽ sụp đổ. Lý Quang Diệu phản ứng bằng cách làm điều hoàn toàn ngược lại với tất cả lý thuyết kinh tế đương thời của các nước thuộc địa mới độc lập: thay vì theo đuổi chủ nghĩa dân tộc kinh tế và xem các tập đoàn phương Tây là "thực dân kiểu mới", ông trải thảm đỏ mời họ vào.

Ông cũng chớp ngay thời cơ năm 1968 thiết lập thị trường Đô la châu Á (Asian Dollar Market), tận dụng múi giờ của Singapore để lấp đầy khoảng trống giao dịch giữa London và New York. Một quyết định được đưa ra trong bối cảnh Singapore chưa đầy 3 tuổi với tư cách quốc gia độc lập.

Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình đến thăm Singapore và bị chấn động bởi những gì ông thấy — một đất nước do người gốc Hoa lãnh đạo nhưng thịnh vượng theo mô hình thị trường. Chuyến đi đó là một trong những động lực then chốt để Đặng phát động chính sách Cải cách và Mở cửa. Sau đó, Trung Quốc cử hàng chục nghìn cán bộ sang Singapore học tập mô hình quản trị.

Thế giới nhìn nhận Lý Quang Diệu như thế nào? Không cần diễn giải — hãy nghe những người đã gặp ông nói:

Henry Kissinger khẳng định: "Trong lịch sử không có nhiều nhà lãnh đạo mà sự tồn tại của đất nước họ phụ thuộc hoàn toàn vào phẩm chất và ý chí của chính họ như Lý Quang Diệu."

Barack Obama ca ngợi ông là: "Một trong những nhân vật huyền thoại thực sự của châu Á trong thế kỷ 20 và 21."

Tạp chí Life năm 1965 trích dẫn: "người xuất sắc nhất, dù hơi có dáng một tên côn đồ (a bit of a thug)"

Di sản — Singapore vận hành ở chuẩn mực cao nhất của văn minh nhân loại

Năm 1965, khi Singapore bị trục xuất khỏi Liên bang Malaysia, GDP bình quân đầu người chỉ vào khoảng 516 USD. Hơn 70% dân số sống trong các khu ổ chuột ven sông. Nước ngọt sinh hoạt phải mua từ Malaysia. Không có quân đội, không có tài nguyên, không có thị trường nội địa đáng kể. Các nhà quan sát quốc tế thời đó gần như đồng thuận rằng Singapore không có khả năng tồn tại về mặt kinh tế.

Năm 2024, GDP bình quân đầu người của Singapore đạt 90.674 USD — thuộc top 5 thế giới, vượt qua Mỹ, Nhật Bản và hầu hết các nền kinh tế Tây Âu (chỉ đứng sau một vài quốc gia đặc thù như Thụy Sĩ hay Luxembourg). Một sự tăng trưởng gần 17.500% trong vòng chưa đầy 60 năm.

Nhưng con số GDP chỉ là một chiều của câu chuyện. Singapore ngày nay thống trị ở hầu hết mọi thước đo văn minh quan trọng:

Hộ chiếu Singapore giữ vị trí số 1 thế giới theo Henley Passport Index 2026, cho phép công dân nhập cảnh miễn thị thực hoặc visa-on-arrival tới 192 điểm đến. Đây không phải ưu đãi ngoại giao thông thường — đây là kết quả của 60 năm xây dựng tín nhiệm quốc gia đến mức toàn thế giới tin rằng công dân Singapore sẽ không bao giờ cần phải bỏ trốn ở lại nước ngoài bất hợp pháp.

Logistics: Sân bay Changi được Skytrax bầu chọn là sân bay tốt nhất thế giới hơn 10 lần. Cảng biển Singapore xử lý 44,66 triệu TEU năm 2025 — kỷ lục mới. Siêu cảng Tuas đang được xây dựng sẽ là cảng container tự động hóa hoàn toàn lớn nhất thế giới khi hoàn thành, với công suất 65 triệu TEU/năm.

Công nghệ: Dù chỉ là một đảo quốc nhỏ, Singapore đóng góp khoảng 10% sản lượng chip bán dẫn toàn cầu và 20% thiết bị sản xuất bán dẫn thế giới. Đây là lý do các chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu không thể bỏ qua Singapore dù muốn.

Giáo dục: Học sinh Singapore dẫn đầu thế giới trong kỳ thi PISA 2022 ở cả ba môn Toán, Đọc và Khoa học. NUS và NTU liên tục nằm trong top 10-15 đại học tốt nhất thế giới, sánh ngang Oxford, Cambridge, MIT.

Nhà ở: Gần 90% hộ dân cư Singapore sở hữu nhà — trong đó 80% sống trong các căn hộ nhà ở xã hội HDB khang trang, hiện đại. Đây là mô hình giải quyết bài toán an cư cho người lao động duy nhất trên thế giới thực sự hoạt động ở quy mô toàn quốc, trong khi các đô thị như New York, London hay Hồng Kông tiếp tục đẩy tầng lớp trung lưu ra khỏi thị trường bất động sản.

An ninh: Tỷ lệ tội phạm thuộc hàng thấp nhất thế giới. Singapore đứng trong top 5 quốc gia ít tham nhũng nhất theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế năm 2025.

Tuổi thọ: 83,9 tuổi năm 2025, top đầu thế giới, từ mức 65 tuổi năm 1965.

Tất cả những điều này được thực hiện bởi một quốc gia chỉ có 6,11 triệu dân, không tài nguyên thiên nhiên, không thị trường nội địa đáng kể, và bắt đầu từ vạch xuất phát của một thuộc địa bị bỏ rơi.

Đánh giá

Lý Quang Diệu là một nhà độc tài. Điều đó đúng về mặt thực tế. Ông tập trung quyền lực tuyệt đối, bóp nghẹt tự do chính trị, triệt hạ đối lập bằng những công cụ mà bất kỳ nhà quan sát dân chủ nào cũng phải gọi đúng tên là đàn áp.

Nhưng ông là một nhà độc tài khác biệt hoàn toàn với mọi nhà độc tài khác ở một điểm mấu chốt: ông dùng quyền lực không giới hạn của mình để xây dựng đất nước, không phải để cướp bóc nó.

Đây không phải là sự biện minh cho những gì ông làm với Chia Thye Poh, J.B. Jeyaretnam, hay hàng chục trí thức và nhà hoạt động bị hủy hoại sự nghiệp chỉ vì họ muốn một Singapore đa nguyên hơn. Những vết sẹo đó có thật và không thể xóa bỏ bằng bất kỳ con số GDP nào.

Nhưng đồng thời, khoa học chính trị không có một khung lý thuyết nào giải thích đầy đủ về Lý Quang Diệu. Ông là một dị số thống kê cực kỳ hiếm hoi, người sở hữu đồng thời ba thứ mà gần như không có nhà độc tài nào khác trong lịch sử hiện đại có được cùng lúc: năng lực kỹ trị và tầm nhìn địa chính trị vượt trội, đạo đức cá nhân về tiền bạc gần như không tì vết, và bản năng sinh tồn khốc liệt xuất phát từ hoàn cảnh thực sự tuyệt vọng chứ không phải từ tham vọng cá nhân đơn thuần.

Điều nguy hiểm nhất về di sản của ông không phải là những gì ông đã làm, mà là những gì người khác học từ ông. Rất nhiều nhà độc tài trên thế giới viện dẫn Singapore để biện minh cho sự đàn áp của mình. Họ quên rằng họ đang sao chép hình thức quyền lực mà không có nội dung đạo đức, năng lực kỹ trị và sự liêm chính cá nhân đi kèm. Trong 100 nhà lãnh đạo áp dụng mô hình độc đoán của Lý Quang Diệu, 99 người sẽ tạo ra địa ngục tham nhũng. Chỉ có một người có thể trở thành Lý Quang Diệu — và ngay cả ông cũng phải trả giá bằng những năm tháng tù đày của những người không nợ ông bất kỳ điều gì.

Hiền Minh (Nghiên cứu lịch sử)

Saturday, August 15, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (5)

Quảng trường Vörösmarty là một trong những nơi để lại nhiều kỷ niệm với những người bạn của tôi, nơi có tiệm bánh ngọt đẹp nhất thế giới của HTB. Hoàng tử tự hứa sẽ viết về Vörösmarty téri cukrászda, như một giấc mơ đã nằm trong tay mình. Nhưng cậu ta đã lừng chừng trong nhiều năm, cho đến khi quyết định "bây giờ hoặc không bao giờ", cuối cùng hắn cũng làm được điều mình muốn: viết tặng cho Magdi và các bạn của mình câu chuyện này bằng tiếng Hung và tiếng Việt.

"Quảng trường Vörösmarty nằm ở cuối phố Váci útca, một bên có lối đi ra khách sạn Duna Kontinentál phía bờ sông Duna, bên kia có lối đi bộ ra quảng trường Deák là bến xe bus liên tỉnh. Ở phố Váci útca và quảng trường Vörösmarty, người ta chỉ đi bộ. Không có bất cứ một phương tiện cơ giới nào chạy qua quảng trường, ngoại trừ tàu điện ngầm chạy trong lòng đất, cửa ga ra quảng trường trông giống như một cái hàng rào của nhà ai đó. Quảng trường Vörösmarty luôn có rất nhiều chim bồ câu. Ngày nắng, ngồi phơi nắng giữa quảng trường, nhìn người tất bật đi lại một cách lười biếng, cảm giác rất tuyệt. Xung quanh quảng trường có các tòa nhà cổ kính, có thể nhìn không chán mắt và tưởng tượng ra nhiều câu chuyện về số phận và cuộc đời, đan chen rồi lại rời xa.

Vörösmarty tér a Váci útca végén van, az egyik oldalán egy keskeny járat a Duna Kontinentál szállodába vezet, a másikon egy kis ustca nyilik a Deák Ferenc terére, ahol buszok várják a vidéki utazókat. A Váci útcán és a Vörösmarty terén csak gyalogon járnak. Nem mukodik bármilyen mechnikai járgány a tér teruletén, kivéve a foldalatti villámosok, amik mélyen a tér alatt jonnek és mennek. A foldalatti megálónak kijárata a tér kozepén van és úgy néz ki mint valamilyen háznak a kerítése. A Vörösmarty téren nagyon sok galamb van. Egy napos napon, a téren lustálkodva heverve a napsutésben és bámulva a sieto utazókra, egy olyan gyonyoru érzést tapasztalhat az ember. A tér kornyékén régi stilusú épuletek vannak, amelyekre soha nem únva bámulhatsz és kiképzelhetsz emberi sorsokat, életeket és torténeteket, amelyek átszonik egymást és távoznak egymástól.

Quán bánh ngọt là tầng dưới của một tòa nhà cổ chiếm hẳn một phía quảng trường, trước nhóm tượng đài vừa là đài phun nước, ở một góc nhìn đẹp nhất. Đây là quán bánh ngọt đẹp nhất Hungari và cũng là quán bánh ngọt đẹp nhất thế giới mà tôi đã từng biết. Đối với tôi quán bánh ngọt này có không ít kỷ niệm. Với tôi, quán bánh ngọt này chính là Budapest. Những khi nghĩ về Budapest, tôi lại nhớ đến quán bánh ngọt này. Nằm mơ về Budapest, cũng thấy quán bánh ngọt này. Chắc hẳn Bình "to" và Khánh còn có thể nhớ được cái quán bánh ngọt này, nơi ba chúng tôi đến đây lần đầu tiên, và đã ăn ngô luộc "fozott kukorica" bán rong gần trước cửa quán, ở trước cửa lối rẽ xuống đường metro. Ngô luộc của Hung vừa dẻo vừa ngọt, lại không non quá như ngô Mỹ nên có vị đậm đà thơm hơn, có thể ăn vài bắp không chán. Rồi chúng tôi mua kem để ăn ở quán bánh ngọt này. Chúng tôi thường chọn loại vị punch, màu hồng có vị hơi chua chua. Khánh chọn cho tôi, tôi không sành về kem. Đối với tôi, cảm giác mát lạnh của kem là quan trọng hơn cả.

A cukrászda egy régi épulet foldszintjén van, amely a tér az egyik oldalát foglalja, egy szobor-szokokút elott, a legszebb kilátással. Ez a Magyarország legszebb cukrászdája, és állitólag egyben a világ legszebbje is, legalább a tudásom szerint. Nekem ez a cukrászda orzott sok jó emléket. Bennem ez a cukrászda a Budapest jelképe. Az álmaimban a Budapestrol mindig látom a Vörösmarty téri cukrászdát. Egykori haveraim, "Nagy" Binh és Khanh, biztosan még emlészenek erre a cukrászdára ahol amikor mentunk oda eloszor ettunk fozott kukoricát, amit árultak a cukrászda mellet, a foldalatti bejárat irányában. A magyar fozott kukoricának jobb ize mint az amerikainak, mi gyakran fogyasztottunk jó néhány darabot. Utána veszunk fagyit a cukrászdában. Gyakran kértunk a puncsot, egy rózsszinu és enyhén savanyú fagyi fajtája. Khanh választott nekem, mert nem voltam nagy fagyi szakértoje. Nekem a fagyi huvossége a legfontosabb nem az ize.

Gerbeaud Kávéház

Rồi năm thứ năm đại học, về ở Budapest, tôi cũng thường ghé qua quán bánh ngọt này thường xuyên hơn, khi thì đi cùng với Khánh, Bình, khi thì với Ánh, khi thì một mình trước khi về ăn cơm ở nhà ăn của trường ELTE với Nhân ở đầu cầu Erzsébet, ở cuối bên kia của Váci útca. Tên Ánh thì thích học cách chơi sang, thường hay gọi một ly Martini gì đó, uống mãi chẳng hết. Bình "to", Khánh và tôi vẫn chén ngô, ăn kem hoặc uống coca cola cho nó bình dân và ngon thực sự.Một vài lần, tôi cũng hẹn Magdi đến đây. Nàng gọi một chai bia gì đó, không phải của Hung, hai đứa uống chung. Tôi cũng gọi thêm hai suất bánh ngọt. Bánh ngọt ở đây có nhiều loại làm rất tuyệt, không ngọt quá.

       Az egyetem otodik évében, Budapesten diploma munkáztam KFKI-ben és néhány tantárgyat hallgattam ELTÉN, tobb alkalmom volt a cukrászdát látogatni, néha Khanhhal és Binnhel, néha Ánnhal, náha egyedul az ebéd elott Nhannal, az ELTE menzán az Erzsébet hídfonél a Vasci útca másik végén. Ánh szeretett tanulni a luxus életmódot, gyakran parancsolt egy Martinit egy sárga citrom szelettel, de soha nem végzett el az ivással. Én, "nagy" Binh és Khánh  mindig fozott kukoricat és fagyit ettunk kolával jóizuen.  Úgy emlékszem hogy egy kétszer jottem Magdi-val. Egy sort kért és egyutt ittunk. Két torta adagot is kértem. Sok torta fajtája van a cukrászdában, mesterien készítve, és foleg nem túl édes.

       Lần thứ hai trở lại Hung, tôi trở lại quảng trường này cùng vợ con vào một ngày lạnh. Bé Fanni mới ba tuổi. Chúng tôi cũng ăn ngô luộc, bánh ngọt và kem punch. Fanni chạy theo đàn bồ câu trên quảng trường. Bầu không khí thật êm đềm hạnh phúc và đột nhiên tôi rất nhớ những người bạn cũ và những năm đi học. Ánh vẫn ở Budapest, nhưng chúng tôi không còn thời gian cho nhau, để cùng ngồi trước một ly Martini, chia nhau ăn một cái bánh ngọt như ngày xưa. Không rõ chúng tôi đang vội vã đi đâu hay đi về cuối đường đời. Và vội để làm gì, khi kết cục đều như vậy, không có gì mới lạ hấp dẫn. Vài lần, trong năm đầu, tôi cũng có dịp gặp Magdi tại đây. Nàng ở cách đấy vài bến tàu điện nên đến hẹn đến cũng tiện. Chúng tôi cũng uống cùng một chai bia, nhấm nháp một lát bánh ngọt, nói những chuyện không đầu không đuôi, đôi khi ngồi yên, chẳng nói gì, cùng nhấm nháp không khí trên quảng trường, nắng trên khung cửa, và căn phòng lớn, trang trí với những đồ gỗ của mấy thế kỷ trước với những chùm đèn pha lê uy nghi.

         Amikor Magyarországra jottem másodszor, elvittem feleségemet és kis lányom, Fannit a Vörösmarty terre egy hideg napon. Kis Fannikám három éves volt. Ettunk fozott kukoricát, tortát és fagylaltot. Fanni futott lelkesen a galambok után a téren. A légkor nagyon békés és boldog volt és hirtelenul nagyon sokat hiányoztak a régi barátok és diák kori évek. Ánh Budapesten volt, de nem volt idejunk egymásnak, hogy egyutt ulhessunk egy Martini elott, vagy osztozzunk egy tortát mint régen. Nem világos volt hogy hová siettunk, vagy egyszeruen csak az élet végére. Minek a sietés, amikor ugyanaz a vég lesz,  nincs bármilyen izgamas meglepetés. Az elso évben, Magdival találkoztam néhányszor. Magdi csak  néhány villámos megálóval lakott a Vörösmarty tértol, így konnyu volt neki jonni a találkozásunkra. Ittunk egyutt egy sort, bele kóstoltunk a régi torták ízébe, beszéltunk a kezdet and vég nélkuli dolgokról. Néha csak halgattunk, élvezve a Vörösmarty teri légkort, az ablakon átszuro napsugárt és az a nagy termet diszítve a múlt évszázadok bútoraival és a tekintélyes kristályos csillárokal.

     Nhưng rồi, cuộc sống thời đó trôi qua hối hả. Chúng tôi cũng không còn thời gian cho nhau. Cũng chẳng biết với thời gian đó, chúng tôi làm được gì hơn cho đời, cho mình. Rồi tôi sắm được xe hơi, ít khi có dịp đi bộ để trở về Quảng trường Vörösmarty. Đôi khi, có việc lái xe đi qua khách sạn Duna hoặc quảng trường Deák tôi cố nghển cổ nhìn về hướng quảng trường Vörösmarty để mường tượng lại quán bánh ngọt đẹp tuyệt vời và hình ảnh Bình, Khánh, Ánh, Nhân ngày xưa. Tất nhiên tất cả chỉ là ảo ảnh, tưởng tượng.  Hiện thực rất dễ dàng đạt được đó chỉ cách vài bước chân. Nhưng luôn có một khó khăn vô hình đẩy chúng ta ra xa cuộc gặp với những hoài niệm cũ. Mặc dù đôi lúc giấc mơ hiện thực đến mức không phải cố gắng gì. Nhưng người ta vẫn ngại ngùng làm một việc nhỏ xíu, để nó cứ mãi nằm trong mơ tưởng và nuối tiếc. Có lẽ điều cản trở lớn nhất là sự lười biếng. Tôi cũng không rõ lười biếng và già cỗi, cái nào là nguyên nhân của cái nào. Cũng như một lần tôi đã nói với một người bạn vong niên về ước mơ có một ngày nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn trời xanh và mây trắng thỏa thích. Người bạn đó nghi ngờ đó là một ước mơ thực sự vì thực hiện giấc mơ đó không hề mất gì. Thế rồi mấy chục năm trôi qua, cái ước mơ đó vẫn chỉ vẫn là ước mơ. Con người cũng thật kỳ lạ, luôn tự trói buộc mình, hoặc ngại ngùng với những ràng buộc vô hình.

     De utána, az akkori élet rohant sok kulonbozo eseménnyel. Nem volt tobbé idonk egymásnak. Most már nem igazán tudom hogy azt az idot használva mit tehettunk magunknak vagy az életnek. Nekem elég pénzt sikerult keresnem hogy egy autokocsit vehettem, nem volt tobbé alkamam gyalogolni hogy viszalátogathassam a Vörösmarty teret. Néha dolgom volt arra felé, akkor vezettem autót a Duna Kontinentál szálloda vagy Deák tér mellett, probáltam felemelni a nyakomat és igyekeztem nézni a Vorosmarty tér felé, és hiába képzeltem el a régi cukrászdát a régi Binh, Khanh, Anh, Nhan,.... barátaimmal. De minden csak elképzelés volt. A nagyon konnyen elérheto valóság csak néhány lépéssel tovább van. De mindig valami láthatatlan nehézség taszított el bennunket a régi emlékekkel való találkozástól. Akár néha az álom olyan reális, nem túl sok eroltetés kell hozzá. De az ember tétovázik egy kis igyekvéssel, így az álom orokké egy álom maradt az orok sajnálatban. Talán legnagyobb akadály a lustaságunk. Nem tudom lustaság és és oregedés melyik az oka a melyiknek. Egyszer mondtam egy barátomnak hogy azt akarom hogy van egy teljes napom, nem csinálnék semmit csak bámulnék a kék égre és a fehér felhore. A barátom nagyon kételkedett hogy az az igazi álmom, mert annak az álomnak megvalósitása nem kerul semmibe. Évek teltek el, de az álom tényleg mindig csak egy álomnak marad.  Az ember olyan furcsa, mert mindig koti le magát, vagy tétovázik a láthatatlan kotésekkel.

     Trước khi rời Hungari đi Mỹ không lâu, tôi nhớ còn có dịp gặp Magdi tại quán bánh ngọt này. Nàng vẫn gọi chai bia và nói một câu đã nói bao nhiêu lần "Iszunk egyutt egy sort, jó?". "Chúng mình uống chung một chai bia, được không?" Tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt, một trắng (vanila) một đen (sô cô la). Trên bánh trắng là một lớp caramel vàng, thơm vị chanh, trên bánh đen là một lớp kem trắng muốt thơm mùi hồ đào. Chúng tôi vẫn im lặng ăn, thưởng thức không khí xưa cũ đặc quánh, với một linh cảm, bầu không khí tĩnh lặng hàng chục năm này sắp biến đổi. Chúng tôi chia tay nhau, như thể rồi sẽ gặp lại sau vài hôm, mặc dù biết thời gian trước mắt sẽ dài đằng đẵng, mỗi người đi trên con đường riêng của mình, rất khó lòng tìm lại một điểm giao nhau để gặp lại. 

         Roviden az Amerikába való távozás elott, úgy emlékszem hogy Magdival találkoztam a Vörösmarty teri cukrászdában. Mindig egy sort kért és mondta ugyanazt a mondatot, mit már tobbszor is mondott "Iszunk egy sort, jó?". Én is mindig ketto tortát kértem, egy fehér (vaniliás) és egy sotét barna (csokoládé). A fehér tortán volt egy sárga, citrom izu cukor réteg, a sotét barna tortán pedig volt egy hó fehér krém réteg a dió illattal. Csendesen fogyasztottunk, élvezve a régi surített légkort, egy jovore szóló érzéssel hogy ez a nem változott régi csendes hangulat a változásra készult. Elkoszontunk egymástól, mintha találkozni fogunk néhány nap után, bár tudtuk hogy nagyon hosszú távolét várt, egyikunk a saját utját fogja menni, és nagyon nehéz lesz visza találni egy metszo pontot, hogy viszaláthassuk egymást

        Cũng may, mười lăm năm sau, chúng tôi đã gặp lại nhau. Tôi đến Budapest từ Viên, chỉ có đúng một ngày. Chúng tôi hẹn gặp, tại bến metro ga Keleti. Chúng tôi thấy nhau, mỉm cười, và tiến lại gần nhau, không vội vã, không quá đon đả, như một đôi bạn vẫn thường gặp nhau hàng tuần, từ hàng chục năm. Sau khi cùng đi bộ lang thang trên đường Budapest hàng tiếng đồng hồ, chúng tôi chợt thấy mình đang đi trên quảng trường Vörösmarty. Không ai bảo ai, chúng tôi đi về phía quán bánh ngọt. Quán bánh ngọt được trang hoàng lộng lẫy hơn mang một tên mới lạ lẫm, nhưng vẫn còn phảng phất chút phong vị ngày xưa. Magdi lại gọi một chai bia, tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt. Câu chuyện lặp lại y nguyên như cũ, đến mức có lúc tôi tưởng mấy chục năm vừa qua biến mất, nàng mới gọi bia và tôi mới gọi bánh ngọt ở lần đầu. Bia rót ra cốc, nàng cười và nâng ly "Szia" (Chào anh). Tôi không còn thói quen chào hỏi khi uống, nhưng còn nhớ người Hung uống bia không bao giờ cụng ly, nên chỉ cười và uống cạn cốc bia lạnh. Chúng tôi nhẩn nha nhấm nháp xong hai suất bánh ngọt cùng hai ly cà phê rồi đứng dậy. Có cảm giác chúng tôi đã ngồi đó suốt  mấy chục năm vừa qua. Khi đứng dậy, xung quanh đều đã có chút đổi thay.

     Szerencsésen, tizenot év után, találkoztunk még egyszer. Bécsbol jottem Budapestre, és csak egy szabad napom volt. Keleti pályaudvari metró volt a találkozásunk a helye. Láttuk egymást és mosolyogva kozelkedtunk egymáshoz, nem túl sietve, nem túl lelkesen, mintha mindig találkoztunk volna minden heten,  évek óta. Néhány órás sétáltunk a budapesti útcákon és hirtelenul felfedeztuk hogy Vörösmarty téren voltunk. Szótlanul sétáltunk a cukrászda felé. A régi cukrászda jobban nézett ki, de egy új idegen nevet viselt, a régi hangulat láthatatlanul lebegett a levegoben. Magdi kért egy sort, én ketto tortát ketto presszó kávéval. A torténet úgy ismétlodott, mintha a távoléti évek eltuntek volna Magdi sort és én tortát kértunk csak eloszor. A sort pohárba ontve, mosolygott, emelt poharat és mondta "Szia". Már sokáig elfelejtettem az ivás elotti koszontést, de mindig tudtam hogy egy magyarral nem illik kocintgatni a sorozéskor. Igy mosolyogtam és fenekig urítettem a huvos poharomat. Lassan befejeztunk a tortákkal és felálltunk. Olyan érzésem volt hogy ott ultunk évek óta és felálláskor a kornyezetunk már  egy kicsit változott.

      Nắng bên ngoài quảng trường vẫn rực rỡ như năm nào. Đàn chim bồ câu vẫn đậu kín khắp trên quảng trường. Không biết có còn cặp chim câu nào của ngày xưa cũ. Gió từ Duna ùa về lồng lộng như  vẫn gió năm xưa.

      A napsutés ragyogott kint mint régen. A tér még mindig tele volt a galambokkal. Nem tudtam, hogy kozuluk volt-e olyan galamb pár, amelyik is volt a régi napokban. Dunáról fújtott a szél uvoltve mint a régi év szele.

Sau này, Hoàng tử vẫn giữ nguyên cảm xúc với những kỷ niệm thời trai trẻ của mình. Mỗi lần trở lại Budapest là một lần trở lại với hoài niệm dĩ vãng. Volt Egyszer Egy Idő… Azok a szép napok, chú ta thổ lộ: "Cảm xúc dồn dập và man mác. Những câu hỏi về thời gian, ý nghĩa của cuộc sống chợt trỗi dậy như những đợt sóng từ quá khứ. Hồi đó, mình đang say mê đọc các loại triết học, để đến hôm nay nhiều câu hỏi vẫn còn quay lại. Nhưng tất nhiên không đợt sóng nào giống đợt sóng nào. Những giọt nước năm xưa đã đi mãi vào quá khứ. Chỉ còn một hình hài cũ quay lại lượm nhặt những mảnh vụn của những kỷ niệm đang dần nhạt nhòa".

Để đóng lại phần Tiệm bánh ngọt trên Quảng trường Vörösmarty, tôi trở lại ký ức của Hoàng tử với hình ảnh từ 2007. 

"Magdi vừa gửi cho tôi mấy tấm ảnh chụp tại tiệm bánh ngọt năm 2007 (Có bạn tốt là để tôi không bao giờ phải giữ ảnh). Nàng nói là tôi không hề uống bia ở lần cuối. Đúng ra là viết hoài niệm cũng như chơi bài nói dối, nhiều quân bài thật trộn lẫn với một ít quân bài giả. Thực tế, thì trong ảnh có thể thấy tôi đang bị cảm lạnh (có tên một tiểu thuyết Hung "Người bị lạnh mùa hè", chính hắn là tôi,  vì tôi luôn luôn và chỉ bị cảm về mùa hè) và vì thế tôi uống nước ngọt, nhưng kem thì không thể cưỡng nổi. Tôi không bao giờ biết cưỡng lại những cám dỗ. Mũi tôi ướt rượt. Có một ảnh chụp chung với Magdi (do nàng tự chụp), nhưng nàng không cho đăng lại vì, miệng đầy bánh ngọt vị chanh màu vàng, trông giống như mới đến từ Rumani (xứ sở của ma cà rồng. Xin lỗi Magdi anh chỉ đùa). Tôi không có lỗi."

     "Trong tiệm bánh ngọt quảng trường Vörösmarty (bây giờ hình như gọi là Gerbaud), tháng 6, 2007, buổi sáng duy nhất ở Budapest. Kem vị punch (thực ra bây giờ tôi cũng không chắc lắm, bọt sữa, bên cạnh nước ngọt. Căn phòng được bài trí ngày xưa, bàn ghế có vẻ mới." (HTB)

"Vörösmarty téri (most Gerbaud) cukrászdában. Julius 2007, egyetlen délelott Budapesten.  Puncs izu fagylalt (már nem annyira vagyok biztos), tejszínhabbal, jaffa mellett. Régi diszes terem." (HTB)

(còn nữa)

Wednesday, August 5, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (4)

Bóng đá và âm nhạc là sở thích và cũng là nhu cầu của thể chất và tinh thần. Đó là những điều mà với mỗi người có ảnh hưởng khác nhau. Tuy nhiên, yêu thích thể thao ntn ko phải ai cũng như ai. Và âm nhạc cũng vậy, cùng với thời gian dành cho sự yêu thích của mình là khả năng thể hiện của bản thân. Có người được Trời phú tài năng nổi bật hơn người, còn đa số chỉ ca hát và ra sân cho vui, cho khỏe. Riêng tôi thì đá bóng rất nhiều. Nếu tôi sinh ra vào thời buổi này, tôi rất thích được đào tạo một cách bài bản từ nhỏ. Ko phải để trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, mà ít ra cũng có phẩm chất của 1 cầu thủ, cả trên sân bóng và trong cuộc sống hàng ngày.

Ko như bóng đá hay âm nhạc, Budapest đã hầu như chinh phục tất cả chúng tôi với vẻ đẹp diễm lệ của dòng Duna giữa những lâu đài thành quách uy nghi của Buda và Pest, rất duyên dáng và thanh lịch.  

Thủ đô của nước Hung đã để lại ấn tượng vô cùng sâu đậm trong ký ức của tôi. Budapest làm tôi phải sững sờ trước vẻ đẹp hài hòa của những kiến trúc cũ và mới xen kẽ lẫn nhau. Ngay từ những ngày đầu thành phố là điều vô cùng hấp dẫn với tất cả chúng tôi. Nhìn thành phố từ trên cao, tôi vẫn thường tự hỏi: "Đã có bao nhiêu con người tài hoa chạm tay vào từng góc nhỏ của Budapest trong hơn 1000 năm qua để làm nên một thành phố như ta đang thấy?". Thành phố này đã làm bao nhiêu người phải đặt những câu hỏi như thế từ những lối đi lát đá, những vòm cây um tùm và những bãi cỏ xanh mượt đến những bậc thang ngoài trời hun hút lên thành Vár, từ những quảng trường đến những đại lộ sầm uất và duyên dáng với những tiệm café, nhà hàng hấp dẫn, từ những công trình văn hóa tuyệt đẹp mang những phong cách khác nhau đến Parlament huy hoàng tráng lệ... Budapest như một hòn ngọc bên dòng Duna, lấp lánh thơ mộng đầy mê hoặc như hiện ra từ những câu chuyện cổ tích đẹp man mác và huyền ảo vô cùng. 

   Tôi ngỡ ngàng nhìn không chán mắt những đường phố và con người xung quanh tôi, còn TV, báo chí và phim ảnh thì thật lôi cuốn và tạo được vô số ấn tượng với những quảng cáo đủ loại... Tất cả đều thú vị và lạ lẫm... Riêng HTB vốn rất lãng mạn, thích khám phá và "ham vui" hơn tôi đã có lý khi cho rằng tàu điện là một "đặc sản" của Budapest và rất thích thú khi trốn học/du ngoạn thành phố bằng phương tiện này.

Ko riêng gì HTB, cũng có nhiều người coi tàu điện Budapest là điều đáng nhớ nhất của tp này. TS. Vũ Hà Văn, dân nhảy tàu HN, học chuyên toán và Hà Nội - Amsterdam, sang Hung sau chúng tôi 15 năm với cảm nhận về Budapest: "cái gì cũng khác, cũng mới, từ đường phố, cửa hàng, thức ăn, cho đến phim ảnh và màu mắt của các cô gái. Quê hương nhất, chính là anh tàu điện. Tàu điện ở Budapest cũng màu vàng, và cũng leng keng, y hệt như tàu điện Bờ Hồ, có điều nó có cửa nghiêm chỉnh và phải mua vé. Ba mươi năm trước dáng nó bè bè béo béo chứ không thanh thoát chân dài như bây giờ.

Tàu điện quen thuộc nhất với sinh viên Việt Nam phải là tàu số 4 và 6, vì hai tàu bắt đầu ở gần ký túc xá của Đại học Bách Khoa, nơi quá nửa học sinh Việt Nam theo học. Tàu chạy dọc đại lộ một thời mang tên Lenin, mà tên người luôn xuất hiện một cách bất ngờ nhất trong các tạp chí sinh viên lưu hành trong các ký túc xá, cho đến Quảng trường Mátxcơva. Quảng trường Mátxcơva nay đã trở lại cái tên cũ Széll Kálmán (vị Thủ tướng Hungary cuối thế kỷ 19), còn đại lộ Lenin, cũng không khác với số phận của thành phố cùng tên bên Nga, đã chuyển thành con đường mang tên Teréz và Erzsébet, hai bà hoàng của Đế quốc Áo - Hung ngày trước".

Về những nơi thân quen với LHS trước đây và thế hệ Du học sinh (DHS) sau này (tôi phân biệt như vậy cho 2 khoảng thời gian: thời chiến và thời bình), Vũ Hà Văn nhớ đến Vár và Budapest với những hình ảnh và cảm nhận rất đẹp: "Đây là địa điểm du lịch số một của Budapest, có nhà thờ vua Matyás và pháo đài Những người đánh cá (thật ra là chỗ thu thuế cá ngày xưa), hai điểm mà hầu như du khách nào cũng ghé qua. Cái hay là ở trong thành không phải chỗ nào cũng làm du lịch cả, mà còn nhiều nhà dân sinh sống trong các dẫy phố nho nhỏ, có cột đèn bằng sắt xen lẫn cây cổ thụ, lòng đường lát đá đen, và dọc phố lác đác vài ngôi mộ chí.

Thành Vár ở địa thế ở cao, có thể nhìn xuống toàn cảnh thành phố, sông Danube xanh và những cây cầu tuyệt vời của nó. Cây cầu đẹp nhất có lẽ là Cầu Xích (Lánchíd - Chain Bridge), một trong những cầu treo bằng sắt đầu tiên trên thế giới. Được xây từ nửa đầu thế kỷ 19, Cầu Xích là một thành tựu kỹ thuật đáng kể của thời đó. Ở hai đầu cầu, nhà kiến trúc tài ba đã cho đắp sừng sững một đôi sư tử nhe nanh, như có ý nhắc nhở rằng sợ vợ không chỉ là đặc tính của đàn ông Châu Á. Dẫu vậy, người Hung thật xứng đáng là một dân tộc thông minh, cái gì cũng hơn người thường một chút, vì nếu nhìn gần, thì các bà sư tử này hình như không có lưỡi.

Budapest có những dãy phố cổ dọc theo bờ sông, phía Buda, tối mở cửa sổ có thể nhìn sang thành Vár và Nhà Quốc hội bên kia sông rực ánh đèn. Các khu cổ này một nhà to có nhiều căn hộ, có lẽ là chỗ ở cho các thị dân giàu có ngày xưa, cửa sổ cao và thoáng, mỗi nhà có một cái cổng đá xây rất phong cách, nhô ra đường để khi trời mưa khách vãng lai có thể vào trú được. Chiếc cổng đã che bao thế hệ thanh niên đi ngang qua nó. Ngày hôm nay là những cô cậu sinh viên của thế hệ iPad, 30 năm trước là thế hệ của tôi và bạn, 30 năm trước nữa là những sinh viên của năm 1956 đầy biến động, mà trong lòng họ không biết đất nước và bản thân sẽ đi về đâu…"

HTB thì kể lại ký ức về tàu điện nhiều hơn. Tên này còn nhớ rõ: "Ở Hungari thời đó, vé xe điện là 1Ft màu vàng, vé xe bus 1.5Ft màu xanh. Vé tháng xe điện là 20Ft đi được tất cả các xe điện, vé tháng bus giá 50 Ft đi được tất cả các phương tiện. Lên xe tự giác bấm. Thỉnh thoảng có người khám vé, nếu tóm được phạt bằng tiền vé tháng xe bus là 50Ft

Học bổng hàng tháng của chúng tôi là 500Ft, sau khi đã trừ phiếu ăn và ký túc xá, tiêu chừng 1 tuần thì hết. Vì vậy hiếm có tên nào đã từng là sinh viên mà không trốn vé xe. Cố nhiên 50Ft là một món tiền lớn, có thể vào tiệm ăn hạng 3 hai lần. Sau này khi tôi đã trở thành nghiên cứu viên, rồi giáo sư đại học, lương hàng tháng 12-16 nghìn FT (cố nhiên khi đó vé xe điện xe bus tăng gấp 2-3 gì đó) tôi vẫn trốn vé xe. Không phải vì tiền nhưng ngại đi mua vé và hay quên, lên xe rồi mới nhớ ra. Có lần trốn vé, thấy có cô soát vé rất xinh lên, tính lẩn, thì cô bám ngay lấy mình. Nhưng cô ấy không hỏi vé mà bắt chuyện lăng nhăng và khen mái tóc đen của mình. Cũng chém tích cực nên lờ được chuyện vé. Hú vía.

Ở Debrecen là tỉnh lẻ, mua vé tháng đi được có mỗi một cái tàu điện và khoảng 3 tuyến bus, nên cực kỳ lãng phí." HTB học Vật lý lý thuyết ở KLTE, Debrecen và từng có thời gian dạy ở đây nên mới có nhận xét như thế. Về tàu điện ở Budapest, tên này đã viết 1 bài với tâm trạng hoài cổ về cảnh đẹp của Budapest và những kỷ niệm của hắn trong bài "Budapesti villamosok - Những chiếc xe điện thành Budapest".

"Có lẽ đặc sản của Budapest là tàu điện. Kỷ niệm thời sinh viên là tàu điện. Khi buồn không biết làm gì lên tàu điện lang thang là thú vị nhất. 

Budapest có hàng chục tuyến tàu điện khác nhau, nhưng có một số tuyến tàu điện quen thuộc như 4, 6, 19, 18, 49, 47 mà ai cũng biết. Trong số các tuyến tàu điện tôi thích nhất và có kỷ niệm nhiều nhất với tàu số 2 và tàu số 19 chạy dọc hai bờ sông Duna bên Pest và bên Buda.

Đường tàu điện số 2, từ quảng trường Jászai Mari, ở đầu cầu Margit chạy đến Kozvágó híd, sát bến tàu Hév ra Csepel và Ráckeve. Có lẽ đây là tuyến đường đẹp nhất, chạy dọc bờ sông Duna bên Pest, chạy qua nhà quốc hội, Viện Hàn Lâm, khách sạn Duna, cầu Margit, cầu Xích (Lánc Híd), cầu Erzsébet, cầu Szabadság, cầu Petofi, chợ Szabadság, trường Kinh tế. Tàu điện số 2 tương đối đẹp đẽ và luôn được tân trang đàng hoàng hơn so với các tuyến tàu điện khác. (Hình như ngoài tàu điện số 2 còn có tàu điện số 18 cũng mới vì chạy đến bệnh viện János).

Có lẽ đây là tuyến tàu điện tôi có nhiều kỷ niệm nhất, vì tôi thường đi tàu điện số 2 để đón tàu Hév đi Ráckev đến nhà cô bạn là Magdi. Sau này, cô bạn lấy chồng, nhà lại ở sát cuối bên kia của bến tàu số 2 tại quảng trường Jásszai Mari, đi bộ chỉ mấy bước chân là về nhà hoặc ra đảo Margit đi dạo cũng rất gần.

Đường tàu 19, chạy từ ga Kelenfoldi đến quảng trường Batthány. Tôi cũng yêu tuyến tàu điện này, nhất là đoạn chạy dọc bờ sông bên Buda, có lối đi lên thành Vár, chạy qua cầu Lánc, cầu Erzsébet, cầu Szabadság, quảng trường tròn (Moricz Zsigmond Kortér), quảng trường Kosztolányi Dezso tér.

Hồi học ngoại ngữ , mỗi dịp trốn học đi chơi, tôi hay ngồi trên tàu điện 19 chạy dọc bờ sông. Hồi ở ký túc xá Budaors thì vì không muốn mua vé tháng xe bus, chúng tôi thường đi bộ ra đường Bartók Béla đón tàu 19, 49, 47 từ Kelenfold về. Sau này đi lên Vár chúng tôi vẫn thường đón tàu 19 và đi bộ lên Vár. Còn ga Batthány tér có chuyến xe bus (hình như số 16) mà bạn Nguyễn Cao Bình thường đón xe bus lên Óbuda có việc riêng. (Chuyện này tôi nghe láng máng, nhớ cũng loáng thoáng, phải đợi Cao Bình kể lại). Bến quảng trường Batthány đối diện với nhà Quốc hội và cũng là bến Metro nối vào tuyến từ quảng trường Moszkva (nay chắc đã đổi tên khác) đi đến Sugár và bến tàu Hév đi Godollo.

       Đối diện với bến Metro là một cái chợ rất lớn. Đi chợ ở Hungari cũng là một cái thú không thể quên và nếu bạn nào chưa có cái thú đó thì sẽ là một thiệt thòi vô cùng lớn, không thể bù đắp được. Khi nào rảnh sẽ nói thêm về chuyện này.

    Tôi nhớ tuyến xe điện 19 thường mở cửa, gió sông Duna thổi vào từ bốn phía mùa hè rất sướng, mùa đông hơi khổ một chút. Sau đoạn chạy qua cầu Lánc, chỗ có một con đường hầm xuyên qua núi Buda, là bến để chuyển qua xe bus hoặc đi bộ lên Vár nếu bụng không đói lắm. Đoạn này đặc biệt xóc, tàu rung lên xòng xọc, bánh xe xiết vào đường ray ken két, rất ồn. Bây giờ hình như đều đã thay bằng tàu điện mới hiện đại, nhưng chắc không có cái hương vị cổ điển như ngày xưa."

Tàu điện số 2 được coi là một trong những lựa chọn cho chương trình tham quan rẻ nhất ở Budapest. Vào thời của chúng tôi, đây là loại tàu điện đẹp nhất của Hungary (hoạt động cùng với những tuyến còn lại hầu hết là tàu loại cũ). Tuyến đường này uốn lượn dọc theo sông Duna từ Quảng trường Jászai Mari đến Nhà hát Quốc gia, đưa du khách đi giữa những công trình kiến ​​trúc mang tính biểu tượng của thành phố. Tất cả những cảnh quan vô cùng ấn tượng trên đoạn sông Duna nổi tiếng đẹp nhất này chỉ tốn một vé BKV (hoặc hai vé nếu bạn mua vé khứ hồi). Cần chú ý quan sát cả 2 bên trái và phải khi di chuyển theo cả hai chiều, vì tàu điện đi qua Tòa nhà Quốc hội, Cung điện Gresham, Cầu Lánchíd và dưới Cầu Erzsébet và nhiều địa điểm khác. Ở phía Buda, có thể nhìn thấy những ngọn đồi, Khu Lâu đài và Suối nước nóng Gellért. Và tất nhiên, cũng ko thể bỏ lỡ 2 trường ĐH Corvinus và BME, một ở bên Pest và một ở phía đối diện của Buda, cả 2 đều rất cuốn hút.

Đến nay tôi vẫn còn tiếc và vẫn tự trách mình vì đã ko có trải nghiệm thú vị như HTB về tàu điện Bp. Có lẽ do ham đá bóng quá? Nhẽ ra, tôi cũng phải khám phá ra điều có 1 ko 2 này mới phải. Ít ra, như vậy mới biết về Bp nhiều hơn, có nhiều chuyện để viết hơn! Nếu có dịp trở lại Hungary, nhất định tôi sẽ dành thời gian du ngoạn Budapest bằng tàu điện trong chương trình du hành của mình.

Budapest rất lôi cuốn với những cây cầu nối liền bờ Pest bằng phẳng với vùng đồi của Buda, mỗi cây cầu là một công trình nghệ thuật, trong đó nổi tiếng nhất là cầu Lánchíd - hoàn thành năm 1849. HTB đã dành cho cây cầu này những dòng đầy cảm xúc, và dù theo tiếng Hung tên đúng ra là Cầu Xích, nhưng theo ý hắn thì gọi là Cầu Sư Tử hay hơn.

"Đây là cây cầu đẹp nhất trong các cây cầu ở Budapest, mặc dù cầu Erzsébet và cầu Szabadság đều có những vẻ đẹp và duyên dáng riêng. 

Những con sư tử nằm làm bằng đá ở hai đầu cầu trông luôn luôn suy tư. Cầu Sư Tử có thể nhìn từ nhiều góc, nhưng tôi thích nhất là góc nhìn từ phía Buda, hơi chéo góc một chút về phía tòa nhà của Viện Hàn Lâm, nhưng đừng chéo quá để nhìn thấy nhà Quốc Hội. Thế mới biết, không phải nhiều cái đẹp ở bên cạnh nhau là hay. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi chán xem các cuộc thi hoa hậu đến thế. Tình cờ góc nhìn này lại đúng là góc nhìn trong phim Chủ Nhật Buồn (Szomorú Vasárnap).

Cầu Sư Tử trong đêm rất diễm lệ, do ánh sáng bố trí rất tuyệt vời, hòa hợp với hình khối cổ kính, hơi lỉnh kỉnh những xích sắt, cùng với đám sư tử đá, và không khí mát lạnh, hơi lung linh từ nước sông Duna phả lên. Vừa có vẻ trong một nhà bảo tàng, vừa có vẻ như trong một cửa hàng đồ cổ, mà người ngắm cảnh lại có cảm giác đang nhâm nhi nước đá từ một cái cốc pha lê, đá chạm vào thành cốc kêu lanh canh trong một quá khứ xa xôi nào đó.

Ban ngày Cầu Sư Tử lại có vẻ đẹp khác. Chúng ta  có thể đứng ở Pest nhìn về phía Buda để thấy Bảo tàng tranh Dân tộc ở hậu trường. Hoặc chúng ta nhìn thẳng vào đường hầm, hoặc nhìn chéo về phía thành cổ. Tôi chưa bao giờ có dịp đi bộ qua cầu, hoặc đứng trên thành cầu nhìn sông Duna, Pest và Buda cho thỏa thích. Chắc cảm giác đó phải tuyệt vời lắm. Đôi khi có những việc dễ dàng và thú vị, mà người ta ngu ngốc không làm, có khi lại chỉ vì sợ người khác cười mình là lẩn thẩn hoặc ngốc nghếch. Tôi chỉ nhớ nhất là hình ảnh của cầu Sư tử nhìn thẳng vào gầm cầu từ bến tàu điện số 19.

Tôi sẽ nhớ mãi những lần lái xe qua cầu từ trên Vár xuống, hoặc chạy xuyên qua hầm ngầm xuyên núi Buda, cảm giác thật mạnh mẽ và thú vị. Cũng may là  đến bây giờ tôi vẫn còn giữ lại được một số cảm giác và cảm xúc.

Dưới đây là cầu Sư tử trong đêm, không thể xác định được đây là góc nhìn từ Buda hay nhìn sang Buda. Tôi nghĩ là góc nhìn của phim Szomorú Vasárnap, từ Buda nhìn sang.

Nhìn sang Buda, trong ánh sáng đẹp và tinh khiết.

Nhìn về phía Nemzeti Galéria (Bảo tàng tranh dân tộc), có cảm giác như một chuỗi xà tích nạm ngọc quý.

Cầu Sư tử đẹp cả trong ánh sáng ban ngày, nhìn về phía Pest. Một thứ ánh sáng dịu dàng, xanh trong vắt đến xao lòng.

Ánh sáng chiếu trên cầu Sư tử. Đây chưa phải là khoảnh khắc đẹp nhất. Dường như là một buổi chiều muộn, cầu Sư tử đã lên đèn, và đang đợi những ngôi sao sớm thắp lên trên bầu trời đang ngả màu tím sẫm.

Tôi hay nhìn cầu Sư tử nhất là từ góc nhìn này, từ dưới chân cầu nhìn lên.


Tại sao mình không có một buổi chiều nào hay một sáng nào đứng tha thẩn một mình trên cầu như bóng người trong ảnh. Không phải mình không muốn điều đó, không phải vì điều đó không hay, không phải vì mình không có thời gian. Chỉ là ngại thôi và thói quen ngần ngại ngu ngốc. Con người ta hay xấu hổ vì cảm xúc. Đó là một mâu thuẫn vô lý của con người. Bây giờ tôi mới thấy biết ơn Magdi về những khoảng thời gian làm những việc ngốc nghếch vô tích sự, nhưng để lại những cảm xúc lâu dài suốt đời như thế."

Pest có một con đường nổi tiếng mà LHS chúng tôi ai cũng biết, đó là Népköztársaság útja, nay là Đại lộ Andrássy. Đại lộ này là một bảo tàng trưng bày các phong cách kiến ​​trúc của nửa cuối thế kỷ 19. Phong cách tân Phục Hưng chiếm ưu thế, nhưng chúng ta cũng tìm thấy các công trình kiến ​​trúc tân Baroque, Cổ điển, Art Nouveau và Lãng mạn. Đại lộ Andrássy là cầu nối giữa trung tâm thành phố năng động và không gian xanh của thành phố, Városliget. Nó bắt đầu với những tòa nhà chung cư, như một con đường chính rộng lớn ở trung tâm thành phố, sau đó dần dần mở rộng, xanh tươi hơn, trải dài thành một đại lộ rợp bóng cây với những biệt thự hai bên và kết thúc ở Quảng trường Anh hùng. Đại lộ này cũng rất nổi tiếng với Đường sắt ngầm Földalatti Vasút.

Đại lộ Andrássy hình thành bởi ý nguyện của bá tước Andrássy Gyula.Với chiều dài 2310m, đây là đại lộ "sugár útja" dài nhất của Budapest và là con đường đầy quyến rũ giữa thành phố, một con đường hoa lệ với nhiều công trình của các kiến trúc sư nổi tiếng nhất đương thời. Người ta phải phá bỏ rất nhiều ngôi nhà để xây dựng lại quy củ theo trường phái neo-Renaissan; trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất phải kể đến nhà hát Opera/Magyar Állami Operaház (1884) do kiến trúc sư Ybl Miklós thiết kế mang phong cách mới của thời kỳ đó, rất độc đáo khi kết hợp với phong cách Baroque, đây là một kiệt tác của con đường nổi tiếng này và cũng là niềm hãnh diện của Budapest cũng như của người Hungary. 

Magyar Állami Operaház

HTB thì quen dùng tên cũ, Népköztársaság útja, vì nó gắn với nhiều kỷ niệm. Đường này chạy từ quảng trường Deák Ferenc, qua quảng trường Liszt Ferenc, sau đó đến quảng trường November 7, bây giờ gọi là quảng trường Bát giác (Oktogon), sau đó đến Kodály Körönd, rồi đến quảng trường Anh Hùng nổi tiếng. Đây là tuyến đường của xe bus số 1, chạy từ Kelenföld (phía trường Ngoại ngữ) lên. Đoạn từ quảng trường Deák Ferenc đến quảng trường November 7, có những hàng cây tán lá rất rợp, dường như nắng không bao giờ tới được mặt đường. Hai bên rất nhiều cửa hàng cửa hiệu. Đoạn từ quảng trường November 7 đến quảng trường tròn Kodály là những nhà sát mặt đường, kiến trúc rất đẹp. Đặc biệt có một nhà hàng sang trọng, cắm rất nhiều ô, và có một cửa vào trông rất bắt mắt mà hắn ta quên mất tên. Từ quảng trường tròn Kodály đến quảng trường Anh Hùng là các biệt thự rất đẹp.

Trên đường Népköztársaság có một địa điểm đáng nhớ vì nó gắn liền với kỷ niệm về những ngày đầu chúng ta đến Budapest. Đó là Divat Csarnok, nơi chúng ta đều đến đó mua những bộ quần áo đầu tiên khi đến Hungary. HTB còn nhớ ngày hôm đó như mới ngày hôm qua. Anh Quang Việt, dẫn nhóm HTB đi và đưa ra một số tư vấn. Hoàng tử đi với Khánh và Trung, dĩ nhiên là cả bọn bàn luận với nhau xem nên mua gì. Trước tiên là phải mua một cái áo bành tô (kabát) để chống lại cái lạnh của mùa đông. Cả nhóm đều nhất trí mua một cái áo to dày, lót lông, nhồi bông, có mũ. Hình như cái áo của HTB màu tím, Trung và Khánh chọn màu nâu. Sau đó đến áo kardigán, một loại áo thay áo len, có khuy mở ở phía trước, bằng một thứ sợi nhân tạo nào đó. Loại này chỉ có một màu duy nhất là xanh lá cây đậm. Vậy là cả ba đứa mua 3 cái giống hệt nhau. Sau đó đến quần, lẽ dĩ nhiên Hoàng tử chọn quần 2-3 loe. Được tự do lựa chọn phải hưởng thụ một cái. Các chú sứ đã cấm, càng nên chọn cho khoái. Hắn nhớ một chiếc kẻ sọc màu hơi hung hung bằng len. Một chiếc kia bằng sợi tổng hợp màu boóc đô. Khánh hình như cũng chọn giống HTB. Riêng Trung thì cứ băn khoăn mãi về quần loe, cứ săm soi tìm loại nào không loe. Nhưng cuối cùng hình như cũng phải theo HTB. Cái quần thứ hai của Khánh là màu xanh đậm.

      Áo sơ mi thì dễ hơn, HTB chọn một cái màu vàng, một cái màu hồng và một cái màu trắng. Khánh và Trung cũng chọn cái màu vàng và một cái trắng. Về màu hồng thì hình như cả hai cậu đều ngần ngừ, chọn một cái màu trứng sáo thì phải. Riêng Trung, Hoàng tử ép phải mua cái màu hồng như hắn, vì Khánh nhất định không chọn màu hồng, vì có vẻ táo bạo về màu sắc quá. Hoàng tử khoái màu hồng để đi kèm với màu boóc đô của cái quần. Đến phút cuối cùng hắn phát hiện ra một chiếc áo màu trắng bằng một thứ vải trong suốt như đăng ten có hoa loang lổ, hắn bèn đổi để khác biệt áo trắng đơn giản của Trung. Hoàng tử nhớ mang máng nhưng không chắc lắm là Khánh cũng tán thành ý tưởng này và cũng chọn một chiếc giống như vậy. Vậy là ba đứa cứ mỗi cặp lại có 2 cái áo giống nhau.

Từ Divat Csarnok đi vài bước nữa là quảng trường Liszt Ferenc, nơi có một trường trung học, ở đó có cô bạn của Hoàng tử là Magdi dạy môn vẽ. Hồi sinh viên HTB ít khi có dịp qua lại quảng trường này, sau này mới có dịp qua quảng trường này mấy lần, hắn cũng đến thăm cô bạn cùng năm là Nguyễn Kim Bân (ELTE.M72), hình như nhà số 7, nhà ở tầng trệt trong một cái sân sạch sẽ nhưng cổ lỗ.

Từ quảng trường Liszt Ferenc đi thêm bước nữa là đến quảng trường November 7 (Cách mạng Tháng 10 Nga), ngày nay gọi là Oktogon. Đây vốn là giao lộ của đường Népköztársaság và Lenin körút (ngày nay gọi là Erzsébet körút) có các tàu điện số 4 và số 6 chạy qua.

 Dọc đại lộ Népköztársaság có tuyến đường tàu điện ngầm Földalatti số 1. Đây là tuyến đường nối tiệm bánh ngọt, chứa những kỷ niệm của HTB, trên quảng trường Vörösmarty đến khu mà HTB quên mất tên mà vào những năm 1985 HTB đã đến thăm Trương Đăng Dung (ELTE, M72) và Magdi (hồi đó ở gần đó, đang chuẩn bị sinh con gái là Linda).

   Bây giờ, chúng ta quay trở lại quảng trường tròn Kodály. Chắc các bạn sẽ phải nhớ ra vì nó là chỗ đẹp nhất trên đường đến sứ quán. Nếu bạn đi xe bus số 1, sau quảng trường November 7, bạn sẽ thấy một vòng tròn lớn, có bãi cỏ, các tượng đồng, và nhiều ngôi nhà có kiến trúc tuyệt đẹp bao quanh. Đó chính là quảng trường tròn Kodály một thời đã được gọi là quảng trường Adolf Hitler.

Quảng trường Anh Hùng nằm ở cuối đường Népköztársaság, đây là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị của Hungari, giống như quảng trường Ba Đình và cũng là một danh thắng của Budapest. HTB sẽ có một bài riêng về quảng trường này và các tượng đài. Cần nhắc là ở đây có Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Budapest, quần thể tượng đài trên quảng trường. Cuối quảng trường là khu vườn bách thảo của Budapest (Város Liget) nơi có một tòa lâu đài cổ đẹp tuyệt vời. HTB cũng sẽ có một bài riêng về Város Liget.

 Chéo bên kia quảng trường Anh Hùng, gần cuối đường Népköztársaság là Sứ Quán Nam Tư cũ. Là nơi Thủ tướng Hung năm 1956 Nagy Imre vào ẩn náu trước khi nộp mình cho Hồng quân của Andropov. Hoàng tử nhớ Khánh đã chỉ cho hắn tòa Đại Sứ này khi vừa ở Sứ quán Việt Nam qua. Nó là một tòa biệt thự rất đẹp, cổng và hàng rào sắt sơn đen. Hoàng tử đứng lặng yên ngắm cánh cửa và ước ao có một lần được vào đó xin visa để qua Nam Tư. Chắc Khánh cũng nghĩ vậy. Thậm chí hai tên này cũng thảo luận xem hộ chiếu của chúng tôi có đi Nam Tư được không, vì Nam Tư theo quan niệm của nhiều người Hung và Nam Tư thời đó cũng là xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng thì cả hai cũng không đủ dũng cảm để thử. Mãi tới sau này, 20 năm sau, năm 1990 Hoàng tử mới có cơ hội vào cánh cửa đó lấy thị thực qua Nam Tư để đi Ý. Hắn rất tiếc là chuyến đi này không có người bạn vàng thuở nào. Lúc lấy xong thị thực cho cả vợ con, Hoàng tử có chút xúc động nhớ lại chuyện ngày xưa.

(còn nữa)