Wednesday, September 30, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (7)

Có một nơi ở Budapest để lại rất nhiều kỷ niệm với tôi, đó là tòa nhà số 1 Szentháromság tér, trước đây là ktx Vár. Nếu HTB gọi ktx sinh viên của hắn ở Debrecen là tổ ấm thì tôi cũng có thể gọi ktx Vár như thế. Thật khó hình dung nơi này mà lại không có các bạn thân thiết của tôi ngày xưa. Tôi thật may mắn khi có được những ông bạn "vàng" ở đây, tại nơi mà mọi người từ khắp nơi kéo đến để ngắm nhìn và thán phục. Ở đây, tôi đã có những ngày thật dễ chịu. Các bạn chắc còn nhớ những căn phòng của sinh viên ở Vár, tuy tồi tàn và nhếch nhác không được như các ký túc xá mới nhưng lại nằm trong một tòa nhà rất đẹp. Các bạn của tôi cũng vậy, tuy đơn giản và thiếu thốn nhưng tấm lòng thì tuyệt vời. Tôi không bao giờ quên Gyümölcslé, Halászlé… và cả những "đặc sản" quý hóa của thời sinh viên ở đây cùng các bạn của mình. Vár và những ngọn đồi ở Buda là những nơi tuyệt vời để dạo chơi và khám phá, chỉ cần cả bọn chúng tôi kéo nhau cùng đi là có đủ trò vui rồi. Cả lũ đều vui vẻ và hồn nhiên vô tư trong khung cảnh tuyệt vời của Budapest - "A szabadság fővárosa". Với chúng tôi, những năm 70-es là những năm chúng tôi cảm thấy thế giới thật đẹp đẽ và thân thiện. Tuyệt vời vô cùng!

KTX Vár, số 1 Szentháromság tér

(còn nữa)

Chuyện nhỏ chuyện lớn

Thiên cơ chỉ nói 1 lần: nghệ thuật sinh tồn và hiểu nhân tình thế thái

Một. Khi nhờ người khác giúp việc gì, nhất định phải có quà đi trước. Người ta có thể không nhận, nhưng bạn tuyệt đối không được không biếu. 

Khi người khác không mở lời nhờ vả, tốt nhất đừng chủ động nhúng tay vào giúp đỡ. 

Phải biết giả ngốc để hưởng lợi thật, lúc bình thường chớ dại mà phô trương sự thông minh hay lanh chanh của mình.

​Hai. Trên bàn tiệc nếu quá ba người thì không bàn chuyện riêng tư. Trong hội nhóm nếu quá sáu người thì chớ nói chuyện công việc. 

Người ta mời cơm, đừng tự tiện dắt thêm bạn bè theo. Khách không dắt khách, đó là quy tắc tối thiểu. Nếu tình cờ gặp người quen đang ăn uống, tuyệt đối đừng sà vào góp vui. Người ta mời là vì khách sáo, mình vào là vì thiếu tinh tế.

​Ba. Đi du lịch về, đừng chủ động đem chuyện đi chơi ra kể khắp nơi. Cái bạn muốn chia sẻ là niềm vui, nhưng cái người nghe cảm nhận được lại là sự khoe khoang. 

Con cái nhà bạn bè hay họ hàng, dù chúng có sai thế nào cũng đừng đứng ra dạy dỗ. Dạy con người ta chẳng khác nào tát vào mặt cha mẹ chúng.

​Bốn. Đồ rẻ tiền hãy mua ở cửa hàng người quen để thắt chặt tình cảm. Đồ đắt tiền nhất định phải mua chỗ người lạ để dễ bề trả giá, tránh vì nể nả mà chịu thiệt.

​Năm. Đi công tác đến thành phố có bạn học cũ, tốt nhất đừng liên lạc. Nếu thực sự muốn gặp, hãy đợi đến ngày cuối cùng trước khi rời đi mới gọi họ ra ăn bữa cơm để tránh làm phiền họ.

Nhiều khi không phải do ta kém thông minh, mà chỉ vì ta chưa nắm bắt được những chân ngôn cốt lõi này.

TnBS

Tuesday, September 29, 2026

Cách uống nước chanh không đường tốt cho đường huyết và mỡ máu

 Một cốc nước chanh không đường có thể là lựa chọn đơn giản cho người muốn giảm lượng đường huyết và mỡ máu.

Người mắc hoặc có nguy cơ mắc đái tháo đường ưu tiên nước thay cho các loại đồ uống khác; đồng thời thay đồ uống có đường, bao gồm nước ép, bằng nước hoặc đồ uống ít hoặc không có calo để hỗ trợ kiểm soát đường huyết và giảm nguy cơ tim mạch.

Có thể thêm chanh, chanh xanh hoặc dưa chuột vào nước nếu người dùng không thích uống nước lọc.

Vì vậy, một cốc nước gồm nước lọc và vài lát chanh hoặc một lượng nhỏ nước cốt chanh, không đường, không mật ong, không siro, có thể là lựa chọn tốt hơn nhiều so với một cốc nước chanh pha đường.

Uống nước chanh không đường cùng hoặc trước bữa ăn có nhiều tinh bột, chẳng hạn cơm, bánh mì hoặc mì, thay vì uống nước chanh pha đường.

Lợi ích thực tế hơn đối với người có mỡ máu cao là nước chanh không đường giúp thay thế những thức uống chứa đường. Đây cũng phù hợp với nguyên tắc dinh dưỡng của WHO: chế độ ăn lành mạnh nên ưu tiên thực phẩm ít chế biến, hạn chế đường tự do và chất béo không lành mạnh.

Cách đơn giản là vắt khoảng 1/4–1/2 quả chanh vào 250–300 ml nước, có thể dùng nước ấm hoặc mát tùy sở thích. Không cần cho đường, mật ong, sữa đặc hoặc siro.

Nếu mục tiêu là kiểm soát đường huyết, có thể uống cùng bữa ăn thay cho nước ngọt. Tuy nhiên, không cần uống quá nhiều nước chanh với suy nghĩ “càng chua càng hạ đường huyết”.

Giá trị lớn nhất của nước chanh không đường có thể nằm ở chính những gì nó không chứa: không đường bổ sung, ít năng lượng và có thể thay thế các loại đồ uống nhiều đường.

Người có bệnh dạ dày hoặc răng nhạy cảm với axit cũng nên chú ý. Có thể pha loãng nước chanh và súc miệng bằng nước lọc sau khi uống; không nên ngậm hoặc nhâm nhi nước chanh có tính axit trong thời gian dài.

Với người có đường huyết hoặc mỡ máu cao, nền tảng vẫn là kiểm soát tổng lượng năng lượng, ưu tiên rau, trái cây nguyên quả, ngũ cốc nguyên hạt, các nguồn protein phù hợp, hạn chế thực phẩm siêu chế biến và duy trì vận động.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Bạn nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ để được tư vấn chính xác và phù hợp với tình trạng sức khỏe của mình.

Quang Minh (Lao Động)

Monday, September 28, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (6)

 (tiếp theo)

Lányok là câu chuyện ko thể thiếu của bọn tôi thời ấy. Nhưng mà thanh niên miền Bắc thời này có tính chiến đấu với chủ nghĩa anh hùng cm rất cao, nên "chuyên đề" này phần do nghĩa vụ, phần do xh VN hình thành tính cách, nên nó rất méo mó, ko bình thường chút nào. Đọc lại những đoạn trên chặng đường của chúng tôi đến Hungary, trong đó những gì HTB ghi lại là những chi tiết rất sinh động và chân thực trong quan hệ nam nữ của chúng tôi ở giai đoạn mới lớn. Trong đề tài này, HTB là nhân vật trung thực và có vẻ bình thường/normalisan él hơn số đông, như tôi biết, vì hắn quan niệm và sống khác, hoặc cũng như nhau cả, nhưng nhiều người phải giấu diếm, phải dồn nén, thậm chí còn phải lên án những người đã sống thật với nhu cầu tình cảm bình thường của con người.

Để thấy HTB có cảm xúc ntn trong những ngày đầu sau khi đặt chân lên đất Hung, tôi giới thiệu bài viết của hắn trên net (FB-NEI) với tựa đề: "Csinos lányok NEI-ben".

Nekem emlékezetes benyomás volt NEI-ben, hogy nagyon csinosak voltak a lányok. 

      Legjobban szerettem egy boliviai-t, egy bolgar-t és egy mongol-t. Mindig kerestem õket a szünetben hogy bámulhattam õket csodálva. 

       A boliviai lány kicsi termetü volt, diszes ruhákban járt, táncolt és énekelt rengeteget (és jól is) egy dél amerikai diák csoportban. Öröm volt nézni (föleg a lányt) és hallgatni öket. A balatoni és egri kiránduláson folyton muzikáltak egy profi szinten. 

        A bolgár lány fekete szemü és hajú volt. Ugy nézett ki mint egy török eredetü. Nagyon szép és nagy szemei voltak.  Nagyon szerettem a szép szemeit. Sokat dohányzott és csendesen bámulta a felemelkedõ füstöt. Ugy viselkedett mintha nem törödött semmivel. De mindig ült a központban az éterem elött, így vonzhatott figyelmet mindenki-tõl. Nem csak én csodáltam õt, mert volt egy állandó társasság körülötte.

       A mongol lány egyszerüen és különösen bájos volt. Gyönyörü és sugárzó volt a mosolya. Nem unatkozhat senki a társaságában. Nagyon barátságos volt. Pinpongoztam vele néhányszor is.

       Legjobb barátnöm volt egy kubai lány. Azt hiszem Annamaria volt a neve. Õ is szép volt mint egy ókori görök sportoló szobora. Jó fizikumú és ízmos volt Szoktunk együtt futni esteként. Néha lusta voltam, a szobámba jött és kihivott. Emlékszem hogy néhányszor édességet is adott nekem. Jó szivű lány volt. Nagyon sajnáltam, hogy a második félévben nem futottam vele, mert feliratkoztam az algol nyelv tanfolyamra a városban. Õ is ment Debrecenbe tanulni Orvos Tudományi Egyetemen. Sokszor láttam õt szurkolni amikor fociztam. Hevesen kiabálta "Hajrá Viet, nagyon jól csináltál, te a legjobb vagy". Pedig nem fociztam olyan jól. 

      Nagyon jó lenne ha tudhatnék valamit a sorsaikról. Nagyon szép emlékek voltak.

Cùng học với HTB ở KLTE, có 1 anh cũng rất hay chơi với gái Tây. Anh này ít kể về chuyện của mình trên mxh, và đây là 1 bài hiếm hoi mà tôi đọc được:

"Hoi xua o ben Hungary, tai truong dai hoc tong hop Kossuth Lajos , thanh pho Debrecen , hang nam nguoi ta to chuc day tieng Hung cho sinh vien quoc te ( moi nam mot lan vao mua he , thoi gian khoang 1 thang ). Sinh vien quoc te an o trong Kollegium cua truong. Thuong thi ho qua vai ba lan. Mot so co bo hoac me la nguoi goc Hung nhung dinh cu o nuoc ngoai nen muon hoc tieng me de, hoac cha de. Hoc buoi sang, con buoi chieu thi da bong voi dam sinh vien Vietnam trong Kollegium, hoac ra bai co truoc Kollegium dan hat vui ve voi dan ban dia. Doi khi lai cung bon sinh vien Vietnam nau an cho nhau. Noi chung rat vui ve. Hoi do bon toi co quen than voi 4 sinh vien Phap : Dimitri ( bo Nga, me Phap nhung khong biet tai sao lai thich tieng Hung ), 3 co ban la Gracia, Lissett va Claudina ( Gracia va Lissett co me la Hung, bo Phap ). Khi ve lai ben Phap van lien lac voi nhau vi ho rat xinh dep va tot tinh. Tu Phap van gui Chocolete , dia nhac,.. Rat tiec khi ve VN thi mat hoan toan lien lac. Trong so dia hat nhan duoc co mot bai hat ma den bay gio van nho mai ( Hoi do con hat duoc vi ho day cho minh hat bang tieng Phap, con bay gio thi quen sach roi ). Vi hay nen van nho duoc ten bai ,va muon ban be chia se : LA MER EST IMMENSE . Nguoi ta cung dich ra tieng Anh voi ten : THE WATER IS WIDE. Moi cac ban tim nghe."

LHS VN ở Debrecen

Từ bức hình của LHS VN ở Debrecen có thể thấy 1 phần thực trạng về chúng tôi thời ấy. Cả nam và nữ, chúng tôi đều thay đổi, ko chỉ về ăn mặc, điểm có thể phân biệt rõ nhất ở bọn con trai là tóc tai. Có người tóc dài, có người tóc ngắn, nhìn đầu tóc là có thể biết ai dám sống cùng xu hướng chung ở châu Âu lúc đó với tinh thần tự do, phản kháng những khuôn khổ vốn là chuẩn mực của các thế hệ trước. Về ngoại hình, vh đại chúng được phản ánh qua hình tượng của các ban nhạc rock huyền thoại, các nghệ sĩ trình diễn nổi tiếng và những ngôi sao sân cỏ được giới trẻ coi là những biểu tượng của phong cách sống, vừa nghệ sĩ vừa phóng khoáng đã có sức thuyết phục rất mạnh đến giới trẻ, trong đó có chúng tôi. Dần dần, để tóc dài ko chỉ giới hạn ở giới nghệ sĩ và cầu thủ bóng đá hay phong cách của phong trào hippie, mà dần lan rộng ra các tầng lớp khác trong xh, tạo nên một bản sắc của thời đại, đa dạng và cởi mở hơn đối với ngoại hình phái nam.

Nghệ thuật Pop trong kỷ nguyên hippie

Sự chuyển đổi ko chỉ ở vẻ ngoài, những khát vọng thầm kín cũng trỗi dậy rất mạnh và bùng nổ như những trái bom nổ chậm. Có nhiều chuyện tình đã được ghi nhận giữa LHS VN với người Hung, như chuyện của bà "Mô" là mối tình của 1 cô giáo Hung với cậu học trò VN từng được truyền tụng 1 thời. Những câu chuyện mà tôi biết, thường được nghe lại như chuyện cười nhiều hơn chuyện tình. Còn riêng tôi, thì gọi những gì đã qua là chuyện tình cũng ko hẳn, vì mới chỉ ở dạng sơ khai, khó có thể nói đó là tình yêu do ko có sự tiến triển. Nếu tôi ko giữ khoảng cách, để cho tất cả diễn ra một cách bình thường, tự nhiên  thì câu chuyện sẽ đi xa hơn, có nhiều tình tiết hơn chứ ko bị ngắt quãng như thế.

Với HTB và những người khác mà tôi biết là những câu chuyện khác. Đó là những chuyện tình thật sự. Rất sâu đậm. Debrecen là nơi có những chuyện tình với gái Hung rất hay. Trong đó, cả 2 người mà tôi biết đều giữ mối tình của mình cho đến bây giờ, ko hề phai nhạt, chỉ là ko còn như hồi trai trẻ đẹp đẽ thôi. Nhân vật thứ 2 còn gọi cô bạn của mình là "első szerelem". Hồi ở Hung, HTB biết nhiều về cô bạn này hơn tôi, vì tôi chỉ gặp cô ấy sau này khi sang VN cùng chồng để tái ngộ với anh bạn năm xưa. Theo HTB thì cô này là một cô gái trẻ, sống tình cảm và chân thành. Sau khi 2 vợ chồng cô ấy sang VN vài năm, vào năm 2014, khi trở lại Hung, Hoàng tử cũng gặp lại nàng (sau gần 40 năm). Nàng có 2 con một trai một gái, đã có mấy cháu nội ngoại gì đó, rất thích chăm cháu. Riêng chuyến đi gặp Hoàng tử ở Budapest này, nàng nói là một chuyến đi bí mật, không thể cho chồng biết. Hoàng tử hỏi tại sao ko nói, nàng chỉ trả lời đơn giản "Em không thể" (Nem tudok).

Debrecen là 1 tp có cuộc sống rất đặc biệt nói riêng của LHS VN so với những nơi khác. HTB rất yêu ktx sinh viên của mình và gọi nó là "tổ ấm". Ở đây có những chàng trai để tóc dài nhất Hungary. Ở Debrecen có nhiều chuyện có thể gọi là giai thoại thuộc về thời kỳ "cấm đoán" khắc nghiệt của LHS chúng tôi. Trong đó, HTB đã viết về "các chú Sứ", về cách mà các chú ấy quản lý con người ntn qua câu chuyện vh "Muvészetnek is kell legalább egy alsó nadrágja - Nghệ thuật cũng phải có quần đùi".

"Người ta kể nhiều chuyện về các chú Sứ. Bây giờ nghĩ lại chắc có nhiều chuyện sáng tác. Nhưng chuyện sau đây là thật một trăm phần trăm.

Năm thứ nhất, tôi ở cùng phòng với Vinh Còi (Nguyễn Quang Vinh). Anh này là người của quân đội nên tóc tai gọn gàng, nhưng láu lỉnh, mồm mép. Anh không bao giờ tham gia vào vụ cãi nhau về phong cách sống, tóc tai, nhưng diện quần loe đỏ chóe, rất trêu ngươi mắt của các chú. Một hôm, anh Vinh Còi khuân về một bức tranh, giới thiệu là danh họa của Hà Lan hay Ý gì đó. Một bà rõ là đẫy đà ngồn ngộn, nằm tơ hơ, không có một tấc vải. Hồi đó phần lớn chúng tôi chưa có kinh nghiệm gì nên không biết thế nào mà phán. Tuy nhiên theo thẩm mĩ bây giờ nhớ lại thì bà này chắc lười tập thể dục nên hơi phì, đùi bụng nổi lên cả đống. Tuy nhiên, anh Vinh Còi giới thiệu là tranh nghệ thuật, nên bọn tôi đều kính cẩn treo giữa phòng.

    Hôm các chú Sứ xuống, tôi cũng thầm mong các chú vào phòng mình để mang nghệ thuật của nhân loại bẻ các chú một mẻ. Nếu các chú nhịn tinh hoa nhân loại thì khoái không thể tả, nếu các chú phản bác, thì mặc xác các chú đương đầu với nhân loại. Cầu được ước thấy, chú Định được các anh nghiên cứu sinh hoa tiêu xộc vào phòng. Sau khi hỏi han ân cần, chú Định vào phòng thấy ảnh khỏa thân hỏi "Ảnh này ai treo?". Anh Vinh Còi nhận "Cháu treo, nhưng đây là ảnh nghệ thuật.". Mấy anh nghiên cứu sinh ton ton "Bọn em đã nhắc rồi, nhưng bọn nó cứ chống đối đây là văn hóa nghệ thuật". Chú Định lừ mắt không nói gì nhưng chắc ức vì thấy bọn này có chuẩn bị. Ra đến cửa, chúng tôi chỉ nghe bình luận một câu không rõ là của chú Định hay anh nghiên cứu sinh, đầy bất mãn "Nghệ thuật gì thì ít ra cũng phải có quần đùi chứ".

Sau khi nghe tôi kể chuyện này, tên Ánh (Phạm Ngọc Ánh) có vẻ khoái chí. Từ đó mà thành một thành ngữ nổi tiếng "Lột nốt cái quần đùi của nghệ thuật" (ý nói ăn nói thô tục trắng trợn ba gai)."

Hình ảnh: HTB

Dòm ngó cuộc sống sinh viên là việc được giao cho những người có nhiệm vụ quản lý đời sống vật chất và tinh thần của LHS. Có nơi dễ chịu, có nơi hà khắc tùy người. Nhưng Debrecen là vùng xa, ở đây có những sinh viên VN hội tụ những tính cách nổi bật, do được chọn lọc về học lực từ trong nước, nhiều người từ các lớp chuyên toán và hầu hết đều là những học sinh xuất sắc nên chuyện học hành chỉ cần chuyên cần là ổn. Chuyện còn lại là việc ăn ở ntn, có hòa hợp và cân bằng với cuộc sống xung quanh, trong những mối quan hệ xh cởi mở và bình thường, ko phải là cuộc sống tách biệt và bó hẹp chỉ trong cộng đồng VN với nhau, rất lạc lõng.

Sự lạc lõng giữa lòng nước Hung nói riêng và với thế giới bên ngoài nói chung là 1 nhược điểm lớn, là mặt trái của thế hệ LHS chúng tôi. Cấm đoán và siết chặt kỷ luật tới từng đơn vị có sinh viên học tập là điều mà BQL muốn áp đặt chặt chẽ, nhưng cũng làm cho cái nhược điểm này lớn hơn, khiến cho cuộc sống sinh viên lẽ ra phải thoải mái hơn, tốt hơn, và bình thường hơn thì trái lại, càng kỳ cục hơn, nếu nhìn với con mắt của người Hung lúc đó. Tôi từng nghe mấy nữ sinh Hung nói thẳng với mấy cậu trai nhà ta ở építőtábor: "buták vagytok!'' khi mấy cậu này định tán tỉnh họ trong kỳ lao động mùa hè tình nguyện (nhìn các em rất hấp dẫn/ngon ăn vì ra đồng chỉ mặc bikini). Építőtábor là các trại hè do KISZ (Hiệp hội Thanh niên Cộng sản) tổ chức vào những năm 1960, 70 và 80, nơi học sinh trung học và sinh viên đại học tham gia các hoạt động cộng đồng (ví dụ: nông nghiệp, xây dựng, v.v.). Vào năm đầu tiên học trường tiếng, chúng tôi thường tham gia các trại hè này cùng các nữ sinh trung học Hungary. Tôi vẫn nhớ rất rõ về mùa hè đầu tiên này của mình!

Középiskolás lányok a nyári építőtáborban

Hoàng tử cũng ghi lại những kỷ niệm với người yêu của mình. Chuyện tình của HTB tôi đã biết từ khi còn ở bên Hung, nhưng phải đọc những gì tên này viết ra mới biết nhiều hơn sau những gì chỉ nghe hắn nói. Và "Kỷ niệm về rau muối Hungari- Emlékem a magyar libaparéjrol" là 1 trong những câu chuyện này.

"Rau muối là kỷ niệm một thời đi sơ tán của tôi. Vào khoảng từ lớp 4 đến lớp 7, tôi ở Hồng Châu (Hòn Ngọc Hồng), còn gọi là Bãi Tự Nhiên, một hòn đảo nhỏ giữa Sông Hồng nơi các cụ Chử Đồng Tử và Tiên Dung gặp nhau. Bãi Tự Nhiên đẹp tuyệt, mênh mông cát trắng và phù sa. Chúng tôi đi học trong làng bên kia sông, cách bãi một nhánh sông khô về mùa cạn, về mùa nước lại thành một con sông. Cho đến bây giờ, gần 50 năm trôi qua, tôi vẫn nằm mơ thấy mình trở về Bãi Tự Nhiên, mênh mông sóng nước và cát trắng. Trên bãi cát lẫn phù sa, có những vạt khoai lang, các bạn đã chỉ cho tôi những ngọn rau muối.

Một lần mẹ đi dạy về muộn. Đến bữa, tôi chạy ra đồng bãi hái những ngọn rau lang, và cũng hái được một ít rau muối. Tôi thử nấu một nồi canh, nếm thử thấy ngon tuyệt. Từ bữa đó, ở đâu thấy rau muối tôi cũng hái về. Rau muối, lá nhọn như mũi giáo, xanh nhạt, cuống rau có sắc tím, trên mặt lá có một lớp tinh thể trắng, long lanh như muối, có lẽ vì thế mà thành tên. Vì màu xanh nhạt và lá hình mũi giáo, rau muối rất dễ lẫn với rau khúc, một thứ rau, nhỏ thấp hơn, thường để làm bánh khúc, nhưng ăn như là rau thì không có vị gì. Rau muối khá hiếm, nên rất quý và phải mất công mới đủ một nồi rau.

    Tôi nhớ lần đầu tiên tôi đi dạo với Magdi vào lúc xâm xẩm tối. Mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn, nền trời ngả màu tím sẫm. Không khí nguội dần và mát rượi, nhưng vẫn tràn đầy một hương vị gì đó rất ấm áp. Chiều mùa hè Hungari nồng nàn và đẹp tuyệt. Chúng tôi đi giữa đồng bao la. Thỉnh thoảng có những lùm cây phong hoặc bạch dương. Mãi sau này tôi mới biết tên tiếng Việt của cây nyirfa và nyárfa như thế. Thành ngữ tiếng Hung có câu "Sziszeg mint a nyirfa" dịch là "xào xạc như cây phong". Đặc biệt nhất là hương vị của không khí của những chiều mùa hè Hungari không thể nào quên.

     Gió thổi, tóc chúng tôi bay trong gió. Nàng chỉ nói tôi đi theo nàng, tôi cũng không biết sẽ đi đâu. Chưa bao giờ tôi đi dạo riêng với một người con gái nào. Ý nghĩ đó làm tôi lúng túng, mất chủ động, bởi vì không biết phải làm gì và nói gì. Vì thế tôi thành thói quen im lặng mỗi khi đi với Magdi. Cũng không có gì thực sự lãng mạn như tôi tưởng tượng, khi chỉ có một cặp nam nữ một mình giữa đồng bao la như vậy, không hề nắm tay hay khoác vai gì. Tôi cũng thấy hơi kỳ quái, có vẻ thiếu khí phách nam nhi và có thể ảnh hưởng tới quốc thể.

Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy rau muối. Cơ man là rau muối, mọc trùng trùng điệp điệp. Rau muối Hungari mọc dày, cây cao lá mơn mởn, trông rất ngon lành. Kỷ niệm về Hồng Châu, về mẹ và em gái tôi và những buổi chiều hè sơ tán chợt tràn về. Tôi quỳ xuống vuốt ve những ngọn rau muối thân thương của thời thơ ấu. Tôi hỏi Magdi "Em có biết cây gì đây không". Tôi muốn kể cho nàng nghe về thời sơ tán, bãi cát phù sa và những bát canh đơn sơ mà tôi nấu từ cây rau nhặt ngoài đồng này. Magdi như đang theo đuổi một ý nghĩ riêng nào đó của mình, lơ đãng đáp "Em không biết. Thường gọi là cỏ thôi." Tôi thầm nghĩ, có lẽ có những điều tôi sẽ không bao giờ chia sẻ được với nàng.

Trên đường về, chúng tôi ghé vào một trại nuôi ngựa. Magdi nói chuyện rất sôi nổi với một ông già nuôi ngựa (có lẽ không già lắm, nhưng đối với tôi thời đó là già). Ông ta say mê nhìn nàng, dạy nàng cách cưỡi ngựa, và dắt hẳn một con ngựa lực lưỡng để nàng cưỡi. Nàng cười khanh khách, vui vẻ. Ông già lăng xăng dắt ngựa. Sau đó ông ta cao hứng lôi một vò rượu ra mời chúng tôi uống. Rượu lê Hungari, rất mạnh và thơm ngát, làm chúng tôi thấy nóng rực và vui vẻ. Trên đường về, tôi nói với Magdi "Ông già này có những phong cách trẻ trung." Magdi ranh mãnh cười "Ông ấy đang yêu mà."   
Tôi lại chìm trong suy nghĩ về rau muối, không nhớ là đã chia tay như thế nào với nàng.

Cũng lạ là sau đó, suốt thời gian ở Hungari, tôi không bao giờ thử ăn rau muối Hungari. Mặc dù, tôi, Khánh và Bình "to" nhiều lần vào thung lũng lạnh hái nấm về ăn, nấu đủ món. Mãi sau này khi sang Nga, tôi mới hái rau muối dọc triền sông Volga về nấu ăn, rất ngon. Rau muối ở Nga cũng mọc dày đặc như ở Hung. Đó là thời Andropov cầm quyền, kinh tế Liên Xô bắt đầu có dấu hiệu đi xuống, trong các cửa hàng không có bất cứ loại rau gì. Khi đi hái rau muối về, gặp mấy cô gái Nga, các cô hỏi các anh hái về làm gì, tôi nói là cho thỏ ăn, các cô thật thà xúm vào hái giúp.

    Tôi chưa bao giờ biết người Hung và người Nga biết ăn rau muối. Nhưng tra cứu một lúc thì thấy không phải vậy. Người Hung vốn có biết ăn rau muối mà còn biết dược tính của nó. Tên tiếng Hung là rau chân ngỗng, cùng họ với paraj, paréj, spenót,... tiếng Việt Nam có thể là rau dền, rau chân vịt. Nhưng có lẽ đời sống hiện đại làm họ quên mất món rau này.

    Tôi rất tiến cử cho các bạn, đặc biệt là các bạn đang ở Hungari, nên thử món rau này. Rất ngon và rất đặc sắc, hơn rất nhiều loại rau mà chúng ta thường ăn. Chính vì loại rau này không bao giờ bày bán ở cửa hàng, nên biết được hương vị của nó là một món quà trời cho, không nên bỏ lỡ cơ hội, nếu có dịp được thưởng thức."

Rau muối. Hình ảnh: HTB

Một chuyện tình vượt lên tất cả là câu chuyện động trời với những trắc trở và thậm chí trở thành bi kịch giữa cô gái Hung Sáli Judit và anh Lê Mỹ Thành - mà kết quả là sự ra đời của chàng trai mang hai dòng máu Việt - Hung Lê Mỹ Benkő Attila, 1 gương mặt quen biết từng tham gia nhiều hoạt động của cộng đồng VN tại Hungary -  là câu chuyện tình xuyên biên giới, từng vượt mọi ràng buộc, cấm đoán ở thời của chúng tôi.

Năm Judit 15 tuổi, bạn gái của Judit rủ cô tới bệnh viện thăm một người bạn gái VN đang điều trị tại đó. Vốn rất thương Ánh (tên cô bạn VN) là người Hà Nội, sang Budapest học và bị chứng động kinh nên trong thời gian Ánh nằm viện, 2 cô thường xuyên tới thăm Ánh và Judit đã kết bạn với cô.

Sáli Judit (Ảnh của nhân vật)

Sau khi ra Ánh ra viện, Judit cùng cô bạn gái cũng hay đến ktx của trường Bánki Donát, nơi Ánh ở. Ở đó, cô đã làm quen được với nhiều bạn (cả nam và nữ) người Việt. Họ kể nhiều cho cô nghe về VN, khi ấy đang có chiến tranh.

Judit học được một điệu múa VN và cũng mò mẫm học tiếng Việt. Rồi cô học đan và cô còn nhớ, các cô gái VN luôn đan áo len. Họ còn để tóc dài và búi lên, và vì tóc cô cũng dài, cô cũng bắt chước họ búi tóc...

Một lần, Judit tham dự buổi chiếu phim ở ktx. Các học sinh ở các nơi khác cũng đến xem, trong đó có anh Thành. Phim có nội dung về đề tài chiến tranh, khi thấy nhiều lần Judit bật khóc, anh Thành đã để ý đến cô và đến chỗ cô ngồi. Hai người bắt đầu trò chuyện và tình yêu đã đến từ cái nhìn đầu tiên. Lúc đó là cuối năm 1968.

Sáli Judit và anh Thành, năm 1970 (Ảnh của nhân vật)

Mối tình của Judit bắt đầu từ những tiếp xúc với các bạn VN. Cô nói đã học được từ các bạn VN nhiều thứ và biết nhiều hơn về cuộc chiến tranh, về những đau khổ mà VN phải chịu trong chiến tranh. Vì thế, cô thấy tình yêu của cô với một chàng trai VN là rất bình thường, ko có gì khó hiểu.
Theo cô, cả hai người đều cảm thấy yêu nhau từ ban đầu, và sau đó, khi đã trò chuyện nhiều với nhau, về gia đình, cuộc sống của nhau, về những dự định chung...

Tuy nhiên, họ phải hoàn toàn giấu kín tình cảm của mình vì thời ấy, ngay các sinh viên VN học tập tại Hungary cũng bị cấm yêu đương, nói gì đến chuyện yêu một người Hung! Thời gian trôi đi, tình yêu của họ càng lớn dần, càng ngày 2 người càng cảm thấy muốn sống trọn đời với nhau.

Judit biết trong hoàn cảnh chiến tranh ở VN, điều này là ko thể, nhưng lại nghe ai đấy nói rằng ở LX lúc đó, có một chàng trai VN yêu một cô gái Xô-viết và khi cô gái có thai, họ đã được phép thành hôn với nhau...

Vì vậy, Judit mới bàn với anh Thành rằng: chờ đến khi cô tròn 18 tuổi, 2 người sẽ có một đứa con và Đại sứ quán (ĐSQ) VN sẽ phải cho phép kết hôn. Anh Thành cũng còn hai năm cho đến ngày tốt nghiệp. Nhưng vì sợ mối quan hệ giữa hai người bị bại lộ và anh ấy sẽ phải về nước, do đó cả hai quyết định sẽ có con sớm hơn, rồi cả anh Thành và cô đều sẽ tốt nghiệp.

Khi Judit có thai, 2 người đã đến Bộ Tư pháp Hungary và ĐSQ Việt Nam để xin được kết hôn.
Tại Bộ Tư pháp, có một phòng có thể cấp phép “miễn trừ” trong những vụ như thế (mà để được cấp phép như vậy, đúng ra cũng cần sự chấp thuận của nước kia). Bộ nói rằng sẽ cấp giấy cho phép anh Thành được cưới cô gái làm vợ. Rồi họ qua ĐSQ VN, ở đấy mọi người cũng gật gù, bảo sẽ xét và giúp, v.v...

Rất hạnh phúc, anh Thành về ktx còn Judit về với gia đình. Bộ còn nói rằng họ sẽ nhận được giấy phép qua đường bưu điện sau 2-3 ngày. Cha mẹ của Judit cũng mừng rỡ vì thời đó, việc có cô con gái có thai khi chưa làm lễ thành hôn là một nỗi hổ thẹn, nhưng rốt cục ông bà cũng hiểu rằng, cô yêu anh Thành.
Ngày 27-1-1972, lúc 4 giờ chiều, Judit chờ anh Thành mãi mà ko thấy (bao giờ anh cũng xuống chiếc xe buýt số 84 – anh đi đến chỗ hẹn với cô bằng xe này – vào đúng lúc 16 giờ). Hết chuyến này đến chuyến buýt khác, cô vẫn ko thấy anh đâu cả! Bảy giờ tối, cô điện thoại về ktx nơi anh ở, nhưng người thường trực nói rằng: có một thanh niên VN đã bị đưa về nước.

Tối hôm đó, cô đến ktx của anh (Quận XI, phố Hengermalom) - người Hung ko được vào ktx nhưng Judit đã đẩy ông thường trực cố ngăn cản cô để chạy lên phòng anh Thành. (Chưa bao giờ cô vào đây, nhưng theo lời Thành kể, Judit biết anh ở tầng mấy, phòng số mấy). Khi vào phòng, cô gặp mấy người bạn của anh, họ biết chuyện và nói rằng, người của ĐSQ đến đưa Thành đi vào ban đêm và anh đã bị về nước rồi...

Khi đó, Judit đang có thai được 7 tháng...

Những năm sau đó, cô gái đã làm hết khả năng của mình để anh Thành có thể quay trở lại. Một trong những nỗ lực này là lần gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Tháng 6-1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Hungary. Judit được biết tin này qua các sinh viên VN. Ngày hôm đó, tiết trời rất nóng nực, nàng chuẩn bị đồ ăn, uống ở nhà và bế con trai nhỏ ra sân bay Ferihegy (Budapest). Trước đám đông là một hàng rào cảnh sát. Judit bế Attila đứng xếp hàng đằng sau toán cảnh sát và đợi dịp để có thể lách qua hàng rào cảnh sát chạy đến chỗ thủ tướng khi ông vừa xuống máy bay.

Ko sớm cũng không muộn, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất hiện ở cửa máy bay, tất cả mọi người chỉ đứng nhìn ông và nàng chờ đợi khoảnh khắc đó. Vẫn ôm Attila trên tay, nàng lách qua hàng rào và chạy đến chỗ Thủ tướng.

Thời khắc đầy hy vọng

Các vị nguyên thủ quốc gia Hungary cũng đều ở đấy, rồi ĐSQ VN, v.v..., nhưng Judit là người đầu tiên chạm vào người Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nàng liến thoắng bằng tiếng Việt và kể cho ông nghe về câu chuyện của nàng. Mọi người xung quanh, kể cả các cảnh sát đều sững sờ và ko ai nói được câu gì! Chuyện xảy ra là như thế...

Nhưng về sau, còn có các vị khách cấp cao đến từ VN, Judit nhớ ko chính xác lắm, nhưng hình như là Chánh án TAND Tối cao VN sang Hungary. Khi ấy nàng cũng lọt vào khách sạn, một mình, vào buổi tối, khi mọi người đang chuẩn bị ăn tối.

Lúc đó, một chàng trai VN đã giúp nàng, anh ta cho nàng biết phải vào chỗ nào trong khách sạn và để ngỏ cửa ra vào phía sau, v.v... Thế là nàng đã vào, đúng lúc các quan chức thuộc tòa án Hungary và VN đang dùng bữa tối, và lại kể lể mọi chuyện bằng tiếng Việt.

Về tư cách cá nhân, có thể các vị quan chức này đều muốn giúp nàng, để nàng, anh Thành và cháu Attila được đoàn tụ, nhưng rồi ở ĐSQ VN và trên Bộ Tư pháp Hungary người ta cũng nói mỗi nơi một khác, trong gia đình thì cha mẹ của Judit ko còn tin vào điều gì nữa...

Thời gian 1972-1974, cả 2 người đã “chiến đấu” rất nhiều vì nhau. Judit phải chịu đựng nhiều vì cha mẹ tôi cảm thấy hổ thẹn khi con gái mình có con với một người Việt - đối với các cụ, đây là một nỗi đau thật sự. Còn với nàng, cũng ko hẳn chỉ vì thế, mà điều đau khổ nhất là chỉ còn lại một mình.

Trên Bộ, người ta nói rằng: nàng hãy lấy chồng đi vì sẽ ko bao giờ còn gặp lại được anh Thành! Judit ko hề biết ĐSQ VN cũng đã tổ chức cho nàng và anh Thành đoàn tụ, nhưng khi đó đã muộn vì tháng 9-1974 tôi lấy chồng và chỉ sau đó tôi mới hay rằng Thành lẽ ra cũng đã có thể được nhận hộ chiếu để sang lại Hungary.

Sau khi anh Thành phải về nước năm 1972 và đến năm 1993, 2 người mới gặp lại nhau lần đầu ở VN - lúc đó, nàng mới kể cho Attila biết bố của cháu là ai. Khi gặp lại anh Thành, Judit cho biết: "những cảm xúc trong chúng tôi lại trỗi dậy, chúng tôi đã bàn tính hay cả hai đều ly dị để đến lại được với nhau, nhưng khi trở về Budapest, nhìn các con sau của tôi, tôi đã nghĩ khác..."

Nàng bộc lộ: "Chúng tôi tâm sự về quá khứ, về gia đình đôi bên, và luôn cảm thấy ngạc nhiên vì thế giới hiện tại mà chúng tôi đang sống, khi những mối quan hệ tình cảm Việt - Hung có thể tồn tại hoàn toàn hợp pháp. Thập niên 60-70 thế kỷ trước, điều này còn là một trọng tội, cuộc đời bao người đã tan tành vì thế...

Chúng tôi đã có gia đình, đã sống cuộc sống riêng, đã có những tập quán được hình thành, nên việc Thành trở lại Hungary - dù chỉ để thăm tôi - cũng không hay. Giờ đây, tất cả chỉ còn là một nỗi đau muôn đời, tấn thảm kịch trong đời tôi, nhưng cháu Attila là quan trọng hơn cả, làm sao để cháu tìm được hạnh phúc và công việc phù hợp. Tôi hy vọng và mong muốn rằng anh Thành cũng nghĩ như thế."

Giá mà tôi có thể kể hết tất cả chuyện tình của LHS chúng tôi, bởi tuổi trẻ thì khó sống nếu ko yêu, vì thế mà tôi cho rằng: trong chúng tôi, ai cũng phải có 1 khúc nào đó trong đời tương tư vì tình. Đa tình như HTB thì có nhiều khúc và nhiều khoảnh khắc ko thể quên hơn. Ngay cả chuyện của mình, tôi đã kể rồi, nhưng cái kết là khúc cần có lại thiếu nên tốt nhất là ko nên nêu trở lại ở đây. Vì vậy, tôi muốn tiếp tục phần này với 1 câu chuyện khác, là chuyện yêu đương giữa sinh viên VN với nhau mà tác giả đã rất cân nhắc trước khi kể với tựa đề "Chuyện tình sinh viên".

"Khi mới sang năm ngoại ngữ, tôi là cô bé nhà quê, khờ khạo, nhan sắc lại không bắt mắt (riêng độ “không bắt mắt” thì vẫn ổn định đến bây giờ 😄). Nên tôi không có nhiều bạn trai đến kết bạn làm quen như những bạn gái khác. Nhưng không hiểu sao lên năm thứ nhất cũng có một anh năm trên “thích” tôi. Có lẽ “kinh nghiệm tình trường” của anh cũng không nhiều nên anh đã chọn “liệu pháp” không phù hợp với một đứa khờ như tôi, nghĩa là đi kèm với viết thư và đón đường anh còn vào tận phòng ở để tìm. Tôi “yếu”, “gió” lại mạnh nên tôi sợ và lẩn như chạch, không cho anh cơ hội gặp mặt. Cho đến một hôm, sau giờ học cuối, trời tối và lạnh, vừa ra khỏi lớp một đoạn, đột nhiên thấy anh xuất hiện từ sau cái cột, tôi không thể tránh mặt. Anh đứng im không nói gì và đột ngột tung một cú đá rất đẹp, đúng chuẩn con nhà võ về phía tôi (tất nhiên là đá gió), rồi vẫn không nói gì, anh bỏ đi. Cô bạn đi cùng khóc rưng rức, còn tôi thì ngây ra vì ngạc nhiên. Nhưng tôi hiểu, tôi không còn phải sợ anh nữa. Và đúng vậy, từ đó trở đi tôi không bao giờ nhìn thấy anh trên con đường của mình (trên cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng).
Hơn 45 năm sau, một hôm tôi nhận được điện thoại “ alo, anh tên là..., em có còn nhớ anh không?” Dạ, em có nhớ”...thế rồi anh nói chuyện, hỏi thăm cuộc sống của tôi và nói lời xin lỗi tôi về hành động của mình lúc trước. Anh nói anh không hiểu sao lúc đó lại làm vậy. Bây giờ hết khờ rồi nên tôi cũng nói chuyện rôm rả và còn hẹn anh nếu có dịp vào SG thì báo để anh em đi uống cafe...Vài tháng sau tôi nhận được tin anh đã mất do bệnh. Lúc đó tôi mới hiểu: nói lời xin lỗi tôi là một trong những việc mà anh quyết định phải làm trước lúc đi xa mãi. Có lẽ bây giờ trên trời cao linh hồn anh đã hoàn toàn bình an và tự do 🙏❤️ 💐(bởi chỉ một vướng mắc xa xưa và nhỏ xíu vậy mà anh cũng không cho phép mình bỏ qua trước lúc từ giã cuộc đời).

( p/s hôm bữa nghe một bạn trai (bây giờ là lão “trai”) kể rằng: ngày trước có lần giận một bạn gái mà đã dại dột bỏ nắm tuyết vào cổ áo bạn. Tôi hỏi “ đã xin lỗi bạn chưa?”- “rồi”. Vậy mà khuôn mặt “lão nam” vẫn còn đầy vẻ ăn năn, hối hận. Nói thật, đàn ông của thế hệ mình sao đáng yêu quá vậy, rất chân thật và tự trọng ).
Sắp đến ngày 22/9 họp mặt hội Hung, chúc mọi người gặp nhau thật vui vẻ và ấm áp 🍷🍷🍷...❤️❤️❤️...
“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Cuộc đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời...”( thơ Tôn Nữ Hỷ Khương)

Hồ Bích Đào (FB-Hội Hữu nghị Việt-Hung)

Chuyện tình thời chúng tôi là thế đấy. Có thể rất ngây ngô, chẳng đâu vào đâu, hoặc lâm ly bi đát như chuyện của Sáli Judit hay chân tình đẹp đẽ có hậu như mối tình của những chàng trai Debrecen, ... dù thế nào, hồi ấy vẫn khó có được 1 cái kết đẹp nhất mà ai cũng mong muốn, nhưng lại là điều khó vượt qua, cho dù rằng YÊU là điều có thể biến đổi con người trở thành siêu nhân với khả năng phi thường vượt cả núi cao sông biển để đến với nhau, bất chấp tất cả!

Để kết thúc cho phần 6 đầy hỷ nộ ái ố này, tôi trở lại những ngày đầu ở trường tiếng, cũng như HTB với những cảm xúc ban đầu về lányok, nhưng là ở thời điểm khác và với cảm nghĩ tự nhiên hơn.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm: nếu viết lại cái thời "ngây ngô" của mình, tôi ko thể viết được như Ái Việt và bạn bè của mình, những người đã làm được những gì phải làm với trách nhiệm/bổn phận khi phải hy sinh nhiều thời gian và ham muốn vì chúng. Tôi ko có được "tư cách" của họ, nếu có thì chỉ với tư cách là bạn của họ mà thôi, ko phải của một "lưu học sinh" mà của một kẻ "đồng hành" lêu lổng, vì thế phải gọi những gì nếu được viết của tôi là "Ký sự đi Hung" mới đúng.

Trong ký sự này của tôi, có một ngày đáng nhớ khi tôi tự thấy mình là kẻ lẻ loi/lạc lõng. Đó là ngày hội quốc tế dành cho học sinh ở NEI. Đó là 1 buổi tối rất văn hóa, vui vẻ. Càng về cuối ko khí càng tưng bừng, trẻ trung. Sau những lời phát biểu và chương trình văn nghệ với nhiều tiết mục do học sinh của các nước tham gia (Nếu tôi nhớ đúng thì Đỗ Bá Khang, sau này học toán ở ELTE, đã hát bài "Nhạc rừng") là chương trình tánczene do một ban nhạc được nhà trường mời đến biểu diễn. Hội trường được thiết kế với một phần sàn bằng phẳng phía trước sân khấu lập tức được dọn hết các hàng ghế ngồi để trở thành một sàn nhảy. Tây trắng, Tây đen, trai gái Nam Mỹ đều có đôi có cặp, chỉ mình tôi lẻ loi giữa đêm hội giương mắt dỏng tai nghe nhìn (tôi không biết đêm ấy có ai là học sinh VN tham dự cho đến cuối chương trình không?). Đó là lần đầu tiên tôi được nghe trực tiếp bài "Beautiful Sunday" do một ban nhạc trình diễn. Tuy không uống rượu nhưng tôi cảm thấy rất phấn khích cho tới bài hát điệu nhảy cuối cùng, nhưng cũng chỉ đứng một chỗ để élvez/enjoy chứ không hề nhún nhảy bày tỏ cảm hứng theo nhạc một chút nào. Bây giờ thì tôi chỉ ước là đêm ấy ở bên mình là em Bình Dương (tạm "tuyển"/mượn từ những gì Ái Việt mô tả ở bài Tàu liên vận 1) cũng đồng cảm như tôi thì tôi đã không trơ trọi vô duyên như thế (nhưng đấy cũng là chuyện bây giờ mới nói, chứ lúc đấy thì chắc là chưa đủ "tư cách" để bước ra sàn nhảy đâu). 

Về chuyện "nhảy nhót", trình độ của tôi trên sàn nhảy đến nay cũng chẳng có gì tiến triển vượt bậc so với hồi trại hè/építőtábor năm đầu tiên ở Baja. Thú thực một điều là: cho tới nay, ngoài khả năng "tự biên tự diễn" khua khoắng loạn xạ thì khiếm khuyết đáng chê của 1 thằng mê chuộng Tây phương như tôi là ko biết nhảy cho đúng điệu một kiểu thức nào, từ nhạc van/waltz cho đến tango, cha cha cha... đều mù tịt nên quả tình, thật là một thiếu sót quá lớn! Tại sao mình lại ko biết nhảy nhỉ?

Từ đây mới thấy, nhẽ ra, hồi đó LHS chúng ta phải bớt đá bóng để nhảy nhiều hơn, giỏi hơn mới phải. Cù lần quá thì làm sao có thể hòa nhập thoải mái với người Hung, với Magyar lányok được, chưa kể đến nỗi niềm của HTB bày tỏ về những cô gái đến từ những nước khác. Tình yêu ko chỉ bắt đầu bằng đôi mắt, hương vị còn có thể gia tăng theo cảm xúc và thời gian bên nhau. Có nhiều cách để bày tỏ, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó âm nhạc và những ngôn ngữ của hình thể cũng nói lên rất nhiều. Đó cũng là 1 chuyện đáng nói thêm về những khiếm khuyết và hạn chế của LHS chúng tôi. Bởi ko phải ai cũng có những mối tình đẹp với Magyar lányok như tôi đã nêu ở trên. Câu chuyện vẫn là về chúng ta, về tất cả những gì thuộc về quan niệm của 1 cuộc sống đích thực, là tự do để sống với đúng bản chất tự nhiên của mình, của 1 người bình thường/normal, nhưng ko hề tẻ nhạt và vô vị.

(còn nữa)

Sunday, September 27, 2026

Sống tốt hơn với thời gian

TA ĐANG DÙNG NHỮNG NĂM THÁNG CỦA MÌNH ĐỂ ĐỔI LẤY ĐIỀU GÌ?

Ta thường tính rất kỹ thứ mình muốn đạt được, nhưng ít khi tính xem mình đang dùng bao nhiêu thời gian, sức lực và những điều quan trọng khác của đời mình để có được nó.

Từ rất lâu, con người đã phải đối diện với một giới hạn mà không một nền văn minh nào có thể xóa bỏ: mỗi người chỉ có một khoảng thời gian hữu hạn để sống, lựa chọn và theo đuổi những điều mình cho là đáng giá.

Các triết gia có thể khác nhau về cách sống tốt, các xã hội có thể khác nhau về điều họ coi trọng, nhưng đời sống của một con người vẫn luôn diễn ra trong cùng một điều kiện: chọn điều này đồng nghĩa với việc dành ít thời gian hơn cho một điều khác.

Ta có thể dành những năm tháng đẹp nhất cho việc học tập, xây dựng sự nghiệp, chăm sóc gia đình, theo đuổi quyền lực, tích lũy tài sản, phục vụ một lý tưởng hoặc đơn giản là tìm kiếm một cuộc sống bình yên. Mỗi lựa chọn đều tạo ra một con đường, đồng thời khép lại những con đường khác.

Điều đáng nói là khi đứng trước một lựa chọn, ta thường nhìn rất rõ thứ mình muốn có được. Một công việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, một vị trí đáng nể hơn, một doanh nghiệp do chính mình xây dựng. Những mục tiêu ấy hoàn toàn có thể chính đáng và trong nhiều trường hợp thực sự làm cuộc sống tốt hơn.

Nhưng phần phải bỏ ra thường ít được tính đến.

Ta biết mình muốn kiếm thêm bao nhiêu tiền, nhưng chưa chắc đã tính số giờ làm việc cần thêm. Muốn tiến xa hơn trong sự nghiệp, nhưng có thể chưa hình dung hết những trách nhiệm và áp lực đi cùng. Muốn một cuộc sống tốt hơn, nhưng đôi khi lại không dừng lại xem cách mình đang sống để đạt được nó có còn phù hợp với cuộc sống mình mong muốn hay không.

Kinh tế học gọi một phần của vấn đề này là chi phí cơ hội: khi chọn một phương án, ta đồng thời từ bỏ những lợi ích có thể đến từ phương án khác.

Trong đời sống, chi phí ấy đôi khi không được tính bằng tiền.

Nó có thể là một buổi tối bên gia đình, một khoảng thời gian nghỉ ngơi, một mối quan hệ được chăm sóc, một cơ hội khác đã đi qua, hay đơn giản là vài năm tháng của tuổi trẻ mà sau này không thể lấy lại.

* Cái giá của một lựa chọn thường nằm ngoài thứ ta nhận được

Khi còn trẻ, con người thường nghĩ về tương lai bằng những gì mình sẽ có.

Một công việc tốt hơn. Một căn nhà rộng hơn. Một khoản tiền lớn hơn. Một vị trí cao hơn. Một doanh nghiệp thành công hơn.

Những thứ ấy dễ nhìn thấy và dễ đo lường. Vì vậy, chúng cũng dễ trở thành mục tiêu.

Nhưng một lựa chọn trong đời luôn có hai mặt. Đằng sau một thứ đạt được thường là một phần thời gian, sức lực hoặc cơ hội đã được dành cho nó.

Một người làm việc thêm nhiều giờ có thể kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng đồng thời có ít thời gian hơn cho gia đình và nghỉ ngơi. Một người dành nhiều năm để xây dựng sự nghiệp có thể đạt được vị trí mà mình mong muốn, nhưng cũng có thể bỏ lỡ những trải nghiệm mà ở một độ tuổi khác không còn dễ dàng có lại.

Điều đó không có nghĩa rằng làm việc nhiều, kiếm tiền hay theo đuổi thành công là sai. Vấn đề nằm ở chỗ ta có biết mình đang trao đổi điều gì để lấy điều mình muốn hay không.

Bởi có những cuộc trao đổi rất hợp lý khi ta còn trẻ nhưng trở nên đắt đỏ khi nhìn lại ở một giai đoạn khác của cuộc đời.

* Con người rất dễ quen với những gì mình từng ao ước

Có một điều đặc biệt trong tâm lý con người: khi đạt được một thứ từng khiến mình rất hài lòng, cảm giác ấy thường không kéo dài mãi.

Một mức thu nhập từng khiến ta thấy dư dả có thể trở thành mức thu nhập “bình thường”. Một căn nhà từng là giấc mơ có thể sau vài năm trở thành thứ ta quen thuộc. Một vị trí từng khiến ta tự hào có thể dần trở thành áp lực phải giữ lấy.

Rồi một mục tiêu mới xuất hiện.

Thu nhập cao hơn. Nhà lớn hơn. Xe tốt hơn. Vị trí cao hơn. Công việc có nhiều quyền lực hơn.

Điều này có một mặt tích cực: con người luôn có động lực để tiến lên. Nhưng nếu không để ý, ta rất dễ rơi vào một vòng lặp trong đó mức sống tăng lên cùng với mức kỳ vọng, còn cảm giác đủ đầy thì không tăng tương ứng.

Khi ấy, điều nguy hiểm không nằm ở việc muốn có nhiều hơn. Nó nằm ở chỗ ta có thể dành thêm rất nhiều năm tháng để duy trì một cuộc sống mà chính mình đã không còn biết rõ vì sao phải tiếp tục theo đuổi.

Thành công cũng có chi phí duy trì.

Một công việc càng cao cấp thường đòi hỏi nhiều trách nhiệm hơn. Một doanh nghiệp lớn hơn cần nhiều thời gian quản lý hơn. Một tài sản lớn hơn kéo theo nhiều nghĩa vụ hơn. Một vị trí cao hơn thường đi cùng với áp lực và sự kỳ vọng lớn hơn.

Thứ ta đạt được hôm nay đôi khi trở thành thứ buộc ta phải tiếp tục hy sinh ngày mai.

* Những thứ mất đi không phải lúc nào cũng mua lại được

Tiền có thể kiếm lại.

Một công việc có thể tìm lại. Một doanh nghiệp có thể xây dựng lại. Một cơ hội nghề nghiệp đôi khi vẫn có thể xuất hiện lần thứ hai.

Nhưng thời gian thì khác.

Một đứa trẻ chỉ có một lần đi qua tuổi thơ. Cha mẹ không trẻ lại. Sức khỏe của một giai đoạn trong đời không phải lúc nào cũng có thể phục hồi nguyên vẹn. Một mối quan hệ nếu bị bỏ mặc quá lâu có thể không còn nguyên như trước.

Đây là phần chi phí mà những phép tính thông thường rất dễ bỏ qua.

Ta thường hỏi: Nếu làm việc này, tôi sẽ được bao nhiêu?

Nhưng ít khi ta hỏi thêm: Tôi sẽ không còn thời gian cho điều gì?

Hai câu hỏi này có giá trị ngang nhau.

Một lựa chọn có thể đem lại nhiều tiền nhưng lấy đi quá nhiều thời gian. Một công việc có thể đem lại địa vị nhưng khiến đời sống trở nên kiệt quệ. Một mục tiêu có thể rất đáng giá nhưng phương thức để đạt tới nó lại khiến những điều khác trong cuộc sống bị bào mòn.

Không phải mọi sự hy sinh đều đáng tiếc. Có những thứ rất đáng để đánh đổi.

Vấn đề là hy sinh cần có chủ đích.

Nếu ta biết mình đang bỏ lại một vài năm tuổi trẻ để xây dựng một nền tảng tài chính vững chắc cho gia đình, đó là một lựa chọn có ý thức. Nếu ta chấp nhận làm việc nhiều hơn trong một giai đoạn để học nghề, tích lũy kinh nghiệm hoặc xây dựng một dự án quan trọng, sự đánh đổi ấy có thể hoàn toàn hợp lý.

Nhưng nếu cứ chạy theo một mục tiêu vì tất cả mọi người xung quanh cũng đang chạy, đến một lúc nào đó ta có thể nhận ra mình đã trả một cái giá rất lớn cho một thứ mà bản thân chưa từng thực sự lựa chọn.

* Mạng xã hội khiến chúng ta nhìn thấy kết quả, nhưng hiếm khi nhìn thấy chi phí

Một trong những điều làm việc tính toán này trở nên khó hơn là cách đời sống hiện đại trình bày thành công.

Ta nhìn thấy một người có căn nhà đẹp, nhưng không nhìn thấy hàng chục năm họ đã làm việc như thế nào để trả khoản vay.

Ta nhìn thấy một doanh nhân thành công, nhưng không nhìn thấy những năm tháng thất bại, áp lực và những mối quan hệ có thể đã bị ảnh hưởng.

Ta nhìn thấy một người có sự nghiệp đáng nể, nhưng không biết họ đã dành bao nhiêu buổi tối, cuối tuần và những khoảng thời gian đáng lẽ thuộc về gia đình cho công việc.

Mạng xã hội đặc biệt giỏi trong việc trình bày thành quả, nhưng không thể hiện đầy đủ chi phí.

Vì vậy, việc so sánh cuộc sống của mình với hình ảnh của người khác rất dễ tạo ra một ảo tưởng: ta nhìn thấy thứ họ có và tưởng rằng mình chỉ cần đạt được thứ đó thì sẽ có được cuộc sống giống họ.

Trong thực tế, mỗi người đang thực hiện một cuộc trao đổi khác nhau.

Có người đổi thời gian lấy tiền. Có người đổi sự ổn định lấy cơ hội. Có người đổi thu nhập cao lấy sự tự do. Có người chấp nhận sống đơn giản để có nhiều thời gian hơn cho gia đình.

Không có một công thức duy nhất cho một cuộc đời đáng sống.

Điều quan trọng hơn là biết mình đang trả giá cho điều gì.

* Sống tốt hơn không nhất thiết đồng nghĩa với có nhiều hơn

Có một thời điểm trong đời, câu hỏi “Làm thế nào để có nhiều hơn?” có thể là câu hỏi rất cần thiết.

Nhưng đến một lúc khác, có lẽ ta cần thêm một câu hỏi nữa: Nhiều hơn để làm gì?

Nếu thu nhập tăng nhưng thời gian dành cho người thân giảm mạnh, đó là một sự đánh đổi.

Nếu tài sản tăng nhưng nợ nần và áp lực cũng tăng, đó cũng là một sự đánh đổi.

Nếu địa vị tăng nhưng quyền tự quyết đối với cuộc sống giảm xuống, ta cũng đang trả một cái giá.

Những điều này không tự động khiến lựa chọn đó trở thành sai. Chúng chỉ cho thấy rằng một cuộc sống tốt không thể được đo bằng một biến số duy nhất.

Tiền quan trọng. Sự nghiệp quan trọng. Thành tựu quan trọng. Nhưng thời gian, sức khỏe, các mối quan hệ, sự bình yên và quyền quyết định cách mình sống cũng có giá trị.

Có lẽ trưởng thành một phần là học cách nhìn thấy cả hai phía của một lựa chọn: thứ mình nhận được và thứ mình phải bỏ lại.

* Có những mục tiêu rất đáng theo đuổi, nhưng không đáng theo đuổi bằng mọi giá

Ta vẫn cần những mục tiêu.

Một người không thể sống mãi trong trạng thái chỉ muốn giữ nguyên hiện tại. Học tập, lao động, kiếm tiền, xây dựng sự nghiệp, chăm sóc gia đình và tạo ra những giá trị mới đều là những phần quan trọng của đời sống.

Điều cần thay đổi có lẽ không phải là tham vọng, mà là cách ta kiểm tra tham vọng của mình.

Thỉnh thoảng nên dừng lại và hỏi:

Mình đang cố gắng đạt được điều gì?

Mình cần bao nhiêu thời gian để đạt được nó?

Trong khoảng thời gian ấy, mình sẽ phải từ bỏ hoặc giảm bớt điều gì?

Cái giá đó có phù hợp với điều mình thực sự coi trọng không?

Và quan trọng nhất: nếu một ngày đạt được mục tiêu, cuộc sống của mình có thực sự trở nên gần hơn với điều mình mong muốn?

Bởi đôi khi con người dành quá nhiều năm để đi tới một đích đến mà họ chưa từng kiểm tra lại.

Đến khi tới nơi, họ mới nhận ra mình đã trở thành một con người khác với người từng bắt đầu hành trình.

* Những năm tháng của mình đang đi về đâu?

Cuộc đời không cho chúng ta một bảng giá rõ ràng.

Không có con số nào cho biết một buổi tối bên con đáng giá bao nhiêu, một năm sức khỏe tốt đáng giá bao nhiêu, hay một khoảng thời gian được sống theo cách mình muốn có giá trị thế nào.

Vì vậy, rất dễ để ta đem những thứ có thể đo được ra thay thế cho những thứ khó đo.

Ta đếm tiền. Đếm tài sản. Đếm chức danh. Đếm thành tích.

Nhưng thời gian vẫn âm thầm trôi qua.

Mỗi ngày ta dành cho một việc cũng là một ngày không thể dành nguyên vẹn cho một việc khác. Mỗi lựa chọn đều góp phần tạo nên con người mà ta sẽ trở thành sau nhiều năm.

Có thể điều đáng quan tâm nhất không phải là cuối cùng ta sở hữu được bao nhiêu, mà là khi nhìn lại quãng đường đã đi qua, ta có thấy những năm tháng của mình đã được dùng cho những điều mà mình thực sự coi trọng hay không.

Ta thường rất giỏi tính xem mình sẽ nhận được gì từ một lựa chọn. Có lẽ cũng cần học cách tính xem mình đang trao cho nó bao nhiêu phần đời.

Và trước khi tiếp tục chạy về phía một mục tiêu mới, đôi khi chỉ cần dừng lại một chút để hỏi: Ta đang dùng những năm tháng của mình để đổi lấy điều gì?

Ảnh: Titian và xưởng, An Allegory of Prudence, khoảng 1550–1565, National Gallery, London. Ba khuôn mặt tượng trưng cho những giai đoạn khác nhau của đời người, đồng thời gợi quá khứ, hiện tại và tương lai. Dòng chữ Latin trên tranh mang ý nghĩa: học từ ngày hôm qua, hành động thận trọng trong hôm nay để không làm tổn hại ngày mai. Đặt cạnh bài viết, tác phẩm gợi một câu hỏi tương đồng: khi thời gian của đời người luôn chuyển về phía trước, ta đang sử dụng hiện tại của mình như thế nào và những lựa chọn hôm nay đang đưa cuộc đời về đâu?

David Phung (Nghiên cứu lịch sử)

Saturday, September 26, 2026

Sống ở 2 nơi

SANG MỸ RỒI TÔI MỚI NHẬN RA: VIỆT NAM VÀ NƯỚC MỸ KHÔNG KHÁC NHAU Ở GIÀU HAY NGHÈO… MÀ KHÁC Ở CÁCH CON NGƯỜI SỐNG VỚI NHAU. 🇻🇳🇺🇸

Ở Việt Nam, bước ra khỏi nhà là có thể gặp hàng xóm, ghé quán nước, gọi một tiếng là có người ngồi nói chuyện cả buổi.

Còn ở Mỹ, đôi khi sống cạnh nhau mấy năm… chưa chắc biết nhà bên cạnh tên gì.

Ở Việt Nam, bạn buồn, chỉ cần gọi một người bạn:

“Ê, đi ăn không?”

10 phút sau có thể đã ngồi trước một nồi lẩu. 😂

Ở Mỹ, nhiều khi muốn gặp nhau phải:

“Are you free Saturday at 6 PM?”

Rồi đặt lịch như đi họp. 😭

Ở Việt Nam, người ta hay hỏi:

“Bao nhiêu tuổi rồi? Lấy chồng chưa? Bao giờ sinh con?”

Qua Mỹ mới thấy… người ta ít hỏi những câu đó hơn.

Bạn là ai, yêu ai, sống thế nào — nhiều khi miễn bạn không làm phiền người khác, họ cũng chẳng quan tâm quá nhiều.

Nhưng cũng chính vì vậy mà tôi nhận ra một điều:

Việt Nam cho tôi cảm giác “mình thuộc về một cộng đồng”.

Nước Mỹ cho tôi cảm giác “mình được tự do là chính mình”.

Việt Nam có cái tình rất gần.

Mỹ có sự riêng tư rất rõ.

Việt Nam có những bữa cơm đông người, tiếng cười nói cả nhà.

Mỹ có những căn nhà yên tĩnh, mỗi người tôn trọng cuộc sống riêng của nhau.

Không nơi nào hoàn toàn tốt hơn nơi nào.

Chỉ là khi sống ở cả hai nơi, tôi mới hiểu…

Có những thứ ở Việt Nam lúc còn ở đó mình thấy bình thường, đến khi sang Mỹ mới biết đó là thứ mình nhớ nhất.

Và cũng có những thứ ở Mỹ trước đây mình không hiểu, sống lâu rồi mới thấy:

“À… hóa ra tự do cũng có cái giá của nó.”

FB-Nguyễn Nguyễn

Friday, September 25, 2026

Luôn luôn tự chỉnh đốn bản thân

THỨ BẬN RỘN NHẤT TRÊN ĐỜI LÀ TU SỬA CHÍNH BẢN THÂN MÌNH

Sửa người khác thì dễ. Sửa chính mình mới là công việc cả đời.

Có một kiểu bận rộn rất phổ biến: bận quan tâm người khác đang sống thế nào. Người này làm việc không tốt, người kia nói chuyện khó nghe, người nọ kiếm tiền không giỏi, ai đó cư xử không đúng. Người này thành công vì may mắn, người kia thất bại vì kém năng lực. Chúng ta có thể dành hàng giờ để phân tích cuộc đời của người khác, nhưng đôi khi lại chẳng có nổi vài phút để nhìn lại chính mình.

Thật lạ.

Chúng ta biết rất rõ người khác cần thay đổi điều gì, nhưng lại thường không nhìn thấy những thứ chính mình cần sửa. Biết người khác nóng tính nhưng quên mất mình cũng dễ nổi giận. Biết người khác thiếu kỷ luật nhưng sáng mai vẫn tắt báo thức rồi ngủ tiếp. Biết người khác tiêu tiền không hợp lý nhưng bản thân vẫn mua những thứ không thật sự cần. Biết người khác nói nhiều nhưng mình cũng chưa bao giờ học cách lắng nghe.

Con người thường có một chiếc kính rất rõ khi nhìn người khác, nhưng lại có một chiếc gương rất mờ khi nhìn chính mình.

Tu sửa bản thân không phải là biến mình thành một con người hoàn hảo. Không ai làm được điều đó. Tu sửa là hôm nay nhận ra một điểm chưa tốt của mình, ngày mai cố gắng làm nó tốt hơn một chút.

Hôm qua dễ nóng giận, hôm nay biết dừng lại trước khi nói. Hôm qua hay trì hoãn, hôm nay bắt tay vào làm sớm hơn. Hôm qua tiêu tiền theo cảm xúc, hôm nay biết suy nghĩ trước khi mua. Hôm qua gặp thất bại là đổ lỗi, hôm nay biết hỏi: “Mình có thể làm gì khác?” Hôm qua nghe góp ý là tự ái, hôm nay biết im lặng và suy nghĩ.

Những thay đổi ấy rất nhỏ, nhỏ đến mức chẳng ai vỗ tay. Nhưng chính những thay đổi nhỏ đó, lặp lại đủ lâu, sẽ tạo ra một con người khác.

Đời người không thay đổi chỉ vì một quyết định lớn. Rất nhiều khi, nó thay đổi vì những điều nhỏ mình chịu sửa mỗi ngày.

Có một điều đáng suy nghĩ: chúng ta thường muốn sửa hoàn cảnh trước khi sửa bản thân. Công việc không tốt, muốn đổi công ty. Thu nhập thấp, muốn đổi nghề. Mối quan hệ không như ý, muốn đổi người. Cuộc sống áp lực, muốn đổi môi trường.

Nhưng đôi khi mình đổi hết mọi thứ rồi, vấn đề vẫn quay lại.

Bởi vì mình đã đổi hoàn cảnh nhưng chưa đổi chính mình.

Nếu một người luôn nóng nảy, đi đâu họ cũng có thể tạo ra xung đột. Nếu một người thiếu kỷ luật, đổi công việc bao nhiêu lần cũng vẫn trì hoãn. Nếu một người tiêu tiền theo cảm xúc, kiếm được nhiều hơn chưa chắc giữ được nhiều hơn. Nếu một người luôn nghĩ mình là nạn nhân, hoàn cảnh nào họ cũng tìm thấy một người để đổ lỗi. Nếu một người không biết trân trọng, có một người tốt bên cạnh cũng chưa chắc giữ được.

Cho nên, trước khi hỏi “Bao giờ cuộc đời thay đổi?”, có lẽ nên hỏi:

“Bao giờ mình thay đổi?”

Tu sửa bản thân bắt đầu từ việc dám nhìn vào những điểm mình không muốn nhìn. Đây là việc khó, bởi ai cũng thích nghe rằng mình tốt. Ít ai thích nghe rằng mình sai.

Khi người khác khen, chúng ta vui. Khi người khác chỉ ra khuyết điểm, chúng ta phòng thủ: “Không phải tôi như vậy.” “Tại hoàn cảnh.” “Tại họ trước.” “Tại lúc đó tôi đang mệt.” “Tại người khác làm tôi như thế.”

Có thể những lý do đó đúng một phần. Nhưng nếu lúc nào cũng có một lý do bên ngoài, chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy phần trách nhiệm của mình.

Trưởng thành không phải là lúc mình không còn mắc lỗi.

Trưởng thành là khi mắc lỗi, mình đủ bình tĩnh để nhận ra phần sai của mình.

Có những người dành cả đời để chứng minh mình đúng. Trong công việc, họ tranh luận đến cùng. Trong gia đình, họ phải là người thắng. Trong tình yêu, họ không chịu xin lỗi trước. Trong các cuộc trò chuyện, họ luôn phải có câu cuối cùng.

Nhưng thắng một cuộc tranh luận không đồng nghĩa với việc mình tiến bộ.

Đôi khi mình thắng người khác nhưng lại thua chính mình. Thua vì cái tôi lớn hơn khả năng học hỏi. Thua vì sĩ diện lớn hơn sự thật. Thua vì muốn chứng minh mình đúng nên bỏ lỡ cơ hội trở nên tốt hơn.

Một người thật sự muốn tu sửa bản thân sẽ không quá bận tâm đến việc mình có thắng trong mọi cuộc tranh luận hay không. Họ quan tâm hơn đến một câu hỏi:

“Sau cuộc nói chuyện này, mình có hiểu thêm điều gì không?”

Tu sửa bản thân cũng là học cách kiểm soát những thứ bên trong mình. Không phải mọi suy nghĩ đều cần nói ra. Không phải mọi cảm xúc đều cần hành động theo. Không phải ai làm mình khó chịu cũng cần đáp trả. Không phải lời khiêu khích nào cũng cần phản ứng.

Có những lúc im lặng không phải vì mình yếu, mà vì mình hiểu rằng phản ứng trong vài giây có thể tạo ra hậu quả kéo dài nhiều năm.

Người trưởng thành không phải người không tức giận. Họ vẫn tức giận. Nhưng họ biết lúc nào nên nói, lúc nào nên im, lúc nào nên rời đi và lúc nào nên để thời gian trả lời thay mình.

Kiểm soát được bản thân khó hơn kiểm soát người khác rất nhiều. Nhưng đó mới là quyền lực thật sự.

Tu sửa bản thân còn là học cách quản lý thời gian. Ai cũng có 24 giờ, nhưng không phải ai cũng sử dụng 24 giờ đó giống nhau.

Có người dành rất nhiều thời gian để xem người khác sống. Có người dành hàng giờ tranh luận trên mạng. Có người liên tục than mình không có thời gian nhưng lại không biết mình đã dành bao nhiêu giờ cho những thứ chẳng tạo ra giá trị. Có người muốn thay đổi cuộc đời nhưng mỗi ngày vẫn lặp lại những thói quen cũ.

Muốn có kết quả mới mà cứ làm những việc cũ thì rất khó.

Bạn không thể sống một cuộc đời mới bằng những thói quen cũ.

Nếu muốn khỏe hơn, phải thay đổi cách ăn uống và vận động. Nếu muốn giỏi hơn, phải học. Nếu muốn kiếm nhiều hơn, phải nâng cấp năng lực. Nếu muốn bình yên hơn, phải học cách buông những thứ không kiểm soát được. Nếu muốn có những mối quan hệ tốt hơn, trước hết phải học cách trở thành một người tốt hơn trong các mối quan hệ.

Không có phép màu.

Chỉ có sự thay đổi được lặp lại đủ lâu.

Và có lẽ khó nhất là tu sửa cái tôi.

Cái tôi thường nói: “Tôi biết rồi.” “Tôi đúng.” “Tôi không cần học.” “Tôi không cần ai.” “Tôi làm được.” “Tại sao tôi phải xin lỗi?”

Nhưng càng trưởng thành, người ta càng hiểu rằng không ai biết đủ.

Người giỏi vẫn có thứ phải học. Người thành công vẫn có thứ phải sửa. Người nhiều kinh nghiệm vẫn có lúc sai. Người mạnh mẽ vẫn có lúc cần giúp đỡ.

Một người có thể rất giỏi trong công việc nhưng lại rất vụng về trong tình cảm. Có thể kiếm tiền rất tốt nhưng không biết quản lý cảm xúc. Có thể lãnh đạo hàng trăm người nhưng không biết lãnh đạo chính mình.

Vì vậy, đừng để một vài thành công khiến mình tưởng rằng mình đã hoàn thiện.

Thứ càng lớn càng cần được bảo dưỡng. Con người cũng vậy.

Có một điều rất hay: khi mình bắt đầu tu sửa chính mình, mình sẽ tự nhiên bớt muốn sửa người khác.

Bạn bắt đầu hiểu rằng mỗi người có một hành trình riêng. Bạn bớt phán xét, bớt tranh hơn thua, bớt để ý người khác nghĩ gì, bớt khó chịu khi ai đó không sống theo tiêu chuẩn của mình.

Không phải vì bạn trở nên thờ ơ.

Mà vì bạn nhận ra mình đã có quá nhiều việc phải làm với chính cuộc đời mình.

Thời gian dùng để sửa mình luôn có giá trị hơn thời gian dùng để soi lỗi người khác.

Và đừng nghĩ rằng tu sửa bản thân là một công việc chỉ dành cho lúc mình thất bại. Ngược lại, lúc thành công mới càng cần tu sửa.

Khi có tiền, cần sửa cách sử dụng tiền. Khi có quyền, cần sửa cách đối xử với người khác. Khi có vị trí, cần sửa cái tôi. Khi được nhiều người biết đến, cần sửa cách nhìn về chính mình. Khi có nhiều lựa chọn, càng cần nguyên tắc.

Bởi thất bại đôi khi khiến người ta tỉnh táo. Nhưng thành công nếu không tỉnh táo có thể khiến người ta tưởng rằng mình không còn gì để học.

Đó mới là lúc nguy hiểm.

Có lẽ mỗi tối trước khi ngủ, thay vì hỏi: “Hôm nay người khác làm gì khiến mình khó chịu?”, hãy thử hỏi:

“Hôm nay mình có điều gì cần sửa?”

Hôm nay mình có nói nặng lời với ai không? Có thất hứa không? Có trì hoãn việc quan trọng không? Có tiêu tiền vô ích không? Có để cảm xúc điều khiển mình không? Có bỏ lỡ một cơ hội học hỏi vì sĩ diện không? Có làm ai tổn thương mà chưa xin lỗi không? Có dành quá nhiều thời gian cho những chuyện không quan trọng không?

Không cần trả lời tất cả. Chỉ cần mỗi ngày tìm ra một điều để sửa.

Một năm sau, bạn có thể đã sửa được 365 điều.

Không ai nhìn thấy quá trình đó.

Nhưng bạn sẽ nhìn thấy.

Cuộc đời không yêu cầu chúng ta phải trở thành một con người hoàn hảo. Chỉ cần đừng ngừng hoàn thiện.

Hôm nay tốt hơn hôm qua một chút. Kiên nhẫn hơn một chút. Tử tế hơn một chút. Kỷ luật hơn một chút. Biết lắng nghe hơn một chút. Biết nói “không” đúng lúc hơn một chút. Biết xin lỗi nhanh hơn một chút. Biết tha thứ đúng lúc hơn một chút. Biết làm việc có trách nhiệm hơn một chút. Biết yêu thương bản thân đúng cách hơn một chút.

Những “một chút” ấy nhìn riêng lẻ chẳng có gì ghê gớm. Nhưng sau nhiều năm, chúng có thể tạo ra một con người hoàn toàn khác.

Thứ bận rộn nhất trên đời không phải là kiếm thật nhiều tiền, làm thật nhiều việc hay chạy thật nhanh. Mà là mỗi ngày quay về sửa chính mình.

Sửa một tính xấu. Sửa một thói quen. Sửa một cách nghĩ. Sửa một phản ứng. Sửa một lựa chọn. Sửa một phần cái tôi.

Rồi ngày mai lại sửa tiếp.

Bởi cuộc đời càng dài, mình càng hiểu một điều:

Người khó thay đổi nhất không phải người khác. Người khó thay đổi nhất chính là mình.

Và cũng vì thế, người đáng để mình dành nhiều công sức nhất trong cuộc đời này… chính là bản thân mình.

Đừng quá bận sửa thế giới.

Hãy bận sửa mình trước.

Khi mình tốt hơn, cách mình nhìn thế giới cũng tốt hơn. Khi mình bình an hơn, thế giới quanh mình cũng bớt ồn ào hơn. Khi mình trưởng thành hơn, rất nhiều chuyện trước đây từng khiến mình tức giận… tự nhiên không còn đáng để tức giận nữa.

Tu sửa chính mình là công việc không có ngày hoàn thành. Nhưng cũng là công việc đáng làm nhất trong một đời người.

FB-TnBS

Thursday, September 24, 2026

ĐỘC LẬP TRONG TÂM TRÍ, BÌNH THƯỜNG TRONG ĐỜI SỐNG

 “Bên trong tâm trí, hãy để ta hoàn toàn khác biệt, nhưng bên ngoài hãy giống như mọi người.” – Seneca

Có một điều khá dễ xảy ra khi con người bắt đầu quan tâm đến việc tu dưỡng bản thân: ta muốn trở nên khác đi.

Một người đọc thêm sách, tìm hiểu triết học, thực hành thiền định hay bắt đầu quan tâm đến Khắc kỷ có thể dần nhìn những điều quen thuộc bằng một con mắt khác. Những thứ từng khiến ta bận tâm có thể trở nên nhẹ đi. Tiền bạc, danh vọng hay sự công nhận của người khác không còn giữ vị trí như trước.

Sự thay đổi ấy tự nó không có gì đáng ngại. Một con người trưởng thành hơn đương nhiên có thể có những cách nhìn khác với trước đây.

Nhưng từ đây xuất hiện một cái bẫy khá tinh tế: ta bắt đầu lấy sự khác biệt của mình làm bằng chứng cho sự tiến bộ.

Một người sống giản dị có thể âm thầm thấy mình cao hơn những người còn chạy theo vật chất. Người đọc nhiều sách có thể xem thường những người chỉ quan tâm đến công việc và tiền bạc. Người thực hành Khắc kỷ có thể dần tạo ra một hình ảnh về bản thân: bình thản hơn, lý trí hơn, tự chủ hơn những người xung quanh.

Khi ấy, quá trình tu dưỡng vẫn đang diễn ra, nhưng cái tôi cũng tìm được một nơi mới để trú ngụ.

Trước đây, con người có thể tự hào vì mình giàu hơn, thành công hơn hoặc được nhiều người biết đến. Sau khi bước vào đời sống tinh thần, họ vẫn có thể tự hào vì mình giản dị hơn, hiểu biết hơn, ít ham muốn hơn hoặc "tỉnh thức" hơn.

Cái tôi không nhất thiết biến mất khi chúng ta bắt đầu tu dưỡng. Đôi khi nó chỉ thay đổi cách xuất hiện.

Đây là một điểm quan trọng trong tinh thần Khắc kỷ: triết học trước hết là một cách rèn luyện đời sống, chứ không phải một hình ảnh để trình diễn. Người học triết có thể thay đổi sâu sắc cách nhìn về tiền bạc, danh vọng, đau khổ hay mất mát, nhưng điều đó không đòi hỏi họ phải biến mình thành một nhân vật đặc biệt trước mắt người khác.

Một người thực sự không còn quá lệ thuộc vào tiền bạc không nhất thiết phải cố tình sống nghèo khổ để chứng minh điều đó. Người không còn quá cần sự công nhận cũng không cần liên tục tuyên bố rằng mình chẳng quan tâm đến dư luận. Người hiểu triết học không nhất thiết phải nói năng khác thường, ăn mặc khác thường hay tạo ra khoảng cách với những người chưa quan tâm đến những điều mình đang quan tâm.

Nếu sự bình thản cần có khán giả để chứng minh, nó vẫn còn phụ thuộc vào người khác.

Nếu sự giản dị cần được nhìn thấy mới có ý nghĩa, nó vẫn mang trong mình một phần nhu cầu được công nhận.

Và nếu việc “không quan tâm người khác nghĩ gì” phải được nói đi nói lại để người khác biết, thì sự tự do ấy có lẽ vẫn chưa hoàn toàn tự do.

Những thay đổi đáng kể nhất trong một con người thường kín đáo hơn nhiều.

Ta bớt nóng giận và biết dừng lại trước khi phản ứng. Khi bị chỉ trích, ta không lập tức tìm cách trả đũa. Khi được khen, ta có thể vui nhưng không để lời khen quyết định giá trị của mình. Khi gặp một điều nằm ngoài khả năng kiểm soát, ta biết tập trung vào phần mình có thể làm thay vì tiêu hao năng lượng cho những thứ không thể thay đổi.

Những thay đổi ấy rất khó nhìn thấy từ bên ngoài.

Một người vẫn có thể mặc quần áo bình thường, làm một công việc bình thường, ăn cơm cùng gia đình, gặp gỡ bạn bè, nói chuyện với hàng xóm và sống giữa một cộng đồng giống như bao người khác. Không có dấu hiệu đặc biệt nào cho thấy bên trong họ đã thay đổi đáng kể.

Nhưng cách họ phản ứng trước đời sống đã khác.

Có lẽ đây mới là một trong những thử thách thực sự của việc tu dưỡng: thay đổi mà không cần biến sự thay đổi ấy thành một bản sắc để người khác nhìn vào.

Bởi khi sự tu dưỡng trở thành một bản sắc, nó rất dễ tạo ra một ranh giới mới giữa “tôi” và “những người khác”. Ta bắt đầu chia con người thành những người hiểu và những người chưa hiểu, những người tỉnh táo và những người còn chạy theo vật chất, những người sống đúng và những người đang sống sai.

Một quá trình vốn bắt đầu bằng việc quan sát chính mình lúc ấy có thể chuyển thành việc quan sát và đánh giá người khác.

Đây là nghịch lý khá phổ biến trong đời sống tinh thần: con người tìm đến triết học để bớt bị cái tôi chi phối, nhưng lại có thể sử dụng chính triết học để xây dựng một cái tôi mới.

Họ muốn thoát khỏi nhu cầu được công nhận, rồi lại tìm kiếm sự công nhận vì mình là người “không cần được công nhận”. Họ muốn sống tự do trước ý kiến của người khác, rồi lại cần người khác nhìn thấy mình đang sống tự do. Ngay cả sự khiêm nhường cũng có thể trở thành một điều để tự hào.

Vì vậy, giá trị của việc tu dưỡng có lẽ không nằm ở việc nó khiến một người trở nên đặc biệt đến mức nào trong mắt người khác. Nó nằm ở việc người ấy sống với chính mình và với những người xung quanh tốt hơn ra sao.

Một người bình tĩnh hơn trước những điều không như ý. Một người biết kiểm soát lời nói trước khi làm tổn thương người khác. Một người có thể nhận ra mình sai mà không cảm thấy toàn bộ giá trị của bản thân bị đe dọa. Một người hiểu mình không thể kiểm soát mọi thứ nên không dành cả đời để cố kiểm soát những điều vốn nằm ngoài tay mình.

Đó là những thay đổi có thể không ai vỗ tay.

Nhưng chúng làm nên một con người khác.

Và khi sự thay đổi ấy thực sự trở thành một phần của đời sống, ta không cần phải sống khác người để chứng minh mình đã thay đổi.

Vẫn có thể ăn một bữa cơm với gia đình, vui trong một cuộc gặp gỡ, làm công việc của mình, sử dụng tiền bạc, tận hưởng một điều tốt đẹp hay quan tâm đến những thành quả trong cuộc sống. Điều quan trọng nằm ở chỗ những thứ ấy còn giữ quyền quyết định giá trị của mình đến đâu.

Có thể sử dụng tiền mà không để tiền trở thành thước đo duy nhất của thành công.

Có thể được khen mà không sống nhờ lời khen.

Có thể thất bại mà không xem thất bại là một bản án về con người mình.

Có thể hòa nhập với cộng đồng mà vẫn giữ khả năng suy nghĩ độc lập.

Đó là một dạng tự do khó nhận ra hơn vẻ ngoài lập dị, bởi nó không cần tạo khoảng cách với số đông để tồn tại.

Sống khác người đôi khi không quá khó. Chỉ cần chọn một cách ăn mặc khác, một cách nói khác, một lối sống khác hoặc công khai phản đối những điều mà số đông đang làm. Nhưng giữ được một tâm trí độc lập trong khi vẫn có thể sống hòa nhã giữa những người không giống mình lại đòi hỏi nhiều hơn.

Độc lập không có nghĩa là lúc nào cũng phải chống lại số đông. Hòa nhập cũng không có nghĩa là từ bỏ suy nghĩ của mình.

Ta có thể bất đồng với người khác mà không coi họ là đối thủ. Có thể giữ nguyên tắc mà không biến mọi khác biệt thành một cuộc tranh luận. Có thể sống theo điều mình tin là đúng mà không cần bắt những người xung quanh phải sống giống mình.

Một người có thể ở giữa đám đông mà không đánh mất mình.

Cũng có thể ở một mình mà không cần xem sự cô độc như bằng chứng rằng mình đặc biệt.

Có lẽ đó cũng là ý nghĩa sâu hơn của lời khuyên thường được gắn với Seneca: bên trong có thể giữ một tiêu chuẩn riêng, nhưng bên ngoài không cần cố tạo ra một đời sống khác thường để chứng minh điều đó.

Độc lập trong tâm trí là khả năng giữ được tiêu chuẩn của mình trước hoàn cảnh, dư luận và những ham muốn nhất thời.

Bình thường trong đời sống là khả năng sống cùng người khác mà không biến mọi khác biệt thành lý do để xa cách hay phán xét.

Hai điều ấy không mâu thuẫn.

Một tâm trí đủ vững không cần phải tạo ra khoảng cách với cộng đồng để bảo vệ sự độc lập của mình. Và một người thực sự hòa nhập cũng không nhất thiết phải đánh đổi khả năng suy nghĩ độc lập để được thuộc về một tập thể.

Đến lúc ấy, câu hỏi về sự tu dưỡng cũng thay đổi.

Ta không còn quá bận tâm đến việc “Mình đã khác người khác đến đâu?”

Câu hỏi trở nên âm thầm hơn: “Mình đang trở thành một con người như thế nào?”

Nếu câu trả lời là một người bình tĩnh hơn, tự chủ hơn, tử tế hơn, biết giới hạn của mình hơn và ít bị những thứ bên ngoài chi phối hơn, có lẽ không cần thêm quá nhiều dấu hiệu để chứng minh.

Bởi một sự thay đổi thực sự không nhất thiết phải được nhìn thấy.

Nó chỉ cần được sống.

Và có lẽ, dấu hiệu khá đáng tin của một tâm trí đã trưởng thành là nó không còn quá cần phải chứng minh rằng mình đặc biệt.

Bên trong có thể khác đi rất nhiều. Bên ngoài, vẫn có thể sống như một con người bình thường.

Ảnh: Seneca, tượng bán thân bằng đá cẩm thạch, khoảng 1641–1644, Museo Nacional del Prado, Madrid. Tác phẩm được quy cho Giuliano Finelli và thuộc truyền thống tạo hình Seneca trong nghệ thuật châu Âu thế kỷ XVII.

David Phung (Nghiên cứu lịch sử)

Wednesday, September 23, 2026

Câu chuyện nhà và người

HỌA TIẾT RỐI RẮM Ở NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN, TỐI GIẢN Ở NƯỚC PHÁT TRIỂN

Ở nhiều nước đang phát triển, nhà của người mới giàu thường phủ kín họa tiết rối rắm bên ngoài, trong khi ở các nước phát triển, mặt tiền nhà giàu lại có xu hướng phẳng và tối giản. Nhà xã hội học Thorstein Veblen đã đặt nền móng lý luận cho hiện tượng này trong cuốn "Lý thuyết về giai cấp nhàn rỗi" xuất bản năm 1899, khi ông đưa ra khái niệm tiêu dùng phô trương để giải thích cách con người dùng hàng hóa đắt tiền nhằm phát tín hiệu địa vị xã hội (1). Ở các nước đang phát triển, tầng lớp mới giàu thường rơi vào trạng thái bất ổn địa vị, bởi kinh tế tăng trưởng nhanh khiến khoảng cách giàu nghèo giãn ra trong khi bộ nhận diện địa vị xã hội chưa kịp định hình rõ ràng. Đắp lên mặt tiền nhà những chi tiết như cột La Mã, phù điêu, họa tiết mạ vàng hay mái vòm tân cổ điển trở thành cách nhanh nhất để cộng đồng xung quanh nhận ra chủ nhân là người giàu có và có quyền lực, bởi trong tâm lý tiêu dùng ở các nền kinh tế đang chuyển đổi, sự phức tạp và cầu kỳ thủ công thường được mặc định đồng nghĩa với tốn kém.

Ở các nước đã phát triển, biểu tượng của sự giàu có lại dịch chuyển theo hướng ngược lại. Khái niệm vốn văn hóa của nhà xã hội học Pierre Bourdieu (4) là cơ sở lý thuyết cho việc gu thẩm mỹ trở thành công cụ phân biệt giai cấp, và khi mức sống chung của toàn xã hội đã cao, việc phô trương của cải một cách lộ liễu trước đám đông bị coi là thô kệch và kém tinh tế. Tầng lớp thượng lưu ở các nước này chuyển sang khẳng định vị thế bằng những giá trị ngầm khó nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên, như tỷ lệ không gian cân đối, vật liệu bền vững đắt đỏ, công nghệ tích hợp kín đáo, không gian xanh riêng tư hoặc yếu tố di sản lịch sử của căn nhà, thay vì họa tiết trang trí bên ngoài.

Nhìn lại lịch sử, các nước phát triển ngày nay cũng từng trải qua giai đoạn đắp họa tiết rối rắm không khác gì các nước đang phát triển hiện tại. Trong thế kỷ 19, khi cách mạng công nghiệp làm kinh tế Âu Mỹ bùng nổ, giới nhà giàu mới ở châu Âu và Mỹ xây nhà theo nhiều phong cách phục cổ như Gothic Revival, Italianate, Renaissance Revival, Second Empire hay Queen Anne, thường được gộp chung dưới tên gọi kiến trúc thời Victoria, ngập tràn chi tiết cầu kỳ để khoe của (6). Bước ngoặt xuất hiện đầu thế kỷ 20, khi kiến trúc sư Adolf Loos trình bày ở Viên năm 1910 bài giảng sau này trở thành tiểu luận nổi tiếng "Ornament and Crime", lập luận rằng việc đắp chi tiết thừa thãi lên vật dụng hữu ích là biểu hiện của sự lãng phí sức lao động và lạc hậu về văn hóa (2, 3). Đây là một trong nhiều dòng chảy góp phần hình thành kiến trúc hiện đại, cùng với phong trào Werkbund, De Stijl, Bauhaus và các kiến trúc sư như Le Corbusier, và phải đến năm 1932 nhà sử học Henry-Russell Hitchcock cùng kiến trúc sư Philip Johnson mới chính thức đặt tên phong cách Quốc tế qua một triển lãm ở New York (5). Từ đó, chủ nghĩa tối giản dần định hình thẩm mỹ đại chúng ở các nước phát triển, trong khi các nước đang phát triển tiếp cận với sự giàu có muộn hơn nên có phần lặp lại một chu kỳ lịch sử tương tự Tây Âu và Mỹ đã trải qua khoảng 100-150 năm trước.

Một yếu tố kinh tế - kỹ thuật rất thực tế cũng góp phần tạo ra sự khác biệt này. Ở các nước phát triển, chi phí nhân công cho thợ đắp phù điêu hay thợ chạm khắc thủ công đắt đỏ đến mức việc xây nhà nhiều họa tiết sẽ tốn một khoản tiền khổng lồ chỉ để trả lương thợ, nên thiết kế buộc phải chuyển sang các mảng khối công nghiệp tối giản, dễ sản xuất và bảo trì. Ở các nước đang phát triển, chi phí nhân công rẻ hơn nhiều lần khiến việc thuê thợ làm hoa văn, đắp phù điêu phức tạp trở nên khả thi và vừa túi tiền với giới nhà giàu nội địa.

________________________________________

TRUNG ĐÔNG VÀ TRUNG QUỐC - HAI CÁCH BIỂU HIỆN CỤ THỂ CỦA SỰ PHÔ TRƯƠNG

Tại Trung Quốc, và rất phổ biến ở Việt Nam, hiện tượng xây lâu đài hay biệt thự đắp phù điêu rườm rà có thể bị coi là kiến trúc châu Âu giả lập, mô phỏng nhiều hơn là theo đúng một trường phái nào. Phần lớn chủ nhà và cả thợ thi công địa phương không thực sự hiểu bản chất của kiến trúc cổ điển hay tân cổ điển châu Âu, vốn dựa trên các hệ thống tỷ lệ, mô-đun và quy chuẩn cột Hy Lạp - La Mã, chứ không phải lúc nào cũng theo đúng tỷ lệ vàng như nhiều người vẫn nghĩ (7). Thay vì tuân theo tỷ lệ, họ có xu hướng nhặt nhạnh mọi chi tiết gợi cảm giác hoàng gia rồi chất đống lên mặt tiền, chẳng hạn ghép cột Corinthian với mái vòm Mansart của Pháp, thêm phù điêu Phục hưng và sơn mạ vàng. Với tầng lớp mới giàu, ngôi nhà lúc này không còn là tác phẩm kiến trúc mà trở thành một tấm bảng hiệu quảng cáo sự thành công, và càng nhiều chi tiết thủ công đắp nổi thì người ngoài nhìn vào càng thấy tốn tiền, đó mới là mục đích tối cao của chủ nhà.

Ở các quốc gia vùng Vịnh như Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar hay Ả Rập Xê Út, sự rối rắm và lộng lẫy trong kiến trúc nhà giàu lại mang thêm dấu ấn văn hóa và địa lý riêng. Kiến trúc truyền thống Ả Rập có xu hướng dồn sự phô trương vào không gian nội thất như sân trong hay phòng khách majlis hơn là ra mặt tiền, với hoa văn hình học arabesque đan cài phức tạp, thiếp vàng, đá cẩm thạch khảm xà cừ và đèn chùm khổng lồ. Trong một số truyền thống Hồi giáo, đặc biệt trong không gian thờ tự, hình ảnh sinh vật có thể bị hạn chế hoặc tránh sử dụng, dù đây không phải một lệnh cấm phổ quát trong toàn bộ thế giới Hồi giáo ( 8 ), và điều này góp phần khiến các nghệ nhân dồn sức sáng tạo vào nghệ thuật trang trí hoa văn đối xứng arabesque cho đến đỉnh cao. Của cải từ dầu mỏ là một trong nhiều yếu tố, bên cạnh khí hậu, truyền thống majlis và ảnh hưởng qua lại của các nền văn hóa Ottoman, Ba Tư hay Nam Á, khiến những hoa văn này được phóng đại về quy mô và độ dát vàng, tạo cảm giác choáng ngợp đến mức rối mắt đối với người phương Tây hay người ưa chuộng tối giản.
________________________________________

PHÒNG KHÁCH TRUNG - MỸ VÀ CÁCH GIỚI SIÊU GIÀU ÂU MỸ GIẤU SỰ XA HOA

Ở Mỹ, nhà là không gian riêng tư để nghỉ ngơi sau giờ làm, nên phòng khách xoay quanh sự thoải mái của gia đình, với sofa đệm dày, ghế lười, thảm êm, lò sưởi, TV lớn, và khách thân cũng chỉ ngồi sofa hay quây quanh đảo bếp một cách phi hình thức. Ở Trung Quốc, phòng khách truyền thống mang chức năng xã hội lớn, là nơi tiếp khách để giữ thể diện, nên một bộ phận gia đình coi trọng bàn ghế gỗ quý chạm khắc như hoàng hoa lê hay tử đàn, vốn từng phổ biến trong nội thất thời Minh Thanh, vừa là tài sản giữ giá vừa buộc tư thế ngồi thẳng lưng trang trọng. Với những gia đình còn giữ tập quán này, gỗ càng dùng càng lên nước và giữ nguyên giá trị theo thời gian, còn họa tiết rồng, phượng, hoa mẫu đơn trên gỗ mang ý nghĩa phong thủy cầu may. Khác biệt này một phần đến từ cấu trúc đô thị, khi Mỹ có nhà ngoại ô rộng nên tách riêng phòng gia đình, phòng khách trang trọng và sân sau, còn đa số dân đô thị Trung Quốc ở chung cư chật nên phòng khách thường phải kiêm luôn cả sinh hoạt lẫn tiếp khách.
Nhu cầu phô trương khi giàu có là bản năng chung, chỉ khác nhau ở hình thức thể hiện. Giới siêu giàu Âu Mỹ không đắp phù điêu lên nhà mà giấu sự xa hoa vào không gian và trải nghiệm hiếm có, như mua đất hiếm ở Aspen, Hamptons hay penthouse nhìn trọn Central Park để đạt sự riêng tư cao, chi cho du thuyền, chuyên cơ, đầu bếp từng làm việc tại nhà hàng đạt sao Michelin, tranh của Basquiat hay Rothko trị giá hàng chục triệu USD, cùng đội ngũ quản gia, bác sĩ riêng và vật liệu bền đắt đỏ. Ngay cả hàng cây cổ thụ cao 15-20m quanh nhà cũng là một dạng khoe của kín đáo, vừa che chắn tầm nhìn từ ngoài vào vừa chứng minh đất thuộc khu lâu đời hoặc chủ nhà đã tốn hàng chục nghìn USD bứng cây về trồng và duy trì mỗi năm. Nhiều khu thượng lưu Mỹ còn có quy định phân vùng yêu cầu công trình lùi sâu vào lô đất và duy trì một tỷ lệ cây xanh nhất định.

________________________________________

VÌ SAO NHÀ GIÀU VIỆT NAM XÂY CAO, CỬA RỘNG, CỔNG CẦU KỲ DÙ CÓ THỂ MUA NHIỀU ĐẤT

Với nhà phố thông thường, hình thái đất chia lô hẹp ngang nhưng sâu ở đô thị Việt Nam có nhiều lớp lịch sử, được thời Pháp thuộc định hình và chuẩn hóa thành các lô phổ biến rộng khoảng 2-4m nhưng sâu 20-60m (9). Kiểu đất này khiến xây cao gần như là cách phổ biến để có đủ diện tích sàn, lại tiện cho thuê tầng dưới kinh doanh, ở tầng giữa, thờ cúng tầng trên - gợi liên tưởng đến thành ngữ "nhà cao cửa rộng" xưa, vốn chỉ gia đình khá giả, nhà cửa khang trang, có vị thế và điều kiện tiếp khách: "nhà cao" gắn với nền cao chống ngập, trần cao thoáng khí, còn "cửa rộng" gắn với việc đón khách, đón của cải.
Nhưng ngay cả người giàu có đất rộng 200-500m², đủ làm biệt thự 2-3 tầng kiểu Mỹ hay Nhật, vẫn thường chọn xây 5-7 tầng, vì bốn lý do. Xây cao tạo cảm giác vươn lên uy quyền, nổi bật hơn hẳn hàng xóm, đúng quan niệm cao lớn gắn với uy nghi trong văn hóa Đông Á. Tâm lý sợ lãng phí quyền xây dựng khiến họ muốn xây sẵn một "tháp gia tộc" chia tầng cho các thế hệ sau dù chưa dùng hết. Thói quen không tách nhà ở khỏi công cụ sinh lời khiến nhà nhiều tầng dễ cho thuê hoặc bán lại hơn một biệt thự thuần nghỉ dưỡng. Và một số chủ nhà, nhà thầu có xu hướng chọn mô hình nhà cao tân cổ điển vì nó dễ sao chép, dễ định giá và dễ thể hiện quy mô hơn là một biệt thự trải rộng đòi hỏi kỹ năng quy hoạch cảnh quan và xử lý sân vườn tinh tế hơn.

Chữ "cao" ngày nay bị quy thành số tầng, còn "cửa rộng" chuyển thành cửa chính mở toang hết khẩu độ mặt tiền, vừa khoe nội thất bên trong vừa đủ rộng cho ô tô vào thẳng nhà do không còn khoảng lùi sân vườn. Cổng cũng được xem là mặt tiền thứ nhất nên thường đúc nhôm hay đồng nguyên khối, chạm nổi tứ linh hay huy hiệu châu Âu, có mái che, cột đá hoa cương và mạ vàng lấp lánh. Ngược lại, cửa chính nhà giàu Mỹ chỉ đủ rộng cho 1-2 người vì xe đã có lối riêng vào garage. Không ít khu nhà giàu ở Mỹ vẫn có cổng, hàng rào, tường hay bảo vệ kiểm soát ra vào, nhưng nhiều khu dân cư cao cấp khác lại theo hướng ngược lại, cấm dựng cổng để giữ thảm cỏ liền mạch từ đường vào nhà, và nếu có cổng thì cũng thường chỉ là cổng sắt đơn giản đặt lùi sâu sau hàng cây. Hình thức cổng ở mỗi nơi vì vậy phụ thuộc vào quy hoạch, truyền thống cảnh quan, mức độ riêng tư và loại khu dân cư hơn là một quy luật an ninh tuyệt đối; ở Việt Nam, cổng còn liên quan đến phong thủy, ranh giới sở hữu và việc xe ra vào.
________________________________________

NGÔI NHÀ ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI: GÓC NHÌN CHUYÊN GIA, NGƯỜI Ở VÀ DU KHÁCH

Giải Pritzker hay World Architecture Festival không phải cơ quan xếp hạng "nhà đẹp nhất thế giới", mà trao giải cho công trình và kiến trúc sư theo những tiêu chí chuyên môn riêng như tỷ lệ hình khối, sự hòa hợp thiên nhiên, ánh sáng và vật liệu, khác hẳn tiêu chí dát vàng hay đắp họa tiết rườm rà. Nhìn theo các tiêu chí đó, kiến trúc Nhật Bản thường được giới chuyên môn đánh giá cao nhờ khả năng biến đất siêu nhỏ thành nhà tràn sáng, kín đáo bên ngoài nhưng mở hoàn toàn bên trong. Các nước Bắc Âu nổi bật với gỗ tự nhiên, cửa kính đón nắng mùa đông và tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng. Thụy Sĩ, Áo ghi điểm nhờ kỹ thuật thi công chính xác và nhà thích ứng với địa hình dốc, còn Mexico, Nam Mỹ theo di sản kiến trúc sư Luis Barragán dùng ánh sáng, bóng đổ và vật liệu thô mộc để tạo cảm xúc.

Tuy vậy, nhà ở Mỹ, Úc, Canada vẫn rất đẹp theo một tiêu chí khác là sự thụ hưởng thực tế. Đây là kiến trúc thương mại, tiêu chuẩn hóa cho đời sống ngoại ô, với thảm cỏ đồng bộ không rào chắn, biệt thự 1-2 tầng trải rộng, bếp đảo, trần cao, sân sau có hồ bơi, còn Úc nổi tiếng xóa nhòa ranh giới trong-ngoài bằng tường kính trượt. Giải thưởng thường ưu ái những công trình thiết kế riêng cho từng lô đất khó hơn là mô hình xây theo mẫu đồng bộ như nhà ngoại ô, nhưng xét về nhu cầu sống thực tế như đất rộng, tiện nghi, garage, sân vườn, đây vẫn là mô hình được nhiều người muốn ở.

Dưới góc nhìn du khách, các khảo sát của Condé Nast Traveler, Travel and Leisure hay Tripadvisor lại phản ánh trải nghiệm du lịch và mức độ phổ biến hơn là đánh giá chuyên môn về chất lượng kiến trúc, thường chấm điểm theo trải nghiệm thị giác và khả năng lên hình. Ý, Tây Ban Nha ghi điểm với nhà pastel bên vách đá Amalfi hay Cinque Terre. Thụy Sĩ, Áo với nhà chalet gỗ giữa núi tuyết. Hy Lạp với nhà vôi trắng mái vòm xanh coban ở Santorini. Nhật Bản với phố cổ Kyoto hay làng Shirakawa-go, và Anh với nhà đá màu mật ong vùng Cotswolds. Theo hướng nhìn nhận này, một ngôi nhà đẹp trong mắt du khách có thể cần đủ ba yếu tố, gồm bản sắc địa phương không pha tạp, hòa hợp với cảnh quan xung quanh, và gợi được cảm xúc bình yên hay lãng mạn khác với đô thị thường nhật.

________________________________________

VIỆT NAM NÊN HỌC MÔ HÌNH NÀO

Xét về quỹ đất, mật độ dân số và thói quen sinh hoạt, Việt Nam không thể học Mỹ hay Úc vì không có quỹ đất vô tận để trải rộng nhà ngoại ô 1-2 tầng cho hàng chục triệu dân đô thị, nhưng học hoàn toàn theo Nhật Bản cũng chưa hẳn là mô hình tối ưu nhất, bởi kiến trúc Nhật có xu hướng đề cao sự riêng tư và không gian hướng nội nhiều hơn, trong khi người Việt có văn hóa cộng đồng, thích sự mở, giao tiếp xóm giềng và tư duy mặt phố thương mại. Giới quy hoạch và kiến trúc thường nhận định Việt Nam nên học tổng hòa từ ba nơi, mỗi nơi một phần để giải đúng bài toán của mình.


Điều nên học ở Nhật Bản là kỹ năng xử lý không gian hẹp, biến những lô đất 30-50m² thành không gian tràn ngập ánh sáng gián tiếp, có thông gió xuyên phòng và tích hợp cây xanh qua sân trong hay giếng trời, cùng sự tôn trọng hàng xóm và cảnh quan qua các quy định kiểm soát bóng đổ và chiều cao công trình để không che nắng nhà bên cạnh. Điều nên học ở Singapore là khung quy hoạch phân định khá rõ ràng, khu vực chung cư cao tầng thì xây rất cao để tối ưu đất, còn khu vực nhà thấp tầng thường bị khống chế ở mức 2-3 tầng với khoảng lùi sân vườn đồng bộ (10), nên hiếm khi có chuyện một nhà 7 tầng chen giữa khu nhà 2 tầng, và nhiều công trình còn phải đáp ứng yêu cầu về diện tích xanh tương ứng qua mái xanh hay tường xanh. Điều nên học ở Nam Âu như Tây Ban Nha hay Ý là mô hình phố - nhà tích hợp, với dãy nhà phố 3-4 tầng nằm sát nhau, tầng 1 là quán ăn hay cửa hàng mở toang ra vỉa hè, các tầng trên là nơi ở, nhưng vẫn giữ được sự đồng bộ về chiều cao mái, màu sơn, tỷ lệ cửa sổ và vỉa hè rộng rãi cho người đi bộ, giúp đô thị vừa sầm uất kinh doanh tốt vừa không bị nham nhở nhếch nhác.
Công thức lý tưởng cho nhà ở đô thị Việt Nam trong tương lai vì vậy nên là sự kết hợp của cả ba, gồm khung quy hoạch của Singapore để khống chế nghiêm ngặt chiều cao nhà phố và bắt buộc khoảng lùi, kỹ thuật xử lý kiến trúc của Nhật Bản để lấy sáng và thông gió tự nhiên thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điều hòa, cùng năng lượng sống của Nam Âu để giữ lại không gian tầng 1 mở kết nối với vỉa hè và cây xanh, phục vụ nhu cầu giao thương và văn hóa xóm giềng đặc trưng của người Việt.

________________________________________

NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Thorstein Veblen, The Theory of the Leisure Class, 1899
(2) Adolf Loos, Ornament and Crime, bài giảng tại Viên ngày 21/1/1910, xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1913
(3) Nghiên cứu về Adolf Loos trong Architectural History, Cambridge University Press
(4) Pierre Bourdieu, Distinction, khái niệm vốn văn hóa và sự phân biệt bằng gu thẩm mỹ
(5) Britannica, International Style (triển lãm và sách năm 1932 của Henry-Russell Hitchcock và Philip Johnson)
(6) Victorian architecture, các phong cách phục cổ thời Victoria
(7) Nghiên cứu về tỷ lệ vàng trong kiến trúc Parthenon, PubMed Central
( 8 ) Oxford University Press, chương về hình tượng người và động vật trong nghệ thuật Hồi giáo
(9) Nghiên cứu về nhà ống đô thị Việt Nam, TU Delft, International Planning History Society
(10) Urban Redevelopment Authority Singapore, hướng dẫn phát triển nhà ở landed housing

Minh Nhựt (Nghiên cứu lịch sử)