Saturday, October 31, 2026

Tin buồn

Sáng nay nhận tin buồn về hành trình Élet/Csillagok útján của các haver, Quang Bình gọi điện thoại từ Mỹ cho biết: bạn mình đã dừng lại ở mùa Thu này. Đây là mùa Thu cuối cùng đã đi cùng bạn, là mùa Thu buồn và trở thành 1 phần ko thể quên trong "Câu chuyện của chúng tôi"!

Photo: Albert Dros

Có một điều bây giờ chúng ta mới nhận ra: khi còn trẻ chúng ta khó có được, nhưng đến lúc đã đủ để trải đời, mới nghiệm ra, coi đó là một bí quyết để sống đời: Ko bao giờ trách bất cứ ai trong cuộc đời mình. 

Bởi những người tốt sẽ đem đến cho bạn hạnh phúc. Những người xấu đem đến cho bạn kinh nghiệm. Những người tồi tệ cho bạn bài học. Còn những người tốt đẹp nhất cho bạn những kỉ niệm.

Mọi chuyện trên đời xảy ra đều có lý do. Quan trọng là ta nhìn ra đó là gì. Luôn có những khía cạnh tích cực trong những gì xảy ra với ta...

Friday, October 30, 2026

Vĩnh biệt Phan Nguyễn Khánh

ÔNG PHAN NGUYÊN KHÁNH, CỰU SINH VIÊN TẠI BUDAPEST, QUA ĐỜI

Hội Hữu nghị Việt Nam-Hungary, Ban liên lạc Lưu học sinh M1972 và Ban liên lạc cựu sinh viên VN tại BME thương tiếc báo tin:

Ông PHAN NGUYÊN KHÁNH, sinh năm 1955,

sang Hungary năm 1972,

tốt nghiệp khoa Điện, trường Đại học Kỹ thuật Budapest (BME),

tham gia sinh hoạt Hội Việt Hung từ đợt đầu tiên (1995),

Cơ quan trước đây:  Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Bộ Tổng Tham mưu,

đã mất vào hồi 15g 26 phút ngày 30-10-2026, tức ngày 21-09 năm Bính Ngọ, hưởng thọ 72 tuổi.

Chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới bà quả phụ Quản Duy Ngân Hà, trưởng nam Phan Duy Nam và toàn gia quyến.


Vũ Hoài Chương (Hội Hữu nghi Việt - Hung)

Tuesday, October 27, 2026

Tuổi Ngọ

Gửi người tuổi Ngọ – người ta vẫn thường trầm trồ trước bước chân tự do và nụ cười rạng rỡ như nắng mai của bạn, nhưng chẳng mấy ai nhận ra sau những cuộc hành trình không nghỉ ấy, có những chiều bạn đứng giữa ngã tư đường đông đúc mà lòng chợt hỏi: đâu mới thực sự là nơi mình có thể yên tâm dừng lại…

Theo quan niệm tử vi dân gian, người tuổi Ngọ thường nhiệt huyết, phóng khoáng, trọng sự tự do và luôn mang đến nguồn năng lượng tích cực cho những người xung quanh. Bạn xuất hiện ở đâu là nơi đó có tiếng cười, nhưng ẩn sâu dưới vẻ ngoài tưởng chừng vô tư lự ấy lại là những khoảng lặng rất sâu mà bạn hiếm khi cho phép ai chạm tới.

Bạn nhớ những chặng đường dài mình đã tự bươn chải một mình nơi đất khách. Nhớ những lần nhiệt tình trao đi cả tấm lòng rồi nhận lại sự hờ hững, phũ phàng. Cũng nhớ cả cảm giác trống trải đến lạnh người khi cuộc vui vừa tàn, ai nấy đều có chốn ấm êm để quay về, còn mình thì cứ mãi loay hoay với những trăn trở chưa thể gọi thành tên.

Bạn rất sợ làm chùng xuống tâm trạng của người khác, nên hiếm khi mở miệng than vãn hay kể khổ. Nỗi buồn của tuổi Ngọ thường đến nhanh nhưng lại lắng rất sâu, chỉ có điều bạn luôn chọn cách giấu nhẹm nó đi đằng sau sự bận rộn và những câu chuyện vui vẻ thường ngày.

Có một điều rất đặc biệt ở tuổi Ngọ: càng đi qua nhiều miền đất, gặp gỡ nhiều kiểu người, bạn càng khao khát những điều chân thành và giản dị. Ngày trước, bạn có thể thích những nơi náo nhiệt, thích cảm giác được tung vó vẫy vùng giữa biển lớn nhân sinh. Nhưng về sau, bạn nhận ra tự do thực sự không phải là muốn đi đâu thì đi, mà là trong lòng không còn bị trói buộc bởi những ánh nhìn và kỳ vọng của người đời.

Trưởng thành đôi khi là biết dừng bước đúng lúc để lắng nghe và vỗ về tiếng thở dài của chính mình.

Về tài vận, tuổi Ngọ vốn nhạy bén với thời cuộc, dám xông pha và không ngại thử sức ở những con đường mới. Tiền bạc tìm đến bạn từ sự năng động, quyết đoán và cả cái duyên giao tiếp thu hút sự tin tưởng của người đối diện.

Tuy nhiên, đừng để tính cách phóng khoáng quá mức hoặc những quyết định dựa trên cảm xúc nhất thời làm gián đoạn sự tích lũy của bạn. Kiếm ra tiền bằng sự nhiệt huyết là rất tốt, nhưng nếu thiếu đi sự kiên nhẫn để giữ tiền và thói quen chi tiêu có chừng mực, bạn sẽ thấy mình làm lụng vất vả suốt nhiều năm mà nhìn lại vẫn chưa có được một điểm tựa tài chính thật sự vững vàng khi biến cố ập đến.

Trung vận là lúc bạn nên học cách chậm lại một nhịp để củng cố nền móng dưới chân mình. Thay vì cứ mải miết chạy theo những cơ hội xa xôi hào nhoáng, việc tập trung vào những giá trị cốt lõi, giữ cho mình một khoản tiết kiệm cố định và tránh xa những cuộc đầu tư vì cả nể sẽ giúp tiền tài của bạn ở lại lâu bền, sinh sôi nảy nở.

Trong tình cảm, tuổi Ngọ không cần một sợi dây trói buộc nhân danh tình yêu. Bạn chỉ cần một người đủ tin tưởng để tôn trọng khoảng trời riêng của bạn, đủ bao dung để mở rộng vòng tay đón bạn trở về sau những ngày mỏi gối chồn chân, và đủ tinh tế để hiểu rằng khi người tuổi Ngọ chịu dừng lại bên ai đó, nghĩa là họ đã trao đi cả sự tự do quý giá nhất của đời mình.

Về gia đạo, hãy nhớ rằng những chuyến đi xa dù thú vị đến mấy cũng không bao giờ thay thế được hơi ấm của một bữa cơm nhà. Đừng để guồng quay công việc cuốn bạn đi quá xa khỏi những người thân yêu, hãy dành thời gian ngồi xuống lắng nghe và sẻ chia, bởi sự hiện diện trọn vẹn của bạn chính là món quà lớn nhất dành cho gia đình.

Hậu vận tuổi Ngọ đáng quý nhất là khi đôi chân bạn đã tìm được bến đỗ bình yên và tâm trí thôi bị thúc giục bởi những cuộc đua vô định. Bạn biết đủ với những gì đang có, biết trân trọng sức khỏe và không còn để những tiếc nuối của tuổi trẻ làm xao động lòng mình.

Hậu vận tuổi Ngọ đẹp nhất khi kinh tế tự chủ vững vàng, có một mái hiên yên ả để thong dong ngắm nhìn nắng sớm mưa chiều, con cháu hòa thuận hiếu thảo và trong tim vẫn giữ được ngọn lửa ấm áp, yêu đời như thuở ban đầu.

Bạn không cần phải chạy thật nhanh suốt cả cuộc đời chỉ vì sợ bị bỏ lại phía sau. Đôi khi, cho phép mình đi chậm lại một chút để ngắm nhìn những bông hoa ven đường và tận hưởng từng nhịp thở bình yên cũng đã là một hành trình vô cùng trọn vẹn rồi.

FB-Nguyễn Đình Trường

Friday, October 23, 2026

Magyar Slágerek

 Az 1973. június 10-én megrendezett diósgyőri popfesztivál (hivatalos nevén az I. Magyar Popfesztivál) volt Magyarország első nagyszabású, egész napos rock- és popfesztiválja, amit a rocktörténet-írás azóta is „kis magyar Woodstock” néven emleget.

Körülbelül 20 000 néző látogatott ki, 14 együttes és 2 szólista lépett színpadra, többek között:

Bergendy, Corvina, Generál, Illés / KITT-Egylet (Koncz-Illés-Tolcsvay), Neoton Família, P. Mobil, Syrius, Mini, Delhusa Gjon (V'73), Ex Vér és a Theatrum.

Nghe bản Hit ở đây

RETRO GOLD HUNGARY

Thursday, October 22, 2026

BUDAPEST: Mùa Thu

BUDAPEST THU NÀY

Mùa thu Budapest, chỉ cần ghé qua những di tích và nơi chốn rất quen thuộc như Quảng trường Anh Hùng, Công viên Thành phố, Lâu đài Vajdahunyad, Pháo đài Ngư phủ, Nhà thờ Mátyás, Phố cổ Buda, quần thể Lâu đài Hoàng gia... là cũng thấy đủ mọi sắc màu của lịch sử và thiên nhiên. Cho dù, cỏ cây hoa lá ở đây không đến mức... vàng khè quá trớn như nhiều nơi, hoặc như sắc ảnh dùng app quá đà, nhưng rất vừa phải và tinh tế 🙂.

Có dịp đưa gia đình bạn học cũ từ thời phổ thông đi lang thang Budapest, thời gian cũng không nhiều, hơn một ngày, nhưng có lẽ cũng đủ để "khoe" nơi này với các anh chị, cô chú đã đi một vòng Trung Âu, đã thưởng ngoạn và chụp rất nhiều ảnh từ Praha, Karlovy Vary đến München, Hallstatt, Vienna... Những ngày cuối, chân đã mỏi, ngắm cung điện lâu đài lăng tẩm thánh đường đã ngán, Budapest liệu có ấn tượng với mọi người?

Câu hỏi ấy phải đặt ra với đoàn, nhưng mình tin tưởng sâu sắc rằng sự hấp dẫn của một điểm đến không chỉ ở chỗ nó đẹp (ở đâu chả đẹp?), mà còn nằm ở những câu chuyện và con người ở đó, mà du khách tất nhiên không ai có thể nhớ hết, nhưng phần nào sẽ còn đọng lại qua những chùm ảnh. Những khoảnh khắc "kể chuyện" chớp nhoáng để khỏi phạm vào quỹ thời gian vốn dĩ không bao giờ nhiều của đoàn, luôn là kỷ niệm với mình.

Với bạn mình, người từng qua Budapest tầm 36 năm trước, thì chuyến đi này cũng là thử thách với trí nhớ, xem chỗ này là chỗ nào, sao không giống xưa, mọi thứ "vật đổi sao dời" thế nào, v.v... Bằng một cách thần kỳ nào đó, bạn còn giữ được mấy tấm ảnh xưa, cái thời sang lắm mới kiếm được cái máy ảnh, cuộn phim ORWO 36 hay Kodak 24 "bô", chụp xong hồi hộp đi rửa có khi hỏng cả cuộn. Bạn dùng ảnh ấy để so với bây giờ.

Đó là những giây phút cảm động và vượt lên hết thảy mọi danh lam thắng cảnh, khi ký ức rất xa xôi tỏ ra còn mạnh hơn là trưa nay mình từng ăn gì 🙂. Nhiều thứ bạn nói, là bọn mình đã đến chỗ này chỗ kia, với bạn A bạn B, mình không còn nhớ nữa nhưng hoàn toàn tin là nó đã như thế. Một hành trình như thế, giá trị và ý nghĩa hơn nhiều vì nó nhắc nhớ những năm tháng thời đi học, vô tư và ngu ngơ, một thời rất xa vắng...

Những ngày cuối thu, đồng hồ mới được chỉnh lại theo giờ mùa đông, trời mau tối dễ sợ, sau 4h chiều là đã sẩm tối và tối rất nhanh, không còn cái cảnh nắng chiều chạng vạng (chữ của cụ Phan Khôi) còn kéo dài nhiều giờ như lúc hè. Budapest vào đêm lung linh với ánh điện không quá chói sáng nhưng tinh tế phủ lên Tòa nhà Quốc hội và những cây cầu lịch sử ngang sông Danube, tạo cảm giác như bước vào một câu chuyện cổ tích.

Mình nghĩ, Budapest là thành phố có cảnh đêm đẹp và giàu sức gợi bậc nhất ở Trung Âu, với cảnh quan trải dài hai bên sông Danube và kết nối với nhau bằng những cây cầu sáng đèn trong đêm. Những gì du khách thấy vào ban ngày, ban đêm vẫn có thể gây ngạc nhiên khi hiện ra với sắc vẻ khác. Vẻ đẹp kỳ diệu ấy, bà con bên này nghiễm nhiên được thụ hưởng mà nhiều khi không biết, còn nhà bạn mình phải đi cả chục ngàn km 🙂.

Hai ngày trôi vèo, mà vẫn còn "Chợ Cầu Xanh" và Nhà Thờ Lớn chưa đi. Vẫn còn szalámi và Unicum "độc nhất vô nhị" tiến vua của Hungary chưa mua 🙂. Đất nước bé nhỏ này hàm chứa không ít những giá trị cho thế giới, và nhà bạn mình tới cuối ngày đã có thể tán thưởng và hưởng ứng những sự tích, tên tuổi, câu chuyện về lịch sử, văn hóa Hungary, có khi khâm phục, có lúc bùi ngùi - thì mình nghĩ đã làm được điều mình muốn...

Nguyễn Hoàng Linh

Những góc chụp tuyệt vời.

Köszönöm szépen!

Reply



Anh Ngoc Nguyen

 ·

 ·


by author

Em cũng công nhận Budapest có cảnh đêm tuyệt đẹp. Lúc đi tàu dọc sông Danube, khi đi ngang tòa nhà Quốc hội, cứ như khung cảnh lâu đài cổ tích, các công trình khác, các cây cầu khác cũng đẹp nữa.

Reply

Yen Tran

 ·

 ·


by author

Cảm ơn Nguyen Hoang Linh, lâu lắm mới quay lại Budapest, vẫn cảm giác là 1 Budapest lung linh nhưng đẹp hơn trước khá nhiều, 36 năm lại quá dài nên gần như mình ko còn nhớ chi tiết về chuyến đi trước, trừ những gì còn đọng lại trong các bức ảnh!



Wednesday, October 21, 2026

Ký ức của Hoàng tử: Cuốn sách kỷ niệm

 Romeo, Juliette và bóng tối. 

    Hôm nay tình cờ mua lại được cuốn sách tôi đọc lần đầu cách đây 60 năm. Đây là tái bản năm 2000. 

    Bản dịch rất hay của nhà văn Nguyễn Thành Long, bạn thân của bố tôi, là thân phụ của Que Huong Nguyen.

    Cuốn sách kỷ niệm chúng tôi gặp nhau lần đầu mở đầu cho một sự gắn kết về tinh thần suốt đời  với  Nógrádiné Kiss Magdolna.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, October 20, 2026

Câu chuyện của chúng tôi ( 8 )

Một thời đã xa

Egy régmúlt idő: Volt egyszer – Amikor fiatalok voltunk

Ký ức một thời tuổi trẻ đã lùi xa, nhưng vẫn in đậm trong chúng tôi khoảng thời gian đẹp nhất và đáng nhớ nhất: Once Upon a Time - When We Were Young.

Cánh cửa Hungary mở rộng đưa chúng tôi vào một thế giới rộng lớn, giúp chúng tôi "vỡ lẽ" để cảm nhận/thấm thía nhiều điều về cuộc sống và con người. Với tôi, đây là chân trời mới, là vùng trời tự do. Dù thời gian sống ở Hungary chỉ là một phần nhỏ so với trước đó và sau này, nhiều người trong chúng tôi đều thấy được ảnh hưởng của Hungary là rất lớn, rất quyết định đối với sự phát triển về mặt trí tuệ cũng như về nhân cách của mỗi người. 

Với nhiều LHS, đó là thời kỳ học hành gian khổ, đầy nỗ lực vì nghĩa vụ với đất nước, để giữ trọn lời hứa với gia đình và những bậc tiền bối khả kính của mình. Tiêu biểu trong số này là chị Tăng Kim Đoan, sang Hungary vào năm 1969. Cũng như tôi, chị là học sinh miền Nam (đi theo diện Mặt trận DTGPMNVN). Khi cầm trên tay quyển học bạ ở "thời đẹp nhất tuổi thanh xuân" chị nhớ lại "trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt, bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt, hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên."

Học bạ ĐH SEMMELWEIS (Hình ảnh: Chị Đoan, M69)

Chị Đoan nhớ lại nơi ấy "là phương trời mơ ước mà sau 6 năm đã trở thành thân thương như quê hương thứ hai không bao giờ quên được - Hungary! Đất nước ấy không to lớn,giàu có hùng mạnh nhưng giàu lòng nhân ái, thông minh, xinh đẹp đã giúp chúng tôi sống và học tập để khi trở về nước có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Giờ đây mọi người đã ở tuổi U80 chúng tôi vẫn cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, vẫn nhớ da diết Hungary yêu dấu, có bất cứ dịp nào cũng muốn trở lại nhiều lần và luôn tự hào rằng mình đã được đào tạo ở đất nước Hungary. Cầu chúc cho đất nước Hungary yêu dấu phát triển ngày càng vững mạnh lên, vẫn luôn xinh đẹp và nhân ái!"

Với các bạn của mình, và những anh chị lớn hơn, những người làm tròn bổn phận của ''hạt giống đỏ'' hay những người ''bôn sệt'' chân chính, tôi luôn dành cho họ sự tôn trọng chân thành vì tự thấy mình có lỗi và thua kém mọi người do đã ko có sự chuyển đổi phù hợp cả về ngành học và cố gắng hơn nữa để có thể học tập và hoàn thành tốt trách nhiệm của 1 LHS khi đó. 

Vào năm chúng tôi đến Hungary thì GS. Trần Văn Nhung đang là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thời gian 1978-1982, ông học tiếng Hung, làm NCS và bảo vệ luận án PTS tại Trường Đại học Bách Khoa Budapest (BME). Những năm 1988-1990, ông giảng dạy Toán cho sinh viên quốc tế bằng tiếng Anh tại Đại học Bách khoa Budapest, đồng thời làm và bảo vệ luận án Tiến sĩ.

GS. Trần Văn Nhung kể về bước ngoặt đối với ông là vào năm 1965 được dự cuộc thi học sinh giỏi toán lớp 8 toàn miền Bắc để tuyển vào học Lớp Toán đặc biệt (sau này gọi là Lớp chuyên Toán), Khoá I (1965-1967), của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTH HN, nay là ĐHQG HN). Tên viết tắt thời đi sơ tán trong chiến tranh chống Mỹ là Lớp Ao. Cả Trường ĐHTH Hà Nội sơ tán trên Thái Nguyên được gắn ký hiệu mật là T104, Khoa Toán là A, Khoa Lý là B, Khoa Hoá là C,...  Trùng hợp làm sao khi ông vừa học xong lớp 8 thì Lớp Toán đặc biệt Ao lại ra đời bắt đầu từ lớp 9 và lứa học sinh của ông được vào học với học bổng toàn phần 20 đồng/tháng do Nhà nước cấp. Nếu Lớp này chỉ cần ra đời muộn hơn một, hai năm hoặc chỉ bắt đầu từ lớp tám như thông lệ sau này của nó thì câu chuyện của ông sẽ khác! Ông ko những đã ko phải bỏ học ở quê mà lại còn được vào học Lớp Toán đặc biệt Ao khoá I, được nghe những bài giảng sâu sắc, hấp dẫn và rất sư phạm của các giáo sư toán học tài năng và giàu nhiệt huyết như Hoàng Tụy, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường, Nguyễn Thừa Hợp, Lê Minh Khanh, Nguyễn Duy Tiến, Nguyễn Viết Phú, Đặng Hữu Đạo,...

Ông còn nhớ vào một ngày tháng 9 năm 1965 đã nhận được giấy gọi vào học Lớp 9 Chuyên Toán khoá I, trường ĐHTH HN, do nhà Toán học, cố GS TSKH, Phó Hiệu trưởng Lê Văn Thiêm ký. Từ một vùng quê của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, ông đã về Hà Nội tập trung cùng các bạn mình thành một lớp gồm 38 học sinh và đã di chuyển ngay lên khu sơ tán của trường ĐHTH HN tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Các học sinh giỏi của miền Bắc lúc đó được triệu tập từ nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có cả những học sinh miền Nam theo gia đình tập kết ra Bắc.

Những năm 1960-1970 ở Hà Nội có ít trường cấp 3 lắm, trong nội thành chỉ có mấy trường phổ thông Chu văn An, 3A, 3B (đến năm 1964, đi sơ tán mới tách ra thành mấy trường mới : Thăng Long, Đoàn kết…). Ngoại thành có Yên Hòa, Việt- Ba, Nguyễn Gia Thiều, Đông anh… Rất ít trường, nhưng số lượng học sinh cũng ko nhiều nên vào học cấp 3 cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần tốt nghiệp cấp 2 đến phòng Giáo dục khu phố (nay là Quận) nộp hồ sơ để xếp vào trường và theo hẹn đến nhận giấy báo nhập trường.

Những ngày sơ tán rất quen thuộc với dân HN chúng tôi. Lúc đi sơ tán thì tôi còn nhỏ, mới học cấp 2. Lên cấp 3 thì về HN học. Thời gian sơ tán của tôi trải qua ở nhiều huyện khác nhau thuộc Hà Tây và Hưng Yên. Hồi học lớp 6, tôi đi theo trại trẻ của Ban Thống Nhất TW ở Chương Mỹ. Chúng tôi sơ tán ở 1 làng ven sông Đáy, chỗ học nằm ở rìa 1 ngôi làng bị ném bom, may mà thoát chết. Sau đó, chúng tôi chuyển đến 1 vùng khác.

Lán học nơi sơ tán (Hình chọn từ net)

Về những năm tháng ở Hungary, GS Trần Văn Nhung bày tỏ: “Hungary khiến tôi ngạc nhiên và thán phục...". Mảnh đất này đã chắp cánh cho ông trong việc phát triển tư duy và sự nghiệp khoa học. Ông thổ lộ với Nhịp Cầu Thế Giới: “Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người”.

Ông cũng chia sẻ thêm nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian học tập và nghiên cứu ở Hungary:

"Đất nước “bé hạt tiêu” này đã để lại cho tôi những ấn tượng và kỷ niệm đặc biệt, gây cho tôi từ ngạc nhiên, thán phục này đến ngạc nhiên, thán phục khác. Đó là: tiếng Hung khó, dân tộc Hung thông minh, chính sách cởi mở và toán học phát triển.

Thật khó tưởng tượng: một đất nước chỉ có khoảng 10 triệu dân, với diện tích 93 nghìn km vuông, nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoạt giải Nobel lên tới 15 người (về con số này, do những lý do địa lý, chính trị, lịch sử, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, có những ý kiến cho rằng con số này thực tế còn nhiều hơn thế).

Đó là một kỳ tích mà trên thế giới hiếm có quốc gia nào đạt được. Đúng như một câu ngạn ngữ Hungary: “Kicsi a bors, de nagyon erős” (Bé hạt tiêu).

Tiếng Hung gây cho tôi ấn tượng, kỷ niệm và cả sự sợ hãi đầu tiên. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngay tiếng nói đã chứng tỏ dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới.

Nhắc lại câu chuyện cũ tôi vẫn muốn nói lời cám ơn đến TS. Vũ Hoài Chương, GS. TSKH. Trần Văn Đắc và các tác giả khác đã có đóng góp rất quan trọng cho cộng đồng lưu học sinh Việt Nam tại Hungary với bộ từ điển Hung - Việt “gối đầu giường” gồm hai tập.

Tôi được học chuyên tu tiếng Đức nhưng không được nhận đi làm NCS ở CHDC Đức. Vì vậy tôi là một trong số ba NCS Việt Nam khóa 1978-1982 chưa được học tiếng Hung trước khi lên đường sang Hung.

Tôi còn nhớ một kỷ niệm ngay trong tuần đầu tiên khi vừa đến Budapest và đi tìm thầy hướng dẫn NCS. Anh Đỗ Văn Thành (nay là Lãnh sự danh dự, Lãnh sự quán Hungary tại TP. HCM) đã dẫn tôi đến Đại học Tổng hợp Budapest danh tiếng mang tên Eötvös Loránd xin gặp GS. TSKH. Schipp Ferenc.

Sau mấy câu đầu bằng tiếng Hung nhờ anh Thành phiên dịch, chúng tôi chuyển sang trao đổi trực tiếp bằng tiếng Đức. Lúc đó tôi chưa có thể sử dụng tiếng Anh, tiếng Nga được như tiếng Đức.

GS Schipp đã giới thiệu tôi sang gặp và làm NCS với GS. TSKH. Farkas Miklós ở Trường Đại học Bách khoa Budapest, người cùng làm một hướng với tôi về ổn định của các hệ động lực, dù rằng GS. Farkas làm về các hệ tiền định, còn tôi nửa tiền định nửa ngẫu nhiên.

Trong lần gặp gỡ đầu tiên, GS. Farkas đã ưu tiên tôi dùng tiếng Đức, mặc dù giáo sư hay dùng tiếng Anh.

Với cơ chế mềm dẻo, Hungary đã tạo cho chúng tôi nhiều may mắn: các giáo sư hướng dẫn NCS có thể sử dụng nhiều thứ tiếng quốc tế như Anh, Đức, Pháp, Nga hoặc Tây ban Nha; cho phép NCS nước ngoài viết báo khoa học, luận án PTS, TS và bảo vệ bằng tiếng Hung hoặc một trong các thứ tiếng quốc tế.

Cũng như một số NCS Việt Nam, từ khá sớm ngay khi mới bắt đầu làm NCS, trong các năm 1981-1983 tôi đã được mời đi hợp tác nghiên cứu toán học với các nước Tây Âu như Áo, CHLB Đức, Pháp."

Về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời mình, GS cho biết:

"Với những công dân thông minh, với các chính phủ khôn ngoan và với cơ chế mềm dẻo, đất nước này luôn được xem là một hình mẫu thành công của cả phe XHCN (cũ).

Là một anh “nhà quê ra tỉnh” muộn, sau khi tốt nghiệp đại học ở Việt Nam, thi đỗ NCS, mãi năm 30 tuổi tôi mới được qua Moscow bằng máy bay Nga, rồi từ Nga đi tàu hỏa sang Budapest. Đã từng “nằm mơ nước Nga”, chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài này đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như sang hành tinh mới.

Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người.

Tôi tiếp tục được học toán, làm toán và dạy toán khi sang Hungary. Thật may mắn cho tôi và một số nhà toán học Việt Nam, Hungary “bé hạt tiêu” này là một trong những cường quốc toán học.

Chúng ta đã được nghe tên các nhà toán học Hungary lừng danh thế giới như: Bolyai János, Riesz Frigyes, Neumann János, Rényi Alfréd, Erdős Pál… và các nhà toán học xuất sắc hiện thời, trong đó có GS. Lóvász László (sinh năm 1948), nguyên là Chủ tịch Hội Toán học thế giới (khi GS Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields năm 2010) và hiện nay (2015) là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.

GS Lóvász đã sang dự một hội nghị toán học chuyên đề quốc tế được tổ chức năm 2009 tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Con trai giáo sư là László Miklós Lóvász cũng đã sang Việt Nam tham dự Olympic Toán Quốc tế 2007 (IMO 48) dành cho học sinh phổ thông xuất sắc về Toán học, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của 93 nước và vùng lãnh thổ. Năm đó anh đã giành được Huy chương Bạc."

Với những ấn tượng mang nhiều cảm xúc, GS cho rằng: "Hungary vẫn là nước năng động nhất trong phe XHCN" lúc đó. 

Gia đình GS Trần Văn Nhung tại buổi bảo vệ luận án TSKH Toán học của ông ở Hungary (1990). Nguồn: Nhịp Cầu Thế Giới

Thời tuổi trẻ, chúng tôi sống rất vô tư, vui vẻ hòa thuận với nhau. Với hầu hết các sv VN học ở Hungary, những năm học ở đây là những năm sống trong bầu ko khí của tự do. Đến trường ko phải làm trực nhật, ko có giờ đạo đức nhạt nhẽo và phải học chính trị nặng nề. Đảng và Đoàn được xác định thuộc về lĩnh vực chính trị, ko có vị trí tối cao trong trường học và các công sở. Người Hung ăn mặc tùy thích, ai thích râu tóc xồm xoàm thì cứ để, ko thích có thể cạo trọc, muốn quần loe thì loe, ko thích thì bó. Những gì thuộc về cá nhân, kể cả chuyện yêu đương, hoàn toàn tự do, ko phải xin phép và báo cáo với ai hết. Trong 1 xh như thế, họ chỉ cần chúng tôi cọ́ kiến thức khoa học, kiến thức tiếp thu ntn tùy thích, có thể ở nhà tự đọc tài liệu, có thể đi nghe giảng, giờ lý thuyết ko bắt buộc, nếu đi nghe, hết giờ, giảng viên lại cúi đầu cảm ơn chứ ko bao giờ nặng lời chỉ trích nếu thấy những điều lẻ tẻ ko đáng để bận tâm...

Ngay từ năm thứ nhất ĐH, đã có các GS, viện sĩ đầu ngành trong số các giảng viên tới thuyết trình những thành quả nghiên cứu mới nhất, chứ ko phải chỉ có các giảng viên nhại đi nhại lại các kiến thức đã thuộc lòng. Vì thê,́ thi cử ở đây nghiêm khắc và hầu hết là vấn đáp....Về sau, ở thời kỳ du học sinh (DHS), sau khi học xong, ai muốn về nước thì về, ai thích ở lại làm việc hoặc học tiếp cũng được, ko bắt buộc phải về nước như trước.

Do đó, nhiều người đã ở lại, có lẽ vì cái tự do ngọt ngào từng được trải nghiệm đó... đã ngấm vào người nên nước Hung trở thành Tổ quốc thứ 2. Dần dần, họ trở thành bạn bè và gắn bó với cộng đồng mới. Hàng xóm láng giềng cũ, mới người Hung gần gũi như người thân. Nếu có điều kiện, vào dịp những kỳ nghỉ và thời gian thoải mái có thể mời nhau vui vẻ bên chén rượu, tách trà đàm đạo sự đời. Những khi gia đình muốn đi du lịch xa, có thể trao chìa khóa nhà, nhờ hàng xóm trông và cho chó mèo hay cá ăn hộ. Nhiều người còn nhờ tưới cây, chăm sóc sân vườn, mà phần lớn là được hàng xóm tặng. Cuộc sống vui và thoải mái.

Một thời để nhớ

Khi viết những dòng này, tôi muốn nói đến những mảnh ghép của chúng ta, những người đã từng có nhiều kỷ niệm với đất nước và con người Hungary. Cũng như Hoàng tử và những người từng gắn bó với đất nước này, tình cảm cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.

Và như thế, đây là câu chuyện dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì lưu giữ trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng, những gì còn lại ko bao giờ mất, chỉ có thể cảm nhận, vô cùng quý giá.

Trong số chúng tôi, nhiều bạn đã trở lại thăm mảnh đất được coi như quê hương thứ hai, nơi chúng tôi đã sống, và hầu hết đều nhớ và gọi đó là "những ngày đẹp nhất thời tuổi trẻ". 

Bạn Nguyễn Thị Xuân, sang Hung cùng năm với tôi và cũng học cùng trường ở Pécs đã kể lại chuyến đi đầy cảm xúc của mình trong bài Trở lại một thời... chốn cũ tình xưa: "Lần trở lại này tuy ko dài, nhưng đủ để tôi cảm nhận đc tình bạn-tình yêu ko hề bị thời gian làm thay đổi. 40 năm đã có thể gọi là dài trong một đời người, cảnh vật thay đổi, vẻ ngoài của mọi người thay đổi đến mức khó nhận ra, nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn tươi mới, trong veo như thuở ban đầu.

Một số bạn VN đã hỏi khi tôi chuẩn bị chuyến đi này, rằng sao tôi ko đi dài ngày hơn, dành thời gian đi nhiều nước hơn? Tôi biết các bạn mong tôi nhân dịp này thăm thú thêm cảnh sắc Châu Âu tuyệt đẹp. Tôi đã nghĩ khác. Tôi đi để tìm lại tuổi trẻ, tìm lại tình bạn của chúng tôi (một cô bé VN vui chơi+học hành vô tư cùng các bạn Hungary), và tôi đã thực sự bị sốc, thực sự cảm động, tôi đã khóc. Các bạn tôi (41 con người đã có mặt vì đc tin tôi sang, mặc dù nơi họ sống cách địa điểm gặp mặt 300-400km) vẫn nhớ những kỷ niệm về tôi như giữa chúng tôi chưa hề có 40 năm xa cách.

Mừng vui gặp mặt, những vòng tay ôm chặt, những nụ hôn thắm thiết chưa nói lên đc hết tình cảm các bạn gìn giữ dành cho tôi. Các bạn nhớ hết những "thói hư tật xấu" của tôi (tôi cũng đã quên ngày đó mình như thế nào) và mang ra tố với tôi (khi muốn hỏi gì tôi đã thường nhướng mắt lên, cái mặt vênh lên và hỏi "na és?"), và những kỷ vật rất nhỏ liên quan tới tôi đều đc các bạn cất giữ ở những nơi trang trọng trong nhà, tôi đã đc thấy chúng khi đến nhà các bạn chơi (bưu thiệp chúc năm mới, chúc giáng sinh, ... mà có lẽ chúng ta sau bao nhiêu năm đâu còn giữ đc mấy).

Tranh giành nhau để đc đón tôi về nhà chơi là cuộc thảo luận mà tôi phải giả vờ ko nghe, ko thấy vì tôi đã chảy nước mắt rồi. (Tôi chỉ có 10 ngày với đất Hung và với các bạn thôi, tôi muốn dành 1 ngày về thăm thành phố Miskolc, các ngày còn lại là dành cho các bạn, nhưng đi đâu-với bạn nào-bao lâu thì các bạn phải tự thống nhất với nhau).

Tôi đoán chắc ko nhiều bạn VN khi quay trở lại Hungary nói riêng, các nước Châu Âu nói chung, nơi các bạn đã từng là sinh viên, từng kết bạn với rất nhiều bạn bản xứ, lại có đc chuyến đi đầy kỷ niệm cảm động như tôi đc cảm nhận. Tôi đã sống, sinh hoạt cùng các bạn học của mình như người thân trong nhà, đc các bạn đưa đi chơi thăm vẻ đẹp nơi các bạn sống, đc trải nghiệm làm nhân viên bán hàng, kỹ sư trong nhà máy, kiểm nghiệm viên phòng thử nghiệm,... nơi các bạn đang làm việc (ở Hung 64 tuổi mới đc nghỉ hưu, nam nữ như nhau).

Tôi cũng biết, nhiều bạn khi quay lại thăm quê hương thứ hai của mình thường kết hợp du ngoạn nhiều đất nước khác, thăm nhiều cảnh đẹp khác, và ký ức đọng lại là nơi này đẹp, nơi kia hoành tráng.

Còn tôi, là kỷ niệm sâu sắc về tình bạn, là sự khẳng định những người bạn trời Âu của mình vẫn sống rất tình cảm, vẫn như xưa.

Đối với riêng tôi, đây là một chuyến đi thành công ngoài mong đợi, chuyến đi càng gắn kết chúng tôi với nhau hơn, để từ nay trở đi, tôi chắc chắn tình bạn của chúng tôi là vĩnh cửu.

Chia tay nhau, chúng tôi thường phải quay đi trong nước mắt lưng tròng với lời hẹn hãy-sẽ quay lại ở lần gặp mặt tới.

Tôi thường ko viết dài, càng ko hay viết về cảm nhận của mình, nhưng đây là một hành trình đặc biệt, tôi viết ra đây là mong các bạn khác, đã từng du học như tôi, nếu có điều kiện nên có chuyến đi dành nhiều hơn nữa thời gian cho các kỷ niệm xưa, cho các bạn học cũ của mình để thấy tình người nơi ấy vẫn đáng trân trọng biết bao.

Và tôi cũng tiếc cho một số bạn đã hoàn toàn ko còn liên lạc gì với nơi ấy, nơi các bạn từng yêu mến nó, từng muốn ở lại như quê hương của mình nhưng nay vì những nguyên nhân nào đó ko quay lại đc lấy một lần, hoặc có dịp quay lại cũng chỉ như một khách du lịch bình thường."

Xuân và các bạn của mình (Ảnh của nhân vật)

Nếu chị Đoan là tấm gương của tôi về học tập, thì trong số những sinh viên VN xuất sắc có thể nói đến anh Đinh Hoàng Thắng, người mà tôi đã nhắc đến ở phần trước, khi nói đến cảm nhận về nước Hung, về tâm trạng của chúng tôi khi mới đặt chân lên đất Hung và "bước ra thế giới...". Với tôi, anh là 1 trong những LHS tiêu biểu nhất mà tôi biết.

Anh Thắng đã nói về ý nghĩa lớn nhất, điều mà anh nhận thấy từ những gì nhận được từ đất nước này: "mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, vì đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình”.

Thuộc hàng những LHS tiền bối sang Hungary từ năm 1966, anh Thắng tốt nghiệp Cử nhân/Thạc sĩ về Văn học và Ngôn ngữ Hungary tại Trường Đại học Tổng hợp Eötvös Loránd, Budapest đúng vào năm chúng tôi sang Hung (1972). Thời gian 1983-1986, anh nghiên cứu và nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Trường Đại học Kinh tế Karl Marx, Budapest (nay là Đại học Corvinus Budapest).

Được đào tạo cả về văn, triết lẫn chính trị học, sở hữu kiến thức chuyên sâu về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại từ ELTE, TS. Đinh Hoàng Thắng từng hoạt động trong ngành ngoại giao và là người quan tâm đến các vấn đề liên quan đến chính trị thế giới và ngoại giao của Việt Nam.

“Chàng Ngố” tốt nghiệp đại học năm 1972 - Ảnh do nhân vật cung cấp

Là một cây bút từng giữ chức TBT báo “Quốc tế” (nay là tờ “Thế giới & Việt Nam”, cơ quan truyền thông của Bộ Ngoại giao), TS. Đinh Hoàng Thắng đã tham gia với NCTG bằng một bài viết đầy tình cảm dành cho nước Hung, nơi anh từng có nhiều năm học tập, nghiên cứu và gắn bó.

"Lần đầu tiên, một chàng ngố hơn 17 tuổi, từ mảnh đất đói nghèo và chiến tranh của Nghệ Tĩnh bước ra thế giới, gặp gỡ nhiều người ngoại quốc (külföldiek), được tiếp xúc với cộng đồng quốc tế hẳn hoi (cánh sinh viên Ba Lan, Tiệp, Nga, Anh, Pháp cùng học với bọn mình ngay từ đầu), chứ không chỉ là với thầy cô giáo người Hungary (magyarok).

“Külföldiek”, “Magyarok”… hình như đó là những từ Hung đầu tiên mình học. Cảm giác là sốc và choáng! Quan hệ quá cởi mở (nhìn họ hôn nhau trong lớp vừa ngượng, vừa thích), tự do cá nhân được đề cao ghê gớm. Trong năm đầu học tiếng Hung, bọn mình bị cấm đi nhảy cuối tuần, dù các buổi sinh hoạt văn hóa đó tổ chức ngay trong ký túc xá. Thay vì đi nhảy, bọn mình họp chi đoàn, họp đơn vị, đọc báo Việt (nghe ngộ nhỉ?)… Sự lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới… Có lẽ đó là điều ám ảnh mình suốt những năm sau này, đến bây giờ mình vẫn còn bị hội chứng LPS (Lost Puppy Syndrome).

Vì là dân Tổng hợp, cả trường chỉ có 3 sinh viên Việt Nam nên ngay từ năm thứ nhất mình đã “phải” ở chung phòng với Tây (sinh viên Hung) nhưng đấy là điều thật may mắn. Từ năm thứ hai, thứ ba, mình đã đi dịch được cho Sứ quán, dịch một nhưng phải đoán đến hai… ba… phần - như người Hung hay nói, “a fordítás ferdítés” (?) (1) - mà vẫn được các chú ở Sứ cho là khá (lúc bấy giờ chả có chú sứ nào biết tiếng Hung, ngoài vài câu chào hỏi thông thường như “jó reggelt / jó napot kívánok”). Đi đến các buổi mít-tinh hội họp thì đã có bài viết sẵn, cứ thế mà đọc, may mà phần ngữ âm của mình khá (tiếng Nghệ Tĩnh vốn trầm trầm, phân biệt giữa “sờ” nặng (sör - bia) với “xờ” nhẹ (szabad - tự do) rất rõ ràng, nên khá thuận lợi để học tiếng Hung.

Có một sự kiện mình nhớ rất lâu, đó là được đi dịch cho Đoàn cấp cao Đảng và Chính phủ nước ta lần đầu tiên thăm Hungary. Về chuyến đi quốc tế của Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi đó đều có phim chiếu trong nước, chiếu ngay tại làng Quỳnh Đôi của mình. Thế là đột nhiên mình trở thành “vĩ nhân tỉnh lẻ”. Ba mẹ mình mừng lắm, vì được bà con bàn tán mãi về thằng “cu Đen” ngày nào mà bây giờ được đi cạnh và còn “dám nói chuyện” với ông Duẩn và ông Đồng (thực ra mình chỉ “nhai lại” lời của các cụ mà thôi!).

Năm năm đại học tiếp xúc với toàn sinh viên/các thầy cô ngữ văn, triết học, nhiều hôm mình ngồi café tranh luận sau các seminar chuyên đề ở lớp quên cả lên giảng đường. Đổi lại, mình đã được nghe các bạn nói về những Lukács György, Márkus György, Háy Gyula (2) cùng nhiều tên tuổi khác.  

Mình thích đọc các giáo trình tham khảo hơn là những tài liệu bắt buộc. Sách giáo khoa và các tài liệu chọn lọc đều phải mua, nhưng bọn mình thích đọc các sách “chui” từ các nhà xuất bản bên Tây Đức. Nhất là về các biến cố sôi động ở Hungary từ 1953, rồi 1956, đặc biệt, trước và sau 1968, mình dành khá nhiều thời gian đọc và tìm hiểu về cải cách kinh tế. Mình được đi dịch cho rất nhiều đoàn cán bộ cao cấp từ Việt Nam sang nghiên cứu về cải cách kinh tế ở Hungary trong những năm ấy."

Nói về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh, anh viết:

"Không thể thay thế! Nếu mình đi nước khác, học trong những môi trường khác chắc rằng giờ đây mình không được như thế này. Môi trường giáo dục làm nên con người, chứ không phải là quần áo (3)! Dù rằng trần thế chỉ là hư dối và tạm bợ, mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình. Nếu mình chỉ học trong nước, hay học kỹ thuật, có lẽ mình khó có duyên với ngành ngoại giao sau này.

Cuối cùng, nếu không đi học ở Hung, chắc mình không làm được nghiên cứu sinh. Không phải là vì nhà trường chiếu cố gì cả. Đơn giản là cái đề tài mình đề xuất - “Phân tích hệ thống (rendszerelemzés) như một vấn đề phương pháp luận trong nghiên cứu quốc tế” - đã không được trong nước chấp nhận, vì lý do a, b, c… Viện Hàn lâm Khoa học Hungary cùng hai  trường Tổng hợp và Kinh tế đã hỗ trợ tối đa, nhất là với cái quy chế “cắc cớ” của mình (không đi qua con đường học bổng), mình đành quyết định bỏ tiền túi để học NCS. Nặng nhất là khâu thi tối thiểu (minimum), phải nạp khoảng hơn 4.000 Forint (mệnh giá năm 1983-84). Theo mình biết, ở các nước khác, làm kiểu “tư nhân” (maszek) như vậy là bất khả!"

---------

(1) Dịch là xuyên tạc (chơi chữ trong tiếng Hung, tương đương “dịch là phản” trong tiếng Pháp và Anh).

(2) Các triết gia, nhân sĩ, nhà văn nổi tiếng của Hungary.

(3) Chơi chữ, theo một câu thành ngữ tiếng Hung “Nem a ruha teszi az embert” (Quần áo không làm nên con người, chiếc áo không làm nên thầy tu).
 
Ghi chú của NCTG


Nhà báo Nguyễn Võ Lệ Hà, người sang cùng năm với Ngô Việt, đã viết về khoảng thời gian học tập tại Hungary như sau:“Đó là những năm tháng tuổi thanh xuân đẹp nhất của tôi, là cánh cửa mở cho tôi hiểu biết về Thế giới. Cho tôi tri thức, mở mang trí tuệ và dạy cho tôi phải có nghị lực sống thế nào thì mới vượt qua được mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống”.

Bên bờ Danube - Ảnh do nhân vật cung cấp (NCTG)

Lệ Hà, thường được biết đến với bút danh Hà Huy Anh (trong các tác phẩm dịch) hay Hà Anh My (trong các bài dịch, bài viết trên báo). Hà từng là phóng viên tờ “Phụ nữ Việt Nam”, đồng thời, là tác giả của nhiều đầu sách về đề tài tình yêu, gia đình và thiếu nhi.

Trong loạt bài đăng trên NCTG của một số cựu du học sinh, NCS, cũng như với những người đã có thời gian công tác và sinh sống tại Hungary về những kỷ niệm, ấn tượng trong những năm tháng trên đất bạn, cũng như, vị trí của Hungary trong lòng mỗi người, bài viết của Lệ Hà, bao hàm những tự sự về cuộc đời và tâm tư về xứ sở mà Hà đã coi như quê hương thứ hai. Dưới đây là phần lược trích của tôi, tóm lược những gì mà tác giả muốn chia sẻ với rất nhiều cảm xúc.

"Ba mẹ tôi là Việt kiều tại Lào, đến năm 16-17 tuổi thì đều thoát ly gia đình tham gia quân tình nguyện. Ba tôi được gửi về Việt Nam học trường lục quân Trần Quốc Tuấn vài năm. Lúc quay trở lại Thái Lan thì gặp mẹ tôi vừa cùng gia đình tản cư nhưng mãi đến vài năm sau, khi hai người tái ngộ trong quân ngũ - ba tôi là sĩ quan còn mẹ tôi là y tá - thì hai người mới yêu nhau.

Họ cưới nhau trong quân đội và mẹ tôi đã có mang tôi chừng nửa năm thì Việt Nam chiến thắng Pháp và cả sư đoàn 335 tập kết về Tổ quốc.

Tất nhiên thời đó phải đi bộ vượt Trường Sơn mà về. Ba tôi sợ mẹ vất vả nên khuyên mẹ ở lại sinh nở, sau này hẵng hay. Nhưng mẹ tôi linh tính là nếu ở lại sẽ chẳng bao giờ con biết mặt cha nên vẫn quyết định lên đường. Ba tôi đã dẫn đại bộ phận về trước hàng tháng, mẹ ở bộ phận Quân y nên đi sau. Tất nhiên quân trang, quân dụng của mẹ được đồng đội nam giúp cầm hết, và lúc nào cũng có hai đồng đội kèm mẹ trước và sau.

Không thể kể hết được nỗi mệt nhọc của người phụ nữ mang bầu 6 tháng mà lại đi bộ ròng rã hàng tháng trời trong rừng, trong nắng trong mưa, lội suối, trèo đèo và cả qua sông khi nước lũ tràn về... Chắc mẹ đã phải khóc nhiều, cảm thấy tủi thân nên cô con gái đầu lòng có tên là Lệ Hà (dòng sông lệ), và gồm cả họ ba lẫn họ mẹ. Sau cái tết năm 1955 tôi chào đời ở Thanh Hóa, rồi mẹ lên Mộc Châu nơi sư đoàn đóng quân để đoàn tụ với ba tôi.

Cả tuổi thơ của tôi gắn bó với núi rừng Tây Bắc. Ba tôi lại đi học khóa sĩ quan pháo binh, thế là tôi trở thành đứa con của trung đoàn pháo binh. Mẹ tôi sinh thêm các em nhỏ nên tôi theo ba đi diễn tập, ăn ngủ chung với các chú bộ đội. Lúc nào không đi tập thì tôi lại hát múa theo các cô chú văn công và họ trìu mến gọi tôi là “Aliosha của trung đoàn” (Aliosha là tên một nhân vật đáng yêu trong phim Liên Xô mà dĩ nhiên lúc đó tôi chưa được xem).

Năm tôi 7 tuổi thì ba mẹ tôi phục viên chuyển về Hà Nội. Ba tôi làm trong Ban Công tác Miền Tây (Lào) rồi sau này chuyển sang Bộ Ngoại giao. Mẹ tôi theo học trường Y rồi ra làm y tế Sở Điện lực Hà Nội, về sau chuyển vào Sở Điện lực Miền Nam. Nếu không đi học ở Hungary thì tôi đã là một bác sĩ vì năm 1972 tôi đã đỗ trường Y với điểm khá cao.

Rốt cục, tôi học tiếng Nga một năm tại trường Ngoại ngữ Hà Nội (Thanh Xuân) nhưng phải đi sơ tán ở Mỹ Hào, Hải Hưng vì năm đó B52 của Mỹ bắn phá thủ đô rất quyết liệt. Ngày 7-8-1973 chúng tôi lên tàu hỏa rời ga Hàng Cỏ, vài trăm những đứa trẻ lần đầu xa nhà đến những đất nước xa xôi. Tàu của chúng tôi đi xuyên qua Trung Quốc, Liên Xô rồi mới đến Hungary.

Chặng đường 12 ngày này tôi có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ, bởi vì đối với cô bé mơ mộng như tôi thì đó là cả một thế giới cổ tích rồi. Ngày đó tôi đã viết những vần thơ sau:
Đường anh đi dọc theo đất nước
Trải màu xanh xứ sở quê hương
Những đêm trường bom rơi, đạn nổ
Súng trong tay anh giữ mầu xanh.

Màu xanh rừng núi, xanh áo anh
Đã cho em ngày ra đi ấy
Taiga, Baican những gì em đã thấy
Đanuýp trôi cũng vẫ mầu xanh
 
Đường em đi cách xa Tổ quốc
Bầu trời xanh sắc thắm hòa bình
Những đêm dài học đến bình minh
Em - người lính, chiến trường: Khoa học.
(trích trong bài “Những con đường và những mầu xanh”)

Ngày 19-8-1973, đoàn tàu vào ga Budapest. Chúng tôi được hưởng tình cảm và sự nuôi dạy của nước Hung, nhân dân Hung trong vài năm - đó là những năm tháng tuổi thanh xuân đẹp nhất của tôi, là cánh cửa mở cho tôi hiểu biết về Thế giới. Cho tôi tri thức, mở mang trí tuệ và dạy cho tôi phải có nghị lực sống thế nào thì mới vượt qua được mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống.

Tôi phải nói điều này vì số phận luôn luôn đưa đẩy chúng ta đến những điều không ngờ tới. Vốn dĩ định trở thành một bác sĩ thì sau một năm học tiếng Hung tôi lại bị phân vào học trường Công nghiệp Xây dựng, khoa Kinh tế Đô thị mới mẻ (trước đó chưa có sinh viên Việt Nam nào học ngành này) với các môn toán, lý, cơ, máy tính, kinh tế, thiết kế nhà, sức bền vật liệu, điện, đường sá, v.v...
Tôi hoang mang vô cùng và thấy điều đó thật là cay nghiệt đối với một cô gái thích thơ ca nhạc họa và mơ mộng như tôi. Nhưng rồi các bạn Hung lại là những người giúp đỡ tôi rất nhiệt tình, với tình cảm rất thương yêu của các thầy cô giáo sau 4 năm tôi đã tốt nghiệp. Chúng tôi về nước cũng bằng tàu liên vận - đoàn tôi là một trong những đoàn cuối cùng đi bằng tàu hỏa.

Vào ngày 5-5-2013 khóa chúng tôi họp mặt các cựu sinh viên tròn 40 năm sang Hung. Cả khóa hơn 100 người, vì nhiều lý do chỉ có hơn 30 người đến dự nhưng khi ôn lại chuyện hồi đi học chúng tôi vẫn ríu rít như thời còn trẻ.

Kỷ niệm trên đất Hung nào sâu sắc với tôi ư? Kể thì không thể hết được, ở đây chỉ xin nói về hai kỷ niệm mà tôi rất nhớ cho đến tận bây giờ.

Kỷ niệm thứ nhất liên quan đến bản tính ưa văn nghệ của tôi. Từ khi học ngoại ngữ (tiếng Hung) tại Học viện Dự bị Quốc tế (NEI, Budapest) tôi đã là một nhân tố văn nghệ tích cực, mê đàn hát, nhảy múa khi có dịp. Tôi đã được các chú trên hai sứ quán (Miền Bắc thì bác Nguyễn Mạnh Cầm là đại sứ, còn Miền Nam là bác Nguyễn Phú Soại) mời lên để giúp việc mỗi khi có lễ lạt gì đó.

Việc của tôi là mặc áo dài rồi khi thì hát, khi thì làm phiên dịch cho các quý bà, v.v..., hoặc tham gia đi thăm viếng ở một tỉnh nào đó. Nhân dịp truyền hình Hungary có đưa tin về “thần đồng” thơ Trần Đăng Khoa, anh Đinh Hoàng Thắng cũng gọi tôi đến dự. Anh Thắng dịch thơ ra tiếng Hung, còn tôi thì hát, chương trình ấy được người dân Hung rất thích.

Anh Thắng kể trưa hôm đó anh đi mua thịt mà quên tiền ở nhà, thế là ông hàng thịt bảo: “Mày vừa đọc thơ trên TV chứ gì? Tao cũng xem... cho mày nợ tiền đấy”. Chúng tôi rất tiếc là không có cái video ấy làm kỷ niệm.

Kỷ niệm thứ hai là về ngày 30-4-1975, chúng tôi đến trường được bạn bè, thầy cô reo vui ôm chầm lấy mà reo lên: “Việt Nam hòa bình rồi... Việt Nam hết chiến tranh rồi...”. Tối hôm đó tôi cũng được sứ quán gọi đến dự buổi tiệc chúc mừng chiến thắng do chính phủ Hung và các sứ quán, với nhiệm vụ phiên dịch cho các phu nhân. Cờ hoa sôi động và những lời hô to “Việt Nam chiến thắng...”.

Vui thế mà tôi lại chảy nước mắt, tôi biết từ giờ tôi không còn phải canh cánh nỗi lo khi nghĩ tới quê nhà nữa.

Nước Hung đã cho tôi cái gì ư? Với những kiến thức được học, tôi đã làm tốt công việc của mình 7 năm ở Viện Quy hoạch Hà Nội với vai trò kỹ sư kinh tế. Trong thời gian đó, tôi bắt đầu làm những việc mà tôi yêu thích như dịch truyện, dịch thơ từ tiếng Hung, vì tình yêu đất nước, con người và nền văn hóa của xứ sở này.

Tôi làm những điều này hoàn toàn vô tư, không nghĩ là nó sẽ đem lại cho tôi cái gì, nhưng một lần nữa số phận lại... chen ngang. Thấy tôi có khả năng viết, vài tờ báo muốn nhận tôi về và thế là tôi chọn lựa làm nghề báo. Năm 1984, tôi chuyển sang làm ở báo “Phụ nữ Việt Nam” tới khi về hưu. Cũng do tôi dịch được một số tác phẩm văn học Hungary nên tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhưng tôi cho rằng thành công nhất đối với một phụ nữ là nuôi dạy thành công những đứa con của mình. Tôi có hai con gái và ngay từ khi các cháu vừa ra đời tôi đã nuôi dạy chúng toàn diện (cả về trí tuệ, tâm hồn và thể lực) theo những gì mà tôi được thấy, đọc, nghe khi còn là cô sinh viên, sao cho chúng cũng có thể bước ra cánh cửa Thế giới và làm Công dân toàn cầu.

Có lẽ một phần nhờ phương châm nuôi dưỡng và dạy bảo như thế, cùng với sự chuyên cần cá nhân, các con tôi đã vào được các trường chuyên ở Việt Nam và học hết phổ thông cả hai đều đi học ở Anh Quốc bằng học bổng các cháu tự kiếm được. Vũ Nguyễn Hà Anh, con gái lớn của tôi cũng đạt được chút danh vọng trong lĩnh vực thời trang và được biết đến cả trong và ngoài nước.

Nhưng điều khiến tôi vui là dù đã trưởng thành, có điều kiện đi đây đó và đạt được một số thành công trong đời sống và công việc, các cháu vẫn ngưỡng mộ mẹ và các cô, chú, bác... từng đi học ở Hung về. Đó cũng là nhờ nước Hung, con người Hung mà mãi mãi tôi mang ơn..."

Trong số những bậc tiền bối kỳ cựu nổi tiếng nhất của LHS VN tại Hung mà tôi nghe danh khi mới sang Hung là anh Nguyễn Quang A. Anh lớn hơn tôi 9 tuổi và học ở Khoa Điện tử, chuyên ngành Viễn thông tại Đại học Kỹ thuật Budapest (BME). Sau khi tốt nghiệp vào năm 1971, anh là NCS ở Viện Nghiên cứu Viễn thông (Táki). Bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 1975, anh về nước và làm việc tại Viện Kỹ thuật Quân sự Hà Nội (1976-1982).

Năm 1982, anh trở lại Hungary, từ 1983-1987 anh tham gia nghiên cứu Tin học của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary tại Đại học Kỹ thuật Budapest trên cương vị một NCS cấp cao. Năm 1987, anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học, chuyên ngành Điện tử Viễn thông, rồi về nước làm việc tại Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật Tin học Việt Nam.

Trong những năm “cải tổ” thập niên 80 thế kỷ trước, TS. Nguyễn Quang A là một trong những trí thức đầu tiên của Việt Nam chuyển sang kinh doanh cá thể rất thành công với các cương vị Tổng giám đốc Liên doanh Genpacific (1988-1993), sáng lập viên Công ty Máy tính Truyền thông Điều khiển 3C (1993), sáng lập viên, Chủ tịch Ngân hàng VPBank (1993).

Bên cạnh công việc kinh doanh, anh cũng là một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng trên tư cách Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS, một tổ chức mở và độc lập, phi lợi nhuận, tập hợp một đội ngũ trí thức tinh hoa chuyên tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội).

TS. Nguyễn Quang A còn dành nhiều thời gian cho việc dịch thuật và chủ trương Tủ sách SOS2 do anh chuyển ngữ miễn phí, phố biến và quảng bá những tác phẩm kinh điển của thế giới với chủ đề hệ phần mềm điều hành xã hội - làm thế nào để vận hành xã hội một cách hữu hiệu và suôn sẻ, thông qua những lý thuyết, chính sách, thể chế, những kinh nghiệm thất bại và thành công.

TS. Nguyễn Quang A cũng từng giữ chức Chủ tịch khóa 3 của Hội Tin học Việt Nam (VAIP), và là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam - Hungary khóa đầu tiên (2007-2012). 

Nhớ lại thời gian mà anh tự gọi mình là "lính cậu", anh kể: "Khi đó mình đang là "lính cậu", chẳng biết bắn là gì, nhưng các chiến hữu trong Viện Kỹ Thuật Quân sự cũng khối người đã trực tiếp tham gia đánh quân Polpot rồi quân Tàu.

Sau 17-2-1979 khí thế rất sục sôi, nhiều "lính cậu" cũng mang trang bị mới phát triển ở Viện ra chiến trường. Lúc đó người hăng hái tham gia là đại úy Vĩnh (bác đã về SG ở và đã mất ở đó), thượng úy Trạch.

Một lần đi theo 2 thủ trưởng này (lúc đó mình là trung úy thì phải) đi từ Hà Nội vòng Tiên Yên lên Móng Cái, quay sang phía Lạng Sơn, Cao Bằng rồi về Hà Nội. Cảnh chiến tranh tàn phá thật khủng khiếp.

Bọn mình bị dân Móng Cái mắng cho một trận vì cứ đi xe vượt qua cầu. Họ bảo mấy chú điên à! Hôm qua 1 xe tương tự đã bị bọn Tàu cho 1 quả B40 tan sạch. Lúc quay lại anh Vĩnh quyết định đi cầu phao.

Đó là vài kỷ niệm khó quên của một gã "lính cậu"."

Anh Quang A đã nói về Hungary, nơi có ảnh hưởng quyết định với anh như thế nào, trong lần trò chuyện với NCTG nhân dịp Quốc khánh Hungary 20-8-2013. 

NCTG: Từng có một khoảng thời gian dài du học, và sau đó làm luận án Tiến sĩ rồi Tiến sĩ Khoa học tại Hungary, anh có thể chia sẻ với độc giả NCTG một kỷ niệm sâu sắc thời ở Hung?

TS. Nguyễn Quang A (N.Q.A.): Cho đến khi về nước vào năm 1976 tôi biết về Hungary nhiều hơn về Việt Nam rất nhiều. Đơn giản khi còn là học sinh ở Việt Nam tôi không có cơ hội đi đâu cả. Đến 1965 tôi mới ra Hà Nội lần đầu, còn trước đó chỉ quanh quẩn trong huyện là chính.

Tại Hung đi theo lớp học mỗi học kỳ đi một nơi, đi dự mít-tinh thời đó ở mọi nơi, ngang cùng ngõ hẻm tôi đều được đến. Khi làm xong Phó tiến sĩ, tôi thật xấu hổ thấy mình biết quá ít về Việt Nam.

Một kỷ niệm có liên quan: đến nhà ăn tối cùng hai ông viện sĩ Hung, họ nghĩ mình từ một đất nước Phật giáo thì chắc biết kỹ lắm, Đại thừa ra sao, Tiểu thừa thế nào. Tôi bảo tôi không biết gì cả. Lúc đó tôi chỉ muốn có cái lỗ nào chui xuống đất cho đỡ xấu hổ!

Hôm sau tôi ra hiệu sách mua một cuốn sách về các tôn giáo lớn rồi đọc ngấu nghiến, sau đó tôi đã biết thêm chút ít. Các lần sau tôi còn có thể tán gẫu với họ cả về các tôn giáo khác nữa.

NCTG: Đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh?

N.Q.A.: Tổng cộng tôi ở Hungary hơn 13 năm một chút. Toàn bộ tuổi thanh niên của tôi ở đó. Không có thời gian ở Hungary chắc chắn đời tôi sẽ khác hẳn. Hungary có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển trí tuệ của tôi.

Những điều này, tôi cũng đã có dịp thổ lộ trong phát biểu ngắn nhân dịp được Bộ Ngoại giao Hungary trao tặng giải thưởng “Vì các mối quan hệ quốc tế” của Cộng hòa Hungary (năm 2008). Tôi có nói về hai “giải tỏa” rất riêng tư, nhưng cần thiết cho sự hợp tác và hội nhập, cho sự phát triển của mỗi người, mỗi nước.

Thứ nhất, đó là giải tỏa sự đóng kín về địa lý. Như đã nói ở trên, trước khi ra Hà Nội để chuẩn bị đi Hungary, tôi chưa bao giờ ra khỏi tỉnh nhà là Bắc Ninh. Cho dù chẳng ai cấm đoán, nhưng điều kiện và hoàn cảnh lúc đó như vậy. Cho đến khi về nước, tôi rất xấu hổ nhưng đồng thời cũng tự hào để nói với bạn bè rằng mình biết đất nước Hungary nhiều hơn Việt Nam.

Sau này, tôi mới được biết nhiều hơn về Việt Nam. Giải tỏa sự đóng kín về địa lý gắn với phát triển kinh tế - kỹ thuật, với quyền tự do đi lại của con người, với sự hội nhập quốc tế. Tại các quốc gia đang phát triển, đã có sự phát triển vượt bực, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để giải tỏa sự đóng kín về địa lý đối với người dân.

Thứ hai, là giải tỏa sự đóng kín về tư tưởng, để cho đầu óc mở mang với những luồng tư tưởng mới. Không như thế sẽ không thể có sự phát triển. Suốt thời gian qua, tôi đã cố gắng giúp mình giải tỏa khỏi sự đóng kín đó và hy vọng có thể giúp được một số người khác thông qua các bản dịch, những bài viết và hoạt động xã hội của mình.

Trong những năm tháng học tập và nghiên cứu tại Hungary, tôi đã học được cách tư duy và hành động đóng vai trò quyết định khiến tôi giải tỏa được hai vấn đề trên.

Anh Quang A tại cuộc gặp mặt hữu nghị Việt - Hung 2013 - Ảnh: Bích Ngọc

Thế hệ LHS của chúng tôi kể từ năm 1975 đều tốt nghiệp vào những năm đầu của thập nên 80. Kể từ lúc này là bắt đầu 1 thời kỳ khác. Trong số những sinh viên đầu tiên của giai đoạn này, tôi muốn nói đến TS Bùi Việt Hoa. Bởi cô nhỏ hơn chúng tôi 7 tuổi, đầu thập niên 80 thế kỷ trước du học tại hai Đại học Tổng hợp của Hungary và tốt nghiệp năm 1987, khoa Ngữ văn Hungary, Ngôn ngữ và văn hóa Phần Lan. Sau đó, cô tiếp tục tham dự các khóa học về Ngôn ngữ và văn hóa, Văn học dân gian và Văn học Phần Lan tại Đại học Tổng hợp Helsinki (Phần Lan). Năm 2002, cô bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Chuyên ngành Folklore Phần-Ugor tại Đại học Tổng hợp Budapest.

Là người am hiểu sâu sắc về văn hóa, văn học hai nước Hungary và Phần Lan, TS. Bùi Việt Hoa từng có thời kỳ giảng dạy tiếng Hung tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, cũng như làm công việc dịch thuật, phiên dịch tự do. Tuy nhiên, tình yêu văn hóa Phần Lan đã là động lực thúc đầy cô hoàn thành tác phẩm dịch “Kalêvala”, bộ sử thi được đánh giá là đã nâng tầm Phần Lan từ chỗ là một dân tộc ít được biết đến trên thế giới, và góp phần phát triển ngôn ngữ Phần Lan, thúc đẩy ý thức dân tộc của người dân nước này.

TS. Bùi Việt Hoa là điều phối viên Dự án Nhịp cầu Văn hóa (Quỹ Juminkeko Phần Lan). Cô là hội viên Hội Văn học Phần Lan, Hội Kalêvala (Phần Lan) và Hội Nhà văn Việt Nam, đồng thời là Hội viên danh dự Hội Những người bạn Kalêvala (Budapest). Dịch phẩm Việt ngữ “Kalêvala” của cô đã được Giải A về dịch thuật (năm 1995) của Hội Nhà văn Việt Nam, và sau đó được các giải thưởng của Hội Kalêvala (Phần Lan).

TS. Bùi Việt Hoa cũng là tác giả và dịch giả của một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam, cũng như văn học Phần Lan và Hungary. Về những kỷ niệm đáng nhớ và sâu sắc trong thời gian học tập tại Hungary, vị trí của nước Hung trong lòng, cũng như cơ duyên nào khiến cô có mối quan hệ thân tình và trở thành con nuôi của một vị tổng thống Hungary, TS. Bùi Việt Hoa đã có những dòng tự sự sau đây.

"Sáng 18-9-1980, lũ chúng tôi ba mươi bảy đứa cả trai và gái của khóa 80-86 ngồi trên con tàu xình xịch tiến vào ga Keleti (1). Tôi cũng háo hức như các bạn cùng lứa, suốt cả mấy tiếng đồng hồ kể từ khi tàu qua biên giới Liên Xô chỉ thò đầu ra ngoài ngắm cảnh đất nước Hungary. Không biết các bạn khác thế nào, chứ tôi lúc ấy vẫn chưa ý thức được những năm tháng tới sẽ thay đổi cả cuộc sống và cách suy nghĩ của mình.

Tôi và Tôn Thiên Hương, người bạn học cùng phổ thông thuộc diện “đặc biệt” của năm. Đặc biệt ở chỗ hai chúng tôi được xếp học ngữ văn Hungary (magyar szak)! Trước chúng tôi, các anh các chị đi học ngành này cũng rất hiếm hoi: khóa gần nhất cũng là khóa của thầy Chiến, cô Diệp, anh Trương Đăng Dung… còn sau chúng tôi hình như tịch không có một ai. Đặc biệt ở điểm nữa, sau năm học tiếng Hung ở Viện Dự bị Quốc tế (N.E.I), chúng tôi bị “bắn” lên Đại học Tổng hợp Kossuth Lajos ở tận Debrecen, một thành phố cách thủ đô hơn hai trăm cây số để rồi hai năm sau, kỳ kèo với các ông ở Bộ Giáo dục Hungary, lại được chuyển về Đại học Tổng hợp Budapest (ELTE).

Cũng cái ông quyết định cho chúng tôi về lại Budapest, một năm sau ký quyết định cho chúng tôi được học thêm ngành nữa: Hương học Quốc tế ngữ Esperanto, tôi học ngôn ngữ và văn hóa Phần Lan. Tôi vẫn còn nhớ cảnh hai đứa xách chai rượu (nước Hung của những năm 1980 nhé!) lò dò vào tòa nhà của Bộ Giáo dục!

Dù sao, với quyết định – và được chấp nhận - lấy thêm ngành này, cuộc đời tôi đã chuyển sang một bước ngoặt lớn. Cũng vì học ngành xã hội, nên chúng tôi có điều kiện, và bắt buộc phải học thêm rất nhiều môn, liên quan đến văn hóa, tôn giáo, lịch sử… thế giới và châu Âu nói chung, cũng như của Hungary. Thế giới quan của tôi hình thành từ những ngày đó. Nếu không có những năm tháng ở Hung ngày ấy, chắc chắn tôi sẽ không là tôi của ngày hôm nay.

Bạn hỏi tôi một hai kỷ niệm cụ thể mà tôi vẫn nhớ và cho là sâu sắc. Thật là khó! Tôi vốn nhớ dai. Nhưng thời gian qua, bao nhiêu kỷ niệm vui hay buồn dần hòa quyện với nhau, nhiều lúc trở nên hư ảo, và không biết có thật hay không? Có lẽ là chuyện cùng nhóm sinh viên Việt Nam ở TP Debrecen đi dự Ngày Hữu nghị của công nhân nhà máy xay xát ngũ cốc ở Karcag. Chúng tôi đàn hát cho công nhân nghe – anh Đô, học toán phát biểu ca ngợi tình hữu nghị thì phải. Kết quả lúc chia tay, chúng tôi mỗi đứa được nhận một gói quà trong đó có mấy gói gạo.

Hay là chuyến đi điều tra phương ngữ vùng Hortobágy! Chúng tôi mới đầu năm thứ hai, cho dù suốt ngày chỉ đọc tiểu thuyết - như các bạn trong năm hay đùa – nhưng vốn tiếng chưa đủ để phân biệt được âm nào là tiếng địa phương, âm nào không. Có lẽ chỉ thích vì được vào nhà người Hung ngồi, thấy họ sống ra làm sao, nhà ở của họ thế nào, thay vào việc đi tìm và giải thích tên cánh đồng, mồ mả trong trời mưa rét.

Kỷ niệm một thời với Hungary và những người bạn Hung còn rất nhiều. Tôi đã dự định sẽ trả ”món nợ” nghĩa tình với Tổ quốc thứ hai của tôi trong một cuốn hồi ký. Các bạn cùng khóa tôi cũng đã giục giã nhiều lần. Có lẽ trong thời gian tới, tôi sẽ thu xếp thời gian để bắt đầu.

Vào đầu những năm 80 thế kỷ trước, phần nào đã có thể cảm nhận trong bầu không khí chính trị nước Hung bấy giờ đang có sự thay đổi. Cô bạn Hung cùng phòng với tôi ở KTX Kőrösi Csoma Sándor của ELTE đã từng rủ tôi tham gia câu lạc bộ của những người chống đối. Đấy là tôi đặt tên cho họ như vậy, bởi vì ở đó họ nói rất nhiều đến việc phải thay đổi, lật đổ chính thể Kádár (2)…, cho dù đó là một câu lạc bộ triết học! Tôi không quan tâm đến chính trị nên đã không đi. Nếu hồi đó mà đi, có lẽ tôi đã là bạn của Orbán Viktor (3) và nhóm đảng của ông ta rồi cũng nên! (Họ học Luật ở ELTE, dưới chúng tôi một năm, và ở cùng KTX)!

Không quen Orbán, tôi chẳng lấy đó làm tiếc! Cuộc đời đầy ắp những chuyện kỳ lạ, ngẫu nhiên mà ta không thể lý giải nổi. Như chuyện tôi đã từng học Göncz Árpád! (4)  

Đó là vào hè năm 1983, tôi cùng hơn 10 lưu học sinh nước ngoài tham gia vào Trại dịch thuật Mihályi, do Đoàn Thanh niên Cộng sản (KISZ) của Hội Nhà văn Hungary tổ chức. Là chủ tịch của Hội đồng dịch Hội Nhà văn Hungary lúc đó, Göncz đã tham dự và giảng dạy cho chúng tôi trong suốt khoảng 10 ngày của trại.

Trại dịch được tổ chức trong lâu đài Dőry, nằm giữa làng Mihályi, phía Nam của Kapuvár, thuộc tỉnh Győr-Moson-Sopron. Chúng tôi sống trong các căn phòng của một tòa lâu đài thời Trung cổ. Thường buổi sáng chúng tôi nghe giảng – hay nói đúng hơn nghe các dịch giả, nhà văn và nhà thơ Hungary nói chuyện về công việc sáng tác của họ. Lớp học, nếu trời đẹp là mấy cái ghế trong công viên cạnh lâu đài, dưới mấy gốc cây cổ thụ, bên cạnh dòng sông Kis-Rába.

Buổi chiều là lúc dành cho sáng tác, ai về phòng người ấy làm việc. Các lưu học sinh tự do chọn các tác phẩm Hung, cố gắng dịch ra tiếng mẹ đẻ của mình. Những vướng mắc trong dịch thuật được đưa ra mổ xẻ sau đó, dưới sự hướng dẫn tận tình của các tác gia Hungary. Göncz kể cho chúng tôi sự nghiệp dịch thuật của mình, những tác phẩm ông đã dịch, những tình huống khó ông đã gặp ở từng tác phẩm và cách ông giải quyết… Những câu chuyện ông kể đã khiến tôi tò mò, và sau này tôi đã tìm đọc những tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… của ông để hiểu hơn về một thời kỳ lịch sử – cuộc Cách Mạng 1956, mà lúc đó truyền thông chính thống vẫn ngày ngày ra rả: đó là cuộc chính biến Phản Cách Mạng.

Thú thật lúc đó tôi không tập trung học dịch cho lắm. Hai năm đầu ở Đại học Tổng hợp TP Debrecen chúng tôi học văn học cổ của Hungary và thế giới. Những tác phẩm cao siêu, khó vã mồ hôi. Tôi chẳng chọn được tác phẩm nào để thử sức, đành chọn mấy chuyện cổ tích dễ dễ. Điều tôi quan tâm lúc đó là đi chơi với mấy nhà thơ trẻ của Hung, có người nghề chính là nghiên cứu xã hội học. Chúng tôi mượn xe đạp của dân trong vùng, đạp đi thăm các vùng xung quanh vào thứ Bảy và Chủ nhật.

Tôi đã làm quen với thế giới của tác phẩm “Puszták népe” (Dân vùng thảo nguyên) của nhà thơ Illés Gyula vào thời gian đó. Mới thật hiểu, nước Hung ngoài những thành phố lớn, khu du lịch như Budapest, Debrecen…, còn là những cái làng nhỏ bé, với những người nông dân sống trong các dãy nhà như nhà tập thể xịn ở Hà Nội, sáng dậy từ 4 giờ ra cánh đồng hợp tác, hay cuốc cày trong khu vườn của mình, để rồi 9-10 giờ về ngồi ngà ngà bên chai rượu…

Những năm tiếp theo, khi đã chuyển về ELTE học, thỉnh thoảng tôi có gặp Göncz trong các buổi sinh hoạt giữa Hội đồng dịch và các dịch giả văn học tương lai. Bao giờ ông cũng chu đáo, tận tình giảng cho chúng tôi. Sau này, Göncz có kể là ông quý tôi từ những ngày ở trại. Nhiều lúc nghĩ lại, tôi hiểu: tình cảm ông dành cho tôi là tình cảm ông dành cho dân tộc Việt Nam. Số phận đã ưu ái để tôi là người Việt Nam đầu tiên ông tiếp xúc và làm việc. Lúc ấy tôi không biết điều đó, chỉ thấy vô cùng kính trọng ông, và không dám lại gần. 

Nhiều năm sau, khi tôi đang đi thực tập tiếng ở Phần Lan, và bắt tay vào dịch sử thi “Kalêvala”, thì có nghe cộng đồng người Hung ở Helsinki kể chuyện Göncz Árpád lên làm Tổng thống Cộng hòa Hungary. Tôi không hề nghĩ đến việc sẽ liên lạc với ông – một khi ông đã giữ trọng trách như vậy, còn đâu thời gian để nhớ đến một cô bé con thích rong chơi hơn là ngồi dịch thơ, dịch truyện. Tôi  chỉ nói với dịch giả Rácz István, người giúp đỡ tôi trong quá trình dịch “Kalêvala”, là tôi vô cùng kính trọng Göncz Árpád, và nghĩ ông sẽ là một tổng thống tốt.

Tôi không nghĩ là Rácz lại kể lại những điều đó cho Göncz nghe, trong chuyến thăm chính thức Cộng hòa Phần Lan của ông. Và điều thực sự khiến tôi bất ngời: Göncz đã yêu cầu thư ký tìm tôi với địa chỉ mà Rácz đưa, và qua Đại sứ quán Hungary ở Hà Nội.

Đó là vào cuối năm 1993. Tháng 4-1994 bản dịch sử thi “Kalêvala” ra mắt bạn đọc Việt Nam. Tôi đã chính thức trở thành đồng nghiệp của Göncz Árpád, điều ông mong mỏi và hy vọng từ những ngày hè 1983, tại lâu đài cổ thơ mộng ở làng Mihályi. Và, ông đã có thể tự hào nói với Tổng thống nước Cộng hòa tự trị Karelia (Liên bang Nga) trong chuyến thăm cái nôi đã sản sinh ra sử thi “Kalêvala”, rằng chính con gái nuôi của ông đã dịch sử thi này ra tiếng Việt! (5). Bên cạnh đó, với tư cách là một nhà văn, gần mười lăm năm sau tôi cũng có thể coi mình là đồng nghiệp của Göncz khi tác phẩm sử thi “Con cháu Mon Mân” của tôi với gần 17 ngàn câu thơ được xuất bản tại Hà Nội. 

Ghi chú (của NCTG):

(1) Ga xe lửa quốc tế phía Đông của thủ đô Budapest.

(2) Chính thể cộng sản tại Hungary, gắn liền với tên tuổi vị Tổng bí thư Kádár János (1912-1989), người đứng đầu ĐảngCông nhân Xã hội (tức Đảng Cộng sản Hungary) trong thời gian từ cuối năm 1956 cho đến cuối đời.

(3) Thủ tướng đương nhiệm Hungary, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Dân chủ (FIDESZ, hiện là đảng cầm quyền tại Hungary).

(4) Nhà văn, nhà soạn kịch, dịch giả, Tổng thống Hungary trong thời gian 1990-2000.

(5) Sử thi “Kalêvala” cũng được coi là một trong những xuất phát điểm sự hình thành các mối quan hệ giữa Phần Lan và Hungary - tác phẩm này đã có năm bản dịch tiếng Hung.

(còn nữa)

Monday, October 19, 2026

Góc tình dục

Tình dục có phải là một nhu cầu sinh lý tất yếu?

Theo một góc nhìn của sinh lý học y khoa hiện đại và triết lý dưỡng sinh của Y học cổ truyền, chúng ta sẽ nhận ra một bức tranh khác: Tình dục vốn không hoàn toàn là một nhu cầu sinh lý mang tính sống còn đối với cá thể con người.

Góc nhìn từ sinh lý Y học hiện đại

Để hiểu rõ bản chất của vấn đề, trước hết chúng ta cần định nghĩa chính xác thế nào là một “nhu cầu sinh lý thiết yếu”. Theo sinh lý học, các chức năng sinh lý nền tảng nhất để duy trì sự sống của cơ thể bao gồm hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết và giấc ngủ. Đặc điểm cốt lõi và tiêu chí duy nhất để nhận diện một nhu cầu sinh lý sinh tồn là nguyên tắc: “Nếu thiếu nó, cơ thể sẽ chết”.

Nếu bạn ngừng thở trong vài phút, các tế bào não sẽ thiếu oxy và tổn thương không thể phục hồi. Nếu bạn ngừng uống nước trong vài ngày, cơ thể sẽ suy kiệt hoàn toàn do rối loạn điện giải và mất nước trầm trọng. Nếu bạn ngừng ăn, các cơ quan nội tạng sẽ dần cạn kiệt năng lượng, suy đa tạng và dẫn đến tử vong.

Ngược lại, tình dục hoàn toàn không đáp ứng tiêu chí sinh tồn này. Hoạt động tình dục và ham muốn tình dục được điều phối bởi hệ thống nội tiết cùng các xung động của hệ thần kinh trung ương. Vai trò lớn nhất của nó, xét về mặt sinh học, là để duy trì nòi giống cho sự tiếp nối của giống loài, chứ không phải để duy trì sự sống cho chính cá thể đó.

Nghiên cứu Nữ tu (The Nun Study) do Tiến sĩ David Snowdon khởi xướng năm 1986, tiến hành theo dõi 678 nữ tu Công giáo. Dù ban đầu nghiên cứu này không nhằm mục đích đánh giá trực tiếp vai trò của việc tuyệt dục đối với sức khỏe, nhưng dữ liệu thực tế lại cung cấp một minh chứng rõ ràng: đây là nhóm người hoàn toàn không có hoạt động tình dục trong suốt cuộc đời trưởng thành.

Kết quả theo dõi kéo dài hàng thập kỷ đã chỉ ra rằng họ có tuổi thọ trung bình vượt trội so với dân số chung, hệ miễn dịch duy trì khỏe mạnh và đặc biệt là tỷ lệ thoái hóa não bộ ở mức cực kỳ thấp.

Một con người hoàn toàn có thể sống một trọn vẹn, phát triển thể chất khỏe mạnh, duy trì tinh thần minh mẫn và đạt đến tuổi thọ tối đa mà không bao giờ phát sinh hoặc thỏa mãn các hoạt động tình dục. Cơ thể con người sở hữu cơ chế tự điều hòa hoàn hảo; việc không hoạt động tình dục không gây ra sự tích tụ độc tố trong cơ thể, không làm thui chột hay suy giảm chức năng của các cơ quan sinh tồn như tim, gan, phổi, hay thận.

Thậm chí, việc nhầm lẫn tình dục là “nhu cầu sinh lý bắt buộc phải được giải tỏa” đôi khi còn thúc đẩy những hành vi tình dục thiếu kiểm soát, gây ra hệ lụy về bệnh lý lây truyền hoặc rối loạn tâm lý.

Góc nhìn từ Đông y

Nếu y học hiện đại nhìn nhận tình dục không phải là điều kiện thiết yếu để sinh tồn, thì y học cổ truyền phương Đông lại tiến xa hơn một bước trên hành trình bảo vệ sức khỏe. Đông y khẳng định một cách sâu sắc rằng: Tiết dục chính là một trong những cảnh giới cao nhất của đạo dưỡng sinh, là chìa khóa vàng để con người đạt tới sự trường thọ.

Triết lý Đông y quan niệm cơ thể con người được nuôi dưỡng, vận hành và bảo vệ bởi “Tam bảo” đó là: Tinh – Khí – Thần. Trong đó, “Tinh” (đặc biệt là Tiên thiên Thận tinh) là gốc rễ của vạn vật, là nguồn năng lượng nguyên thủy và hữu hạn để cơ thể sinh trưởng, phát dục, phục hồi tế bào và chống lại ngoại tà (bệnh tật). Y lý có câu “Thận tàng tinh, tinh sinh tủy, tủy thông với não”. Hoạt động tình dục phóng túng, không có sự kiểm soát được xem là nguyên nhân tàn phá trực tiếp và nhanh nhất đối với Thận tinh.

Khi “Tinh” bị rò rỉ và cạn kiệt qua việc tiêu hao quá mức, cơ thể sẽ mất đi nền tảng gốc. Tinh suy thì “Khí” nhược, Khí nhược thì “Thần” mờ. Biểu hiện lâm sàng của sự hao tổn này là tình trạng mệt mỏi dai dẳng, đau lưng mỏi gối, trí nhớ suy giảm, hệ miễn dịch yếu kém, rụng tóc, bạc tóc sớm và tuổi thọ bị rút ngắn đáng kể. Cổ nhân từng đúc kết “Nhất trích tinh, thập trích huyết” (một giọt tinh quý bằng mười giọt máu) để nhấn mạnh sự trân quý và tầm quan trọng của việc bảo tồn tinh khí.

Trong các phương pháp dưỡng sinh cổ truyền, “tiết dục” là nghệ thuật làm chủ bản thân, không để ham muốn bản năng dẫn dắt tâm trí và làm bào mòn thể xác. Đối với những người thực hành dưỡng sinh chuyên sâu, việc kiêng khem hoặc giảm thiểu tối đa hoạt động tình dục giúp họ “bế tinh, dưỡng khí, tồn thần”. Nguồn năng lượng đáng lẽ bị tiêu hao sẽ được cơ thể giữ lại, chuyển hóa để nuôi dưỡng lục phủ ngũ tạng, giúp trí não tinh thông và duy trì sự dẻo dai ở tuổi xế chiều.

Việc gắn mác tình dục là một “nhu cầu sinh lý” thiết yếu là một sự ngộ nhận mang tính thời đại, đi ngược lại với cả khoa học thực chứng lẫn triết lý y học cổ truyền.

Sinh lý học Tây y đã chứng minh nó không phải là yếu tố quyết định sự sống còn, và Đạo dưỡng sinh Đông y đã đúc kết qua hàng ngàn năm rằng sự tiết chế nó mới thực sự là cội nguồn của sức khỏe và trường thọ. Hiểu đúng về bản chất của vấn đề này sẽ giúp con người hiện đại thoát khỏi những áp lực vô hình của bản năng, biết cách làm chủ tâm thân, từ đó xây dựng một lối sống tĩnh tại, cân bằng và thực sự thuận theo lẽ tự nhiên.

Thanh Long t/h

Nguồn: trithucvn2.net

Sunday, October 18, 2026

The Best Bands and Songs of 60's, 70's, 80's

 A „The Sound of Silence” a Simon & Garfunkel amerikai folk-rock duó dala, amelyet Paul Simon írt. A duó stúdiómeghallgatása lemezszerződéshez vezetett a Columbia Recordsnál; az eredeti akusztikus változatot 1964 márciusában rögzítették a *Wednesday Morning, 3 A.M.* című debütáló albumukhoz. Az album abban az évben októberben jelent meg, ám eladási mutatói kiábrándítóak voltak. A következő évben megjelent egy elektromos hangszerekkel kiegészített, átdolgozott változat, amely a Billboard kislemezlistájának élére került.

"The Sound of Silence" is a song by the American folk-rock duo Simon & Garfunkel, written by Paul Simon. The duo's studio audition led to a recording contract with Columbia Records; the original acoustic version was recorded in March 1964 for their debut album, *Wednesday Morning, 3 A.M.* The album was released in October of that year, but its sales figures were disappointing. The following year, a reworked version—supplemented with electric instruments—was released and reached the top of the *Billboard* singles chart. 

Nghe bản Hit ở đây

RETRO GOLD

Saturday, October 17, 2026

CỤC DIỆN THẾ GIỚI 2026–2028 DƯỚI LĂNG KÍNH “BÀN CỜ LỚN”: CUỘC CẠNH TRANH QUYỀN LỰC VÀ GIỚI HẠN CỦA MỖI NƯỚC ĐI

 Trong cuốn The Grand Chessboard: American Primacy and Its Geostrategic Imperatives (1997)( bản dịch tiếng Việt là Bàn Cờ Lớn), Zbigniew Brzezinski, cựu Cố vấn An ninh quốc gia Hoa Kỳ, xem lục địa Á-Âu là không gian địa chính trị có ý nghĩa quyết định đối với vị thế toàn cầu của Mỹ. Luận điểm trung tâm của ông không đơn giản là Washington phải kiểm soát mọi quốc gia, mà là Mỹ cần ngăn một thế lực thù địch hoặc một liên minh đối thủ thống trị Á-Âu, bởi khi kiểm soát được phần lớn nguồn lực kinh tế, dân số, công nghệ và sức mạnh quân sự của lục địa này, đối thủ có thể thách thức ưu thế toàn cầu của Mỹ. Gần ba thập niên sau, thế giới đã thay đổi đáng kể: Trung Quốc trở thành đối thủ chiến lược hàng đầu của Washington; Nga sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ vùng ảnh hưởng mà họ tuyên bố có lợi ích sống còn; châu Âu phải suy nghĩ lại về an ninh của chính mình; còn Ấn Độ, các nước vùng Vịnh và nhiều cường quốc tầm trung tìm cách mở rộng không gian tự chủ. Vì vậy, nếu dùng “Bàn cờ lớn” để nhìn hai năm 2026–2028, cần xem đây là một khung phân tích về địa lý, quyền lực và liên minh, chứ không phải lời tiên tri có thể dự đoán chính xác mọi diễn biến. Một giới hạn quan trọng khác là không nên đồng nhất lợi ích địa chính trị lâu dài của Mỹ với mọi quyết định của một tổng thống hoặc một chính quyền cụ thể. Địa lý và tương quan sức mạnh tạo ra những sức ép bền vững, nhưng chính trị trong nước, kinh tế, công nghệ, dư luận và sai lầm của lãnh đạo vẫn có thể khiến các nước đi chệch khỏi chiến lược dự kiến.

Trung Quốc và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Trọng tâm của bàn cờ

Nếu phải xác định khu vực quan trọng nhất đối với cạnh tranh quyền lực trong hai năm tới, đó vẫn là Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nơi Mỹ phải đồng thời bảo vệ vị thế chiến lược, duy trì mạng lưới đồng minh và ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Bắc Kinh không chỉ cạnh tranh bằng quân sự mà còn thông qua công nghiệp, thương mại, công nghệ, cơ sở hạ tầng và khả năng chi phối các chuỗi cung ứng quan trọng. Đối với Trung Quốc, Đài Loan vừa mang ý nghĩa chủ quyền theo quan điểm của Bắc Kinh, vừa có giá trị chiến lược liên quan đến vị thế quân sự của Trung Quốc tại Tây Thái Bình Dương. Đối với Mỹ, cách Washington phản ứng trước sức ép đối với Đài Loan lại liên quan đến độ tin cậy của các cam kết an ninh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và các đối tác khác. Vì thế, Đài Loan không chỉ là một vấn đề song phương giữa hai bờ eo biển mà còn là phép thử đối với toàn bộ cấu trúc an ninh khu vực. Tuy nhiên, không nên từ việc Trung Quốc gia tăng năng lực quân sự mà kết luận rằng chiến tranh chắc chắn xảy ra trong giai đoạn 2026–2028. Một cuộc tấn công sẽ phải đối mặt với những rủi ro quân sự, kinh tế và chính trị rất lớn; răn đe, gây sức ép vùng xám, tập trận, chiến tranh mạng và các biện pháp cưỡng ép dưới ngưỡng chiến tranh vẫn có thể là những công cụ được sử dụng thường xuyên hơn. Các diễn biến quanh Đài Loan trong năm 2026 cho thấy vấn đề này tiếp tục là một điểm nóng chiến lược, trong khi quyết định của Washington về bán vũ khí cho Đài Bắc vẫn có thể chịu tác động từ thương lượng cấp cao Mỹ–Trung.(theo Political.org)

Trong bối cảnh đó, khả năng cao là cạnh tranh Mỹ–Trung tiếp tục diễn ra trên nhiều mặt trận, nhưng mức độ đối đầu sẽ dao động tùy theo tính toán của hai bên. Mỹ có lợi ích trong việc hạn chế khả năng Trung Quốc thống trị khu vực; Trung Quốc có lợi ích trong việc làm giảm ưu thế chiến lược của Mỹ ngay sát vùng duyên hải của mình. Hai mục tiêu ấy khó dung hòa hoàn toàn, song không đồng nghĩa với việc hai nước không thể đạt thỏa thuận giới hạn trong thương mại, công nghệ hay quản lý khủng hoảng.

Nga, Ukraine và châu Âu: Một cuộc chiến khu vực với hệ quả toàn cầu

Dưới lăng kính của Brzezinski, Ukraine có ý nghĩa vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia Đông Âu. Vấn đề cốt lõi là trật tự an ninh châu Âu, giới hạn ảnh hưởng của Nga và khả năng các nước châu Âu duy trì quyền tự quyết trước sức ép từ Moscow. Nga muốn ngăn Ukraine hội nhập sâu hơn vào hệ thống an ninh phương Tây và duy trì một vùng đệm chiến lược; Ukraine muốn bảo vệ chủ quyền và quyền lựa chọn định hướng phát triển của mình; các nước châu Âu phải cân bằng giữa hỗ trợ Kyiv, duy trì đoàn kết nội khối và tránh để chiến tranh lan rộng. Nhưng trong hai năm tới, nhân tố có thể làm thay đổi đáng kể cục diện không chỉ nằm trên chiến trường mà còn ở Washington. Những bất đồng giữa Tổng thống Donald Trump và Tổng thống Volodymyr Zelenskyy về các cuộc tấn công nhằm vào hạ tầng năng lượng Nga, việc nới lỏng một số biện pháp trừng phạt và nguy cơ gián đoạn hỗ trợ tình báo của Mỹ đã làm dấy lên lo ngại về độ bền vững của quan hệ Mỹ–Ukraine.(Theo Reuters)

Nếu Washington giảm hỗ trợ, châu Âu sẽ phải đối diện với áp lực tăng chi tiêu quốc phòng, mở rộng sản xuất vũ khí và đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn trong việc duy trì năng lực phòng thủ của Ukraine. Nếu Mỹ tiếp tục hỗ trợ ở mức đáng kể, Kyiv có thể có thêm khả năng thương lượng, nhưng điều đó không tự động bảo đảm một chiến thắng quân sự. Kịch bản đáng chú ý nhất không nhất thiết là một bên hoàn toàn đánh bại bên kia, mà có thể là một thỏa thuận đình chiến hoặc dàn xếp từng phần, trong đó các bên chấp nhận một số giới hạn thực tế nhưng vẫn bất đồng về chủ quyền, lãnh thổ và bảo đảm an ninh. Một thỏa thuận chấm dứt giao tranh cũng không đồng nghĩa với hòa bình bền vững nếu không có cơ chế thực thi và ngăn ngừa tái diễn xung đột. Đối với châu Âu, bài học chiến lược là không thể dựa hoàn toàn vào giả định rằng Mỹ sẽ luôn có cùng cách nhìn về an ninh châu Âu qua mọi nhiệm kỳ tổng thống. Dù quan hệ xuyên Đại Tây Dương không dễ dàng tan rã, sự bất định từ Washington có thể thúc đẩy châu Âu tìm kiếm mức độ tự chủ quốc phòng cao hơn. Điều này không nhất thiết khiến châu Âu tách khỏi Mỹ; nó có thể dẫn đến một liên minh mà các thành viên châu Âu phải đóng góp nhiều nguồn lực hơn để duy trì.(Theo GLOBSEC Security Forecast)

Mỹ sau bầu cử giữa nhiệm kỳ

Chiến lược toàn cầu chịu sự chi phối của chính trị trong nước Một đặc điểm quan trọng của bàn cờ Mỹ là chính sách đối ngoại không chỉ được quyết định bởi các nhà chiến lược mà còn bị ràng buộc bởi Quốc hội, ngân sách, dư luận và cuộc đấu tranh giữa các đảng phái. Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 3 tháng 11 năm 2026 có thể tác động đáng kể đến hai năm cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Trump. Nếu đảng Cộng hòa giữ được cả hai viện, chính quyền có thể thuận lợi hơn trong việc thúc đẩy chương trình lập pháp, ngân sách và các ưu tiên chính sách. Nếu đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát Hạ viện, các cuộc điều tra, giám sát hành pháp và tranh luận về ngân sách có thể gia tăng, khiến Nhà Trắng khó triển khai một số mục tiêu trong nước. Tuy nhiên, việc kiểm soát Hạ viện không đồng nghĩa với việc phe đối lập có thể tự mình thay đổi toàn bộ chính sách đối ngoại: Thượng viện, quyền phủ quyết của tổng thống, luật hiện hành và quyền hạn hành pháp vẫn là những yếu tố quan trọng. Theo khảo sát của Pew Research Center công bố ngày 15 tháng 10 năm 2026, 55% người trưởng thành được hỏi dự đoán đảng Dân chủ sẽ kiểm soát Hạ viện sau bầu cử, so với 40% dự đoán đảng Cộng hòa giữ được đa số. Đây là kỳ vọng của công chúng, không phải kết quả bầu cử hay một dự báo chắc chắn.(Theo Pew Research Center)

Về đối ngoại, tác động có thể thấy rõ ở ngân sách viện trợ Ukraine, các biện pháp trừng phạt Nga, chính sách thương mại, việc bán vũ khí cho Đài Loan và cách Washington phân bổ nguồn lực giữa châu Âu, Trung Đông và châu Á. Dẫu vậy, cần phân biệt hai tầng chính sách. Tầng thứ nhất là lợi ích chiến lược dài hạn của Mỹ: duy trì khả năng tiếp cận các tuyến hàng hải, ngăn đối thủ thống trị những khu vực then chốt và bảo vệ mạng lưới đồng minh. Tầng thứ hai là cách chính quyền cụ thể theo đuổi những lợi ích ấy: thông qua ngoại giao, thuế quan, viện trợ, sức ép quân sự hay thương lượng trực tiếp với lãnh đạo đối thủ. Tầng thứ nhất thường có tính liên tục lớn hơn; tầng thứ hai có thể thay đổi nhanh chóng theo cá tính tổng thống, tình hình kinh tế và kết quả bầu cử. Vì thế, trong hai năm tới, Mỹ có thể vừa tiếp tục cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc, vừa tìm kiếm những thỏa thuận thực dụng với Bắc Kinh; vừa khẳng định vai trò toàn cầu, vừa yêu cầu đồng minh tự gánh nhiều chi phí an ninh hơn. Đây không nhất thiết là sự thiếu nhất quán hoàn toàn. Đó cũng có thể là biểu hiện của một chiến lược đặt lợi ích trước mắt của Mỹ lên trên sự ổn định của trật tự đồng minh truyền thống, nhưng cách thực hiện thiếu dự đoán được sẽ khiến các đối tác phải tính toán lại mức độ tin cậy của Washington.

Trung Đông: Nơi những cuộc khủng hoảng khu vực có thể làm đảo lộn tính toán toàn cầu

Nếu Đông Á là trung tâm của cạnh tranh dài hạn giữa các cường quốc, Trung Đông vẫn là nơi một cuộc khủng hoảng có thể nhanh chóng tiêu tốn nguồn lực và sự chú ý của Mỹ. An ninh Israel, vấn đề Palestine, quan hệ với Iran, an ninh vùng Vịnh và các tuyến vận chuyển năng lượng có liên hệ với nhau nhưng không phải là một bài toán duy nhất. Một cuộc đối đầu kéo dài với Iran có thể làm tăng chi phí năng lượng, gây áp lực lên người tiêu dùng Mỹ, tạo thêm gánh nặng quân sự cho Washington và làm giảm khả năng tập trung nguồn lực vào Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khảo sát của Chicago Council on Global Affairs công bố đầu tháng 10 năm 2026 cho thấy người Mỹ có xu hướng gắn cuộc chiến với Iran và chính sách thuế quan với những lo ngại về chi phí sinh hoạt; trong khảo sát này, 86% người được hỏi cho rằng cuộc chiến với Iran có tác động tiêu cực đến chi phí sinh hoạt tại Mỹ. Đây là kết quả khảo sát về nhận thức của công chúng, không phải bằng chứng rằng mọi biến động giá cả đều do một nguyên nhân duy nhất.(Theo Chicago Council on Global Affairs)

Đối với các cường quốc khác, một nước Mỹ bị cuốn sâu vào Trung Đông có thể tạo ra khoảng trống về sự chú ý và nguồn lực ở những khu vực khác. Nhưng cũng không nên mặc định rằng mọi đối thủ của Mỹ đều có thể tận dụng cơ hội này thành công: một cuộc chiến khu vực có thể làm gián đoạn thương mại, gây bất ổn tài chính và tạo rủi ro cho cả Trung Quốc, châu Âu lẫn các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Trong giai đoạn 2026–2028, câu hỏi then chốt không chỉ là Mỹ có thể giành được lợi thế quân sự hay không, mà còn là Washington có thể chuyển lợi thế ấy thành một trật tự chính trị ổn định với chi phí chấp nhận được hay không. Lịch sử cho thấy thắng lợi quân sự không tự động đem lại một giải pháp chính trị bền vững.

Ấn Độ và các cường quốc tầm trung

Những người chơi không muốn chỉ là quân cờ. Một điểm cần điều chỉnh khi vận dụng “Bàn cờ lớn” vào thế giới hiện nay là không nên xem các quốc gia vừa và nhỏ chỉ như những ô vuông trên bản đồ của các siêu cường. Ấn Độ có quy mô dân số, nền kinh tế, năng lực công nghệ và vị trí địa lý đủ lớn để theo đuổi lợi ích riêng. New Delhi có thể hợp tác với Mỹ nhằm cân bằng Trung Quốc, nhưng vẫn giữ quan hệ với Nga và tránh bị ràng buộc hoàn toàn vào một liên minh do phương Tây dẫn dắt. Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Philippines có những lợi ích an ninh gắn với Mỹ, nhưng cũng phải tự tính toán nguy cơ bị cuốn vào khủng hoảng. Các quốc gia vùng Vịnh vừa duy trì quan hệ an ninh với Washington, vừa mở rộng quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Brazil, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ và một số cường quốc tầm trung khác cũng có thể tận dụng cạnh tranh giữa các trung tâm quyền lực để gia tăng không gian thương lượng. Vì vậy, trật tự thế giới trong hai năm tới có thể không hình thành thành hai khối đối đầu hoàn toàn tách biệt như thời Chiến tranh Lạnh. Thay vào đó, ta có thể chứng kiến một cấu trúc linh hoạt hơn: hợp tác an ninh với một nước, làm ăn với nước khác, đồng thời giữ khoảng cách với các cam kết có thể hạn chế quyền tự chủ. Tuy nhiên, chiến lược “đi dây” không phải lúc nào cũng thành công. Khi khủng hoảng nghiêm trọng xảy ra, các nước có thể buộc phải đưa ra lựa chọn rõ ràng hơn; khi các cường quốc áp dụng trừng phạt hoặc kiểm soát công nghệ, chi phí duy trì quan hệ với cả hai bên có thể tăng mạnh. Bởi vậy, quyền tự chủ thực sự không chỉ đến từ tuyên bố ngoại giao khéo léo mà còn từ nền kinh tế đủ sức chống chịu, năng lực quốc phòng phù hợp, thể chế đáng tin cậy và khả năng đa dạng hóa đối tác.

Công nghệ, chuỗi cung ứng và kinh tế: Mặt trận ít tiếng súng nhưng có sức định hình lâu dài

Bàn cờ lớn của thế kỷ XXI không chỉ được quyết định bởi lãnh thổ, căn cứ quân sự hay số lượng tàu chiến. Bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng, khoáng sản thiết yếu, vệ tinh, cáp viễn thông và năng lực sản xuất công nghiệp đang trở thành những nguồn lực chiến lược. Một quốc gia có ưu thế trong công nghệ có thể chuyển lợi thế kinh tế thành năng lực quân sự, tình báo và ảnh hưởng quốc tế; ngược lại, phụ thuộc quá mức vào một nguồn cung có thể trở thành điểm yếu trong khủng hoảng. Vì vậy, Mỹ và Trung Quốc có động lực tiếp tục cạnh tranh về công nghệ, kiểm soát xuất khẩu và chuỗi cung ứng, dù vẫn có thể cần nhau trong thương mại và một số lĩnh vực kinh tế. Thuế quan cũng không chỉ là công cụ bảo hộ: chúng có thể được sử dụng để gây sức ép, đổi lấy nhượng bộ hoặc khuyến khích dịch chuyển sản xuất. Nhưng thuế quan kéo dài cũng có thể làm tăng chi phí cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, gây trả đũa thương mại và khiến các đồng minh của Mỹ bất mãn. Báo cáo khảo sát của Chicago Council cho thấy phần lớn người Mỹ được hỏi đánh giá thuế quan là bất lợi cho chi phí sinh hoạt, đồng thời phản ánh sự căng thẳng giữa mục tiêu chiến lược và lợi ích kinh tế trước mắt.

(Theo Chicago Council on Global Affairs)

Trong hai năm tới, do đó, không nên chỉ theo dõi những cuộc gặp thượng đỉnh hay tuyên bố cứng rắn. Cần quan sát xem các nước đầu tư bao nhiêu cho nghiên cứu, công nghiệp quốc phòng, năng lượng và hạ tầng số; họ kiểm soát những mắt xích nào của chuỗi cung ứng; và họ có thể chịu đựng bao lâu nếu thương mại bị gián đoạn. Đây là những chỉ dấu ít kịch tính hơn lời đe dọa quân sự, nhưng thường cho thấy sức mạnh bền vững của một quốc gia rõ hơn.

Ba kịch bản cho thế giới đến cuối năm 2028

Kịch bản thứ nhất là cạnh tranh có kiểm soát: Mỹ và Trung Quốc tiếp tục đối đầu về công nghệ, an ninh và ảnh hưởng khu vực nhưng tránh chiến tranh trực tiếp; Nga và Ukraine tiến đến một hình thức đình chiến hoặc thương lượng không giải quyết triệt để mọi bất đồng; châu Âu tăng năng lực phòng thủ; Trung Đông vẫn bất ổn nhưng không mở rộng thành một cuộc chiến khu vực kéo dài. Đây là kịch bản ít gây đứt gãy nhất, song đòi hỏi các bên duy trì được kênh liên lạc và nhận thức tương đối rõ về giới hạn của nhau. Kịch bản thứ hai là phân mảnh và cưỡng ép gia tăng: Mỹ sử dụng thuế quan và sức ép an ninh mạnh hơn, Trung Quốc tăng các biện pháp gây sức ép quanh Đài Loan, Nga tiếp tục tìm cách làm suy yếu sự đoàn kết của phương Tây, còn châu Âu và các cường quốc tầm trung phải tăng chi phí tự bảo vệ. Thế giới vẫn tránh được chiến tranh trực tiếp giữa các siêu cường nhưng ngày càng khó hợp tác, chuỗi cung ứng bị phân tách và các quốc gia phải trả giá cao hơn để duy trì an ninh kinh tế. Kịch bản thứ ba là khủng hoảng dây chuyền: một sự cố nghiêm trọng ở eo biển Đài Loan, một bước leo thang lớn tại Trung Đông hoặc một cuộc đối đầu Nga–NATO có thể làm các khu vực vốn được xem là riêng biệt liên kết với nhau qua năng lượng, thương mại, quân sự và cam kết đồng minh. Trong kịch bản này, các chính phủ có thể hành động dưới sức ép thời gian, thông tin không đầy đủ và tính toán sai về ý định của đối thủ. Không thể khẳng định trước kịch bản nào sẽ xảy ra; hơn nữa, thực tế có thể kết hợp các yếu tố của cả ba. Điều quan trọng là không biến dự báo thành lời tiên tri. Những dấu hiệu cần theo dõi gồm mức độ hoạt động quân sự quanh Đài Loan, quyết định ngân sách và viện trợ của Quốc hội Mỹ, khả năng châu Âu tự tăng cường quốc phòng, diễn biến các cuộc đàm phán về Ukraine, mức độ lan rộng của xung đột Trung Đông và những thay đổi lớn trong chính sách thương mại, công nghệ.

Bài học chiến lược: Đừng nhầm bản đồ quyền lực với số phận đã an bài

Giá trị lâu dài của The Grand Chessboard nằm ở việc buộc người đọc nhìn vượt qua những sự kiện riêng lẻ để nhận ra mối liên hệ giữa địa lý, liên minh và quyền lực. Nhưng thế giới năm 2026 phức tạp hơn một bàn cờ trong đó chỉ có một người chơi và mọi nước đi đều có thể tính trước. Mỹ có ưu thế toàn cầu nhưng phải đối diện với giới hạn chính trị trong nước; Trung Quốc có sức mạnh kinh tế và công nghiệp đáng kể nhưng cũng phải cân nhắc chi phí của một cuộc xung đột; Nga có năng lực quân sự và ý chí theo đuổi vùng ảnh hưởng nhưng không thể loại bỏ những tổn thất kinh tế, nhân lực và ngoại giao; châu Âu có tiềm lực kinh tế lớn nhưng cần thời gian và sự phối hợp để chuyển tiềm lực thành sức mạnh quốc phòng. Những quốc gia tầm trung cũng không hoàn toàn bị động, bởi khả năng lựa chọn đối tác, xây dựng thể chế và tăng sức chống chịu có thể làm thay đổi kết quả của cuộc cạnh tranh. Từ góc nhìn của các nước như Việt Nam, bài học không phải là chọn trước một siêu cường để lệ thuộc, cũng không phải là đứng ngoài mọi xung đột bằng những tuyên bố trung lập. Bài học thực tế hơn là duy trì quyền tự chủ chiến lược, đa dạng hóa quan hệ kinh tế và ngoại giao, hiểu rõ lợi ích cốt lõi của từng đối tác, giữ nguyên tắc trong các vấn đề chủ quyền và luật pháp quốc tế, đồng thời đầu tư vào năng lực nội tại: giáo dục, công nghệ, hạ tầng, năng suất lao động, thể chế và năng lực sản xuất. Một quốc gia càng phụ thuộc vào một nguồn vốn, một thị trường, một công nghệ hoặc một tuyến cung ứng thì không gian quyết định độc lập của quốc gia ấy càng dễ bị thu hẹp khi khủng hoảng xuất hiện.

Kết luận

Trong giai đoạn 2026–2028, thế giới nhiều khả năng tiếp tục được định hình bởi cạnh tranh Mỹ–Trung, bất định trong quan hệ Mỹ–châu Âu, cuộc chiến Nga–Ukraine, những điểm nóng tại Trung Đông và sự cạnh tranh về công nghệ, năng lượng cùng chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, biến số quyết định không chỉ là ai có nhiều quân cờ hơn, mà còn là ai hiểu rõ giới hạn của mình, duy trì được liên minh, chịu đựng được chi phí dài hạn và tránh được những nước đi khiến đối thủ không còn lựa chọn ngoài leo thang. Nhìn từ “Bàn cờ lớn”, các cường quốc sẽ tiếp tục tìm cách định hình môi trường chiến lược theo lợi ích của họ; nhìn từ thực tế, không quốc gia nào có thể kiểm soát hoàn toàn kết quả. Sức mạnh không chỉ nằm ở khả năng buộc người khác phải hành động theo ý mình, mà còn ở năng lực bảo vệ lợi ích mà không tự đẩy mình vào một cuộc khủng hoảng vượt quá khả năng kiểm soát.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Brzezinski, Zbigniew. The Grand Chessboard: American Primacy and Its Geostrategic Imperatives. Basic Books, 1997. — Tác phẩm nền tảng về địa chính trị Á-Âu và chiến lược toàn cầu của Mỹ.

2. Brzezinski, Zbigniew. Strategic Vision: America and the Crisis of Global Power. Basic Books, 2012. — Phân tích sự chuyển dịch quyền lực toàn cầu và vị thế của Mỹ.

3. Mearsheimer, John J. The Tragedy of Great Power Politics. Updated edition. W. W. Norton, 2014. — Giải thích cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc theo trường phái hiện thực.

4. Center for Strategic and International Studies (CSIS). The 2026 National Defense Strategy by the Numbers: Radical Changes, Moderate Changes, and Some Continuities. 2026. — Phân tích chiến lược quốc phòng Mỹ và những ưu tiên an ninh hiện nay. CSIS

5. Pew Research Center. “Majority of Americans Expect Democrats to Win Control of House; Public Is Split on Senate.” Ngày 15/10/2026. — Khảo sát kỳ vọng của công chúng Mỹ trước bầu cử giữa nhiệm kỳ. Pew Research Center

Nguyễn Thành Luân (Nghiên cứu lịch sử)