Một thời đã xa
Egy régmúlt idő: Volt egyszer – Amikor fiatalok voltunk
Ký ức một thời tuổi trẻ đã lùi xa, nhưng vẫn in đậm trong chúng tôi khoảng thời gian đẹp nhất và đáng nhớ nhất: Once Upon a Time - When We Were Young.
Cánh cửa Hungary mở rộng đưa chúng tôi vào một thế giới rộng lớn, giúp chúng tôi "vỡ lẽ" để cảm nhận/thấm thía nhiều điều về cuộc sống và con người. Với tôi, đây là chân trời mới, là vùng trời tự do. Dù thời gian sống ở Hungary chỉ là một phần nhỏ so với trước đó và sau này, nhiều người trong chúng tôi đều thấy được ảnh hưởng của Hungary là rất lớn, rất quyết định đối với sự phát triển về mặt trí tuệ cũng như về nhân cách của mỗi người.
Với nhiều LHS, đó là thời kỳ học hành gian khổ, đầy nỗ lực vì nghĩa vụ với đất nước, để giữ trọn lời hứa với gia đình và những bậc tiền bối khả kính của mình. Tiêu biểu trong số này là chị Tăng Kim Đoan, sang Hungary vào năm 1969. Cũng như tôi, chị là học sinh miền Nam (đi theo diện Mặt trận DTGPMNVN). Khi cầm trên tay quyển học bạ ở "thời đẹp nhất tuổi thanh xuân" chị nhớ lại "trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt, bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt, hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên."
Chị Đoan nhớ lại nơi ấy "là phương trời mơ ước mà sau 6 năm đã trở thành thân thương như quê hương thứ hai không bao giờ quên được - Hungary! Đất nước ấy không to lớn,giàu có hùng mạnh nhưng giàu lòng nhân ái, thông minh, xinh đẹp đã giúp chúng tôi sống và học tập để khi trở về nước có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Giờ đây mọi người đã ở tuổi U80 chúng tôi vẫn cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, vẫn nhớ da diết Hungary yêu dấu, có bất cứ dịp nào cũng muốn trở lại nhiều lần và luôn tự hào rằng mình đã được đào tạo ở đất nước Hungary. Cầu chúc cho đất nước Hungary yêu dấu phát triển ngày càng vững mạnh lên, vẫn luôn xinh đẹp và nhân ái!"
Với các bạn của mình, và những anh chị lớn hơn, những người làm tròn bổn phận của ''hạt giống đỏ'' hay những người ''bôn sệt'' chân chính, tôi luôn dành cho họ sự tôn trọng chân thành vì tự thấy mình có lỗi và thua kém mọi người do đã ko có sự chuyển đổi phù hợp cả về ngành học và cố gắng hơn nữa để có thể học tập và hoàn thành tốt trách nhiệm của 1 LHS khi đó.
Vào năm chúng tôi đến Hungary thì GS. Trần Văn Nhung đang là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thời gian 1978-1982, ông học tiếng Hung, làm NCS và bảo vệ luận án PTS tại Trường Đại học Bách Khoa Budapest (BME). Những năm 1988-1990, ông giảng dạy Toán cho sinh viên quốc tế bằng tiếng Anh tại Đại học Bách khoa Budapest, đồng thời làm và bảo vệ luận án Tiến sĩ.
GS. Trần Văn Nhung đã chia sẻ về những năm tháng ở Hungary, ông bày tỏ: “Hungary khiến tôi ngạc nhiên và thán phục...". Mảnh đất này đã chắp cánh cho ông trong việc phát triển tư duy và sự nghiệp khoa học. Ông thổ lộ với Nhịp Cầu Thế Giới: “Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người”.
Ông cũng chia sẻ thêm nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian học tập và nghiên cứu ở Hungary:
"Đất nước “bé hạt tiêu” này đã để lại cho tôi những ấn tượng và kỷ niệm đặc biệt, gây cho tôi từ ngạc nhiên, thán phục này đến ngạc nhiên, thán phục khác. Đó là: tiếng Hung khó, dân tộc Hung thông minh, chính sách cởi mở và toán học phát triển.
Thật khó tưởng tượng: một đất nước chỉ có khoảng 10 triệu dân, với diện tích 93 nghìn km vuông, nhưng số người Hungary hoặc gốc Hungary đoạt giải Nobel lên tới 15 người (về con số này, do những lý do địa lý, chính trị, lịch sử, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, có những ý kiến cho rằng con số này thực tế còn nhiều hơn thế).
Đó là một kỳ tích mà trên thế giới hiếm có quốc gia nào đạt được. Đúng như một câu ngạn ngữ Hungary: “Kicsi a bors, de nagyon erős” (Bé hạt tiêu).
Tiếng Hung gây cho tôi ấn tượng, kỷ niệm và cả sự sợ hãi đầu tiên. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngay tiếng nói đã chứng tỏ dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới.
Nhắc lại câu chuyện cũ tôi vẫn muốn nói lời cám ơn đến TS. Vũ Hoài Chương, GS. TSKH. Trần Văn Đắc và các tác giả khác đã có đóng góp rất quan trọng cho cộng đồng lưu học sinh Việt Nam tại Hungary với bộ từ điển Hung - Việt “gối đầu giường” gồm hai tập.
Tôi được học chuyên tu tiếng Đức nhưng không được nhận đi làm NCS ở CHDC Đức. Vì vậy tôi là một trong số ba NCS Việt Nam khóa 1978-1982 chưa được học tiếng Hung trước khi lên đường sang Hung.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm ngay trong tuần đầu tiên khi vừa đến Budapest và đi tìm thầy hướng dẫn NCS. Anh Đỗ Văn Thành (nay là Lãnh sự danh dự, Lãnh sự quán Hungary tại TP. HCM) đã dẫn tôi đến Đại học Tổng hợp Budapest danh tiếng mang tên Eötvös Loránd xin gặp GS. TSKH. Schipp Ferenc.
Sau mấy câu đầu bằng tiếng Hung nhờ anh Thành phiên dịch, chúng tôi chuyển sang trao đổi trực tiếp bằng tiếng Đức. Lúc đó tôi chưa có thể sử dụng tiếng Anh, tiếng Nga được như tiếng Đức.
GS Schipp đã giới thiệu tôi sang gặp và làm NCS với GS. TSKH. Farkas Miklós ở Trường Đại học Bách khoa Budapest, người cùng làm một hướng với tôi về ổn định của các hệ động lực, dù rằng GS. Farkas làm về các hệ tiền định, còn tôi nửa tiền định nửa ngẫu nhiên.
Trong lần gặp gỡ đầu tiên, GS. Farkas đã ưu tiên tôi dùng tiếng Đức, mặc dù giáo sư hay dùng tiếng Anh.
Với cơ chế mềm dẻo, Hungary đã tạo cho chúng tôi nhiều may mắn: các giáo sư hướng dẫn NCS có thể sử dụng nhiều thứ tiếng quốc tế như Anh, Đức, Pháp, Nga hoặc Tây ban Nha; cho phép NCS nước ngoài viết báo khoa học, luận án PTS, TS và bảo vệ bằng tiếng Hung hoặc một trong các thứ tiếng quốc tế.
Cũng như một số NCS Việt Nam, từ khá sớm ngay khi mới bắt đầu làm NCS, trong các năm 1981-1983 tôi đã được mời đi hợp tác nghiên cứu toán học với các nước Tây Âu như Áo, CHLB Đức, Pháp."
Về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời mình, GS cho biết:
"Với những công dân thông minh, với các chính phủ khôn ngoan và với cơ chế mềm dẻo, đất nước này luôn được xem là một hình mẫu thành công của cả phe XHCN (cũ).
Là một anh “nhà quê ra tỉnh” muộn, sau khi tốt nghiệp đại học ở Việt Nam, thi đỗ NCS, mãi năm 30 tuổi tôi mới được qua Moscow bằng máy bay Nga, rồi từ Nga đi tàu hỏa sang Budapest. Đã từng “nằm mơ nước Nga”, chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài này đã đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như sang hành tinh mới.
Đối với tôi, Hungary là Tổ quốc thứ hai, nơi chắp cánh cho tôi bay vào thế giới kỳ ảo của khoa học, kỹ thuật, của toán học, cho tôi hiểu hơn về khát vọng tự do, dân chủ và khát vọng làm người.
Tôi tiếp tục được học toán, làm toán và dạy toán khi sang Hungary. Thật may mắn cho tôi và một số nhà toán học Việt Nam, Hungary “bé hạt tiêu” này là một trong những cường quốc toán học.
Chúng ta đã được nghe tên các nhà toán học Hungary lừng danh thế giới như: Bolyai János, Riesz Frigyes, Neumann János, Rényi Alfréd, Erdős Pál… và các nhà toán học xuất sắc hiện thời, trong đó có GS. Lóvász László (sinh năm 1948), nguyên là Chủ tịch Hội Toán học thế giới (khi GS Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields năm 2010) và hiện nay (2015) là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Hungary.
GS Lóvász đã sang dự một hội nghị toán học chuyên đề quốc tế được tổ chức năm 2009 tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Con trai giáo sư là László Miklós Lóvász cũng đã sang Việt Nam tham dự Olympic Toán Quốc tế 2007 (IMO 48) dành cho học sinh phổ thông xuất sắc về Toán học, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, với sự tham gia của 93 nước và vùng lãnh thổ. Năm đó anh đã giành được Huy chương Bạc."
Với những ấn tượng mang nhiều cảm xúc, GS cho rằng: "Hungary vẫn là nước năng động nhất trong phe XHCN" lúc đó.
Thời tuổi trẻ, chúng tôi sống rất vô tư, vui vẻ hòa thuận với nhau. Với hầu hết các sv VN học ở Hungary, những năm học ở đây là những năm sống trong bầu ko khí của tự do. Đến trường ko phải làm trực nhật, ko có giờ đạo đức nhạt nhẽo và phải học chính trị nặng nề. Đảng và Đoàn được xác định thuộc về lĩnh vực chính trị, ko có vị trí tối cao trong trường học và các công sở. Người Hung ăn mặc tùy thích, ai thích râu tóc xồm xoàm thì cứ để, ko thích có thể cạo trọc, muốn quần loe thì loe, ko thích thì bó. Những gì thuộc về cá nhân, kể cả chuyện yêu đương, hoàn toàn tự do, ko phải xin phép và báo cáo với ai hết. Trong 1 xh như thế, họ chỉ cần chúng tôi cọ́ kiến thức khoa học, kiến thức tiếp thu ntn tùy thích, có thể ở nhà tự đọc tài liệu, có thể đi nghe giảng, giờ lý thuyết ko bắt buộc, nếu đi nghe, hết giờ, giảng viên lại cúi đầu cảm ơn chứ ko bao giờ nặng lời chỉ trích nếu thấy những điều lẻ tẻ ko đáng để bận tâm...
Ngay từ năm thứ nhất ĐH, đã có các GS, viện sĩ đầu ngành trong số các giảng viên tới thuyết trình những thành quả nghiên cứu mới nhất, chứ ko phải chỉ có các giảng viên nhại đi nhại lại các kiến thức đã thuộc lòng. Vì thê,́ thi cử ở đây nghiêm khắc và hầu hết là vấn đáp....Về sau, ở thời kỳ du học sinh (DHS), sau khi học xong, ai muốn về nước thì về, ai thích ở lại làm việc hoặc học tiếp cũng được, ko bắt buộc phải về nước như trước.
Do đó, nhiều người đã ở lại, có lẽ vì cái tự do ngọt ngào từng được trải nghiệm đó... đã ngấm vào người nên nước Hung trở thành Tổ quốc thứ 2. Dần dần, họ trở thành bạn bè và gắn bó với cộng đồng mới. Hàng xóm láng giềng cũ, mới người Hung gần gũi như người thân. Nếu có điều kiện, vào dịp những kỳ nghỉ và thời gian thoải mái có thể mời nhau vui vẻ bên chén rượu, tách trà đàm đạo sự đời. Những khi gia đình muốn đi du lịch xa, có thể trao chìa khóa nhà, nhờ hàng xóm trông và cho chó mèo hay cá ăn hộ. Nhiều người còn nhờ tưới cây, chăm sóc sân vườn, mà phần lớn là được hàng xóm tặng. Cuộc sống vui và thoải mái.
Khi viết những dòng này, tôi muốn nói đến những mảnh ghép của chúng ta, những người đã từng có nhiều kỷ niệm với đất nước và con người Hungary. Cũng như Hoàng tử và những người từng gắn bó với đất nước này, tình cảm cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.
Và như thế, đây là câu chuyện dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì lưu giữ trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng, những gì còn lại ko bao giờ mất, chỉ có thể cảm nhận, vô cùng quý giá.
Trong số chúng tôi, nhiều bạn đã trở lại thăm mảnh đất được coi như quê hương thứ hai, nơi chúng tôi đã sống, và hầu hết đều nhớ và gọi đó là "những ngày đẹp nhất thời tuổi trẻ".
Bạn Nguyễn Thị Xuân, sang Hung cùng năm với tôi và cũng học cùng trường ở Pécs đã kể lại chuyến đi đầy cảm xúc của mình trong bài Trở lại một thời... chốn cũ tình xưa: "Lần trở lại này tuy ko dài, nhưng đủ để tôi cảm nhận đc tình bạn-tình yêu ko hề bị thời gian làm thay đổi. 40 năm đã có thể gọi là dài trong một đời người, cảnh vật thay đổi, vẻ ngoài của mọi người thay đổi đến mức khó nhận ra, nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn tươi mới, trong veo như thuở ban đầu.
Một số bạn VN đã hỏi khi tôi chuẩn bị chuyến đi này, rằng sao tôi ko đi dài ngày hơn, dành thời gian đi nhiều nước hơn? Tôi biết các bạn mong tôi nhân dịp này thăm thú thêm cảnh sắc Châu Âu tuyệt đẹp. Tôi đã nghĩ khác. Tôi đi để tìm lại tuổi trẻ, tìm lại tình bạn của chúng tôi (một cô bé VN vui chơi+học hành vô tư cùng các bạn Hungary), và tôi đã thực sự bị sốc, thực sự cảm động, tôi đã khóc. Các bạn tôi (41 con người đã có mặt vì đc tin tôi sang, mặc dù nơi họ sống cách địa điểm gặp mặt 300-400km) vẫn nhớ những kỷ niệm về tôi như giữa chúng tôi chưa hề có 40 năm xa cách.
Mừng vui gặp mặt, những vòng tay ôm chặt, những nụ hôn thắm thiết chưa nói lên đc hết tình cảm các bạn gìn giữ dành cho tôi. Các bạn nhớ hết những "thói hư tật xấu" của tôi (tôi cũng đã quên ngày đó mình như thế nào) và mang ra tố với tôi (khi muốn hỏi gì tôi đã thường nhướng mắt lên, cái mặt vênh lên và hỏi "na és?"), và những kỷ vật rất nhỏ liên quan tới tôi đều đc các bạn cất giữ ở những nơi trang trọng trong nhà, tôi đã đc thấy chúng khi đến nhà các bạn chơi (bưu thiệp chúc năm mới, chúc giáng sinh, ... mà có lẽ chúng ta sau bao nhiêu năm đâu còn giữ đc mấy).
Tranh giành nhau để đc đón tôi về nhà chơi là cuộc thảo luận mà tôi phải giả vờ ko nghe, ko thấy vì tôi đã chảy nước mắt rồi. (Tôi chỉ có 10 ngày với đất Hung và với các bạn thôi, tôi muốn dành 1 ngày về thăm thành phố Miskolc, các ngày còn lại là dành cho các bạn, nhưng đi đâu-với bạn nào-bao lâu thì các bạn phải tự thống nhất với nhau).
Tôi đoán chắc ko nhiều bạn VN khi quay trở lại Hungary nói riêng, các nước Châu Âu nói chung, nơi các bạn đã từng là sinh viên, từng kết bạn với rất nhiều bạn bản xứ, lại có đc chuyến đi đầy kỷ niệm cảm động như tôi đc cảm nhận. Tôi đã sống, sinh hoạt cùng các bạn học của mình như người thân trong nhà, đc các bạn đưa đi chơi thăm vẻ đẹp nơi các bạn sống, đc trải nghiệm làm nhân viên bán hàng, kỹ sư trong nhà máy, kiểm nghiệm viên phòng thử nghiệm,... nơi các bạn đang làm việc (ở Hung 64 tuổi mới đc nghỉ hưu, nam nữ như nhau).
Tôi cũng biết, nhiều bạn khi quay lại thăm quê hương thứ hai của mình thường kết hợp du ngoạn nhiều đất nước khác, thăm nhiều cảnh đẹp khác, và ký ức đọng lại là nơi này đẹp, nơi kia hoành tráng.
Còn tôi, là kỷ niệm sâu sắc về tình bạn, là sự khẳng định những người bạn trời Âu của mình vẫn sống rất tình cảm, vẫn như xưa.
Đối với riêng tôi, đây là một chuyến đi thành công ngoài mong đợi, chuyến đi càng gắn kết chúng tôi với nhau hơn, để từ nay trở đi, tôi chắc chắn tình bạn của chúng tôi là vĩnh cửu.
Chia tay nhau, chúng tôi thường phải quay đi trong nước mắt lưng tròng với lời hẹn hãy-sẽ quay lại ở lần gặp mặt tới.
Tôi thường ko viết dài, càng ko hay viết về cảm nhận của mình, nhưng đây là một hành trình đặc biệt, tôi viết ra đây là mong các bạn khác, đã từng du học như tôi, nếu có điều kiện nên có chuyến đi dành nhiều hơn nữa thời gian cho các kỷ niệm xưa, cho các bạn học cũ của mình để thấy tình người nơi ấy vẫn đáng trân trọng biết bao.
Và tôi cũng tiếc cho một số bạn đã hoàn toàn ko còn liên lạc gì với nơi ấy, nơi các bạn từng yêu mến nó, từng muốn ở lại như quê hương của mình nhưng nay vì những nguyên nhân nào đó ko quay lại đc lấy một lần, hoặc có dịp quay lại cũng chỉ như một khách du lịch bình thường."
Nếu chị Đoan là tấm gương của tôi về học tập, thì trong số những sinh viên VN xuất sắc có thể nói đến anh Đinh Hoàng Thắng, người mà tôi đã nhắc đến ở phần trước, khi nói đến cảm nhận về nước Hung, về tâm trạng của chúng tôi khi mới đặt chân lên đất Hung và "bước ra thế giới...".
Anh Thắng đã nói về ý nghĩa lớn nhất, điều mà anh nhận thấy từ những gì nhận được từ đất nước này: "mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, vì đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình”.
Thuộc hàng những LHS tiền bối sang Hungary từ năm 1966, anh Thắng tốt nghiệp Cử nhân/Thạc sĩ về Văn học và Ngôn ngữ Hungary tại Trường Đại học Tổng hợp Eötvös Loránd, Budapest đúng vào năm chúng tôi sang Hung (1972). Thời gian 1983-1986, anh nghiên cứu và nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Trường Đại học Kinh tế Karl Marx, Budapest (nay là Đại học Corvinus Budapest).
Được đào tạo cả về văn, triết lẫn chính trị học, sở hữu kiến thức chuyên sâu về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại từ ELTE, TS. Đinh Hoàng Thắng từng hoạt động trong ngành ngoại giao và là người quan tâm đến các vấn đề liên quan đến chính trị thế giới và ngoại giao của Việt Nam.
Là một cây bút từng giữ chức TBT báo “Quốc tế” (nay là tờ “Thế giới & Việt Nam”, cơ quan truyền thông của Bộ Ngoại giao), TS. Đinh Hoàng Thắng đã tham gia với NCTG bằng một bài viết đầy tình cảm dành cho nước Hung, nơi anh từng có nhiều năm học tập, nghiên cứu và gắn bó.
"Lần đầu tiên, một chàng ngố hơn 17 tuổi, từ mảnh đất đói nghèo và chiến tranh của Nghệ Tĩnh bước ra thế giới, gặp gỡ nhiều người ngoại quốc (külföldiek), được tiếp xúc với cộng đồng quốc tế hẳn hoi (cánh sinh viên Ba Lan, Tiệp, Nga, Anh, Pháp cùng học với bọn mình ngay từ đầu), chứ không chỉ là với thầy cô giáo người Hungary (magyarok).
“Külföldiek”, “Magyarok”… hình như đó là những từ Hung đầu tiên mình học. Cảm giác là sốc và choáng! Quan hệ quá cởi mở (nhìn họ hôn nhau trong lớp vừa ngượng, vừa thích), tự do cá nhân được đề cao ghê gớm. Trong năm đầu học tiếng Hung, bọn mình bị cấm đi nhảy cuối tuần, dù các buổi sinh hoạt văn hóa đó tổ chức ngay trong ký túc xá. Thay vì đi nhảy, bọn mình họp chi đoàn, họp đơn vị, đọc báo Việt (nghe ngộ nhỉ?)… Sự lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới… Có lẽ đó là điều ám ảnh mình suốt những năm sau này, đến bây giờ mình vẫn còn bị hội chứng LPS (Lost Puppy Syndrome).
Vì là dân Tổng hợp, cả trường chỉ có 3 sinh viên Việt Nam nên ngay từ năm thứ nhất mình đã “phải” ở chung phòng với Tây (sinh viên Hung) nhưng đấy là điều thật may mắn. Từ năm thứ hai, thứ ba, mình đã đi dịch được cho Sứ quán, dịch một nhưng phải đoán đến hai… ba… phần - như người Hung hay nói, “a fordítás ferdítés” (?) (1) - mà vẫn được các chú ở Sứ cho là khá (lúc bấy giờ chả có chú sứ nào biết tiếng Hung, ngoài vài câu chào hỏi thông thường như “jó reggelt / jó napot kívánok”). Đi đến các buổi mít-tinh hội họp thì đã có bài viết sẵn, cứ thế mà đọc, may mà phần ngữ âm của mình khá (tiếng Nghệ Tĩnh vốn trầm trầm, phân biệt giữa “sờ” nặng (sör - bia) với “xờ” nhẹ (szabad - tự do) rất rõ ràng, nên khá thuận lợi để học tiếng Hung.
Có một sự kiện mình nhớ rất lâu, đó là được đi dịch cho Đoàn cấp cao Đảng và Chính phủ nước ta lần đầu tiên thăm Hungary. Về chuyến đi quốc tế của Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng hồi đó đều có phim chiếu trong nước, chiếu ngay tại làng Quỳnh Đôi của mình. Thế là đột nhiên mình trở thành “vĩ nhân tỉnh lẻ”. Ba mẹ mình mừng lắm, vì được bà con bàn tán mãi về thằng “cu Đen” ngày nào mà bây giờ được đi cạnh và còn “dám nói chuyện” với ông Duẩn và ông Đồng (thực ra mình chỉ “nhai lại” lời của các cụ mà thôi!).
Năm năm đại học tiếp xúc với toàn sinh viên/các thầy cô ngữ văn, triết học, nhiều hôm mình ngồi café tranh luận sau các seminar chuyên đề ở lớp quên cả lên giảng đường. Đổi lại, mình đã được nghe các bạn nói về những Lukács György, Márkus György, Háy Gyula (2) cùng nhiều tên tuổi khác.
Mình thích đọc các giáo trình tham khảo hơn là những tài liệu bắt buộc. Sách giáo khoa và các tài liệu chọn lọc đều phải mua, nhưng bọn mình thích đọc các sách “chui” từ các nhà xuất bản bên Tây Đức. Nhất là về các biến cố sôi động ở Hungary từ 1953, rồi 1956, đặc biệt, trước và sau 1968, mình dành khá nhiều thời gian đọc và tìm hiểu về cải cách kinh tế. Mình được đi dịch cho rất nhiều đoàn cán bộ cao cấp từ Việt Nam sang nghiên cứu về cải cách kinh tế ở Hungary trong những năm ấy."
Nói về đất nước Hungary có vị trí thế nào trong cuộc đời anh, anh viết:
"Không thể thay thế! Nếu mình đi nước khác, học trong những môi trường khác chắc rằng giờ đây mình không được như thế này. Môi trường giáo dục làm nên con người, chứ không phải là quần áo (3)! Dù rằng trần thế chỉ là hư dối và tạm bợ, mình vẫn muốn cám ơn cuộc đời này, đã cho mình những điều kiện mà các trang lứa của mình thuở bấy giờ không có được. Đó cũng chính là cái ý nghĩa của đất nước Hungary, con người Hungary đối với cuộc đời mình. Nếu mình chỉ học trong nước, hay học kỹ thuật, có lẽ mình khó có duyên với ngành ngoại giao sau này.
Cuối cùng, nếu không đi học ở Hung, chắc mình không làm được nghiên cứu sinh. Không phải là vì nhà trường chiếu cố gì cả. Đơn giản là cái đề tài mình đề xuất - “Phân tích hệ thống (rendszerelemzés) như một vấn đề phương pháp luận trong nghiên cứu quốc tế” - đã không được trong nước chấp nhận, vì lý do a, b, c… Viện Hàn lâm Khoa học Hungary cùng hai trường Tổng hợp và Kinh tế đã hỗ trợ tối đa, nhất là với cái quy chế “cắc cớ” của mình (không đi qua con đường học bổng), mình đành quyết định bỏ tiền túi để học NCS. Nặng nhất là khâu thi tối thiểu (minimum), phải nạp khoảng hơn 4.000 Forint (mệnh giá năm 1983-84). Theo mình biết, ở các nước khác, làm kiểu “tư nhân” (maszek) như vậy là bất khả!"
---------
(còn nữa)








.png)