Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts

Wednesday, May 7, 2025

Viết về ngày chiến thắng

Viết cho Ngày Chiến thắng Phát xít Đức:

6 TRIỆU NGƯỜI UCRAINE RA TRẬN, 3 TRIỆU NGƯỜI KHÔNG TRỞ VỀ

Người Ukraine đã cống hiến hơn sáu triệu quân nhân, hàng triệu sinh mạng và những tướng lĩnh kiệt xuất cho chiến thắng phát xít Đức, nhưng trong suốt nhiều thập niên, công lao ấy dường như 

ít được nhắc đến dưới cái bóng quá lớn của người Nga.

Khi nhắc đến chiến thắng của Liên Xô trước phát xít Đức trong Thế chiến thứ hai, không ít người mặc định đó là chiến thắng của “người Nga”. 

Hình ảnh nguyên soái Zhukov tiếp nhận lễ đầu hàng của phát xít tại Berlin hay những đoàn xe Hồng quân tiến vào châu Âu thường bị đồng nhất với nước Nga, trung tâm quyền lực của Liên bang Xô viết khi đó. 

Nhưng nếu lần lại lịch sử bằng các con số, bằng máu và nước mắt đổ trên chiến trường, một sự thật khác hiện ra: Ukraine chính là một trong những quốc gia chịu hy sinh lớn nhất, đóng góp quyết định nhất cho thắng lợi năm 1945.

Trong số hơn 34 triệu dân Ukraine trước chiến tranh, có khoảng 6 triệu người được huy động vào Hồng quân Liên Xô, tương đương gần 18% dân số toàn quốc- một tỷ lệ khổng lồ. 

Trong số đó, hơn 3 triệu người đã ngã xuống, chiếm một phần ba tổng số thương vong quân sự của Liên Xô trong toàn cuộc chiến.

Thống kê từ Bộ Quốc phòng Ukraine cho thấy: hơn 2.000 binh sĩ Ukraine được phong danh hiệu “Anh hùng Liên Xô”, trong đó 32 người được phong hai lần và ba người được phong ba lần, con số cao nhất trong số 15 nước cộng hòa Liên Xô.

Nhưng không chỉ ở chiến tuyến, người dân Ukraine còn chịu tổn thất nặng nề trong các vùng bị chiếm đóng. Các cuộc tàn sát hàng loạt của phát xít Đức ở Kyiv, Kharkiv, Donetsk và đặc biệt là hẻm núi Babyn Yar, nơi hàng chục nghìn người Do Thái, Ukraine và Roma bị giết hại, đã biến Ukraine thành một trong những mặt trận đẫm máu nhất châu Âu.

Lật lại danh sách các chỉ huy mặt trận của Hồng quân, người ta không thể bỏ qua những cái tên mang dòng máu Ukraine:

- Rodion Malinovsky, người giải phóng Budapest, Vienna và sau này là Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô;

- Semyon Tymoshenko, chỉ huy nhiều mặt trận lớn ở Belarus và Ukraine;

- Ivan Chernyakhovsky, chỉ huy mặt trận Belorussia, vị tướng trẻ nhất lịch sử Hồng quân được phong hàm đại tướng khi mới 37 tuổi;

- Grigory Kulik, người đứng đầu pháo binh Hồng quân thời kỳ đầu chiến tranh.

Tính ra, trong 15 mặt trận chính của Hồng quân trên chiến trường Xô- Đức, hơn một nửa từng được chỉ huy bởi các tướng lĩnh người Ukraine hoặc gốc Ukraine. 

Đó không phải là một sự tình cờ, mà phản ánh vai trò chiến lược của Ukraine trong tổng thể nỗ lực chiến tranh.

Ukraine- chiến trường sinh tử của cuộc chiến:

Về mặt địa lý, Ukraine nằm trên trục xâm lược chính của phát xít Đức trong chiến dịch Barbarossa. 

Từ năm 1941 đến 1944, gần như toàn bộ lãnh thổ Ukraine bị chiếm đóng và trở thành nơi diễn ra những trận chiến ác liệt nhất: Kyiv thất thủ, Kharkiv ba lần bị chiếm và tái chiếm, Donbas trở thành trung tâm của các cuộc tấn công mùa hè đẫm máu.

Trận chiến Kharkiv năm 1943 và trận giải phóng Kyiv vào tháng 11 cùng năm là hai trong số những chiến dịch lớn nhất và tốn kém nhất của Hồng quân. 

Nhiều nhà sử học cho rằng Ukraine chính là “nghĩa trang” của các sư đoàn Đức, nơi bước ngoặt quyết định cho cuộc phản công của Liên Xô bắt đầu.

Ngoài ra, Ukraine cũng là nơi tiếp nhận và phân phối phần lớn viện trợ vũ khí từ Mỹ trong chương trình Lend-Lease qua tuyến đường Iran- Kavkazơ

Theo tài liệu từ Viện Lịch sử Quân sự Nga, Liên Xô đã nhận được từ Mỹ hơn 14.000 máy bay, 7.000 xe tăng, 400.000 xe tải, hàng nghìn đầu máy xe lửa, tàu chiến và hàng triệu tấn lương thực, nhiên liệu, vải vóc- phần lớn tập kết và vận hành qua các kho hậu cần ở vùng Krym, Odessa và Kharkiv.

Lịch sử cần nhiều hơn một tiếng nói:

Không ai phủ nhận vai trò to lớn của nước Nga và người Nga trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. 

Thủ đô Moscow từng đứng bên bờ vực thất thủ, thành phố Leningrad chịu vây hãm suốt gần 900 ngày, và người Nga là dân tộc có số thương vong nhiều nhất: khoảng 13 triệu người.

Nhưng chiến thắng không bao giờ là một nỗ lực đơn độc. Đó là kết quả của 15 nước cộng hòa, hàng trăm dân tộc, triệu triệu gia đình hy sinh xương máu cho một lý tưởng chung. 

Nếu chỉ gắn chiến thắng với một dân tộc, một quốc gia, thì không chỉ là bất công, mà còn là sai lệch lịch sử.

Thực tế là, sau khi Liên Xô sụp đổ, trong nhiều bài phát biểu chính thức của giới lãnh đạo Nga, vai trò của Ukraine thường bị làm mờ đi, thậm chí bị lãng quên. 

Năm 2010, khi còn là Thủ tướng, ông Vladimir Putin từng phát biểu: “Ngay cả khi không có sự giúp đỡ của Ukraine, chúng ta vẫn chiến thắng”. 

Câu nói ấy đã gây phẫn nộ trong giới cựu chiến binh Ukraine, những người từng sát cánh trong hầm hào Stalingrad, từng mất cha mẹ trong các trại tập trung Đức quốc xã.

Việc nhìn nhận lại vai trò của Ukraine trong Chiến tranh Thế giới thứ hai không mang mục tiêu chính trị, càng không phải để hạ thấp người Nga. 

Đó là một nhu cầu đạo lý và học thuật, nhằm tái lập công lý cho những ai đã ngã xuống nhưng không được gọi tên.

Lịch sử luôn có xu hướng được viết lại bởi kẻ chiến thắng – nhưng ở một thời đại mà thông tin ngày càng được mở rộng, những khúc xạ bị bóp méo cần được hiệu chỉnh.

Thế hệ sau có quyền được biết: trong chiến thắng năm 1945 ấy, có máu của người Ukraine – không kém gì người Nga.

Lê Thọ Bình

Saturday, January 25, 2025

Lược sử loài người: Từ Cách mạng Nông nghiệp đến thế giới của CNTB

Sapiens: Chúng ta, chúng nó và câu chuyện của giai cấp công nhân & nông dân 

Con người và sự phân chia trong phân biệt

Khi ko thể dung hòa, con người có tư tưởng loại trừ và chia thành 2 phần (ko phải theo giới tính): gồm "chúng ta" và "chúng nó".

Chúng ta, hay phe ta, cùng chia sẻ ngôn ngữ, tôn giáo và phong tục. Tất cả chúng ta ĐỀU có trách nhiệm với nhau, nhưng ko có trách nhiệm gì với chúng nó.

Chúng ta luôn luôn khác biệt với chúng nó, và chẳng vướng mắc/nợ nần chúng nó điều gì cả. Chúng ta ko muốn thấy bất kỳ ai trong số chúng nó trong vùng thuộc về chúng ta và cũng chẳng mảy may quan tâm về những gì thuộc về chúng nó.

Chúng nó, thậm chí còn ko phải là người, chỉ chúng ta mới là con người thực sự!

Thế giới đã tồn tại với nhiều đế chế và các trật tự được thiết lập bao trùm tất cả cho đến nay. Dù chứa đựng những vấn đề phức tạp mang sắc thái chủng tộc của nhiều nền vh khác nhau thì thế giới đa cực hiện nay vẫn thừa nhận sự thống nhất cơ bản của toàn thế giới. Vì vậy vẫn có sự tồn tại của những nguyên tắc chi phối mọi lúc mọi nơi cùng với trách nhiệm chung của loài người (trên quan điểm xem thế giới loài người là 1 gia đình mà những đặc quyền của cha mẹ gắn liền với trách nhiệm phải lo cho quyền lợi của con cái của mình).

Các trật tự thế giới khác nhau làm nảy sinh những cuộc tranh đoạt những vùng ảnh hưởng (ở châu Á là Trung Hoa với sứ mạng Trời ban là Thiên mệnh). Chúng tồn tại với tầm nhìn mới từ thời cổ đại cho đến sau này, đến các nguyên thủ LX và TT Mỹ.

Theo những diễn biến trong thế kỷ 20, cuộc xâm lấn và áp đặt trật tự mới của châu Âu đã kết thúc cùng chủ nghĩa thực dân sau những nỗ lực dung hòa, ko mang tính hủy diệt, mà chỉ cố gắng vô hiệu hóa sức phản kháng của các dân tộc vì độc lập chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc.

Từ lịch sử, có thể thấy: trái ngược với quan điểm của phương Tây xem thế giới công bằng là thế giới gồm các quốc gia độc lập, Trung Hoa là hình mẫu của thời kỳ đen tối và bất công.

Xu hướng của thế giới là hợp lại trong 1 trật tự chung, ko tách thành các công quốc nhỏ. Sự hợp nhất là động lực mang lại kết cục của thế giới, sớm hay muộn cũng sẽ thành công!

Điều này ko xoá bỏ thế giới, vì các đế quốc đã và đang đóng vai trò quyết định trong việc hợp nhất nhiều nền vh nhỏ thành các nền vh lớn trong mục đích biến "chúng nó" trở thành "chúng ta".

Ra đời và phát triển từ cuộc Cách mạng Nông nghiệp cách đây 12.000 năm, nông dân là những người góp phần chủ yếu định hình lịch sử cho đến ngày nay. 

Giai cấp công nhân hình thành cùng cm Công nghiệp, theo Marx, họ đại diện cho phương thức sx tiến bộ hơn từ 200 năm qua. Và học thuyết của ông đã đặt họ vào vị trí có vai trò quan trọng đặc biệt với số phận của loài người trên phạm vi toàn thế giới.

Khởi đầu với cuộc cm Khoa học cách đây 500 năm, thế giới đã chứng kiến sức mạnh của con người trong sự tăng trưởng phi thường. Những người nông dân và các nền vh xa xưa đều ko có khái niệm về sự tiến bộ cho đến khi xuất hiện cuộc Cách mạng Khoa học. Đối với họ, thời hoàng kim thuộc về quá khứ. Nhưng đã có 1 thế giới khác khi khoa học mang lại sự tiến bộ và điều ko thể biết trước này đã đến từ châu Âu khi trung tâm quyền lực thế giới đã chuyển sang châu Âu từ thế kỷ 18. Và cho đến bây giờ, hầu như tất cả mọi người, ở mức độ lớn hơn so với mức họ muốn thừa nhận, đều có trang phục, tư tưởng và thị hiếu châu Âu. Ngay cả TQ hiện nay, đang giành vị trí số 1 thế giới, cũng được xây dựng trên mô hình sản xuất và tài chính châu Âu.

Đại diện của sức mạnh công nghệ châu Âu, phép màu tạo nên sự phi thường làm cho châu Âu vượt trội hơn châu Á là giai cấp công nhân, dù công trạng thuộc về những nhà khoa học châu Âu.

Những người châu Âu đã quen với suy nghĩ và hành động theo phương thức khoa học và CNTB, ngay cả trước khi họ được hưởng bất kỳ 1 lợi thế kỹ thuật nào.

Và câu chuyện của thế giới chỉ thật sự bắt đầu nếu tất cả đều từ những sự việc thuận tình và hợp lý. Đó là cuộc hôn nhân giữa khoa học và đế quốc. Và 1 trật tự thế giới khác đã được sinh ra từ đây.

Trong thế kỷ 20, những nền vh phi châu Âu mới tiếp nhận 1 tầm nhìn toàn cầu thực sự.

Algeria và VN là những nước đầu tiên đánh bại Pháp, 1 cường quốc châu Âu chiếm lợi thế áp đảo về lực lượng, kỹ thuật và kinh tế. Đây là những bước đầu dẫn đến sự sụp đổ quyền bá chủ của châu Âu.

Và cuộc chiến tranh VN giáng đòn nặng nề xuống người khổng lồ Mỹ cũng là chiến thắng vì được hỗ trợ bởi 1 mạng lưới trong hệ thống chống thực dân toàn cầu và vì họ đã tìm ra cách khai thác phương tiện truyền thông thế giới để phục vụ cho cách đánh trường kỳ bằng chiến tranh du kích (mà VN gọi là chiến tranh nhân dân).

Những nước nhỏ bé thắng siêu cường cho thấy: nếu cuộc chiến tranh ko có tính đại chiến nhưng khi nó trở thành 1 vấn đề toàn cầu thì phần thắng sẽ thuộc về bên có được sự ủng hộ mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu với xu thế chung. Vì vậy, cả Pháp và Mỹ đều nhanh chóng nối gót Anh.

Khoa học và CNTB đã hình thành nên di sản quan trọng nhất mà CN đế quốc châu Âu để lại cho hậu thế trong thế kỷ 21. Châu Âu đã ko còn cai trị thế giới nữa, nhưng khoa học và CNTB vẫn đang phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

CNTB

Niềm tin vào xu thế toàn cầu cuối cùng đã dẫn đến sự thay đổi to lớn. Ngay từ năm 1776, trong cuốn Của Cải Của Các Dân Tộc/The Wealth of Nations, Adam Smith đã nêu những vấn đề được coi là bản tuyên ngôn kinh tế học quan trọng nhất của mọi thời đại. Trong đó, ông lập luận v/v càng nhiều lợi nhuận càng cần nhiều nhân công hơn. Suy ra sự gia tăng lợi nhuận của những cá nhân khởi nghiệp là cơ sở cho việc gia tăng sự giàu có và thịnh vượng của tập thể. Đây là nền kinh tế mang tính "đôi bên cùng có lợi". Châm ngôn của Smith "Khi lợi nhuận tăng người chủ cơ sở sẽ thuê thêm nhân công", chứ ko phải là "Khi lợi nhuận tăng, người chủ Keo kiệt sẽ cất tiền vào két, và chỉ lấy ra khi muốn đếm chúng".

Điều này cũng có nghĩa, theo đó lợi nhuận phải được tái đầu tư vào sx. Và cứ thế gia tăng lợi nhuận nhiều... vô tận.

Trong tín ngưỡng tư bản mới, điều thiêng liêng nhất là: Lợi nhuận của sx phải được tái đầu tư vào sự gia tăng sx.

Điều đó giải thích tại sao lý thuyết kinh tế về tiền bạc được gọi là "CNTB".

Thời Trung cổ là thời đại hoàng kim của giới quý tộc hào phóng trong những cuộc vui và tiêu dùng xa xỉ. Chỉ 1 số ít trong số họ thử tái đầu tư lợi tức bằng việc tăng sản lượng nông nghiệp trên đất của họ với những giống tốt hơn hay tìm kiếm những thị trường mới.

Giới quý tộc này đã bị thay thế bởi 1 tầng lớp ưu tú mới, họ là những tín đồ đích thực của tín ngưỡng TB.

CNTB hiện đại đã vượt xa hơn 1 học thuyết kinh tế. Nó bao gồm 1 lý thuyết đạo đức (về cách ứng xử và giáo dục gia đình) với nguyên lý cơ bản cho rằng: tăng trưởng kinh tế chính là ân điển tối cao vì công lý, tự do và cả hạnh phúc, tất cả đều phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế.

Sau cuộc cm XHCN Tháng 10 ở Nga và sau khi Thế chiến Thứ 2 kết thúc, sự tham lam của CNTB phần nào được kiềm chế (ít nhất là do thực tế từ ảnh hưởng của Marx và sự sợ hãi trước CNCS).

Thế giới vẫn tiếp tục thay đổi, thế giới mà trật tự do CNTB tạo ra (để nhà TB điều hành) cần có 1 nỗ lực nhằm quản lý tất cả theo cách khác so với hiện tại mà sự tăng trưởng có thể trở thành 1 trò lừa đảo khổng lồ.

Câu chuyện trở lại như với Cách mạng Nông nghiệp và tương tự như vậy, chúng ta có thể ko thích CNTB, nhưng ko thể sống thiếu nó.

Cm XHCN Tháng 10 Nga mở đầu cho sự tìm kiếm sự bình đẳng giữa mọi người. Những người đi theo con đường của Lênin muốn xóa bỏ đặc quyền của người giàu khi coi tiền bạc hơn các bản chất phổ quát của mọi người, 1 thứ mà với người giàu và người nghèo là giống nhau.

ĐQX khác với các giáo phái nhân văn XHCN khác bởi thuyết phân biệt chủng tộc mà Hitler đề cao với chủng tộc Arya là hình thức cao nhất, tiên tiến nhất của nhân loại (dân tộc thượng đẳng). Dân tộc Đức phải được bảo vệ và phát triển, đồng thời, các hình thức thoái hóa của Homo Sapiens như người DT, người La Mã, người đồng tính hay mắc chứng tâm thần phải bị cách ly và thậm chí là tiêu diệt.

Chủng tộc Arya được ĐQX đề cao vì cho rằng người Đức có những phẩm chất tốt nhất - tính duy lý, vẻ đẹp, tính toàn vẹn và sự siêng năng. Tất cả đều cho thấy họ vượt trội hơn các chủng tộc khác.

(Lược ghi từ Sapiens - Lược sử loài người của Yuval Noah Harari)

Wednesday, January 22, 2025

Lược sử Thế giới (2)

Quyển 2: Châu Âu thời Trung cổ 

Thời kỳ Đế quốc La Mã suy tàn là giai đoạn bắt đầu 1 thời kỳ khác của lịch sử châu Âu: Thời kỳ Trung cổ.

Từ 1 ngọn đuốc soi sáng châu Âu, La Mã trở nên suy yếu vào thế kỷ 5, lúc đó bộ tộc Germain tràn vào xâm chiếm vùng Tây La Mã, sau đó là các bộ tộc du mục man rợ khác. 

Dân chúng trong thời kỳ hỗn loạn chen chúc trong những vùng đất bị chia cắt nằm trong tay các lãnh chúa, nơi nhà vua mất hết uy quyền. Các pháo đài được xây dựng khắp nơi là nơi ẩn náu của mọi người khi có giặc tới cướp phá.

Dần dần, xung quanh những pháo đài và các vùng lân cận hình thành những khu kinh tế, vh của những thành thị phát triển kỹ nghệ. Từ đó xuất hiện 1 tổ chức xh mới: chế độ phong kiến.

Sống trong thời loạn lạc, con người chỉ biết đánh giết và thôn tính lẫn nhau, hầu như nơi nương náu cuối cùng của dân chúng là những giáo đường vì chỉ có giáo hội còn đủ sức đương đầu với các lãnh chúa. Và như thế, càng ngày uy quyền của Ki-tô giáo càng tăng lên. Giáo hoàng trước kia chỉ là người đại diện tối cao của tôn giáo, uy quyền chỉ trong phạm vi cộng đồng giáo dân, nhưng khi đất đai bị xâm lấn, vua chúa ko được tôn trọng thì Giáo hoàng nhân cơ hội này đã tranh giành quyền lực với các vua chúa.

Cùng với những thành thị phát triển với thành phần thương nhân và thợ thủ công, những cuộc thánh chiến/thập tự chinh cũng làm cho kỹ nghệ thương mại tiến triển, gia tăng sức mạnh cho lực lượng ở các thành thị (sau này cấu thành tầng lớp thị dân mà tiêu biểu là giai cấp tư sản). Đây chính là sức mạnh chính sẽ tiêu diệt chế độ phong kiến của các lãnh chúa.

Sau khi thuốc súng được phát minh ở Trung Hoa, trong tay người châu Âu, nó được nghiên cứu để áp dụng cho pháo binh và bộ binh. Với sức mạnh mới này, cục diện cuộc chiến đã ngả về phía lực lượng thuộc phe ủng hộ chính quyền quân chủ TW tập quyền.

Sau thế kỷ 11, kinh tế châu Âu bắt đầu thay đổi, nông nghiệp ko còn lạc hậu như trước và kỹ nghệ cũng phát triển hơn. Thương mại cũng theo đó tiến triển. Từ thế kỷ 12, nhờ những ngọn hải đăng ven biển, nhờ địa đồ và la bàn và những cải thiện trong việc đóng tàu nên việc buôn bán đường biển cũng phát triển mạnh như trên bộ. Các thương cảng ở Pháp, nhất là ở Đức và Ý phát đạt rất nhanh. Ở vùng Địa Trung Hải công cuộc thương mại rất sầm uất và có vai trò quan trọng trong việc thông thương với phương Đông. Trong đó, phải kể đến Gènes và Venise là 2 đô thị phát triển rất nhanh và là những trung tâm thịnh vượng nhất. 

Vai trò của giai cấp thị dân thời này trong sự tiến hóa của xh quan trọng vô cùng. Nhờ họ mà lịch sử phương Tây vượt qua giai đoạn phong kiến để tiến tới giai đoạn tư bản hùng cường. Vì thiếu giai cấp này mà phương Đông đứng mãi 1 chỗ để rồi chịu lệ thuộc phương Tây.


Quyển 3: Thời Cận đại (1453-1789)*

Cuối thời Trung cổ, chính sách phong kiến ở châu Âu đã gây trở ngại cho sự phát triển thương mại và kỹ nghệ. Đây là vấn đề dẫn đến sự xung đột giữa giai cấp tư sản và tầng lớp quý tộc.

Ban đầu, phía tư sản đòi quý tộc nhường cho họ quyền tự trị. Ko chỉ đòi tự trị trong các thành thị, họ còn phải thống nhất quốc gia để tạo cơ hội phát triển cho thương mại và kỹ nghệ. Họ ủng hộ các vua và hoàng đế để đánh bại các lãnh chúa, tập trung quyền bính vào tay các chính quyền quân chủ TW.

Thế kỷ 14, ở Tây Âu các quốc gia quân chủ đã được củng cố; ở Trung Âu, bóng tối phong kiến còn bao phủ nhưng mầm mống quân chủ đã hình thành trong các quốc gia ở đây, dưới ảnh hưởng của Tây Âu tinh thần này ngày càng phát triển; ở Đông Âu, hình thức quốc gia chưa rõ nét, nhưng con đường tiến hóa của Tây Âu đã mở, sớm hay muộn Đông Âu cũng theo con đường ấy mà đi.

Đến thế kỷ 17 thì chế độ quân chủ Tây Âu già cỗi, chế độ quân chủ Trung Âu và Đông Âu đã phát triển lớn mạnh. Thời kỳ Cận đại là lúc các quốc gia này tranh đấu với nhau để mở mang bờ cõi và chiếm ưu thế trên lục địa và trên biển. Từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18, các cuộc chiến xảy ra ko dứt, nhất là giữa 2 cường quốc Pháp - Anh.

Đến đây, lịch sử đã bước tới 1 khúc quanh mới bởi quyền lợi kinh tế đã lọt vào tay giai cấp tư sản, họ chỉ chưa nắm được quyền về chính trị.

Trong thời Trung cổ, họ ủng hộ chế độ quân chủ, nhưng để đi tiếp con đường đã mở, họ tiếp tục đấu tranh với các vua và hoàng đế để giành chính quyền về tay mình.

Những cuộc cm đã nổ ra, sự thành lập chế độ đại nghị ở Anh, cuộc cm ở Mỹ cùng bản Tuyên ngôn Độc lập chứng tỏ cuộc chiến đã tới hồi quyết liệt, và kết quả là chế độ quân chủ bị giai cấp Tư sản đánh bại.

Thời kỳ này, nước Pháp là trung tâm văn minh của châu Âu. Đế quốc Pháp đi theo con đường của Anh đã phát triển về mọi mặt, từ vh, khoa học đến cm về tư tưởng. Họ dẫn đầu châu Âu và kéo theo các phong trào cải cách ở Trung Âu và Đông Âu (Phổ, Áo, Nga). Các kts thực hiện khắp châu Âu những công trình kiến trúc mới, loại bỏ các thành trì phong kiến để thể hiện nghệ thuật cổ điển theo lối Pháp, nhất là ở các tp như Vienne,  Berlin, Saint Petersburg.

Cuộc Cách mạng Pháp mà người ta mệnh danh là "Cách mạng châu Âu" xảy ra năm 1789 mở màn cho 1 thời kỳ lịch sử mới: Thời Hiện đại.


Quyển 4: Thời Hiện đại (Từ cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789 đến sau này)

Trong cuốn Sapiens - Lược sử loài người, Harari viết: "Nếu chương này** được viết vào năm 1945 hoặc 1962, nó có thể sẽ mang tới thông điệp bi đát hơn nhiều. Vì được viết vào năm 2014, nên chương này chọn một cách tiếp cận tương đối vui vẻ hơn về lịch sử hiện đại."

Bộ sử của 2 tác giả Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn xuất bản năm 1955 với những tư liệu được thu thập từ những cuốn sách được viết trước đó nên chỉ giới hạn ở nửa đầu của thế kỷ 20. Đến nay, các diễn biến đang diễn ra với tốc độ chóng mặt, khó lường. Vì vậy, Thời Hiện đại ở đây là phần chưa cập nhật cho đến nay, phần mới nhất sẽ do các nhà nghiên cứu sau chúng ta ghi lại.

------------

Có thể nói: Lịch sử Hiện đại là lịch sử của Cách mạng, đúng hơn, chúng tôi phải nói là lịch sử của Khoa học.

Hầu hết những cuộc cm từ 1789 đến nay và chính sách đế quốc với những ảnh hưởng tai hại của nó, tức những cuộc chiến tranh thuộc địa, phản đế, đại chiến, đều là kết quả gần hay xa của sự phát triển khoa học.

Khoa học đã làm tăng năng lực của loài người, 1 nhà bác học Mỹ đã tính: nếu ko có máy móc mà muốn làm hết những công việc loài người làm được ngày nay, thì phải với 1 dân số đông gấp 40 lần dân số hiện tại trên Trái Đất.

Khoa học giúp chúng ta sung sướng hơn, hiểu biết nhiều hơn, kết nối mật thiết với nhau hơn (tuy cảm xúc ko như trước). Chúng ta có thể ngồi 1 nơi mà nghe tiếng hát của các danh ca trên thế giới, thấy các sự kiện xảy ra ở khắp nơi, chúng ta được ăn nhiều của ngon vật lạ, trang phục đẹp và thích hợp, đi lại ko mất nhiều sức lực và thời gian, truyền tin nhanh chóng hơn v.v.

Khoa học cũng thay đổi đời sống tinh thần của chúng ta. Tôn giáo, gia đình dần dần kém thiêng liêng; những tư tưởng dân chủ và xh xuất hiện và lan truyền rất nhanh. Tới quan niệm quốc gia cũng bị thu hẹp, nhân loại đã nghĩ đến đời sống quốc tế. LHQ sau Thế chiến 2 tuy còn yếu ớt, ko đủ uy quyền để giải quyết những vấn đề lớn của thế giới, song cũng đã là những thử nghiệm để hướng tới 1 sự đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc với nhau.

Nhưng nhân loại còn nhiều vấn đề gay go này nữa, cũng do khoa học gây nên:

Cuộc sống trong các văn phòng hoặc công xưởng tại các đô thị ko được tự nhiên, có hại cho sức khỏe và tinh thần, tính cách con người. Cần tổ chức lại sao cho việc sử dụng được máy móc mà ko bị lệ thuộc như nô lệ của chúng.

Về chính trị, ngay cả những nước tự hào là dân chủ nhất, người dân vẫn chưa có nhiều quyền. Vài ba năm mới được bỏ phiếu 1 lần, vấn đề gì cũng do những người đại diện cho mình giải quyết mà hạng người này thường thiếu tinh thần và đạo đức phục vụ quần chúng. Tại nhiều cường quốc, họ là tay sai của bọn tài phiệt và bọn này lung lạc chính phủ, giật dây trong bóng tối. Những tự do căn bản của con người mặc dù đã được cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và LHQ long trọng tuyên bố, vẫn chưa được bảo đảm, ngay tại những nước văn minh cũng vậy.

Các cường quốc phải bênh vực, hỗ trợ các dân tộc nhược tiểu, tiêu diệt chính sách đế quốc đi thì nhân loại mới có thể hạnh phúc, chiến tranh mới có thể chấm dứt.

Về kinh tế, phải điều khiển và kiểm soát chặt chẽ sức sx để nhân loại có đủ những sản phẩm cần thiết mà ko lãng phí vào những thứ xa xỉ, để kinh tế ko chịu nạn khủng hoảng, hạn chế tình trạng thất nghiệp là hậu quả của những vấn đề này.

Với thành quả có được, cần phân phối sao cho ko có kẻ bị thiếu thốn, đói khổ. Những sáng kiến, hy sinh phải được khuyến khích mà sự bóc lột thì nhất định phải tận diệt.

Con người đã có những tiến triển trong lịch sử của mình từ 500 năm qua. Đặc biệt tiến mạnh nhất trong khoảng 2 thế kỷ nay, từ khi khoa học bắt đầu phát triển. 200 năm so với dĩ vãng nửa triệu năm (từ khi loài người xuất hiện) và tương lai hàng chục, hàng trăm triệu năm, thực là chẳng đáng kể gì.

Nếu chỉ tồn tại nửa triệu năm nữa, loài người sẽ tiến tới đâu, ko ai có thể tưởng tượng nổi. Với câu hỏi: "Chúng ta từ đâu tới?" đã được các nhà bác học giải đáp 1 cách gần thoả mãn. Nhưng còn câu hỏi: "Chúng ta sẽ đi tới đâu?" thì vẫn còn nguyên vẹn.

Tuy nhiên, chúng ta đã trở nên thông minh, đã ngự trị muôn loài, chiến thắng cả Hóa công thì lẽ nào ko giải quyết được vấn đề sinh tồn và hạnh phúc của mình.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ khủng hoảng, tương lai mù mờ chỉ vì khoa học mới xuất hiện. Nên chúng ta chưa thể tìm ra cách sử dụng nó sao cho thật hiệu quả để nó phục vụ chúng ta đi đến tương lai theo con đường mà chúng ta mong muốn.

Sài Gòn 1955

(*): Thật ra giữa thời Trung cổ và Cận đại ko có ranh giới rõ ràng. Trung cổ ko hoàn toàn tối tăm do kinh tế, vh bị bóp nghẹt trong lãnh địa của các lãnh chúa. Thế kỷ 13, nền kinh tế châu Âu đã có những biến đổi và sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần của con người cũng biến đổi theo. Giai cấp quý tộc ở nhiều trung tâm thương mại quan trọng bị giai cấp tư sản lấn át, nhiều trào lưu tư tưởng được phát động, nhiều đại học đường mở cửa đón tiếp tinh thần ham muốn tự do, tiến bộ. Trong nhiều xh như thế phảng phất 1 luồng gió mới, thúc giục con người thoát khỏi ranh giới của quốc gia phong kiến để cùng tiến tới 1 hình thức xh cao hơn.

Chính nhờ cái tinh thần ấy mà thời kỳ Phục Hưng xuất hiện!

(**): Cuộc cách mạng lâu dài (nguyên văn của người dịch: "nó có thể sẽ mang phong cách bi thảm hơn nhiều.")

(Ghi lại từ Lịch sử Thế Giới của Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang)

Monday, January 20, 2025

Lược sử Thế giới (1)

Quyển 1: Thời thượng cổ 

Thời Thượng cổ bắt đầu từ khi có chữ viết đến thế kỷ 5 (kết thúc khi đế quốc La Mã bị tiêu diệt).

Thuở hồng hoang, thời kỳ sơ khai của loài người, là thời gian vẫn phải tìm kiếm nhiều sự việc/di tích để lại của con người. Chúng là những dấu vết để bổ sung vào kiến thức còn sơ sài của chúng ta về tổ tiên của con người thời tiền sử, khi chưa có chữ viết để lưu lại những hiện tượng và sự kiện quan trọng từng xảy ra như với những nền văn minh về sau (cách đây khoảng 5000 năm).

Suốt hàng trăm ngàn năm, người tiền sử chỉ biết dùng lửa và công cụ bằng đá chế tác thô sơ, dần dần mới hoàn thiện, mài đá để làm những đồ vật tinh xảo hơn. Những bước tiến đầu tiên là biết trồng trọt, chăn nuôi gia súc, làm nhà, dệt vải, làm đồ gốm, chế tạo đồ đồng và bắt đầu ghi lại những hình ảnh của cảnh vật, muông thú và sinh hoạt của con người bằng những nét vẽ, tranh vẽ trong hang động và những hoạ tiết tinh xảo trên những đồ vật được sử dụng hàng ngày.

Cổ sử Cận Đông đã được ghi lại làm chúng ta ngạc nhiên về những nền văn minh từ lưu vực sông Nil đến vùng Lưỡng Hà.

Mỗi nền văn minh đều có những đặc điểm riêng: Ai Cập và những kỳ quan kiến trúc hùng vĩ đã phát triển từ nông nghiệp, dần dần tiến tới công nghệ chế tác và thương mại. Người Sumer có tinh thần thượng võ vì là nơi dễ bị xâm lăng. Họ là những người rất giỏi về thiên văn. Dân tộc DT có tinh thần tôn giáo và nổi tiếng với các nhà tiên tri. DT giáo về sau là cội nguồn của đạo Ki-tô. Nay trở thành 1 trong những tôn giáo có những ảnh hưởng mạnh nhất trên thế giới. Dân tộc Crète giỏi về công, thương và nổi tiếng với truyền thuyết của thành Cnosse và thành Troie. Dân tộc Phénicie rất giỏi về thương mại. Họ là những nhà thám hiểm đầu tiên của nhân loại. Tới đâu họ cũng trao đổi sản vật, hàng hóa. Buôn bán phát đạt nên người Phénicie càng tập trung vào khả năng chế tạo, nhờ vậy công nghệ của họ rất phát triển. Dù mang đầu óc con buôn, người Phénicie cũng có công với nhân loại. Họ truyền bá văn minh Cận Đông khắp vùng Địa Trung Hải và 1 phần châu Âu. Họ đặt ra một thứ chữ để dùng trong giao thương từ chữ viết của Ai Cập dung hòa với chữ Chaldée gồm 22 chữ cái rất giản tiện. Lối chữ này truyền qua Hy Lạp, La Mã về sau thành chữ Latinh ngày nay.

Vùng Địa Trung Hải trở nên rực rỡ hơn với những nền văn minh cổ đại Hy Lạp và La Mã sau thời kỳ bình minh của vùng Cận Đông.

Phát triển từ những thành công của người Ai Cập và văn minh Mésopotamie, Hy Lạp nổi bật với nghệ thuật và kiến trúc mang tinh thần hiền triết, khoa học còn La Mã thì thực tế, trọng luật, khéo tổ chức hơn. Cả 2 đế chế này đều trở nên hùng cường nhờ phát triển công nghệ và thương mại. 

Khoảng thế kỷ 9 TCN, người Hy Lạp là những công dân tự do của những vùng đô thị độc lập (theo những quy chế khác nhau*, chung 1 huyết thống mà dân thành thị này có khi coi dân thành thị khác như cừu địch). Trong đó, lớn nhất là Sparte và Athènes.

Sau những cải cách, chính thể Athènes là 1 nhà nước dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

Người Hy Lạp trở nên hùng mạnh trong 2 thế kỷ, tới thế kỷ 7 TCN đã lập nên đế chế của mình với thuộc địa trên những đảo và vùng ven biển Địa Trung Hải. Các thuộc địa này được tự trị, chỉ liên hệ với chính quốc về mặt tinh thần và vh trên cơ sở thống nhất mà thôi.

Vào năm 221 TCN, nhà Tần thống nhất Trung Hoa, ko lâu sau đó người La Mã bắt đầu thống nhất khu vực Địa Trung Hải. Khi Hy Lạp suy vong do cuộc nội chiến tương tàn, đế chế La Mã bắt đầu nổi lên sau khi xâm chiếm Hy Lạp và mở rộng lãnh thổ khắp vùng Địa Trung Hải. Người La Mã nổi tiếng với đội quân tinh nhuệ, cai trị và luật lệ. Hiến pháp La Mã quy định cách cai trị chính quốc và các thuộc địa. Khoảng giữa thế kỷ 5 TCN, người La Mã công bố bộ luật của họ, bộ luật này dần dần được cải thiện và được nhiều nước châu Âu phỏng theo để làm luật riêng.

Người La Mã coi trọng gia đình, trong đó uy quyền người cha rất lớn và có tính cách tôn giáo.

Trung Hoa thời Thượng cổ 

Người phương Tây ở thế kỷ 18 thán phục người Trung Hoa (TH) bao nhiêu, cho họ là văn minh nhất thế giới, thì cuối thế kỷ 19 lại chê họ bấy nhiêu, bảo họ là lạc hậu, là ngủ quên trong cung điện vàng son của mình.

Văn minh TH có tính cách nông nghiệp. Dù nền thương mại TH rất phát đạt, nhưng tầng lớp thượng lưu cho rằng: thương mại và công nghệ phát triển làm con người biến đổi, lợi ít mà họa nhiều nên trọng nông hơn thương.

Vua chúa TH muốn xh trật tự và ổn định trong thuyết tôn ti và trung dung. Gia đình và xh đều trong thể thức/tổ chức tỉ mỉ, hạn chế tình cảm,  quy định mọi hành xử, phép tắc chủ yếu theo Nho giáo trong hàng ngàn năm.

Người TH có tinh thần xh và dân chủ sớm hơn các dân tộc khác. Tuy có nhiều giai cấp nhưng ko có tầng lớp nô lệ. Quan và dân ko có sự cách biệt lớn (vì dân học giỏi thì thành quan. Con quan mà ngu thì cũng phải làm dân). Dân chúng kính sợ vua và vua rất chuyên quyền, nhưng vua ko ra vua thì họ sẽ lật vì "dân muốn cái gì thì Trời muốn cái đó". Vua TH bị phế hoặc giết nhiều hơn vua các nước phương Tây.

TH có sức mạnh đồng hóa phi thường. Dân tộc nào thắng họ cũng theo văn minh của họ: từ ăn mặc, chữ viết, thờ thần thánh, nên xh TH vẫn tồn tại dù nhiều lần bị xâm chiếm.

Người TH vì vậy giữ được nền văn minh lâu dài và ổn định đến mức gần như bảo thủ, bất di bất dịch (tính cách tĩnh), trái hẳn với văn minh phương Tây (tính cách động). Nếu ko có cuộc Chiến tranh Nha phiến với nước Anh thì xh TH vẫn còn đứng 1 chỗ ko biết đến bao giờ.

Ấn Độ & Đạo Phật 

Dân tộc Ấn Độ và Ba Tư đều có chung cội nguồn ở phía Đông biển Caspiene, sau đó tiến xuống phía Nam. Người Ba Tư dừng lại tại vùng trung nguyên Tây Á còn người Ấn tiếp tục vượt sông Ấn tiến vào bán đảo Ấn Độ ngày nay.

Vùng này phía Bắc có dãy núi hiểm trở, các mặt còn lại đều là biển. Vì có 2 con sông lớn là biên giới Đông và Tây (sông Ấn và sông Hằng) nên Ấn Độ gần như biệt lập với thế giới. Dọc theo bờ biển là những dải đồi cao, ngăn gió mưa từ hướng biển nên miền giữa bán đảo rất khô nóng và có nhiều vùng sa mạc nhỏ.

Lịch sử Ấn Độ ko bị xâm lăng nhưng ko thống nhất trong 1 thời gian dài do chia thành hàng ngàn tiểu quốc, giao thông khó khăn, cuộc sống yên ổn hàng thế kỷ.

Người Ấn có chữ viết, kinh Vệ đà là 1 áng văn chương có giá trị.

Xh chia thành nhiều giai cấp: tầng lớp quý phái sống xa hoa trong các cung điện, thích đi săn và hưởng lạc thú; giới tu hành Bà La Môn chẳng làm gì, chỉ tu hành và rất có uy thế; hạng quân nhân, thương nhân và nông dân; cuối cùng là hạng tôi tớ.

Giới tu hành cũng như Giáo hội thời Trung cổ ở châu Âu. Họ hành đạo để giữ chế độ uy quyền hơn là để cứu nhân độ thế. Họ đặt ra nhiều nghi lễ ai cũng phải theo vì theo họ thì con người phải chịu khổ hạnh để thoát vòng sinh tử/luân hồi.

Giữa 1 xh như vậy, có 1 vị Phật xuất hiện, đó là Thích Ca Mâu Ni. Tư tưởng của Phật Thích Ca rất rõ ràng, giản dị và sâu sắc, ko phân biệt giai cấp mà muốn xoá bỏ những sự cách biệt trong xh.

Đạo Phật chủ trương tạo sự bình đẳng, khuyên con người tránh ác làm lành, giữ tâm trong sạch với mục đích giải thoát, ko ham muốn cái đời sống hiện tại.

Sau khi Thích Ca tịch, đệ tử chép lại kinh, sách chứa đạo của ông (từ những bài ông thuyết giáo với 5 đệ tử của mình), chia làm 3 bộ: kinh, luật, luận gọi là tam tạng.

Giai cấp nông dân dù bị giai cấp Bà La Môn áp đặt, theo đạo rất nhiều. Đạo Phật bành trướng rất nhanh, sau chia làm 2 phái: Phái Nam truyền qua Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên, Nam Dương; Phái Bắc truyền qua TQ, Triều Tiên, Nhật Bản, VN phát triển rất mạnh.

Nam tông theo giáo lý tiểu thừa, Bắc tông theo giáo lý đại thừa.

Đạo Phật vốn là 1 triết lý hơn là 1 tôn giáo. Đức Phật ko bắt ai tụng kinh, gõ mõ, lễ chùa, cúng Phật. Ông cũng ko nói đến Trời, đến Thần.

Những thuyết phát sinh sau khi đạo Phật vào TQ rất huyền vi. Đạo Phật càng ngày càng truyền đi sai lạc và trở thành 1 tôn giáo**.

------------

(*): Thành Sparte được thành lập và tổ chức như 1 trại lính.

Dân trong thành chia làm 3 giai cấp: cao nhất là quân nhân (ko được làm gì khác ngoài việc cầm khí giới); thứ hai là hạng người tự do; thấp nhất là nô lệ. 

Trẻ em từ 7 tuổi phải xa cha mẹ vào trại sống chung với những trẻ khác dưới sự dạy dỗ theo kỷ luật sắt của nhà binh.

Phụ nữ cũng được huấn luyện gần như đàn ông. Tất cả đều sống giản dị, ko biết xa xỉ phẩm là gì.

Ko muốn dân chúng nhiễm thói hư tật xấu của các nơi khác, người ta cấm ngặt người ngoài vào thành.

Tại thành Athènes, trái lại, người dân tha hồ làm giàu; công nghệ, thương mại rất thịnh.

(**): Về sau người ta lập chùa, làm tượng, đúc chuông, đặt ra các chức hòa thượng, yết ma... Giáo lý của Thích Ca đã ít người thuộc, mà tới tượng Thích Ca cũng ít người biết; còn tượng Quan Âm, 1 nhân vật tưởng tượng thì rất được sùng bái.

(Lược ghi từ Lịch Sử Thế Giới của Nguyễn Hiến Lê & Thiên Giang)

Thursday, September 26, 2024

Biên giới Zion (8)

Sẽ là sai lầm khi kết luận về lịch sử DT chỉ dựa trên sự giết chóc (với những mục đích mà Israel phải đối đầu) trong những hoàn cảnh đáng buồn của họ. ''Nỗi buồn tìm thấy tiếng nói khi niềm vui câm lặng''*. Người nghiên cứu/tìm hiểu lịch sử DT phải GHI NHỚ điều này!

Lịch sử DT như 1 chuỗi những đỉnh điểm và thảm họa nối tiếp nhau. Nó cũng có thể được coi là 1 miền liên tục KHÔNG DỨT của việc học hành kiên nhẫn, sự cần cù làm việc với năng suất/hiệu quả cao và thói quen tập thể mà phần lớn ko được ghi lại.

Hơn 4000 năm, người DT đã tích lũy bất cứ điều gì mà họ thấy có thể tận dụng như 1 tiện nghi nhân văn ở những xh mà họ sinh sống. Họ đặc biệt khéo léo trong việc thích ứng với hoàn cảnh/xh nơi số phận đẩy họ tới. Và cuối cùng họ đã thoát ra khỏi chúng để chứng tỏ: MÌNH LÀ NHỮNG NGƯỜI SỐNG SÓT VĨ ĐẠI.

Ko dân tộc nào tỏ ra có năng suất cao hơn họ trong việc làm giàu từ nghèo túng hay nhân tính hóa của cải, và trong việc biến cái khó thành cái khôn. Khả năng này bắt nguồn từ 1 triết lý đạo đức vừa vững bền vừa tinh tế, chỉ thay đổi rất ít trong 1000 năm qua (vì được coi là phục vụ mục đích của những người có cùng triết lý đó). Vô số người DT, đủ mọi lứa tuổi, đã rên xiết dưới gánh nặng DT giáo. Nhưng họ tiếp tục mang gánh nặng đó vì biết, từ trong trái tim mình, rằng: nó cũng mang họ. Người DT là những người sống sót vì họ sở hữu LUẬT SINH TỒN.

Hình ảnh Biểu tượng Do Thái giáo/Judaism (Chọn từ net)

DT giáo cần được ghi nhận (từ trước đến nay) là 1 tôn giáo mà ảnh hưởng ko phụ thuộc vào tổng số các tín đồ vì phạm vi tác động của nó luôn lớn hơn, vượt ra ngoài con số này. DT giáo tạo ra người DT, chứ ko phải ngược lại.

Triết gia Leon Roth đã nói: ''Do Thái giáo đứng đầu. Nó không phải là một sản phẩm mà là một chương trình, còn người Do Thái là công cụ để hoàn thành chương trình đó.'' Lịch sử DT ko chỉ ghi chép về sự thật vật chất mà còn cả những ý niệm siêu hình. Người DT tin rằng: mình được tạo ra và được lệnh trở thành ngọn đèn cho dân ngoại/phi DT, và họ đã làm theo điều đó trong khả năng đáng kể của mình.

Kết quả của người DT, dù được xem xét về mặt tôn giáo hay thế tục, đều rất đáng chú ý. Người DT mang đến thế giới này chủ nghĩa độc thần đạo đức có thể được mô tả là việc áp dụng lý trí vào thần thánh.

Trong 1 kỷ nguyên thế tục hơn, lịch sử DT cho thấy: người DT áp dụng các nguyên tắc lý trí vào toàn bộ các hoạt động của con người (thường là đi trước phần còn lại của nhân loại). Ánh sáng mà họ tỏa ra vừa làm xáo trộn vừa soi sáng, vì nó tiết lộ những sự thật đau đớn về tinh thần con người, cũng như cách để nâng đỡ nó. Nhưng vì thế mà họ phải trải qua khổ nạn.

Hình ảnh: Chọn từ net

Người DT là những người nói sự thật, và đó là 1 lý do quan trọng với câu hỏi tại sao họ bị ghét đến vậy. Những nhà tiên tri sẽ làm mọi người kính sợ, đôi khi được tôn vinh, nhưng có khi nào họ được  yêu mến? Tuy nhiên, là nhà tiên tri phải tiên tri và người DT sẽ tiếp tục mưu cầu sự thật như họ thấy, dù nó có dẫn họ tới đâu đi nữa.

Lịch sử DT dạy, nếu như cái gì cũng có thể dạy, rằng: quả thực có 1 mục đích trong sự tồn tại của con người, và rằng chúng ta ko chỉ sinh ra để sống và chết như thú vật. Khi tiếp tục giải nghĩa sự sáng thế, người DT sẽ tìm thấy niềm an ủi từ mệnh lệnh, được nhắc lại 3 lần, trong chương đầu tiên của Sách Joshua: ''Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh hoàng! Vì Yavê Thiên Chúa của ngươi vẫn ở cùng ngươi bất cứ ngươi đi đâu.''

Kinh Thánh (Sách Joshua - Chương đầu)

Tổ phụ của người DT, Abraham, được mô tả là ''một con người trí tuệ uyên thâm'' có ''khái niệm về đức hạnh cao hơn những người khác cùng thời'' (Cổ Vật Do Thái, Josephus). Do đó, Abraham ''quyết tâm thay đổi hoàn toàn quan điểm của mọi người khi đó về Chúa.''
Liệu điều gì sẽ xảy ra với nhân loại nếu Abraham ko phải là người như vậy, hoặc ông ta ko rời Ur, chỉ giữ lại các khái niệm đó cho riêng mình, và ko có người DT nào được sinh ra.

Thế giới ko có người DT sẽ là 1 nơi hoàn toàn khác. Nhân loại cũng có thể (tình cờ) phát hiện ra những hiểu biết của người DT, nhưng điều này ko thể chắc chắn. Tất cả những khám phá/ý tưởng vĩ đại của trí tuệ dường như hiển nhiên và ko thể bỏ qua 1 khi chúng đã được tiết lộ. Tuy nhiên cần phải có 1 tài năng đặc biệt để thể hiện tất cả (ngay từ lần đầu tiên). Người DT có tài năng này.

Chúng ta nợ dân tộc DT ý tưởng về sự bình đẳng (trước pháp luật thánh thần và pháp luật của con người); về tính linh thiêng của sự sống và phẩm giá con người; về lương tâm cá thể và từ đó về cứu chuộc của mỗi người; về lương tâm tập thể (và do đó) về trách nhiệm xh; về hòa bình như 1 lý tưởng trừu tượng và tình yêu như nền tảng của công lý, và nhiều giá trị khác làm nên cấu trúc đạo đức cơ bản của trí óc/tinh thần con người. Ko có người DT, trí óc của chúng ta (có thể) là miền trống rỗng hơn nhiều. 

Về tư tưởng, trên tất cả, người DT dạy chúng ta cách giải thích duy lý về những điều bản thân ko thể hiểu. Thế giới sẽ ntn nếu chủ nghĩa độc thần và 3 tôn giáo lớn (từ đó) ko xuất hiện? Từ góc độ lịch sử tối thượng, Abraham và Moses có vẻ kém quan trọng hơn Spinoza, bởi tác động của người DT với nhân loại luôn thay đổi. Quả thực, chủ nghĩa độc thần có thể được coi là 1 cột mốc trên con đường dẫn con người tới chỗ hoàn toàn ko cần đến Chúa.

Những diễn biến này đã xảy ra từ thời cổ đại. Người DT là những người cải cách vĩ đại trong tôn giáo và đạo đức luận. Qua Kỷ nguyên Đen tối và giai đoạn đầu thời Trung cổ, tuy vẫn là 1 dân tộc tiên tiến về kiến thức và công nghệ, họ bị đẩy khỏi vị trí tiên phong và có vẻ bị tụt lại so với thế giới văn minh trong cuộc cm Công nghiệp (cuối thế kỷ 18). Nhưng họ đã trở lại với 1 đợt sáng tạo thứ 2 (sau thời kỳ ghetto) trong lĩnh vực thế tục. Phần lớn cấu trúc tinh thần của thế giới hiện đại do họ dựng nên.

Người DT ko chỉ là những người cải cách, họ còn là những tấm gương và biểu tượng của nhân sinh. Dường như họ là sự trình diện (trong nhiều phiên bản) của tất cả các thế tiến thoái lưỡng nan của con người (dưới dạng nâng cao và sáng tỏ). Họ là ''khách ngoại bang và kẻ kiều ngụ tinh túy''. Và chính chúng ta cũng chẳng khác họ khi mỗi người cũng là ''kẻ ở trọ'' trên hành tinh này trong chừng 70 năm! Vì vậy, Trái Đất chẳng phải là nơi tạm trú ko hơn, của tất cả chúng ta?

Người DT là những người lý tưởng hóa một cách mãnh liệt, nỗ lực để đạt sự hoàn hảo. Họ đồng thời cũng là những người đàn ông, đàn bà mong manh khao khát sống sung túc và an toàn. Họ muốn tuân theo luật lệ hà khắc của Chúa, và cũng muốn được SỐNG.

 Hebron là một trong bốn thành phố linh thiêng nhất ở Trung Đông (với người DT và người theo Hồi giáo). Nơi đây, trong hang Machpelah là khu mộ của các bậc tổ phụ, tổ tiên của chủng tộc DT. (Hình ảnh: Chọn từ net)

Thế tiến thoái lưỡng nan của người DT (từ thời cổ đại) thể hiện qua quá trình cố gắng liên tục một cách xuất chúng về mặt đạo đức của 1 nền thần quyền để kết hợp với nhu cầu thực tế của 1 nhà nước hiện hữu, có khả năng tự bảo vệ mình, tiếp tục được tái tạo trong thời đại của chúng ta dưới hình dạng Israel. Nhà nước DT được lập ra để thực hiện 1 lý tưởng nhân đạo, và đồng thời phát hiện ra rằng: nó phải nhẫn tâm, chỉ để sống sót trong 1 thế giới thù địch.

Trong việc này, dường như vai trò của người DT là tập trung và kịch tính hóa những trải nghiệm chung của nhân loại khi lịch sử loài người và vấn đề sinh tồn đang tác động đến mọi xh. Và người DT đang tiếp tục biến số phận của họ thành 1 quy tắc đạo đức phổ quát. Nhưng nếu người DT có vai trò này thì ai đã viết nó cho họ?

Khi nghiên cứu lịch sử, qua các sự kiện, cần chú ý tới việc tìm kiếm các mẫu hình theo ý Chúa (nếu có những sợi dây liên hệ với nhau). Tuy nhiên, ko nên quá dễ dãi vì chúng ta vốn là loài sinh vật nhẹ dạ, sinh ra để tin với trí tưởng tượng mạnh mẽ (sẵn sàng tạo ra và sắp xếp các dữ kiện) vào những gì phù hợp với bất cứ kế hoạch tiên nghiệm nào. Ngược lại, hoài nghi thái quá có thể bóp méo nghiêm trọng mọi vấn đề.

Cần cân nhắc xem xét mọi dạng dữ liệu/bằng chứng, gồm cả bằng chứng siêu hình hoặc có vẻ siêu hình. Người DT luôn biết rằng: xh DT được chỉ định là 1 dự án/chương trình để thực hiện (thí điểm) cho toàn bộ loài người. Với họ, tấn kịch và thảm họa phải được thể hiện thật mẫu mực, nếu cần khoa trương cũng là điều tự nhiên. Và vì thế họ bị căm ghét suốt nhiều thiên niên kỷ. Với nhiều người, đây là điều ko thể giải thích nổi, tuy đáng tiếc nhưng ko có gì bất ngờ.

Trên tất cả những điều này, việc người DT vẫn sống sót, trong khi các dân tộc cổ đại (cùng thời với họ) đã bị biến đổi hoặc biến mất, là điều hoàn toàn có thể dự đoán. 
Làm sao có thể khác được?
Ý Chúa đã định và người DT tuân theo.

Những nhà viết sử và nghiên cứu/học giả có thể cho rằng: ko có gì là ý Chúa cả. Có thể là thế, nhưng niềm tin của con người vào 1 động lực lịch sử như thế, nó có thể đủ mạnh mẽ và bền bỉ, tạo thành nội lực và tựa vào bản lề của các sự kiện để di chuyển chúng.
Người DT hoàn toàn thống nhất và đồng thuận khi tin mình là 1 dân tộc đặc biệt. Trải qua hơn 4.000 năm, họ trở thành 1 dân tộc như vậy. Quả thực, họ có 1 vai trò vì họ viết nó cho chính mình và đây có lẽ là chìa khóa cho câu chuyện của họ.

Phù điêu mô tả chiến thắng của người La Mã với những chiến lợi phẩm từ Jerusalem được ghi lại trên Khải Hoàn Môn Titus ở Rome (Bản chọn từ net)

(Lược ghi từ Lịch Sử Do Thái của Paul Johnson)

(*): Paul Johnson

Thursday, September 19, 2024

Biên giới Zion (7)

Giáo dục đặt ra những vấn đề vô cùng phức tạp. Có 4 loại trường học dưới thời ủy trị: Zion Phổ thông (thế tục), Histadrut (thế tục-HTX), Mizrachi (Torah-thế tục) và Agudat (Duy nhất Torah). Đạo luật Giáo dục Thống nhất (1953) ghép 4 loại này thành 2 loại: Trường chính phủ - thế tục và Trường chính phủ - tôn giáo. Agudat rút các trường của mình ra khỏi hệ thống chung (ko được chính phủ đầu tư nếu ko dành đủ thời gian cho các môn học thế tục).

Có nhiều trận chiến và bạo động đã nổ ra (chống lại chính sách tuyên truyền thế tục) mà phe tôn giáo đã giành nhiều chiến thắng. Họ cũng giành cả chiến thắng về vấn đề trọng tâm là hôn nhân. Các thành viên theo chủ nghĩa thế tục của Knesset đã ủng hộ việc áp đặt luật Chính thống giáo (kể cả với hôn nhân thế tục) vì nếu ko như thế thì Israel sẽ dần chia thành 2 cộng đồng ko thể cưới nhau được.

Do đó, về cơ bản hệ thống này vẫn đáp ứng được nhu cầu của người dân. Nó có thể mang trong mình 1 số cái gai, nhưng chúng ko đâm tất cả người DT, vì chỉ là vấn đề cá nhân chứ ko phải điều mà hệ thống pháp luật quan tâm đến toàn thể người dân. Điều này hàm chứa sự thật rằng: DT giáo là 1 tôn giáo cầu toàn và điểm mạnh của nó nằm trong chính các điểm yếu của nó. Nó cho rằng: người thực hành DT giáo là tầng lớp tinh hoa, vì DT giáo tìm cách tạo ra 1 xh kiểu mẫu. Đây là điều khiến DT giáo, theo nhiều cách khác nhau, đã trở thành 1 tôn giáo lý tưởng cho Israel. 

Knesset: Cơ quan lập pháp chính của Nhà nước Israel (Hình ảnh chọn từ net)

Luật DT giáo được tạo ra khoảng 3.200 năm trước khi nhà nước Israel thành lập. Vì tính liên tục độc đáo của DT giáo nên nhiều điều luật cổ xưa nhất vẫn có giá trị và được tuân thủ cho đến nay.
Khác với từ ''nghi thức'' trong tiếng Anh mang tính miệt thị (có từ truyền thống Tin Lành), từ này trong tiếng Hebrew là Mizvot (mệnh lệnh tôn giáo) có sức mạnh đạo đức* (dù nói về quan hệ người với người hay giữa con người với Chúa).

Bản chất của tinh thần nghi thức là sự tuân thủ tỉ mỉ, đây là điểm mạnh của DT giáo (được điều chỉnh đặc biệt để phù hợp với 1 quốc gia mới). Sau 1945, trong số hơn 100 nước giành độc lập, nhiều nước phải vay mượn các cơ chế và truyền thống từ những kẻ cai trị (thực dân) hoặc sáng tạo từ 1 quá khứ hầu như ko được ghi lại rõ ràng. Israel may mắn vì quá khứ của nó dài nhất và phong phú nhất trong tất cả (những nước này) bởi được ghi lại rất nhiều và cập nhật bằng sự liên tục một cách tuyệt đối.

Tài năng viết sử của người DT đã được chứng tỏ từ thời Josephus đến tận thế kỷ 19. Khi nhà nước Zion được thành lập, nó thể hiện mình ko chỉ trong lịch sử mà trên hết là trong khảo cổ học. Các chính khách và tướng lĩnh như Ben Gurion, Moshe Dayan và Yigael Yadin, cùng hàng ngàn dân thường, trở thành các nhà khảo cổ học đầy đam mê, cả nghiệp dư lẫn chuyên nghiệp**.

 Yigael Yadin (1917 – 1984) là một nhà khảo cổ học, quân nhân và chính trị gia. Ông là Tham mưu trưởng thứ hai của Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) và Phó Thủ tướng từ năm 1977 đến năm 1981 (Hình ảnh: Chọn từ net)

Gắn liền với lịch sử là 1 yếu tố quan trọng trong việc tạo ra 1 quốc gia gắn bó trong mối quan hệ hữu cơ. Tuy vậy, nó ko quan trọng so với sinh lực của 1 tôn giáo đã tạo nên chủng tộc DT.
Người DT sống sót chính vì họ tỉ mỉ về các nghi thức của mình và sẵn sàng chết vì chúng. Một điều đúng đắn và lành mạnh là sự tôn trọng dành cho việc tuân thủ nghiêm ngặt đã trở thành 1 đặc điểm trung tâm của cộng đồng Zion.

Núi Đền là 1 ví dụ nổi bật, đây là địa điểm vô cùng linh thiêng của người DT, khi lòng can đảm và ý Chúa đã mang nó trở về với họ cùng với phần còn lại của Thành cổ trong Chiến Tranh Sáu Ngày. Dù Ngôi đền đã bị phá hủy hoàn toàn từ thời cổ đại, song di tích của nó và vùng lân cận là nơi người DT luôn tới cầu nguyện, nhất là Bức tường phía Tây. Đặc biệt, ko ai được phép vào nơi cực thánh, trừ thầy cả, và kể cả thầy cả cũng chỉ được vào đây 1 lần trong năm (Ngày Cứu chuộc).

Các giáo sĩ Jerusalem rất muốn giữ quy định về nơi tôn nghiêm này một cách nghiêm ngặt, kể cả trong ý niệm, chẳng hạn như ko muốn người DT coi những chiến thắng của phe Zion (như việc tái chiếm Thành cổ) là biểu hiện ứng nghiệm về cứu thế. Điều này cũng được áp dụng cho các đề xuất xây lại Ngôi đền (trên nền của Ngôi đền, hiện nay, là 2 cấu trúc Hồi giáo có tầm quan trọng lịch sử và nghệ thuật vô cùng to lớn). Do đó, Ngôi đền thứ 3 sẽ được dựng 1 cách siêu nhiên nhờ sự can thiệp trực tiếp của Chúa.

Núi Đền, một địa điểm linh thiêng trong hàng ngàn năm (với Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo). Hình ảnh: Chọn từ net

Việc xây dựng Israel trong thế kỷ 20 tương đương với việc xây lại Ngôi Đền. Giống như Ngôi Đền thời Herod Đại đế, nó có những khía cạnh chưa thỏa mãn, nhưng nó ở đó. Việc nó tồn tại, có thể đến thăm và chia sẻ, đã mang tới 1 khía cạnh hoàn toàn mới cho cộng đồng DT trên thế giới. Nó luôn được quan tâm, đôi khi lo lắng, nhưng thường là tự hào.

Khi nhà nước Israel được thành lập và chứng tỏ nó có thể bảo vệ và biện minh cho mình, thì ko thành viên nào của cộng đồng DT thế giới phải cảm thấy xấu hổ/mặc cảm vì là người DT nữa. Ngay cả khi thế kỷ 20 trôi qua, cộng đồng DT thế giới vẫn tiếp tục duy trì những đặc điểm như cực giàu và cực nghèo và đa dạng đến khó hiểu.

Ở châu Âu, cộng đồng DT Pháp cho thấy: họ luôn là những người theo chủ nghĩa đồng hóa nhiệt thành nhất. Đặc biệt vì Cách mạng Pháp đã cho phép họ đồng cảm gần như hoàn toàn với các thiết chế cộng hòa. Các nhà văn đứng ngay chính trung tâm nền văn hóa Pháp đương đại. Tầng lớp trung lưu ko phô trương, vô cùng tinh tế thì tham gia chính quyền với những vị thủ tướng đáng chú ý. Tuy vậy, việc người Sephardi tràn vào từ châu Phi đã gia tăng tính chất DT của cộng đồng DT Pháp.

Được mở rộng nhờ những người Sephardi, nhưng cộng đồng DT Pháp vẫn kiên quyết phản đối chủ nghĩa Zion. Ko có nhiều người DT chuyển tới định cư ở Israel, nhưng họ thấy mình dự phần trong sự sống sót của Israel trong những năm 1956, 1967, 1973 và đầu những năm 1980. Ngoài việc  phản ứng mạnh mẽ với các chính sách của chính phủ Pháp mà họ thấy ko có lợi cho người DT (và cho Israel), họ là 1 lực lượng/yếu tố quan trọng trong việc thay thế chế độ cánh hữu de Gaulle.

Một giới quyền uy DT mới, quyết liệt và mạnh mẽ hơn dần hình thành và có được vai trò quan trọng hơn trong tiếng nói chung/dư luận của cộng đồng DT thế giới, nhất là khi tiếng nói từ Đức gần như câm lặng do hậu quả từ kỷ nguyên Đức Quốc xã của Hitler.

René Mayer là một chính trị gia cấp tiến người Pháp của Đệ tứ Cộng hòa, từng giữ chức Thủ tướng (1953). Ông là Thủ tướng thứ ba của Pháp gốc Do Thái (sau Léon Blum và Alexandre Millerand). Hình ảnh: Chọn từ net

Với sự suy tàn của tiếng Yiddish, tiếng nói chung của cộng đồng DT thế giới là tiếng Anh. Việc người DT quay lại Anh năm 1646 đã có vai trò quan trọng trong việc hơn 1 nửa dân số DT thế giới hiện sử dụng tiếng Anh. Những dấu ấn của nước Anh trong lịch sử DT đến và đi với sự ra đời của chủ nghĩa Zion hiện đại. Tuyên bố Balfour và chế độ ủy trị. Cộng đồng DT tại Anh trở thành, và vẫn là, cộng đồng ổn định và mãn nguyện nhất. Họ ít bị đe dọa nhất trong tất cả những cộng đồng DT lớn.

Cộng đồng DT Anh hiện đại ko thiếu tinh thần và nhiệt huyết. Tinh thần dám nghĩ dám làm của người DT được thể hiện trong ngành tài chính từ lâu đời. Nó giữ tầm quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực giải trí, BĐS, thời trang và kinh doanh - bán lẻ. Nó tạo ra các tổ chức quốc gia như Granada TV. Đế chế Sieff biến công ty thành công Marks & Spencer trở thành chiến thắng lâu dài nhất ở Anh thời hậu chiến, và Weinstock biến General Electric thành công ty Anh lớn nhất.

Người DT cũng rất sôi nổi trong lĩnh vực báo chí & truyền thông. Trong số này, Jewish Chronicle là 1 tạp chí tốt nhất trong tất cả tạp chí của cộng đồng DT thế giới. Người DT có mặt ngày càng nhiều trong Thượng viện. Nhưng dù vậy, những hoạt động ấn tượng đầy nhiệt huyết này chưa được sử dụng mang tính tập thể để tạo được ảnh hưởng rộng lớn hay nhà nước Zion. Trong khía cạnh này, cộng đồng DT Anh đã cư xử, và có lẽ buộc phải thế, cũng như nước Anh: trao ngọn đuốc cho Mỹ.

Một bài báo của Herzl đăng trên Jewish Chronicle. Hình ảnh: Chọn từ net

Việc mở rộng và củng cố cộng đồng DT Mỹ từ cuối thế kỷ 19 đối với lịch sử DT có vai trò quan trọng tương đương việc lập nhà nước Israel, thậm chí ở 1 số khía cạnh nó còn quan trọng hơn. Bởi nếu việc thực hiện chủ nghĩa Zion mang lại cho cộng đồng DT thế giới (bị đe dọa/quấy rối) 1 nơi nương náu ngày càng mở rộng với các quyền tự quyết và bảo vệ số phận của mình, thì sự phát triển của cộng đồng DT Mỹ là 1 sự lên ngôi thuộc đẳng cấp hoàn toàn khác, điều này mang đến cho người DT 1 vai trò quan trọng, chính đáng và lâu dài trong việc định hình các chính sách của nhà nước lớn nhất trên Trái Đất. Đây ko phải là ảnh hưởng Hofjuden*** mong manh mà là hệ quả của sự thuyết phục dân chủ và thực tế nhân khẩu học.

Đến cuối những năm 1970, dân số DT ở Mỹ là 5.780.960 người. Con số này chỉ tương đương 2,7% tổng dân số Mỹ, nhưng nó tập trung nhiều nhất ở các đô thị lớn, nổi tiếng là những trung tâm có ảnh hưởng vh, xh, kinh tế và chính trị. Tới cuối thế kỷ 20, người DT vẫn là cư dân của các tp lớn: 394.000 người ở Tel Aviv - Jaffa; Hơn 300.000 ở Paris; 285.000 ở Moscow; 280.000 ở London; 272.000 ở Jerusalem; 210.000 ở Kiev; 165.000 ở St. Petersburg; 115.000 ở Montreal và 115.000 ở Toronto. Nhưng sự tập trung ở đô thị ấn tượng nhất thuộc về Mỹ với 1.998.000 người ở NY (tp DT lớn nhất Trái Đất). Tp lớn thứ 2 là Los Angeles (455.000), tiếp theo là Philadelphia (295.000), Chicago (253.000), Miami (225.000), Boston (170.000) và Washington DC (160.000).

Ngoài ra còn có 1 sự tập trung dân số tại các bang chủ chốt. Bang NY (2.143.458 người) chiếm 12% dân số bang. Bang New Jersey (6%). Bang Florida (4,6%). Bang Marylan (4,5%). Bang Massachusetts (4.4%). Bang Pennsylvania (3,6%). Bang California (3,1%). Bang Illinois (2,4%). Trong các lá phiếu của các sắc tộc lớn ở Mỹ, lá phiếu DT được tổ chức tốt nhất, đáp ứng tốt nhất đối với sự hướng dẫn của giới lãnh đạo và chắc chắn có những nỗ lực đầy hiệu quả. 

Người DT và cộng đồng người Mỹ 
(photo credit: REUTERS)

Về mặt chính trị, tác động của người DT ở Mỹ cho thấy phần lớn đã bỏ phiếu/nghiêng hẳn về phía Đảng Dân chủ (đôi khi lên tới 85-90%). Trên thực tế, những năm 1960-70, lòng trung thành của cử tri DT ngày càng có vẻ dựa trên cơ sở tình cảm - lịch sử hơn là sự tương đồng lợi ích. Phần lớn từ sự thông cảm dành cho người nghèo và bị thua thiệt (ko hoàn toàn vì những lý do kinh tế hay chính sách của chính phủ). Đến cuối thế kỷ 20, khái niệm ''vận động hành lang DT'' trong nền chính trị Mỹ, ở mức độ nào đó, đã trở thành chuyện hoang đường.

Những gì diễn ra trong mối quan hệ của các công dân DT với Mỹ (nói chung) là 1 chuyện hoàn toàn khác và quan trọng hơn nhiều, đó là sự chuyển biến của thiểu số DT thành 1 yếu tố cốt lõi của xh Mỹ. Trong suốt thế kỷ 20, người DT Mỹ tiếp tục tận dụng tối đa các cơ hội mà đất nước này mở ra cho họ. Họ vào các ĐH, trở thành bác sĩ, luật sư, giáo viên. Cả nam và nữ đều có tay nghề trong mọi lĩnh vực: chính trị gia và công chức nhà nước cũng như làm ăn phát đạt trong ngành tài chính và kinh doanh (như họ vẫn luôn là vậy ở bất cứ đâu).

Người DT còn là 1 nhóm vận động hành lang trong xh Mỹ, họ trở thành 1 phần của sinh thể tự nhiên, 1 bộ phận hữu cơ, và là 1 bộ phận đầy sức mạnh. Họ bắt đầu hoạt động ko phải từ bên ngoài (cơ thể Mỹ) vào bên trong, mà từ bên trong tác động/ảnh hưởng ra bên ngoài. Với truyền thống dân chủ, khoan dung và tự do trong lịch sử của mình, vai trò của họ (ở mức độ nào đó) giống như vai trò của người Whig ở Anh: 1 tầng lớp tinh hoa/elite tìm kiếm lý lẽ đạo đức cho các đặc quyền của mình bằng cách khai sáng những người kém may mắn hơn. Do đó, hoạt động ko nằm trong mục đích tìm quyền lợi của họ mà là ban phát chúng trong lĩnh vực chính trị một cách lặng lẽ khó nhận thấy, chuyển từ gây ảnh hưởng lên sự lãnh đạo sang thực hiện nó.

Hình ảnh: Chọn từ net

Rất khó phân biệt 1 cách cụ thể các yếu tố DT trong xh Mỹ, chúng đã trở thành 1 phần hài hòa ko thể thiếu trong nền vh Mỹ. Cũng rất khó xác định chính sách nào của Mỹ được đề ra là để đáp ứng cái được cho là lợi ích DT bởi lợi ích đó có xu hướng ngày càng tương đồng với lợi ích của Mỹ nói chung. Nguyên tắc này hoạt động rất rõ ràng trong trường hợp Israel. Lúc này ko cần phải thuyết phục các nhà lãnh đạo Mỹ bảo đảm quyền sinh tồn của Israel nữa. Điều đó được coi là đương nhiên.

Israel là 1 tiền đồn cô đơn của nền dân chủ tự do, bảo vệ nền pháp trị và các tiêu chuẩn hành xử văn minh ở 1 khu vực mà các giá trị đó bị bỏ qua. Việc Israel nhận sự hỗ trợ của Mỹ là tất yếu và cần được thảo luận để bằng cách nào có thể cung cấp sự hỗ trợ đó (một cách thận trọng nhất). Đến những năm 1980, thực tế Israel vẫn là đồng minh đáng tin cậy nhất của Mỹ ở Trung Đông, và Mỹ là người bạn đáng tin cậy nhất của Israel trên thế giới (kể cả khi cộng đồng DT Mỹ ko tồn tại).

Tuy nhiên, cộng đồng đó thực sự tồn tại và đạt được 1 vị thế độc đáo trong cộng đồng DT thế giới. Ko chỉ vì quy mô mà còn vì đặc điểm của nó. Đây là 1 cộng đồng đã đồng hóa hoàn toàn, nhưng vẫn giữ lại ý thức DT của mình. Hiện tượng này chưa từng tồn tại trong lịch sử DT. Nó đã hình thành nhờ hoàn cảnh đặc biệt của sự phát triển và cấu trúc xh Mỹ.

Hình ảnh: Chọn từ net

Người DT, ''kẻ khách ngoại bang và kẻ kiều ngụ'' mãi mãi, cuối cùng đã tìm được chốn nghỉ lâu dài ở 1 đất nước mà những người di cư đều đến với tư cách' ''khách ngoại bang''. Tất cả đều có quyền cư trú như nhau, cho tới khi tất cả bình đẳng trước công lý, có thể gọi vùng đất này là nhà. Mỹ là nơi đầu tiên người DT đã định cư, và thấy tôn giáo của mình cùng sự tuân thủ tôn giáo của mình là 1 lợi thế, vì mọi tôn giáo rao giảng đức hạnh công dân đều được tôn vinh.

Mỹ là nơi, cũng và trên hết, tôn vinh thứ tôn giáo bao trùm của riêng mình, cái có thể được gọi là Luật Dân chủ, một Torah thế tục mà người DT được chuẩn bị vô cùng tốt để tuân theo.

Vì tất cả những lý do này, nên nếu coi cộng đồng DT Mỹ là 1 phần của cộng đồng DT thế giới có lẽ ko chuẩn xác. Người DT ở Mỹ thấy mình là người Mỹ hơn người DT ở Israel thấy mình là người Israel. Cần phải tạo 1 từ mới để mô tả hoàn cảnh của họ, vì người DT Mỹ, cùng với người DT ở Israel và người DT ở các nơi khác trên thế giới, đến/hợp lại để trở thành chân còn lại của cái kiềng 3 chân DT mới, mà sự an toàn và tương lai của cả dân tộc đặt trên đó.

Hình ảnh: Chọn từ net

Sự cần thiết về 1 nhà nước Israel hiện đại thế tục ko giảm trong lịch sử 40 năm đầu tiên của nó, mà tăng lên cho đến hôm nay. Ban đầu, nó được lập ra để đón các nạn nhân của chủ nghĩa bài DT ở châu Âu, sau thảm họa Holocaust. Đây là nơi trú ngụ cho những người sống sót vẫn còn đang rất đau buồn vì những mất mát và sốc vì những chấn thương tinh thần bởi những gì họ đã trải qua. Đây cũng là nơi sinh sống cho những người bị trục xuất khỏi những cộng đồng DT Ả-rập. Chỉ riêng những mục đích (đã được hoàn thành này) cũng đủ để biện minh cho sự tồn tại của nó.

Sau đó là những nhiệm vụ mới xuất hiện sau Thế chiến Thứ 2. Người DT ko dễ đạt được 1 thỏa hiệp hòa bình với LX và bằng chứng cho thấy rằng họ có thể gặp nguy hiểm tập thể lớn hơn bao giờ hết. Việc đưa 1.750.000 người DT thoát khỏi sức mạnh Xô-viết là mục đích hệ trọng của Israel buộc họ sẵn sàng đối đầu với bất cứ sự ko hài lòng nào từ nhà nước Xô-viết đối với người DT (dưới các hình thức khác nhau).

Nhà nước Israel có mục đích thậm chí còn nghiêm túc hơn bởi nó là nơi nương náu có chủ quyền của người DT gặp nguy hiểm ở bất cứ đâu trên thế giới. Nó là kẻ bảo vệ những người DT đã về đây tề tựu trong biên giới của mình. Nó là sự đảm bảo vật chất và sức mạnh duy nhất rằng 1 thảm họa Holocaust khác sẽ ko xảy ra.

Lực lượng thiết giáp của IDF trong Chiến Tranh Sáu Ngày (Hình ảnh: Chọn từ net)

Mặt trận chống Israel với chiến dịch bài DT khốc liệt của nhà nước Xô-viết và Khối các nước Ả-rập cho thấy: dù riêng biệt hay cùng nhau, họ đều có thể tìm cách áp đặt 1 Giải pháp Cuối cùng nếu có cơ hội. Israel phải đặt ra 1 khả năng như thế, và phải vũ trang để chống lại khả năng/nguy cơ đó. Israel có những lời hứa đáng tin cậy về sự bảo vệ của Mỹ, nhưng khi ko còn cách nào khác thì 1 quốc gia có chủ quyền phải trông chờ vào khả năng phòng vệ của chính mình.

Do đó, Israel phải sở hữu các phương tiện để gây ra những tổn thất (ko thể chấp nhận được) đối với những kẻ gây hấn tương lai, dù đó là kẻ thù mạnh cỡ nào. Trong Thế chiến Thứ 2, các nhà khoa học DT đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc chế tạo những vũ khí hạt nhân đầu tiên bởi họ ko muốn Hitler sẽ có 1 quả bom nguyên tử trước.

Trong những năm 1950-60, khi sự thù địch của LX và Khối đồng minh Ả-rập đối với Israel gia tăng, Israel đã nghiên cứu để trang bị cho mình 1 phương tiện (dùng để) răn đe. Và trong những năm 1970-80 họ đã nắm trong tay năng lực hạt nhân. Điều này là 1 bí mật, nhưng nó đều được biết ở những nơi mà nó sẽ có tác động mạnh mẽ nhất. Israel phải hoàn thành cả 2 mục đích/nhiệm vụ mà hoàn cảnh đã đặt lên vai mình.

Vào ngày 2 tháng 8 năm 1939, nhà vật lý người Hungary Leó Szilárd và Albert Einstein đã gửi một lá thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt thúc giục ông phát triển bom hạt nhân, cuối cùng dẫn đến sự ra đời của Dự án Manhattan (Hình ảnh:  AHF/Atomic Heritage Foundation)

(Lược ghi từ Lịch Sử Do Thái của Paul Johnson)

(*): Trong bất kỳ tôn giáo nào, tính “Giáo điều” đều tồn tại, duy chỉ khác nhau về mức độ. “Giáo điều” là những điều được ghi trong kinh/kinh thánh hoặc được các Bề trên giảng và được coi mặc nhiên đúng, không bàn cãi. Tuy nhiên, bản kinh Torah của người Do Thái lại rất gợi mở để mọi người suy nghĩ, khám phá. Trong 5 cuốn Kinh Torah thì có đến 4 cuốn nói về luật và 1 cuốn về các vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Torah ghi các vấn đề trong cuộc sống, đặt ra các câu hỏi, gợi mở để suy nghĩ, nhưng lại không chỉ có một câu trả lời, mà có nhiều câu trả lời tùy thuộc bối cảnh khác nhau, và thậm chí còn để khoảng trống để mọi người mở rộng với các hỏi và câu trả lời. Trong bữa cơm gia đình cuối ngày, hoặc trong ngày Sabbath, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đọc và tranh luận các điều ghi trong kinh thánh, và có thể chính điều này làm tăng thêm năng lực trí tuệ, làm cho họ rất giỏi về lý luận và luật.

(**): Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”.

(***): Người DT triều đình là những người thuộc tầng lớp tinh hoa nhưng ko bao giờ giữ vai trò chính trị ở cấp lãnh đạo/chóp bu. Họ chỉ được phép giúp sức, nhưng ko được phép cai trị.

Monday, September 9, 2024

Biên giới Zion (6)

Nhà nước Zion mới đã được thai nghén để đáp lại chủ nghĩa bài DT thế kỷ 19 và ra đời ngay khi Holocaust vừa kết thúc. Nó ko phải là 1 bản kế hoạch chi tiết cho 1 nền thần quyền DT mà là 1 công cụ chính trị và quân sự giúp người DT sống sót. Về cơ bản, nó GIỐNG Y như thời nhà tiên tri Samuel (khi đó người DT có nguy cơ bị người Philistine tiêu diệt và đã quay sang chế độ quân chủ để sống sót). Samuel thấy rõ: chế độ quân chủ (hay nhà nước DT) ở trong tình trạng xung đột  với chế độ cai trị bằng luật Moses. Và luật Moses bị thách thức, Chúa bị chọc giận, và cuộc lưu đày Babylon diễn ra sau đó. Thời kỳ lưu vong của người DT bắt đầu từ đây.

Từ bản chất của DT giáo, cuộc lưu vong sẽ chấm dứt bởi 1 sự kiện siêu hình, theo thời thuận của Chúa (ko phải bởi 1 giải pháp chính trị do con người nghĩ ra). Theo Gershom Scholem: ''Lý tưởng Zion là một chuyện và lý tưởng cứu thế là một chuyện khác, cả hai không dính dáng gì đến nhau từ trong cách nói khoa trương tại các cuộc tuần hành lớn, thường truyền cho lớp trẻ của chúng ta một tinh thần shabbatai mới nhưng thất bại.''

Đúng là những người Zion, vốn hầu như ko theo đạo hoặc thậm chí bài tôn giáo* đã cầu viện sự giúp đỡ của DT giáo. Họ ko có lựa chọn nào khác. Họ cầu viện cả Kinh Thánh (từ những bài học đạo đức và kêu gọi thế hệ trẻ hướng đến lý tưởng trong Kinh Thánh). Ben Gurion dùng Kinh Thánh như 1 cuốn sách hướng dẫn chiến lược quân sự. Nhưng đó chỉ là 1 hình thức Đông Âu của phong trào khai sáng DT.

Nhưng cũng như Samuel, người DT sùng đạo phải công nhận sự tồn tại của chủ nghĩa Zion và tôn trọng nó. Bởi có 1 vài luồng tư tưởng, mỗi luồng được điều chỉnh theo thời gian. Tất cả đều thuộc về dòng Chính Thống.

Gershom Scholem (Nguồn: Viện Leo Baeck, New York)

Chính thống giáo thừa nhận chủ nghĩa Zion ở mức độ tùy theo cách người Zion dùng DT giáo để lập quốc gia của mình. Điều này được kết hợp với niềm tin của những người DT mộ đạo cho rằng tinh thần dân tộc Zion có thể dùng để đưa người DT trở lại với DT giáo. Điều này được thể hiện trong việc bổ nhiệm Abraham Isaac Kook làm Giáo sĩ trưởng tại Lãnh thổ ủy trị Palestine (được sự ủng hộ của người Zion) với mục đích tiếp thêm năng lượng cho việc tuân thủ Torah (nhờ tinh thần yêu nước mới của người DT) và điều kiện là người DT ngoan đạo phải làm việc có tổ chức.

Vai trò của Torah được đảng chính trị tôn giáo Mizrachi đấu tranh giữ lại cùng với chủ nghĩa Zion. Mizrachi đã thực hiện việc này cùng những người Zion suốt thời gian ủy trị và là 1 đối tác trong chính phủ từ khi Israel được thành lập. Mizrachi có vai trò quan trọng trong việc tránh tuyệt giao hoàn toàn giữa người DT thế tục với người DT theo đạo ở Israel, nhưng nó có xu hướng giống 1 nhà trung gian giữa 2 bên hơn là 1 lực lượng tôn giáo.

Sau Đại hội Zion năm 1911 (quyết định ủng hộ trường học thế tục thay vì trường học Torah), các nhà hiền triết Chính thống giáo lập ra phong trào Agudist vào năm 1912 để đáp lại thái độ trung gian/phản trắc của Mizrachi. Hệ thống cũ (dưới chế độ cai trị của Thổ Nhĩ Kỳ) ủng hộ những người chính thống. Nhưng sau đó, theo quy chế ủy trị, người Anh đã trao quyền đại diện chính trị của người DT cho người Zion (1922) sau khi họ tiếp quản Palestine.

Rabbi Abraham Isaac Kook, người đã cố gắng hòa giải chủ nghĩa phục quốc Do Thái với Do Thái giáo chính thống

Hội đồng Quốc gia của người Zion nắm chắc trong đôi tay thế tục, họ đơn giản những việc có khía cạnh tôn giáo bằng cách chuyển chúng cho Đảng Mizrachi thực hiện. Đáp lại, những người Agudist đã tạo ra phong trào được điều hành bởi ''Hội đồng Những người vĩ đại của Torah'' và lập ra đảng phái tôn giáo của mình là Agudat.

Sự tranh chấp này đã được Isaac Breuer, 1 trong những nhà lãnh đạo của Agudat, nêu ra trước Hội đồng Những người vĩ đại với câu hỏi: Tuyên bố Balfour có áp đặt một nhiệm vụ do thần thánh xếp đặt cho người Do Thái là phải xây dựng một quốc gia hay đó là một ''mưu mẹo của Satan''? Do Agudat ko thể thống nhất cho câu trả lời nên Breuer đã tự tìm câu trả lời, trong bối cảnh Holocaust, với lập luận: quốc gia là món quà từ Thiên đường cho Israel tử vì đạo và có thể là ''khởi đầu của sự cứu chuộc'', miễn là nó phát triển được dưới sự hướng dẫn từ Torah, trở thành cơ sở cho ý thức hệ của Agudat.

Khi quốc gia chuẩn bị được thành lập, Agudat đòi hỏi nhà nước phải có 1 cơ sở pháp lý Torah. Điều này đã bị Cơ quan DT bác bỏ vì ''Việc thành lập quốc gia cần phải có sự xác nhận của LHQ, và điều này sẽ không thể diễn ra nếu không có sự đảm bảo quyền tự do lương tâm ở quốc gia cho mọi công dân và nếu không làm rõ rằng: ý định ở đây không phải là lập ra một nhà nước thần quyền.''

 Isaac Breuer (Hình ảnh chọn từ net)

Israel là 1 nhà nước thế tục. Tuy nhiên, Cơ quan DT chấp nhận quan điểm tôn giáo về ngày Sabbath, quy định về thực phẩm và hôn nhân, cho phép tự do tôn giáo ở trường học. Thỏa hiệp này giúp Agudat có thể tham gia Hội đồng Chính phủ Lâm thời khi nhà nước (mới) thành lập (trong Mặt trận Tôn giáo Thống nhất) và hình thành các liên minh cầm quyền trong giai đoạn 1949-1952.

Vào năm 1952, quan điểm của Agudat được trình bày như sau:

Thế giới được tạo ra vì Israel. Nghĩa vụ và phẩm chất của Israel là duy trì và thực hiện Torah. Điều này có nghĩa rằng mục đích của thế giới là lập ra chế độ của Torah ở vùng đất của Israel. Nền móng của lý tưởng này đã được đặt. Người DT giờ đây sống ở quê hương mình và thực hiện Torah. Nhưng vẫn chưa đạt được sự hoàn thiện, vì tất cả người DT vẫn chưa sống ở vùng đất của mình và [thậm chí] tất cả người DT vẫn chưa thực hiện Torah.

Tóm lại, Agudat cam kết sử dụng chủ nghĩa Zion để hoàn thành việc tập hợp và biến kết quả đó thành 1 nền thần quyền.
Biểu tượng Menorah: Truyền thống DT cho rằng các nhánh của Menorah là hình ảnh của cây sự sống ở trong vườn Ê-đen. Cây sự sống này cũng như cây đèn bảy nhánh được nhắc đến trong Sáng Thế ký và trong sách Khải Huyền (Nguồn: Chọn từ net)

Những thỏa hiệp thường dẫn tới việc hình thành các nhóm đối lập (phản đối việc thành lập quốc gia, tẩy chay bầu cử, thậm chí tuyên bố thà quốc tế hóa Jerusalem còn hơn để nó trong tay những kẻ bội giáo). Những nhóm này trong suy nghĩ của người thế tục thuộc khuynh hướng cực đoan. Tuy nhiên, toàn bộ lịch sử DT cho thấy: các nhóm thiểu số (khắc khổ) có xu hướng trở thành các nhóm đa số chiến thắng (giống bản chất của DT giáo, vì những thành viên thuộc các nhóm này tỏ ra, với tiền đề ban đầu của mình, rất nhất quán về mặt logic).

Người DT là ''một dân tộc mà cuộc sống của họ bị chi phối bởi 1 mệnh lệnh thánh thần siêu nhiên''. Vì vậy mà họ ko phải là ''một dân tộc như bất kỳ một dân tộc nào'' (họ ko phụ thuộc vào thành công hay thất bại chính trị, kinh tế và vật chất thông thường khiến tất cả các dân tộc khác lúc thăng lúc trầm). Do đó, tạo ra nhà nước Zion ko phải là sự kiện người DT bước trở lại vào lịch sử, ko phải là 1 Khối thịnh vượng chung mà là sự khởi đầu của 1 cuộc lưu đày mới và nguy hiểm hơn nhiều.

Tiêu biểu cho xu hướng đối lập, Những người canh gác thành phố (Neturei Karta**) lên án Chiến Tranh Sinai và Chiến Tranh Sáu Ngày vì những điều này sẽ đưa người DT tới sự hủy diệt. Đây là con đường của Satan chỉ đưa đến thất bại vô cùng lớn. Vì vậy, họ phản đối ''sự cứu rỗi và bảo vệ'' của chủ nghĩa Zion.

Amram Blau (Người thứ 2, từ trái sang): 1 trong 2 người sáng lập Neturei Karta (Hình ảnh: Chọn từ net)

Do có những mâu thuẫn như vậy nên ngay từ khi ra đời, nhà nước Zion thế tục đã vấp phải sự phản đối tôn giáo từ 3 bên: từ trong liên minh chính phủ, từ bên ngoài liên minh (nhưng có sự đồng thuận của người Zion) và từ bên ngoài sự đồng thuận (nhưng ở trong đất nước).

Nhà nước Israel thường xuyên phải đối mặt với các dạng phản ứng của dân chúng vì những quyết định của mình. Nhưng thông thường, quyền lực tôn giáo thể hiện quyết liệt nhất trong Knesset và nhất là trong nội các. Đó là những vấn đề gây ra khủng hoảng nội các từ việc nhập khẩu thực phẩm (bị cấm), giáo dục tôn giáo cho trẻ em, về trường học hay việc bắt con gái của các gia đình Chính thống giáo đi lính. Đây là những nguồn gây bất hòa trong chính phủ liên hiệp lớn hơn nhiều so với khác biệt về ý thức hệ, quốc phòng hay ngoại giao.

DT giáo chứa đựng đầy đủ 1 nền thần học đạo đức nghiêm ngặt, nên phạm vi xung đột rất rộng (chẳng hạn những quy định/luật về ngày Sabbath và tác động dây chuyền của nó ảnh hưởng đến quân đội, ngành dân chính, các khu vực công nghiệp, nông nghiệp/kibbutz, các sắc lệnh pháp lý quan trọng và xung đột của các văn bản dưới luật). Tất cả những vấn đề này đẻ ra các quy định, sự quản lý và phục vụ khác nhau trên nhiều địa bàn lãnh thổ cũng như trong lĩnh vực kinh doanh - dịch vụ trên phạm vi quốc gia.

Những nữ chiến binh DT (Hình ảnh: Chọn từ net)

(Lược ghi từ Lịch Sử Do Thái của Paul Johnson)

(*): Về điểm này, những người DT sùng đạo ngay từ đầu đã nghi ngờ (hoặc phản đối) chủ nghĩa Zion. Với đa số những người chống chủ nghĩa Zion thì tin rằng: đây là tác phẩm của Satan.

(**): Neturei Karta là một nhóm DT Haredi. Được thành lập tại Jerusalem vào năm 1937 bởi Amram Blau và Aharon Katzenelbogen, Neturei Karta được thành lập như một nhánh của phong trào Agudist.