Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts
Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts

Friday, August 9, 2024

Tiên học chữ

Lập thân tối hạ thị văn chương
   Gia đình họ mạc tôi, nhiều người làm văn học. Ngày xưa đọc đến câu này, tôi cứ băn khoăn. Đa số đều hiểu là "Trong các cách lập thân thì văn chương là thấp kém nhất". Cha tôi cũng giải thích theo hướng đó, nhưng theo cách tích cực hơn. Người nói, nếu văn chương không có nội dung, không màng tới số phận con người, xã hội chỉ thù tạc, bay bướm, nghĩa là văn chương theo nghĩa hẹp, cụ thể, thì đúng là "tối hạ". 
   Tuy vậy có vẻ như không ổn. Câu này do cụ Phan Bội Châu trích dẫn từ Tùy Viên thi thoại của Viên Mai 
       "Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
        Lập thân tối hạ thị văn chương"
        (Mỗi bữa ăn ghi lòng việc lưu danh sử sách
          Lập thân thấp nhất là văn chương)
cùng với câu 
        "Văn chương thiên cổ sự
           Đắc thất thốn tâm tư”.
         Văn chương chuyện cũ ngàn đời
         Được mất chỉ trong lòng ta biết
Câu sau được cụ cho là của Minh Nhân, thực ra gốc của Đỗ Phủ. Cụ trích dẫn mỗi câu có sai một chút không biết vô tình hay cố ý: câu gốc của Viên Mai là "tối tiểu" (nhỏ nhất) đổi thành "tối hạ" (thấp nhất), câu của Đỗ Phủ "tâm tri" (lòng biết) đổi thành "tâm tư" (lòng nghĩ).  
   Mâu thuẫn ở chỗ, nếu câu trước hạ thấp giá trị của văn chương thì câu sau khá cao ngạo về vai trò của văn chương. Tiếp đó cụ Phan viết  “Xem hai câu ấy thì bảo văn chương là một việc có giá trị hay không?" “Chúng ta chẳng nói đến văn chương còn nói gì? Nếu không thèm nói văn chương thì xin hỏi, ngoài việc văn chương thì có gì là chúng ta làm được? Lại như một hạng người không biết văn chương là cái gì, thì tôi không muốn bàn nói tới. Lập miệng thân cho thạo, anh võ là mình nuôi xác thịt cho no, ngựa trâu thây kệ. Nếu chỉ hạng người như thế mà ta còn nói văn chương với họ làm gì, nhưng há có lẽ đâu hai mươi lăm triệu đồng bào tai thông mắt sáng, hơn bốn nghìn năm tổ quốc sông lớn nguồn xa, mà không có người biết nghe văn chương ư? Vậy nên chúng ta phải cố học cho ra nghề văn chương”.
     Lập luận và ý tứ khác hẳn các câu dịch hay các loại cắt nghĩa. Vì vậy tôi sinh nghi ngờ, và tra cứu xem cái nhà ông Viên Mai này ở đâu. Viên Mai, tự Tử Tài, người Hàng Châu, đỗ hoàng giáp đời Thanh Càn Long. Bỏ quan về lập thi xã, đệ tử tới hàng ngàn, trong đó rất nhiều nữ nhân, chuyên ngâm vịnh, bình phẩm văn chương. Nổi danh tài tử đương thời. Bản thân Viên Mai cũng không có chính tích nào để lại hậu thế ngoài văn chương. Đỗ Phủ thì chúng ta không phải bàn, ông là vua của thơ ca Trung Quốc. 
      Như vậy, tôi ngờ rằng "lập thân tối tiểu thị văn chương" có một nghĩa khác. Nếu viết "lập thân tối thiểu thị văn chương", người Việt có thể hiểu ngay theo nghĩa khác: muốn lập thân ít nhất phải biết văn chương. Tôi cho rằng "tối hạ", "tối tiểu" ở đây nghĩa như "tối thiểu": ở bậc thấp nhấp, ít nhất, việc bé nhất phải làm. Nếu như vậy mới là hợp lý. Huống hồ văn chương ngày xưa là toàn bộ cái sự học.
    Than ôi. Lối học tầm chương trích cú nó phản lại người viết, khốc hại cho xã hội và nhiều thế hệ đến thế ư? Mới một câu thơ nhỏ, huống hồ nhiều chuyện khác.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, April 21, 2024

Ngôn ngữ miền Nam

XƯNG HÔ TIẾNG "CƯNG"

Mình dân Nam hãy cùng đọc để rõ tiếng “Cưng” Nam kỳ thiệt Thân thương hết cỡ mà hầu như phần đông đã quên lại cứ nghĩ là dành riêng cho 2 người yêu nhau tha thiết; 

Thiệt ra tiếng Cưng dùng rất rộng rãi, như tấm lòng của người dân Nam tui đó! Mong rằng tất cả Cưng từ già tới trẻ luôn dzui dzẽ tràn đầy, dồi dào sức phẽ nhen! Đọc tới chữ tận cùng để luôn nhớ rằng, mình luôn là dân Nam kỳ thứ thiệt cho dù từ lâu rùi đã mang Cuốc Tịch nước nào đi chăng nữa ...

Cùng lướt cho kỹ bài viết xong với nụ cười hi hi ha ha yêu đời yêu mình nha!

Tiếng Cưng!

Ngày mai là đám hỏi của cháu gái nên mấy cô mấy bác, mấy dì mấy cậu xúm lại chuẩn bị trang hoàng nhà cửa và sơ chế thức ăn.

Ngồi phụ dọn đám, nghe mọi người trò chuyện thiệt rôm rã. Câu chuyện cứ lần lượt theo nhau với tiếng cười vui không ngớt. Tôi chợt phát hiện thú vị thì ra cái tiếng “cưng” của người miền nam vẫn còn y thinh. Một tiếng gọi được xài nhiều nhất ở miền tây nói riêng và miền Nam nói chung.

Tiếng cưng là tiếng gọi trìu mến của người lớn gọi người nhỏ hơn mình. Có thể nhỏ hơn về tuổi tác, cũng có khi nhỏ hơn vì vai vế.

Gọi cưng là tiếng gọi yêu thương lẫn âu yếm một cách hết sức tự nhiên và đơn giản khi ai đó muốn biểu hiện tình cảm với người đối diện.

Anh chị gọi em bằng cưng. Chồng gọi vợ bằng cưng. Người yêu gọi nhau bằng cưng "cưng của anh" hay "cưng của em" gì đều dùng được. Cũng có đôi lúc gọi cưng là để biểu hiện sự trịch thượng đùa nhau "hỏng dám đâu cưng", "còn khuya nhe cưng!". Nhiều khi tiếng cưng đơn giản nhưng làm tan chảy con tim lì lợm khi muốn yêu cầu hay nhờ đối phương việc gì đó khi họ đang lười. "Làm dùm anh chút đi cưng", " đi mua dùm chị đi cưng!". Nghe tiếng cưng như thế không ai nỡ từ chối bao giờ. Chắc cũng vì nắm bắt được yếu điểm đó mà tiếng cưng được người miền tây sử dụng triệt để.

Bắt đầu từ anh chị em trong nhà hay gọi em út bằng cưng "út ơi, cưng ăn cơm chưa vậy út", " Mai cưng có học không để chị biết, sáng chị kêu dậy dùm cho!"

Rồi tới anh chị em lối xóm thường thường gặp nhau cũng gọi cưng ngọt lịm "đi học hả cưng ?" "Nay lớp mấy rồi cưng". "Má có nhà không cưng?"

Khi ra tới chợ Lách thì đâu đâu cũng nghe tiếng cưng mời mọc của những người bán hàng "Mua gì hong cưng", "Mua mở hàng dùm chị đi cưng!", " Mua hết đi chị bán nới cho cưng ơi"

Vì tiếng cưng là cách gọi nhau thể hiện sự yêu thương thân mật nên đôi khi người nhỏ tuổi hơn như tôi vẫn gọi con của chú ruột bằng cưng, "Bữa cưng chở chú năm đi đâu vậy Thủy ?" dù "cưng" đó chỉ nhỏ hơn chị hai tôi có một tuổi đời thôi.

Các anh rể tôi ngày xưa gọi tôi bằng cưng nhiều hơn gọi em. Giờ đây "cưng" ấy đã già, mấy anh gọi em nhiều hơn gọi cưng. Nhưng lâu lâu quen miệng mấy anh cũng gọi tôi bằng cưng và tôi nghe cũng rất đổi bình thường.

Thiệt ra tiếng cưng nó hay ở chỗ không phải thân thuộc, quen biết hay họ hàng gì mới có thể gọi nhau mà ngay cả người mới gặp, chưa hề quen thân cũng có thể gọi nhau: "cưng ơi, chỉ dùm anh nhà của chị A, chị B "chẳng hạn. Hay hoặc : "chỗ này có ai ngồi không vậy cưng, chị ngồi xíu nhe!". Hoặc giả ai đó té ngã xe thì người đi đường cũng có thể hỏi một cách lo lắng :"Trời ơi, có sao hong cưng!". Nhà cưng ở đâu, có gần đây hong. Cái tiếng cưng ngọt ngào ấy làm cho con người ta cảm giác thân thương, bớt sợ hãi an tâm hơn. Bởi thế nên những người tâm địa xảo trá họ cũng lợi dụng cái tiếng cưng ngọt như đường ấy mà vỗ về con mồi sa bẫy để lừa lọc đúng như câu " ngọt mật chết ruồi".

Tiếng cưng được gọi thì có kêu lên trời hay xuống biển gì người ta cũng cam tâm làm…..

* Phạm Thu Thảo.✍️

(Trang Văn Chương Miền Nam)

Thursday, April 18, 2024

Tiếng nói của sông nước Nam bộ

 NGÔN NGỮ SÀI GÒN

Nếu bạn không phải là người sanh đẻ ở Sài Gòn trước 4/1975, hay là người nhập cư và lớn lên ở Sài Gòn thì cũng nên tìm hiểu chút xíu về ngôn ngữ người Sài Gòn (thứ thiệt) thuở xưa.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ "vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói:

- Mày ăn cơm chưa?

- Dạ, chưa!

- Mới dìa/dzề hả nhóc?

- Dạ, con mới dìa!

Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ ... dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay ...

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói: “Từ bữa đó đến bữa nay”. Còn người Sài Gòn thì nói: “Hổm nay”, “dạo này” …

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê (lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng).

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm” ... Nếu nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết …” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam rõ rệt.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem … “Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!” … Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề … nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi: “Ê, nhóc lại nói ngheng”. 

Hay gọi người bán hàng rong: “Ê, cho chén chè nhiều nhiều, tiền ít coi!” …

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là: “cho chén chè, cho tô phở” … “cho” ở đây là mua đó nghen!

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này: “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!” …

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi: “Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta?”.  Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à nghen. Người Sài Gòn có thói quen hay nói: “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?” … Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà … hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là … “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” ...

Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “mày” xưng “tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Sài Gòn mầy tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất là thân thiện và gần gũi. “Mày”, “tao” là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi ... Hỏng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu, tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng “mày mày tao tao”, thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoan khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đây là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chớ còn như đám nhỏ nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như phần lớn dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì: “Dì ơi dì ... cho con hỏi chút!", còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác ..." rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu ... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. 

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng … gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ.

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ "đó", người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng ... ngộ nghĩnh dzậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất miền Nam, Sài Gòn đó nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo ... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm ... 

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi: “Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng” ...

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được ... giản lược mất luôn, trở thành: "Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?" ...

Hoặc Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi ... con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai ... em nói nghe nè!".

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế đất Thần Kinh ...

Cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chơn chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương, những cảm giác xao xuyến bồi hồi khó tả ...

Thang Le st

Thursday, February 29, 2024

Tiếng Việt: Ga, bến và cảng

 BÀN VỀ BẾN 

Từ xa xưa tổ tiên ta chủ yếu đi lại bằng đường thủy qua thuyền ghe. Nơi dừng đậu ghe thuyền bên bờ sông gọi là BẾN.

Nói đến bến, hàng ngàn năm qua được mặc định là bến ghe thuyền. 

Và rồi mãi về sau xuất hiện thêm xe ngựa, xe kéo “tham gia giao thông” trên bộ, thế là hình thành ra bến trên bộ gọi là bến xe để phân biệt với bến dưới nước. 

Từ lúc đó, nước Nam ta xuất hiện hai loại bến: Bến xe và Bến. 

Bến đã được mặc định là bến dưới nước rồi nên chỉ gọi là bến mà không cần thêm ghe thuyền vào bổ nghĩa nữa. Như bến Bình Than, bến Chương Dương, bến Bạch Đằng, bến Lức, bến Thành … 

Rồi bỗng dưng thằng Tây qua, rồi đùng đùng làm ra xe lửa để tham gia giao thông. Lẽ ra nơi dừng đậu của xe lửa thì gọi là bến xe lửa, nhưng ông bà ta choáng ngợp trước sự hùng vĩ hiện đại của xe lửa nên không dám dùng chữ BẾN tầm thường quê mùa đặt tên cho chỗ đó. Lục tìm trong kho tàng Hán Việt cũng không tìm ra chữ gì tương thích để đặt tên cho cái chỗ uy nghi hiện đại đó. Bởi ông anh Tàu trước đó cũng có mịa gì xe lửa để mà đặt tên. 

Thế là sẵn ông xếp Tây có chữ GARE gọi chỗ đó, nên dù có thù ghét ông Tây cỡ nào thì cũng phải mượn chữ đó đặt tên cho chỗ đậu xe lửa, gọi là ga xe lửa hay ga tàu hỏa. Chữ GA xuất hiện trong ngôn ngữ tiếng Việt từ đó. 

Như vậy kể từ đó có ba tên để chỉ nơi dừng đậu của ba loại phương tiện giao thông: Ga, Bến và Bến Xe.

Chỉ cần nói đến ga hay nhà ga là hiểu rằng đó là ga xe lửa, nói bến là hiểu rằng đó là bến tàu thuyền, còn chỗ đậu xe phải gọi là bến xe. 

Về sau những bến tàu nằm ngay cửa biển có nhiều tàu to ra vào và có cả tàu nước ngoài nữa, bến trở nên quy mô lớn, dùng chữ bến gọi nó không tương xứng, ông bà ta liền vào lục kho Hán Việt thấy có từ CẢNG rất tương xứng với tầm vóc của nó nên từ Cảng ra đời để chỉ những bến tàu thuyền quy mô lớn và có yếu tố nước ngoài. Bến to trên biển gọi là cảng biển, bến to trên sông gọi là cảng sông.

Vẫn chưa hết, ông Tây lại làm thêm cái chỗ để đáp tàu bay nữa. Lẽ ra phải gọi là ga tàu bay như kiểu ga tàu hỏa hoặc là bến tàu bay như bến tàu thủy. 

Nhưng không, vì cái bến này nó kèm thêm cái sân to đùng nên gọi nó là sân bay. Tuy nhiên thấy chữ sân bay tầm thường quá, liền vào lục kho Hán Việt để tìm ra chữ Phi Trường đặt tên cho đúng tầm hoành tráng. 

Nhưng rồi phi trường có thêm máy bay nước ngoài ra vào, quy mô trở nên lớn, thế là nghĩ đến chữ cảng giống như cảng biển đặt tên cho nó: CẢNG HÀNG KHÔNG ra đời (trước 75 gọi là phi cảng) 

Theo đà đó, bến xe quy mô lớn lại đặt là XA CẢNG cho oai. 

Cảng hàng không ngày nay khá phức tạp, ngoài phi đạo ra còn có chỗ cất máy bay, chỗ sửa máybay, chỗ cất hàng hoá, chỗ dừng máy bay cho khách lên xuống … 

Chỗ hành khách chờ lên xuống máy bay gọi là ga hàng không. 

Như vậy trong cảng hàng không có nhà ga hàng không (terminal).

Tóm lại, ông bà ta chỉ có chữ BẾN, Tây đến cho ta chữ GA, Hán xuống cho ta chữ CẢNG.

Lẽ ra ta dùng bến tất: bến tàu thủy, bến xe, bến tàu lửa, bến tàu bay, bến tàu vũ trụ… 

Nhưng dùng thêm ga và cảng cũng không sao, chúng làm phong phú thêm Tiếng Việt.

Tuy nhiên trong trường hợp sau thì dùng BẾN BẠCH ĐẰNG hay và hợp lý hơn là GA TÀU THUỶ BẠCH ĐẰNG.

Rứa hỉ

Huỳnh Ngọc Chênh

Saturday, February 17, 2024

Trở lại với người QUẢNG

 Biết nhiều người vùng khác ko hiểu họ nói gì, họ hay nói: Ta núa chấp mi nghe hiểu hết á !

Thấy máy bay, họ sẽ kêu: Chiếc má ba.

Gặp má và ba, họ kêu: Móa boa.

Nếu thắc mắc: Mi núa cứa chi rứa mi?

Hỏi ý: Chừ mi tính reng?

Làm ngày làm đêm: Lồm đem không đủ tranh thủ lồm ngà.

Chê chuyện tào lao: Núa bóa xồm bóa lốp!

Hỏi: Máy rứa?

       Con cua có máy cứa coàn?

       Đi mô rứa?

Nghe nói nhiều: Bỏa núa nghe mắt mệch.

Than nắng nóng: Náng chi mòa hén náng kinh!

Nói với con cháu: Bòa ngụa mi dề kìa.

                             Choa mi!

                             Chi kinh rứa!

                             Cứa thèng hén hạc giủa kinh!

                             Hén thi đạo Đựa hạc Đòa Nẽng. 

                             Hén chạ xe như eng cướp!

                             Cứa thèng nứ hén thiệt tình lám!

Khác: Đi đổ xeng đi chứ chiều hén lên gióa chừ...

         Đạo phụng

         Soảng hòn

         Méc kinh rứa

         Eng soáng

         Thổm hụa của nhân lụa

         Cứa bót đánh reng

         Mùa mưa bổ

         Bổ cấp mười hưa

         Dẹt đồ

         Gụa điện thụa

         Phang boa bổ tốp không bèng ngữ phốp Việt Nôm

         Mọt, hưa, boa, bón, nam, xá, bả, tốm, chín, mừ,...

(Bạn gửi onl)

Thursday, February 1, 2024

Sức mạnh của ngôn ngữ

 Tư duy hình thành nhờ ngôn ngữ

     1. Vấn đề này là hiển nhiên đối với tôi, một người làm nghề dạy học và nghiên cứu khoa học công nghệ. Einstein nói đại ý nếu bạn không thể nói cho một đứa trẻ hiểu về một vấn đề, có nghĩa là bạn chưa hiểu nó. Hiểu trước hết là phải diễn đạt được, bởi vì quá trình học là sử dụng ngôn ngữ để hấp thụ tri thức, tư duy bằng ngôn ngữ và hình tượng để tạo ra tri thức mới và cuối cùng phải diễn đạt được bằng ngôn ngữ. 

     2. Tuy vậy đó là chỗ bất đồng của hai tay tổ của ngành tâm lý học phát triển nhận thức (cũng là tâm lý học giáo dục) là Jean Piaget và Lev Vygotsky, mặc dù hai ông đồng ý với nhau ở rất nhiều điểm. Piaget cho rằng quá trình nhận thức là hệ quá của một quá trình phát triển bên trong của trẻ theo từng giai đoạn trưởng thành. Vygotsky lại cho rằng nhận thức phụ thuộc vào tương tác với xã hội thông qua ngôn ngữ. Sau này Piaget nói rằng, đó là quan điểm của ông vào trước năm 1934 khi Vygotsky vừa qua đời. 

    3. Phương pháp giáo dục của tôi ngay cả trước khi biết tới Vygotsky là dựa trên đọc, tóm lược, tư duy và diễn đạt nhờ ngôn ngữ. Nếu con của bạn chưa giỏi, trước hết xem lại việc đọc sách, đã ham thích đọc sách và đã đọc sách đúng hay chưa, sau đó là xem việc diễn đạt. 

    4. Quan điểm này sẽ dẫn tới một số câu hỏi hệ trọng. Nếu tư duy (hay việc nhận thức) phụ thuộc vào việc sử dụng ngôn ngữ và tương tác xã hội. Điều đó có nghĩa là chất lượng xã hội và ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng tới tư duy. Hệ quả cuối cùng thì không có gì bất ngờ. Một số xã hội, ngôn ngữ nhất định sẽ khó phát triển tư duy hơn một số xã hội và ngôn ngữ khác. Tôi không có ý định nói chất lượng xã hội và tư duy sẽ tương ứng 1-1 với GDP, tâm thức xã hội hay bộ máy hành chính. Tuy vậy, chắc chắn phải có một tương quan nào đó. 

     5. Vấn đề là làm thế nào để đo được mức độ ảnh hưởng của xã hội và ngôn ngữ tới sự hình thành tư duy. Nói một cách khác: có những đặc trưng nào của xã hội hoặc ngôn ngữ cho phép tăng tốc độ đọc, phổ cập tri thức, giao lưu tư tưởng hiệu quả và khơi gợi sự sáng tạo qua các khái niệm được mã hóa bằng từ ngữ.

    6.  Cuối cùng, chúng ta lại trở lại những gì tôi (và Đỗ Vũ) đã viết trong Báo cáo Chính tả tiếng Việt năm 2010: viết sai, nói sai sẽ nghĩ bậy làm bậy và sẽ càng viết và nói sai. Rõ ràng có một tương quan giữa những gì chúng ta nói, viết với cách tư duy dẫn tới hành động và số phận. 

    7. Từ những năm 1960, Ngô Tùng Phong cũng cho rằng chỉnh đốn ngôn ngữ và tổ chức xã hội là con đường dẫn tới sự thịnh vượng của quốc gia. Ông cho rằng ngôn ngữ cần được chỉnh đốn để có sức biểu đạt ý tưởng mạnh mẽ hơn, vừa phải có sức phổ biến dễ dàng hơn các tri thức mới. Có lẽ đợi một phong trào xã hội sẽ quá nhiêu khê, diệu vợi hơn là bắt đầu trong mỗi phòng học, mỗi thầy giáo và mỗi học sinh. Sử dụng ngôn ngữ sẽ là trọng tâm để rèn luyện tư duy và cũng để chỉnh đốn ngôn ngữ.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, November 13, 2022

Tiếng Hung: Một trong những ngôn ngữ khó nhất thế giới

 Hôm nay là Ngày Tiếng Hung ở Hungary.

Tiếng Hung có lẽ là một trong những ngôn ngữ đặc biệt và khó học trên thế giới. Tiếng Hung nằm trong nhóm ngôn ngữ Finugor, một nhóm rất nhỏ mà tiếng Hung, tiếng Phần Lan, tiếng Estonia là các ngôn ngữ chính. Nó khác xa về ngữ pháp và từ vựng với các nhóm chính ở châu Âu như La tinh hay Slav. Đặc biệt có tới hai cách chia động từ, mỗi cách lại có biến thể tùy theo động từ đó có âm cao hay âm thấp. Ngoài động từ ra thì còn rất nhiều kiểu chia đuôi khác nên rất phức tạp.

Nhưng cũng chính vì thế mà câu tiếng Hung có cấu trúc rất chặt chẽ và rõ ý.

Ngoài ra từ vựng tiếng Hung cũng rất phong phú, có rất nhiều từ đồng nghĩa để chỉ các sắc thái khác nhau, tính biểu cảm rất lớn, rất tinh tế.

Như ví dụ trong ảnh kèm dưới đây. Đó là một bài thơ liệt kê tới gần 80 động từ khác nhau cùng có nghĩa chung là di chuyển, đi lại. Nhưng tuy theo đối tượng là người hay vật, ý người viết muốn biểu cảm sắc thái, thái độ hay nhấn mạnh khía cạnh gì thì đều có từ khác nhau để dùng.

Phần lớn bài thơ là các ví dụ nói lên cách dùng các từ khác nhau vào các ngữ cảnh và sắc thái di chuyển khác nhau như thế nào.

Hãy đếm các từ in đậm. Có tới 78 từ khác nhau cho cùng nghĩa chung di chuyển.

PS: Có câu nói vui là tiếng Hung có cách chia động từ phức tạp thế cũng chỉ để có được câu tỏ tình ý nghĩa nhất thế giới.

Trong các thứ tiếng khác câu "Anh yêu em" thường có ba từ (anh, yêu và em)

Trong tiếng Hung câu ấy chỉ có một từ "Szeretlek" trong đó có cả anh, cả em và cả yêu, quyện vào làm một. ❤

Phan Anh Sơn

Friday, November 4, 2022

Ngôn ngữ và khái niệm,

  1. Tiếng Việt rất giàu đại từ nhân xưng, rất thiếu danh từ, tính từ và động từ. Danh từ chỉ khái niệm, tính từ chỉ thuộc tính, động từ chỉ hành động. Giàu đại từ là do quan tâm quá nhiều tới tôn ti trật tự. Thiếu danh từ là do chưa phân biệt được các khái niệm có chút giống nhau. Thiếu tính từ tức là chưa nhìn thấy phẩm chất của sự việc. Thiếu động từ tức là chém gió (chắc cũng chưa đủ nhiều) không dẫn tới hành động cụ thể. 

   2. Tại sao lại quan tâm quá nhiều tới tôn ti trật tự? Kinh nghiệm cá nhân của tôi cho thấy những người nhạy cảm quá mức tới tôn ti trật tự là những người có mặc cảm tự ti, cũng có thể do ký ức tuổi thơ bị áp lực hoặc bị coi thường. Như vậy, chúng ta có thể thông qua hệ thống đại từ, cố gắng xoa dịu mặc cảm bằng cách tạo ra mặc cảm cho những người trẻ hơn. Và cứ thế thành một số phận của dân tộc. Có thể giả thiết này có phần đúng, bởi người Việt vô cùng nhạy cảm về tôn ti và vô cùng thích xúc phạm đến tự tôn của người khác. 

     3. Có thế có một lý do khác, không phủ định mà cộng hưởng với lý do này, có thể liên quan tới mặt thiếu. Chẳng hạn mặc cảm sợ thiếu tôn ti liệu có phải bởi vì yếu kém về phân biệt sự vật, không đánh giá được chất lượng, không biết hành động? Tại sao chúng ta lại yếu kém về phân biệt sự vật? Có hai lý do chính. Thứ nhất do chiến tranh, lạc hậu và nghèo đói. Đó là lý do có vẻ khách quan và dễ chấp nhận, nếu như chúng ta không hỏi tiếp: vì sao lại hay có chiến tranh, mãi lạc hậu và nghèo đói. Thứ hai là do chính chúng ta không muốn phân biệt các khái niệm.  Tất nhiên bạn có thể hỏi "xoáy": tại sao chúng ta không muốn phân biệt các khái niệm? Có thể chính là vì mặc cảm tự ti đấy. Bạn có thể cười tôi lấy hậu quả làm nguyên nhân vì chẳng phải chúng ta đang đi tìm nguyên nhân của mặc cảm tự ti hay sao. Xin thưa, trong tâm lý học hay xã hội học có trường hợp nhân và quả lập thành một vòng kim cô luẩn quẩn làm chúng ta không thoát ra được, không đơn giản như trường hợp nhân quả rạch ròi, chỉ cần thay nhân là hết quả. 

     4. Tôi rất thán phục người Ấn Độ, bởi vì trong lịch sử họ cũng có chiến tranh, lạc hậu và nghèo đói, như ta, thậm chí hơn ta, nhưng họ có vốn từ rất phong phú. Chẳng hạn một từ tinh thần theo như Sadhguru nói có 16 thành phần. Có nghĩa là họ đã suy nghĩ kỹ về tinh thần đến mức có thể thấy được cả cấu trúc tinh tế của nó. Có lẽ cả nhân loại đều phải học người Ấn về nhận thức.  Anh bạn người Ấn của tôi có lần nói, tiếng Ấn có tới 32 từ chỉ trạng thái buồn. Thật là quá tinh tế, sâu sắc, chẳng trách sinh ra Gautama, Tagore và Gandhi.  

    5. Điều thú vị nữa là đôi khi chúng ta có sẵn từ ngữ phân biệt, vẫn dùng, nhưng không hề biết chúng khác nhau ra sao. Chẳng hạn như "tri thức" và "kiến thức", "thể chể" và "thiết chế". Nói đúng ra chúng ta không cần và không muốn biết các từ này khác nhau ra sao. Đó là khi có người trong chúng ta đã chế tạo, sử dụng và du nhập từ ngữ sẵn, chúng ta nghe sơ sài rồi "đại khái là", "nôm na là",... và dùng bừa phứa không cần phân biệt. Như thế thì giả thiết "chúng ta không muốn phân biệt khái niệm" có vẻ đúng, dù có vẻ hơi xúc phạm.  

      6.  Cố nhiên không phân biệt khái niệm, thì cũng khó nhận biết thuộc tính. Tuy nhiên, trong các thuộc tính của sự vật, chúng ta đặc biệt kém về các thuộc tính về phẩm chất.  Trong các thuộc tính về phẩm chất, chúng ta kém nhất về màu sắc và đường nét, khá tinh tế về mùi và vị. Có lẽ do chúng ta ít quan sát, mà chỉ ăn thôi.

     7. Phiếm luận vài ý như vậy cho đỡ buồn, nói dài đại thuyết lại thành to chuyện. Mà kể cũng nên to chuyện, nhưng để dịp khác, có thời gian chọn lọc cách nói và từ ngữ cho kín kẽ để khỏi mất lòng mất bề, giải thích mất thời gian.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Thursday, October 27, 2022

Nam dạ Bắc vâng

NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI SÀI GÒN

Ở Sài Gòn, hình như câu nào người ta cũng dạ.

Chắc tại Sài Gòn ưa ăn ngọt, nên người ta cũng quen nói ngọt theo. Chẳng phải ngọt kiểu xã giao, Sài Gòn ngọt từ những tiếng dạ, thưa, cám ơn, xin lỗi ngay trong đời sống thường ngày.

“Kêu chưa em?” - “Dạ, cho em tô hủ tiếu không hành.”

“Dạ con gởi, cám ơn chú!”

“Mới về hả nhóc?” - “Dạ, con mới về!”

Mỗi tiếng dạ thôi, không biết sao trong cảm giác nghe thấy thương đến lạ… Dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. 

Có những điều nhỏ bé thiệt yêu🧡🧡

Khuc Thuy Du Sưu tầm (Trang Văn chương miền Nam)

Wednesday, October 19, 2022

Ngôn ngữ của chúng ta

 Tiếng Việt và… tư duy

Trong buổi “ trà đàm “ tại Nham Nguyệt Tùng Phong sau Hội thảo khoa học về quan hệ Việt  - Mỹ do Đại học Huế tổ chức cựu Đại sứ VN tại Mỹ ( PĐVN bên LHQ ) - Bùi Thế Giang - một nhà ngoại giao kỳ cựu với hơn 40 năm kinh nghiệm trong công tác phiên djch biên dịch, soạn thảo văn kiện văn bản cấp cao tỏ ra rất băn khoăn về việc hiểu và sử dụng tiếng Việt ( cả nói và viết ) của ta hiện nay…

Nó lại là công cụ để hiểu , giao tiếp và cả tư duy nữa !

Vấn đề là …rất vấn đề !

Khoa học ngôn ngữ Đông lào ?

Hệ thống giáo dục ?

Dân trí ?

Quan trí ?

Ta tư duy kiểu gì và… bằng cái gì ?

Ngổn ngang…!

GS Cao Xuân Hạo - nhà Ngôn ngữ học va Âm vị học hàng đầu Việt nam - là người đủ tư cách - nhân cách - tri thức đã nói thẳng những vấn đề này trong cuốn sách : Văn Việt - Tiếng Việt - Người Việt !

Nhớ có lần Ông “ bật “ lại cấp trên : cái tôi nghiên cứu là Ngôn ngữ học chứ không phải ngôn ngữ học Mácxit- Lêninnit ! Đáng kính !

Còn Triết học đúng nghĩa trong hệ giáo dục chính thống của ta thì… hỡi ôi… nó chưa từng được nghiên cứu và giảng dạy thì lấy gì mà học 

Một người bạn là TS vật lý, từng là Viện trưởng Viện CNTT (ĐHBK)  là chuyên gia kỹ thuật nhưng rất quan tâm tới ngôn ngữ đã từng phát hoảng khi thấy hàng đống “ sạn “ lỗi ( cả hình thức và nội dung ) trong các Văn bản quy phạm pháp luật nên đã kỳ công nghiên cứu ra phần mềm chuyên rà và sửa lỗi !

Ngôn ngữ ( tri thức, khái niệm…) rứa thì tư duy răng ?

Nhớ xưa thi sỹ Tản Đà ( Nguyễn Khắc Hiếu ) từng cảm thán : Dân hai lăm triệu ai người “ nhớn “

Đất bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Hay nhà văn- nhà văn hoá Nguyên Ngọc nhận định trong đau đớn :

Xét về mặt tư duy dân tộc Việt là một dân tộc chưa trưởng thành !

Sáng nay mưa lớn

Lan man nghĩ…

Miên man… buồn !

Ngô Tiến Nhân (ELTE.vidi72)

Sunday, October 9, 2022

Tri thức và kiến thức

  1. Tiếng Việt ta có 2 từ dùng hoán đổi lẫn lộn là "tri thức" và "kiến thức". Điều này bất thường trong tình trạng chung là chúng ta rất thiếu thuật ngữ. Rất nhiều từ khác nghĩa "chiếm dụng" thuật ngữ Việt của nhau. 

    2. Nếu là một từ thông dụng, chỉ vật cụ thể, có thể có nhiều từ chỉ cùng một sự vật, bởi lẽ nước ta thống nhất nhiều vùng miền có văn hóa riêng. Tuy vậy, dường như điều này không đúng đối với "tri thức" và "kiến thức" là hai từ Hán-Việt, đều có gốc ở Hán ngữ. Do đó tôi đoán định rằng, ban đầu, khi du nhập 2 từ này vào tiếng Việt, chúng vẫn có nghĩa độc lập. Tuy vậy, khi hiểu biết của chúng ta về sự hiểu biết kém xuống, không đủ tinh tế để phân biệt, chúng ta mới bắt đầu lẫn lộn. 

      3. Có lẽ, sự lẫn lộn này bắt đầu từ các dịch giả tiếng Anh-Pháp. Tiếng Anh knowledge, tiếng Pháp là  la connaissance đều có nhiều nghĩa khác nhau, mà người Anh, Pháp có văn hóa đều phân biệt được theo văn cảnh.  Chúng ta dịch "kiến thức" và "tri thức" ra cùng một từ Anh hay Pháp lâu ngày, cho đến khi dịch ngược lại thì không đủ tinh tế để dịch theo văn cảnh. Rồi lâu ngày, thế hệ mới hoàn toàn không phân biệt "tri thức" và "kiến thức", đó cũng là một thiệt thòi cho tư duy chung của dân tộc. 

     4. Nếu chúng ta tra từ điển sẽ thấy knowledge có 3-4 nghĩa, nhưng tựu chung có thể có khác biệt rõ nhất là ở "thông tin về sự vật" hoặc sự "nhận thức-hiểu biết về sự vật". Đây là sự khác biệt rất lớn trong nhận thức luận thuộc phạm trù triết học. Thu thập được "thông tin về sự vật" và có được "nhận thức-hiểu biết về sự vật" là hai trình độ khác nhau của nhận thức. Như vậy tiếng Việt có ưu thế để phân biệt hai khái niệm này ngay ở mức độ ngôn ngữ. Nhưng cái nào là cái nào? Thú thực, tôi không thật tự tin để phán xử vấn đề này lắm, vì dù sao tôi cũng là nạn nhân của việc lẫn lộn chung này. 

      5.  Như vậy chỉ còn cách tra cứu. Tra các từ điển Việt sẽ thấy ngay "tri thức" và "kiến thức" lộn nhoèo. Tri thức là kiến thức, kiến thức là tri thức, không thể thấy manh mối nào để phân biệt. Cực chẳng đã phải tra các từ điển của Trung Quốc vậy. Lên baike.baidu thì thấy tiếng Trung hiện đại cũng vẫn có hai từ "kiến thức" và "tri thức" khác nhau, giải nghĩa khá lòng vòng và hũ nút, không nhất thiết phải trùng hoàn toàn với nghĩa "kiến thức" và "tri thức" chúng ta đang dùng trong tiếng Việt. Tuy vậy có thể tóm lược được trong tiếng Trung "tri thức" là phạm trù triết học, có liên quan tới "kiến giải". Trong khi đó "kiến thức" là các cái "biết" cụ thể như "Kiến thức của ngươi về trà và rượu quả nhiên không tầm thường" hay "Đến hỗn danh của ta mà nhà ngươi cũng biết, quả kiến thức không tệ.". Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đoán định "kiến thức" tương ứng với "thông tin về sự vật", còn "tri thức" là "hiểu biết-nhận thức về sự vật". Như vậy ta có cơ sở để cho rằng các cụ nhà ta khi đưa cả hai từ này vào tiếng Việt đã có dụng ý phân biệt. Có thể thấy rất nhiều trường hợp chữ Hán có rất nhiều từ sang tiếng Việt bị giản lược thành một từ Hán-Việt. Nhu cầu của các cụ chỉ đến đó, can gì phải dùng nhiều từ cho các đối tượng không có nhu cầu phân biệt. 

    6. Có hướng rồi, cũng không cần vội chọn lựa ngay. Chúng ta có thể suy nghĩ thêm một chút. Ngôn ngữ có tính chất gợi mở dựa trên từ căn rất mạnh, nếu có thể chiết tự, duy danh định nghĩa thì mới là hoàn hảo. "Tri" là biết. Biết là một quá trình phức tạp dựa trên cảm nhận, nhận biết, nhận thức đến một mức nào đó mới có thể gọi là "biết". "Kiến" là "trông thấy" dựa trên quan sát. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng "kiến thức" cho kết quả của quá trình thu thập thông tin, học tập. "Tri thức" để dành cho toàn bộ phạm trù triết học về nhận thức luận. 

   7. Thực hành một chút để xem lý luận có hợp lý không: Như vậy chúng ta nói "tích lũy kiến thức" là đúng, nói "tích lũy tri thức" là không đúng mà phải nói là "rèn luyện tri thức".

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, October 4, 2022

Ngôn ngữ miền Nam

PHÁT ÂM CỦA NGƯỜI NAM KỲ

Có những phương ngữ rất đặc trưng của vùng.  Nếu bạn hỏi người Long An: “Năm nay lúa má sao anh?” Long An trả lời: “Hằng hà!” Còn người Vĩnh Long sẽ trả lời: “Nhóc luôn!”

Dân Nam Kỳ cũng lãng mạn lắm, gọi nước lên xuống ngày 2 lần bằng mấy chục từ diễn tả, như: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửn, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò…

"Khúc sông bên lở bên bồi

 Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm."

Nước ròng còn chia ra: nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt; hay còn gọi tắt là nước cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt…

Thời điểm nước đứng gọi là “nước nhửn”.

"Nước lớn rồi lại nước ròng,

 Đố ai bắt được con còng trong hang."

Dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ gọi thuyền hay đò thì ở Nam Kỳ gọi ghe và chia ra hàng chục loại: ghe chài, ghe đục, ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản…

"Ghe bầu trở lái về đông

 Làm thân con gái theo chồng nuôi con."

Người Nam Kỳ viết không sai chánh tả nhưng trong văn nói có nhiều đặc trưng của vùng, gọi là phát âm sai nếu theo lý thuyết chữ quốc ngữ.

Phát âm phụ âm cuối không phân biệt “n” và “ng”, “c” và “t”,””y”và “I”. Ví dụ: cục than thành cục thang, liên thành liêng, lan thành lang, mái và máy, lụt và lục, mát và mác, thước và thướt...

Phát âm “ê” thành “i”. Chẳng hạn cơm nếp, cái đệm thành cơm níp, cái địm. “ươ” thành “ơ”; trái mướp thành trái mớp, ăn cướp thành ăn cớp, đám cưới thành đám cứi, tức cười thành tức cừi.

Phụ âm “r” “g”, như rau răm thành gau găm, cá rô thành cá gô.

Phụ âm “r” thành “d”. Ví dụ: rau răm thành dao dăm, cá rô thành cá dô.

Vùng Gò Công cũ (Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công [tỉnh Tiền Giang], và Cần Đước, Cần Giuộc [tỉnh Long An]), ở trong quê sâu có cách phát âm “ng” thành “qu”. Ví dụ: ông ngoại thành ông quại.

Thành ra nói kêu " ông quại" cho toàn Nam Kỳ là không trúng.

Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh có cách phát âm “th” thành “kh”. Ví dụ: cái thùng thành cái khùng.

Dân Bến Tre (trừ Chợ Lách và Bình Đại) đọc phụ âm “tr” thành “t”.

Ví dụ: cây tre, cây trúc thành cây te, cây túc; Bến Tre thành Bến Te; Ba Tri thành Ba Ti; Giồng Trôm thành Giồng Tôm.

"Chợ Ba Ti thiếu gì cá biển

 Anh thương nàng anh nguyện về đây."

Phạm Văn Hải St (Trang Văn chương miền Nam)

Friday, September 2, 2022

12 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN NHẤT CỦA TIẾNG VIỆT

 Thôi khỏi để mọi người chờ lâu, mình chụp lại bài trên tạp chí và post lên, chữ nhỏ khó đọc nhưng kéo ra thì cũng đọc được. Thực ra thì hôm nay mình mới có bản cứng tạp chí.

Như đã nói, bài này viết chủ yếu là dành cho những người không có chuyên môn ngôn ngữ học, đọc có thể hiểu được những nét khái quát nhất về tiếng Việt.  

Còn nhớ hôm ở Hội thảo lấy ý kiến về dự thảo "Ngày tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài", mình có nói là với mỗi đặc trưng trong 12 đặc trưng này thì có thể viết được 20 trang, thậm chí cả quyển sách. Nhưng trong khuôn khổ một bài báo thì chỉ là tóm lược cái cốt lõi thôi.

Nếu nhặt nhạnh thêm thành ra 13,14,15 thì nhiều quá khó nhớ. Nếu để 8 hay 9 hay 10 thì lại không hết. Vậy nên mình để 12, là vừa 1 tá. Mình chỉ tập hợp lại những điều mà nhiều người biết rồi nhưng chưa được tập hợp lại cho dễ nhớ, dễ hiểu thôi.

Hôm trước khi đang đánh máy bài, chỗ họ Ngôn ngữ, nói 4 họ, nhưng mới gõ được 3 rồi có việc phải dừng, sau gõ tiếp thì lại tưởng xong rồi nên mới thiếu mất tên một họ, mà mình vừa chỉnh bút mực vào là họ Mông - Dao.

Theo gợi í của thầy Dang Dinh Cung thì mình cho vào cái danh sách của 12 đặc trưng này, giúp mọi người dễ nhớ hơn.

(1) Tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á

(2)Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu

(3) Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết, không biến hình  (tức không thay đổi hình thức của từ dù quá khứ hay hiện tại hay tương lai).

(4)Tiếng Việt là ngôn ngữ có loại từ/danh từ đơn vị (tức là những từ như con, cái, quyển, chiếc, bức, tấm, tờ....

(5)Tiếng Việt là ngôn ngữ có hệ thống từ xưng hô phong phú 

(6)Tiếng Việt là ngôn ngữ có trật tự từ SVO( chủ ngữ, động từ, bổ ngữ), trật tự thay đổi thì ý nghĩa thay đổi. Đây là phương thức ngữ pháp cực kì quan trọng.

 (7)Tiếng Việt sử dụng hư từ như một phương thức ngữ pháp rất cơ bản. Đó là những từ kiểu như: những, các, mọi, mỗi, từng, ...đã, đang, sẽ, đều, cũng, vẫn, còn, cứ, hãy, đừng, chớ, rất quá, lắm, hơi, khá..., Các cặp từ: nếu...thì..., không những...mà còn...,vì...nên...vv.

 (8)Tiếng Việt là ngôn ngữ có nhóm hư từ tình thái cuối câu khá phong phú ( tức là những từ kiểu như: à, ư, nhỉ, nhé, đây, đấy, chứ, cơ, cơ mà, mà lại, hở, hả...) 

(9) Tiếng Việt cũng sử dụng ngữ điệu và trọng âm như một phương thức ngữ pháp

(10)Tiếng Việt có hệ thống từ vay mượn từ tiếng Hán rất lớn

(11)Tiếng Việt có hệ thống từ láy phong phú 

(12)Tiếng Việt sử dụng chữ “Quốc ngữ”

Hy vọng mấy lời thô sơ trong bài này có thể có ích phần nào cho những người muốn hiểu đại cương, ngắn gọn về tiếng Việt, hay muốn nói khoảng năm, mười, mười lăm phút về tiếng Việt mà không sợ là nói linh tinh. 🙂 

Thế cũng vui rồi.

Tất nhiên trên đây chỉ là những kiến thức mình thu lượm được từ các Thầy Cô, từ sách vở, từ thực tiễn giảng dạy, từ góc nhìn sư phạm thôi.

Hôm trước mình có gửi cho bạn chuyên viên bên Bộ Giáo dục và Đào tạo phụ trách khóa tập huấn giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt ở nước ngoài bản thảo bài này, khi tạp chí chưa ra, bảo là nếu có thể thì in ra phát cho học viên sẽ rất hữu ích đấy. Không biết họ có kịp in phát cho học viên không.

(copy từ FB-Nguyễn Thiện Nam - 28.Aug. 2022)

Saturday, June 18, 2022

Ngôn ngữ và dịch thuật

 Góc dịch thuật 

----

VỀ CÁCH DỊCH CỤM TỪ "LEARNING OUTCOMES"

Tôi là một trong (số rất ít ỏi) những người phản đối cách dịch cụm từ "learning outcomes" ra tiếng Việt thành "chuẩn đầu ra". Ai biết tiếng Anh thì đều hiểu rằng trong cụm từ này không hề có chuẩn mà cũng chẳng có đầu ra nào cả. Bởi vì "chuẩn" thì tiếng Anh "chuẩn không cần chỉnh" đã có từ standard, còn "đầu ra" thì chắc chắn phải là output để cho nó tương xứng với từ input là đầu vào. Trong khi đó, learning outcomes thì rất rõ ràng phải được dịch là "kết quả [của quá trình] học tập" (thường chỉ là kết quả dự kiến, khi nó được nhà trường công bố theo một chương trình đào tạo hoặc một khóa học, một môn học nào đó).

Phản đối thì mặc phản đối, số đông bao giờ cũng có sức mạnh đồng hóa, và những tiếng nói thiểu số - dù cứ cho là đúng - sẽ luôn bị "silenced" he he he. Đó là quy luật của muôn đời. Tôi cũng hiểu như vậy nên cũng vẫn phải dùng cụm từ "chuẩn đầu ra" dù thấy là nó không đúng, bởi ngôn ngữ có tính quy ước, giờ đây nếu mọi người quyết định đồng lòng gọi "cái bàn" là "cái bản" chẳng hạn, thì tôi cũng sẽ phải tuân theo, chứ nói "cái bàn" không ai hiểu thì biết làm sao!!!!

Nhưng hôm nay tôi lại buộc lòng phải lên tiếng về vụ chuẩn đầu ra này đây. Chả là vì tôi đang dịch một tài liệu về giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời, và cảm thấy nếu cứ tiếp tục dịch LO là CĐR thì sẽ dẫn đến một sự hiểu lầm dai dẳng về bản chất của LO với rất nhiều di hại về sau. Đó là cụm từ dưới đây:  

LEARNING OUTCOMES OF NON-FORMAL AND INFORMAL LEARNING

Nói ngắn gọn nhất thì thế này: đã là học tập không chính quy (non-formal) và đặc biệt là không chính thức (informal) thì đặc điểm đầu tiên là không theo chuẩn mực nào hết, vì như thế là trái ngược với tính "mở" của học tập suốt đời. Cho nên làm sao mà có cái gọi là "CĐR của học tập không chính quy và không chính thức" cho được, bởi nếu có chuẩn thì phải có ai đó đặt ra, mà đã là chuẩn thì sẽ có người đạt và người không đạt, vậy làm sao mà học tập suốt đời cho tất cả mọi người "từ thuở lọt lòng đến lúc nhắm mắt xuôi tay" (from the cradle to the grave)  cho được cơ chứ? 

Trong khi đó, nếu LO được dịch đúng thì cụm từ viết in hoa ở trên phải dịch là

KẾT QUẢ [CỦA QUÁ TRÌNH] HỌC TẬP KHÔNG CHÍNH QUY VÀ KHÔNG CHÍNH THỨC  

với ý nghĩa khác hẳn với việc dịch (theo công thức) ra thành "CĐR của học tập không chính quy và không chính thức", phải không nào???

PS: Viết trong lúc chờ lên máy bay nên tạm thế đã, tôi sẽ viết tiếp và kỹ hơn khi có thời gian.

Vũ Thị Phương Anh

Thursday, April 7, 2022

CẢI TIẾN CHỮ QUỐC-NGỮ: NHỮNG DỰ ÁN TẦM PHÀO, VÔ BỔ

Tiếng Việt và chữ Việt cần thay đổi và phát triển là điều tự nhiên bởi ngôn ngữ là yếu tố quan trọng hàng đầu để truyền tải thông tin và giáo dục. Nó cũng thể hiện văn hoá và truyền thống của 1 dân tộc hoặc của từng cá nhân trong giao tiếp hàng ngày.

Nhưng cải cách ngôn ngữ thì ko thể bát nháo được. Chỉ có những người uyên bác trong lĩnh vực này, những người xứng đáng với danh xưng bác học với kiến thức sâu rộng am hiểu tường tận văn hoá & ngôn ngữ Đông Tây từ cổ chí kim mới có thể làm được.

Tôi cho rằng: So với thế hệ vàng đại diện cho tầng lớp tinh hoa của các học giả VN trước đây, dù có tư tưởng cách tân nhưng thiếu khả năng nên hiện nay người ta càng làm càng sai do thiếu cái nền tảng cơ bản mà các bậc tiền bối đã có.

------------

 Thời gian gần đây, một số người gây chú ý trong dư luận bằng những dự án cải tiến chữ Quốc-Ngữ.

Đầu tiên là ông Bùi Hiền với dự án mà tôi tạm gọi là «Chữ Việt Bùi Hiền». Ý tưởng của ông Hiền là làm sao để các văn bản tiếng Việt tận dụng hết được tất cả các ký tự của bảng mẫu tự La Tinh. Hiện nay, trong chính tả Quốc-Ngữ của các từ thuần Việt và Hán Việt không có các mẫu tự F, J, W và Z. Với việc tận dụng thêm bốn mẫu tự vừa nêu, «Chữ Việt Bùi Hiền» ánh xạ được mỗi âm-vị phụ-âm tiếng Việt tiêu chuẩn (phương ngữ Hà Nội) vào một mẫu-tự phụ-âm La Tinh duy nhất, trong khi ở chữ Quốc-Ngữ truyền thống hiện hữu có những âm-vị phụ-âm được thể hiện bằng hai hoặc thậm chí ba mẫu-tự. «Chữ Việt Bùi Hiền» vẫn tiếp tục sử dụng các mẫu-tự nguyên-âm «La Tinh mở rộng» (Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư) cùng hệ thống dấu thanh-điệu (huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) của Quốc-Ngữ.

Dự án «Chữ Việt Song Song 4.0» mà nhóm ông Trần Tư Bình đang ra sức quảng bá thì đặt vấn đề khác với Bùi Hiền: họ nhất quyết ghi chép các văn bản tiếng Việt chỉ bằng 26 mẫu-tự La Tinh tiêu chuẩn, không sử dụng bất cứ mẫu-tự La Tinh mở rộng và ký-hiệu thanh-điệu nào của hệ văn-tự Quốc-Ngữ hiện kim. Tuy nhiên, vì số lượng âm-vị phụ-âm và âm-vị nguyên-âm của ngữ âm tiềng Việt lớn hơn số lượng âm-vị của tiếng La Tinh khá nhiều, nên «Chữ Việt Song Song 4.0» buộc phải sử dụng các tổ-hợp mẫu-tự để thể hiện các âm-vị phụ-âm, nguyên-âm đơn, nguyên-âm đôi và nguyên-âm ba tiếng Việt. Nhiều tổ-hợp mẫu-tự được lựa chọn một cách khiên cưỡng, dẫn đến hậu quả nhãn tiền là văn bản Việt khi ghi chép bằng «Chữ Việt Song Song 4.0» RẤT KÉM GỢI NHỚ về phương diện NGỮ ÂM. (Nhớ rằng, GỢI NHỚ NGỮ ÂM là tiêu chuẩn bắt buộc của mọi hệ thống văn tự ghi âm.)

Cần khẳng định dứt khoát rằng cả hai dự án cải tiến chữ Quốc-Ngữ của Bùi Hiền và của nhóm Trần Tư Bình đều không phải là những công trình khoa học gì ghê gớm. Chúng thực chất chỉ là những PHƯƠNG ÁN KHÁC của CHỮ QUỐC NGỮ, thông qua những ánh xạ chuyển đổi mà thôi. Một quy tắc chuyển đổi (ánh xạ) thuần tuý từ ký tự sang ký tự thì chỉ là những thao tác tư duy đơn giản, có hàm lượng sáng tạo gần bằng zero. 

.oOo.

Một NHƯỢC ĐIỂM ai cũng nhận ra ngay của cái gọi là «Chữ Việt Song Song 4.0» là nó đi ngược lại nguyên tắc GỢI NHỚ NGỮ ÂM của một hệ thống văn tự ghi âm.

Còn về lợi ích sử dụng nó mà ông Trần Tư Bình đang tranh thủ quảng bá khắp mọi nơi thì hoàn toàn vô nghĩa và vô dụng trước các công nghệ thông minh hơn gấp nhiều lần đã và đang được triển khai áp dụng: Ngay lúc này đây, công nghệ Speech-to-Text, hay Texting-without-Typing đang được nhúng vào rất nhiều ứng dụng (app) và thiết bị. Tôi đã nhập văn bản status này bằng tính năng Speech-to-Text nhúng ngay trong bàn phím ảo của iPhone.

Để bới lông tìm vết thì văn tự của rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới đều có nhược điểm. Bản thân văn tự tiếng Anh/Mỹ là một thí dụ điển hình: một âm-vị ngữ âm Anh/Mỹ có thể được ghi bằng nhiều ký tự hoặc nhóm ký tự, một ký tự có thể được đại diện cho hơn một âm-vị. Nhưng giới ngôn ngữ học tiếng Anh/Mỹ và giới công nghệ không ai đặt vấn đề cải tiến văn tự Anh/Mỹ ở trạng thái hiện nay hết. Có tối thiểu 3 lý do để cho những «sáng kiến» tầm phào như «Chữ Việt Song Song 4.0» hay trước đó là «Chữ Việt Bùi Hiền» là thứ vô bổ:

1. Lý do ngôn ngữ học: 

Ngôn ngữ nào cũng có những từ đồng âm khác nghĩa, chúng có cùng vỏ ngữ âm nhưng có chính tả (vỏ văn tự) khác nhau => chính tả là công cụ khu biệt ngữ nghĩa. Nếu quy tất cả các từ đồng âm vào cùng một chính tả duy nhất, sự khu biệt ngữ nghĩa lúc này phải căn cứ vào ngữ cảnh, một điều làm phức tạp cho các chương trình dịch máy.

2. Lý do văn hoá: 

Bất kỳ sự thay đổi văn tự nào đều gây nên một sự ĐỨT GÃY VĂN HOÁ. Khi bỏ chữ Hán/Nôm và chuyển sang văn tự Quốc Ngữ, người Việt đã chấp nhận một đứt gãy văn hoá: hầu hết người Việt hiện nay, trừ các chuyên gia Hán/Nôm, đều không thể tiếp cận bộ phận văn hoá vật thể được bảo tồn trong các thư tịch Hán/Nôm. Sự đứt gãy văn hoá do thay đổi hệ thống văn tự chắc chắn sẽ kèm theo những chi phí xã hội hữu hình và vô hình to lớn để khắc phục sự đứt gãy đó. Ai cũng có thể hình dung được điều này. Đây chắc chắn là lý do mà những quốc gia - dân tộc không sử dụng hệ thống chữ viết trên cơ sở mẫu-tự La Tinh như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga không đặt ra vấn đề «cải tiến» chữ viết của họ.

3. Lý do công nghệ: 

Ông Trần Tư Bình nêu «lợi ích» của cái gọi là «Chữ Việt Song Song 4.0» là tiết kiệm thời gian nhập liệu. Sự tiết kiệm này chỉ có một chút công dụng khi nhập liệu thủ công (typing), nhưng phải đánh đổi bằng sự kém gợi nhớ ngữ âm. Với công nghệ nhập liệu Speech-to-Text hiện nay đã rất phổ biến, sự tiết kiệm thời gian và công nhập liệu mà ông Trần Tư Bình nêu là hoàn toàn vô nghĩa.

.:&:.

Trần Quốc Khánh

Sunday, January 9, 2022

Khi sự vô vị từ cuộc sống đi vào ngôn ngữ

 Tiếng Việt, khi niềm tin mất giá 

Tôi thấy lạ và bắt đầu để ý là từ mấy năm trước, mỗi khi có các vụ án lớn xảy ra. Đó là việc các vị “lãnh đạo” lên báo chỉ đạo: “Xử lý nghiêm”.

Luật pháp là bộ quy tắc chung, tất cả đã có khung hình phạt cụ thể, phạm tội thì chiếu theo mà XỬ LÝ ĐÚNG, chứ sao lại xử lý nghiêm? Rồi nào là không có vùng cấm, không nể nang, không né tránh, v.v. Tôi cứ nghĩ, những điều ấy phải là hiển nhiên, là mặc định, là “khỏi bàn cãi” chứ?

Tôi bắt đầu quan sát rộng ra, từ các bài diễn văn, nghị quyết, phương hướng cho đến ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ trên facebook… Đa phần có xu hướng đại ngôn, phóng đại, nhấn mạnh…, mà ở đó gia vị nhiều hơn thực phẩm, át cả hương vị vốn có của thực phẩm. Dù khen, dù chê, dù cười cợt hay phản biện, ngôn ngữ luôn có đặc điểm là đi kèm với rất nhiều tính từ có tính thề thốt/khẳng định/cao giọng/chì chiết, v.v. Gọi là “nói vống lên”.

Tại sao có hiện tượng ngôn ngữ lạ lùng này? Ta thử khảo sát một ví dụ:

1. Ở đây có bán gạo

2. Ở đây có bán gạo ngon

3. Ở đây có bán gạo ngon, thương hiệu và uy tín

4, Ở đây có bán gạo ngon, thương hiệu, uy tín, chất lượng.

5. Ở đây có bán gạo ngon, thương hiệu, uy tín, chất lượng. Ăn là nhớ mãi.

Vấn đề nằm ở chỗ, ban đầu tất cả các tiệm bán gạo đều chỉ sử dụng tấm biển 1; rồi theo thời gian, tất cả cùng thay nó bằng các biển 2, 3, 4, 5… Ngôn ngữ mà người Việt đang dùng ngày nay là mang đậm cái phong cách quảng cáo này. Khi hiện thực ngày càng thiếu vắng sự thật thì nó phải được bù lại bằng ngôn ngữ. “Xử lý nghiêm” là bởi trong thực tế nó vốn không nghiêm; “quyết tâm cao” là bởi trong thực tế nó thiếu quyết tâm…

Tôi có cảm giác rằng chúng ta đang cố hét chứ không phải là một sự nói năng bình thường. Và ta không hạ giọng xuống được nữa. Cứ như thế, càng ngày chúng ta càng phải hét to hơn, phải lên gân mạnh hơn và giữ cái cao độ ấy luôn luôn.

Như việc diễn thuyết trong một cái chợ ồn ào, bát nháo, chúng ta phải gào lên, và gào to hơn nữa. Khi con người không còn đủ tôn trọng nhau và thiếu tin tưởng ở nhau thì lời nói phải trở nên diêm dúa hoặc đe dọa hoặc đại ngôn…

Xin lưu ý, đó tuyệt nhiên không phải là biểu hiện của sự phát triển và giàu có về ngôn ngữ; ngược lại, nó là đặc trưng của sự tha hóa, là biểu hiện của sự rỗng tuếch, vô hồn, vô vị, đôi khi không còn có nội dung gì nữa cả.

Trong một xã hội công chính với chân thiện mỹ, ngôn ngữ thường trung tính, giản dị. Người ta “nói nhỏ”, “nói đủ nghe”, không thừa không thiếu. Ngược lại, ở đâu mà các giá trị căn bản đã bị đổ vỡ hoặc tiêu ma thì ngôn ngữ sẽ “rộn ràng”.

Trong khi một bà mẹ người Pháp chỉ cần nói “không” là đủ cho đứa trẻ, thì một bà mẹ Việt sẽ nói “trời ơi, không được, con muốn chết à, bị làm sao thế, đi vào nhà ngay, thật không hiểu nổi…”. Cứ thế, bà ta tuôn ra từng tràng không dứt, còn đứa trẻ thì vẫn làm theo ý nó! Một chàng trai Mỹ khi nói với bạn gái “mình chia tay đi”, thì đó dường như chắc chắn là sự chấm dứt một tình yêu; còn trai gái Việt cứ buồn buồn là lại nói chia tay, riết rồi cả hai chẳng ai còn tin vào điều đó nữa cả!

Đó chính là con đường đi tới hoang mạc của ngôn ngữ dân tộc, nó có cội nguồn trong sự suy vi của tính tình, luật pháp, phong hóa… Một hoang mạc chỉ có gió, cát, chỉ có cái chết mà không thấy bóng dáng của sự sống. Nguyễn Khải gọi là “ngôn ngữ gỗ”.

P/S: Thật buồn cười, ngay chính những lời trong bài viết này cũng đang phải mang cái sắc thái thê thảm ấy. Dường như ta không thể nói năng bình thường được nữa…

Thái Hạo

Friday, November 5, 2021

DỐT NHƯNG THÍCH NÓI CHỮ

 Lão dám đoan chắc rằng cả tác giả và ban biên tập tờ báo Tuổi trẻ này chẳng hiểu hai từ "cung nghinh" là cái... đếch gì.

     Điều quan trọng của những người có học vấn là khi sử dụng ngôn ngữ nào đó thì trước tiên cần phải hiểu thứ ngôn ngữ ấy, nếu chưa hiểu thì phải đi học cái đã và nếu không học thì tốt nhất là đừng cầm bút mà nên... cầm cày.

     "Tiễn" hoặc " Tống" (Đưa), "Nghinh" (Rước, rước vào, rước lên). Viết như thế này thì có nghĩa các Tăng, Ni, Phật tử đang đứng sẵn ở cõi Niết-bàn để rước Hoà thượng (vào) thay vì phải viết

 "các Tăng, Ni, Phật tử cung tiễn Hoà thượng... về cõi Niết-bàn".

     Có lẽ ngay cả từ "Ni" họ cũng chẳng hiểu là cái quái gì nên đáng lẽ từ Ni cần phải viết hoa thì họ lại viết thường, đáng lẽ sau từ Tăng cần phải có một dấu phẩy (phết) thì họ lại viết tràn đi cứ y như Tăng và Ni là một từ ghép (bởi đây là hai từ mang tính phân biệt).

     "Tăng" là từ dùng để gọi nam tu hành, 

“Ni" là từ dành cho nữ tu hành chứ không phải từ ghép, 

tỷ dụ (Ni cô, Ni sư...).

     "Phật" là một danh từ riêng nên cần phải viết hoa. 

“Phật tử" (con Phật) là cụm từ mà những người mộ đạo Phật tự xưng không mang ý nghĩa đích thực của việc sinh ra mà trên quan hệ thầy trò vì họ coi Phật là thầy dạy trên quan niệm "tam phụ bát mẫu" 

(ba cha tám mẹ) của Nho giáo. 

“Ba cha" gồm: 

cha đẻ, 

cha nuôi 

và 

thầy dạy 

nên xưa kia trò phải xưng con cho thầy chính từ quan niệm đó.

     "Niết-bàn" từ gốc Phạn chỉ nơi mà không còn khổ đau bởi dục vọng của con người, nơi dành cho những linh hồn đã Giác ngộ cũng như

 (bến giác ngộ), 

hai từ đó giống như một "địa danh" nên cần phải viết hoa chứ không thể viết thường mặc dù đó là cõi chỉ có trong trừu tượng.

     Chẳng biết vì lý do gì mà hệ thống báo chí ngày nay sử dụng ngôn ngữ (hình như) có vẻ "phứa tang tình" và tờ Tuổi trẻ này chỉ là một ví dụ trong rất nhiều cái hiện trạng đáng buồn đó.

      Vì đào tạo, vì cơ chế hay vì những cái "nháy nháy" trong công tác tuyển dụng mà ra... nông nỗi ?

NÔNG PHU

Nguồn fb Nguyễn Công Vỹ

Thursday, July 15, 2021

Những từ tiếng Hung gốc cigány

 1. Tôi nhớ năm ngoại ngữ, có một ông thầy đến dạy thay. Ông ấy đố tìm những từ tiếng Hung chỉ phụ nữ. 

      Tất nhiên tôi nghĩ được ngay hai chữ ngoài những chữ các bạn trong lớp đã tìm ra như lány, nö, hölgy,... Tất nhiên tôi chỉ dám nói một từ là csaj. Ông giáo đỏ mặt, nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, nói từ đó không đẹp. Tất nhiên từ thứ hai càng không đẹp hơn. 

     2. Sau này lên đại học thấy từ csaj cũng bình thường, không có gì không đẹp. Do đó tôi cho rằng ông thầy là một lão cổ hủ, không thích mấy từ của bọn trẻ.

     3. Trong đám sinh viên đại học ở vidék bọn tôi ít thích dùng những từ sách vở, thí dụ beszél thì dùng dumál, szegény thì dùng csóró, étel dùng kaja, szeszes ital dùng pia. Té ra những từ này vốn là từ cigány.

    4. Tôi rất tiếc thời ở Hung không chơi và tìm hiểu văn hóa cigány một chút. Không phải vì coi thường họ (mình cũng chẳng có gì hơn, kể cả Hung cũng không có gì hơn), hay thấy họ không hay không đẹp. Chẳng qua thấy Hung coi thường cigány thì mình cũng coi thường theo, cũng có chút mặc cảm sợ người Hung coi mình là cigány. Cũng là một loại mặc cảm mà khi trẻ mình chưa đủ tự tin vượt qua được.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, April 13, 2021

Nhân bản khác nhân đạo thế nào?

 Người Việt mình thích dùng chữ do học theo hai ông thầy Tàu và Tây. Có điều lại hay lập lờ, số người không biết, thích nói chữ, dùng sai là chuyện thường. Một số người biết, lại lợi dụng cách dùng sai để tránh né hoặc thủ đắc. 

     Dùng sai lâu hóa thành đúng. Thành thử lập lờ không minh bạch trong suy nghĩ. Chẳng hạn nhân bản nhiều người hiểu na ná như nhân đạo. Thực ra hai từ đôi lúc có thể trái ngược. Nhân đạo là đạo lý làm người, biết bênh vực người yếu, bảo vệ cái phải, thuộc về nhân đạo. Nhân bản là lấy tính người làm gốc. Con người vốn yếu đuối, xấu tính, có thể sai lầm. Biết thông cảm với họ, thuộc về nhân bản, biết chăm lo cho nhu cầu đời thường của họ cũng thuộc về nhân bản.

      Nhân đạo (hoặc nhân bản hiểu theo nghĩa nhân đạo), là một từ đã bị nhàm trở thành cliche, nên hay bị lợi dụng, nói ra không ai cãi được, nhưng không có gì là cấp tiến. Đôi khi có thể ngụy trang, biện hộ cho những cái không thực cấp tiến. Nếu nhân bản đúng và đủ nghĩa của nó sẽ hết sức cấp tiến, nó dạy người ta biết thông cảm với lỗi lầm, nhu cầu thể xác, nhưng không quên tôn vinh những cái cao đẹp. Nếu có giải pháp đi kèm sẽ là một bước tiến rất lớn, trong một xã hội rất nhiều giá trị giả và nhái hiện nay.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)