(tiếp theo)
Ấn tượng Hungary bắt đầu đảo lộn giấc mơ Liên Xô từ khi tôi bước lên con tàu Hungary ở Moskva. Lần đầu tiên tôi bị Hungary chinh phục là khi cầm trên tay chai Coca Cola, thứ đồ uống của tư bản mà tôi chỉ đọc được trong sách ở Việt Nam, không thể kiếm được trên tàu Trung Quốc hay tàu Nga. Sau này tôi còn mê nó hơn khi uống cùng với szendvics trong những giờ giải lao ở NEI (Nemzetközi Előkészítő Intézet/Viện Dự bị Quốc tế), có lẽ đó là những lúc tôi thấy Coca Cola và szendvics dùng với nhau ngon không thể tả.
Nếu ga Keleti là nơi đầu tiên tôi đặt chân lên đất Hung thì trường tiếng NEI ở số 73-75 Budaörsi út là nơi tôi bắt đầu cuộc sống của mình ở Hungary. Tôi rất yêu thích ngôi trường này, từ kiến trúc hiện đại của tòa nhà cho đến các thầy cô giáo và cuộc sống ở đó. Đây là lần đầu tiên tôi được học trong một lớp học chỉ có hơn mười trò nên tiếp thu rất tốt những gì được học. Những người Hung đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là các giáo viên với phong cách sống rất thoải mái và phóng khoáng: bao giờ cũng rõ ràng trong mọi vấn đề, không "ấm ớ hội tề" như người Việt. Họ cũng là những người châu Âu đầu tiên mà tôi có dịp được gần gũi và học hỏi. Tôi cũng rất thích và hãnh diện với các bạn khác vì cô Mária, giáo viên chủ nhiệm dạy tiếng Hung của chúng tôi, là 1 phụ nữ trẻ đẹp và lôi cuốn nhất trường.
Tôi còn may mắn hơn khi được sống trong tòa nhà chính của trường, vì nó được thiết kế rất tiện lợi cho học sinh. Chúng tôi được ăn ở và học ngay trong tòa nhà này trong khi rất nhiều bạn phải ở chỗ khác và đến đây học. Tôi còn nhớ phòng của tôi số 517 (nằm ở lầu 5). Tôi vẫn nhớ cảnh tượng mà tôi nhìn thấy vào đêm đầu tiên ở ký túc xá. Khi kéo rèm che cửa sổ phòng của tôi để nhìn ra ngoài, Budapest hiện ra trước mắt tôi thật ấn tượng với vẻ đẹp từ những ánh đèn làm tôi ngây người sửng sốt vì chưa bao giờ được thấy một thành phố rực rỡ đến thế.
Các phòng của học sinh trường tiếng nằm ở các tầng trên các lớp học (bố trí ở lầu 1 và tầng Trệt). Mỗi phòng được thiết kế cho 2 học sinh, có tủ áo, bàn học, lavabo rửa mặt và giường đệm tươm tất. Toilet và chỗ tắm giặt ở 2 đầu hành lang. Mùa đông có hệ thống sưởi bằng hơi nước. Nhà ăn được bố trí ở tầng dưới cùng, nếu muốn tập tành thì xuống phòng gym (tornaterem). Tuy lúc đó chưa biết bóng bánh là gì nhưng mấy cái sân bóng thật cuốn hút, có điều, lúc đó tôi không biết rằng: chúng sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi sau này.
Tôi vẫn còn giữ Thời khóa biểu của năm học đầu tiên @ NEI. Tôi thích trình bày những gì theo ý mình. Từ Việt Nam đến với Hungary xa cách nghìn trùng. Tôi học và cảm nhận được nhiều thứ, những cái lặt vặt như cái Thời khóa biểu này (lớp của tôi là lớp học được chuẩn bị cho những học sinh sẽ học theo chuyên ngành Mérnök szakirány), nếu không sang Hung thì chắc tôi chẳng bao giờ làm được, nó hấp thụ tinh thần hiện đại của châu Âu lúc bấy giờ.
Đây là cái Thời khóa biểu tôi tự làm, trên đó có thể nhận ra các môn học được ghi bằng chữ viết tắt, con số là số phòng học của từng môn:
Trong những bài học tiếng Hung có một bài về cầu Erzsébet mà tôi rất thích. Cầu Erzsébet và Halászbástya là những hình ảnh đầu tiên của Hungary đã để lại ấn tượng mạnh với tôi khi còn học ở Hà Nội những năm phổ thông. Do đó, với riêng tôi nó mang một kỷ niệm đặc biệt hơn so với những cây cầu khác. Vì bây giờ không thể post được đúng bài học đó nên tôi sẽ ghi lại những nét chính và cảm nhận của mình về cây cầu tuyệt đẹp này; cây cầu màu trắng duyên dáng vô cùng ấn tượng mỗi lần tôi qua, nó đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc khác nhau với những khung cảnh có một không hai... để đến bây giờ vẫn còn nhớ mãi.
Là một trong những cây cầu nổi tiếng nhất của Budapest, cầu Erzsébet nối quận V (Pest) và quận I (Buda) với nhau. Đây là cây cầu được nhìn thấy rõ nhất trong toàn cảnh (panorama) nổi tiếng của Budapest trên dòng Duna. Nó đã được dựng lại thay cho cây cầu cũ bị phá hủy trong chiến tranh thế giới thứ 2.
Về cảm nhận, ấn tượng ban đầu của tôi khi xem cầu Erzsébet qua ảnh chụp so với ấn tượng nhìn từ đỉnh Gellért là một sự khác biệt rất lớn. Cầu Erzsébet nhẹ nhàng mảnh mai không che khuất cảnh quan phía sau. Hình ảnh cân đối của nó với những đường cong tuyệt mỹ trong toàn cảnh của Budapest không một bức ảnh chụp nào có thể sánh nổi vì chúng không thể hiện hết sự tuyệt vời của một khung cảnh được con người và thiên nhiên tạo ra, hòa quện với nhau thành một kiệt tác "nhạc không gian" mà không ngôn ngữ nào diễn tả hết được.
Erzsébet là cây cầu cuối cùng của Budapest được xây dựng lại. Nó đã gây nhiều tranh cãi vì nhiều người muốn khôi phục lại như cây cầu cũ và không muốn có một cây cầu mới theo phong cách hiện đại. Cuối cùng, cầu Erzsébet đã được thực hiện như chúng ta thấy; Sávoly Pál là người đã mang lại dáng vẻ cho cây cầu mới này. Mọi việc bắt đầu từ năm 1961 trên nền móng của cây cầu cũ còn lại. Để thực hiện được yêu cầu thiết kế về mặt kỹ thuật, các kỹ sư Hungary đã có nhiều sáng tạo vào thời đó khi chọn giải pháp cầu treo và hoàn thành vào năm 1964.
Từ việc này, tôi nhận thấy được một vấn đề: đó là việc bảo tồn giá trị cũ và sáng tạo những giá trị mới đều cần thiết để phát triển.
Tại sao Budapest không chọn giải pháp khôi phục cây cầu cũ mà lại làm cầu treo hiện đại; trong khi vẫn khôi phục những cây cầu khác y như cũ?
Ở cả Buda và Pest, chúng ta đều thấy những kiến trúc cũ và mới xen lẫn nhau nhưng không phá vỡ cảnh quan, chúng hài hòa với nhau trong một đô thị được quản lý tốt, có ý thức và trách nhiệm với di sản lịch sử trong việc xóa bỏ và đổi mới. Chính vì vậy, cầu Erzsébet hoặc Hilton Hotel (dù nằm sát Halászbástya và Mátyás-templom) vẫn rất đẹp trong tổng thể kiến trúc/cảnh quan của toàn khu vực. Chúng đều được xem xét và nghiên cứu rất kỹ lưỡng để mang lại những vẻ đẹp mới bên cạnh những vẻ đẹp cũ. Và người Hung đã thành công trong việc phát triển và giữ gìn vẻ đẹp của Budapest qua nhiều giai đoạn lịch sử với nhiều công trình mang những phong cách khác nhau. Họ tạo được sự phong phú cho bộ mặt kiến trúc của thành phố, một thành phố nổi tiếng về vẻ đẹp đa dạng của châu Âu chứ không phải là những tòa nhà chọc trời. Và tôi thấy rằng với óc thẩm mỹ của mình người Hung hoàn toàn có quyền tự hào về những thành quả của họ. Họ đã rất quyết đoán, có thể đã rất khó khăn và tiếc nuối khi dám xóa bỏ một công trình đẹp đẽ của thời trước để thay thế bằng một công trình tiêu biểu cho cái mới vì nếu không từ bỏ cái cũ thì cái mới không thể có được chỗ đứng xứng đáng với nó.
Năm đầu tiên, là năm ko chỉ tiếp thu kiến thức cho việc học tập, được coi là nghĩa vụ của chúng tôi (cũng như với thanh niên nam nữ trong nước lúc đó là nghĩa vụ quân sự), từ thế giới của bom đạn và chiến tranh, chúng tôi đến với thế giới của hòa bình, với riêng tôi, Hungary là "vùng trời tự do". Tôi đã học hỏi được rất nhiều, đã vỡ lẽ ra nhiều thứ mà ở VN tưởng rằng đó là chân lý.
Tiếng Hung làm tôi có nhận thức về một ngoại ngữ đặc biệt. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngôn ngữ của họ cho thấy: dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới.
Cuối năm học đầu tiên, nhà trường cho chúng tôi đi tham quan các vùng khác nhau (theo ngành học) để có cái nhìn thực tế về đất nước Hungary. Đó là những kỷ niệm khó quên với chúng tôi. Rời NEI, chúng tôi ko thể quên các thầy cô giáo đầu tiên của mình ở đây. Những bước đi đầu tiên của chúng tôi trên đất Hungary là từ đây. Chúng tôi rất biết ơn những người đã tạo cho chúng tôi có được cơ hội để trưởng thành hơn. Với riêng tôi, thời gian ở NEI giúp tôi bắt đầu mở rộng thế giới quan của mình. Con người và văn hóa Hungary đã giúp tôi nhận ra nhiều điều, đôi khi chỉ là những chuyện rất nhỏ, nhưng đều có ý nghĩa đối với cuộc sống trên đất nước vô cùng tươi đẹp này.
Qua những thành phố và những vùng thôn quê khác nhau của Hungary, chúng tôi được biết một nước Hungary rất giàu bản sắc. Những chuyến đi ô-tô đường trường, những buổi lao động vất vả nhưng vui vẻ giúp chúng tôi hiểu được vị trí của mình trong xã hội, về khả năng của chúng tôi trong những việc có thể làm được đồng thời thêm tự tin vào khả năng đóng góp trong việc thay đổi quê hương của mình sau này, dù chỉ là một phần rất nhỏ.
Cho đến bây giờ, các bạn của tôi vẫn cho rằng: những kiến thức cơ bản mà chúng tôi nhận được trên đất Hungary là những điều quý báu vô giá để vận dụng trong công việc và cuộc sống. Thời gian sống và học tập ở Hungary đã giúp chúng tôi mở nhiều cánh cửa và nhiều cơ hội hơn, nhiều người trong chúng tôi đã thành công. Bây giờ, khi nhìn lại, Hungary là nơi ko thể quên trong cuộc du hành vạn dặm của cuộc đời. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là “make the best of what you have” - luôn luôn cố gắng vươn tới dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và thay đổi môi trường xung quanh chứ đừng chỉ để hoàn cảnh của mình quyết định số phận của bản thân.
Đó là tinh thần mà tôi đã được tiếp nhận từ những thầy cô giáo Hungary, những người đã có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với chúng tôi về nhận thức và quan điểm từ học tập và cuộc sống.
Hungary thật sự cho tôi một cuộc sống vô tư/gondtalan, rất bình yên và thoải mái. Dân tộc này có rất nhiều giá trị văn hóa, từ đó tạo nên khí chất riêng và định hình lịch sử của họ. Đó là một chặng đường hình thành đất nước Hungary như chúng tôi thấy: rất tráng lệ và cũng rất bi hùng, như bản quốc ca của họ, hay trong thi ca mang tâm hồn Hung của Petőfi, József Attila, hoặc mang tính biểu tượng về nghệ thuật & kiến trúc như Parlament, Quảng trường Anh hùng, Szabadság szobor.
Hơn một ngàn năm dựng nước và giữ nước của Hungary là những trang sử oai hùng, nhưng cũng trải qua nhiều biến cố bi thảm, khi vương quốc này đại bại trước quân Mông Cổ và gần như bị san bằng (1241-1242), bị Đế quốc Otthoman cai trị một phần đáng kể đất nước trong 150 năm (1541-1699), và sau đó là hơn 150 năm dưới ách đô hộ của Đế quốc Áo. Phải đến thời kỳ nền "song quốc quân chủ" Áo - Hung (1867-1918), Hungary mới giành được độc lập và trải qua nửa thế kỷ hòa bình, hạnh phúc và phát triển vượt bậc.
Trong thế kỷ 20, Hungary đứng về "phe bại trận" trong cả hai cuộc thế chiến, và hậu quả là hai phần ba diện tích đất nước bị cắt qua các nước láng giềng, hai phần ba cư dân Hung chỉ trong chốc lát biến thành công dân "xứ lạ". Những nỗi đau trong quá khứ ấy đến bây giờ người Hung vẫn nhắc nhớ, nhưng luôn đi kèm với niềm tự hào của một dân tộc anh dũng, không chịu khuất phục, đầu hàng, với khí phách "Chết tự do không chịu sống tôi đòi - Không yên nghỉ khi tự do chưa có" như đại thi hào Petőfi Sándor từng ca ngợi.
Dân tộc này đã có những người con vĩ đại trong khoa học, khi giới khoa học thế giới gọi các nhà bác học Hungary di cư từ Hungary qua Mỹ là "người Hỏa tinh" vì những phát minh xuất chúng của họ. Bom nguyên tử, bom khinh khí, máy điện toán... là một vài trog số rất nhiều công trình mà thế giới phải cám ơn Hungary, với những tên tuổi như Neumann János, Szilárd Leó, Teller Ede...
Khi đó, sống giữa một đất nước như thế, hòa nhập ntn với cuộc sống và xã hội Hungary là thời kỳ có nhiều vấn đề với chúng tôi. Tôi biết, có những người rất hòa hợp, nhưng đa số thì ko như thế.
Còn tôi, vốn từ bé đã có tư tưởng "hướng ngoại". Những lần trở về Hà Nội từ nơi sơ tán là những dịp để tôi lân la tìm hiểu về thế giới ở ngoài những trang sách. Những nơi tôi hay đến là các Đại sứ quán nước ngoài hoặc cơ quan đại diện văn hóa của các tổ chức quốc tế và các nước chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tôi dán mũi vào mặt kính xem không biết chán hình ảnh các nước được giới thiệu trong những Bảng tin (được làm như những cái hộp với mặt kính lớn và lắp đèn ống bên trong) đặt trước các cơ quan đại diện này.
Tôi đọc say sưa những câu chuyện thần thoại, bị lôi cuốn vào những câu chuyện cổ tích rồi đọc thêm những cuốn sách, tiểu thuyết được dịch ra tiếng Việt của các tác giả Đông Âu và Tây phương, thích thú xem những bộ phim nước ngoài và cũng không bỏ qua các tạp chí, báo ảnh các nước hoặc bài viết của các tác giả Việt Nam về các nước mà tôi muốn tìm hiểu (riêng Trung Quốc thì bị "dội" vì tôi cho rằng không hơn gì Việt Nam, có khi còn "hủ lậu" hơn nữa là khác. Tôi giống HTB ở chỗ không ưa nổi cái bản mặt của Mao được tô vẽ hết mức với chứng "sùng bái cá nhân" đầy rẫy trên sách báo đỏ lòe về "đại cách mạng văn hóa" TQ).
Vì vậy, sang Hung, tôi vẫn muốn "tu tỉnh" bản thân khi được tiếp xúc với những cơn gió lành, những điều mới mẻ đến từ những phương trời xa lạ.
Anh Đinh Hoàng Thắng, sang Hung năm 1966, học Văn học và Ngôn ngữ Hungary (ELTE) tự nhận mình là "một chàng ngố bước ra thế giới". Anh mô tả cuộc sống của LHS khi đó là "lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới", "cảm giác là sốc và choáng". Người Hung quan hệ với nhau quá cởi mở so với người Việt do tự do cá nhân của họ được đề cao hơn. LHS thì bị bó buộc rất nhiếu thứ, cấm đi nhảy, ko được xem phim tư bản, ko được mặc quần "bò", nam ko được để tóc dài, nếu ăn mặc theo phong cách thoải mái của thanh niên ở các nước châu Âu lúc đó sẽ bị coi là đua đòi lố lăng.
Cuộc sống của LHS ở Hung trong sự quản lý chung thường là họp hành (họp chi đoàn, họp đơn vị) và sinh hoạt văn hóa thường xuyên là đọc báo Việt ... Các cán bộ đơn vị có trách nhiệm theo dõi và nhắc nhở mọi người chấp hành những quy định của BQL và Sứ quán. Nhìn chung thì thấy những hoạt động này có vẻ mang tính hình thức và nghèo nàn, trừ khi mang tính tự phát do ham thích (và ko bị cấm) như bóng đá, bóng chuyền hay bóng bàn (tùy đơn vị).
Ở trong nước tôi chỉ hay đá cầu, cũng thích đá bóng nhưng hầu như ko có điều kiện vì có muốn cũng ko được. Sang Hung thì khác, sân bãi và bạn chơi đều có, chỉ cần mua giày, tất và áo quần là có thể ra sân. Máu me đá bóng là một chuyện, còn những trận cuồng phong trên sân cỏ qua màn ảnh nhỏ cũng rất cuốn hút tôi. Thần tượng của tôi những ngày ấy (tới nay vẫn ít người vượt qua được) là Johan Cruyff.
Johan Cruyff là linh hồn của Cơn Lốc Màu Cam và là cầu thủ (thủ lĩnh trên sân cỏ) tạo nên cuộc cách mạng bóng đá mang tên “Bóng đá tổng lực" (Total football) từng làm mưa làm gió trên khắp các sân cỏ châu Âu trong thập kỷ 70 và ảnh hưởng rất lớn đến bóng đá hiện đại ...Với lối đá tổng lực này, bóng đá châu Âu đã đè bẹp lối đá hoa mỹ cùng các thần tượng Nam Mỹ @ World Cup 1974 mà đại diện gồm cả Brazil, Argentina, Urugoay ...đều bị cuốn trôi khỏi các ngôi vị cao nhất. (1. Đức, 2. Hà Lan, 3. Ba Lan). Đây là 1 trong những WC hay nhất mà tôi được xem từ trước đến nay.
Tôi đã xem những trận đấu đầu tiên của Cruyff trên màn hình TV tại phòng khách nằm ở tầng trệt của NEI. Lúc đầu, tôi chưa biết ông là ai nhưng ông đã làm tôi chú ý trong trận đấu của đội tuyển Hà Lan bằng sự nổi bật trong chiếc áo số 14. Sau đó, khi biết ông đang là cầu thủ nổi tiếng nhất của châu Âu thì tôi đã không bỏ lỡ một trận đấu nào của Ajax và đội tuyển Hà Lan mà tôi biết. Cruyff được biết đến như một danh thủ toàn năng, chói sáng với kỹ thuật/khả năng xử lý bóng của phù thủy, tốc độ tuyệt vời, di chuyển ko bóng cực kỳ thông minh, nhạy bén trong mọi tình huống ghi bàn ...nhưng trên tất cả là tầm nhìn bao quát trận đấu và sự cảm nhận được từng vị trí của đồng đội để tổ chức và phối hợp thật ăn ý cả trong tấn công và phòng ngự.
Tôi có ý tưởng này khi đọc lại những bài viết của HTB trong mục "Từ phương trời ấy". Với trí nhớ của cậu ta, tất cả hiện ra thật sinh động như những đoạn phim, rất rõ nét, chân thực và đầy cảm xúc. HTB là một cây bút tuyệt vời khi đã dành nhiều thời gian để dồn tâm trí của mình vào những dòng chữ ghi lại những ngày đẹp ấy. Phải nói rằng, tất cả đều là những bài viết hay nhất, đáng đọc nhất, thể hiện đúng tính chất và nội dung của blog này mà chính cậu ấy đã bộc bạch ở "Mục đích thành lập Blog VIDI 72-73".
Tôi đã nói đến những mảnh ghép của chúng ta, tôi cảm ơn HTB và cũng nghĩ như HTB khi góp ý về blog này gần đây. Cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung này, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.
Và như thế, những cảm nhận Từ phương trời ấy là chuyên mục dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì chất chứa trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng.
Mong mỏi của tôi là chân thật, hy vọng nó không rơi vào hư vô và tan biến vào nó.
(còn nữa)




