Saturday, August 15, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (5)

Quảng trường Vörösmarty là một trong những nơi để lại nhiều kỷ niệm với những người bạn của tôi, nơi có tiệm bánh ngọt đẹp nhất thế giới của HTB. Hoàng tử tự hứa sẽ viết về Vörösmarty téri cukrászda, như một giấc mơ đã nằm trong tay mình. Nhưng cậu ta đã lừng chừng trong nhiều năm, cho đến khi quyết định "bây giờ hoặc không bao giờ", cuối cùng hắn cũng làm được điều mình muốn: viết tặng cho Magdi và các bạn của mình câu chuyện này bằng tiếng Hung và tiếng Việt.

"Quảng trường Vörösmarty nằm ở cuối phố Váci útca, một bên có lối đi ra khách sạn Duna Kontinentál phía bờ sông Duna, bên kia có lối đi bộ ra quảng trường Deák là bến xe bus liên tỉnh. Ở phố Váci útca và quảng trường Vörösmarty, người ta chỉ đi bộ. Không có bất cứ một phương tiện cơ giới nào chạy qua quảng trường, ngoại trừ tàu điện ngầm chạy trong lòng đất, cửa ga ra quảng trường trông giống như một cái hàng rào của nhà ai đó. Quảng trường Vörösmarty luôn có rất nhiều chim bồ câu. Ngày nắng, ngồi phơi nắng giữa quảng trường, nhìn người tất bật đi lại một cách lười biếng, cảm giác rất tuyệt. Xung quanh quảng trường có các tòa nhà cổ kính, có thể nhìn không chán mắt và tưởng tượng ra nhiều câu chuyện về số phận và cuộc đời, đan chen rồi lại rời xa.

Vörösmarty tér a Váci útca végén van, az egyik oldalán egy keskeny járat a Duna Kontinentál szállodába vezet, a másikon egy kis ustca nyilik a Deák Ferenc terére, ahol buszok várják a vidéki utazókat. A Váci útcán és a Vörösmarty terén csak gyalogon járnak. Nem mukodik bármilyen mechnikai járgány a tér teruletén, kivéve a foldalatti villámosok, amik mélyen a tér alatt jonnek és mennek. A foldalatti megálónak kijárata a tér kozepén van és úgy néz ki mint valamilyen háznak a kerítése. A Vörösmarty téren nagyon sok galamb van. Egy napos napon, a téren lustálkodva heverve a napsutésben és bámulva a sieto utazókra, egy olyan gyonyoru érzést tapasztalhat az ember. A tér kornyékén régi stilusú épuletek vannak, amelyekre soha nem únva bámulhatsz és kiképzelhetsz emberi sorsokat, életeket és torténeteket, amelyek átszonik egymást és távoznak egymástól.

Quán bánh ngọt là tầng dưới của một tòa nhà cổ chiếm hẳn một phía quảng trường, trước nhóm tượng đài vừa là đài phun nước, ở một góc nhìn đẹp nhất. Đây là quán bánh ngọt đẹp nhất Hungari và cũng là quán bánh ngọt đẹp nhất thế giới mà tôi đã từng biết. Đối với tôi quán bánh ngọt này có không ít kỷ niệm. Với tôi, quán bánh ngọt này chính là Budapest. Những khi nghĩ về Budapest, tôi lại nhớ đến quán bánh ngọt này. Nằm mơ về Budapest, cũng thấy quán bánh ngọt này. Chắc hẳn Bình "to" và Khánh còn có thể nhớ được cái quán bánh ngọt này, nơi ba chúng tôi đến đây lần đầu tiên, và đã ăn ngô luộc "fozott kukorica" bán rong gần trước cửa quán, ở trước cửa lối rẽ xuống đường metro. Ngô luộc của Hung vừa dẻo vừa ngọt, lại không non quá như ngô Mỹ nên có vị đậm đà thơm hơn, có thể ăn vài bắp không chán. Rồi chúng tôi mua kem để ăn ở quán bánh ngọt này. Chúng tôi thường chọn loại vị punch, màu hồng có vị hơi chua chua. Khánh chọn cho tôi, tôi không sành về kem. Đối với tôi, cảm giác mát lạnh của kem là quan trọng hơn cả.

A cukrászda egy régi épulet foldszintjén van, amely a tér az egyik oldalát foglalja, egy szobor-szokokút elott, a legszebb kilátással. Ez a Magyarország legszebb cukrászdája, és állitólag egyben a világ legszebbje is, legalább a tudásom szerint. Nekem ez a cukrászda orzott sok jó emléket. Bennem ez a cukrászda a Budapest jelképe. Az álmaimban a Budapestrol mindig látom a Vörösmarty téri cukrászdát. Egykori haveraim, "Nagy" Binh és Khanh, biztosan még emlészenek erre a cukrászdára ahol amikor mentunk oda eloszor ettunk fozott kukoricát, amit árultak a cukrászda mellet, a foldalatti bejárat irányában. A magyar fozott kukoricának jobb ize mint az amerikainak, mi gyakran fogyasztottunk jó néhány darabot. Utána veszunk fagyit a cukrászdában. Gyakran kértunk a puncsot, egy rózsszinu és enyhén savanyú fagyi fajtája. Khanh választott nekem, mert nem voltam nagy fagyi szakértoje. Nekem a fagyi huvossége a legfontosabb nem az ize.

Gerbeaud Kávéház

Rồi năm thứ năm đại học, về ở Budapest, tôi cũng thường ghé qua quán bánh ngọt này thường xuyên hơn, khi thì đi cùng với Khánh, Bình, khi thì với Ánh, khi thì một mình trước khi về ăn cơm ở nhà ăn của trường ELTE với Nhân ở đầu cầu Erzsébet, ở cuối bên kia của Váci útca. Tên Ánh thì thích học cách chơi sang, thường hay gọi một ly Martini gì đó, uống mãi chẳng hết. Bình "to", Khánh và tôi vẫn chén ngô, ăn kem hoặc uống coca cola cho nó bình dân và ngon thực sự.Một vài lần, tôi cũng hẹn Magdi đến đây. Nàng gọi một chai bia gì đó, không phải của Hung, hai đứa uống chung. Tôi cũng gọi thêm hai suất bánh ngọt. Bánh ngọt ở đây có nhiều loại làm rất tuyệt, không ngọt quá.

       Az egyetem otodik évében, Budapesten diploma munkáztam KFKI-ben és néhány tantárgyat hallgattam ELTÉN, tobb alkalmom volt a cukrászdát látogatni, néha Khanhhal és Binnhel, néha Ánnhal, náha egyedul az ebéd elott Nhannal, az ELTE menzán az Erzsébet hídfonél a Vasci útca másik végén. Ánh szeretett tanulni a luxus életmódot, gyakran parancsolt egy Martinit egy sárga citrom szelettel, de soha nem végzett el az ivással. Én, "nagy" Binh és Khánh  mindig fozott kukoricat és fagyit ettunk kolával jóizuen.  Úgy emlékszem hogy egy kétszer jottem Magdi-val. Egy sort kért és egyutt ittunk. Két torta adagot is kértem. Sok torta fajtája van a cukrászdában, mesterien készítve, és foleg nem túl édes.

       Lần thứ hai trở lại Hung, tôi trở lại quảng trường này cùng vợ con vào một ngày lạnh. Bé Fanni mới ba tuổi. Chúng tôi cũng ăn ngô luộc, bánh ngọt và kem punch. Fanni chạy theo đàn bồ câu trên quảng trường. Bầu không khí thật êm đềm hạnh phúc và đột nhiên tôi rất nhớ những người bạn cũ và những năm đi học. Ánh vẫn ở Budapest, nhưng chúng tôi không còn thời gian cho nhau, để cùng ngồi trước một ly Martini, chia nhau ăn một cái bánh ngọt như ngày xưa. Không rõ chúng tôi đang vội vã đi đâu hay đi về cuối đường đời. Và vội để làm gì, khi kết cục đều như vậy, không có gì mới lạ hấp dẫn. Vài lần, trong năm đầu, tôi cũng có dịp gặp Magdi tại đây. Nàng ở cách đấy vài bến tàu điện nên đến hẹn đến cũng tiện. Chúng tôi cũng uống cùng một chai bia, nhấm nháp một lát bánh ngọt, nói những chuyện không đầu không đuôi, đôi khi ngồi yên, chẳng nói gì, cùng nhấm nháp không khí trên quảng trường, nắng trên khung cửa, và căn phòng lớn, trang trí với những đồ gỗ của mấy thế kỷ trước với những chùm đèn pha lê uy nghi.

         Amikor Magyarországra jottem másodszor, elvittem feleségemet és kis lányom, Fannit a Vörösmarty terre egy hideg napon. Kis Fannikám három éves volt. Ettunk fozott kukoricát, tortát és fagylaltot. Fanni futott lelkesen a galambok után a téren. A légkor nagyon békés és boldog volt és hirtelenul nagyon sokat hiányoztak a régi barátok és diák kori évek. Ánh Budapesten volt, de nem volt idejunk egymásnak, hogy egyutt ulhessunk egy Martini elott, vagy osztozzunk egy tortát mint régen. Nem világos volt hogy hová siettunk, vagy egyszeruen csak az élet végére. Minek a sietés, amikor ugyanaz a vég lesz,  nincs bármilyen izgamas meglepetés. Az elso évben, Magdival találkoztam néhányszor. Magdi csak  néhány villámos megálóval lakott a Vörösmarty tértol, így konnyu volt neki jonni a találkozásunkra. Ittunk egyutt egy sort, bele kóstoltunk a régi torták ízébe, beszéltunk a kezdet and vég nélkuli dolgokról. Néha csak halgattunk, élvezve a Vörösmarty teri légkort, az ablakon átszuro napsugárt és az a nagy termet diszítve a múlt évszázadok bútoraival és a tekintélyes kristályos csillárokal.

     Nhưng rồi, cuộc sống thời đó trôi qua hối hả. Chúng tôi cũng không còn thời gian cho nhau. Cũng chẳng biết với thời gian đó, chúng tôi làm được gì hơn cho đời, cho mình. Rồi tôi sắm được xe hơi, ít khi có dịp đi bộ để trở về Quảng trường Vörösmarty. Đôi khi, có việc lái xe đi qua khách sạn Duna hoặc quảng trường Deák tôi cố nghển cổ nhìn về hướng quảng trường Vörösmarty để mường tượng lại quán bánh ngọt đẹp tuyệt vời và hình ảnh Bình, Khánh, Ánh, Nhân ngày xưa. Tất nhiên tất cả chỉ là ảo ảnh, tưởng tượng.  Hiện thực rất dễ dàng đạt được đó chỉ cách vài bước chân. Nhưng luôn có một khó khăn vô hình đẩy chúng ta ra xa cuộc gặp với những hoài niệm cũ. Mặc dù đôi lúc giấc mơ hiện thực đến mức không phải cố gắng gì. Nhưng người ta vẫn ngại ngùng làm một việc nhỏ xíu, để nó cứ mãi nằm trong mơ tưởng và nuối tiếc. Có lẽ điều cản trở lớn nhất là sự lười biếng. Tôi cũng không rõ lười biếng và già cỗi, cái nào là nguyên nhân của cái nào. Cũng như một lần tôi đã nói với một người bạn vong niên về ước mơ có một ngày nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn trời xanh và mây trắng thỏa thích. Người bạn đó nghi ngờ đó là một ước mơ thực sự vì thực hiện giấc mơ đó không hề mất gì. Thế rồi mấy chục năm trôi qua, cái ước mơ đó vẫn chỉ vẫn là ước mơ. Con người cũng thật kỳ lạ, luôn tự trói buộc mình, hoặc ngại ngùng với những ràng buộc vô hình.

     De utána, az akkori élet rohant sok kulonbozo eseménnyel. Nem volt tobbé idonk egymásnak. Most már nem igazán tudom hogy azt az idot használva mit tehettunk magunknak vagy az életnek. Nekem elég pénzt sikerult keresnem hogy egy autokocsit vehettem, nem volt tobbé alkamam gyalogolni hogy viszalátogathassam a Vörösmarty teret. Néha dolgom volt arra felé, akkor vezettem autót a Duna Kontinentál szálloda vagy Deák tér mellett, probáltam felemelni a nyakomat és igyekeztem nézni a Vorosmarty tér felé, és hiába képzeltem el a régi cukrászdát a régi Binh, Khanh, Anh, Nhan,.... barátaimmal. De minden csak elképzelés volt. A nagyon konnyen elérheto valóság csak néhány lépéssel tovább van. De mindig valami láthatatlan nehézség taszított el bennunket a régi emlékekkel való találkozástól. Akár néha az álom olyan reális, nem túl sok eroltetés kell hozzá. De az ember tétovázik egy kis igyekvéssel, így az álom orokké egy álom maradt az orok sajnálatban. Talán legnagyobb akadály a lustaságunk. Nem tudom lustaság és és oregedés melyik az oka a melyiknek. Egyszer mondtam egy barátomnak hogy azt akarom hogy van egy teljes napom, nem csinálnék semmit csak bámulnék a kék égre és a fehér felhore. A barátom nagyon kételkedett hogy az az igazi álmom, mert annak az álomnak megvalósitása nem kerul semmibe. Évek teltek el, de az álom tényleg mindig csak egy álomnak marad.  Az ember olyan furcsa, mert mindig koti le magát, vagy tétovázik a láthatatlan kotésekkel.

     Trước khi rời Hungari đi Mỹ không lâu, tôi nhớ còn có dịp gặp Magdi tại quán bánh ngọt này. Nàng vẫn gọi chai bia và nói một câu đã nói bao nhiêu lần "Iszunk egyutt egy sort, jó?". "Chúng mình uống chung một chai bia, được không?" Tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt, một trắng (vanila) một đen (sô cô la). Trên bánh trắng là một lớp caramel vàng, thơm vị chanh, trên bánh đen là một lớp kem trắng muốt thơm mùi hồ đào. Chúng tôi vẫn im lặng ăn, thưởng thức không khí xưa cũ đặc quánh, với một linh cảm, bầu không khí tĩnh lặng hàng chục năm này sắp biến đổi. Chúng tôi chia tay nhau, như thể rồi sẽ gặp lại sau vài hôm, mặc dù biết thời gian trước mắt sẽ dài đằng đẵng, mỗi người đi trên con đường riêng của mình, rất khó lòng tìm lại một điểm giao nhau để gặp lại. 

         Roviden az Amerikába való távozás elott, úgy emlékszem hogy Magdival találkoztam a Vörösmarty teri cukrászdában. Mindig egy sort kért és mondta ugyanazt a mondatot, mit már tobbszor is mondott "Iszunk egy sort, jó?". Én is mindig ketto tortát kértem, egy fehér (vaniliás) és egy sotét barna (csokoládé). A fehér tortán volt egy sárga, citrom izu cukor réteg, a sotét barna tortán pedig volt egy hó fehér krém réteg a dió illattal. Csendesen fogyasztottunk, élvezve a régi surített légkort, egy jovore szóló érzéssel hogy ez a nem változott régi csendes hangulat a változásra készult. Elkoszontunk egymástól, mintha találkozni fogunk néhány nap után, bár tudtuk hogy nagyon hosszú távolét várt, egyikunk a saját utját fogja menni, és nagyon nehéz lesz visza találni egy metszo pontot, hogy viszaláthassuk egymást

        Cũng may, mười lăm năm sau, chúng tôi đã gặp lại nhau. Tôi đến Budapest từ Viên, chỉ có đúng một ngày. Chúng tôi hẹn gặp, tại bến metro ga Keleti. Chúng tôi thấy nhau, mỉm cười, và tiến lại gần nhau, không vội vã, không quá đon đả, như một đôi bạn vẫn thường gặp nhau hàng tuần, từ hàng chục năm. Sau khi cùng đi bộ lang thang trên đường Budapest hàng tiếng đồng hồ, chúng tôi chợt thấy mình đang đi trên quảng trường Vörösmarty. Không ai bảo ai, chúng tôi đi về phía quán bánh ngọt. Quán bánh ngọt được trang hoàng lộng lẫy hơn mang một tên mới lạ lẫm, nhưng vẫn còn phảng phất chút phong vị ngày xưa. Magdi lại gọi một chai bia, tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt. Câu chuyện lặp lại y nguyên như cũ, đến mức có lúc tôi tưởng mấy chục năm vừa qua biến mất, nàng mới gọi bia và tôi mới gọi bánh ngọt ở lần đầu. Bia rót ra cốc, nàng cười và nâng ly "Szia" (Chào anh). Tôi không còn thói quen chào hỏi khi uống, nhưng còn nhớ người Hung uống bia không bao giờ cụng ly, nên chỉ cười và uống cạn cốc bia lạnh. Chúng tôi nhẩn nha nhấm nháp xong hai suất bánh ngọt cùng hai ly cà phê rồi đứng dậy. Có cảm giác chúng tôi đã ngồi đó suốt  mấy chục năm vừa qua. Khi đứng dậy, xung quanh đều đã có chút đổi thay.

     Szerencsésen, tizenot év után, találkoztunk még egyszer. Bécsbol jottem Budapestre, és csak egy szabad napom volt. Keleti pályaudvari metró volt a találkozásunk a helye. Láttuk egymást és mosolyogva kozelkedtunk egymáshoz, nem túl sietve, nem túl lelkesen, mintha mindig találkoztunk volna minden heten,  évek óta. Néhány órás sétáltunk a budapesti útcákon és hirtelenul felfedeztuk hogy Vörösmarty téren voltunk. Szótlanul sétáltunk a cukrászda felé. A régi cukrászda jobban nézett ki, de egy új idegen nevet viselt, a régi hangulat láthatatlanul lebegett a levegoben. Magdi kért egy sort, én ketto tortát ketto presszó kávéval. A torténet úgy ismétlodott, mintha a távoléti évek eltuntek volna Magdi sort és én tortát kértunk csak eloszor. A sort pohárba ontve, mosolygott, emelt poharat és mondta "Szia". Már sokáig elfelejtettem az ivás elotti koszontést, de mindig tudtam hogy egy magyarral nem illik kocintgatni a sorozéskor. Igy mosolyogtam és fenekig urítettem a huvos poharomat. Lassan befejeztunk a tortákkal és felálltunk. Olyan érzésem volt hogy ott ultunk évek óta és felálláskor a kornyezetunk már  egy kicsit változott.

      Nắng bên ngoài quảng trường vẫn rực rỡ như năm nào. Đàn chim bồ câu vẫn đậu kín khắp trên quảng trường. Không biết có còn cặp chim câu nào của ngày xưa cũ. Gió từ Duna ùa về lồng lộng như  vẫn gió năm xưa.

      A napsutés ragyogott kint mint régen. A tér még mindig tele volt a galambokkal. Nem tudtam, hogy kozuluk volt-e olyan galamb pár, amelyik is volt a régi napokban. Dunáról fújtott a szél uvoltve mint a régi év szele.

Sau này, Hoàng tử vẫn giữ nguyên cảm xúc với những kỷ niệm thời trai trẻ của mình. Mỗi lần trở lại Budapest là một lần trở lại với hoài niệm dĩ vãng. Volt Egyszer Egy Idő… Azok a szép napok, chú ta thổ lộ: "Cảm xúc dồn dập và man mác. Những câu hỏi về thời gian, ý nghĩa của cuộc sống chợt trỗi dậy như những đợt sóng từ quá khứ. Hồi đó, mình đang say mê đọc các loại triết học, để đến hôm nay nhiều câu hỏi vẫn còn quay lại. Nhưng tất nhiên không đợt sóng nào giống đợt sóng nào. Những giọt nước năm xưa đã đi mãi vào quá khứ. Chỉ còn một hình hài cũ quay lại lượm nhặt những mảnh vụn của những kỷ niệm đang dần nhạt nhòa".

Để đóng lại phần Tiệm bánh ngọt trên Quảng trường Vörösmarty, tôi trở lại ký ức của Hoàng tử với hình ảnh từ 2007. 

"Magdi vừa gửi cho tôi mấy tấm ảnh chụp tại tiệm bánh ngọt năm 2007 (Có bạn tốt là để tôi không bao giờ phải giữ ảnh). Nàng nói là tôi không hề uống bia ở lần cuối. Đúng ra là viết hoài niệm cũng như chơi bài nói dối, nhiều quân bài thật trộn lẫn với một ít quân bài giả. Thực tế, thì trong ảnh có thể thấy tôi đang bị cảm lạnh (có tên một tiểu thuyết Hung "Người bị lạnh mùa hè", chính hắn là tôi,  vì tôi luôn luôn và chỉ bị cảm về mùa hè) và vì thế tôi uống nước ngọt, nhưng kem thì không thể cưỡng nổi. Tôi không bao giờ biết cưỡng lại những cám dỗ. Mũi tôi ướt rượt. Có một ảnh chụp chung với Magdi (do nàng tự chụp), nhưng nàng không cho đăng lại vì, miệng đầy bánh ngọt vị chanh màu vàng, trông giống như mới đến từ Rumani (xứ sở của ma cà rồng. Xin lỗi Magdi anh chỉ đùa). Tôi không có lỗi."

     "Trong tiệm bánh ngọt quảng trường Vörösmarty (bây giờ hình như gọi là Gerbaud), tháng 6, 2007, buổi sáng duy nhất ở Budapest. Kem vị punch (thực ra bây giờ tôi cũng không chắc lắm, bọt sữa, bên cạnh nước ngọt. Căn phòng được bài trí ngày xưa, bàn ghế có vẻ mới." (HTB)

"Vörösmarty téri (most Gerbaud) cukrászdában. Julius 2007, egyetlen délelott Budapesten.  Puncs izu fagylalt (már nem annyira vagyok biztos), tejszínhabbal, jaffa mellett. Régi diszes terem." (HTB)

(còn nữa)

Wednesday, August 5, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (4)

Bóng đá và âm nhạc là sở thích và cũng là nhu cầu của thể chất và tinh thần. Đó là những điều mà với mỗi người có ảnh hưởng khác nhau. Tuy nhiên, yêu thích thể thao ntn ko phải ai cũng như ai. Và âm nhạc cũng vậy, cùng với thời gian dành cho sự yêu thích của mình là khả năng thể hiện của bản thân. Có người được Trời phú tài năng nổi bật hơn người, còn đa số chỉ ca hát và ra sân cho vui, cho khỏe. Riêng tôi thì đá bóng rất nhiều. Nếu tôi sinh ra vào thời buổi này, tôi rất thích được đào tạo một cách bài bản từ nhỏ. Ko phải để trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, mà ít ra cũng có phẩm chất của 1 cầu thủ, cả trên sân bóng và trong cuộc sống hàng ngày.

Ko như bóng đá hay âm nhạc, Budapest đã hầu như chinh phục tất cả chúng tôi với vẻ đẹp diễm lệ của dòng Duna giữa những lâu đài thành quách uy nghi của Buda và Pest, rất duyên dáng và thanh lịch.  

Thủ đô của nước Hung đã để lại ấn tượng vô cùng sâu đậm trong ký ức của tôi. Budapest làm tôi phải sững sờ trước vẻ đẹp hài hòa của những kiến trúc cũ và mới xen kẽ lẫn nhau. Ngay từ những ngày đầu thành phố là điều vô cùng hấp dẫn với tất cả chúng tôi. Nhìn thành phố từ trên cao, tôi vẫn thường tự hỏi: "Đã có bao nhiêu con người tài hoa chạm tay vào từng góc nhỏ của Budapest trong hơn 1000 năm qua để làm nên một thành phố như ta đang thấy?". Thành phố này đã làm bao nhiêu người phải đặt những câu hỏi như thế từ những lối đi lát đá, những vòm cây um tùm và những bãi cỏ xanh mượt đến những bậc thang ngoài trời hun hút lên thành Vár, từ những quảng trường đến những đại lộ sầm uất và duyên dáng với những tiệm café, nhà hàng hấp dẫn, từ những công trình văn hóa tuyệt đẹp mang những phong cách khác nhau đến Parlament huy hoàng tráng lệ... Budapest như một hòn ngọc bên dòng Duna, lấp lánh thơ mộng đầy mê hoặc như hiện ra từ những câu chuyện cổ tích đẹp man mác và huyền ảo vô cùng. 

   Tôi ngỡ ngàng nhìn không chán mắt những đường phố và con người xung quanh tôi, còn TV, báo chí và phim ảnh thì thật lôi cuốn và tạo được vô số ấn tượng với những quảng cáo đủ loại... Tất cả đều thú vị và lạ lẫm... Riêng HTB vốn rất lãng mạn, thích khám phá và "ham vui" hơn tôi đã có lý khi cho rằng tàu điện là một "đặc sản" của Budapest và rất thích thú khi trốn học/du ngoạn thành phố bằng phương tiện này.

Ko riêng gì HTB, cũng có nhiều người coi tàu điện Budapest là điều đáng nhớ nhất của tp này. TS. Vũ Hà Văn, dân nhảy tàu HN, học chuyên toán và Hà Nội - Amsterdam, sang Hung sau chúng tôi 15 năm với cảm nhận về Budapest: "cái gì cũng khác, cũng mới, từ đường phố, cửa hàng, thức ăn, cho đến phim ảnh và màu mắt của các cô gái. Quê hương nhất, chính là anh tàu điện. Tàu điện ở Budapest cũng màu vàng, và cũng leng keng, y hệt như tàu điện Bờ Hồ, có điều nó có cửa nghiêm chỉnh và phải mua vé. Ba mươi năm trước dáng nó bè bè béo béo chứ không thanh thoát chân dài như bây giờ.

Tàu điện quen thuộc nhất với sinh viên Việt Nam phải là tàu số 4 và 6, vì hai tàu bắt đầu ở gần ký túc xá của Đại học Bách Khoa, nơi quá nửa học sinh Việt Nam theo học. Tàu chạy dọc đại lộ một thời mang tên Lenin, mà tên người luôn xuất hiện một cách bất ngờ nhất trong các tạp chí sinh viên lưu hành trong các ký túc xá, cho đến Quảng trường Mátxcơva. Quảng trường Mátxcơva nay đã trở lại cái tên cũ Széll Kálmán (vị Thủ tướng Hungary cuối thế kỷ 19), còn đại lộ Lenin, cũng không khác với số phận của thành phố cùng tên bên Nga, đã chuyển thành con đường mang tên Teréz và Erzsébet, hai bà hoàng của Đế quốc Áo - Hung ngày trước".

Về những nơi thân quen với LHS trước đây và thế hệ Du học sinh (DHS) sau này (tôi phân biệt như vậy cho 2 khoảng thời gian: thời chiến và thời bình), Vũ Hà Văn nhớ đến Vár và Budapest với những hình ảnh và cảm nhận rất đẹp: "Đây là địa điểm du lịch số một của Budapest, có nhà thờ vua Matyás và pháo đài Những người đánh cá (thật ra là chỗ thu thuế cá ngày xưa), hai điểm mà hầu như du khách nào cũng ghé qua. Cái hay là ở trong thành không phải chỗ nào cũng làm du lịch cả, mà còn nhiều nhà dân sinh sống trong các dẫy phố nho nhỏ, có cột đèn bằng sắt xen lẫn cây cổ thụ, lòng đường lát đá đen, và dọc phố lác đác vài ngôi mộ chí.

Thành Vár ở địa thế ở cao, có thể nhìn xuống toàn cảnh thành phố, sông Danube xanh và những cây cầu tuyệt vời của nó. Cây cầu đẹp nhất có lẽ là Cầu Xích (Lánchíd - Chain Bridge), một trong những cầu treo bằng sắt đầu tiên trên thế giới. Được xây từ nửa đầu thế kỷ 19, Cầu Xích là một thành tựu kỹ thuật đáng kể của thời đó. Ở hai đầu cầu, nhà kiến trúc tài ba đã cho đắp sừng sững một đôi sư tử nhe nanh, như có ý nhắc nhở rằng sợ vợ không chỉ là đặc tính của đàn ông Châu Á. Dẫu vậy, người Hung thật xứng đáng là một dân tộc thông minh, cái gì cũng hơn người thường một chút, vì nếu nhìn gần, thì các bà sư tử này hình như không có lưỡi.

Budapest có những dãy phố cổ dọc theo bờ sông, phía Buda, tối mở cửa sổ có thể nhìn sang thành Vár và Nhà Quốc hội bên kia sông rực ánh đèn. Các khu cổ này một nhà to có nhiều căn hộ, có lẽ là chỗ ở cho các thị dân giàu có ngày xưa, cửa sổ cao và thoáng, mỗi nhà có một cái cổng đá xây rất phong cách, nhô ra đường để khi trời mưa khách vãng lai có thể vào trú được. Chiếc cổng đã che bao thế hệ thanh niên đi ngang qua nó. Ngày hôm nay là những cô cậu sinh viên của thế hệ iPad, 30 năm trước là thế hệ của tôi và bạn, 30 năm trước nữa là những sinh viên của năm 1956 đầy biến động, mà trong lòng họ không biết đất nước và bản thân sẽ đi về đâu…"

HTB thì kể lại ký ức về tàu điện nhiều hơn. Tên này còn nhớ rõ: "Ở Hungari thời đó, vé xe điện là 1Ft màu vàng, vé xe bus 1.5Ft màu xanh. Vé tháng xe điện là 20Ft đi được tất cả các xe điện, vé tháng bus giá 50 Ft đi được tất cả các phương tiện. Lên xe tự giác bấm. Thỉnh thoảng có người khám vé, nếu tóm được phạt bằng tiền vé tháng xe bus là 50Ft

Học bổng hàng tháng của chúng tôi là 500Ft, sau khi đã trừ phiếu ăn và ký túc xá, tiêu chừng 1 tuần thì hết. Vì vậy hiếm có tên nào đã từng là sinh viên mà không trốn vé xe. Cố nhiên 50Ft là một món tiền lớn, có thể vào tiệm ăn hạng 3 hai lần. Sau này khi tôi đã trở thành nghiên cứu viên, rồi giáo sư đại học, lương hàng tháng 12-16 nghìn FT (cố nhiên khi đó vé xe điện xe bus tăng gấp 2-3 gì đó) tôi vẫn trốn vé xe. Không phải vì tiền nhưng ngại đi mua vé và hay quên, lên xe rồi mới nhớ ra. Có lần trốn vé, thấy có cô soát vé rất xinh lên, tính lẩn, thì cô bám ngay lấy mình. Nhưng cô ấy không hỏi vé mà bắt chuyện lăng nhăng và khen mái tóc đen của mình. Cũng chém tích cực nên lờ được chuyện vé. Hú vía.

Ở Debrecen là tỉnh lẻ, mua vé tháng đi được có mỗi một cái tàu điện và khoảng 3 tuyến bus, nên cực kỳ lãng phí." HTB học Vật lý lý thuyết ở KLTE, Debrecen và từng có thời gian dạy ở đây nên mới có nhận xét như thế. Về tàu điện ở Budapest, tên này đã viết 1 bài với tâm trạng hoài cổ về cảnh đẹp của Budapest và những kỷ niệm của hắn trong bài "Budapesti villamosok - Những chiếc xe điện thành Budapest".

"Có lẽ đặc sản của Budapest là tàu điện. Kỷ niệm thời sinh viên là tàu điện. Khi buồn không biết làm gì lên tàu điện lang thang là thú vị nhất. 

Budapest có hàng chục tuyến tàu điện khác nhau, nhưng có một số tuyến tàu điện quen thuộc như 4, 6, 19, 18, 49, 47 mà ai cũng biết. Trong số các tuyến tàu điện tôi thích nhất và có kỷ niệm nhiều nhất với tàu số 2 và tàu số 19 chạy dọc hai bờ sông Duna bên Pest và bên Buda.

Đường tàu điện số 2, từ quảng trường Jászai Mari, ở đầu cầu Margit chạy đến Kozvágó híd, sát bến tàu Hév ra Csepel và Ráckeve. Có lẽ đây là tuyến đường đẹp nhất, chạy dọc bờ sông Duna bên Pest, chạy qua nhà quốc hội, Viện Hàn Lâm, khách sạn Duna, cầu Margit, cầu Xích (Lánc Híd), cầu Erzsébet, cầu Szabadság, cầu Petofi, chợ Szabadság, trường Kinh tế. Tàu điện số 2 tương đối đẹp đẽ và luôn được tân trang đàng hoàng hơn so với các tuyến tàu điện khác. (Hình như ngoài tàu điện số 2 còn có tàu điện số 18 cũng mới vì chạy đến bệnh viện János).

Có lẽ đây là tuyến tàu điện tôi có nhiều kỷ niệm nhất, vì tôi thường đi tàu điện số 2 để đón tàu Hév đi Ráckev đến nhà cô bạn là Magdi. Sau này, cô bạn lấy chồng, nhà lại ở sát cuối bên kia của bến tàu số 2 tại quảng trường Jásszai Mari, đi bộ chỉ mấy bước chân là về nhà hoặc ra đảo Margit đi dạo cũng rất gần.

Đường tàu 19, chạy từ ga Kelenfoldi đến quảng trường Batthány. Tôi cũng yêu tuyến tàu điện này, nhất là đoạn chạy dọc bờ sông bên Buda, có lối đi lên thành Vár, chạy qua cầu Lánc, cầu Erzsébet, cầu Szabadság, quảng trường tròn (Moricz Zsigmond Kortér), quảng trường Kosztolányi Dezso tér.

Hồi học ngoại ngữ , mỗi dịp trốn học đi chơi, tôi hay ngồi trên tàu điện 19 chạy dọc bờ sông. Hồi ở ký túc xá Budaors thì vì không muốn mua vé tháng xe bus, chúng tôi thường đi bộ ra đường Bartók Béla đón tàu 19, 49, 47 từ Kelenfold về. Sau này đi lên Vár chúng tôi vẫn thường đón tàu 19 và đi bộ lên Vár. Còn ga Batthány tér có chuyến xe bus (hình như số 16) mà bạn Nguyễn Cao Bình thường đón xe bus lên Óbuda có việc riêng. (Chuyện này tôi nghe láng máng, nhớ cũng loáng thoáng, phải đợi Cao Bình kể lại). Bến quảng trường Batthány đối diện với nhà Quốc hội và cũng là bến Metro nối vào tuyến từ quảng trường Moszkva (nay chắc đã đổi tên khác) đi đến Sugár và bến tàu Hév đi Godollo.

       Đối diện với bến Metro là một cái chợ rất lớn. Đi chợ ở Hungari cũng là một cái thú không thể quên và nếu bạn nào chưa có cái thú đó thì sẽ là một thiệt thòi vô cùng lớn, không thể bù đắp được. Khi nào rảnh sẽ nói thêm về chuyện này.

    Tôi nhớ tuyến xe điện 19 thường mở cửa, gió sông Duna thổi vào từ bốn phía mùa hè rất sướng, mùa đông hơi khổ một chút. Sau đoạn chạy qua cầu Lánc, chỗ có một con đường hầm xuyên qua núi Buda, là bến để chuyển qua xe bus hoặc đi bộ lên Vár nếu bụng không đói lắm. Đoạn này đặc biệt xóc, tàu rung lên xòng xọc, bánh xe xiết vào đường ray ken két, rất ồn. Bây giờ hình như đều đã thay bằng tàu điện mới hiện đại, nhưng chắc không có cái hương vị cổ điển như ngày xưa."

Tàu điện số 2 được coi là một trong những lựa chọn cho chương trình tham quan rẻ nhất ở Budapest. Vào thời của chúng tôi, đây là loại tàu điện đẹp nhất của Hungary (hoạt động cùng với những tuyến còn lại hầu hết là tàu loại cũ). Tuyến đường này uốn lượn dọc theo sông Duna từ Quảng trường Jászai Mari đến Nhà hát Quốc gia, đưa du khách đi giữa những công trình kiến ​​trúc mang tính biểu tượng của thành phố. Tất cả những cảnh quan vô cùng ấn tượng trên đoạn sông Duna nổi tiếng đẹp nhất này chỉ tốn một vé BKV (hoặc hai vé nếu bạn mua vé khứ hồi). Cần chú ý quan sát cả 2 bên trái và phải khi di chuyển theo cả hai chiều, vì tàu điện đi qua Tòa nhà Quốc hội, Cung điện Gresham, Cầu Lánchíd và dưới Cầu Erzsébet và nhiều địa điểm khác. Ở phía Buda, có thể nhìn thấy những ngọn đồi, Khu Lâu đài và Suối nước nóng Gellért. Và tất nhiên, cũng ko thể bỏ lỡ 2 trường ĐH Corvinus và BME, một ở bên Pest và một ở phía đối diện của Buda, cả 2 đều rất cuốn hút.

Đến nay tôi vẫn còn tiếc và vẫn tự trách mình vì đã ko có trải nghiệm thú vị như HTB về tàu điện Bp. Có lẽ do ham đá bóng quá? Nhẽ ra, tôi cũng phải khám phá ra điều có 1 ko 2 này mới phải. Ít ra, như vậy mới biết về Bp nhiều hơn, có nhiều chuyện để viết hơn! Nếu có dịp trở lại Hungary, nhất định tôi sẽ dành thời gian du ngoạn Budapest bằng tàu điện trong chương trình du hành của mình.

Budapest rất lôi cuốn với những cây cầu nối liền bờ Pest bằng phẳng với vùng đồi của Buda, mỗi cây cầu là một công trình nghệ thuật, trong đó nổi tiếng nhất là cầu Lánchíd - hoàn thành năm 1849. HTB đã dành cho cây cầu này những dòng đầy cảm xúc, và dù theo tiếng Hung tên đúng ra là Cầu Xích, nhưng theo ý hắn thì gọi là Cầu Sư Tử hay hơn.

"Đây là cây cầu đẹp nhất trong các cây cầu ở Budapest, mặc dù cầu Erzsébet và cầu Szabadság đều có những vẻ đẹp và duyên dáng riêng. 

Những con sư tử nằm làm bằng đá ở hai đầu cầu trông luôn luôn suy tư. Cầu Sư Tử có thể nhìn từ nhiều góc, nhưng tôi thích nhất là góc nhìn từ phía Buda, hơi chéo góc một chút về phía tòa nhà của Viện Hàn Lâm, nhưng đừng chéo quá để nhìn thấy nhà Quốc Hội. Thế mới biết, không phải nhiều cái đẹp ở bên cạnh nhau là hay. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi chán xem các cuộc thi hoa hậu đến thế. Tình cờ góc nhìn này lại đúng là góc nhìn trong phim Chủ Nhật Buồn (Szomorú Vasárnap).

Cầu Sư Tử trong đêm rất diễm lệ, do ánh sáng bố trí rất tuyệt vời, hòa hợp với hình khối cổ kính, hơi lỉnh kỉnh những xích sắt, cùng với đám sư tử đá, và không khí mát lạnh, hơi lung linh từ nước sông Duna phả lên. Vừa có vẻ trong một nhà bảo tàng, vừa có vẻ như trong một cửa hàng đồ cổ, mà người ngắm cảnh lại có cảm giác đang nhâm nhi nước đá từ một cái cốc pha lê, đá chạm vào thành cốc kêu lanh canh trong một quá khứ xa xôi nào đó.

Ban ngày Cầu Sư Tử lại có vẻ đẹp khác. Chúng ta  có thể đứng ở Pest nhìn về phía Buda để thấy Bảo tàng tranh Dân tộc ở hậu trường. Hoặc chúng ta nhìn thẳng vào đường hầm, hoặc nhìn chéo về phía thành cổ. Tôi chưa bao giờ có dịp đi bộ qua cầu, hoặc đứng trên thành cầu nhìn sông Duna, Pest và Buda cho thỏa thích. Chắc cảm giác đó phải tuyệt vời lắm. Đôi khi có những việc dễ dàng và thú vị, mà người ta ngu ngốc không làm, có khi lại chỉ vì sợ người khác cười mình là lẩn thẩn hoặc ngốc nghếch. Tôi chỉ nhớ nhất là hình ảnh của cầu Sư tử nhìn thẳng vào gầm cầu từ bến tàu điện số 19.

Tôi sẽ nhớ mãi những lần lái xe qua cầu từ trên Vár xuống, hoặc chạy xuyên qua hầm ngầm xuyên núi Buda, cảm giác thật mạnh mẽ và thú vị. Cũng may là  đến bây giờ tôi vẫn còn giữ lại được một số cảm giác và cảm xúc.

Dưới đây là cầu Sư tử trong đêm, không thể xác định được đây là góc nhìn từ Buda hay nhìn sang Buda. Tôi nghĩ là góc nhìn của phim Szomorú Vasárnap, từ Buda nhìn sang.

Nhìn sang Buda, trong ánh sáng đẹp và tinh khiết.

Nhìn về phía Nemzeti Galéria (Bảo tàng tranh dân tộc), có cảm giác như một chuỗi xà tích nạm ngọc quý.

Cầu Sư tử đẹp cả trong ánh sáng ban ngày, nhìn về phía Pest. Một thứ ánh sáng dịu dàng, xanh trong vắt đến xao lòng.

Ánh sáng chiếu trên cầu Sư tử. Đây chưa phải là khoảnh khắc đẹp nhất. Dường như là một buổi chiều muộn, cầu Sư tử đã lên đèn, và đang đợi những ngôi sao sớm thắp lên trên bầu trời đang ngả màu tím sẫm.

Tôi hay nhìn cầu Sư tử nhất là từ góc nhìn này, từ dưới chân cầu nhìn lên.


Tại sao mình không có một buổi chiều nào hay một sáng nào đứng tha thẩn một mình trên cầu như bóng người trong ảnh. Không phải mình không muốn điều đó, không phải vì điều đó không hay, không phải vì mình không có thời gian. Chỉ là ngại thôi và thói quen ngần ngại ngu ngốc. Con người ta hay xấu hổ vì cảm xúc. Đó là một mâu thuẫn vô lý của con người. Bây giờ tôi mới thấy biết ơn Magdi về những khoảng thời gian làm những việc ngốc nghếch vô tích sự, nhưng để lại những cảm xúc lâu dài suốt đời như thế."

Pest có một con đường nổi tiếng mà LHS chúng tôi ai cũng biết, đó là Népköztársaság útja, nay là Đại lộ Andrássy. Đại lộ này là một bảo tàng trưng bày các phong cách kiến ​​trúc của nửa cuối thế kỷ 19. Phong cách tân Phục Hưng chiếm ưu thế, nhưng chúng ta cũng tìm thấy các công trình kiến ​​trúc tân Baroque, Cổ điển, Art Nouveau và Lãng mạn. Đại lộ Andrássy là cầu nối giữa trung tâm thành phố năng động và không gian xanh của thành phố, Városliget. Nó bắt đầu với những tòa nhà chung cư, như một con đường chính rộng lớn ở trung tâm thành phố, sau đó dần dần mở rộng, xanh tươi hơn, trải dài thành một đại lộ rợp bóng cây với những biệt thự hai bên và kết thúc ở Quảng trường Anh hùng. Đại lộ này cũng rất nổi tiếng với Đường sắt ngầm Földalatti Vasút.

Đại lộ Andrássy hình thành bởi ý nguyện của bá tước Andrássy Gyula.Với chiều dài 2310m, đây là đại lộ "sugár útja" dài nhất của Budapest và là con đường đầy quyến rũ giữa thành phố, một con đường hoa lệ với nhiều công trình của các kiến trúc sư nổi tiếng nhất đương thời. Người ta phải phá bỏ rất nhiều ngôi nhà để xây dựng lại quy củ theo trường phái neo-Renaissan; trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất phải kể đến nhà hát Opera/Magyar Állami Operaház (1884) do kiến trúc sư Ybl Miklós thiết kế mang phong cách mới của thời kỳ đó, rất độc đáo khi kết hợp với phong cách Baroque, đây là một kiệt tác của con đường nổi tiếng này và cũng là niềm hãnh diện của Budapest cũng như của người Hungary. 

Magyar Állami Operaház

HTB thì quen dùng tên cũ, Népköztársaság útja, vì nó gắn với nhiều kỷ niệm. Đường này chạy từ quảng trường Deák Ferenc, qua quảng trường Liszt Ferenc, sau đó đến quảng trường November 7, bây giờ gọi là quảng trường Bát giác (Oktogon), sau đó đến Kodály Körönd, rồi đến quảng trường Anh Hùng nổi tiếng. Đây là tuyến đường của xe bus số 1, chạy từ Kelenföld (phía trường Ngoại ngữ) lên. Đoạn từ quảng trường Deák Ferenc đến quảng trường November 7, có những hàng cây tán lá rất rợp, dường như nắng không bao giờ tới được mặt đường. Hai bên rất nhiều cửa hàng cửa hiệu. Đoạn từ quảng trường November 7 đến quảng trường tròn Kodály là những nhà sát mặt đường, kiến trúc rất đẹp. Đặc biệt có một nhà hàng sang trọng, cắm rất nhiều ô, và có một cửa vào trông rất bắt mắt mà hắn ta quên mất tên. Từ quảng trường tròn Kodály đến quảng trường Anh Hùng là các biệt thự rất đẹp.

Trên đường Népköztársaság có một địa điểm đáng nhớ vì nó gắn liền với kỷ niệm về những ngày đầu chúng ta đến Budapest. Đó là Divat Csarnok, nơi chúng ta đều đến đó mua những bộ quần áo đầu tiên khi đến Hungary. HTB còn nhớ ngày hôm đó như mới ngày hôm qua. Anh Quang Việt, dẫn nhóm HTB đi và đưa ra một số tư vấn. Hoàng tử đi với Khánh và Trung, dĩ nhiên là cả bọn bàn luận với nhau xem nên mua gì. Trước tiên là phải mua một cái áo bành tô (kabát) để chống lại cái lạnh của mùa đông. Cả nhóm đều nhất trí mua một cái áo to dày, lót lông, nhồi bông, có mũ. Hình như cái áo của HTB màu tím, Trung và Khánh chọn màu nâu. Sau đó đến áo kardigán, một loại áo thay áo len, có khuy mở ở phía trước, bằng một thứ sợi nhân tạo nào đó. Loại này chỉ có một màu duy nhất là xanh lá cây đậm. Vậy là cả ba đứa mua 3 cái giống hệt nhau. Sau đó đến quần, lẽ dĩ nhiên Hoàng tử chọn quần 2-3 loe. Được tự do lựa chọn phải hưởng thụ một cái. Các chú sứ đã cấm, càng nên chọn cho khoái. Hắn nhớ một chiếc kẻ sọc màu hơi hung hung bằng len. Một chiếc kia bằng sợi tổng hợp màu boóc đô. Khánh hình như cũng chọn giống HTB. Riêng Trung thì cứ băn khoăn mãi về quần loe, cứ săm soi tìm loại nào không loe. Nhưng cuối cùng hình như cũng phải theo HTB. Cái quần thứ hai của Khánh là màu xanh đậm.

      Áo sơ mi thì dễ hơn, HTB chọn một cái màu vàng, một cái màu hồng và một cái màu trắng. Khánh và Trung cũng chọn cái màu vàng và một cái trắng. Về màu hồng thì hình như cả hai cậu đều ngần ngừ, chọn một cái màu trứng sáo thì phải. Riêng Trung, Hoàng tử ép phải mua cái màu hồng như hắn, vì Khánh nhất định không chọn màu hồng, vì có vẻ táo bạo về màu sắc quá. Hoàng tử khoái màu hồng để đi kèm với màu boóc đô của cái quần. Đến phút cuối cùng hắn phát hiện ra một chiếc áo màu trắng bằng một thứ vải trong suốt như đăng ten có hoa loang lổ, hắn bèn đổi để khác biệt áo trắng đơn giản của Trung. Hoàng tử nhớ mang máng nhưng không chắc lắm là Khánh cũng tán thành ý tưởng này và cũng chọn một chiếc giống như vậy. Vậy là ba đứa cứ mỗi cặp lại có 2 cái áo giống nhau.

Từ Divat Csarnok đi vài bước nữa là quảng trường Liszt Ferenc, nơi có một trường trung học, ở đó có cô bạn của Hoàng tử là Magdi dạy môn vẽ. Hồi sinh viên HTB ít khi có dịp qua lại quảng trường này, sau này mới có dịp qua quảng trường này mấy lần, hắn cũng đến thăm cô bạn cùng năm là Nguyễn Kim Bân (ELTE.M72), hình như nhà số 7, nhà ở tầng trệt trong một cái sân sạch sẽ nhưng cổ lỗ.

Từ quảng trường Liszt Ferenc đi thêm bước nữa là đến quảng trường November 7 (Cách mạng Tháng 10 Nga), ngày nay gọi là Oktogon. Đây vốn là giao lộ của đường Népköztársaság và Lenin körút (ngày nay gọi là Erzsébet körút) có các tàu điện số 4 và số 6 chạy qua.

 Dọc đại lộ Népköztársaság có tuyến đường tàu điện ngầm Földalatti số 1. Đây là tuyến đường nối tiệm bánh ngọt, chứa những kỷ niệm của HTB, trên quảng trường Vörösmarty đến khu mà HTB quên mất tên mà vào những năm 1985 HTB đã đến thăm Trương Đăng Dung (ELTE, M72) và Magdi (hồi đó ở gần đó, đang chuẩn bị sinh con gái là Linda).

   Bây giờ, chúng ta quay trở lại quảng trường tròn Kodály. Chắc các bạn sẽ phải nhớ ra vì nó là chỗ đẹp nhất trên đường đến sứ quán. Nếu bạn đi xe bus số 1, sau quảng trường November 7, bạn sẽ thấy một vòng tròn lớn, có bãi cỏ, các tượng đồng, và nhiều ngôi nhà có kiến trúc tuyệt đẹp bao quanh. Đó chính là quảng trường tròn Kodály một thời đã được gọi là quảng trường Adolf Hitler.

Quảng trường Anh Hùng nằm ở cuối đường Népköztársaság, đây là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị của Hungari, giống như quảng trường Ba Đình và cũng là một danh thắng của Budapest. HTB sẽ có một bài riêng về quảng trường này và các tượng đài. Cần nhắc là ở đây có Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Budapest, quần thể tượng đài trên quảng trường. Cuối quảng trường là khu vườn bách thảo của Budapest (Város Liget) nơi có một tòa lâu đài cổ đẹp tuyệt vời. HTB cũng sẽ có một bài riêng về Város Liget.

 Chéo bên kia quảng trường Anh Hùng, gần cuối đường Népköztársaság là Sứ Quán Nam Tư cũ. Là nơi Thủ tướng Hung năm 1956 Nagy Imre vào ẩn náu trước khi nộp mình cho Hồng quân của Andropov. Hoàng tử nhớ Khánh đã chỉ cho hắn tòa Đại Sứ này khi vừa ở Sứ quán Việt Nam qua. Nó là một tòa biệt thự rất đẹp, cổng và hàng rào sắt sơn đen. Hoàng tử đứng lặng yên ngắm cánh cửa và ước ao có một lần được vào đó xin visa để qua Nam Tư. Chắc Khánh cũng nghĩ vậy. Thậm chí hai tên này cũng thảo luận xem hộ chiếu của chúng tôi có đi Nam Tư được không, vì Nam Tư theo quan niệm của nhiều người Hung và Nam Tư thời đó cũng là xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng thì cả hai cũng không đủ dũng cảm để thử. Mãi tới sau này, 20 năm sau, năm 1990 Hoàng tử mới có cơ hội vào cánh cửa đó lấy thị thực qua Nam Tư để đi Ý. Hắn rất tiếc là chuyến đi này không có người bạn vàng thuở nào. Lúc lấy xong thị thực cho cả vợ con, Hoàng tử có chút xúc động nhớ lại chuyện ngày xưa.

(còn nữa)