“Bên trong tâm trí, hãy để ta hoàn toàn khác biệt, nhưng bên ngoài hãy giống như mọi người.” – Seneca
Có một điều khá dễ xảy ra khi con người bắt đầu quan tâm đến việc tu dưỡng bản thân: ta muốn trở nên khác đi.
Một người đọc thêm sách, tìm hiểu triết học, thực hành thiền định hay bắt đầu quan tâm đến Khắc kỷ có thể dần nhìn những điều quen thuộc bằng một con mắt khác. Những thứ từng khiến ta bận tâm có thể trở nên nhẹ đi. Tiền bạc, danh vọng hay sự công nhận của người khác không còn giữ vị trí như trước.
Sự thay đổi ấy tự nó không có gì đáng ngại. Một con người trưởng thành hơn đương nhiên có thể có những cách nhìn khác với trước đây.
Nhưng từ đây xuất hiện một cái bẫy khá tinh tế: ta bắt đầu lấy sự khác biệt của mình làm bằng chứng cho sự tiến bộ.
Một người sống giản dị có thể âm thầm thấy mình cao hơn những người còn chạy theo vật chất. Người đọc nhiều sách có thể xem thường những người chỉ quan tâm đến công việc và tiền bạc. Người thực hành Khắc kỷ có thể dần tạo ra một hình ảnh về bản thân: bình thản hơn, lý trí hơn, tự chủ hơn những người xung quanh.
Khi ấy, quá trình tu dưỡng vẫn đang diễn ra, nhưng cái tôi cũng tìm được một nơi mới để trú ngụ.
Trước đây, con người có thể tự hào vì mình giàu hơn, thành công hơn hoặc được nhiều người biết đến. Sau khi bước vào đời sống tinh thần, họ vẫn có thể tự hào vì mình giản dị hơn, hiểu biết hơn, ít ham muốn hơn hoặc "tỉnh thức" hơn.
Cái tôi không nhất thiết biến mất khi chúng ta bắt đầu tu dưỡng. Đôi khi nó chỉ thay đổi cách xuất hiện.
Đây là một điểm quan trọng trong tinh thần Khắc kỷ: triết học trước hết là một cách rèn luyện đời sống, chứ không phải một hình ảnh để trình diễn. Người học triết có thể thay đổi sâu sắc cách nhìn về tiền bạc, danh vọng, đau khổ hay mất mát, nhưng điều đó không đòi hỏi họ phải biến mình thành một nhân vật đặc biệt trước mắt người khác.
Một người thực sự không còn quá lệ thuộc vào tiền bạc không nhất thiết phải cố tình sống nghèo khổ để chứng minh điều đó. Người không còn quá cần sự công nhận cũng không cần liên tục tuyên bố rằng mình chẳng quan tâm đến dư luận. Người hiểu triết học không nhất thiết phải nói năng khác thường, ăn mặc khác thường hay tạo ra khoảng cách với những người chưa quan tâm đến những điều mình đang quan tâm.
Nếu sự bình thản cần có khán giả để chứng minh, nó vẫn còn phụ thuộc vào người khác.
Nếu sự giản dị cần được nhìn thấy mới có ý nghĩa, nó vẫn mang trong mình một phần nhu cầu được công nhận.
Và nếu việc “không quan tâm người khác nghĩ gì” phải được nói đi nói lại để người khác biết, thì sự tự do ấy có lẽ vẫn chưa hoàn toàn tự do.
Những thay đổi đáng kể nhất trong một con người thường kín đáo hơn nhiều.
Ta bớt nóng giận và biết dừng lại trước khi phản ứng. Khi bị chỉ trích, ta không lập tức tìm cách trả đũa. Khi được khen, ta có thể vui nhưng không để lời khen quyết định giá trị của mình. Khi gặp một điều nằm ngoài khả năng kiểm soát, ta biết tập trung vào phần mình có thể làm thay vì tiêu hao năng lượng cho những thứ không thể thay đổi.
Những thay đổi ấy rất khó nhìn thấy từ bên ngoài.
Một người vẫn có thể mặc quần áo bình thường, làm một công việc bình thường, ăn cơm cùng gia đình, gặp gỡ bạn bè, nói chuyện với hàng xóm và sống giữa một cộng đồng giống như bao người khác. Không có dấu hiệu đặc biệt nào cho thấy bên trong họ đã thay đổi đáng kể.
Nhưng cách họ phản ứng trước đời sống đã khác.
Có lẽ đây mới là một trong những thử thách thực sự của việc tu dưỡng: thay đổi mà không cần biến sự thay đổi ấy thành một bản sắc để người khác nhìn vào.
Bởi khi sự tu dưỡng trở thành một bản sắc, nó rất dễ tạo ra một ranh giới mới giữa “tôi” và “những người khác”. Ta bắt đầu chia con người thành những người hiểu và những người chưa hiểu, những người tỉnh táo và những người còn chạy theo vật chất, những người sống đúng và những người đang sống sai.
Một quá trình vốn bắt đầu bằng việc quan sát chính mình lúc ấy có thể chuyển thành việc quan sát và đánh giá người khác.
Đây là nghịch lý khá phổ biến trong đời sống tinh thần: con người tìm đến triết học để bớt bị cái tôi chi phối, nhưng lại có thể sử dụng chính triết học để xây dựng một cái tôi mới.
Họ muốn thoát khỏi nhu cầu được công nhận, rồi lại tìm kiếm sự công nhận vì mình là người “không cần được công nhận”. Họ muốn sống tự do trước ý kiến của người khác, rồi lại cần người khác nhìn thấy mình đang sống tự do. Ngay cả sự khiêm nhường cũng có thể trở thành một điều để tự hào.
Vì vậy, giá trị của việc tu dưỡng có lẽ không nằm ở việc nó khiến một người trở nên đặc biệt đến mức nào trong mắt người khác. Nó nằm ở việc người ấy sống với chính mình và với những người xung quanh tốt hơn ra sao.
Một người bình tĩnh hơn trước những điều không như ý. Một người biết kiểm soát lời nói trước khi làm tổn thương người khác. Một người có thể nhận ra mình sai mà không cảm thấy toàn bộ giá trị của bản thân bị đe dọa. Một người hiểu mình không thể kiểm soát mọi thứ nên không dành cả đời để cố kiểm soát những điều vốn nằm ngoài tay mình.
Đó là những thay đổi có thể không ai vỗ tay.
Nhưng chúng làm nên một con người khác.
Và khi sự thay đổi ấy thực sự trở thành một phần của đời sống, ta không cần phải sống khác người để chứng minh mình đã thay đổi.
Vẫn có thể ăn một bữa cơm với gia đình, vui trong một cuộc gặp gỡ, làm công việc của mình, sử dụng tiền bạc, tận hưởng một điều tốt đẹp hay quan tâm đến những thành quả trong cuộc sống. Điều quan trọng nằm ở chỗ những thứ ấy còn giữ quyền quyết định giá trị của mình đến đâu.
Có thể sử dụng tiền mà không để tiền trở thành thước đo duy nhất của thành công.
Có thể được khen mà không sống nhờ lời khen.
Có thể thất bại mà không xem thất bại là một bản án về con người mình.
Có thể hòa nhập với cộng đồng mà vẫn giữ khả năng suy nghĩ độc lập.
Đó là một dạng tự do khó nhận ra hơn vẻ ngoài lập dị, bởi nó không cần tạo khoảng cách với số đông để tồn tại.
Sống khác người đôi khi không quá khó. Chỉ cần chọn một cách ăn mặc khác, một cách nói khác, một lối sống khác hoặc công khai phản đối những điều mà số đông đang làm. Nhưng giữ được một tâm trí độc lập trong khi vẫn có thể sống hòa nhã giữa những người không giống mình lại đòi hỏi nhiều hơn.
Độc lập không có nghĩa là lúc nào cũng phải chống lại số đông. Hòa nhập cũng không có nghĩa là từ bỏ suy nghĩ của mình.
Ta có thể bất đồng với người khác mà không coi họ là đối thủ. Có thể giữ nguyên tắc mà không biến mọi khác biệt thành một cuộc tranh luận. Có thể sống theo điều mình tin là đúng mà không cần bắt những người xung quanh phải sống giống mình.
Một người có thể ở giữa đám đông mà không đánh mất mình.
Cũng có thể ở một mình mà không cần xem sự cô độc như bằng chứng rằng mình đặc biệt.
Có lẽ đó cũng là ý nghĩa sâu hơn của lời khuyên thường được gắn với Seneca: bên trong có thể giữ một tiêu chuẩn riêng, nhưng bên ngoài không cần cố tạo ra một đời sống khác thường để chứng minh điều đó.
Độc lập trong tâm trí là khả năng giữ được tiêu chuẩn của mình trước hoàn cảnh, dư luận và những ham muốn nhất thời.
Bình thường trong đời sống là khả năng sống cùng người khác mà không biến mọi khác biệt thành lý do để xa cách hay phán xét.
Hai điều ấy không mâu thuẫn.
Một tâm trí đủ vững không cần phải tạo ra khoảng cách với cộng đồng để bảo vệ sự độc lập của mình. Và một người thực sự hòa nhập cũng không nhất thiết phải đánh đổi khả năng suy nghĩ độc lập để được thuộc về một tập thể.
Đến lúc ấy, câu hỏi về sự tu dưỡng cũng thay đổi.
Ta không còn quá bận tâm đến việc “Mình đã khác người khác đến đâu?”
Câu hỏi trở nên âm thầm hơn: “Mình đang trở thành một con người như thế nào?”
Nếu câu trả lời là một người bình tĩnh hơn, tự chủ hơn, tử tế hơn, biết giới hạn của mình hơn và ít bị những thứ bên ngoài chi phối hơn, có lẽ không cần thêm quá nhiều dấu hiệu để chứng minh.
Bởi một sự thay đổi thực sự không nhất thiết phải được nhìn thấy.
Nó chỉ cần được sống.
Và có lẽ, dấu hiệu khá đáng tin của một tâm trí đã trưởng thành là nó không còn quá cần phải chứng minh rằng mình đặc biệt.
Bên trong có thể khác đi rất nhiều. Bên ngoài, vẫn có thể sống như một con người bình thường.
Ảnh: Seneca, tượng bán thân bằng đá cẩm thạch, khoảng 1641–1644, Museo Nacional del Prado, Madrid. Tác phẩm được quy cho Giuliano Finelli và thuộc truyền thống tạo hình Seneca trong nghệ thuật châu Âu thế kỷ XVII.
David Phung (Nghiên cứu lịch sử)

No comments:
Post a Comment