Monday, June 8, 2015

Chủ nghĩa xã hội kiểu Thụy Điển (tiếp theo)


Khái quát vài nét về “chủ nghĩa xã hội dân chủ” Thụy Điển

Dưới ảnh hưởng tuyên truyền của Liên Xô, lâu nay chúng ta có thành kiến rất sâu sắc về phong trào chủ nghĩa xã hội dân chủ Tây Âu. Thực ra, cho tới ngày Liên Xô biến mất, người Liên Xô chưa bao giờ giới thiệu cho chúng ta biết một cách khách quan, trung thực về tình hình thực sự của phong trào xã hội dân chủ Tây Âu (kể cả mối quan hệ giữa các đảng cộng sản với các đảng xã hội dân chủ), không phải là “phủ định nhiều, khẳng định ít”, mà là phủ định toàn bộ. Trước hết, tôi muốn nói một điều: thật ra phong trào xã hội dân chủ Tây Âu đã phức tạp lại đa dạng, tình hình các nước không hoàn toàn giống nhau. Thụy Điển không ở vào vùng đất “trái tim” của thế giới tư bản, mà chỉ là “tứ chi” thôi (“trái tim” và “tứ chi” là cách nói của Mác), cách khá xa vùng trung tâm giành giật của các thế lực tư bản cường quyền, do đó cuộc cải cách xã hội của Thụy Điển có thể tiến hành tương đối tự chủ mà không, hoặc ít chịu sự can thiệp và ảnh hưởng của các thế lực ngoại quốc.

Ở đây cần đặc biệt chỉ ra một điểm: các đảng XHDC, đảng xã hội, đảng công nhân thuộc “Quốc tế xã hội” thành lập năm 1923 ở châu Âu có cách giải thích về “chủ nghiã xã hội dân chủ”, trên nguyên tắc và trên nhiều mặt, khác với cách giải thích của chủ nghĩa Mác; nhất là chủ trương “đa nguyên hoá tư tưởng”. Đảng XHDC Thụy Điển tuy cũng thừa nhận đa nguyên hoá tư tưởng, nhưng họ vẫn kiên trì lấy học thuyết Mác Ăng-ghen làm tư tưởng chỉ đạo chính của mình. Đây là một đặc điểm và ưu thế của họ.


Tại đây, tôi chỉ xin căn cứ vào Báo cáo Khảo sát, chia nó ra thành đề mục để trình bày, tức dùng phương pháp “chỉ thuật lại mà không viết thêm” (thuật nhi bất tác) để giới thiệu về tình hình xã hội XHCN dân chủ ở Thụy Điển mà mọi người rất muốn tìm hiểu. Tôi xin phép khuyên bạn đọc chịu khó đọc hết phần sau, chớ có bỏ qua một dịp tìm hiểu về chủ nghĩa xã hội của Thụy Điển.

Về vấn đề tính chất của đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển và của xã hội Thụy Điển

Báo cáo khảo sát viết: “Lâu nay, chúng ta [tức ĐCSTQ] luôn cho rằng đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển là một đảng xét lại, xã hội Thụy Điển là một xã hội tư bản như các nước xã hội phương Tây khác. Do đó, trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã cực kỳ thẳng thắn hỏi các bạn Thụy Điển: rốt cuộc đảng và xã hội của họ có tính chất như thế nào? Họ trả lời rõ ràng: cho tới nay, họ vẫn tự cho rằng đảng XHDC Thụy Điển là một chính đảng xã hội chủ nghĩa, xã hội Thụy Điển là một xã hội xã hội chủ nghĩa. Lý do chủ yếu là: xét về lịch sử đảng XHDC Thụy Điển, năm 1889, khi thành lập đảng, họ không có cương lĩnh và điều lệ đảng của riêng mình, mà sử dụng nguyên xi cương lĩnh và điều lệ của đảng XHDC Đức hồi đó, do Ăng-ghen sáng lập. Khi chúng tôi đến thăm Thụy Điển, tuy họ đang chuẩn bị sửa đổi lần thứ 7 cương lĩnh của đảng, nhưng các tài liệu tuyên truyền phát đi vẫn ghi rõ: cơ sở lý luận của đảng XHDC Thụy Điển là đa nguyên, song chủ yếu là chủ nghĩa Mác Ăng-ghen; cơ sở giai cấp rộng rãi, nhưng chủ yếu là giai cấp công nhân. Chỉ có điều là ghi rõ: giai cấp công nhân không những chỉ bao gồm công nhân cổ xanh mà còn gồm cả công nhân cổ trắng…

Nhân vấn đề này, họ đặc biệt mời chúng tôi tới thăm Nhà Trưng bày lịch sử đảng XHDC Thụy Điển. Nhìn thứ tự các bức ảnh được treo ở đây, có thể thấy rõ: vị trí thứ nhất là Các Mác, thứ hai là Ăng-ghen, thứ ba là Lát-xan,[7] thứ tư là Bran-hân, nhà lãnh đạo đầu tiên của đảng XHDC Thụy Điển … Khi trao đổi ý kiến với một số nhà nghiên cứu lý luận của đảng XHDC Thụy Điển, họ đặc biệt nhấn mạnh: chủ nghĩa xã hội mà họ nói là có điều kiện, tức là trước đó phải thêm từ “dân chủ”, nói hoàn chỉnh phải là xã hội “chủ nghĩa xã hội dân chủ“. Nếu không thêm từ “dân chủ”, thì họ thà để người ta nói xã hội của họ là xã hội tư bản, còn hơn là để nói là xã hội XHCN. Bởi lẽ, loại xã hội XHCN ấy đại biểu cho xã hội XHCN kiểu Liên Xô, không có sức thu hút quần chúng, nghĩa là không nhận được phiếu bầu của quần chúng, cũng tức là không thể nắm chính quyền và thực thi các chính sách XHCN.

Về tính chất nền kinh tế Thụy Điển

Báo cáo Khảo sát viết: “Theo cách nói của các bạn Thụy Điển, tính chất của kinh tế Thụy Điển vừa không hoàn toàn là kinh tế tư bản, vừa cũng không phải hoàn toàn là kinh tế XHCN, mà là một loại kinh tế hỗn hợp.[8] Kinh tế hỗn hợp nghĩa là:

- Về chế độ sở hữu thì thực hành pha trộn chế độ sở hữu công cộng và chế độ tư hữu;
- Về chế độ phân phối thì thực hành phân phối theo lao động kết hợp với phân phối theo vốn (tư bản);
- Về phương thức vận hành kinh tế thì thực hành nhà nước điều hành vĩ mô kết hợp với kinh tế thị trường. Trong đó, cốt lõi nhất là sự hỗn hợp về chế độ sở hữu, vì chỉ có làm được như thế thì mới có thể thực hiện được sự hỗn hợp về chế độ phân phối và về phương thức vận hành kinh tế. Tại sao chủ nghĩa xã hội phải thực hành kinh tế hỗn hợp? Về vấn đề này, các bạn Thụy Điển đã dùng kinh nghiệm tự thân của đảng mình để giới thiệu cho chúng tôi biết một bài học lịch sử rất sâu sắc của họ.

“Theo giới thiệu, khi đảng XHDC Thụy Điển thành lập năm 1889, lúc đó Thụy Điển hãy còn là một trong những nước lạc hậu nhất châu Âu, thậm chí dân chúng còn chưa có quyền tối thiểu là quyền bầu cử phổ thông. Vì sức sản xuất còn kém và trình độ của đảng còn thấp, nên khi đảng thành lập, họ không đưa ra được cương lĩnh của đảng, đành phải sử dụng nguyên xi cương lĩnh của đảng XHDC Đức hồi đó, do Ăng-ghen lãnh đạo soạn thảo. Cương lĩnh này quy định rõ ràng: về chính trị, phải thông qua bầu cử dân chủ để quá độ hoà bình giành lấy chính quyền; về kinh tế, phải thực hiện chế độ sở hữu công cộng, phân phối theo lao động và quản lý có kế hoạch. Sau hơn 30 năm phấn đấu, về cách đề xuất phương thức mục tiêu đấu tranh chính trị tuy có mấy lần thay đổi, như ban đầu đề khẩu hiệu phấn đấu là “đấu tranh giành quyền bầu cử”; sau khi đã có quyền bầu cử thì sửa là “đấu tranh để được tham gia nghị viện”; sau khi đảng đã có chân trong Quốc hội rồi, lại đề xuất “đấu tranh giành đa số trong Quốc hội”. Thế nhưng, các mục tiêu kinh tế nói trên trong cương lĩnh lại không hề thay đổi.

Trong cuộc bầu cử năm 1920, số nghị sĩ của hai đảng XHDC và đảng Nhân dân (thuộc phái bảo thủ) cộng lại đã vượt quá đa số trong Quốc hội (phe đối lập chủ yếu là các nghị sĩ có liên quan tới Hoàng gia Thuỵ Điển), số ghế nghị sĩ của đảng XHDC nhiều hơn của đảng Nhân dân, hai đảng này đã lập chính phủ liên hợp cùng nắm chính quyền, người lãnh đạo của đảng XHDC làm Thủ tướng. Do đảng XHDC là lực lượng chính trong chính phủ, nên đảng này có điều kiện thực thi cương lĩnh kinh tế quy định trong Cương lĩnh của đảng, bắt đầu dùng biện pháp thu mua và chuộc lại để xây dựng trên cả nước một số lượng lớn các doanh nghiệp sở hữu công cộng, trong đó sở hữu nhà nước là chính. Nhưng vì chưa thể giải quyết tốt vấn đề quản lý các doanh nghiệp nên chẳng bao lâu sau, sức sống của các doanh nghiệp đó bị giảm sút, hiệu quả và lợi ích không cao, trong nền kinh tế xuất hiện những khó khăn không đáng có. Trong cuộc bầu cử năm 1924, số phiếu bầu cho đảng XHDC bị giảm mạnh, kết quả là đảng bị bật ra khỏi chính phủ, đảng Nhân dân có tính bảo thủ lên nắm chính quyền. Theo cách nói của các bạn Thuỵ Điển thì đảng đã đánh mất quyền lãnh đạo chính phủ.

“Trong tình hình đó, đảng XHDC Thụy Điển mới bình tĩnh tổng kết bài học kinh nghiệm; qua thảo luận trong toàn đảng, họ rút ra được một kết luận rất quan trọng. Đó là: đảng XHDC Thụy Điển là một chính đảng XHCN, do đó phải kiên trì thực hiện CNXH; nhưng trong việc thực hiện CNXH thì xã hội hoá quyền sở hữu không phải là một vấn đề căn bản; xã hội hoá phân phối mới là vấn đề căn bản, tức thực thi phân phối công bằng của cải xã hội như thế nào để bảo đảm quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động. Lập thật nhiều doanh nghiệp sở hữu công cộng, nhà nước phải đầu tư rất lớn, tốn nhiều công sức nhưng hiệu suất và lợi ích đều nói chung không cao, không làm ra được nhiều của cải, nếu muốn phân phối một cách công bằng thì cũng chẳng có cơ sở vật chất kinh tế lớn mạnh để làm chỗ dựa mà phân phối. Như vậy thì không có lợi bằng biện pháp: 
- không lập nhiều doanh nghiệp sở hữu công cộng (trừ các lĩnh vực bắt buộc phải do nhà nước làm), 
- khuyến khích ủng hộ sự phát triển kinh tế sở hữu phi công cộng, để cho các doanh nghiệp tư nhân làm ra càng nhiều của cải càng tốt, 
- chính phủ thực hiện phân phối các của cải đó một cách hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người lao động. 
- Có thể giải quyết những vấn đề và tệ nạn phát sinh trong quá trình phát triển các doanh nghiệp tư nhân trên hai mặt sau: 
- sử dụng thế lực của công đoàn ở tổ chức cơ sở tiến hành đấu tranh cần thiết; 
- sử dụng quyền lập pháp của Quốc hội để hạn chế các tệ nạn đó ngay từ trên thượng tầng. 

Đảng XHDC Thụy Điển đã dựa vào kết luận này để sửa đổi lại cương lĩnh và điều lệ ban đầu của đảng, qua đó giành được sự ủng hộ của quần chúng rộng rãi. Trong cuộc bầu cử năm 1932, đảng lại giành được đa số trong Quốc hội và lại lên nắm chính quyền liên tục 44 năm liền, cho tới năm 1976 mới bị đảng Nhân dân thay thế một thời gian. Trong mấy chục năm đó, đảng XHDC đã xây dựng Thụy Điển từ một nước kinh tế lạc hậu nhất châu Âu trở thành nước kinh tế phát triển, đứng thứ 2 trên thế giới về GDP đầu người (sau Thụy Sĩ). Mặc dù có vài lần bị đảng Nhân dân thay thế nhưng trong phần lớn thời gian từ 1976 tới nay, đảng XHDC vẫn nắm chính quyền. Đến cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, phần phân phối đã được xã hội hoá trong toàn bộ của cải quốc dân, tính theo tỷ lệ thu nhập tài chính của nhà nước so với GDP, đã đạt 57~58%. Nhờ đó đã có điều kiện xây dựng Thụy Điển thành nước có phúc lợi xã hội nhiều nhất thế giới, khiến cho lý thuyết xã hội hoá phân phối được vận dụng triệt để vào trong thực tiễn.

Về nguyên tắc phân phối thực hành tại Thụy Điển

Báo cáo Khảo sát viết: “Theo các bạn Thụy Điển giới thiệu, nguyên tắc phân phối của họ là: phải vừa có lợi cho việc huy động, phát huy đầy đủ tính tích cực về mọi mặt, và nâng cao năng suất lao động, lại vừa không để xuất hiện chênh lệch phân phối quá lớn (ý nghĩa có chút giống như khẩu hiệu “ưu tiên năng suất, chiếu cố công bằng” mà Trung Quốc mấy năm nay luôn nhấn mạnh). Biện pháp chủ yếu là: trong lần phân phối đầu tiên phải kiên trì nguyên tắc ưu tiên hiệu suất, nghĩa là người làm nhiều, cống hiến nhiều thì phải được phân phối nhiều; ngược lại thì chỉ được phân phối ít. Nhưng khi tái phân phối thì phải có sự điều tiết hợp lý, sao cho mức hơn kém trong phân phối cuối cùng không quá lớn.

Bởi thế, cho tới nay trong cả nước Thụy Điển, chỉ có một số cực ít các nhà doanh nghiệp xuất sắc, thí dụ những người như Tổng Giám đốc hãng ô tô Volvo, mới được hưởng mức thu nhập trên 1 triệu cuaron mỗi năm; còn nhìn chung chênh lệch về thu nhập thực tế của tuyệt đại đa số là không lớn lắm.[9] Thí dụ, lương của người lãnh đạo cao nhất trong chính phủ so với lương của công chức nói chung, trước khi nộp thuế chênh lệch có thể tới gấp 4-5 lần, nhưng sau khi nộp thuế, tỷ lệ chênh lệch chỉ còn bằng 2-3 lần. Điều đặc biệt là, ngoài lương ra, họ không có bất kỳ phụ cấp cấp bậc và phụ cấp chức vụ nào khác; cho nên tỷ lệ chênh lệch nói trên là rất nhỏ. Khi giới thiệu với chúng tôi, các bạn Thụy Điển nói chênh lệch thu nhập ở Thụy Điển có lẽ là nhỏ nhất thế giới. Tại Thụy Điển, cơ bản đã thanh toán xong cái gọi là sự cách biệt giữa thành thị với nông thôn, giữa công nhân với nông dân, giữa lao động trí óc với lao động chân tay. Về vấn đề này, mới đầu chúng tôi còn nửa tin nửa ngờ; nhưng sau khi quan sát thực địa một số gia đình thuộc các diện khác nhau, chúng tôi cảm thấy đúng là về đại thể là như vậy.”

Về chế độ phúc lợi ở Thụy Điển

Báo cáo khảo sát viết: “Mọi người đều biết, phúc lợi xã hội ở Thụy Điển ở mức nhiều nhất thế giới. Ngoài 4 loại bảo hiểm lớn được pháp luật qui định (như các nước Tây Bắc Âu khác): bảo hiểm hưu trí dưỡng lão, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, còn có nhiều loại hình phúc lợi xã hội khác, nhiều đến mức người ta hình dung Thụy Điển là nước mà người dân “từ khi lọt lòng đến khi chết” đều được hưởng phúc lợi. Căn cứ theo kết quả khảo sát của chúng tôi thì câu nói trên đúng là “danh bất hư truyền”. Thí dụ:

Chế độ dưỡng lão: người lao động về hưu được định kỳ lĩnh lương hưu đủ sống, người già yếu không tự lo liệu cuộc sống được thì có thể vào ở trong viện dưỡng lão của nhà nước, được hưởng sự chăm sóc y tế miễn phí, điều kiện sống tại đây tương đương với khách sạn 3 sao.

Chế độ bảo hiểm thất nghiệp: nếu người lao động thất nghiệp, họ được định kỳ lĩnh tiền cứu tế thất nghiệp, được các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước miễn phí giới thiệu việc làm trong phạm vi toàn quốc. Nếu nơi làm việc mới cách xa chỗ ở hiện nay, nhà nước có thể giúp một phần kinh phí dọn nhà.

Chế độ giáo dục: không những tất cả mọi người đều được đi học không mất tiền suốt đời mà luật pháp còn qui định, từ nhà trẻ cho đến bậc trung học, nếu trong lớp có một học sinh người nước ngoài, thì nhà trường phải bố trí một giáo viên biết tiếng mẹ đẻ của em đó (dĩ nhiên đều là giáo viên kiêm nhiệm), mỗi tháng phải lên lớp một số giờ nhất định bằng tiếng mẹ đẻ cho em này. Ở bậc đại học, từ lúc vào học cho đến lúc tốt nghiệp, tuy có qui ước số năm học nhất định nhưng pháp luật qui định, nếu học sinh nào tốt nghiệp rồi mà chưa tìm được công việc thích hợp và không muốn rời nhà trường thì có thể tiếp tục học tập miễn phí. Các bạn Thụy Điển cho biết, hiện nay hầu như ở trường nào cũng có những sinh viên lớn tuổi đã học 7-8 năm hoặc hơn trong trường.

Chế độ sinh đẻ: phụ nữ sinh con được nghỉ đẻ 18 tháng có lương (12 tháng đầu hưởng 100% lương, 6 tháng cuối hưởng 90%). Nếu đến tháng thứ 18 lại có thai, sẽ tiếp tục được nghỉ tiếp hưởng 90% lương cho đến khi đứa trẻ ra đời lại được hưởng chế độ nghỉ đẻ 18 tháng. Ngoài ra, nếu người vợ làm công việc tương đối quan trọng không thể hoặc không muốn nghỉ ở nhà quá lâu như vậy, thì hai vợ chồng có thể bàn bạc để chồng có thể nghỉ thay vợ.

Chế độ nhà tù: người bị giam giữ hoặc tội phạm đang lĩnh án được nhà nước nuôi ăn ở không mất tiền, ngoài ra, mỗi tháng còn được lĩnh một khoản tiền mặt trợ cấp tuy không lớn nhưng cũng không phải là nhỏ lắm. Nhờ các khoản phúc lợi xã hội nói trên, đời sống cơ bản của mỗi người dân trong bất kỳ tình huống nào đều có sự bảo đảm cần thiết. Vì thế bộ mặt xã hội nói chung là tốt đẹp, cuộc sống yên bình, trật tự nền nếp, thực là có cái cảnh “ra đường không sợ mất cắp, đêm nằm không phải đóng cửa”. Các cán bộ sứ quán Trung Quốc ở đây cho biết, mấy chục năm qua họ rất ít khi bị mất cắp.

“Dĩ nhiên sự việc nào cũng có hai mặt. Qua một số điều chúng tôi đã tiếp xúc hoặc nghe kể, chế độ phúc lợi suốt đời nói trên của Thụy Điển ít nhất cũng tồn tại các vấn đề và mâu thuẫn trên hai mặt sau.

Thứ nhất, chế độ phúc lợi cao này là dựa vào chế độ thu thuế cao. Do thu thuế cao nên thu nhập tài chính nhà nước của Thụy Điển chiếm gần 60% GDP, mức cao nhất thế giới. Nghĩa là gần 3/5 của cải toàn xã hội bị nhà nước tập trung vào tay mình, tỷ lệ để lại cho các doanh nghiệp và người dân quá nhỏ, trên mức độ nhất định tất sẽ ảnh hưởng tới tính tích cực của doanh nghiệp và người lao động. Đặc biệt là thuế suất luỹ tiến của thuế thu nhập, bậc cao nhất từng dùng thuế suất trên 80% (nay vẫn trên 70%), nghĩa là gần hết số tiền mà người lao động vất vả kiếm được lại không được hưởng. Điều đó dẫn đến trường hợp khi doanh nghiệp hoặc đơn vị cần hoàn thành một công việc cần kíp thì ngoài 8 giờ làm việc ra, người lao động nói chung đều không muốn làm ngoài giờ, vì thu nhập làm thêm mình chẳng được hưởng bao nhiêu. Bất mãn nhất là những người có thu nhập cao. Thập kỷ 80, một danh thủ quần vợt nổi tiếng thế giới người Thụy Điển chỉ vì bất mãn với thuế suất quá cao của nước này đã bỏ sang Anh định cư.

Thứ hai, chế độ phúc lợi cao rất dễ bị một số người lợi dụng kiếm chác những khoản lợi ích họ không đáng được hưởng. Trong thời gian thăm Thụy Điển, khi đến một gia đình công nhân được gọi là có thu nhập thấp nhất, chúng tôi đã phát hiện vấn đề đó. Gia đình này có 4 cô con gái rồi, nhưng bà chủ lại có thai tiếp. Cảm thấy rất kỳ lạ, chúng tôi hỏi ông chủ tại sao đẻ nhiều như vậy. Ông trả lời: tôi đã tính toán từ lâu, thấy để vợ ở nhà đẻ con là có lợi nhất. Chẳng những bà ấy được nghỉ một năm rưỡi có lương, mà khi hết thời hạn đó lại có thai nữa thì tiếp tục được nghỉ ở nhà vẫn có lương, nghĩa là bà ấy được nghỉ phép dài hạn ở nhà cai quản công việc nội trợ phức tạp. Hơn nữa, chính phủ còn khuyến khích sinh đẻ, ai có nhiều con thì được hưởng chế độ trợ cấp luỹ tiến; cứ thêm một con thì hàng tháng được trợ cấp thêm ít nhất 1.000 cuaron, lại không phải đóng thuế thu nhập, như thế rõ ràng làm tăng thu nhập của nhà tôi. Khi chúng tôi hỏi: như thế, ông có bị thiệt hại gì không? Mới đầu ông ta bảo không, nhưng sau một lúc suy nghĩ, lại bảo là cũng có thiệt ở chỗ không thể đi du lịch xa, vì vợ con lóc nhóc đông quá đi xa rất bất tiện … Câu chuyện này cho thấy, chế độ phúc lợi xã hội quá cao quá nhiều của Thụy Điển cũng cần thiết phải điều chỉnh, cải tiến hợp lý.

Về công bằng xã hội ở Thụy Điển

Báo cáo Khảo sát viết: “Qua nhiều thực tế chúng tôi đã tìm hiểu và tiếp xúc trong quá trình khảo sát, có thể nói xã hội Thụy Điển tương đối công bằng. Tuy không thể nói Thụy Điển hoàn toàn không có chế độ đặc quyền đẳng cấp, lối sống không lành mạnh và hiện tượng tham nhũng thường thấy ở nhiều nước khác, nhưng qua tai nghe mắt thấy thì các hiện tượng đó đúng là không nhiều. Tại sao xã hội Thụy Điển có thể thực hiện được tương đối công bằng? Chủ yếu là do:

“(1). Có chế độ pháp luật hoàn thiện, có thể hạn chế một cách hữu hiệu sự nảy sinh các hiện tượng bất công xã hội. Thí dụ, pháp luật quy định rõ: trừ Quốc vương ra, bất cứ ai, kể cả Thủ tướng, khi ra ngoài đều không được mang theo nhân viên bảo vệ. Chính vì thế mà Thủ tướng Thụy Điển kiêm Chủ tịch đảng XHDC nước này là ông Ô-lôp Pan-mơ [Olof Palme, 1927-1986] đã bị ám sát. Hôm đó, vào cuối năm 1986 (không lâu trước ngày chúng tôi thăm Thụy Điển), sau giờ làm việc, ông Pan-mơ cùng vợ đi tầu điện ngầm đến xem phim ở một rạp chiếu bóng trong khu phố đông vui nhất thủ đô Xtốc-khôm [Stockholm]. Xem phim xong, hai người ra về, khi đang đi bộ trên đường phố, sắp đến một ga tầu điện ngầm thì ông Pan-mơ bị một kẻ lạ mặt bắn chết; nghe nói cho tới nay vẫn chưa tìm ra hung thủ. Sau vụ này, Thụy Điển mới sửa đổi luật, quy định Thủ tướng khi ra ngoài cũng có thể mang theo nhân viên bảo vệ. Khi chúng tôi đến thăm chỗ ông bị ám sát, vẫn còn thấy vết máu trên đường, thỉnh thoảng có người mang hoa đến đặt lên chỗ có vết máu tỏ lòng thương tiếc.
“Luật pháp cũng ghi rõ: trong cả nước, chỉ một số rất ít cấp lãnh đạo như Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng mới được nhà nước cấp ô tô công vụ, còn tất cả các quan chức khác chỉ được đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng hoặc xe tư của mình. Quy định trên không những giảm rõ rệt biên chế nhân viên cơ quan nhà nước và chi phí, mà còn ngăn chặn được tình trạng lợi dụng xe công làm việc tư, cũng như các tác phong không lành mạnh khác.
“Pháp luật còn quy định rõ: trong công việc giao thiệp với khách nước ngoài, người lãnh đạo ở cấp nào thì được nhận quà tặng trị giá bao nhiêu. Chúng tôi đã có một lần tự mình thấy rõ điều này. Năm 1985, lần đầu tiên tôi theo Đoàn Cải cách cơ chế đến Thụy Điển khảo sát, đơn vị đón tiếp chính về phía bạn là Bộ Công nghiệp. Trong buổi làm việc với bà Bộ trưởng Bộ này, chúng tôi có tặng bà một đôi bình hoa nhỏ Cảnh-Thái-Lam cao khoảng 7-8 tấc Anh, sản xuất tại Bắc Kinh, để làm kỷ niệm. Sau khi mở hộp giấy bọc và xem món quà, bà kinh ngạc khen: Đẹp quá! Nhưng rồi bà lại thở dài: Rất tiếc là tôi không được mang món quà này về nhà. Lúc đó chúng tôi đều không hiểu tại sao bà lại nói thế. Khi ra về, tôi có hỏi một cán bộ Sứ quán Trung Quốc cùng dự buổi tiếp hôm ấy, mới biết luật pháp Thụy Điển có quy định, lãnh đạo cấp Bộ trưởng trong hoạt động ngoại giao chỉ được nhận quà biếu có giá trị lớn nhất không quá 1.500 cuaron (khoảng 180 đôla Mỹ). Loại bình hoa chúng tôi biếu, ở Bắc Kinh thì không đáng bao nhiêu tiền, nhưng ở Thụy Điển thì ước tính có thể hơn 1.500 cuaron. Do đó bà Bộ trưởng không thể mang về nhà, mà chỉ có thể để ở phòng làm việc. Bao giờ mãn nhiệm, giả thử tân Bộ trưởng đến có nói món quà này nếu bà thích thì lấy đi; lúc đó mới có thể đem về nhà mình.

“(2). Dư luận giám sát công khai, là biện pháp hạn chế mạnh mẽ sự phát sinh và lan tràn các hiện tượng bất công xã hội. Về mặt này, năm 1988, khi chúng tôi đến Thụy Điển và Áo [Austria] khảo sát, ở cả hai nước đều gặp những chuyện cụ thể. Chúng tôi tới Thụy Điển đúng vào lúc cô con gái của một vị Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đảng XHDC Thụy Điển (tương đương Uỷ viên Bộ Chính trị ĐCSTQ) và là Chủ tịch Công đoàn toàn quốc, có chuyện rắc rối: báo chí tố giác cô này chưa đủ tiêu chuẩn được phân phối nhà nhưng vẫn được chia nhà, và phê phán ông Chủ tịch Công đoàn lợi dụng đặc quyền đảng XHDC đang nắm chính quyền để tư lợi. Vì vấn đề này, đảng XHDC đã tổ chức một cuộc họp báo để công khai giải thích và tỏ thái độ. Trong họp báo, ông Chủ tịch Công đoàn tuyên bố: việc này ông không được biết trước, là do con gái ông tự làm; dĩ nhiên, ông có trách nhiệm là giáo dục con chưa nghiêm, ông nhất định sẽ đôn đốc con gái trả lại nhà nước căn nhà này, và sẵn sàng nhận sự phán xử của luật pháp. Sau đó, vụ tai tiếng này mới chìm xuống.”

Về vấn đề địa vị trong xã hội của chính đảng và của người lãnh đạo

Vấn đề này được Báo cáo Khảo sát dành riêng một đoạn viết về những gì đã tìm hiểu khảo sát được: “Cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các chính đảng và nguy cơ sống còn của đảng đã buộc lãnh đạo các cấp và tầng lớp công chức phải đối xử với quần chúng nhân dân bằng một thái độ bình đẳng và giải quyết các công việc xã hội theo nguyên tắc công bằng. Về chính trị, Thụy Điển thực hành cái gọi là chế độ dân chủ kiểu phương Tây, các chính đảng cạnh tranh với nhau rất gay gắt, lá phiếu bầu của quần chúng quyết định đảng nào được lên vũ đài chính trị nắm chính quyền, sự sống còn của đảng trên một mức độ lớn cũng phụ thuộc vào lá phiếu bầu cử của nhân dân. Nhà nước không cấp kinh phí vô điều kiện cho các chính đảng, nguồn kinh phí hoạt động của các đảng phải trông vào đảng phí của đảng viên nộp và các nguồn tự gây quỹ, phần khá lớn nữa là kinh phí chính phủ cấp dựa vào số lượng nghị sĩ của đảng trong Quốc hội. Đảng nào không nhận được nhiều phiếu bầu của quần chúng thì không vào được Quốc hội, do đó không có khoản kinh phí nói trên, như vậy sẽ rất khó tồn tại lâu dài.

Bởi lẽ đó, dù là nguyện vọng chủ quan thế nào đi nữa, trong mọi hoạt động, đảng XHDC Thụy Điển đều bắt buộc phải luôn giữ cho mình một hình ảnh giầu mà không xa xỉ, bình đẳng đối xử với quần chúng, bảo đảm công bằng xã hội. Thí dụ: tuy đảng XHDC Thụy Điển đã nhiều lần nắm chính quyền và một lần nắm chính quyền liền 44 năm, nhưng vào cuối thập kỷ 1980 khi chúng tôi đến đây khảo sát, cơ quan trung ương đảng của họ vẫn chỉ có 50-60 nhân viên công tác. Tỉnh uỷ tỉnh Goteborg chỉ có 5~6 người. Khi chúng tôi đến làm việc với họ, chỉ thấy một cán bộ làm tất cả mọi việc, từ giới thiệu tình hình, toạ đàm trao đổi ý kiến, dẫn đi tham quan các nơi, hướng dẫn du lịch, và cả việc lái xe nữa. Họ cho biết, tỉnh uỷ Goteborg có 3~400 chi bộ phân tán trong các cộng đồng phường xã (vì pháp luật quy định không được tổ chức chi bộ đảng trong các doanh nghiệp và cơ quan đơn vị), mỗi tháng ít nhất tỉnh uỷ phải đến mỗi cơ sở một lần để tìm hiểu nắm tình hình, chỉ đạo công tác và truyền đạt chỉ thị của cấp trên; do đó công tác của họ rất bận.

Năm 1985, khi tôi theo Đoàn Cải cách cơ chế thăm Thụy Điển lần đầu, hôm đến Goteborg đúng vào Chủ nhật, Chủ tịch tỉnh và Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh cùng tổ chức chiêu đãi chúng tôi trong một pháo đài trên núi gần biên giới với Na-uy. Phòng tiệc bày biện sang trọng nhưng ăn uống rất đơn giản. Sau bữa ăn, họ mời ra quảng trường ngoài pháo đài nghe một đoàn nhạc giao hưởng vừa từ Moskva trở về biểu diễn. Khách nghe nhạc, từ toàn đoàn chúng tôi cho tới Chủ tịch tỉnh và Chủ tịch HĐND tỉnh, tất cả đều không có chỗ ngồi, mà cùng đứng chung với khách du lịch suốt hơn một giờ. Trên đường về thành phố, khi ô tô chúng tôi sắp lên phà qua sông, bỗng một chiếc xe phía trước không nổ được máy. Lúc đó, Chủ tịch HĐND ngồi bên cửa xe (ông này thọt chân) và Chủ tịch tỉnh lẳng lặng xuống xe trước tiên, cùng mọi người đẩy xe cho tới lúc xe nổ máy được mới thôi. Cảnh này thật làm mọi người cảm động.

“Nguyên tắc công bằng xã hội nói trên của các bạn Thụy Điển không những chỉ thể hiện trong việc giải quyết các công việc trong nước, mà đối với các bạn nước ngoài cũng vậy. Lần đi Thụy Điển năm 1988, hôm tới Xtốc-khôm đúng vào hai ngày nghỉ cuối tuần, vì không bố trí được phòng trọ cho chúng tôi trong thành phố, họ đưa chúng tôi đến trọ tại nhà nghỉ của một công đoàn trên hòn đảo ngoài biển gần đấy. Xung quanh nhà nghỉ là cánh đồng tuyết, khu nhà nghỉ không có tường bao cũng chẳng có người bảo vệ, rất ít nhân viên phục vụ. Mỗi người chúng tôi được bố trí ở trong một căn phòng khoảng chục mét vuông, kể cả trưởng đoàn cũng vậy, tuy có được thêm một phòng khách cũng nhỏ như thế, chỉ vừa đủ chỗ kê mấy chiếc ghế xô pha. Nghe nói đây là căn phòng ông Các-xơn (Carsson), đương kim Chủ tịch đảng XHDC và Thủ tướng chính phủ Thụy Điển, thường đến nghỉ. Hết hai ngày cuối tuần, họ đưa chúng tôi về thành phố, bố trí trọ tại một khách sạn vừa không đồ sộ, thiết bị lại vừa chưa đạt tiêu chuẩn khách sạn ba sao ở Trung Quốc. Trưởng đoàn chúng tôi cũng không được đặc cách ở phòng sang hơn, mà cũng chỉ ở một phòng tiêu chuẩn như mọi đoàn viên.

“Những người lãnh đạo Thụy Điển rất chú ý giữ gìn hình ảnh công bằng xã hội tốt đẹp nói trên, khi họ còn sống cũng như khi giải quyết việc tang lễ cho người lãnh đạo. Như ông Pan-mơ bị ám sát năm 1988, sinh thời ông vừa là Thủ tướng và Chủ tịch đảng XHDC Thụy Điển, mà còn là Chủ tịch Quốc tế của các đảng Xã hội, có ảnh hưởng lớn trên thế giới và ở châu Âu, có uy tín cao trong nước, cống hiến đối với đảng và với nước đều không nhỏ. Nhưng sau khi ông qua đời, người ta không dựng nhà kỷ niệm hoặc bia kỷ niệm ông, cũng không xây cất cho ông một ngôi mộ sang trọng, mà chỉ mai táng tro xương ông trong một nghĩa trang công cộng phía sau nhà thờ gần dãy phố nơi ông bị ám sát. Ngôi mộ ông là một khối hình hộp bằng đá cẩm thạch màu đen, diện tích khoảng 4 mét vuông, trên dựng một phiến đá cao chừng 1 mét có chữ ký của Pan-mơ. Nghe nói phiến đá này trước đây ở quê ông, mỗi lần về quê vận động tranh cử, Pan-mơ đều đứng trên phiến đá này để diễn thuyết, nên người ta mang nó về đây để làm kỷ niệm.”

Phần trích dẫn Báo cáo khảo sát đến đây xin dừng lại, chủ yếu dùng cách sao chép. Theo tôi nghĩ, phần trích dẫn trên đã đưa ra một phác thảo khái quát để bạn đọc có thể hiểu được tình phong trào xã hội dân chủ Thụy Điển cùng các thành tựu đạt được.

Cảm tưởng sau khi đọc Báo cáo Khảo sát

Trước hết, ta nên nhắc lại những nguyện vọng của Ăng-ghen gửi gắm vào phong trào xã hội chủ nghĩa trong mấy năm cuối đời ông. Dĩ nhiên, Ăng-ghen không thể thấy trước những tình hình mới sau khi chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, càng không thể dự kiến được việc Thế chiến I đã làm cho trọng điểm phong trào XHCN chuyển từ Tây Âu đến nước Nga và phương Đông lạc hậu về kinh tế. Sau Cách mạng Tháng Muời Nga, nhiều người đặt hy vọng vào cách mạng XHCN ở Tây Âu. Khi làn sóng cách mạng đó bị lắng xuống, vấn đề cách mạng XHCN của các nước tư bản Tây Âu nên đi con đường nào lại trở nên một vấn đề thời sự. Phong trào không thể dừng lại, nhưng rõ ràng, đường lối thì có khác với đường lối của Cách mạng Tháng Muời Nga.

Chúng ta có đầy đủ lý do để nhớ lại một sách lược quan trọng do Ăng-ghen đề ra năm 1894 — cho rằng giai cấp công nhân nên “sử dụng quyền bầu cử làm một vũ khí mới của giai cấp công nhân” và nhấn mạnh “giành quyền bầu cử, giành dân chủ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của giai cấp vô sản chiến đấu” — sách lược này vẫn thích hợp với nhu cầu của giai cấp công nhân đang chiến đấu trong các nước tư bản Tây Âu thời kỳ sau Thế chiến I. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Muời Nga, trên thế giới hình thành sự đối lập gay gắt giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình đó, dĩ nhiên các đảng XHDC ở các nước tư bản sẽ gặp nhiều trắc trở phức tạp trong quá trình vận dụng sách lược đó; điểm này tôi đã trình bày ở phần trên. Thế nhưng, phong trào chủ nghĩa xã hội dân chủ ở Thụy Điển cùng các thành tựu của nó — như Báo cáo Khảo sát đã giới thiệu với chúng ta — ít nhất cũng cho thấy việc vận dụng sách lược nói trên vào các nước tư bản Tây Âu không phải là không thu được thành tích nào. Do đó, giờ đây ngoài việc quan tâm đến những kinh nghiệm tự thân về CNXH mà chúng ta thu được (gồm kiểm tra, tổng kết và cải cách tự thân), đồng thời ta cũng nên có thái độ khoa học, khiêm tốn khảo sát tình hình phong trào XHCN phương Tây cùng các thành quả của nó (gồm cả thất bại và thành công). Hai loại kinh nghiệm này, do tình hình mỗi nước và điều kiện lịch sử khác nhau, cố nhiên có những cái không thể so sánh được, song cũng có một số điểm nào đó có thể so sánh được hoặc có thể tham chiếu được.

Về vấn đề này, thực ra bản thân Báo cáo Khảo sát đã ghi chép lại các suy nghĩ và cảm tưởng của người khảo sát. Nay xin trích dẫn như sau: 
“Qua chuyến thăm này, chúng tôi đã hiểu biết tương đối nhiều và tương đối sâu về tình hình của đảng XHDC Thụy Điển (và đảng Xã hội Áo), mọi người đều cảm thấy thu hoạch rất lớn. Thế nhưng, rốt cuộc thì CNXH kiểu Thụy Điển và CNXH kiểu Liên Xô có gì giống nhau và khác nhau? Rốt cuộc nên phân tích và nhận thức như thế nào về mối quan hệ giữa Quốc tế II với Quốc tế III, giữa chủ nghĩa xét lại với chủ nghĩa Lê-nin, và giữa đảng Xã hội kiểu Thụy Điển với đảng Cộng sản kiểu Liên Xô, thì chúng tôi cảm thấy có chút khó hiểu. Bởi thế, hồi đó, sau khi thăm Thụy Điển, trên đường về nước nhân ghé qua Paris, chúng tôi đã tổ chức một cuộc toạ đàm, có mời vài đồng chí trong đại sứ quán Trung Quốc tại Pháp cùng dự. Từ các phát biểu trong và ngoài toạ đàm, có thể nhận thấy có hai loại cách nói và cảm tưởng đối với các vấn đề nêu trên. Thật bất ngờ, hai loại ý kiến này không hẹn mà lại trùng hợp nhau; cho đến nay tôi vẫn cho rằng đó là những ý kiến rất đáng để chúng ta suy nghĩ sâu sắc và tham khảo.

“Một loại cảm tưởng cho rằng, đường lối cách mạng, phương châm và phương pháp cách mạng mà lý luận của Quốc tế II và lý luận của Quốc tế III cũng như đảng Xã hội kiểu Thụy Điển và đảng Cộng sản kiểu Liên Xô đã tuân theo, đều là đúng, hoặc là có lý lẽ cả; sự khác biệt giữa hai bên chủ yếu là do tình hình trong nước của mỗi bên không giống nhau.

Quốc tế II và đảng Xã hội về cơ bản đại diện cho các nước tương đối phát triển về xã hội và kinh tế thời đó. Các nước này đã xây dựng được chế độ bầu cử dân chủ; mỗi chính đảng đều có thể qua bầu cử mà nắm được đa số trong nghị viện, rồi quá độ hoà bình lên nắm chính quyền, từ đó thực thi cương lĩnh và chính sách của đảng mình. Sau thập kỷ 20 thế kỷ XX, đảng Xã hội (hoặc đảng Xã hội dân chủ, Công đảng) ở phần lớn các nước châu Âu đều lên nắm chính quyền thông qua hình thức bầu cử dân chủ, thậm chí nắm chính quyền khá lâu, và thực thi các loại chính sách cải cách xã hội; tác dụng của các đảng này trong việc thúc đẩy sự cải lương và phát triển kinh tế xã hội thậm chí cả chế độ chính trị ở các nước đó, là không thể bỏ qua, và là sự chứng minh hùng hồn nhất.

Quốc tế III và đảng Cộng sản về cơ bản đại diện cho một số nước kinh tế xã hội tương đối lạc hậu hồi đó. Những nước này không những chưa xây dựng được chế độ bầu cử dân chủ, mà hơn nữa, bọn phản động nắm chính quyền được vũ trang tận răng lại có quyền tự do đàn áp các lực lượng cách mạng. Tại các nước này, nếu không tiến hành đấu tranh vũ trang thì không thể nào lật đổ được ách thống trị của bọn phản động, không thể giành được chính quyền, củng cố chính quyền và thực thi cương lĩnh và chính sách XHCN. Nhưng đối với các nước đó, về tư tưởng chỉ đạo, có một điểm cần phải làm hết sức rõ: biện pháp đấu tranh vũ trang để cướp chính quyền chỉ có tác dụng “bà đỡ” đối với CNXH; đánh giá theo tiêu chuẩn và yêu cầu của CNXH Mác-xít thì trên thực tế các nước này lại chưa “đạt yêu cầu” trên hai mặt cực kỳ quan trọng sau đây:  (1) CNXH yêu cầu phát triển cao độ trình độ sức sản xuất;  (2) CNXH yêu cầu phải có nền pháp chế dân chủ hoàn thiện. Bởi vậy sau khi chính quyền XHCN ra đời dưới sự “đỡ đẻ” của biện pháp đấu tranh vũ trang, phải hạ quyết tâm tranh thủ “học bù” hai bài học này (đây chính là nguyên nhân Trung Quốc tự xác định mình còn đang ở trong “giai đoạn sơ cấp của CNXH”; nhiệm vụ của giai đoạn này là để “học bù” hai bài học nói trên, nhằm chuẩn bị điều kiện xây dựng thành công CNXH thực sự — ghi chú của Ngô Giang).

Nếu có thể nhận thức như vậy về vấn đề này, thì sau khi cách mạng thành công, xây dựng được chính quyền mới rồi, trừ phi đất nước bị xâm lược, nếu không, phải tranh thủ thời cơ tập trung lực lượng học thật nhanh thật tốt hai bài “học bù” này, dựa vào tính ưu việt của chế độ XHCN sẽ có khả năng nhanh chóng đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đuổi kịp trình độ của các nước phát triển, xây dựng thành công CNXH thật sự. Nếu không nhận thức vấn đề như vậy, mà cứ chủ quan cho rằng chỉ cần qua đấu tranh vũ trang xây dựng chính quyền mới thì mình đã là một nước XHCN “đủ tiêu chuẩn” rồi; ai không đồng ý với ý kiến đó, hoặc tỏ ý nghi ngờ gì, thì thẳng tay kiên quyết loại bỏ, đả kích thậm chí đàn áp họ. Như vậy không những rất khó xây dựng thành công CNXH “đủ tiêu chuẩn” thật sự, hơn thế còn có thể trở thành một thứ chủ nghĩa cực quyền kiểu phong kiến nửa phong kiến, như Liên Xô thời kỳ Stalin trước đây. Cuối cùng, không những không xây dựng thành công CNXH chân chính, mà còn bị quảng đại quần chúng và cán bộ phản đối, thậm chí vứt bỏ.

Một loại cảm tưởng khác cho rằng, mối quan hệ giữa Quốc tế III với Quốc tế II, giữa đảng Cộng sản kiểu Liên Xô với đảng Xã hội kiểu Thụy Điển thì giống như mối quan hệ giữa đạo Thiên chúa với đạo Tin lành,[10] “tổ tiên” của cả hai đều là một nhà. Chẳng qua, Quốc tế III và đảng Cộng sản kiểu Liên Xô chủ trương kiên trì tiến hành mọi cái theo nguyên văn lời của “tổ tiên” không sai một chữ (cách nói này có thể bàn lại: làm cách mạng XHCN tại các nước kinh tế lạc hậu thực ra đúng là không theo nguyên văn lời của “tổ tiên”; cái gọi là khuynh hướng thuyết độc tôn giáo lý cơ bản[11] thì thể hiện ở một mặt khác. — Ghi chú của Ngô Giang), không được vượt qua, có chút giống như thuyết độc tôn giáo lý cơ bản người ta thường nói. Còn Quốc tế II và đảng Xã hội kiểu Thụy Điển thì chủ trương tiến cùng thời đại, căn cứ theo sự phát triển của thời đại và sự biến đổi của xã hội mà không ngừng cải cách đổi mới, nhằm tạo thuận lợi cho việc mở rộng và thực thi ảnh hưởng và chủ trương của lý luận do “tổ tiên” đề xướng, từ đó giành được thắng lợi lớn hơn.”
Ngày nay, xem ra hai mô hình tiến lên chủ nghĩa xã hội nói trên đều có tính tất nhiên và tính chính đáng lịch sử. Còn nói về việc nhìn nhận hai mô hình đó và mối quan hệ giữa chúng với nhau, thì đây là một vấn đề nên xem xét thận trọng và nghiên cứu kỹ. Mong rằng trên vấn đề này sẽ nhận được nhiều cao kiến của các bạn đọc.


Ngô Giang (TQ)

----------

Nguồn: Khảo sát về chủ nghĩa xã hội kiểu Thụy Điển: Nhân đọc “Một bản báo cáo khảo sát đến muộn”, Chủ nghĩa Mác và Hiện thực số tháng 3/2002, Tạp chí hai tháng một kỳ, tiếng Trung Quốc. Cơ quan chủ trì tạp chí: Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ.

Tác giả Ngô Giang là giáo sư, nguyên Viện trưởng Học viện Chủ nghĩa xã hội Trung ương, thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Báo cáo mà tác giả đề cập là của Dương Khải Tiên, được viết sau chuyến khảo sát Thụy Điển hồi những năm 1980, khi Liên Xô còn đang vững mạnh.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch và làm toàn bộ các chú thích ở cuối trang và trong ngoặc.

----------

[7] Ferdinand Lassalle (1825-1864), người Đức, nhà văn, người tuyên truyền cổ động cho công nhân, thuộc giai cấp tiểu tư sản; tham gia Cách mạng 1848-1849, quen biết Mác và Ang-ghen từ đó (trao đổi thư từ cho đến 1862); thành lập Hội Công nhân toàn Đức (1863) và là Chủ tịch Hội, bằng việc đó, ông đã đáp ứng nguyện vọng của các công nhân tiến bộ muốn tách khỏi giai cấp tư sản tự do về mặt tổ chức. Hệ tư tưởng “CNXH nhà nước quân chủ Phổ” đã dẫn Lassalle tới chỗ liên minh với Bismarck, do đó bị Mác phê phán. ( theo Sđd3).
[8] Năm 2001, thành phần tư nhân chiếm 90% giá trị sản xuất công nghiệp (theo Sđd2).

[9] Số liệu năm 1992 : 10% số người có thu nhập thấp nhất chiếm 3,7% tổng thu nhập toàn quốc, 10% số người có thu nhập cao nhất chiếm  20,1%. Nghĩa là chênh lệch giầu nghèo khá nhỏ so với các nước khác : chỉ số này ở Pháp là 2,5 và 24,9% (1989); ở Mỹ là 1,5 và 28,5% (1994); ở Trung quốc là 2,2 và 30,9% (1995). (theo Sđd2).

[10] Nguyên văn chữ Hán là Ki Tô Giáo. Chú ý:  Trung quốc quen dùng Ki Tô Giáo để chỉ Tân Giáo (tức đạo Tin lành, tiếng Anh là Protestantism). Đạo Thiên chúa (còn gọi Công giáo): Roman Catholic.

[11] Fundamentalism (chủ nghĩa tin theo các ghi chép trong Kinh Thánh, phủ định Thuyết Tiến hoá và các học thuyết hiện đại khác). TQ dịch là chủ nghĩa cơ yếu hoặc chủ nghĩa nguyên giáo chỉ.

Sunday, June 7, 2015

Giúp đỡ

Hãy luôn suy nghĩ cẩn thận
trước khi giúp đỡ một ai đó!



Ly cà phê và triết lý về con người

Sự khác biệt lớn giữa dân ghiền cà phê và dân uống trà là gì? "Cà phê và trà minh họa cho hai tầm nhìn triết học khác nhau," theo triết gia David Berman. "Trà gợi nhớ tới triết học phương Đông, theo đó mọi vật đều đan xen, kết nối với nhau. Ngược lại, cà phê được định hình bởi thành phần cốt yếu duy nhất tách rời các vị khác, một ẩn dụ thích hợp cho xu thế phương Tây phân làn ranh giới giữa thân thể và tâm linh." http://bbc.in/1FA7Ang Link xem bản mobile http://bbc.in/1KTctyw
Bạn có đồng ý với nhận xét trên không?

Liệu cà phê sâu sắc nhiều hơn mức người ta tưởng không? David Robson gặp và phỏng vấn một triết gia tin chắc như vậy và đang gắng sức dùng cà phê để thăm dò suy nghĩ của con người.

Nhấp cà phê mà tôi thấy tựa như đang nuốt một cục than hồng rực sắp lụi - có vị khói và nhuốm mùi crê-ô-zốt. Khi tập trung chú ý hơn nữa, tôi nhận thấy nó êm hơn, bề ngoài nhơn nhớt như che dấu một bề trong sắc bén hơn, như thể một lưỡi dao được bọc vải nhung.
Trong đời mình, tôi chưa bao giờ chú ý nhiều đến thế cho một ly cà phê. Tôi không chắc rằng tôi đã nắm được những điều bí mật về nó. Nhưng nếu tôi có biết được thì nó cũng chỉ cho là một khái niệm lờ mờ về một số trong những câu hỏi lớn trong cuộc sống.
Người hướng dẫn tôi trong nỗ lực tìm hiểu này là David Berman từ Trường Trinity Dublin, một triết gia dành nhiều thời gian để nghiên cứu những phức tạp trong cơ cấu bên trong và các giác quan của tâm trí con người. Nay ông quan tâm đến đồ uống ưa thích của mình và những câu hỏi sâu có thể ẩn náu ở đáy ly cà phê. Kết quả sẽ là một cuốn sách mới mang tên Triết lý Thưởng thức Cà phê.
Với một ly cà phê Americano đặc và mang tâm lý cởi mở đón nhận mọi thứ, tôi bảo ông hãy cho tôi biết một số suy nghĩ của ông. Và rồi cuộc chuyện trò diễn ra sau đó giúp tôi khám phá những giá trị của sự chiêm nghiệm cũng như lý do vì sao người thích cà phê lại rất khác những người uống trà.

Dân sành cà phê có thể tâm huyết cho món đồ uống này, nhưng thật ngạc nhiên khi có một triết gia lại dành thời gian suy nghĩ về chất lượng của cà phê. Hẳn là họ đã rất hao tâm tổn trí nghiên cứu triết lý của Plato và Hume chứ?
Tuy nhiên, với Berman thì đây lại là một bước đi rất đỗi tự nhiên. Một trong những điều ông quan tâm là cơ chế hoạt động bên trong của trí óc.
Con người ta thường có xu thế dùng ngôn từ để khái quát hóa thế giới, nhưng Berman và một số người khác thì cho rằng cách làm đó sẽ làm nhạt nhòa đi những cảm giác căn bản, khiến chúng ta không hiểu được một cách rõ ràng về sự hoạt động tinh tế của trí óc.
Ý tưởng này không chỉ bó hẹp trong triết học. Có bằng chứng cho thấy những thứ như ngôn ngữ quả thực có thể làm thay đổi nhận thức - một hiện tượng được gọi là “quá trình xử lý từ trên xuống”. Và cách mà các giác quan phối hợp với nhau để tạo ra ý thức con người thì đã được biết đến như “vấn đề hóc búa” trong ngành thần kinh học.
Do vậy, nếu bóc tách được các thứ này thì ta sẽ hiểu rõ hơn về bản thân và về thế giới nội tại.

“Nếu như bạn uống cà phê một cách nghiêm túc như tôi, mặc dù không cần thiết phải làm vậy, thì hãy cố gắng có được trải nghiệm trực tiếp,” ông giải thích. Ông nghĩ rằng cà phê là đặc biệt hiệu quả cho thử nghiệm này. “Khi uống cà phê, ta hấp thụ chất caffeine, trí óc được kích thích và trở nên nhạy bén hơn. Thần kinh của chúng ta sẽ không trong trạng thái lờ đờ mà sáng suốt, minh mẫn.”
Vậy tôi làm một nhấp và cố gắng cảm thụ hương vị cà phê.
Berman giải thích nghiên cứu của ông đã giúp ông hiểu biết về cà phê như thế nào. Tất cả các loại cà phê đều có một "nốt nhạc chung" bắt nguồn chỉ từ một loại dầu, đó là caffeol. “Nó chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ 0,5% của hạt cà phê.” ông nói, thế nhưng nếu không có nó thì ta không nhận ra cà phê nữa. Trái lại, ông nói, ở trà thì hoàn toàn không có “tinh chất trà”; trà được hình thành từ hợp chất, nhưng không một chất đơn lẻ nào là cốt yếu cả.

Sự khác biệt giữa trà và cà phê

Do vậy Berman cho rằng cà phê và trà minh họa cho hai tầm nhìn triết học khác nhau.

Trà là cái mà rất nhiều thành phần hương vị khác nhau bổ trợ lẫn nhau, ông nói, gợi nhớ tới triết học phương Đông là mọi vật đều đan xen, kết nối với nhau.
Ngược lại, cà phê được định hình bởi thành phần cốt yếu duy nhất là caffeol như đã nói ở trên, tách rời với các vị khác, mà có lẽ cũng là một ẩn dụ thích hợp cho xu thế phương Tây phân làn ranh giới giữa thân thể và tâm linh. Tôi có cảm giác rằng lý luận này của ông không phải ai cũng thấy thuyết phục.
Tuy nhiên thành phần đơn độc của cà phê có thể đánh lừa cảm giác. Khi nhấp một ngụm tôi cảm thấy hình như hương vị caffeol rõ nét đang kích hoạt lưỡi mình, nhưng đó chỉ là ảo giác. Để giải thích điều này, Berman bảo tôi bịt mũi lại và nhấp một ngụm khác. Tất cả còn lại với tôi chỉ là một thoáng mờ nhạt của hương vị lúc trước.
“Đó là một trong những điều ngạc nhiên ở cà phê,” ông nói. “Ta nghĩ rằng ta đang thưởng thức cà phê, nhưng nếu ta soi xét nội tâm, ta sẽ phát hiện ra rằng thực tế nó là một mùi được nhận biết sai lệch như một hương vị.”
Những người sành cà phê sẽ nói với ta rằng việc có một tố chất chính không ngăn cản được các nhân viên pha cà phê ở quán tạo ra nhiều loại cà phê khác nhau. Việc rang sơ qua sẽ làm cho acid của cà phê bóng đều, tạo ra thành phẩm trông “sáng hơn”.
Ngược lại, việc rang lâu hơn, thẫm mầu hơn, sẽ tích tụ proteins và enzymes mới phía trong hạt cà phê. Những hóa chất này cấu thành nên “phần chất” của cà phê; chúng làm cho cà phê đậm hơn, sánh hơn, và chúng chặn vị chua của acid.

Berman nói rằng trong nhiều thập niên gu uống cà phê được thay đổi dao động qua lại giữa chua, nhạt với đắng, đậm đặc.
Cà phê thời kỳ đầu là loại nguyên hạt được rang già, sau đó là làn sóng đầu tiên của loại cà phê sản xuất công nghiệp có vị chua hơn. Tiếp đến là làn sóng thứ hai, loại cà phê phục vụ trong các quán như Starbucks và Costa, cũng là sự trở lại với gu cà phê có vị đắng hơn, rồi tiếp nữa là làn sóng thứ ba với các quán pha chế lẻ, người ta lại thích loại cà phê ngả vị chua, có pha trộn vị thơm.
Berman cho rằng sự thay đổi qua lại giữa hai thái cực cho ta nhìn nhận một cách sâu sắc hơn về tính cách con người nói chung.
Ông ngờ rằng gu thích dùng cà phê đắng hoặc cà phê thơm thể hiện một “kiểu” nghĩ căn bản, tức là nếu ta đứng về một phe thì ta sẽ thấy rất khó để hiểu nổi quan điểm của phe kia. “Điều mà ta phát hiện ra trong các gu uống cà phê khác nhau cho thấy con người ta bất đồng với nhau đến đâu trong những vấn đề căn bản,” ông nói.
Cuộc chuyện trò của tôi với Berman chắc chắn sẽ cho tôi nhiều điều đáng để suy ngẫm. Khi uống đến tận giọt cà phê cuối cùng trong ly, tôi mới nhận ra rằng đã lâu lắm tôi mới tận hưởng một ly cà phê thú vị như vậy.
Ngay cả nếu ta không bị thuyết phục bởi giá trị triết học của cà phê thì có lẽ Berman cũng đã đưa một ý kiến hay về việc suy xét nội tâm con người.


Bài gốc tiếng Anh đã đăng trên BBC Future

Saturday, June 6, 2015

Việt Nam cần Mỹ?

Vì đang nghỉ hè không viết nhiều; tôi sẽ viết thêm tuần sau. Hôm nay chỉ muốn lại chia sẻ với các bạn rằng tôi vẫn còn rất ấn tượng với cả tình thần lẫn nội dung của những gì Bộ Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter đã phát biểu tại Sing và Việt Nam. Rất ấn tượng.
Hôm nay có bạn đọc gửi comment tranh cãi này:
Cứ hợp tác, liên minh với Mỹ là OK, nhỉ? Nhìn xem, Ukraine mất mẹ nó Crimea, Donbass nhờ hợp tác với Mỹ đấy. Bây giờ Ukraine có lấy lại Crimea, Donbass được không? Mỹ có thể ném vài quả hạt nhân vào Nga, để bắt Nga trả lại không? Nhìn Gruzia xem, mất mẹ nó Nam Ossetia và Afkhazia nhờ “hợp tác” với Mỹ đấy. Gruzia có thể lấy lại được hai vùng đất này không? Iraq đấy, bây giờ loạn hết cả lên, IS chiếm mẹ mất mấy Tỉnh rồi. Syria cũng như vậy, rối như canh hẹ, cũng bị IS chiếm mẹ mất gần nửa đất nước, chiến tranh liên miên … cũng là nhờ “hợp tác” với Mỹ đấy … Làm gì cũng vậy, các ông cứ ầm ầm, làm rối loạn hết cả lên, cứ vác bom đạn đi nện loạn cả lên … cứ như vậy thì chỉ chết những nước nhỏ thôi. Mấy nước nhỏ ở giữa chết chẹt. Còn mấy ông nước lớn thì có sao đâu. Chính nước Mỹ mới phải xem xét lại tất cả các chiến lược, chính sách can dự và “bình ổn” thiên hạ. Còn với cái kiểu làm ăn hiện nay của nước Mỹ, thì họ đi đến đâu là loạn, đánh nhau đến đấy.
Thứ vị! Rất nhiều khi tôi không đồng tình với những chính sách của Mỹ như Iraq v.v. NHƯNG, nghĩ ghĩ gì về những chuyện ngày xưa hay những sai lầm của Mỹ, có ai phủ nhận Bộ Quốc Phòng Mỹ đang đóng một vài trò hết sức cần thiết trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh tổ của đất nước Việt Nam? Có ai phủ nhận đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước, Việt Nam ngày nay không có đối tác chiến lược nào tốt hơn Mỹ?
Jonathan London

HỌC GIỎI ĐỂ... CHẾT

Xã hội , xét trên khía cạnh văn minh - phát triển , và giáo dục dường như song hành với nhau như hình với bóng. Nhìn vào xã hội để thấy toàn bộ giáo dục và soi vào giáo dục để nhìn ra phần lớn xã hội.

Trong một xã hội kém phát triển : nền sản xuất mang nặng tính chất nông nghiệp và tư duy kiểu tiểu nông , suy nghĩ phải học giỏi để thành đạt là một điều phổ biến và dễ hiểu. Người ta tìm cho mình 1 con đường thông thoáng và an toàn qua việc học giỏi để có bằng cấp - càng cao càng tốt , để thoát cảnh nghèo khổ.

Cách này tuy dài lâu và vất vả nhưng an toàn và nó gắn với cái gọi là comfort zone.

Với tư duy tiểu nông , không mấy ai nghĩ tới việc làm ra một cái gì đó hay và tốt để bán kiếm tiền và từ đó thoát khỏi cảnh nghèo khó. Cách làm này nhanh hơn nhưng chứa đựng nhiều rủi ro. Không có từ nào tốt hơn 2 từ risk-taking và risk-takers để miêu tả.

Cách 1 tạo ra những followers và employees.
Cách 2 tạo ra những leaders và employers.

Nền giáo dục đồng phục về kiến thức của chúng ta luôn cố gắng tạo ra những con người học giỏi và học rất giỏi. Từ bao lâu nay chúng ta thấy : muốn sánh vai với đời và sánh vai với các cường quốc năm châu thì chỉ có cách học... thật giỏi.

Và với cách đó thì mãi chúng ta cũng chả bao giờ theo kịp tư bản giầu có chứ nói gì tới việc sánh vai cùng " bọn chúng nó ". Việc học giỏi suốt bao năm nay của chúng ta hóa ra lại là đã và đang đâm đầu vào tường. Nghe vô lý và có vẻ joking quá.

Ấy vậy mà joking lại thường chứa đựng các sự thật đắng lòng : ở nước ta có những làng có tới cả ngàn tiến sỹ. Nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo. Với giả định rằng 1 ngàn ông bà TS này học giỏi... thật.

Chúng ta hãy nhìn vào các trường đại học hàng đầu Hoa Kỳ để mở rộng câu chuyện này của chúng ta.

Dân châu Á vốn nổi tiếng là học giỏi và kèn cựa nhau. Để vào được các đại học Hoa Kỳ họ không còn cách nào khác là học thật ... giỏi hơn hẳn thằng khác và hơn hẳn số đông theo kiểu siêu nhân : GPA cao chót vót ( 4.0 / 4.0 chứ chả chơi đối với người Mỹ gốc Á học phổ thông tại Mỹ ) ; SAT cao vô đối ; thành tích nghệ thuật và thể thao hoành tráng ; các loại giải thưởng và hoạt động ( cộng đồng và lãnh đạo ) ngập tràn...

Vậy mà họ vẫn bị các top schools từ chối.

Người Mỹ có lý do của họ để từ chối các cá nhân học giỏi tới mức... hoàn hảo này. Harvard thậm chí còn khẳng định là họ tìm kiếm sự đa dạng trong các lớp học của họ chứ không phải tìm kiếm các cá nhân học giỏi giống nhau. Họ ( Harvard và các top schools của Mỹ ) còn khẳng định là đây chính là nền tảng của sự thành công của họ. Học giỏi chưa chắc đã ... HAY và có ích.

Những người châu Á không nghĩ thế. Họ cho rằng học giỏi là siêu và có thể làm gì tùy thích nhờ học giỏi. Đúng là điều đó không sai nếu anh học giỏi để làm followers. Còn để dẫn dắt và sáng tạo thì ... còn xét.

Tại Harvard , Yale và Princeton..., tỉ lệ Asian - Americans hiện nay chiếm khoảng 20% . Một con số thấp nhất từ trước tới nay và thấp hơn rất nhiều so với cách đây 2 thập niên. Để vào được các top schools , người châu Á , kể cả gốc Á tại Mỹ phải cố gắng hơn rất nhiều so với học trò Mỹ da trắng và kể cả học trò Mỹ gốc ... Phi. 

Điều này nghe có vẻ sỉ nhục người châu Á quá. Và mới đây 1 học sinh người Mỹ gốc Trung Hoa đã làm xôn xao cả nước Mỹ khi thuê kiện các top schools trong đó có cả Harvard vì tội phân biệt chủng tộc trong việc xét duyệt các hồ sơ vào đó. Các cáo buộc có cả việc tố cáo Harvard và các top schools đặt ra quota đối với các học sinh châu Á và gốc Á.

Các trường top này vẫn giữ quan điểm củ họ và cuối cùng em học sinh học siêu giỏi gốc Á này đã vào Williams College và vẫn tiếp tục mong chờ Harvard thay đổi quan điểm và nhận cậu vào.

Harvard vẫn từ chối cậu.

Các nhà tư vấn ( tại Mỹ ) cho các học sinh châu Á đã có các thay đổi mạnh mẽ trong thời gian gần đây khi khuyên các học sinh bớt ... học giỏi đi. Họ nói : học sinh châu Á hãy bớt giỏi theo kiểu học trâu bò đi , hãy thể hiện khả năng biểu diễn sân khấu của mình ( cả âm nhạc và thuyết trình ) và hãy chơi các môn thể thao không phải là vợt đi ( hãy chơi đá bóng cho giỏi vào chẳng hạn ).

Các em hãy cho thấy sự khác biệt đi thay vì em nào cũng học giỏi giống nhau. Đã có thời 1 admission essay của học sinh châu Á gốc Việt với câu chuyện sống sót trên biển với 2 đô la trong túi và thoát khỏi miệng cá mập trên đường vượt biển sang Mỹ là 1 motif gây ấn tượng cực mạnh với các top schools của Mỹ. Theo thời gian , motif này trở thành 1 loại đồng phục được các em sử dụng cho bài luận của mình.

Từ khác biệt và ấn tượng , các em đã biến 1 chủ đề và motif trở thành đồng phục và nhàm chán.

Và người Mỹ rất không thích điều này.

Nếu bạn giống người khác cho dù là học siêu giỏi thì bạn vừa không còn là bạn ( chỉ cần có thế thôi là bạn đã có thể trở nên khác biệt và hay rồi ) mà còn cho thấy bạn thiếu hụt trầm trọng 2 điều sau :

1. Tố chất dẫn dắt ( liên quan tới tính sáng tạo và dám mạo hiểm cá nhân - mà tiếng Anh có 1 từ cực hay để miêu tả : Private Enterprise ) 

2. Khả năng lãnh đạo.

Chừng đó là đủ để ta thấy sự ... nguy hiểm và nguy hại của việc ... học giỏi kiểu trâu bò của người châu Á trong đó có người Việt chúng ta.

Trong mặt nước của cái ao làng và đáy giếng , vầng trăng nào dường như cũng sáng.


Nguyễn Tuấn Hải

Bạn có thể

Bạn có thể bị mất bất cứ thứ gì:
tài sản, sự yên bình, sự kiên nhẫn
đức tin, gia đình, cuộc đời...
Có một thứ duy nhất không ai
có thể lấy đi của bạn, và bạn cũng
không thể đánh mất nó: đó là cái
 mà bạn đã cho, tặng người khác.