Thursday, May 13, 2021

Đại tướng: Vinh quang ko thể xoá mờ

 ĐIỀU GÌ ĐẶC BIỆT Ở TƯỚNG GIÁP?

Hãy bắt đầu bằng một câu chuyện nhỏ trong đám tang của đại tướng. Khi VTV1 tường thuật trực tiếp đám tang hôm ấy. Họ đã mời hai nhà sử học tới cùng bàn luận. Một trong những câu chuyện được kể lại hôm đó, tôi vẫn nhớ, là câu chuyện này:

“Một hôm, giữa rừng Trường Sơn. Những người lính nghe được một tin đồn là tướng Giáp đã bị bom Mỹ giết. Thế là, cả binh đoàn bật khóc. Những người chỉ huy nghe tin, vội đến để trấn an tinh thần binh sĩ, rằng đó chỉ là tin đồn nhảm. Chuyện sau này được kể lại với tướng Giáp theo cách của một câu chuyện cười. Nhưng tướng Giáp lại không cười. Ông rưng rưng, và hỏi lại “Anh em phản ứng như thế thật à?”

Câu nói chân phương ấy đã toát lên cái tính cách đã làm nên con người của tướng Giáp từ những ngày đầu: rất thương yêu binh sĩ.

Chính tình yêu thương này, sẽ quyết định cho chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Bạn có thể không tin. Nhưng tôi sẽ chứng minh cho các bạn điều này. 

Tôi sẽ kể cho các bạn về Điện Biên Phủ, theo cái cách khác với những gì các bạn được nghe trước giờ.

Đầu tiên trả lời hai câu hỏi: 

Vì sao lại chọn Điện Biên Phủ?

Cứ điểm Điện Biên Phủ là một lòng chảo, xung quanh có núi bao bọc. Pháp chọn nơi này, hòng bảo vệ Lào (như bảo vệ một phần Đông Dương), thứ hai, có thể từ trên đánh xuống, đi tìm Việt Minh và diệt. Và cuối cùng: nơi này không chỉ có vựa lúa, mà còn là …vựa thuốc phiện (chi tiết này mới được tiết lộ gần đây). Một vị trí không chỉ có ý nghĩa về chiến tranh, mà còn khá đắc địa để buôn lậu và làm giàu.

 Vì sao các bạn hay nghe câu Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”? 

Câu này là do Pháp rêu rao đấy. Tổng chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương là Navarre , muốn xây dựng nơi này thành cứ điểm như thế, nhằm thu hút và dồn tất cả quân chủ lực Việt Minh về một chỗ. Hòng diệt một lần cho gọn. Nôm na là “kéo lưới bắt cả đàn cá”.

Chiến lược của Navarre nghe qua thì không sai. Vấn đề còn lại chỉ là ai thắng ai bại trong trận đánh này?

Về lực lượng, quân Pháp tại thời kỳ cao điểm lên tới khoảng 16.000 người. Còn Việt Minh? 55.000 người. Tức là gấp 3,5 lần. Với lực lượng thế này, đồng thời được thêm sự hỗ trợ của pháo Kachiusa từ Nga và vũ khí của Trung Quốc viện trợ. Thượng tướng Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đã quyết định dùng chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”. Sử dụng chiến thuật biển người, ào lên mặt trận, tấn công dồn dập, quyết san bằng cứ điểm.

Các bạn xem các bộ phim Trung Quốc như Tam Quốc Diễn Nghĩa chứ? Không thì Anh Hùng Xạ Điêu hay Thần Điêu Hiệp Lữ. Chiến dịch công thành ở những điểm dễ thủ khó công là những chiến dịch cực kỳ … nướng quân. Từng lớp từng lớp ào lên thành chết như rạ. Quân càng đông, lại càng lợi thế. Đặc thù tấn công phá đồn của Trung Quốc có văn hóa tới cả nghìn năm. Người Tàu họ không tiếc mạng binh sĩ. Vi Quốc Thanh khi tư vấn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” cũng xác định tư tưởng như thế. Bởi vì trong chiến dịch này, Việt Minh đóng vai trò phá đồn. Có nghĩa chỉ là sự tiến hóa của chiến dịch ngày xưa.

Vấn đề là? Ai đứng bên kia đồn. Quân Pháp. Mà Pháp có 2 thế kỷ về pháo binh. Khi Napoleon tạo nên cách mạng cho quân đội Pháp, ông đã đưa Pháo binh lên thành một nghệ thuật. Khả năng pháo binh của Pháp rải ngược xuống từng đoàn quân xông lên của Việt Minh là rõ rành rành. Việt Nam chắc chắn sẽ bị thiệt hại … cực kỳ nặng.

Một điểm khác nữa, Navarre và bộ chỉ huy quân sự Pháp, cùng các chính trị gia ở Paris chưa bao giờ mất niềm tin về chiến thắng của Pháp tại ĐBP. Vì sao họ có niềm tin vững chắc như thế? 

Hãy đi tìm lại con người Navarre, và ta sẽ biết một sự thật về người đàn ông này. Tinh tế, cứng rắn, sâu sắc khó đoán. Đấy là những gì người ta nói về Navarre. Còn nữa, Navarre là một trùm về tình báo. Ông đã tạo dựng nên một sự nghiệp về tình báo, và rất tin vào chính mình. Tôi tin rằng, chiến lược của Vi Quốc Thanh và các cố vấn Tàu nằm trong tính toán và thu thập tin tức của Navarre.

Nhưng trong tin tức của Navarre, không có cái tên Võ Nguyên Giáp. Đối với ông ta (Navarre), Võ Nguyên Giáp giống như bao nhiêu kẻ tướng quân thuộc địa khác. Chỉ đi theo và đá bồi. Võ Nguyên Giáp không như Vi Quốc Thanh. Võ Nguyên Giáp không muốn đồng bào bị chết sạch trong trận đánh này. Tướng Lê Trọng Tấn từng bảo, nếu không có sự thay đổi của tướng Giáp, chúng tôi đã không có mặt ở chiến tranh chống Mỹ.

//

Vậy chiến lược của tướng Giáp là gì? Chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh”, sang “đánh chắc tiến chắc”. Câu này thực ra chỉ là kiểu chơi chữ nghe cho vui tai thôi chứ nói đùng đùng vậy anh em sao tưởng tượng ra nổi cái hay của tướng Giáp. Chính xác là chiến lược mới của tướng Giáp tựa tựa với cách quy hoạch xây dựng “bóc múi bưởi”. Hãy tưởng tượng Điện Biện Phủ như một quả bưởi. Vi Quốc Thanh dùng cả một nắm đấm để bóc bưởi. Bưởi nát nhưng tay cũng nhoe nhoét, và ăn cũng chẳng được. Còn Võ Nguyên Giáp bóc từ từ, ông bóc từ vỏ, sau đó tách ra từng múi, từng múi, cho đến khi quả bưởi đó chẳng còn gì. Đấy là chiến lược “đánh chắc, tiến chắc”.

Pháo được kéo ra khỏi trận địa, rồi sau đó, bao vây dần dần, mỗi ngày tấn công một ít, khiến cứ điểm thu hẹp lại. Trong đó, chiến thắng quan trọng nhất là cô lập được sân bay Điện Biên Phủ, khiến mọi tiếp tế không quân hầu như bị rã đám. Phần còn lại chỉ còn là thả dù.

Navarre nghỉ hưu năm 1956. Trong năm đó ông cho xuất bản cuốn Agonie de l'Indochine, một tác phẩm phân tích nguyên nhân thất bại của Pháp tại Đông Dương. Qua đó cho thấy vì sao người Pháp tửong niệm tướng Giáp dù mình là kẻ bại. Trong hồi ký Navarre khẳng định: "Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng 25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại. Nhưng không may cho chúng ta, ông ta đã nhận ra điều đó và đây là một trong những lý do khiến ông ta tạm ngưng tiến công."

Hãy vỗ tay cho tướng Giáp. Hãy hiểu rằng người Thanh Nghệ Tĩnh, lính Thanh Nghệ Tĩnh xem tướng Giáp có công tái tạo là vì thế. 

Trong buổi gặp gỡ cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Robert McNamara năm 1997, tướng Chester Cooper của phía Mỹ đã nói: “Thưa ngài, tôi thán phục ngài từ 20 năm trước. Nay tôi vẫn thán phục”. Như tôi đã nói ở trên, tôi sẽ chứng minh cho các bạn thấy tinh thần yêu thương binh sĩ dưới quyền của tướng Giáp là con đường dẫn lối cho thiên tài quân sự của tướng Giáp. 

Hãy cùng so sánh với các vị tướng khác nhau.

 Lê Trọng Tấn, cánh tay trái của tướng Giáp. Trước cách mạng, từng thuộc không quân Pháp và nhập ngũ vào lực lượng lính khố đỏ. Chỉ huy quân đội Anh tại thế chiến II, ngài Montgomery học ở trường Quân sự Hoàng gia tại Sandhurst. “Cáo sa mạc” Rommel học ở trường Thiếu Sinh Quân tại Danzig. Đại tướng Cao Văn Viên của VNCH, tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy t tại trường Võ bị Địa phương ở Vũng Tàu. Còn tướng Giáp, trước khi thành tướng ông là ai?  Là giáo viên dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội. Lịch sử đã cho ông một tinh thần yêu nước theo chân các bậc tiền nhân. Đại tướng cho rằng, sự gặp nhau giữa quân sự và sử học là phải tôn trọng lịch sử,  dù cho là sự thật cay đắng, đau xót, phải xem xét sự vận động biện chứng của nó. Học sinh của ông mô tả rằng: ông có thể vẽ lên bảng đen sơ đồ từng trận đánh của Napoléon, ông sôi nổi kể về Công xã Paris, về cái chết của những nhà Cách mạng như Danton và Robespierre, "ông không chỉ là nhà sử học đơn thuần, ông còn là một trạng sư say mê, luôn bênh vực tính chính nghĩa của lịch sử". 

Không ai đào tạo tướng Giáp, ngài là đại tướng của nhân dân, của lịch sử, và của tình yêu dân tộc.

//

Võ Nguyên Giáp trong vô thức, đã đi theo bóng hình của Trần Hưng Đạo. Những tiết dạy lịch sử, đã thấm vào trong lòng tướng Giáp tinh thần của Trần Hưng Đạo. Napoleon có thể là người mà tướng Giáp muốn đi theo nhất. Nhưng, Trần Hưng Đạo mới là người mà tướng Giáp gần giống nhất.

Trần Hưng Đạo khi nhìn Yết Kiêu đứng chờ bên sông đã nói “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.” Câu nói ấy, cho thấy Trần Hưng Đạo rất coi trọng tính mạng binh sĩ, và yêu thương người dưới quyền. Tướng Giáp khóc cho Lê Trọng Tấn, cho Hoàng Văn Thái cũng mang cái tinh thần chim hồng hộc ấy.

Tình yêu binh sĩ, không muốn nướng họ trong một chiến lược đã khiến ông quyết định rút hết quân đội, pháo binh ra khỏi vị trí, lùi thời điểm tiến đánh, tạo ra bước ngoặt cho thắng lợi Điện Biên Phủ. Chiến dịch mùa xuân 1975, được ông vạch ra cũng xử lý mọi việc rất gọn gàng, chứ không đẫm máu như bao chiến dịch khác. "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng". Binh bại như núi lở, càng nhanh thì hòa bình càng đến nhanh, và máu xương càng ít dần.

Điểm giống nhất giữa hai người, đấy là trong giai đoạn ông phải làm bên kế hoạch gia đình. Rất nhiều người tức giận. Người ta nói rằng “Chỉ cần anh Văn hô một tiếng, quân đội sẽ làm tất cả vì anh”. Vậy mà cũng như Trần Hưng Đạo bỏ qua lời trăn trối “Con không vì cha lấy được thiên hạ, cha dưới suối vàng không nhắm được mắt”.  Người thống chế đó đã im lặng, làm tròn phận sự của một chính trị gia thời bình, tránh cho dân tộc một đoạn mất mát. 

"Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước". Tướng Giáp cũng như Trần Hưng Đạo, cũng cố gắng gửi gắm tâm tư trong thời bình. Nhận ra vấn đề về giáo dục, ông đề xuất cải cách từ năm 2004. Năm 2008 ông can ngăn việc mở rộng Hà Nội.  Năm 2009 ông viết liên tiếp ba bản kiến nghị can ngăn việc khai thác bô-xit ở Tây Nguyên. Xin lỗi tình yêu. Cả gầm trời này, ai hiểu Tây Nguyên quan trọng bằng tướng Giáp chứ? Chiến dịch Hồ Chí Minh 30/4/1975 thành công, chính vì tướng Giáp chọn Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên đánh đầu tiên đấy. 

4/10/2013, Đại tướng mất. Người là biểu tượng anh hùng ca cuối cùng của một thời đại anh hùng của dân tộc. Thời đại ấy máu xương, có thể mất mát, nhưng đó là một thời đại sinh ra một vị tướng thiên tài, mang cốt lõi của tình yêu nhân dân trên một tấm gương lịch sử.

PS:

Tôi viết bài này khi nhà giáo Văn Như Cương ra đi sáng nay (9/10). Khắp facebook, người người nhắc về ông với những lời lẽ đẹp nhất. Cuộc đời của những con người cống hiến cho xã hội, cho nhân dân, cho đất nước, sẽ không bao giờ bị phụ trong ngày nằm xuống. 

“Dân không thờ sai ai bao giờ.”

SG 9/ 10/ 2017

4 năm đám tang của Đại Tướng

Tác giả: Dũng Phan

Wednesday, May 12, 2021

Và ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay...

 SỰ THUA LO LẮNG NHẤT CỦA VIỆT NAM VÀ LỐI THOÁT

1. THUA HƠN 100 NƯỚC VỀ THU NHẬP GDP ĐẦU NGƯỜI

Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2020, thu nhập GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương tương của Việt Nam là 10 755 USD, đứng  thứ 106 trên tổng số 186 nước được xếp hạng. Trong các nước ASEAN thì Singapore thứ 2 (96 603 USD), Brunei thứ 8 (61 816 USD), Malaysia thứ 51 (27 287 USD), Thái Lan thứ 70 (18 073 USD), Indonesia thứ 95 (12 345 USD). Ở bảng xếp hạng này, Việt Nam thua 105 nước.

Theo đánh giá Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2019, thu nhập GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương tương của Việt Nam là 8 374 USD, đứng  thứ 120 trên tổng số 187 nước được xếp hạng. Trong các nước ASEAN thì Singapore thứ 2 (101 376 USD), Brunei thứ 9 (64 673 USD) Malaysia thứ 50 (29 526 USD), Thái Lan thứ 69 (19 228 USD), Indonesia thứ 103 (12 302 USD), Philippines thứ 115 (9 277 USD). Ở bảng xếp hạng này, Việt Nam thua 119 nước (https://vi.wikipedia.org/.../Danh_s%C3%A1ch_qu%E1%BB%91c...).

Đây là đánh giá của 2 tổ chức tài chính lớn nhất và có uy tín nhất thế giới. Dù chỉ mang tính tương đối nhưng cho chúng ta thấy được Việt Nam đang ở vị trí nào trên bảng xếp hạng thế giới về thu nhập GDP đầu người. 

2. SỰ THUA LO LẮNG NHẤT

Nhưng sự thua về thu nhập GDP theo đầu người chưa phải là điều lo lắng nhất của Việt Nam. Sự thua lo lắng nhất của Việt Nam là không sở hữu công nghệ nguồn và không có nền công nghiệp tương ứng để tự sản xuất được sản phẩm của chính mình.

Hãy nhìn vào các sản phẩm điện thoại di động mang nhãn hiệu Việt Nam. Tất cả các linh kiện đều của nước ngoài. Đến vỏ bao điện thoại cũng đặt hàng từ nước ngoài. Sự phá sản của các hãng điện thoại mang nhãn hiệu Việt Nam là điều nhìn thấy trước.

Các sản phẩm khác cũng chịu chung số phận tương tự. Dù đó là ô tô, máy bay không người lái, xe máy điện, hay máy tính điện tử - không có linh kiện nào Việt Nam tự sản xuất được. Vì thế các sản phẩm của Việt Nam lắp ráp chỉ là công nghệ hạng 2 hoặc kém hơn nữa.

Kêu gọi đầu tư nước ngoài, nhất là các hãng công nghệ lớn, không chỉ để tăng thu nhập GDP theo đầu người, mà quan trọng hơn là để bắt chước mà sản xuất ra sản phẩm của chính nước mình. Các hãng lớn như Sony hay Samsung đã vào Việt Nam hơn 30 năm, nhưng Việt Nam không bắt chước được một chút nào về công nghệ. Đó là sự khác biệt một trời một vực giữa Hàn Quốc và Trung Quốc so với Việt Nam.

Thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, khi Hàn Quốc  kêu gọi đầu tư nước ngoài là để  học hỏi công nghệ của nước ngoài. Rồi sau đó Hàn Quốc có được những hãng khổng lồ về công nghệ. Như Samsung hiện nay đang đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực, cạnh tranh ngang ngửa đồng thời với các hãng công nghệ hàng đầu thế giới như Apple của Mỹ hay Sony của Nhật Bản.

Còn Trung Quốc thì đang vươn lên cạnh tranh vị trị số 1 thế giới với Mỹ, dẫu rằng  60 năm trước Trung Quốc thuộc vào nhóm các nước có thu nhập đói nghèo nhất thế giới. Không nhìn về dân số Trung Quốc, mà hãy nhìn về cách Trung Quốc học hỏi và đánh cắp công nghệ của các hãng hàng đầu thế giới. Chỉ lấy thí dụ về tên lửa đạn đạo, máy bay chiến đấu, hàng không mẫu hạm - mọi thứ Trung Quốc có được hiện nay đều từ sao chép và đánh cắp sản phẩm của Liên Xô, Nga và Mỹ.

Tại sao Việt Nam lại không thể làm được 1 phần như Hàn Quốc và Trung Quốc?

Việt Nam đã có thể làm được một phẩn như Hàn Quốc và Trung Quốc nếu biết tự đổi mới căn bản. 

Trung Quốc cũng chưa đổi mới căn bản. Nhưng Trung Quốc vẫn đạt được những thành tựu kinh thiên động địa. Ở điểm này, các lãnh đạo Trung Quốc, dù đó là Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình hay Tập Cận Bình - đều là học trò xuất sắc của Stalin: độc tài nhưng sáng trí.

Nói sự thua của Việt Nam khi không sở hữu công nghệ nguồn và không có nền công nghiệp tương ứng để tự sản xuất được sản phẩm của chính mình – là sự thua lo lắng nhất - là bởi vì nếu thiếu nó, Việt nam không bao giờ trở thành cường quốc, trong khi phải sống cạnh một siêu cường với dã tâm mở rộng lãnh thổ không giới hạn. Ai có thể không lo lắng vì sự thua này?

LỐI THOÁT KHỎI SỰ THUA 

Nước nào cũng vậy, không riêng gì Việt Nam, thu nhập GDP đầu người sẽ được cải thiện theo thời gian. Đó là theo quy luật tiến bộ nhân loại. Còn Việt Nam muốn bứt phá nhanh thứ hạng thì cần phải thay đổi mạnh mẽ. 

Cựu Tổng thống Nga Medvedev (hay ai đó?) đã từng đề cập: “Thời kỳ quá độ là con đường dài nhất đi từ Tư bản Chủ nghĩa đến Tư bản Chủ nghĩa”. Nước Nga phải mất 74 năm theo con đường quá độ – từ năm 1917 đến năm 1991 – để quay trở về con đường Tư bản Chủ nghĩa như trước cuộc chính biến ngày 7/11/1917.

Điều mà Việt nam gọi là đổi mới từ Đại hội VI tháng 12/1986 không có gì khác - là cho người dân tự sản xuất trên đất đai được thuê, cho người dân được tự lập công ty tư nhân để kinh doanh sản xuất, công ty nhà nước thì tiến hành tư nhân hoá (cổ phần hoá) một phần. Nói là đổi mới, nhưng thực chất là quay trở về con đường cũ trước tháng 9/1945. Nhưng chỉ quay lại theo một phần mà không phải là theo tất cả. Việt Nam vẫn đang trên con đường quá độ. Việt Nam chưa đến được Xã hội Chủ nghĩa. Việt Nam chưa đến được Tư bản Chủ nghĩa.

Không ngừng thay đổi là quy luật phát triển của vũ trụ. Chậm thay đổi tỷ lệ thuận với chậm phát triển. 76 năm qua kể từ tháng 9/1945, quản trị quốc gia của Việt Nam không có nhiều thay đổi và chưa có những thay đổi bước ngoặt. Như trên đã viện dẫn, giai đoạn gọi là đổi mới sau tháng 12/1986 cho đến hiện tại - thực chất là quay trở lại đi theo đường cũ. Về mặt tiến bộ nhân loại thì không phải là mới. 

Lối thoát khỏi sự thua lo lắng nhất là đổi mới căn bản. Muốn đổi mới thì phải có người mới. Khuôn mặt cũ không mang lại đổi mới.

Nguyễn Ngọc Chu

Tuesday, May 11, 2021

Từ chuyện xe ôm... đến thời đại Tân kỳ

 Trình độ đại học đi làm xe ôm công nghệ cũng bí

CHUYỆN PHIẾM VỚI MỘT ANH XE ÔM CÔNG NGHỆ ĐÃ CÓ BẰNG ĐẠI HỌC 

Sưu tầm (Ghi lại câu chuyện của một bác lớn tuổi và một cậu xe ôm công nghệ tốt nghiệp đại học)

Một bác lớn tuổi bực mình với một cậu Grab Biker:

- Sao tao đợi mày ở đây đến 20 phút mà mày cứ nói đến rồi là sao?

- Dạ, cháu tưởng số 2 Đồng Khởi là Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn nên cháu đứng đó đợi...

- Khổ quá... Mày không biết xem số à?

- Cháu có xem, nhưng chỗ Nhà thờ không có số. Cháu nghĩ số 2 là đầu đường nên chờ mãi. Đang tính báo “Hủy” thì bác gọi lại...

- Mày học hành sao mà đầu đường, cuối đường không biết?

- Dạ, cháu có đi học chứ. Cháu mới tốt nghiệp Đại học Luật bác ạ. Nhưng quê ở Tây Ninh. Giờ tốt nghiệp, xin việc hoài không được, phải chạy Grab kiếm cơm. Bác thông cảm . . .

- Thôi được, chạy đi. Tao dạy mày một lần cho biết nhé. Cái đó gọi là Kiến thức phổ thông, nhưng tao biết gần như 100% người Việt ở Việt Nam không biết. Từ xếp lớn đến thằng chạy xe ôm như mày. Vì có học đâu. 100 anh chạy xe ôm đều không biết trừ những anh tao nói thì biết thôi. Nhớ nhé:

Trong một đô thị đã có quy định: Mặc nhiên là số nhỏ luôn tính từ sông lên. Ví dụ: Số 2 đường Đồng Khởi là Cà phê Runam tao đang đứng đây là số nhỏ vì nó giáp sông Sài Gòn. Vậy, chỗ mày chờ lúc nãy là ở Nhà thờ Đức Bà là cuối đường Đồng Khởi. Số lẻ luôn bên tay trái, số chẵn bên tay phải khi mày đứng nhìn từ đầu đường đến cuối đường. Vậy khách Tây nó nói cho xe đến trung tâm Sài Gòn thì mày chạy đi đâu?

- Dạ... Chắc chạy ra Nguyễn Huệ phải không bác?

- Trật lất. Ở một đô thị, trung tâm là nơi có nhà ga xe lửa chính. Rồi nếu không có thì là Bưu điện Trung tâm. Tức là chỗ Nhà thờ Đức Bà vừa nãy đó.

Trước 1975, trung tâm Sài Gòn là Nhà ga xe lửa ở chỗ gần chợ Bến Thành, chứ không phải là Chợ Bến Thành. Sau năm 1980, nhà ga này dời về Hòa Hưng nên trung tâm Sài Gòn hiện nay là Bưu điện trung tâm Sài Gòn.

Đó là các kiến thức phổ thông. Mày biết thì đi đâu ở nước ngoài cũng không sợ bị lạc đường. Nó có những quy tắc phổ quát ở đô thị, trong một xã hội băn minh. Phải được dạy dỗ từ bé. Nhưng người ta không làm. Người ta dạy rất nhiều thứ vô bổ. Người Việt đi nước ngoài khổ lắm. Đi từng đoàn, xem bản đồ không biết, xem la bàn không biết. La hét inh ỏi. Xấu hổ ghê lắm . . .

Trong khi ở các nước khác, trước khi học toán, học lý, họ dạy người ta sống với nhau như thế nào. Gọi là học cách Cư xử, cách Đối nhân xử thế giữa người với người, giữa trẻ với người lớn tuổi. Rồi dạy kỹ năng sống, kỹ năng sinh tồn, nhóm lửa trong điều kiện khó khăn, cách dựng lều, trại, cách bắt cá, cách xử lý thịt sống... Rồi học bơi, học thoát khỏi đám cháy, nhà sập, động đất hay bị bắt cóc... Học cách ứng cứu y tế sơ đẳng... Nhiều lắm... Như trẻ con ở Nhật, từ lớp 1 đến lớp 6 chỉ học như vậy. Và một ít chữ. Toán, Lý, Hóa chỉ sau này mới học. Và nếu có năng khiếu có đam mê mới theo một ngành nào đó và học cấp cao hơn. Nhưng trước đó đứa bé đã biết mọi thứ để tự lo cho cuộc sống của mình.

Tao sang Canada... Người ta dạy lắp điện, sửa ống nước, thoát nước với những điều cơ bản từ trong trường phổ thông. Cái gì lo cho bản thân mình chính là phổ thông. Còn ở Việt Nam không có. Vì vậy, ở Việt Nam làm gì cũng mướn thợ. Ở nước ngoài, người ta ai cũng làm được hết, dù là phụ nữ hay đàn ông, từ điện đến cấp, thoát nước... Chỉ những người muốn công việc chuyên nghiệp và quá bận rộn mới mướn thợ.

Còn ở Việt Nam, rất nhiều đàn ông không biết lắp điện, không biết sửa ống nước. Vì có được học đâu?

Trẻ con Việt Nam yếu về mọi kỹ năng, cái gì cũng không biết. Vì chúng phải bỏ thời giờ để học yêu lãnh tụ, yêu đồng bào. Đó là sự xuẩn ngốc. Vì tình yêu không thể dạy để yêu được. Tình yêu là một tình cảm tự nhiên và lòng yêu nước cũng tự nhiên dù không dạy cũng vậy. Hôm qua, thằng cháu ngoại của tao mới vào lớp vỡ lòng về hỏi: Ngoại ơi, tổ quốc là gì hả ngoại, có phải là tổ con chim quốc không ngoại, sao cô giáo dạy phải yêu? Tao nhức đầu quá, chẳng biết giải thích sao.

Sao không dạy cho bọn nó trước hết yêu ông, bà, cha, mẹ, anh chị, bạn bè, kính trọng thầy cô, người lớn trước khi dạy nó những thứ khác? Đầu óc non trẻ của tụi nó sao kham nổi mấy khái niệm xa lắc xa lơ?

Lớn lên, chúng còn mất thì giờ học Toán cao cấp như Vi phân, Tích phân. Mấy đứa sau này làm ca sỹ, nhân viên bán hàng, cầu thủ đá banh như Công Phượng, Quang Hải hay chạy Grab như mày . . . cần gì những thứ này? Hầu hết đều vứt đi sau khi thi xong, quá lãng phí công sức người dạy lẫn người học. Cái không dùng tới trong đời sống hàng ngày sao gọi được là phổ thông? Nó chỉ nên dạy ở đại học . . .

Còn nhiều thứ vô bổ khác nữa được nhồi nhét vào đầu chúng. Chẳng biết nhằm mục đích gì? Cách dạy cũng vậy, từ cấp nhỏ đến đại học toàn đọc, chép, thầy cô bảo sao nghe vậy, đứa nào có ý khác một tý, cãi một tý thì mắng là hỗn, láo mặc dù mình sai lè lè! Chẳng khác gì biến chúng thành một lũ cừu dễ bảo.

Gíao dục bây giờ thật tệ hại. Cho nên nói cứ nói mà không có mục tiêu nào đạt được. Đại hội Đảng năm 1976, người ta nói đến 1980 cơ bản biến nước ta thành nước Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá. Và giờ đã 43 năm rồi mà vẫn còn xa vời...

Hôm nọ có một gã chức nhớn mới nói: Gíao dục của ta chưa bao giờ tốt như bây giờ, kể từ thời Vua Hùng đến giờ...

Một cậu bé bán vé số đứng cạnh mới hỏi:

- Có đúng không bác?

Ông bác lớn tuổi tự hào trả lời:

- Đúng chứ cháu. Cháu mới 10 tuổi mà biết sử dụng Ipad, Iphone nhoay nhoáy. Bác chắc là Vua Hùng sống lại cũng không giỏi như cháu đâu. Nên mới nói giáo dục của ta bây giờ hơn thời Vua Hùng nhiều lắm . . .

Từ fb HP

Ảnh chỉ mang tính minh họa

Monday, May 10, 2021

Trường ngoại ngữ cũ: Góc phố quen thuộc

 Các bạn còn nhớ nơi này không?

Nơi mà bao sv việt nam được đào tạo ngoại ngữ ngay từ ngày đầu mới bước chân đến đất nước Hungary mà chúng ta gọi là “Viện dự bị đại học quốc tế “

Nemzetközi elôkészítô Intézet ở nhà số 5 phố Zsombolyai quận 11

Tầng đất là nhà ăn menza,2 tẩng trên là các lớp học nho nhỏ và phòng giáo viên 

Những năm của thập kỷ 80 chính quyền tự quản quận 11 đã lấy lại xây thành văn phòng làm việc,ai đã đến đó thì ko nhận ra mà chỉ còn một phần tường rào cũ ( hơn 50 năm trước)từ phố Bocskai út đi vào.

Tu Vu (Hội Hữu nghị Việt - Hung)

Sunday, May 9, 2021

Tôi cũng bỏ phiếu cho ông

 5 năm trước mình đã viết những dòng dưới đây về Luật sư Trương Trọng Nghĩa, với sự kính trọng và kỳ vọng của một cử tri, mong muốn ông đại diện cho tiếng nói của mình ở Quốc hội. 

Cũng ngần ấy thời gian, bằng quan sát báo chí, nghe những nhận xét về Luật sư Nghĩa từ các chính khách, chuyên gia kinh tế, chuyên gia luật, nhà văn hóa, doanh nhân, người nghèo, dân oan thọ ơn ông,… mình càng thêm xác tín niềm tin về nhân cách Luật sư Nghĩa:

“Có những đại biểu dân cử khi đối diện với sóng gió nghị trường, cử tri chẳng còn thấy họ đâu, hoặc thấy trong tư thế rất hèn, phản bội lại niềm tin và lời hứa ngày tuyển cử. Còn với Luật sư Nghĩa, những gì ông đã nói, đã làm trong nhiệm kỳ đại biểu quốc hội vừa rồi, minh chứng một cách thuyết phục ông giữ đúng lời hứa ngày tuyển cử và sóng gió chỉ làm hiển lộ nơi ông nhiều hơn dũng khí, trí tuệ và một tấm lòng tận tụy với những gửi gắm của dân.

Không nhiều người biết đến những việc luật sư Nghĩa đã làm cho tổ quốc, cho dân ở những không gian ngoài nghị trường mà ông không muốn báo chí đưa tin. Nhiều người trong chúng ta đã được hưởng lợi mà không biết từ những việc làm, phản biện quyết liệt của ông với những chủ trương, chính sách lạc đường, gây tổn hại cho lợi ích của tổ quốc và nhân dân…”

Vì biết nhiều về ông, vì tin tưởng ông tiếp tục sẽ là một Đại biểu Quốc hội có trí lực, dũng lực và tấm lòng với sự phát triển của đất nước, nhà nước pháp quyền, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, nên mình tiếp tục tín nhiệm và kêu gọi bạn bè, thân hữu của mình cùng ủng hộ bầu chọn Luật sư Trương Trọng Nghĩa đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa XV tại đơn vị bầu cử Quận 6 và huyện Bình Chánh vào ngày 23/5/2021 tới đây.

Ngô Đồng

Saturday, May 8, 2021

Văn hóa từ những chuyện nhỏ

 TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA CỦA CON NGƯỜI ĐÔI KHI ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA TIỂU TIẾT!

1. Khi người khác rót nước cho mình, đừng chỉ ngồi yên nhìn người ta mà hãy đưa nay ra nâng cốc, điều đó thể hiện phép lịch sự.

2. Khi người khác nói chuyện với mình, ít nhất cũng phải đáp lại người ta một câu. Đừng để người ta nói xong một câu lại nhận về được sự im lặng hoặc câu nói À, Ừ, Ờ, đúng rồi cùng với sự khó chịu.

3. Dùng bữa xong nên nói: "Tôi ăn xong rồi, mọi người cứ ăn đi nhé!"

4. Khi đưa đồ cho người khác nên đưa bằng hai tay.

5. Lúc ăn cơm nên cầm bát lên, không được dùng đũa đảo lộn thức ăn, không gõ bát đũa.

6. Người đi vào cuối cùng nên đóng cửa.

7. Tiễn người khác về nên nói: "Đi cẩn thận nhé!"

8. Rửa tay xong không nên tùy tiện vẩy tay, để nước bắn lên người khác sẽ rất bất lịch sự.

9. Khi đưa dao hoặc vật nhọn cho người khác, nên đưa phần chuôi hướng về họ.

10. Không nên công khai điểm yếu của người khác.

11. Khi người khác nói chuyện với mình hãy chú ý vào người ta, đừng đảo mắt nhìn xung quanh.

12. Khi rót trà hay rót nước cho người khác xong, không nên quay vòi ấm về phía họ.

13. Đi, đứng, ngồi, nghỉ cần đúng tư thế, tác phong.

14. Nói được phải làm được. Nếu không làm được thì đừng hứa.

15. Nếu trong phòng có người, khi ra ngoài nên đóng cửa nhẹ nhàng.

16. Khi đưa đồ cho người khác mà ở giữa cách một người, không nên đưa thẳng ra trước mặt người ta mà nên vòng qua phía sau.

17. Học cách dịu dàng và biết lắng nghe.

18. Đến chơi nhà người khác, đừng tùy tiện ngồi lên giường nhà người ta.

19. Ăn cơm cố gắng đừng phát ra tiếng.

20. Lúc nhặt đồ hoặc đi giày nên ngồi thấp xuống chứ đừng cúi người, khom lưng.

21. Khi bị phê bình, dù người khác có sai đi chăng nữa cũng đừng vội phản bác, nên đợi họ nói xong bình tĩnh lại hẵng giải thích.

22. Làm việc gì cũng nên có điểm dừng thích hợp, bất kể là ăn món mình thích hay tức giận điều gì đó.

23. Đến nhà bạn ăn cơm nên chủ động rửa bát hay xếp dọn bàn ăn.

24. Trong cuộc sống bạn sẽ phải gặp nhiều thể loại người khác nhau, chắc chắn không phải ai bạn cũng có thể hòa hợp được nhưng có một câu nói luôn đúng trong mọi trường hợp: Bạn đối xử với người khác thế nào, người ta sẽ đối xử lại với bạn như vậy.

25. Dù là ai, trong trường hợp nào cũng đừng dễ dàng kể bí mật của mình với người khác.

26. Học hành là chuyện cả đời. Chỉ học kiến thức trong sách thôi là chưa đủ, phải học cả kiến thức xã hội. Thực tế cuộc sống luôn phức tạp hơn những gì bạn nghĩ.

27. Dũng cảm nhất là khi nhận ra sự tàn khốc của cuộc sống nhưng vẫn yêu cuộc sống này cháy bỏng. Đừng sợ sự dối trá, nhưng cần phải biết cuộc sống luôn tồn tại sự dối trá.

28. Khi lau bàn nên lau hướng về phía mình.

29. Khi gọi điện thoại hoặc nghe điện thoại, câu đầu tiên phải luôn là: "Alo, chào.... ạ!". Khi tắt máy, nếu người kia là người lớn tuổi hơn bạn hoặc là cấp trên của bạn thì tốt nhất bạn nên chờ họ tắt điện thoại trước, còn nếu bạn là người lớn tuổi hơn hoặc cấp trên của họ thì bạn nên chủ động tắt máy trước, đừng để người ở đầu dây bên kia phải đợi.

30. Đừng khạc nhổ hoặc vứt rác bừa bãi. Nếu nơi đó không có thùng rác, hãy cầm rác về vứt vào thùng rác nhà mình.

31. Bất kể trong hoàn cảnh nào cũng nên đánh răng cẩn thận, đặc biệt là vào buổi tối.

32. Tuyệt đối đừng bao giờ bỏ bữa sáng. Nếu không ăn sáng thì cũng phải uống nước hoặc uống sữa.

33. Đỗ xe nên đỗ đúng nơi quy định, chừa không gian cho người khác mở cửa xe, đầu xe nên hướng ra phía ngoài để tiện rời đi.

34. Nếu là cửa thủy lực, dù là cửa đẩy hay cửa kéo cũng nên làm theo quy tắc "Ra trước vào sau". Nếu phía sau có người nên giữ cửa chắc, tránh để cửa bật lại va vào người khác. Khi có người mở cửa giúp mình đừng quên cảm ơn họ.

35. Phép lịch sự nên áp dụng đối với tất cả mọi người, bất kể họ là cấp trên, là người lớn tuổi, là nhân viên phục vụ hay là cô chú lao công bên đường.

Nguồn: Weibo

Thursday, May 6, 2021

Dòng sông linh thiêng

 Nước sông Hằng từ trời đổ xuống

Tạm biệt Delhi với tâm trạng đầy mâu thuẫn xen lẫn thương cảm cùng ức chế, lão đi tiếp trạm sau trong chuyến phiêu lưu này. Lão nghĩ, đã gọi là hành hương thì phải chịu chút gian khổ. Như Đường Tam Tạng vậy, phải trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn. Lão cũng muốn nếm mùi gian khổ nên quyết định ngồi tầu hỏa đến Varanasi. Mục tiêu của chuyến tới này là tắm nước sông Hằng và viếng thăm vườn Sarnath (Lộc Uyển). Từ Delhi đến thành Varanasi dài 682 km nhưng phải đi mất gần 12 tiếng đồng hồ.

Trên tầu, có lẽ thượng đế an bài. Lão ngồi cùng khoang với một phụ nữ trung niên Ấn Độ rất dịu dàng, thanh lịch và trí tuệ. Bà từ Anh quốc về đây và cũng đi tắm sông Hằng dịp này. Cử chỉ, ngôn từ của bà khi nói chuyện, đều toát ra một vẻ cao sang. Lão đoán bà thuộc tầng lớp trên của xã hội Ấn Độ. Khi biết lão là người Việt Nam sống ở New York nhiều năm, bà rất tôn trọng. Bà nói con gái bà cũng lấy chồng New York có vài công ty phần mềm ở Thung lũng Silicon, gần trăm công nhân, đa số là người Ấn Độ và có mướn nhiều người Việt làm việc.

Khi lão hỏi bà ta rằng, tại sao nước sông Hằng ô nhiễm và bẩn như vậy mà mọi người vẫn đổ xô đến đấy tắm rửa thậm chí uống, còn chứa vào chai lọ đem về khắp nơi trên thế giới? Bà ta điềm tĩnh, đầy tự tin nói một câu mà khiến đầu óc đang tối tăm của lão bừng sáng: ”Anh không thể lý giải sông Hằng từ bề mặt vật chất. Sự thánh khiết của sông Hằng nằm ở khía cạnh tinh thần, không phải vật chất”. Ôi, sao lại có một lời giải thích nhẹ như làn gió nhưng làm thức tỉnh sự nghi vấn phàm trần trong lão. Lão thấy mình kém thật sự, có vậy mà không nghĩ được ra...kkk

Đến ga Varanasi, vừa bước ra khỏi toa tầu đã thấy cậu bé của khách sạn đứng ngay đúng toa để đón lão, tài thật. Cậu bé tay cầm một cái bìa viết tên một người và ngơ ngác nhìn xung quanh. Đọc tên lão đoán đây là một đàn ông da trắng. Quả nhiên là vậy, một ông Tây béo phệ vất vả lê bước, trên lưng còn địu một ba lô to đùng lừ lừ tiến lại. Ba người ốp vào nhau trên chiếc xe Tuktuk bé tí và lao đi.

Trời vừa tờ mờ sáng, hàng quán hai bên đường dần dần tấp nập. Nhìn kỹ thấy đường phố cũng chẳng khác gì một số nơi ở Delhi, bẩn thỉu, nhếch nhác, thậm chí kinh tởm hơn. Ông Tây chắc ngửi thấy mùi hôi thối nên rút ra một điếu thuốc xì gà nhưng không có bật lửa. Cậu bé dừng xe, chạy vào một cửa hàng mượn diêm. Lão Tây ngắm nhìn người đứng trong quầy hàng và hỏi cậu bé, người kia là nam hay nữ hay between? Cậu bé ừ à một hồi chẳng biết nói gì trong họng rồi bật ra một câu “No English”. Thôi xong, xe đi tiếp, lão Tây phì phò điếu thuốc có vẻ khoái chí. Lão PP lúc ấy mới lên tiếng :”Xem người ấy như ái nam ái nữ, ông có thích không?”. Lão Tây giật mình “You speak English?”. Rồi hai người tán chuyện tùm lum về các em chuyển giới ở Thái Lan. Lão Tây này người Úc, quanh năm chỉ đi du lịch, lão kể đã từng bị người chuyển giới ở Thái Lan “xâm phạm tình dục”. Lão PP hỏi đùa, thế lỗ nhị của cậu có “nở hoa” không? Cười đùa một hồi lâu thì nhìn thấy sông Hằng và đã đến khách sạn.

Đây là một khách sạn nhỏ nằm bên bờ sông Hằng, đứng ở ban công bạn có thể ngắm cảnh sông rất rõ ràng. Khách ở đây đa số là người nước ngoài, những Tây ba lô đùm to đùm nhỏ dáng trông mệt mỏi, có lẽ họ mới trở về đây từ Nepal. Lão đặt vali trong phòng rồi nóng lòng bước xuống, mở cửa đi ra vài bước đã đứng bên bờ sông. Đây chính là con sông mà người theo đạo Hindu vô cùng tin yêu vào sự thánh khiết trong lành được hình thành bởi những giọt nước từ tóc thần Shiva nhỏ xuống.

Lão bước theo bậc tam cấp xuống tận bên sông, mặt nước vẩn đục, những tảng rác lững lờ trôi, mặt sông cũng không rộng như bạn tưởng, rõ ràng đây không phải là dòng sông để ngắm cảnh, mà để dùng vào việc tâm linh. Nước sông nơi đây có đoạn chuyển hướng rất thần kỳ, hướng chảy chuyển từ Nam sang Bắc và chỉ ở đoạn Varanasi. Bờ tây của sông là Ghat kéo dài vài km. Ghat là các bậc tam cấp bằng đá kéo từ bờ đến ven sông. Hầu hết các Ghat là bãi tắm, và một số là bãi hỏa táng. (burning ghat), một số để đi đến đền thờ và một số dùng để phơi quần áo. 

Lão đang loay hoay xem liệu mình có can đảm lao xuống tắm không, bởi đã thấy nhấp nhô người đến tắm. Bờ tắm phía Tây đông người hơn bởi đa phần các tín đồ đều ngoảnh mặt về hướng đông khi tắm. Lão thấy một số người kính cẩn khoát nước lên đầu cho nước từ từ chảy xuống, họ còn đưa nước lên miệng kính cẩn uống từng ngụm. Một số người nhìn lão có vẻ như nhìn một thằng ngốc, chắc họ nghĩ “Hắn đến đây làm gì? Sao không đẫm mình xuống đây?”. Lão đang lúng túng thì một chàng trai bản địa bước xuống, cậu ta nói nếu anh sợ tắm ở đây tôi lấy thuyền đưa sang bờ Đông tắm, ở đấy sạch hơn. Lão nghĩ, mình còn ở đây hai hôm, tạm gác lại chuyện tắm, tính sau.

Lão lên đường đi về hướng Nam, một em bé bán hoa lẽo đẽo đi theo nài mua hoa. Lão nói “No”, cô bé nói “Yes”, cứ thế giằng co một đoạn dài, lão móc túi cho cô bé hai tờ 1 Đô la, cô bé rời đi. Lập tức một ông lão gầy gò quấn một chiếc khăn vàng trên đầu bước thấp bước cao đuổi theo lão phun ra một tràng tiếng Nhật lục cà lục cục. Lão PP trả lời bằng tiếng Anh, giọng dứt khoát, tớ không phải người Nhật, không xem đâu. Lão già tưng hửng bỏ đi.

Chim câu bay lượn trên bầu trời, những chú bò thong dong rảo bước, mấy chú dê núp dưới bóng râm, còn những con khỉ lượn lờ tìm xem liệu có quả chuối nào đâu đây. Varanasi quả như một vườn thú. Chính thế nên bước đi cần cẩn trọng, nhìn kỹ mặt đất để tránh không giẫm chân lên “bom”. Không khí hầm hập sặc mùi nước đái của loài vật, loài người. Mặt đất loang lổ những vết phân chưa quét sạch. Một cậu thanh niên bịt kín đầu chỉ hở đôi mắt đang cầm chổi quét mặt đường như đang múa kungfu. Một trưởng lão râu tóc trắng xoá quấn trên đầu chiếc khăn đỏ chót, quàng trên người mảnh chăn cũng đỏ chót đang ngồi trên bậc đá giở báo ra xem. Những kiến trúc lộn xộn nhưng đủ màu sắc, những con người đủ kiểu, mỗi người một vẻ, công nhận ở đây có vẻ riêng biệt của nó.

Buổi chiều lão quyết định đi thăm vườn Lộc Uyển, Sarnath  cách Varanasi 10 cây số. Sarnath là thánh địa nơi Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp đầu tiên, có thánh tích và bảo tàng Phật giáo. Lão gọi một chiếc xe Tuktuk để đi đến đó. 

Bảo tàng được bảo vệ chặt chẽ, khách tham quan phải đi qua cổng an ninh. Ở đây có nhiều tượng phật còn lại trong thời cực thịnh của Phật giáo và vẫn còn khá tinh xảo . Trong phế tích nhìn thấy Bảo tháp Dhamek cao 34 mét đầy ấn tượng, lão thấy tim đập mạch, nơi đây Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu bài giảng đầu tiên. Vào lúc hoàng hôn, những tín đồ sùng đạo ngồi trên bãi cỏ dưới bóng râm của chiếc tháp khổng lồ, họ đối mặt với bảo tháp và im lặng thiền định. Liệu họ có nghe thấy lời thuyết pháp của Đức Phật cách đây hơn 2500 năm đang vọng về ? Cái gọi là phế tích thực ra đã biến thành một công viên với thảm cỏ xanh rờn. Lão thực sự rất thích nơi đây.

Tại sao lại gọi nơi này là “Lộc Uyển”? Tương truyền, ngày xửa ngày xưa, có một vị vua thích săn bắn hươu nai nên Hươu đại vương mới ra lệnh cho những con hươu bốc thăm, hàng ngày có một con phải hiến thân để vua bắn giết, làm vậy để bảo vệ những con hươu khác. Bằng cách này, nhà vua dễ dàng bắn được một con hươu mỗi ngày và trở về cung điện một cách mãn nguyện. Một hôm, khi đang chuẩn bị giương cung nhắm bắn, bỗng nhà vua ngắm thấy con hươu đực khí chất lộng lẫy phi thường, mắt con hươu ngấn lệ buồn bã. Nhà vua ngạc nhiên, kìm lại cất cung tên đi và ngắm nhìn con hươu thật kỹ. Lúc này, con hươu đột nhiên thốt lên bằng tiếng người tâu với vua rằng mình là đại vương của loài hươu, vì hôm nay một con hươu cái bắt phải thăm để vua bắn chết và con hươu đó đang mang thai. Hươu đại vương không nỡ để con hươu cái kia hiến mạng, như vậy sẽ chết thêm một con hươu bé trong bụng. Chính vậy, con hươu đại vương này mới quyết định chết thay cho hươu cái kia. Nhà vua nghe xong rất cảm động và kể từ đó ra lệnh không bao giờ được phép săn bắn hươu trong khu vực này nữa, vì thế Sarnath đã trở thành thiên đường của loài hươu, cái tên Lộc Uyển cũng từ đấy mà có. Rõ một câu chuyện nhân văn trên đất Phật.

Tối nay hơi mệt nên lão hoãn đi xem lễ hiến tế sông Hằng mà muốn đi ăn một bữa ngon lành, uống một chút rượu và nghỉ ngơi. Lão truy tìm trên “Tripadvisor” thấy giới thiệu nhà hàng Ganga Fugi có những món ngon được bình luận nhiều điểm và quyết định đến đấy xơi một chầu cho sướng cái thân. Nhà hàng này cũng gần khách sạn lão ở, nằm gọn giữa những tòa nhà cổ kính chen chúc trên một con đường độc đáo tuyệt đẹp trong khu phố cổ. 

Lão thấy cũng gần nên đi bộ đến đấy. Bước đi trong lúc trời xẩm tối, mò mẫm trong những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, nhưng cứ thót tim nhìn kỹ mặt đất sợ trúng “bom”, lão thấy một ông Tây tay xách nách mang, mắt đăm đăm nhìn mặt đất chân bước như đang nhẩy điệu múa sạp để tránh những đống cứt khiến lão nực cười. Đi vào một cái hẻm nhỏ, bỗng lù lù một cái bóng to tướng phò phè từ sau đi đến chạm vào lão, nhìn kỹ hoá ra “Bò đại nhân”. Lão đi nép sát vào tường để chú bò đi qua những vẫn bị cụ ta cho một chưởng bằng quất cái đuôi cứng cáp suýt vào chỗ hiểm của lão. Lão hết hồn kêu lên, ông Tây đi sau cười ha hả có vẻ khoái nhưng lại quan tâm hỏi “ Are you ok?”. Mẹ, chuối thật!

Đến nơi, lão gọi một xuất cơm gà nấm và hai chai bia. Ăn uống no nê xong lão ra đường trèo lên một xe Tuktuk để về khách sạn. Trời tối quá không dám đi bộ, sợ lại gặp ông bò, nhưng sợ những trái bom sống dưới mặt đường hơn. Nhìn bên bờ sông Hằng, thấp thoáng bóng người lô nhô đang ngồi xổm thả “bom”. Ớn thật, quả là một kỳ quan khó hiểu.

Xe đến khách sạn, lão chưa vội lên phòng ngủ mà đi ra bậc đá ngồi đấy ngắm nhìn sông Hằng vĩ đại. Bây giờ là lúc lão tĩnh lặng trong tâm để nghĩ sâu về Hằng Hà. 

Theo lão được biết, ở Ấn Độ, hầu hết các tín đồ Ấn Độ giáo có bốn thú vui lớn mà họ ước mơ trong đời là: Sùng kính Thần Shiva, tắm và uống nước thánh của sông Hằng, kết bạn với các vị thánh nhân, và được sống ở thánh địa Varanasi. Sông Hằng nuôi dưỡng người dân hai bên bờ những dòng sữa ngọt ngào ( nghĩ về phần hồn của nó), cùng với tín ngưỡng sùng đạo, họ coi đây là dòng sông thiêng liêng và thánh thiện. Họ tin rằng sông Hằng là hóa thân của thần và bao ngàn năm nay, lòng tôn thờ sông Hằng của họ bất di bất dịch. 

Sự tôn thờ này nghe nói bắt nguồn từ một câu chuyện huyền thoại. Thuở xa xưa, sông Hằng dữ dằn và thường xuyên gây ra lũ lụt, tàn phá ruộng đồng màu mỡ, giết hại sinh mạng. Để cầu mong được bình an, vị vua thời bấy giờ đã nhờ thần Shiva giúp thuần hóa sông Hằng và tạo phúc cho nhân gian. Thần Shiva đến chân núi Himalaya, xõa tóc, cho dòng nước hung tợn chảy chầm chậm qua đầu và trở nên hiền dịu. Nước bắt đầu tưới mát cho những cánh đồng hai bên bờ sông và người dân có thể sinh sống thanh bình và yên ổn làm ăn. Kể từ đó, Ấn Độ giáo coi sông Hằng là thánh thiện, tôn thờ thần Shiva và tắm nước thánh là hai hoạt động tôn giáo chính của người theo đạo Hindu. 

Một cơn gió mát lạnh thổi vào mặt khiến lão rùng mình, nhìn đồng hồ đã khuya rồi,  bên bờ sông vắng lặng, tiếng tụng kinh lầm rầm theo gió lúc to lúc nhỏ. Tư duy bị đứt quãng, lão đứng dậy đi vào khách sạn.

Có lẽ một ngày mệt mỏi, cũng có lẽ nằm bên dòng sông thần tiên nên lão nằm xuống là ngủ say sưa. Tiếng chuông tay của một Lạt Ma đi ngoài đường làm lão thức giấc, nhìn đồng hồ đã 6 giờ sáng. Lão rửa mặt bước ra khỏi khách sạn định ngồi bên sông ngắm mặt trời lên, nhưng vừa bước ra ngoài đã bị một cậu bé nhà thuyền bám lấy khăng khăng đòi đưa lão đi du thuyền trên sông buổi sáng. Lão trả giá xong theo cậu bé đi lên thuyền. Cậu ta chỉ mới 15 tuổi tên là Ali. Ali người đen chắc khỏe mạnh, chèo thuyền thoăn thoắt. Cậu ta muốn lão mua cho một vài tấm khăn lụa để kiếm thêm nhưng lão từ chối và nói:”Em cứ phục vụ ta cho tốt, khi xuống thuyền cho thêm”. Nghe vậy Ali vô cùng mừng rỡ, cậu ta vừa chèo lái vừa giới thiệu cảnh tượng hai bên bờ, đây là ghat để tắm giặt, kia là ghat để thiêu đốt tử thi. Giọng tiếng Anh pha tiếng Ấn của cậu bé rất khó nghe nhưng lão hiểu cả. Những làn khói nghi ngút bốc lên từ bên bờ đốt tử thi, không có tiếng gào khóc, cảnh tượng an nhiên cát tường. Mặt trời lúc ấy cũng đã ló mặt nhìn xuống, bắt đầu một ngày huy hoàng của sông Hằng. 

Khi thuyền đi đến một đoạn bên bờ Đông, lão thấy ở đây vắng vẻ ít người, liền bảo Ali ghé vào ghat và cột thuyền lại đợi lão tắm một cái để thỏa mãn nỗi lòng bấy lâu. Tuy rằng dòng nước vẫn lững lờ những rác thải và mùi khai tanh nồng nàn trên bờ tạt vào mũi. Nhưng chí đã quyết, lão hình dung ra trước mắt là dòng sữa trong sạch của nữ thần Sông Hằng và nhắm mắt nhẩy xuống. Kỳ lạ thay, khi đã đẫm mình dưới dòng sông mới thấy người nhẹ bỗng, thấy tim đập êm dịu, hồn lâng lâng chìm trong một trạng thái thanh thản, thoát tục, hoan hỉ. Lúc này nhìn dòng sông thấy đẹp đẽ, lộng lẫy lạ kỳ. Lão vẫy vùng dưới sông, cảm giác thân thương, cảm động như thu mình trong lòng mẹ. 

Lênh đênh trên dòng sông đã hơn hai tiếng, lão ra ý cho Ali quay đầu về bến. Mỗi tiếng đồng hồ Ali lấy 40 Rupee. Lão đưa hẳn cho cậu ta 200 Rupee, cậu bé cười tít mắt.

Háo hức mong cho ngày dài trôi mau để đêm về. Và đây, lão được hoà mình cùng buổi lễ tế đêm. Lễ tế đêm sông Hằng (Ganga Aarti) có lịch sử hơn ba nghìn năm, nó được tổ chức hàng đêm bất kể mưa hay nắng. Dù đêm nào cũng có nhưng khán đài nghi lễ vẫn chật kín người. Đây là một sự tôn vinh đối với dòng sông Hằng thiêng liêng, đồng thời đây cũng là một nghi lễ để giao tiếp và kết nối giữa con người và thần linh.

Cốt lõi của Lễ tế đêm là lửa. Các thầy cúng sử dụng các dụng cụ khác nhau để diễn tả các hình thức khác nhau của ngọn lửa, từ que hương, chân nến cho đến chậu lửa. Bởi vì bản thân đây là "lễ tế lửa" -Agni Pooja, hiến tế cho thần Shiva, thần mặt trời (Surya), thần lửa, nữ thần sông Hằng, và cả vũ trụ. Agni là thần lửa trong Ấn Độ giáo, và Pooja có nghĩa là cầu nguyện và hiến tế.

Dù là du khách hay người Ấn Độ, đều có rất nhiều người dự trực tiếp lễ hội này, mọi người đều yên lặng và trang nghiêm, ngồi hoặc đứng trước bậc thềm sông. Ngoài ra vô số thuyền chở du khách trên sông Hằng, và mọi người đều nhìn hướng về nơi lễ đàn ở bờ sông. Buổi lễ được tiến hành với nhịp độ chậm rãi, hiện trường chỉ có những lời ca bằng tiếng Phạn ngân dài, giai điệu an nhiên của chuông tay và bảy nam tư tế Bà la môn trẻ tuổi có đẳng cấp cao nhất, đang thì thầm khẽ hát.

Trước khi làm lễ, bảy vị tư tế đi xuống sông Hằng múc nước thánh, sau đó xếp thành hàng trước bàn thờ, họ thổi pháp khí bằng ốc biển để báo hiệu buổi lễ bắt đầu. Xuyên suốt Lễ tế đêm sông Hằng, các thầy tế lần lượt dùng chuông tay, đèn bảo tháp bảy tầng, pháp khí ốc biển, đèn dầu hình rắn đuôi chuông, quạt lông công, phất trần và các nhạc cụ khác để cúng trời đất tứ phương. Toàn bộ buổi lễ xướng tụng thánh ca bằng tiếng Phạn cổ để bầy tỏ sự tôn kính với sông Hằng. Sau khi các nghi lễ khác nhau lần lượt xuất hiện trên lễ đàn, các tư tế rưới nước thánh vào những lẵng hoa xung quanh, sau đó đổ nước sông Hằng còn lại trở về sông để báo hiệu sự kết thúc của buổi Lễ tế đêm.

Từ đầu đến cuối, lão đắm mình trong không khí lễ tế, vừa thành kính, vừa kinh ngạc. Lão đúc kết ra rằng, Ấn Độ giáo có thể nói là dung hòa hoàn hảo giữa hai nguyên tố đối lập là nước nước và lửa. Nước và lửa vừa là sức mạnh hủy diệt, vừa là sức mạnh thanh tẩy, đồng thời là sức mạnh của tạo hóa. Thật đáng kính nể! 

Mặc dù buổi lễ đã kết thúc nhưng bảy vị tư tế nam Bà La Môn vẫn không rời đi, họ trở lại bàn thờ và chuẩn bị phân phát lương thực của thánh cho mọi người. Đấy là các loại hạt như gạo, ngô, đậu, lạc, mọi người đều đưa tay ra đón lấy. Có nhiều người đứng trước ngọn đèn dầu, hai lòng bàn tay hơ trên nguồn lửa, rồi vò đầu vò tai cầu phúc. Một số nhặt những bông hoa trên tế đàn thả xuống sông Hằng hoặc mua những đèn thuỷ đăng thả xuống sông chắp tay cầu nguyện. Sau đó họ còn lấy tay múc nước uống vài ngụm ngon lành rồi mới lưu luyến ra về. 

Chỉ khi chứng kiến những cảnh tượng này mới cảm nhận được lòng mộ đạo tuyệt đối của tín đồ Hindu và đạo đức đẹp đẽ của họ đối với truyền thống văn hoá tôn giáo đã được lưu truyền hàng ngàn năm. Sự thành tín của họ thực sự đã cảm động đến thần linh, cảm động đến trời đất, cảm động đến con tim bé bỏng của lão PP. 

Đêm hôm ấy, có những ngọn đèn trong cõi u minh của tâm hồn lão được thắp sáng, lão ngộ ra nhiều điều và hoàn thiện mình hơn. Tiện đây cũng xin nhắc nhở các bạn, khi các bạn đến đây trải nghiệm lễ tế đêm, hãy hoà mình vào đấy như một giọt nước của dòng sông và mở lòng thành khẩn đón lấy tất cả mọi chi tiết buổi lễ, như vậy bạn sẽ thu được những nguồn năng lượng tuyệt vời. Nếu chỉ đứng xem như để biết thì rất phí, rất đáng tiếc, bạn sẽ ra ngoài rìa những sự kỳ diệu và bổ ích đem lại cho tâm linh của bạn.

Lão trở về phòng, trằn trọc mãi không ngủ được. Lão khiêng một chiếc ghế ra ban công ngắm nhìn sông Hằng về đêm và suy nghĩ miên man...

Người ngoại đạo khi nhắc đến Varanasi, nhắc đến sông Hằng đều rùng mình khiếp đảm. Sông Hằng trở thành đại từ thay cho hai từ Ô nhiễm. Dòng sông bị ô nhiễm trầm trọng, nước thải công nghiệp, cứt đái con người con vật, xác chết chưa thiêu hết, rác rưởi bồng bềnh trôi...Trên bờ thì cứt đái tràn lan, bò dê chó khỉ ung dung sống cùng con người, lừa lọc ăn xin khắp nơi...Những điều đó là thật, nhưng ẩn chứa nơi đây là phần hồn của một đạo giáo già cội. Dựa trên sức mạnh của nó, con người bao dung chấp nhận mọi khiếm khuyết kể trên. Nhưng dù có lập luận đến đâu với tầm nhìn đương đại đều thấy mâu thuẫn và khó chấp nhận. Chỉ khi bạn cho rằng, cuộc đời là cõi tạm để bước đến một thế giới khác, sống với tâm linh chứ sá chi tiền nhãn. Nghĩ vậy chắc bạn thấy yên tâm hơn và chấp nhận hoàn cảnh nơi đây hơn...kkk

Nhưng với một người như lão, hỗn tạp mọi kiến thức của đời thì vẫn muốn mổ xẻ để thấu hiểu nền văn hoá sông Hằng, khám phá bí ẩn nằm phía sau của nó. Hiểu được văn hoá sông Hằng như một chìa khoá mở ra để lý giải thế giới quan của Ấn Độ giáo. Và chỉ khi bạn hiểu được vì sao sông Hằng trở thành một dòng sông thánh thiện, thì lúc đó bạn mới lý giải được những điều quái dị của xã hội Ấn Độ.

Xuyên ngược về hàng ngàn năm trước, bạn hỏi một người dân ở xứ sở này rằng dòng sông này đến từ đâu? Anh ta sẽ trả lời một cách đanh thép rằng, sông Hằng là nước trên trời đổ xuống! Trí tưởng tượng của họ là chủ nghĩa lãng mạn, kém chi câu thơ Đường của Lý Bạch:

Quân bất kiến:

Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!

Dịch nghĩa:

Anh thấy chăng:

Nước sông Hoàng Hà chảy từ trên trời xuống,

Trôi ra biển và không quay trở lại!

 Hằng hà là dòng sông thần thánh mang nặng màu sắc văn hoá dân gian, vô vàn huyền thoại và truyền thuyết tôn giáo thiết lập nên cảnh tượng đặc biệt về phong tục nhân tình hai bên bờ sông.

Ngoài huyền thoại về thần Shiva trị thuỷ kể trên, còn một câu chuyện rất lý thú. 

Có một đoạn trong sử thi Ấn Độ "Ramayana" nói về "Nguồn gốc của sông Hằng". Câu chuyện kể rằng vị thần Hindu vĩ đại Shiva và Uma đã giao hợp với nhau trong 100 năm mà không hề gián đoạn. Các thần linh kinh hoàng với khả năng “chiến đấu” bất tận của Ngài và thỉnh cầu thần hãy xả tinh dịch của Ngài xuống sông Hằng. Chính vì truyền thuyết cổ xưa này mà người dân xưa đã trả lời rằng: Nước sông Hằng từ trời đổ xuống. Trong cuốn sách “Mỹ học”, Friedrich Hegel từng nói khi nhắc đến câu chuyện này: “Cảm giác hổ thẹn của chúng ta gần như đã bị xáo trộn”.

Là một dòng sông thiêng liêng, ý nghĩa tôn giáo của sông Hằng trong Ấn Độ giáo chủ yếu thể hiện ở những điểm sau:

1. Sông Hằng từ trên trời đổ xuống, vì vậy nó là kênh kết nối giữa thế giới phàm trần và thiên giới, thông qua sông Hằng có thể thiết lập mối liên hệ với các vị thần, và có thể nhận được phước lành và quyền năng từ thiên giới.

2. Sông Hằng cuối cùng cũng sẽ chìm xuống âm phủ dưới đáy đại dương nên nó cũng là kênh kết nối giữa thế giới phàm trần và âm phủ, có sức mạnh cứu chuộc người chết. Sự chuộc tội có thể nhận được bằng cách thủy táng người chết hoặc thả tro của họ xuống sông Hằng. Thông qua sông Hằng, mối quan hệ giao tiếp với tổ tiên có thể được thiết lập.

3. Kết hợp hai điểm trên, Ấn Độ giáo tin rằng sông Hằng đồng thời tuôn chảy trong ba thế giới là thiên đàng, trần gian và âm phủ, trở thành "sứ giả của ba thế giới" (Triloka-patha-gamini) trong truyền thống Ấn Độ. Phạn ngữ Triloka là ba thế giới, Patha là con đường, gamini là du khách, Tirtha là ngã ba điểm tiếp giáp của thế giới thần linh, người phàm tục và linh hồn người chết.

4. Ấn Độ giáo tin rằng nước chảy có sức mạnh thanh lọc nhất, nó có thể hấp thụ bụi bẩn, rác rưởi và mang chúng đi. Sức mạnh thanh tẩy của sông Hằng không chỉ giới hạn ở vật chất, nó còn có thể thanh lọc tâm linh và tinh thần, rửa sạch tội lỗi cho người tắm rửa ở đấy. 

5. Việc thần Shiva dùng chính mái tóc của mình để tiếp nhận nguồn chảy của sông Hằng không phải chỉ xảy ra một lần mà nó đã và đang diễn ra đến tận ngày nay. Là một nguồn năng lượng liên tục, chuyển động và không thể dự đoán được, sông Hằng được coi là biểu hiện sức mạnh của thần hủy diệt Shiva ở cõi trần gian. Sông Hằng là một kênh kết nối trực tiếp với thần Shiva. Thông qua nước sông Hằng, người ta có thể cảm nhận, thưởng ngoạn và hấp thụ năng lượng của thần Shiva.

6. Nữ thần sông Hằng có phẩm chất như một người mẹ trong Ấn Độ giáo, Ngài chấp nhận mọi thứ, bao dung mọi thứ và tha thứ cho mọi thứ. Ngài còn được coi là mẹ của các vị thần, với thần tính vĩnh hằng.

Lão PP cho rằng, trước đây, người Ấn Độ xưa không hiểu nguyên lý của vòng tuần hoàn nước trong khí quyển, do đó, biết bao câu chuyện kỳ ​​vĩ và mộng mơ đã được thêu dệt nên cho một dòng sông một cách ngoạn mục như vậy đấy.

Có thể thêu dệt nhiều câu chuyện nổi tiếng như vậy liên quan mật thiết đến thuyết vật linh (Animism) của Ấn Độ giáo. Bằng cách tìm hiểu về tín ngưỡng tôn thờ sông Hằng, bạn có thể hiểu thêm lý do tại sao người Ấn Độ thờ một cái cây, một hòn đá, bò, khỉ, chuột và những thứ khác trong giới tự nhiên. Trong Ấn Độ giáo, chúng có thể được coi là biểu hiện của một năng lượng nhất định, hóa thân của một vị thần nào đó, hoặc như một cây cầu dẫn đến một thế giới khác.

Chúng ta luôn cảm thấy Ấn Độ là một đất nước rất kỳ lạ, và nó dường như không tương thích với nền văn minh hiện đại. Ấn Độ giáo là tôn giáo lớn lâu đời nhất. Nó có thể có nguồn gốc từ bốn nghìn năm trước. Thế giới quan của người Hindu cũng dựa trên một số cách hiểu tương đối sơ khai về thế giới. Điểm cốt lõi có thể được tóm tắt thành bốn điểm - linh hồn là tồn tại vĩnh viễn, vạn vật đều có hồn, thiện ác quả báo, và luân hồi chuyển kiếp. Dưới sự chỉ dẫn của loại thế giới quan này, chắc chắn sẽ có một số hành vi và hiện tượng mà người ngoại đạo không hiểu được, đứng trên quan điểm của thuyết vô thần, chúng ta sẽ đánh giá họ là những hiện tượng quái dị. 

Hàng ngàn năm lắng đọng của lịch sử đã tạo nên đất nước kỳ diệu này. Ấn Độ có thể được mô tả như một nơi mà người ta vừa yêu vừa ghét. Nền văn hóa tôn giáo giao thoa phức tạp đã hình thành một cảnh quan nhân văn đầy màu sắc, và dòng chảy văn minh kéo dài hàng nghìn năm đã để lại những chùa chiền, cung điện với khung cảnh nguy nga ngoạn mục. Với sự quy tụ của các chủng tộc khác nhau, va chạm vào nhau tạo thành ánh sáng văn hoá đặc trưng ở đây. Khiến vùng đất chưa bao giờ yên tĩnh này trở nên đông đúc, lộn xộn, thánh thiện và đầy màu sắc.

Lão tựa vào ban công cứ thế triền miên suy tưởng và thiếp đi lúc nào không biết. Tiếng chuông tay của một kẻ hành khất lại đánh thức lão. 10 giờ sáng nay phải ra sân bay trở về Hồng Kông. Lão sẽ ghi nhớ trong tâm can mình dòng sông này, mảnh đất này và những con người nơi này.

 Tạm biệt nhé Varanasi! Tạm biệt nhé Hằng hà mến yêu trong tim tôi!

Peter Pho

Wednesday, May 5, 2021

Cảnh sát, luật sư và xe cộ

 Không hiểu sao bỗng nhiên có mấy người bạn chúng tôi nổ ra một tranh luận rằng nếu một khách hàng Đức trình báo lỗi hệ thống của xe hơi (lỗi túi khí chẳng hạn) một cách công khai thì họ có bị công an bắt không... 

Thì ý kiến của tôi cho rằng: chắc là không có công an nào bắt đâu, điều đó là không cần thiết. Bởi lẽ, thông thường, tình huống phát hiện lỗi túi khí xảy ra khi bạn đã đang ở trong trạng thái chấn thương, bất tỉnh hoặc tệ nhất là đã chết. Cảnh sát (chứ Đức không có công an nhé) sẽ xuất hiện để lập hồ sơ và trợ giúp y tế, khám nghiệm hiện trường thôi. 

Nếu bạn may mắn sống sót sau lỗi kĩ thuật của hãng xe đó, rất sớm thôi, có ít nhất 3 tổ chức sẽ tìm đến bạn để hỏi thăm. Thứ nhất là đại diện hiệp hội người tiêu dùng và thứ hai là đại diện các hãng luật. Cả hai đối tượng này họ khá gian xảo, thăm nom bạn là một việc (phụ thôi), việc chính mà họ tiến hành đó là khuyến khích bạn thực hiện một vụ kiện lên hãng xe mà bạn đã mua. Ngay trước hoặc ngay sau chuyến viếng thăm nọ, đối tượng thứ 3 xuất hiện. Đó chính là đại diện luật sư của hãng xe. Lúc này câu chuyện sẽ tiếp diễn y như một series truyền hình kinh điển. 

Đầu tiên, luật sư hãng xe sẽ ngon ngọt hỏi thăm hoàn cảnh gia đình bạn, các khoản vay tín dụng của bạn, con cái đã lớn chưa hay có bố mẹ già cần phụng dưỡng gì không. Sau đó y đề nghị sẽ tài trợ viện phí cho bạn + một khoản tiền mặt để bạn có thể cho con sang Thuỵ Sĩ du học (chẳng hạn) hòng tiến tới một tương lai tươi sáng. Cái xe cũ hỏng rồi người ta cũng có thể tặng bạn một chiếc xe khác mới coong mà chắc chắn là túi khí không bị lỗi. Khi rời đi, y không quên khuyên bạn rằng đừng nghe lời mấy thằng luật sư mắc dịch khác, bọn chúng chỉ muốn lợi dụng bạn mà thôi. Tất nhiên đây cũng chính là điều mà mấy tay luật sư ở khúc đầu có nhắc bạn, rằng đừng bao giờ giao kèo bất cứ thứ gì với hãng xe mà không thông qua sự trợ giúp đắc lực, mẫn cán và đầy trách nhiệm cộng đồng của họ. 

Đến tập 2, bạn bất ngờ xuất hiện trong một văn phòng luật đèn đuốc sáng trưng. Có thể đó cũng là lần đầu tiên trong đời bạn tựa mông trên một chiếc ghế da khung thép có giá 5.000 eur/chiếc. Không phải lo lắng gì cả vì tụi luật sư có rất nhiều ghế đẹp. Thanh niên bạn thân tôi khi mở VP luật riêng cũng quyết phải mua cho được 2 chiếc Le Corbusier giá 7k/chiếc. Quay trở lại căn phòng tráng lệ đó, trước mặt bạn là 2 tổ luật sư khí thế ngút trời. Một bên đại diện cho bạn và bên kia đại diện cho hãng xe. Điều họ đang làm đó là tiến hành dàn xếp một vụ đền bù êm ái không gây ầm ĩ. Họ chắc là sẽ nói về những vấn đề mà bạn nghe cũng không hiểu gì (trong phim thường là như vậy). Những chiếc mông nhấp nhổm bồn chồn trên những mặt ghế da thuộc 5k. Cuối cùng đại diện hãng xe đặt lên bàn một con số gấp 10 lần con số ban đầu họ đưa ra và hỏi rằng bạn có đồng ý không. 

Lúc này bạn mới nhận ra rằng tất cả chỉ là lời dối gian, họ đã có thể đưa bạn con số này ngay từ buổi đầu gặp gỡ cơ mà. Bạn im lặng lắc đầu dưới cái nhìn đượm thân tình và cổ động từ tổ luật sư của bạn. Nước mắt tuôn rơi, trò chơi kết thúc. Đại diện luật sư hãng xe hỏi rằng vậy bao nhiêu là đủ cho bạn, ngay lập tức, hãng luật của bạn lên tiếng. Họ yêu cầu 30 lần con số đang có ở trên bàn. Và đó là lúc mà hai bên nổi xung lên, bạn không còn hiểu mô tê gì nữa cho đến khi luật sư của bạn hét lên rằng “cút cm chúng mày đi, chúng ta sẽ gặp nhau ở toà”. 

Tất nhiên có nhiều người sẽ thắc mắc rằng tại sao hội luật sư Tây quăng nổi tiếng tham tiền mà lại nghĩa hiệp như vậy? Thì thực tế là họ cũng không nghĩa hiệp gì đâu. Các vụ kiện liên quan đến lỗi hệ thống có thể dẫn tới các thoả thuận đền bù từ hãng xe lên khách hàng có giá trị hàng chục triệu đô la - và văn phòng luật đại diện cho bạn sẽ nhận một khoản phần trăm không nhỏ chút nào sau khi bị đơn thực hiện nghĩa vụ đền bù. 

Nếu hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tham gia vào nguyên đơn, vụ kiện sẽ lớn hơn, tiền đền bù sẽ nhiều hơn bởi vì hãng xe có khả năng phải tiến hành đền bù cho tất cả các khách hàng đã từng mua xe/ hoặc phải tiến hành thu hồi toàn bộ xe với chi phí hoàn trả khổng lồ. Nó đủ tình tiết để làm thành một series truyền hình mà ban đầu bạn được đóng vai chính. 😬

Vụ kiện có thể diễn ra trong nhiều năm, bạn có thể thắng hoặc thua. Nó thuần tuý là các hoạt động pháp lý. Người ta có thể phát hiện ra rằng lỗi hệ thống đó không bắt nguồn từ hãng xe chẳng hạn. Mặc dù vậy nó vẫn gây ra thiệt hại lớn cho cả bạn lẫn hãng xe. Nhưng có một điều mà đôi bên cùng chắc chắn đó là phải làm ra ngô ra khoai thì thôi và bạn không đơn độc trong hành trình này.  

Trở lại với câu hỏi quan trọng nhất là công an có đến bắt bạn đi không(cảnh sát nhé, Đức không có công an). Thì câu trả lời là cảnh sát họ bận bịu nhiều việc lắm, không rảnh để làm thuê cho một hãng xe nào đâu. 

Có thể có người sẽ hỏi rằng vì sao mà tôi biết điều đó thì nguyên do là một trong những khách hàng mà tôi từng làm cho là VW. Đó là hãng sở hữu cùng một lúc Audi, Porsche, Lamborghini, Volkswagen, SEAT, ŠKODA, Bentley, Bugatti, Ducati, Scania và MAN. Sau một thời gian làm việc thì tôi có nắm được đôi chút những vấn đề mà các hãng xe có thể đối diện. Mà thật ra người sử dụng xe hơi ở Đức ai họ cũng biết thôi mà.

Ah mà ở Đức thì thế chứ tôi cũng không biết ở nơi khác thì thế nào. Để ra một mẫu xe ở Đức, quy trình của nó rất ngặt nghèo, hãy hình dung là mẫu Volkswagen bản thương mại bình dân từ 2008 đến nay gần như không có thay đổi gì. Không phải là họ không thể ra mẫu mới, mà thực tế là điều đó đòi hỏi quy trình quá khắt khe dẫn tới việc chỉ có thể mỗi năm nâng cấp lên chút đỉnh thôi. Mà đấy là trung tâm R&D (nghiên cứu và phát triển) của họ có độ to bằng cả 1 thành phố đấy. Chuyện xe cộ với người Đức nó không đùa được đâu các mẹ ạ.

Ảnh: chắc có nhiều người sẽ hỏi về bàn ghế luật sư hay mua thì bức ảnh này là một ví dụ. Ghế có tay dựa do Le corbusier thiết kế. Giá bình dân mua tại hãng 5k/chiếc. Cái này ngồi ở sảnh thì đẹp. Còn vào phòng họp lại có ghế khác nhé. Những chiếc ghế đẹp nhất, kinh điển nhất đều là do KTS thiết kế ra, chúng được giới luật sư ưa dùng và nếu tìm hiểu thêm bạn sẽ tìm ra ý nghĩa đằng sau những chiếc ghế ấy.

Lê Quang

Tuesday, May 4, 2021

CHUYỆN XỨ LÀO...!

 Nhiều người hay đem những đức tính cao quý của người Nhật ra để so sánh, để thấy người Việt mình tệ biết chừng nào.

Rồi nhiều người khác kêu rằng so sánh như vậy là khập khiễng...

Khập khiễng vì nước Nhật giàu có và văn minh từ lâu, sao bì được.

Tui thấy vầy: Có thể phú quý sinh lễ nghĩa; rách quá, đôi khi cũng khó mà thơm, thế nhưng văn minh là chuyện khác. Không phải cứ giàu là văn minh, và ngược lại (tui, và chắc các bạn cũng vậy, đã nhiều lần chứng kiến lắm kẻ giàu nứt đố nhưng văn minh vẫn là zero đó thôi).

Không nói đâu xa xôi, sát bên nách mình thôi, nước Lào nè....! Trời ơi, họ văn minh khủng khiếp. Chân đã đi nát mặt địa cầu nhưng nếu hỏi tui yêu quý dân tộc nào nhất, câu trả lời sẽ là Lào....!

Người Nhật văn minh vì đôi khi họ buộc phải gồng lên làm điều đó để thỏa mãn những chuẩn mực tối thiểu của một nền văn hóa khắt khe, dần dà thành bản tính đặc hữu giống nòi....

Người Lào thì khác, họ văn minh một cách rất hồn nhiên, như máu họ sẵn có, như ngàn đời nay vẫn vậy, chẳng cần cố gắng gì....!

Nước Lào tươi đẹp, tươi đẹp vì xanh mát, trong lành và bình yên....!

Người Lào hồn nhiên, hiền hậu, chân thật, lịch sự và điềm đạm. Từ lao động chân tay đến trí thức, cảnh sát hay doanh nhân, ai ai cũng toát lên một thần thái an lạc...

Nước Lào ít có người giàu, phần lớn những người giàu nhất là doanh nhân Hoa kiều và Việt kiều. Vì người Lào ít kinh doanh. Nếu có, họ cũng đóng cửa sớm lắm. Khi thấy mới 5 giờ chiều họ đã đóng cửa hàng, tui hỏi sao sớm quá, không bán thêm vài tiếng nữa, anh chị cười cười “Thôi, nhiêu đó đủ rồi, về ăn cơm rồi xem ti vi”. Là không phải họ lười biếng là không phải họ hổng biết kinh doanh, là không phải họ chê tiền, chỉ là họ biết đủ....!

Làm được điều này như họ khó, khó lắm....!

Ở Lào, rất rất hiếm có chuyện cướp giật hay mất trộm ngoài đường. Chiếc xe máy dựng trước thềm nhà không khóa, sáng ra vẫn y nguyên. Nửa khuya, giữa ngã tư thênh thang vắng, người ta vẫn dừng đúng vạch đèn đỏ. Giao thông bên ấy rất tuyệt vời, thỉnh thoảng giữa thủ đô cũng có kẹt xe giờ tan tầm nhưng tuyệt nhiên không có chen lấn hay bóp còi, không có cáu gắt hay bực dọc. Khi bạn băng qua đường, dù không trên vạch trắng, xe cộ thấy bạn từ xa, họ đã hãm tốc. Thành phố lúc nào cũng lằng lặng, ngày cũng như đêm. Đi mua sắm, lựa chọn đã đời, xách đít không đi ra, họ vẫn vui vẻ chắp tay chào. Và còn nhiều nữa...!

Vũ trường ở Lào, nói thiệt, như cái quán hủ tíu bên mình vậy, sơ sài, nghèo nàn và vắng vẻ. Nhưng bảo tàng và thư viện rất to, nhà hát rất đẹp, lúc nào cũng đông...!

Tự suy ra nhé...!

Để tui kể chuyện này cho nghe, hồi SEA Games 25, lúc biết bóng đá Việt Nam vào được chung kết và cơ hội thắng Malaysia để vô địch là rất cao, tui rủ thằng bạn bay qua Viêng Chăn để ủng hộ đội nhà, để sướng với cảm giác vô địch. Trần ai kiếm được vé máy bay, qua tới nơi, khách sạn sang hèn, nhà trọ lớn nhỏ không còn một chỗ trống. Dân Việt Nam ngập tràn bên đó, phần lớn đi đường bộ qua cửa khẩu Lao Bảo.

Anh taxi cũng khốn đốn tới khuya để chở tụi tui đi tìm nơi ở, rồi anh xin lỗi vì không giúp được. Thì thôi, kiếm chỗ nào có mái che, lăn ra ngủ vậy, cổ động viên bóng đá chứ có phải doanh nhân đi nghỉ dưỡng đâu. Nghe vậy, anh taxi hổng chịu. Anh nói ở đây an toàn, không sợ gì con người nhưng anh sợ nửa đêm gió sương... Rồi anh mời tụi tui về nhà, gọi vợ mình dậy nấu mì cho ăn. Khách tắm rửa xong, vợ chồng anh nhường cho họ phòng ngủ của mình. Sáng ra, anh chở đi tìm vé vào sân vận động (ui trời, dân bán vé chợ đen toàn Việt Nam tràn qua). Gửi biếu anh chị tiền, họ nhất mực không nhận, chỉ lấy tiền taxi.

Vậy đó...!

Ai mơ ước người Việt được như người Nhật thì cứ việc...

Tui, thằng đã mòn đít ở Nhật, chai chân ở Việt Nam, bạc đầu ở Đức,... lại mơ ước dân mình được như... dân Lào...!

Hồng Hải

Monday, May 3, 2021

Chuyện mấy ông XKLĐ

 GIÁO SƯ ĐI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

Bài: Sưu tầm

 Năm 1981, thấy mình còn mấy năm nữa về hưu mà nghèo đói quá, giáo sư Nam xin đi xuất khẩu lao động. Ông trình bày với lãnh đạo Viện là biết Viện có một số suất đi Irac lao động, muốn có chút tiền trước khi về hưu nên xin đi và được chấp thuận.

Đội trưởng đội lao động ở Irac là học trò cũ của ông, thương thầy già yếu mà khí hậu Irac cực kỳ khắc nghiệt, ngày nắng nóng lên 40-41 độ, nên phân công ông lau chùi các phòng vệ sinh, một công việc nhẹ nhàng trong nhà.

Chấp nhận đi xuất khẩu lao động kiếm tiền thì việc gì cũng phải làm. Nay học trò ưu tiên việc đỡ vất vả nhất, ông vui vẻ đồng ý.

Ông đồng ý một phần vì chỉ già nửa buổi sáng là xong việc, ông có thể ngồi đọc sách, buổi chiều cũng vậy.

Ba tháng trôi qua, một ngày nọ thấy ông đang ngồi đọc sách dưới bóng cây trong vườn, vị Phó Giám đốc Viện thiết kế thủy lợi, nơi ông làm việc, đi qua. Thấy có người ngồi đọc sách trong giờ làm việc, vị Phó GĐ dừng lại hỏi. Ông trả lời lưu loát bằng tiếng Pháp là làm công việc lau chùi các nhà vệ sinh, xong việc ra ngồi đọc sách. Phó GĐ Viện thấy ông Nam đang cầm cuốn Đôn Kihote bằng tiếng Tây Ban Nha, quá ngạc nhiên, ông hỏi ngoài tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha ông còn biết tiếng gì. Ông Nam trả lời còn biết tiếng Nga và đọc được một ít chữ Hán.

Quá ngạc nhiên. Một ông biết nhiều ngoại ngữ thế mà phải đi xuất khẩu lao động, lại làm việc lau chùi nhà vệ sinh. Phó GĐ hỏi ở Việt Nam ông làm gì? Ông ngượng nghịu trả lời tôi dạy ông đội trưởng của chúng tôi.

 ⁃ Về thiết kế công trình Thuỷ lợi?

 ⁃ Vâng.

Ông Phó GĐ thêm một lần nữa ngạc nhiên. Một vị giáo sư lại đi xuất khẩu lao động? Thật khó hiểu!

Vị Phó GĐ quay về văn phòng, gọi người phụ trách lao động nước ngoài lên hỏi có ai trong danh sách lao động Việt Nam là giáo sư đại học không. Ông kia trả lời có một số kỹ sư, còn lại toàn là công nhân mà hầu hết là làm trên công trường xây dựng thủy lợi. Không thể nào hiểu nổi!

Ông Phó GĐ mời ông Nam lên phòng mình, đưa cho ông Nam một bản thiết kế công trình thủy lợi mà phòng chuyên môn mới trình ông xem xét:

 ⁃ Ông đọc giúp bản thiết kế này và cho ý kiến nhận xét.

Một ngày sau ông Nam nộp bản báo cáo đánh giá, vạch ra những chỗ sai sót cần điều chỉnh. Ông Phó Giám đốc chăm chú đọc và lần này vô cùng ngạc nhiên. Bản nhận xét này chỉ người rất giỏi trong ngành mới viết nổi.

Vị Phó GĐ Viện nhanh chóng quyết định:

 ⁃ Tôi mời ông làm trợ lý cho tôi. Chúng tôi sẽ cấp cho ông căn hộ hai phòng và xe hơi đưa đón làm việc. Tôi sẽ báo cho đội trưởng của ông là chúng tôi sẽ trả lương cho ông theo chức danh trợ lý Phó Giám đốc mà không bớt số tiền lương của ông theo hợp đồng hợp tác lao động.

Từ đó ông Nam làm việc trong phòng máy lạnh. Mọi việc đều OK.

Anh đội trưởng học trò ông cũng Ok, hàng tháng lĩnh phần lương công nhân xuất khẩu lao động của ông để anh em uống bia.

Bạn đọc sẽ nhận xét chuyện của lão Hâm thường có hậu. Đúng vậy, không có hậu thì kể làm gì?

Pham Mylan st (Những câu chuyện thú vị)

Sunday, May 2, 2021

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân ...

 [Luận Tam Quốc] Khoái Việt, 

    Lưu Biểu được phong làm Mục Kinh Châu, đeo ấn tới Dĩnh Xuyên-Tương Phàn, cả 9 quận Kinh Tương đều nằm trong tay Viên Thuật. Thuật sai Tôn Kiên đánh dẹp các quận, chúng đều phải hàng phục. Các hào trưởng nổi dậy như ong, đều chiếm đất, thu thuế, trưng quân, tự phong là tướng, làm lệnh, đều không phục tùng lệnh triều đình. Biểu là Mục mà quân không có một tên, đất không có một tấc, bèn tìm các danh sĩ Kinh Sở là Khoái Lương, Khoái Việt, Sái Mạo, Phó Tốn và Hàn Tung hỏi kế. 

       Lương nói "Viên Thuật có dũng cảm mà thiếu quyết đoán, lại ưa xa xỉ, sớm muộn cũng diệt vong. Tôn Kiên tuy hung tợn, nhưng liều lĩnh, sẽ đoản mạng. Ngài nêu cao nhân nghĩa, giữ chữ tín, thiên hạ sẽ bồng bế nhau theo ngài."

      Việt nói "Nhân nghĩa là để trị bình. Nếu ngài làm chủ Kinh Châu hãy nói đến nhân nghĩa. Quyền mưu là để trị loạn. Xin cho mời các hào trưởng đến, trị những tên hung tợn để lấy uy, chọn kẻ thuộc lại thay thế làm nanh vuốt, từng bước nuốt Kinh Châu".

      Biểu bèn phát hịch nhân danh thiên tử mà hiệu triệu bọn hào trưởng. Sai Khoái Việt phục sẵn vũ sĩ, một buổi sáng chém năm mươi tên hào trưởng, cả châu run sợ. Lại lấy bọn thuộc cấp lên thay thể sai đánh dẹp, thu lại cả chín quận Kinh Châu. Lại bắn chết Tôn Kiên, Thuật không dám động.

     Sau này Tào Tháo lấy được Kinh Châu, gặp Khoái Việt, tâm đầu ý hợp viết thư cho Tuân Úc nói "Ta được Kinh Châu chẳng lấy làm mừng, chỉ mừng có được Dị Độ." Bèn bái Việt làm quân sư. Chẳng may Việt mất sớm, Tháo thương tiếc bèn chăm sóc vợ con rất tử tế.

     Việt dòng dõi Khoái Thông. Thông cũng nổi danh hiểu đại cuộc thiên hạ thời Hán Sở tranh hùng. Hàn Tín chiếm được đất Tề bèn sai người mời Thông. Thông bày mưu cho Tín chia ba thiên hạ. Tín không nghe theo và nói "Ta tin Hán không phụ ta." Khi Hán lấy được thiên hạ bèn giết Tín, lại bắt Thông. Thông nói "Tiếc thay thằng nhãi ranh không nghe lời ta. Tuy vậy, kẻ bày mưu chỉ biết đến người nghe, nào biết ai là vua thiên hạ." Bang vì vậy mà tha tội cho Thông.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, May 1, 2021

Người thật việc thật: Người miền Nam và chế độ mới sau ngày 30/4/1975

 NGÀY 1-5 QUỐC TẾ LĐ : ĐỌC LẠI HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ

Giáo sư Nguyễn Tuấn

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975. Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị. Ông tự nhận là người "có cảm tình với 'cách mạng'". Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi kí. Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi kí viết về những gì xảy ra sau 1975. 

Thời đó, tôi còn ở trong nước, và có thể nói là cảm nhận TỪNG CHỮ của ông. Thậm chí, ông viết còn chưa đủ về tình trạng bi đát lúc đó. Ông viết những dòng chữ này từ năm 1980, nhưng tôi nghĩ đến nay thì vẫn đúng y chang! 

Kết Quả Sau 5 Năm

“𝐓𝐡𝐚̂́𝐭-𝐁𝐚̣𝐢 𝐓𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐇𝐨̀𝐚 𝐁𝐢̀𝐧𝐡”

Mấy tháng đầu sau ngày 30-4-75, các bạn kháng chiến, già cũng như trẻ, nhất là trẻ, đều có tâm lí chung là hăm hở hưởng thụ sau mấy chục năm gian khổ sống chui, sống nhủi trong rừng, trong bụi, dưới hố dưới hầm. Đành rằng phải bắt tay ngay vào việc kiến thiết, nhưng đã có đường lối sẵn rồi, có kinh nghiệm hai chục năm ở Bắc thì không có gì khó; vả lại đã thắng được Mĩ, thành cường quốc thứ ba trên thế giới, sau Nga và Trung hoa thì có việc gì mà làm không được, chỉ trong 5 năm sẽ tiến bộ, hai chục năm sẽ đuổi kịp Nhật bản về kinh tế.

Muốn kiến thiết thì trước hết phải san phẳng chế độ cũ đã không để lại một dấu vết nào cả. Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ. Phải diệt bọn tư bản, chiếm nhà cửa, tài sản như núi của họ, chia nhau mỗi người một chút. “Đó là quyền của mình mà!”

Thời chiến hễ nung được lòng yêu nước của quốc dân rồi, giữ cho lòng đó đừng giảm, quốc dân kiên trì chịu đựng được tớỉ phút chót thì không còn vấn đề gì nữa: thiếu cái gì đã có Nga, Trung hoa cung cấp cho; trái lại trong thời bình mới phải đương đầu với nhiều vấn đề nội bộ, ngoại giao, kinh tế, nhất là kinh tế. Nước ta nghèo, thiếu vốn đầu tư thiếu kĩ thuật gia, khó phát triển kinh tế mau được. Thất bại về kinh tế thì sự nghiệp của cách mạng sụp đổ.

Bây giờ 5 năm sau ngày 30-4-75, hết kế hoạch ngũ niên đầu tiên rồi, chúng ta mới thấy cơ hồ chẳng tiến bộ về một phương diện nào hết mà còn thụt lùi nữa, và ai lạc quan tới mấy cũng phải nhận chúng ta đã bỏ phí 5 năm, và không biết phải mấy năm nữa mới bắt lại được thời gian đã mất đó. Trong khi ấy thì thế giới cứ vùn vụt tiến tới.

𝟏) 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 đ𝐨𝐚̀𝐧 𝐤𝐞̂́𝐭

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Đào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc.

Có nhiều nguyên nhân.

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “ngụy” hết, trụy lạc, bị nhiễm độc nặng của Mĩ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến rằng dân Sài gòn hư hỏng quá rồi. Họ chỉ nhìn bề ngoài, chỉ thấy một số thanh niên híp pi, lêu bêu ở ngoài đường; tôi phải giảng cho họ hiểu rằng đó chỉ là thiểu số, chứ đại đa số người trong này ghét Mĩ, ghét văn minh Mĩ, có thể nói gia đình nào cũng có người có cảm tình với kháng chỉến, giúp kháng chiến cách này hay cách khác, nếu không vậy thì làm sao kháng chiến thành công được. Chỉ nội một việc biết người nào đó là kháng chiến mà không tố cáo cũng đủ có công với kháng chiến, chớ đừng nói là còn che chở, giúp tiền bạc, tiếp tay cho nữa. Chỉ trừ một số phản quốc, theo Mĩ, Thiệu triệt để vì quyền lợi, còn thì không có gia đình nào trong Nam là ngụy cả. Một số người yêu nước, có tư cách, mới đầu gia nhập kháng chiến, sau vì lập trường chính trị, phải rời hàng ngũ, về thành, mà không ưa Pháp, Mĩ, hạng đó không nên coi người ta là ngụy. Bọn thanh niên hư hỏng chỉ ở Sài gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn.

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật - điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học - thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau... Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú...

Trong mỗi cơ quan ở Sài gòn cũng có sự chia rẽ. Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn “nằm vùng” cũng không ưa bọn tập kết về đó; bị khinh nhất là bọn ngụy được tạm dùng lại, mà bọn này thạo việc hơn hết. Chính vì thiếu đoàn kết cho nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và ở Bắc có câu này: Nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

𝟐) 𝐁𝐚̂́𝐭 𝐜𝐨̂𝐧𝐠

Điểm thứ nhì làm cho chúng ta thất vọng là xã hội còn bất công hơn thời trước nhiều.

Có người nói một số “ông lớn” đi đâu cũng có người hầu xách bình nước sâm Cao li để ông lớn uống thay trà; một ông nọ luôn luôn có một bác sĩ ở bên và một thiếu nữ quạt hầu vì ông không chịu được quạt máy. Tôi không biết những tin đó đúng hay không, chỉ biết những tin đó do “anh em cách mạng” đưa ra cả.

Một ông bạn tôi bảo có vô nhà thương mới thấy có cả chục (sic) giai cấp bệnh nhân, tùy giai cấp mà được ở phòng nào, khám bệnh ra sao, trị bệnh ra sao, cấp thứ thuốc nào v.v…

Người chết cũng phân biệt giai cấp khi đăng cáo phó: cán bộ thường thì được mấy phân trên cột báo, cán bộ bự thì được mười mấy phân; lời cáo phó cũng theo những tiêu chuẩn riêng. Đúng là đường lối Staline.

Sài gòn được giải phóng vài năm thì ta thấy xuất hiện ngay một hạng giàu sang mới nổi, thay thế bọn giàu sang thời Thiệu, và cũng thích những xa xí phẩm (áo hàng thêu, hột xoàn, máy điều hòa không khí v.v...) của thời Thiệu. Tiền đâu mà họ mua những thứ đó nhỉ?

Sự bất công chướng nhất, tàn nhẫn nhất là lương công nhân viên từ 1975 cứ đứng yên trong khi sự phân phối nhu yếu phẩm giảm đi gần hết, chỉ còn gạo, bo bo là tạm đủ, nhất là trong khi mãi lực của đồng bạc năm 1980 chỉ còn bằng 1/10 năm 1975; thành thử lương một công nhân viên chỉ đủ để mua củi chụm, lương một bác sĩ mới ra trường chỉ đủ để mua rau muống ăn. Khắp thế giới không đâu có chế độ lương bổng kì cục như vậy (2). Người nào cũng phải bán đồ đi mà xài, nhờ cha mẹ giúp đỡ, nếu không thì phải xoay xở mọi cách, làm sao sống được thì làm, chính phủ không biết tới. Một cán bộ ở Hà nội đã phàn nàn: “Người ta có rất nhiều quyền hành mà không có một chút tinh thần trách nhiệm nào cả. Thật lạ lùng!” Kravchenko (trang 185) nói chính phủ Nga bắt dân đói để dân biết phép chính phủ mà phải răm rắp tuân lệnh. Ở nước ta không đến nỗi như vậy, có áp dụng chính sách đó thì chỉ áp dụng cho những kẻ thù của chế độ thôi, tức bọn ngụy quân ngụy quyền còn ở trong một số trại cải tạo.

𝟑) 𝐓𝐡𝐢𝐞̂́𝐮 𝐤𝐢̉ 𝐥𝐮𝐚̣̂𝐭

Không ai có trách nhiệm mà tinh thần bè phái quá nặng, nên không có kỉ luật, dưới không tuân trên, loạn.

Chương trên tôi đã nói tới cái tệ mỗi tỉnh là một tiểu quốc, địa phương tự do tới mức không tuân lệnh trung ương (ngay xã cũng không tuân lệnh tỉnh, huyện), lấy lẽ rằng chỉ địa phương mới hiểu tình trạng của địa phương, cấp trên không nên xen vào; cái tệ nhân viên được lệnh đi công tác mà không đi, nằm ỳ ở nhà, một tuần sau trở lại sở, trả sự vụ lệnh mà không bị khiển trách; cái tệ nhân viên muốn bỏ sở về giờ nào thì về, lấy cớ là phải kiếm gạo, chủ nhiệm đành làm thinh, chứ không biết đáp sao.

Tôi kể thêm một trường hợp nữa. Ông giám đốc một cơ quan nọ đến tuổi về hưu, bảo người giúp việc: “Tôi sẽ không về, về thì mất hết quyền lợi: xe hơi, “bìa” (sổ đặc biệt đề mua nhu yếu phầm), nhà ở v.v..., mà còn bị xã ấp nó ăn hiếp, hoạnh họe cái này, cái khác; không, tôi không về,” Một ông giám đốc mà sợ công an ấp vì công an có quyền bắt ai thì bắt, giam ai thì giam. Một viên công an bảo: “Tôi làm việc bốn năm năm rồi, mà bây giờ mới biết quyền hạn của tôi, từ trước tôi muốn làm gì thì làm”.

Vì mất kỉ luật, cho nên thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự: ở miền Nam trốn tới 90%, có nơi cả 100% mà vẫn sống yên ổn. Bắt được họ, đưa họ ra mặt trận, họ lại trốn nữa. Không thể giam hoài họ được, gạo đâu mà nuôi? Họ sống yên ổn ngay ở làng vì chỉ cần đút lót cho công an là êm. Còn nạn đào ngũ thì toàn quốc tới 25%. Trước kia người ta hi sinh để giành độc lập; bây giờ độc lập rồi lại đánh nhau với nước anh em, người ta không hăng hái nữa.

Nghe nói ở một tỉnh nọ, viên giám đốc sở tài chánh kiêm giám đốc ngân hàng (?) ôm 60 lượng vàng cùng với 30 viên công an xuống một chiếc tàu của chính phủ, mang theo đầy đủ khí giới (và không biết bao nhiêu lượng vàng nữa) để vượt biên. Tin đó chưa lấy gì làm chắc nhưng chuyện công an - cây cột chống đỡ chế độ - ôm vàng vượt biên thì mấy năm nay nghe thường quá rồi.

Tinh thần vô kỉ luật đó, không biết một phần có phải do chính sách giáo dục trẻ em không. Người ta cấm đánh trẻ - điều đó có thể hiểu được - cấm nghiêm khắc với trẻ, chúng nghỉ học thì lại nhà mời chúng đi học; chúng làm biếng thì không bị phạt mà cô giáo bị trách là dạy dở. Kỳ tựu trường có nơi còn tổ chức múa lân, đốt pháo để dụ trẻ em đi học nữa. Cô giáo nào mời được ít trẻ thì bị rầy. Riết rồi cô giáo ngán dạy quá, cứ tự ý nghỉ bừa, hiệu trưởng phải tới nhà năn nỉ, nếu không thì lỗi ở hiệu trưởng chứ không phải ở cô giáo. Và người ta ngán luôn cả nghề sư phạm: dốt hoặc muốn tránh nghĩa vụ quân sự mới phải thi vô sư phạm.

Kỉ luật như vậy, trẻ em càng được thể làm biếng, sức học rất kém, mà tính ngỗ nghịch (bóp vú cô giáo như trên đã nói) thì quá sức tưởng tượng. Một số cán bộ già ở Bắc vô nhận rằng trẻ em trong này ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng tôi sợ rằng ít năm nữa, chúng đuổi kịp bạn chúng ở Bắc mất.

𝟒) 𝐊𝐢𝐧𝐡 𝐭𝐞̂́ 𝐬𝐮𝐲 𝐬𝐮̣𝐩

Sự thất bại hiển nhiên nhất của chế độ là sự suy sụp của kinh tế mà tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Từ ngày 30-4-75, do những đồng bào ở Bắc vào, chúng ta ở Nam mới lần lần biết cảnh điêu đứng của dân tình ngoài đó sau hai chục năm sống dưới chế độ mới. Từ trên xuống dưới ai cũng phải ăn độn có khi 60-70% (3); có hồi gạo quí tới nổi người ta cất vào trong những cái thố, cái liễn, trân trọng như nhân sâm, chỉ khi nào đau ốm mới lấy ra một nhúm để nấu cháo; ngày tết mà có đủ gạo nấu cơm cúng ông bà là mừng lắm; khi nào được ăn một bữa cơm không độn với nước mắm thôi thì coi như được dự một bữa tiệc. Nước mắm rất hiếm, có người ở Nghệ an hay Hà tĩnh mấy năm không có nước mắm ăn, gặp người trong Nam ra đem theo nước mắm, xin một vài muỗng rồi cầm nuốt ực ngay hết, không đợi đem về nhà.

Nhiều người vào Sài gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa bò, ve chai... đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam này là thiên đường. Nhưng một người Ba lan trong ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quần áo... về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi.

Dân miền Nam từ xưa chưa bao giờ biết đói, phải ăn độn thì năm 1979 đã phải ăn độn 70-80%, có những gia đình phải ăn bữa cơm bữa cháo, có cô giáo và học sinh đói quá, tới lớp té xỉu

Nhà nào cũng bán đồ cũ đi để ăn; nhiều giáo viên nhà đã trống rỗng, không còn bàn ghế nữa, ăn ngủ trên sàn. Ai cũng chỉ lo sao có cái gì nuốt cho đầy bao tử, chứ không dám nghĩ tới miếng ngon. Tết Canh Thân (1980) vừa rồi, ở Long xuyên, nhà một giáo viên hồi hưu, trên bàn thờ ông bà chỉ bày một đĩa có mấy chiếc bánh phồng và bánh gai, không có một đòn bánh tét, một quả dưa hấu.

Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ... để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá.

Không có tiền mua rau thì làm gì có tiền mua thịt. Muốn lâu lâu có thịt thì phải nuôi heo, gà, cho nên nhiều cơ quan ngay khi mới thành lập đã nghĩ ngay đến việc hùn tiền (hay lấy trong quĩ?) mua heo con, phân công nhau nuôi tại khu ở tập thể, như vậy đến lễ, tết mới có thịt liên hoan. Người ta thèm thịt quá, cho nên liên hoan lu bù, bất kì một dịp gì cũng liên hoan được: một bạn đồng nghiệp được ban khen, ngày tựu trường, bãi trường, họp bạn để học tập, ban hành hiến pháp mới, làm xong một công tác, mỗi ngày lễ, tết... mỗi năm liên hoan cả chục lần là ít.

Cơ quan nào cũng có đủ nhà bếp, chén đĩa, xoong chảo, người làm bếp (lựa trong nhân viên) để nấu ăn làm tiệc. Và khi ngồi vào bàn tiệc thì chẳng ai mời ai, đợi ai, mạnh ai nấy gắp, ăn cho thật mau (tới nỗi có người bảo cứ nuốt trước rồi sẽ nhai sau!), tệ gấp 10 thói ăn uống ở đình làng mà Ngô Tất Tố đã mạt sát trong cuốn Việc làng.

Nghèo thì sinh ra ở bẩn. Ngay trong khu tập thể một trường Đại học Hà nội, phòng một giáo sư ở Pháp về cũng dơ dáy, từ sàn gạch đến tường đều đầy vết bẩn. Hỏi như vậy làm sao chịu được, ông ta nhún vai đáp: “Lâu rồi quen đi” Không nên trách ông ta. Dù muốn sống sạch cũng không thể được: đâu có vôi để quét tường? đâu có xà bông để rửa sàn? đâu có giẻ để lau? Nước thì có nhưng phải xuống dưới sân để hứng rồi xách lên 5-6 chục bực thang, ai mà không ngại?

Phải, lâu rồi thì quen đi. Nếu tình trạng không thay đổi thì chỉ mươi năm nữa, toàn dân sẽ quen đi, không thấy gì là bẩn nữa. Hiện nay ở trong Nam đã nhiều nhà để bụi đóng đầy bàn ghế - mà trước kia họ sống rất sạch - mạng nhện giăng đầy trần, còn dân thị xã thì đã quen với cảnh bốn năm người cùi nằm trên đường đưa tới chợ, lăn ở giữa chợ để xin ăn.

Câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” của ông cha, chúng ta không giữ được vì chúng ta nghèo tới mức không thể ở sạch được.

𝐗𝐚̃ 𝐇𝐨̣̂𝐢 𝐒𝐚 Đ𝐨̣𝐚

Điều đáng ngại nhất là sa đọa về tinh thần, tới mất nhân phẩm.

𝟏) 𝐓𝐡𝐚𝐦 𝐧𝐡𝐮̃𝐧𝐠

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu... Cái tệ đó còn lớn hơn tất cả các thời trước.

Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bênh vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đọa thêm chứ để chúng mau sụp đổ”.

Có những ông trưởng ti uống mỗi ngày một ve Whisky (tôi không biết giá mấy trăm đồng), hút hai ba gói thuốc thơm 555 (30 đồng một gói). Bọn đàn em của họ cũng hút thuốc thơm, điểm tâm một tô phở 6 đồng, một li cà phê sữa 4 đồng, sáng nào như sáng nấy mà lương chỉ có 60-70 đồng một tháng.

2) Ăn cắp

Như vậy thì tất phải có những vụ ăn cắp của công (Kho một trung tâm điện lực nọ cứ bốn năm tháng lại mất trộm một lần mà không tra ra thủ phạm; rất nhiều bồn xăng bị rút cả ngàn lít xăng rồi thay bằng nước...), thụt két, ôm vàng trong ngân hàng đề vượt biên, có khi lại tạo ra những vụ kho bị cướp, bị cháy v.v... Y tá ăn bớt thuốc của bệnh nhân rồi tố cáo lẫn nhau, giám đốc biết mà không làm gì được. Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi. Vì vậy chúng càng hoành hành, ăn cắp, ăn cướp giữa chợ, cảnh sát làm lơ, còn dân chúng thì không dám la, sợ bọn chúng hành hung. Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

𝟑) 𝐂𝐨𝐧 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 𝐌𝐚̂́𝐭 𝐍𝐡𝐚̂𝐧 𝐏𝐡𝐚̂̉𝐦

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân sơn nhất hai năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng tàu chờ ghe đưa ra khơi. Đa số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Để cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám thêm bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài gòn, 0,8 đồng ở tỉnh (5). Nhưng ở Long xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn thứ đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử... cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không cho dân đủ sống, dân phải xoay xở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên có nơi chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép cả giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm văn Đồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp, có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế. Ông Hồ Chí Minh có lần nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người vẫn là quan trọng hơn cả. Có chế độ tốt, chính sách tốt mà không có con người tốt thì cũng hỏng hết. Ai cũng phải nhận rằng tinh thần, tư cách đại đa số cán bộ càng ngày càng sa sút, hủ hóa mà xã hội chủ nghĩa mỗi ngày một lùi xa. Ông Hồ đã thấy trước cái mòi suy vi đó khi ông thốt ra lời trên chăng? 

Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc...; cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!

Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai. Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là với nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?

Ps. Thú thật, từ nhỏ đến giờ đây là lần đầu mình đọc Nguyễn Hiến Lê, còn nhỏ giờ thấy sách nhưng không đọc.