Tuesday, September 6, 2022

Con đường đau khổ: Bi kịch của 1 nhà thơ

Phan Anh Sơn: Bài viết rất hay của Trần Mạnh Hảo về Lưu Quang Vũ và những nàng thơ trong cuộc đời ông.

LƯU QUANG VŨ : TỪ THI CA ĐẾN TƯỢNG ĐÀI SÂN KHẤU

Trần Mạnh Hảo

 Chân dung Lưu Quang Vũ do NguyễnThị Hiền vẽ  1973

Năm 1974, sau khi bản thảo tập thơ “Trường Sơn của bé” của Trần Mạnh Hảo gửi từ Miền Nam do nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cầm ra Hà Nội từ Lộc Ninh, trao cho nhà thơ Trinh Đường, được in tại Hà Nội, Lưu Quang Vũ lúc đó đang làm hợp đồng biên tập với nhà xuất bản “Văn Nghệ giải phóng” do ông Hà Mậu Nhai làm giám đốc, đã có bài khen tập thơ viết cho thiếu nhi của chúng tôi khá nồng nhiệt, in trên trang văn nghệ báo “Thiếu niên tiền phong”. Ngay sau đó, vợ nhà thơ Lưu Quang Vũ là nữ thi sĩ Xuân Quỳnh cũng viết thêm một bài khen ngợi tập thơ “Trường Sơn của bé” của Trần Mạnh Hảo rất hay, in trên báo “Văn Nghệ”. Ngày đó, tôi còn đang ở trong rừng Lộc Ninh, làm thơ, viết báo tại “Tạp chí Văn Nghệ Quân giải phóng”, chưa lần nào gặp mặt đôi vợ chồng thi nhân quá nổi tiếng Quỳnh -Vũ…

Sau này, ra Hà Nội, gặp Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, anh chị có mời tôi và Bằng Việt đến nhà dùng cơm. Khi ấy, Xuân Quỳnh biên tập trang thơ báo “Văn Nghệ”. Lần thứ hai ra Hà Nội, Xuân Quỳnh lại mời tôi và Nguyễn Lâm ( tức Lâm Man, hay Lâm Râu” ( cùng với Đào Trọng Khánh ở Hải Phòng, Lâm Râu là hai người bạn văn nghệ thân nhất của Lưu Quang Vũ) đến nhà cụng ly thơ phú với chồng bà vốn cũng là bạn tôi.

 Căn phòng rộng 6,5 mét vuông của chị Quỳnh và anh Vũ tại tầng 3 ngôi nhà 96 Phố Huế rất chật gồm : 2 vợ chồng, con riêng của Lưu Quang Vũ với nghệ sĩ Tố Uyên ( Con chim vành khuyên) là cháu Lưu Minh Vũ : con chung của Vũ với chị Quỳnh là cháu trai tên Mí, tức Lưu Quỳnh Thơ, mất cùng cha mẹ năm cháu 13 tuổi, cháu đã được giải thưởng quốc tế về hội họa; phòng không có toilet và không có nước; Xuân Quỳnh phải xách từng xô nước từ vòi nước công cộng xếp hàng rất lâu mới hứng được, ì ạch mang xô nước dưới tầng trệt lên lầu 3 cho cả nhà nấu nướng sinh hoạt…

Với không gian sống vô cùng chật chội, thiếu tiện nghi như thế, không điện thoại, không xe máy, Lưu Quang Vũ, từ năm 1979 đến năm ông thọ nạn qua đời 1988, nhờ có hoàn cảnh đổi mới của đất nước, nhờ Xuân Quỳnh hết lòng cung phụng, chiều Vũ như chiều vong, cộng với thiên tài viết kịch vốn di truyền từ cha là nhà thơ, kịch tác gia Lưu Quang Thuận, Lưu Quang Vũ đã làm được công việc khổng lồ : viết hơn 50 vở kịch, đạt tới kiệt tác như “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, hoặc tuyệt hay như “Tôi và chúng ta”, “Lời thề thứ 9”, “Bệnh sĩ”, “Khoảng cách và vô tận”, “Ông không phải là bố tôi”, “Tin ở hoa hồng”, “Nàng Sita”…và hàng mấy chục vở kịch tài năng khác…Có thể nói, và có thể sánh sức làm việc phi thường của Lưu Quang Vũ khi viết ra hơn 50 vở kịch trong 9 năm như sức làm việc phi thường của đại văn hào Pháp nửa đầu thế kỷ XIX : Honoré de Balzac khi viết “Tấn trò đời”. Vâng, Lưu Quang Vũ cũng đã viết ra “Tấn trò đời” của đời mình bằng kịch nói; hầu như ông đã đưa được cả thời đại của mình lên sân khấu với đầy đủ hỉ nộ ái ố, mà trước và sau ông sẽ không còn nhà văn, kịch tác gia nào có thể sánh bằng. Nhạc sĩ Phạm Duy ca ngợi kiệt tác “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Vũ hay ngang Hamlet của William Shakespeare.

Lịch sử sẽ còn phải mãi cám ơn ông bà nhà thơ, kịch tác gia Lưu Quang Thuận – Vũ Thị Khánh đã sinh ra nhà thơ, kịch tác gia thiên tài Lưu Quang Vũ vào ngày 17-4-1948 tại chiến khu Việt Bắc.

Lưu Quang Vũ làm thơ từ thời học sinh. Lưu Trọng Văn kém Vũ 4 tuổi, từng quen biết và chơi với Vũ từ bé vì họ ở chung nhà, kể. Rằng anh Vũ bao giờ cũng cầm đầu nhóm trẻ con, thông minh dĩnh ngộ vô cùng, bịa ra tức thời bao nhiêu chuyện cổ tích, chuyện tiếu lâm kể cho các em bé, làm đám thiếu nhi mê anh như điếu đổ.

Cha Lưu Quang Vũ quê Quảng Nam là nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng trước năm 1945. Ông Thuận từng có vở kịch nói, vở chèo được diễn nhiều lần tại Hà Nội, đã viết 40 vở kịch, kịch chèo và in mấy tập thơ. Bà Vũ Thị Khánh mẹ Vũ là con nhà trâm anh thế phiệt Hà Nội, từng học trường Đồng Khánh trước 1945, do mê thơ, mê kịch của ông Thuận mà chịu lấy ông. Được cha mẹ giáo dục, dạy dỗ từ trứng nước, nên Vũ đã sớm yêu thơ, yêu kịch, luyện chí quyết theo nghiệp cha từ bé.

Hình như Lưu Quang Vũ đã in thơ trên báo từ năm 1965, năm anh nhập ngũ, ở chung phòng văn nghệ của binh chủng phòng không không quân với Đỗ Chu, Dương Duy Ngữ, Nguyễn Trí Huân. 

Giai đoạn 1965- 1970 là thời hoa hồng, cỏ xanh, mây trắng, thời lãng mạn, thời đẹp nhất của cuộc đời và thơ Lưu Quang Vũ. Năm năm này, tâm hồn và thể xác Vũ được trị vì bởi nữ hoàng Tố Uyên.

Tôi đã gọi điện thoại và nói chuyện với nữ diễn viên điện ảnh xinh đẹp Nguyễn Tố Uyên. Bà cho biết, bà cùng tuổi Mậu Tí ( 1948) với Vũ, quen và yêu nhau hồi còn học sinh.

Vũ và Uyên là mối tình đầu của nhau. Họ đã hoán vị trái tim cho nhau như bài thơ 4 câu của Trần Mạnh Hảo : “ Mai rồi em có còn tin / Phút giây ở lại muôn nghìn thì qua / Tim mình trong ngực người ta / Tim người ta đập rung da thịt mình”.

Uyên là nguồn suối thơ làm mát lành tâm hồn Vũ. Tố Uyên đã rất nổi tiếng từ khi chị mới 13 tuổi khi đóng phim “Con chim vành khuyên”. Sau đó chị học trường múa. Có bao chàng con nhà cán bộ lớn giàu có say mê, đeo đuổi chị, nhưng chị đã yêu Vũ và hứa hẹn kết hôn với anh, một người “trên răng dưới thơ”. 

Tâm hồn Uyên như con thỏ chỉ thèm thứ cỏ thiên thần là thơ Vũ. Và Vũ, suốt 5 năm đó, chỉ mê uống nước từ suối nguồn của Uyên. Họ nghiện nhau hơn nghiện ma túy.

Sau năm 1975, có lần tâm sự với Vũ, Trần Mạnh Hảo đã nói với bạn rằng; Vũ ơi, giá cậu và Uyên bớt yêu nhau đi, chỉ yêu 50% như các cậu đã yêu, thì cơ chừng vợ chồng cậu sẽ sống đến đầu bạc răng long. Vì giời đã cho Uyên và Vũ kho báu tình yêu đủ xài 100 năm, nhưng các cậu đã xài hoang phí quá, mới 5 năm mà kho báu đã hết sạch sành sanh rồi…Còn gì nữa để yêu hả Vũ ?

Vũ, lúc đó không biết có theo chủ nghĩa ba phải không, nhưng đã cho ý của Hảo là chí lí.

Thời Vũ và Uyên yêu nhau và chưa kết hôn, một sự kiện văn học lớn đã đến với hai người và đến với bạn đọc là việc nhà xuất bản Văn Học phát hành tập thơ “Hương Cây và Bếp Lửa” của Lưu Quang Vũ & Bằng Việt năm 1968.Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết bài khen ngợi thơ Lưu Quang Vũ  trên báo "Văn Nghệ".

Tập thơ này đã bán sạch ngay tuần đầu phát hành, NXB phải tái bản mấy lần mới đủ đáp ứng yêu cầu người đọc. Tên tuổi và thơ Lưu Quang Vũ & Bằng Việt nổi không phải như cồn nữa, mà nổi còn hơn giông bão sấm sét. Giới sinh viên, học sinh các thành thị Miền Bắc Việt Nam thi nhau chép, thi nhau thuộc thơ Lưu Quang Vũ. Nữ hoàng trị vì vương quốc thơ Lưu Quang Vũ lúc đó là Tố Uyên. Nàng thơ đã được chàng thi sĩ bộ đội choàng cho chiếc vương miện thơ huy hoàng và vinh dự vô cùng. Thơ “Hương Cây” chính là quà cưới tuyệt vời Vũ dành cho Uyên khi họ cưới nhau năm 1969 :

  "Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài/ Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ" 

 Đó là bài thơ "Hơi ấm bàn tay" được Lưu Quang Vũ viết tặng Tố Uyên năm 1967: "Phút đưa nhau ta chỉ nắm tay mình/ Điều chưa nói thì bàn tay đã nói/ Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại/ Còn bồi hồi trong những ngón tay ta/ Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa/ Nhập luồng nước, hoà nhau màu sắc/ Trao cảm thương hay bàn tay nắm chặt/ Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình". 

Trong bài thơ Gửi Tố Uyên dài 46 câu viết năm 1967, Lưu Quang Vũ đã dùng tất cả những từ ngữ đẹp nhất để ngợi ca người yêu, ngợi ca mối tình của mình:

... Em vụt đến giữa đời anh chói lọi

Em vụt đến như mùa xuân bối rối

... Em là rễ nối liền anh với đất

Lại là chồi nở búp đón sương mai...

Hơi ấm bàn tay :

Khi đàn chim bay tới rợp trời trưa

Cồn mây về mang cơn mưa đầu hạ

Hai vì sao đổi ngôi trong đêm gió...

Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa

Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta.

1967

Bài “Vườn trong phố” :

Nơi lá chuối che nghiêng như một cánh buồm

Cánh buồm xanh đi về trong hạnh phúc

Se sẽ chứ, không cánh buồm bay mất

Qua dịu dàng ẩm ướt của làn môi. ( Vườn trong phố)

Còn cơ man bao câu thơ tình đắm đuối, thiết tha đến choáng váng, ngây dại đến sững sờ Vũ viết cho Uyên…

Nhưng Uyên & Vũ ơi, hai kẻ ăn xài tình ái hoang phí nhất hành tinh ơi, kho báu tình yêu giời ban cho hai kẻ đẹp đôi nhất nước, tưởng giàu có nhất, đủ của để vừa ăn vừa phá 100 năm cũng chưa hết, đã bị cặp đôi bán trời không văn tự phung phí …vô độ đến khuynh gia bại sản; thành ra cả Vũ và Uyên không còn gì ăn trong kho tình ái, Vũ trước và Uyên sau đành phải chống gậy đi ăn mày : ăn mày tình yêu khác để sống và để chết, than ôi !

Khi chia tay Uyên tại tòa li dị, Vũ đọc tặng Uyên câu thơ ứng khẩu thật hay :

 "Những gì em cần, anh chẳng có /  Em không màng những ngọn gió anh trao".

Một nguyên nhân khách quan làm Uyên và Vũ không giữ được mái ấm gia đình là việc Lưu Quang Vũ đào ngũ ( bỏ ngũ) về sống với vợ con tại Hà Nội, không hộ khẩu, không tem phiếu, không lương lậu, không việc làm, không biết lấy gì nuôi thân và nuôi vợ con. Lúc ấy, năm 1970 đang là giai đoạn tàn khốc nhất của chiến tranh, tội đào ngũ có thể ngang với tội bán nước. 

Sở dĩ “nhà nước” không bắt Lưu Quang Vũ năm đó về tội đào ngũ có lẽ vì anh là con cán bộ miền Nam kháng chiến, anh lại là nhà thơ nổi tiếng… ? Chuyện này, tôi rất phục về sự khôn ngoan của nhà nước lờ việc Vũ bỏ ngũ mà không nghiêm trị. 

Giai đoạn 1970-1974 là giai đoạn khó khăn nhất, cô đơn nhất, thiếu thốn nhất, khổ ải cả về tinh thần và vật chất nhất của Lưu Quang Vũ.

Đây là giai đoạn nhận thức lại, phản biện của thi ca Lưu Quang Vũ, vĩnh biệt màu hồng Tố Uyên, vĩnh biệt màu xanh “Hương Cây”, vĩnh biệt “Con chim vành khuyên” yêu dấu và mê đắm của đời anh, vĩnh biệt gió mùa thu lãng mạn, của hạnh phúc nàng xòe ô mây trắng che đầu anh đi trong mộng tưởng, đi trong giấc mơ phi tem phiếu, phi dầu mỡ, phi đậu phụ, phi rau muống, phi cơm áo, gạo tiền…

Cứ ngoái lại là anh thấy Tố Uyên tay bế con trai anh là cháu Kít ( Lưu Minh Vũ) khóc ngặt nghẽo vì đói sữa, tay cầm bó rau muống thay hoa hồng đang đuổi bắt anh…Vũ chạy trốn Tố Uyên, chạy trốn quá khứ màu xanh mê đắm, chạy trốn thực tại đang bóp cổ anh bằng cái dạ dày trống rỗng, chạy trốn chính linh hồn anh vẫn treo lơ lửng như đám mây chết đuối trên địa chỉ 96 Phố Huế, nơi cha mẹ anh, các em anh, nơi Uyên và con, nơi Xuân Quỳnh thì tương lai đang trú nhờ số phận…

Vũ gục xuống và khóc. Mưa và lá vàng Hà Nội phủ lên anh, toan đắp cho anh nấm mộ mùa thu có những chùm bom rơi xuống.

Vũ phải chôn linh hồn màu xanh của mình để đón nhận linh hồn màu đen của đêm tối, của cô đơn đang như chồi non nhú qua lồng ngực anh tàn khốc, đớn đau, mam dại…Bàn tay của hư vô đang trang điểm cho anh thành một Lưu Quang Vũ khác, một nhà thơ khác có tên là rách nát…

Vũ ngất đi nằm trên vỉa hè, may mà nhà đòn không thấy để nhặt anh đi chôn.

Một chiếc lá vàng bịt mũi Vũ khiến anh nghẹt thở và mở mắt, lồm ngồm bò dậy; không phải lá vàng, mà bàn tay người bạn thân nhất đời anh là Nguyễn Lâm ( Lâm Râu) nâng Vũ dậy, nhỏ nhẹ : về, về ngay nhà tao…

Vũ đói và khát. Anh mới uống nước từ hôm qua và mới ăn cơm từ hôm kia.

Lâm dìu Vũ về căn phòng của anh ở phố Triệu Việt Vương. Lâm là con nhà tư sản cũ Hà Nội. Căn phòng anh ở có toilet, của hiếm nhất Hà Nội lúc đó, có nước, có dĩa nghe nhạc, có máy ghi âm, có đài Orionton Hung Ga Ri… và quan trọng nhất là có tấm lòng Lâm dành cho Vũ.

Lâm dìu Vũ đi như dìu một thương binh. Vũ vừa bị gần như tử thương trong cuộc chiến đấu thoát khỏi nữ hoàng Tố Uyên, giành giật ngai vàng để cho nỗi cô đơn và khổ đau ngự trị vương quốc thơ đen, thơ ngoài quốc doanh của anh. Từ đó, Vũ không dám ngoái đầu quay lại nữa mỗi khi đi đường. Anh sợ Tố Uyên đuổi theo và bắt được anh mang về làm nô lệ cho sắc đẹp của nàng một lần nữa. Vũ lẩm bẩm : Kít ơi, bố có tội với con, con đừng đuổi bắt bố trong giấc mơ nữa nhé. Bố sẽ sống để hi vọng bù đắp cho con !

Vũ mất ngủ nhiều đêm liền. Như thể anh vừa trải qua trận chết đói tinh thần, chết đói thân xác thuở tháng ba năm 1945 Ất Dậu…Vĩnh biệt cái thời thơ khẩu hiệu của chính anh : “ Ta đi giữ nước yêu thương lắm / Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình” ( Hương cây & Bếp lửa). Anh phản biện lại thơ mình bằng hai câu : “Thành phố thời anh mười bảy tuổi / Viển vông cay đắng vô cùng”. Anh nhìn lại tuổi hai mươi sống trong mộng mị Tố Uyên, sám hối : “ Tuổi hai mươi khốn khổ của anh ơi / Tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài”…

Trong cơn chấn động tinh thần nhận thức lại thực tại, nhận thức lại bản chất cuộc chiến tranh, Chúa ơi, thoát khỏi ách thống trị của nữ hoàng này, Vũ lại rơi vào sự thống trị của một nữ hoàng khác. Cứ tưởng hết cô đơn là không còn cô đơn nữa, cứ tưởng hết khổ đau sẽ không còn là đau khổ nữa. Hóa ra đời Vũ là một vực thẳm đớn đau do các nàng thơ đến gieo thiên đường và gieo địa ngục tạo ra.

Ngẫu nhiên, trong một buổi Vũ đang đọc thơ thì họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, con gái đầu của nhà văn Kim Lân đến. Vũ phải đọc lại bài thơ “Đất nước đàn bầu” cho Hiền nghe. Lạy Chúa tôi, nghe xong bài thơ, Hiền say xẩm mặt mày vì bị sét ái tình đánh tí chết. Và Vũ, quỷ tha ma bắt thơ đi, Vũ cũng bị Hiền phóng tia sét ái tình tí vỡ tim. Địa ngục và thiên đường gặp nhau trong tích tắc : hội họa và thi ca chạm nhau như hai tia chớp giữa trời tạo ra một tiếng sét có tên là im lặng.

Hiền ơi, Hiền đã hóa con ếch hư vô làm Vũ cứ phải đuổi theo để vồ, liên tục vồ trượt; con ếch ấy, người đàn bà mang vực thẳm cướp mất hồn Vũ ấy có tên là chân trời… Vũ càng đuổi theo vồ, đặng bắt được hư vô thì chân trời càng biến mất, càng lùi xa…

Hiền và Vũ là cuộc rượt đuổi của tình yêu, của định mệnh, của con quái vật dễ thương có tên là tình yêu, để nó đói khát thì nó còn sống mãi, cho nó ăn no kiểu Tố Uyên thì nó chết liền.

Lưu Quang Vũ như chiếc máy bay phản lực F15 ái tình, quằn quại tìm ném bom thơ vào cô họa sĩ bé nhỏ xinh đẹp Nguyễn Thị Hiền, khiến Hiền tối tăm mặt mũi toan tìm đường chạy trốn. Nhưng Vũ, trong cơn chết đói tình yêu, đã không để Hiền chạy thoát, quyết bắt sống Hiền cho được. Xin trích ra ít câu trong trận oanh tạc thi ca của Vũ vào Hiền : 

“Một tình yêu không biết nói cùng ai/ Đến điên dại, đến nghẹn ngào đau đớn/ Mặt anh vỡ trong tấm gương thất vọng…”.

“Thế giới xanh xao những sự thực gầy gò/ Em đã đập vỡ ra từng mảnh/ Giấu sôi sục trong những đường nét lạnh/ Em đi tìm thế giới của riêng em”.

 “Tôi muốn đi tới đích cùng em/ Tôi phải đi tới đích cùng em/ Lòng tôi như buổi sớm vẫn nguyên lành/ Em nhận lấy em đừng e ngại mãi/ Tôi tan nát, tôi kinh hoàng sợ hãi/ Em cô đơn rồ dại của tôi ơi…” – (Gửi Hiền).

“Có gì đâu mà tiếc mà buồn/ Em biết đấy anh chẳng tin định mệnh/ Nhưng trên đời này chỉ ước mơ là có thật/ Hai ta hãy là giấc mộng của nhau thôi…

“Ngõ Hạ Hồi hôm ấy mưa rơi/ Đã xa vắng trên mặt đường ướt lạnh/ Tóc em rối và áo em đỏ thắm/ Những bức tranh nổi gió ở trên tường”.

“Chiều Xuân nào tôi đến tìm em/Chẳng gặp em chỉ mầu hoa vàng rực/Bức tranh em mới vẽ/Cô gái mặc áo nắng/Cổ rất gầy và mắt rất to”

“Quán cafe dưới gầm cầu xe lửa/Hạt mưa đen rơi trên ô kính vỡ/Ngón tay dài trong bóng tối run run/Lá đầu thu xao xác bên đường”.

Gương mặt em lo lắng và buồn/Tôi mới gặp đã nghẹn ngào thân thuộc/Gương mặt em xa xôi không nhớ được/Nay đã thành trời rộng của đời tôi”

 “Mái nhà nâu nhấp nhô/Trong khói mờ ẩn hiện/Cây bàng cao lá tím/Ướt nhòa sương ngã ba/Nhìn nhau không thể xa/Đèn mùa đông vụt tắt/Màu áo em đỏ rực/Cháy sau vòm cửa đêm/Giờ anh như con thuyền/Bốn bề lên sóng vỗ/Xô dạt về tựa ngủ/Trên rộng dài bến em/Em chiếm hết anh rồi/Những cánh đồng trắng xóa/Những ngả đường đói lả/Và giấc mơ sau cùng/

 “Có lẽ bởi lòng nhiều tan vỡ quá/Gặp em rồi tôi vẫn chẳng dám tin/Sớm mùa đông tôi ra phố tìm em/Vẫn không hiểu vì sao em đã đến/Tôi mong em từ ngày thơ xa lắc/Tôi tìm em trong bao trang sách đọc/Tôi đợi em trên mọi ngã ba đường/Tôi gọi em khản giọng những đêm sương/Tôi lầm lạc ngỡ em không có thực/Em thuở ấy nơi nào, em có biết/Sao ngày xưa ta chẳng đến cùng nhau”.(Gửi Hiền mùa đông).

Hiền ơi, Hiền chạy đi, con gà con hội họa đang bị con quạ thi ca đuổi bắt. “Thi trung hữu quỷ”, trong thơ Vũ có ma, có quỷ vây bủa Hiền đủ lối, đủ đường. Hiền chạy vào hội họa. Hiền núp trong tranh sơn dầu. Nhưng Hiền, người con gái yếu đuối xinh đẹp đã bị con ác điểu thi ca bắt sống. Và đến lượt Hiền, chất liệu sơn dầu đã bắt sống Lưu Quang Vũ và giam cầm chàng vĩnh cửu trong toan.

Cứ tưởng nữ hoàng cô đơn Nguyễn Thị Hiền đã chiếm được ngai vàng trong tâm hồn Lưu Quang Vũ…

Ối trời ơi, định mệnh nghiệt ngã đã phái đến một nữ hoàng khác, uy nghi và đầy kinh nghiệm trận mạc là Xuân Quỳnh, bắt đầu nhòm ngó và xâm lăng vương quốc thi họa của Lưu Quang Vũ Nguyễn Thị Hiền.

Hiệp sĩ thi ca Lưu Quang Vũ dùng vũ khí lợi hại nhất của mình là sự yếu đuối ra chống cự nữ hoàng Cleophatra Xuân Quỳnh nhưng đã thất bại. Lưu Quang Vũ đã bỏ chạy và bị nữ hoàng gái một con bắt sống…

Xin nghe nhà báo Thanh Hà kể lại trong cuộc phỏng vấn danh họa Nguyễn Thị Hiền, như sau : 

“Vũ và Xuân Quỳnh sống với nhau rồi, không hiểu sao không một ngày nào là Vũ không đứng ở đường Quang Trung, đầu ngõ nhà tôi để chờ tôi đi qua. Hôm nào không thấy ở ngõ thì thể nào quay lại cũng thấy Vũ đạp xe ở phía sau. Nhìn thấy cảnh đó, tôi đau lòng vô cùng. Nhưng hoàn cảnh không cho phép tôi dừng lại, bởi nếu chỉ một phút yếu mềm, sự cương quyết của tôi sẽ trở nên uổng phí. Chúng tôi cứ âm thầm dõi theo nhau, hướng về nhau một cách câm lặng như thế”, nữ họa sĩ xúc động nhớ lại.

Chia tay Lưu Quang Vũ, 4 năm sau nữ họa sĩ mới kết hôn. Ngay cả khi bà lấy chồng, sinh con rồi, Lưu Quang Vũ vẫn giữ thói quen đứng đợi bà ở ngõ Hạ Hồi, Quang Trung. Có hôm Lưu Quang Vũ đèo em gái Lưu Khánh Thơ đằng sau, còn bà thì đèo con gái Hiền Minh. Cả hai không nói câu gì mà chỉ hướng về nhau như một thói quen. Không chỉ đi theo, những vần thơ của ông dành cho bà vẫn không ngừng tuôn chảy: “Sớm mùa đông tôi ra phố tìm em/Vẫn không hiểu vì sao em đã đến/Tôi mong em từ ngày thơ xa lắc/Tôi đợi em trên mọi ngã ba đường/Tôi gọi em khản giọng những đêm sương/Em thuở ấy nơi nào em có biết/Sao ngày xưa ta chẳng đến tìm nhau”. Những bài thơ có tiêu đề Người đàn bà không có tên 1,2,3... cứ thế ra đời ghi lại những day dứt, nuối tiếc về cuộc tình không trọn vẹn”.( hết trích Thanh Hà)

Chúa ơi, nếu không có vực thẳm hư vô có tên Nguyễn Thị Hiền, thì tâm hồn không đáy của Lưu Quang Vũ làm sao tồn tại ? Không có đỉnh cao Xuân Quỳnh, có lẽ Lưu Quang Vũ cũng mất tiêu, cũng không còn nơi bám víu, sẽ bị tan ra không phải trong tranh mà tan ra trong tâm hồn vô giới hạn của Nguyễn Thị Hiền…

Đừng trách Lưu Quang Vũ hai mang hay bắt cá hai tay. Vũ chơi tỉ mang và bắt cá bằng muôn vạn bàn tay. Vũ là một thiên tài, một kẻ ngoại cỡ. Tâm hồn Vũ nặng lắm, Tố Uyên đã không vác nổi, mờ ảo mù sương như Nguyễn Thị Hiền cũng không sao một mình mang vác nổi tâm hồn không kích thước của Vũ. Xuân Quỳnh cũng không đủ sức mang vác thân xác Vũ, huống nữa là tâm hồn Vũ rộng như vô biên, làm sao một mình Xuân Quỳnh gánh vác nổi.

Uyên ơi, Hiền ơi, Quỳnh ơi…số phận đã bắt các chị vác đỡ cây thập giá Lưu Quang Vũ trên hành trình thương khó của ông…Sẽ không có Vũ, nếu không có Uyên. Sẽ không có Vũ nếu không có Hiền. Sẽ không có Vũ nếu không có Quỳnh. Không có Vũ, nền thơ Việt Nam sẽ có một khoảng trống không gì lấp được là loài thơ đen, thơ phản chiến của Vũ. Nếu không có Vũ, nền sân khấu Việt Nam sẽ chỉ là một khoảng trống vô cùng…

Nhà nghiên cứu phê bình Vương Trí Nhàn rất đúng khi cho rằng, thơ Lưu Quang Vũ hay nhất trong giai đoạn nàng thơ Nguyễn Thị Hiền làm chủ vương quốc thi ca ông.

Nhà thơ Vũ Quần Phương phân tích: "Thơ Lưu Quang Vũ có sức chứa nội tâm rất lớn. Anh đã giúp chúng ta thấy một phía khác của chiến tranh, cái mà - vì cần cổ động cho chiến tranh - cả nền thơ đã phải nén lại và giấu đi. Chúng ta đã đọc những tổn thất về người, về của. Giờ đây, chúng ta đọc thêm những tổn thất của tâm trạng".

http://www.nxbcand.vn/default.asp?tab=detail&zone=72&menuid=29&id=8141&path=N%E1%BB%97i_suy_t%C6%B0_v%E1%BB%81_%C4%91%E1%BB%9Di_s%E1%BB%91ng,_t%C3%ACnh_y%C3%AAu_bao_tr%C3%B9m_th%C6%A1_L%C6%B0u_Quang_V%C5%A9

Lưu Quang Vũ viết: "Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/ Rách tan cả những làn sương đẹp phủ/ Chỉ còn lại nỗi buồn trơ núi đá/ Điều em tin là nhảm nhí mà thôi" (Gửi một người bạn gái).

Trong Người cùng tôi, người dân nổi bật với hình ảnh: "Đi chân không, người thêu vạn hài cong/ Mặc vải nâu, người dệt muôn sắc lụa/ Không biết chữ, người làm ra tục ngữ/ Những thuyền to, chuông lớn, những vườn cây". Ở Việt Nam ơi, nhà thơ chạnh lòng cảnh sống lam lũ của người dân: "Những áo quần rách rưới/ Những hàng cây đắm mình vào bóng tối/ Chiều mờ sương leo lắt đèn dầu/ Lũ trẻ ngồi quanh mâm gỗ/ Lèo tèo mì luộc canh rau/ Mấy mươi năm vẫn mái tranh này/ Dòng sông đen nước cạn/ Tiếng loa đầu dốc lạnh/ Tin chiến trận miền xa".

 "Gió hú ầm ào qua gạch vỡ/ Người chết vùi thân dưới hố bom/ Kẻ sống bơ vơ không chốn ở/ Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường".

Vương Trí Nhàn : Ở đây chúng ta bắt gặp một Lưu Quang Vũ khác với thông thường mọi người vẫn nghĩ. Vũ của dằn vặt, đau xót, lầm lỡ, cô đơn, mà cũng là Vũ của những tha thiết muốn vượt lên trên mọi mệt mỏi, mọi hoài nghi để sống, để tồn tại. Hai chặng khác nhau nhưng đều là của một con người thống nhất.

https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/luu-quang-vu-va-mot-quang-doi-mot-quang-tho.htmlũ

( hết trích)

Từ thế giới thi ca lãng mạn tận cùng Lý Bạch, Lưu Quang Vũ rơi xuống đáy hiện thực Đỗ Phủ. Từ thi pháp hào hoa, trang nhã Apollon, Vũ rơi xuống thi pháp rách nát, tuyệt vọng, cô đơn, đau đớn, giập nát Dionisos. 

Một mình Lưu Quang Vũ ở Hà Nội dám dùng thơ chống chiến tranh, dám gọi cuộc chiến mà đảng cho là chính nghĩa là cuộc tao loạn. Chỉ mình bài thơ : “Đêm uống rượu với bác Lâm và bác Khánh…” cũng có thể làm Lưu Quang Vũ bị bắt. May mà bài thơ không lọt vào tay công an văn hóa. Một mình Vũ đi một đường thơ. Sinh thời, Vũ chỉ được in công khai nửa tập thơ với Bằng Việt. Những bài thơ tuy chưa trau chuốt, chưa nồng say lên án thời thế tao loạn, lên án sự độc ác thói đời của Lưu Quang Vũ là những bài thơ lớn nhất của ông góp cho nền thi ca nước Việt. Những bài thơ tình cay đắng viết cho Hiền của ông là những bài thơ hay nhất.

Vũ tuy ở với Quỳnh nhưng hồn ông luôn ở trong, ở bên nàng thơ hội họa ngơ ngác Nguyễn Thị Hiền. Vũ vẫn làm thơ tặng bà vợ và làm thơ tặng tình nhân. Vũ không chỉ là người đa nhân cách, mà tâm hồn ông còn là tháp Baion có muôn nghìn mặt cần muôn nghìn người đẹp đến chia sẻ.

Đây chỉ là mấy đoạn trích thơ Lưu Quang Vũ  viết cho Xuân Quỳnh :

"Trái tim anh trong ngực em rồi đó/ Hãy giữ gìn cho anh/ Đêm hãy mơ những giấc mơ lành/ Ngày yên tĩnh như anh luôn ở cạnh/ Ta chỉ mới bắt đầu những ngày đẹp nhất/ Vở kịch lớn, bài thơ hay nhất/ Dành cho em, chưa kịp viết tặng em/ Tấm màn nhung đỏ thắm/ Mới bắt đầu kéo lên/ Những ngọn nến lung linh quanh giá nhạc/ Bao nỗi khổ niềm yêu thành tiếng hát/ Trái tim hãy vì anh mà khỏe mạnh/ Trái tim của mùa hè, tổ ấm chở che anh".

"Như chưa hề khổ nhọc/ Như chưa hề đắng cay/ Anh ở cạnh em đây/ Đừng sợ xa nhau nữa/ Nắng chiều trên ngọn lá/ Gió cồn bụi trắng bay/ Nẻo dài còn đợi đấy/ Ngủ đi, bạn đường ơi!".

Đây là thơ Xuân Quỳnh viết cho Lưu Quang Vũ, trích ra mấy câu làm chứng :

"Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em/ Là máu thịt, đời thường ai chẳng có/ Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa/ Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi".

"Nhà chỉ mấy thước vuông, sách vở xếp cạnh nồi/ Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo/ Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo/ Ta chỉ có mấy thước vuông cho hạnh phúc của mình"

"Ngủ đi vầng trán yêu thương/ Bức tranh đã ngủ mặt tường lặng im/ Ngủ đi, hòn đá thì mềm/ Bàn chân thì cứng ngọn đèn thì xa/ Thời gian như gió thoảng qua/ Tình yêu là cánh đồng hoa giữa trời/ Tay ta nắm lấy tay người/ Dẫu qua trăm suối ngàn đồi cũng qua".

Tưởng không còn cặp nào yêu nhau mê mệt, yêu nhau sống chết như cặp Quỳnh Vũ trong thơ.

Trong bài : “ Xuân Quỳnh, chuyện đời, chuyện yêu” của người bạn gái thân thiết là nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn có đoạn viết :

“Dạo đó, Xuân Quỳnh đã có chồng, là anh Tuấn, người kéo violin trong dàn nhạc giao hưởng mà có dạo Quỳnh là diễn viên múa….Nhưng ở với nhau rồi, Quỳnh mới nhận ra mình... không hợp với anh Tuấn. Nàng bị sự lém lỉnh, hài hước và thông mình của một nhà thơ nam trạc tuổi nàng hấp dẫn. 

Dạo đó , Quỳnh thân với tôi, hình như Vũ yêu một cô diễn viên đóng vai trong kịch của  Vũ. Khi biết điều này, một hôm Vũ đến gặp tôi: “Nhàn hãy nói để Quỳnh yên tâm, dù thế nào, đối với mình, Quỳnh vẫn là số một”.( trích bài của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn “ Xuân Quỳnh – chuyện đời chuyện yêu)

https://zingnews.vn/xuan-quynh-chuyen-doi-chuyen-yeu...

Có thêm một nàng thơ mới sau ba thời đại hoàng kim thống trị tâm hồn Vũ là thời đại Tố Uyên, thời đại Nguyễn Thị Hiền và thời đại Xuân Quỳnh chăng ? Thưa rằng có đấy. Hãy nghe em ruột Lưu Quang vũ là PGS.TS.Lưu Khánh Thơ tâm sự với báo chí như sau :

Xuân Quỳnh trước khi mất viết khi nằm trong bệnh viện tim, trước ngày gia đình bà gặp tử nạn  :

“Trái tim em nay mỗi phút mỗi giờ/Chỉ có đập cho mình em đau đớn/Trái tim nay chẳng còn có ích/Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè”

Lưu Khánh Thơ kể :

Chị Quỳnh rất cô đơn. Người bị bệnh tim như thế mà ôm một nỗi đau như thế thì không thể chịu đựng được. Đó là cái chết giải quyết mọi nỗi đau, có lẽ cũng toại nguyện với chị ấy.

Lúc đó anh Vũ yêu một cô diễn viên trẻ vừa có tài vừa có sắc, chị Quỳnh biết chuyện. Khi anh Vũ mất khoảng 1 tuần hay 10 ngày thôi, em tìm gặp cô diễn viên ấy. Không gặp được cô ấy, em có để lại mấy chữ. Sau đó, cô ta đến cơ quan em, em mời ra quán café, em nói là: “Việc anh Vũ với chị Quỳnh mất như thế, Thơ biết là anh Vũ với em có tình cảm gắn bó”. 

https://www.nguoiduatin.vn/bi-mat-ve-nguoi-yeu-cuoi-cung...

Vĩnh biệt các nàng thơ Tố Uyên, Nguyễn Thị Hiền, nàng thơ L.B. mới đến, định mệnh đã sai Xuân Quỳnh đến và mang chàng thơ của mình về cõi chết, độc chiếm chàng vĩnh cửu trong tai nạn xe hơi tại cầu Phú Lương Hải Dương chiều 29-8-1988.
Lúc hóa vĩnh cửu, Lưu Quang Vũ mới 40 tuổi. Cháu Mí, Lưu Quỳnh Thơ con trai của Vũ và Quỳnh mới 13 tuổi và Xuân Quỳnh mới 46 tuổi.
Khi nghe tin này, Tố Uyên rụng rời tay chân, đến nhà xác bệnh viện, mở quan  tài ra nhìn chồng cũ yêu dấu một chút rồi ngất đi.
Đêm 28-8-1988, trước khi Vũ tử nạn, danh họa Nguyễn Thị Hiền nằm mơ thấy ba cỗ quan tài.  Đêm 29-8-1988, ở Sài Gòn, Nguyễn Thị Hiền đang ngủ, run rẩy đánh thức chồng mình là anh Hạo dậy, hoảng hốt mếu máo : anh Hạo ơi, anh Lưu Quang Vũ mặc áo quần trắng toát đứng ngay đầu giường em. Sáng hôm sau, báo Sài Gòn loan tin, nữ họa sĩ mới biết người yêu dấu nhất đời mình đã chết vì tai nạn giao thông cùng với vợ con. Mấy đêm sau, Nguyễn Thị Hiền vẫn nằm mơ thấy Lưu Quang Vũ hiện về đứng bên đầu giường chị và đọc thơ…
Đám tang Lưu Quang Vũ mà Trần Mạnh Hảo có dự tại Hà Nội 32 năm về trước là một đám tang vĩ đại. Người ta đi đám tang thần tượng của mình. Vũ đã trở thành nhân vật lớn hàng đầu thời đại, đã như cái van xả xú bắp cho xã hội Việt Nam bị đè nén bao năm bằng 50 vở kịch thiên tài. Có lẽ sau đám tang của Cụ Hồ năm 1969, đám tang của cụ Phan Chu Trinh năm 1925, đám tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này, đám tang của Vũ & Quỳnh là đám tang lớn, ngang với đám tang Trịnh Công Sơn.
Lưu Quang Vũ đã mất 32 năm rồi mà Trần Mạnh Hảo vẫn tưởng mới đêm qua còn thức thâu đêm cùng Vũ đọc thơ trong ngôi nhà của tạp chí Sân Khấu ở Sài Gòn 150/ 2 Nguyễn Trãi quận nhất.
Cần phải kể ra đây công ơn của nhà thơ Lưu Trọng Lư với Lưu Quang Vũ. Rằng năm 1970, sau khi bỏ ngũ về, Vũ không có công ăn việc làm, sống ngoài lề xã hội, phải đi quét vôi thuê, kẻ khẩu hiệu, vẽ panô thuê kiếm tiền sống. Nhà thơ Lưu Trọng Lư lúc đó là tổng thư ký hội sân khấu Việt Nam, kiêm tổng biên tập tạp chí Sân khấu, đã đấu tranh mãi mới lấy Lưu Quang Vũ về làm phóng viên báo Sân Khấu Việt Nam. Năm 1979, Lưu Quang Vũ cùng nhà thơ Lưu Trọng Lư và mấy người khác đi thực tế vào nơi giao chiến giữa ta và Trung Quốc, khi xe vào thị xã Lạng Sơn, bị pháo Trung Quốc bắn cấp tập, Lưu Quang Vũ đã lấy thân mình nằm đè lên bác Lưu Trọng Lư để che chắn mảnh pháo cho bác.
Bi kịch Lưu Quang Vũ là bi kịch của một thiên tài. Trước ngày bị chết vì tai nạn, vợ chồng Vũ được Hội nhà văn cấp cho một căn hộ tại Ngọc Khánh. Xuân Quỳnh khoe với chị ruột mình là Đông Mai rằng em và Vũ cả đời chưa được nằm giường, việc đầu tiên chúng em phải sắm là cái giường đôi để ngủ…
Bây giờ, Vũ ơi, Quỳnh ơi, hai bạn đã đang và sẽ còn ngủ chung trên cùng một chiếc giường đôi vĩ đại có tên là thiên thu, bỏ lại ba nàng thơ của chàng cô quạnh, vò võ nơi phương trời trần thế.,.
Sài Gòn ngày 22-4-2020
T.M.H.
PHẦN PHỤ LỤC : XIN XEM CHÙM THƠ TÌNH PHẢN CHIẾN CỦA LƯU QUANG VŨ : 
Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn
(Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn)
Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc
Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy
Chăn rách chiếu manh quần áo lạ
Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say
Gió hú ầm ào qua gạch vỡ
Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở
Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường
Cơ sự làm sao đến nỗi này
Mông lung không đoán được ngày mai
Máu chảy thành sông thây chất núi
Bè bạn tan hoang mình rã rời
Thơ Khánh buồn như lòng đất nước
Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng
Vườn cũ cây tàn chim chết cả
Người chơi đàn nguyệt có còn không
Mọi chuyện thiêng liêng thành nhảm nhí
Khắp nơi trí trá lọc lừa nhau
Nước Pháp khôn ngoan nước Nhật giàu
Nước Mỹ lắm bom mà cực ác
Nước Nga hiềm khích với nước Tàu
Nước Việt đói nghèo thân cơ cực
Đất hẹp trụi trần vạn khổ đau
Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba thằng da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau
Thương nhà thương nước thương cho bạn
Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào
Thôi nhé mai này tiễn Khánh đi
Đường xa bom phá tàu không về
Lênh đênh ai hát ngoài song cửa
Bài ca thanh bình đêm cũ
“Hoa lá quên giờ tàn
Mây trắng bay tìm đàn”
Ngày xưa yên ấm quá
Trẻ hát đồng dao trên phố
Con trai xách điếu đi cày
Con gái quang liềm gặt lúa
Bao giờ hết loạn người ơi
Cạn cùng nhau chén nữa
Tàn canh là xa xôi
Lòng như vầng trăng nhọn
Chém giữa trời không nguôi.
Nguồn: Lưu Quang Vũ, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010
Vẫn thơ tình về một người đàn bà không có tên (II)
Nhớ em như nhớ một miền xa
Không bao giờ trở về
Không bao giờ đi tới
Gió thổi qua ngôi nhà tối
Mùa đông cây gầy lá rơi
Mùa đông bao nhiêu người chết
Tiếng súng tiếng loa gầm thét
Đêm dài buồn bã nhớ em
Như một dòng sông nước xiết
Ngọn khói khi cây nến tắt
Đồng lúa sau kỳ bão lụt
Tình yêu giữa ngày đắng cay
Bây giờ đã mùa hạ nóng
Cuộc đời quanh quẩn như xưa
Chật chội đến thành u uất
Nhàm chán đến thành tức giận
Em vẫn như một miền xa
Chẳng bao giờ anh đi tới
Vẫn chưa có một ngày vui
Để lòng thảnh thơi nhớ lại
Chỉ có những cột đèn mưa
Mái phố xám nâu hiu quạnh
Con đường dài bụi trắng
Nhịp cầu chờ đợi mênh mông
Em ơi em có buồn không
Thành phố đang thời hỗn loạn
Nghèo túng lọc lừa bội phản
Giết người trộm cắp khắp nơi
Con người nói với con người
Những lời hằn thù sỉ nhục
Chiều nay bốn bề mưa xám
Ra đi, anh vẫn một mình
Cuộc sống anh không chấp nhận
Mà thương đến xót xa lòng
Đâu em miền đất xa xăm
Đâu em khoảng trời thăm thẳm
Qua những phố phường buồn nản
Hãy về đậu xuống vai anh
Hãy về như cánh chim xanh
Ru những lời thơ đẹp nhất
Tia nắng mỏng manh thầm lặng
Quyết không khuất phục bao giờ
Nhớ em như một giấc mơ
Như trời xanh ngoài song cửa nhà tù
Như trẻ con trong thế giới già nua
Lửa và hạt
Ban mai và nước uống.
Nguồn: Lưu Quang Vũ, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010
GỬI  MỘT NGƯỜI BẠN GÁI
Ta lớn lên cửa sổ thay màu
Nghe tiếng chim không thấy mùa nắng nữa
Con thuyền giấy nát nhàu sau trận gió
Thành phố nghèo hơn và cũng buồn hơn.
Mưa không mơ hồ mà tàn nhẫn từng cơn
Quyển sách cũ bài thơ nhoè nét chữ
Em đã tin trời xanh ngoài cửa sổ
Trời đen sầm cửa sập nát vai em.
Tưởng hoa hồng là hương của đêm
Hoa đã rụng và em không khóc được
Những câu hỏi ban đầu đơn giản nhất
Ngỡ giải đáp rồi nay vẫn xé lòng em.
Trang sách tình yêu có ngôi sao lên
Không giống với cuộc đời thô bạo
Vì ta lầm đường hay vì trời nổi bão
Thương bạn bè ngơ ngác ngóng tin nhau.
Ngày xưa anh có hẹn hò đâu
Thư em viết anh chẳng hề đáp lại
Em nông nổi như một dòng suối chảy
Tin bình minh nhưng chỉ gặp sương chiều.
Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều
Rách tan cả những làn sương đẹp phủ
Chỉ còn lại nỗi buồn trơ núi đá
Điều em tin là nhảm nhí mà thôi.
Nơi xa xôi lầy lội mưa dài
Ngôi trường nhỏ một ngọn đèn khuya khuắt
Em có nghĩ về ngôi sao đã mất
Khi mùa hè vẫn trời thẳm như xưa.
Đường về em lận đận chuyến tàu trưa
Ga vắng vẻ chỉ có mùi đá khét
Chiếc cốc rơi, mọi điều tan vỡ hết
Em có còn mong ước nữa không em ?
Nguồn: Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002
Nếu đó là tội lỗi...
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Lưu Quang Vũ
☆☆☆☆☆15.00
Một con người không phải chỉ là một cái tên trong hộ khẩu
Một con tốt trong bàn cờ
Một viên gạch một cái đinh
Để treo biển hàng và đặt ghế
Con người chưa được làm người
Bao lệnh cấm đang đè lên thế giới
Cấm yêu thương cấm khát vọng cấm tự do
Bao con chim bị nhốt ở trong tù
Bao giải băng đen che kín mắt
Khi bè bạn gặp nhau có người theo dõi
Thầm thì không dám nói to
Khi những bài thơ anh viết ra
Chỉ một mình anh đọc
Nhưng trước khi có chữ viết
Đã có thơ ca
Như tình yêu thơ đã sinh ra
Không phải vì tiền nhuận bút
Không sợ ngục tù bạo lực
Dù khổ sở dù phiền hà
Thơ không bao giờ câm lặng
Như nhịp đập của trái tim trung thực
Là nhân chứng của anh
Là ngọn lửa trắng trong
Trên lịch sử tối tăm trên tro bụi
"Và nhân thế sẽ còn yêu ta mãi
Bởi giữa thuở bạo tàn ta đã ca ngợi tự do"
Ca ngợi tình yêu giữa thế giới hằn thù
Trước đau khổ của nhân dân thơ đã không gian dối
Nếu đó là tội lỗi
Anh hãy nhận về mình, như trách nhiệm, như niềm vui
Và sống chết cùng người, đất nước mến thương ơi.
Nguồn: Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002
Khâm Thiên
Thơ » Việt Nam » Hiện đại » Lưu Quang Vũ » Những bông hoa không chết (2008)
những người chết trong đêm thân gãy nát
óc chảy ròng trên gạch
những người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng
tay chân vặn vẹo thịt xương
lòng ruột mắc trên dây điện
phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp
tiếng người la khủng khiếp đêm dài
mặt trời lên trên bãi thây người
mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác
những đống tóc gân đầu mình lẫn lộn
những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm
bốn phía tiếng gào tiếng khóc tiếng rên
tiếng xẻng cuốc bới người trong gạch vụn
phố đông đúc thành bãi bằng đổ nát
không nhận ra những vỉa hè quen
xác người nằm ngổn ngang
báo đậy mặt, ruồi đậu bàn chân xám
bé ngẩng đầu ngơ ngác
bên xác anh xác chị mẹ cha
tôi đi như mù loà
đỡ em gái đập đầu ngã ngất
bà cụ phát điên vật mình ôm mặt
người mất tích đang tìm, người chết chẳng kịp chôn
xe nối xe sừng sững chở quan tài
đóng vội bằng mặt bàn, cánh cửa
phấn run rẩy ghi tên người xấu số
lên nắp quan xộc xệch chẳng bào sơn
quan tài trẻ thơ như những chiếc hòm con
những bát đĩa tủ giường tan vỡ
quần áo nát, gạo đầu ngùn ngụt lửa
sách vở dép giày vùi dưới hố sâu
tấm màn trắng xoá
xé chia nhau chít vội lên đầu
cả khu phố già đi hàng chục tuổi
những bó hương bên đường nghi ngút khói
những bó hương châm nát cả bầu trời
người trồng rau, chứa khoá, vá may
người nhặt củi, quét đường lam lũ
từ nay chung buổi giỗ
Bạch Mai, Yên Viên, Vọng, Láng, An Dương
phố đầy khăn tang
đêm không đèn tối mịt
chúng tôi ngồi bên nhau chờ cái chết
người các ô lên nằm ngủ vườn hoa
gió cuối mùa xót xa
thổi xoã tóc đoàn người chạy giặc
những dòng người kéo đi xé ruột
đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc
chút gia tài nghèo cực dịu trên lưng
bao gia đình dắt díu chị bồng em
những quần áo khói bom lấm rách
những cụ già vịn nhau dò dẫm
máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương
năm 72! Có thể thế được chăng
hãy mở mắt ra trông
vụ thảm sát xưa nay chưa từng có
năm trái đất phóng tàu vào vũ trụ
không nơi nào không nói đến tình thương
Ghéc-ni-ca cũng chẳng thảm thê bằng
vô nghĩa hết, thánh kinh và máy tính
những pho sách, những dàn giao hưởng
ích gì đâu, khi bể máu dâng đầy
ôi xấu xa, đê nhục lắm con người
lời không đủ để nói điều phẫn nộ
tôi muốn có phiên toà cho tất cả
tôi vạch từng tên tôi gọi từng người
hãy đứng ra đây
các bà mẹ Mỹ
những dòng sữa đã nuôi bầy đồ tể
lời ru nào đã dạy chúng lớn khôn
những Kít-xinh-giơ và những Ních-xơn 
ta nguyền rủa chúng mày cho đến chết
những kẻ nào đã gây ra 
chục chiếc B52
không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ
không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì
bắt máu vạn dân lành phải đổi
không thể chắp bình minh
bằng xương thịt những mặt người vỡ nát
ai tự xưng môi kề răng lạnh
ai khoác tặng chúng tôi vinh dự đẹp
các anh đón đưa nâng cốc hoà bình
các anh quyên thuốc men các anh đi biểu tình
rồi thanh thản trồng hoa và câu cá
bà tìm thấy lương tâm mình yên ả
trong nỗi đau quằn quại của chúng tôi
ta oán giận các người, đồ dối trá
loài người chung vai nhận tội ác này
anh và tôi, vâng, tôi nữa, cả tôi
chúng ta đã ngu tồi đến nỗi
không che chở được mẹ già em dại
khỏi quả bom tàn bạo từ trời cao
muốn kết thúc thơ mình
bằng những lời tốt đẹp
nhưng lòng tôi làm sao tươi sáng được
khi máy bầm khắp nơi
dưới bát cơm trên trời trong cốc nước
đêm qua tôi đã chết
với hàng ngạn mạng người
từ than bụi tôi hiện hình trở lại
mang đau thương đến trọn cuộc đời
tôi sẽ xông vào mọi cuộc vui
mọi buổi lễ uy nghiêm
mọi bài ca lừa dối
mọi quên lãng mọi nụ cười dễ dãi
để nói về những xác chết cháy đen
để nói về
những xác chết cháy đen
kẻ làm chứng trung thành
trước phiên toà lịch sử
giữa tột cùng đau khổ
đâu dám ngồi trau chuốt mỗi câu thơ
nhân danh cuộc sống, nói về cái chết
nhân danh niềm vui, nói về nước mắt
nhân danh tình yêu, tôi mãi mãi căm thù.
Nguồn: Lưu Quang Vũ, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010
Em - tình yêu những năm đau xót và hy vọng
1. 
Bút tích bài thơ của Lưu Quang Vũ 
tặng Nguyễn Thị Hiền
em đi, phố ngày mưa
suốt đường dài không nói
cánh cửa chiều khép lại
hoa đầm đìa mưa ướt chói trên cao
ga ngổn ngang gạch đổ, những toa tàu
như năm tháng nặng buồn em có nhớ
ta đi giữa cỏ hoang và gỗ đá
giữ trong lòng ngọn thác trắng trào sôi
một tình yêu không biết nói cùng ai
đến điên dại đến nghẹn ngào đau đớn
mặt anh vỡ trong tấm gương thất vọng
em ơi ngày ấy em đâu?
hoa cúc xanh tuổi nhỏ chết từ lâu
những hòm xiểng chất đầy khu phố chật
những bãi rác những thùng xe cũ hỏng
những bạn bè thơ trẻ đã già nua
đêm chiến tranh thành phố tối âm u
không đèn sáng lời ru không bếp lửa
ghế công viên hoá bầy dã thú
nằm im lìm dưới mặt trăng đen
xác người trôi trên biển sóng xô tan
huyệt bom tối ầm ào cơn gió hú
ta đi suốt một đời đau khổ
chân lỡ lầm bao ảo ảnh chờ mong
anh vẫn nhen một ngọn lửa âm thầm
hình bóng em chập chờn trong lửa ấy
(ai trong đời chưa một lần mơ thấy
không có quyền phán xét những câu thơ)
sóng khát khao đập cửa đêm ngày
nên chói chang đời anh, em tới
mắt em mở với chân trời xa vợi
nhưng hơi ấm anh cầm là ấm của bàn tay
em bằng xương bằng thịt đây rồi
anh đợi mãi, cuối cùng em đã đến
hơi thở em từ lâu anh đã thuộc
tóc em đây lời nói của em đây
nhặt anh lên trong cỏ sắc đường dài
như bóc một lá thư chưa kẻ nhận
và thương mến có nghĩa là hy vọng
anh tin đời theo nghĩa lứa đôi...
con tàu nào mang gió ấy ra khơi
chẳng hề có một ngày cập bến
đích của nó luôn luôn là phía trước
là chân trời mãi mãi ở trong em.
(29-03-1973)
Nguồn: Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002
NÓI VỚI MÌNH VÀ CÁC BẠN
Thơ : Lưu Quang Vũ
1
Chúng ta tụm năm tụm ba
Họp hành, giễu nhau, uống trà, đọc thơ, đi thực tế
Ta viết những suy tư ngây ngô vờ là trí tuệ
Những câu nhạt phèo chiếu lệ
Những lời nhàm tai ai cũng quen rồi
Mọi người quanh ta mang nỗi khổ oằn vai
Ngực đất nước tai ương xé rách
Ta viết mãi những điều vô ích
Vô duyên sao ta cứ nhoẻn miệng cười
Như phường bát âm thánh thót
Mong cuộc đời xuôi tai.
Tôi không muốn viết những lời như thế
Tôi không thể viết những lời như thế
Chẳng muốn ai vui lòng khi đọc thơ tôi
Tôi viết những bài thơ chống lại chính tôi
Chống lại bóng đen trì trệ của đời
Chống lại những bài thơ tôi đã viết cùng những ai ưa thích nó
Làm sao đọc thơ tôi anh giận dữ băn khoăn xấu hổ
Cãi lại tôi hay ghét tôi đi nữa
Nhưng anh thôi hờ hững sống bình yên
Tôi xé đi vòng hoa giấy bức màn sương
Những niềm vui dại khờ những nỗi buồn yếu đuối
Cuộc sống còn dở dang
Cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi.
2
Thơ không phải là chứng minh
Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương
Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa
Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả
Càng thương yêu càng không vừa ý với mọi điều
Đã qua cái thời nhà thơ nhìn đời bằng con mắt trong veo
Con mắt xanh non ngỡ ngàng như mắt trẻ
Hát cái lá mùa xuân ca lời chim son sẻ
Thơ tươi mát cuộc đời và an ủi lòng ta
Nhưng đến nay tất cả đã vỡ ra
Giữa tàn bạo hư vô giữa đấu tranh khốc liệt
Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt thật
Đập vào ngực ta không cho ta cúi mặt
Không cho ta lảng tránh
Đập cửa mọi nhà
Đứng ở mọi ngã ba
Không hát ta say mà lay ta thức
Dù ngày mai đời có trăm lần đẹp
Thơ vẫn gọi mọi người vươn đến tương lai.
3
Ta đã làm gì? như lũ viết thuê
Chạy theo những biển hàng ngắn ngủi
Những khuôn phép những trang in những hư danh một buổi
Ta nịnh người để người lại khinh ta
Sớm già cỗi, cố quên đi phẩm cách
Muốn yên thân ta trở thành hèn nhát
Nhân dân có cần thơ của ta đâu ?
Các bạn tôi hiền lành trong sạch
Là bạn nhau thôi chắc là bạn tốt
Nhưng bạn ơi ta là những nhà thơ
Lòng tốt ở đây chẳng đáng một xu
Càng có tài lộc lọc lừa càng nặng
Để yên ổn lương tâm ta tìm đến nhau thở than bực dọc
Rồi lại về cần cù ngồi viết nhảm
Ta an ủi mình đang thời buổi khó khăn
Nhưng nào có thời buổi nào không khó
Và nếu dễ, cần gì thơ ta nữa ?
Nhân dân quá hiền, nhân dân chưa xé bỏ
Những ngọt ngào hoa cỏ của ta
Những nụ cười ngộ nghĩnh của ta
Những trầm tư về thế kỷ của ta
Lắm kiểu nói mà giống nhau đến thế
Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ
Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi.
Đừng hiểu sai lòng tôi
Làm việc cô đơn thật là quá sức
Sau những lúc bông phèn bên các bạn
Tôi càng thêm buồn chán đến rùng mình
Đã quá nhiều người làm tôi thất vọng
Tôi chỉ còn các bạn nữa thôi.
Hạnh phúc của tôi là được các bạn mến yêu
Là được mến yêu và tin các bạn
Thế hệ mình cần những người dũng cảm
Dũng cảm yêu thương dũng cảm căm thù
Ta đã hẹn cũng nhau đi tới đích
Nay rất buồn nếu phải chia xa.
Nước lũ qua sẽ còn lại phù sa
Những tình yêu những ước vọng thiết tha
Dẫu bay đi không một lời đáp lại
Dẫu trơ trọi trong lạnh lùng bóng tối
Dẫu đường dài xa ngái
Đừng phút nào mệt mỏi, thơ ta ơi.
năm 1970
. . . . . . . . . . . . . . . .
* Note :
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên : ... Cái lớn của Lưu Quang Vũ không chỉ ở những cảm xúc, tư tưởng khác biệt của anh, mà còn ở chỗ anh đã dám viết ra chúng ngay từ thời ấy, thời mà một ý kiến khác lạ đã bị coi là nguy hiểm, phải bị diệt trừ. Bài thơ tôi đưa lên đây Vũ viết năm 1970 khi anh 22 tuổi. 
Các nhà thơ đồng thế hệ anh hôm nay véo von ca ngợi anh hãy đọc nó mà xấu hổ cho mình, còn các nhà thơ đến sau nên đọc nó để xác định cho mình một thái độ thơ, một thái độ sống. 
Tôi nói thật, Vũ lớn vượt lên thời mình sống và thế hệ của mình rất nhiều.
CHÚ THÍCH ẢNH:
1 - Chân dung Lưu Quang Vũ do NguyễnThị Hiền vẽ  1973.
2- Hình đám cưới Tố Uyên & Lưu Quang Vũ.
3- nhà văn Kim Lân, Trịnh Công Sơn và Nguyễn Thị Hiền.
4 -nghệ sĩ Tố Uyên năm  13 tuổi đóng phim "con chim vành khuyên".
5- Cha mẹ Lưu Quang Vũ bế anh khi một tuổi năm 1949 ở Việt Bắc.
6- Ảnh vợ chồng Quỳnh & Vũ.
7- Xuân Quỳnh tuyệt đẹp thời yêu Vũ.
8- Từ trái sang phải : Đạo diễn Doãn Hoàng Giang, diễn viên Quốc Chiêm, diễn viên Lâm Bằng & kịch tác gia Lưu Quang Vũ ( ê kíp làm kịch "Nàng Sita")

Huyệt Dịch Môn

 Dịch Môn - Huyệt Vị Thần Kỳ Gia Tăng Tân Dịch

“Dịch” có nghĩa là nước, chất lỏng; còn “môn” có nghĩa là cánh cửa, “dịch môn” có nghĩa là cánh cửa mở ra chất lỏng, tân dịch. Đây là huyệt thứ 2 của kinh tam tiêu, và là vinh huyệt thuộc hành thủy. Khi chúng ta tác động vào huyệt này có thể tăng tân dịch của cơ thể.

Vị trí : giữa xương bàn ngón tay thứ 4 và 5, nơi chỗ lõm ở kẽ ngón tay, ngang phần tiếp nối của thân với đầu trên xương đốt ngón tay 

(như hình).

Huyệt Dịch Môn có rất nhiều công hiệu: 

-Thứ nhất, có thể trị các chứng khô táo trên thân thể, ví dụ như mắt khô sáp, miệng khô không nhuận, cổ họng khô, lúc này day huyệt dịch môn là có thể đem cánh cửa tân dịch mở ra, sẽ đỡ khô táo ngay.

-Thứ hai, có thể giải trừ các triệu chứng cảm mạo do nhiệt tà gây ra, ví dụ như cổ họng thũng thống, họng khô khát muốn uống nước, thân thể phát sốt, lúc này day dịch môn huyệt rất có tác dụng. 

-Thứ ba, Dịch môn là một huyệt vị rất tốt trợ giúp chúng ta khôi phục thể lực, ví dụ như khi chúng ta cảm giác mệt mỏi, ban ngày mí mắt cứ muốn trầm xuống, tay chân tê mỏi không có tí sức lực nào, lúc này chúng ta hãy day huyệt dịch môn, tinh thần sẽ cải thiện ngay.

-Ngoài ra với các chứng viêm amiđan cấp, cổ họng đau nhức, viêm tai giữa; bốc hỏa dẫn tới ù tai và các triệu chứng của tai mũi họng; đau bả vai, đau vùng mông, đau đầu,..day huyệt Dịch môn đều có hiệu quả thần kỳ. 

Cách thức day: ấn một lực xuống huyệt, vừa ấn vừa day. Ngày làm 3 lần, mỗi lần từ 3-5 phút.

Chúc mọi người áp dụng thành công.

Phan Vũ Bình (Group Chia sẻ kiến thức về sức khỏe)

Monday, September 5, 2022

Bàn luận về chiến sự Ukraina vs Nga

 Tại sao cuộc xâm lăng Ukraine của Nga và sự tàn bạo của nó được một bộ phận lớn người Trung Quốc và Việt Nam ủng hộ? Vì sao Châu Âu bị bất ngờ về cuộc xâm lăng này? Bài báo của Jörg Himmelreich trên NZZ (Thụy Sỹ) ngày 30.08.2022 đã tìm cách giải thích những điều này. 

Dịch giả Tôn Thất Thông. Nguồn blog "Diễn đàn khai phóng"

CÁCH CAI TRỊ CỦA PUTIN DỰA TRÊN DI SẢN BẠO LỰC CHÂU Á

Nga thuộc về phương Tây hay thuộc về châu Á là một câu hỏi muôn thuở gây tranh cãi trong giới trí thức Nga. Sau khi Liên Xô sụp đổ, người ta tin rằng, đất nước này có thể tìm thấy một vị trí trong ngôi nhà chung châu Âu. Nhưng cuộc xâm lược Ukraine làm dấy lên những nghi ngờ cơ bản.

***

Hình ảnh nước Nga dưới mắt nhìn của người châu Âu, đặc biệt là của người Đức mang dấu ấn của một sự hiểu lầm tai hại. Nó đã ảnh hưởng rất lớn lên tư duy khiến mọi người ngạc nhiên trước cuộc xâm lược Ukraine của Putin và cách hành xử tàn bạo của Nga trong cuộc chiến. Trong một thời gian dài trước đây, người ta tin rằng Nga cuối cùng sẽ trở thành một phần của ngôi nhà chung châu Âu trải dài từ Lisbon cực Tây đến Vladivostok ở Viễn Đông. Mikhail Gorbachev đã có một giấc mơ đẹp đẽ về điều này vào cuối thập niên 1980.

Phần đông trí thức Nga từ thế kỷ 19, với ảnh hưởng của trào lưu khai sáng châu Âu, dường như muốn tìm kiếm cho dân tộc Nga một bản sắc mới. Nhưng điều này không gây ảnh hưởng nào đến các nền chính trị chuyên quyền trong Đế chế Nga hoàng, cũng hầu như không có ảnh hưởng gì trong thời đại Liên Xô, và ngay cả sau khi nó sụp đổ để trở thành Liên bang Nga dưới thời Yeltsin và Putin.

Sự thống trị khủng khiếp của người Mông Cổ

Trên nhiều khía cạnh, văn hóa chính trị của Nga không có tính chất châu Âu, mà là châu Á – sau khi chịu ảnh hưởng của cuộc xâm lược của bộ tộc du mục Mông Cổ. Vào những năm 1237/38 và 1239/41, quân Mông Cổ xâm lược vùng đất vốn dĩ lúc đó là các công quốc yếu kém của vùng đất gọi là Kyivan Rus [2] bao gồm cả Tây Nga hôm nay. Họ tàn phá làng mạc và thị trấn, biến Kyiv thành đống đổ nát và tàn sát mọi thứ họ gặp trên đường tiến quân. Biên niên sử của Nga đã kể chi tiết về sự dã man tàn bạo đó.

Nhiều đặc điểm của chế độ cai trị của người Mông Cổ vẫn còn ảnh hưởng đến văn hóa và chính trị nước Nga cho đến ngày nay. Người Mông Cổ không quan tâm đến đất đai được mở rộng, mà họ chỉ quan tâm đến tiền bạc, cống phẩm và những người đàn ông để phục vụ quân đội. Không có gì để tranh cãi rằng, Hãn Mông Cổ là người cai trị đầu tiên đối với Kyivan Rus, vốn dĩ trước đó đã được chia thành các tiểu công quốc. Các công tước phải cống nạp cho Hãn Mông Cổ. Điều này buộc các công tước phải bóp nghẹt người dân của họ một cách tàn nhẫn, bởi vì công tước nào cống nạp quá ít sẽ bị loại bỏ. Ngược lại, với các khoản cống nạp càng cao, họ càng giành được sự ưu ái của các Hãn Mông Cổ.

Gia tộc Nevsky từ công quốc Moscow, lúc đó vẫn chưa có sức mạnh đáng kể, đã hành động khéo léo nhất trong các bạo chúa này. Họ đã thành công trong việc trở thành người thu gom cống vật duy nhất thay mặt cho Hãn Mông Cổ, đẩy các tiểu công quốc khác vào hàng thứ yếu và từ đó giành được quyền lực đối với tất cả những nhóm khác trong dài hạn và xây công quốc Moscow trở nên hùng mạnh.

Sự hiểu biết về quyền lực của các tiểu công tước Nga tập trung phần lớn vào kinh tế. Đối với họ, công quốc là tài sản riêng của họ. Họ có thể khai thác, lạm dụng hoặc phá hủy con người và đất đai theo ý muốn. Trong khi mối quan hệ của công tước với dân chúng đã lỏng lẻo, sự cô lập của ông càng trở nên trầm trọng hơn bởi hệ thống triều cống tàn nhẫn trong thời kỳ lệ thuộc vào ngoại bang Mông Cổ.

Trong hoàn cảnh này, ý thức về trách nhiệm chính trị hầu như không thể phát triển, vì quyền lực chỉ phục vụ cho việc tích lũy tài sản tư nhân. Nếu người dân nổi dậy, họ chỉ cần dùng quân Mông Cổ để đe dọa. Đây là cách họ có được sự phục tùng vô điều kiện. Cuộc sống ở Nga trở nên tàn bạo dưới ách thống trị kéo dài của người Mông Cổ. Án tử hình chẳng hạn, vốn chưa được biết đến trong thời kỳ Kyivan Rus, được du nhập vào đây bởi người Mông Cổ.

Bản thân các công tước nhận thức sâu sắc rằng, quyền lực chính trị chủ yếu là sự vơ vét tài sản công để làm của riêng. Điều đó về cơ bản khác với cách hiểu về chế độ cai trị của người châu Âu thời Trung cổ và còn kéo dài cho đến ngày nay. Ở Tây Âu có một sự khác biệt nghiêm ngặt giữa tài sản cá nhân và quyền lực, giữa thái ấp [3] và đế chế.

Dưới sự thống trị của người Mông Cổ, truyền thống cai trị ở Nga về nhà nước quyền lực tuyệt đối nổi lên: nhà nước đại diện cho bạo lực và sự độc đoán, nó giành giật mọi thứ có thể giành được, và mọi người phục tùng nó vì nếu nổi loạn, họ sẽ không thể sống sót. Sự tương đồng với chế độ tham lam và sa đọa hiện nay của Putin thật rõ ràng; cai trị bằng cách gieo rắc nỗi sợ hãi đã là một phần thuộc hệ thống cai trị của Nga trong nhiều thế kỷ.

Adolphe Yvon: “Trận chiến Kulikovo” – Tại đây các tiểu công quốc Nga đã giành chiến thắng trước Mông Cổ, góp phần đáng kể vào việc đuổi họ ra khỏi đất nước

Khái niệm của Marx về “Chủ nghĩa chuyên chế châu Á” [4]

Trong các tác phẩm của mình, Karl Marx đã đặt ra thuật ngữ “phương thức sản xuất châu Á” để lý giải chế độ chính trị chuyên quyền và kinh tế kiểm soát đặc biệt của Nga. Với điều này, ông đã kết hợp trật tự tập trung chính trị của một “chế độ chuyên chế Châu Á” để thống trị toàn bộ đời sống kinh tế ở Nga.

Về điều này, từ xưa Herodotus [5] đã coi văn hóa cai trị của các vị thần Ba Tư [6] – những vị thần thích sự lộng lẫy và phô trương  – là một trật tự chính trị xa lạ với người Hy Lạp. Việc nói về “chủ nghĩa chuyên quyền châu Á” như một thứ gì đó vô cùng xa lạ đối với văn hóa chính trị châu Âu cũng thường xuyên được tìm thấy sau này trong lịch sử triết học chính trị từ Machiavelli đến Hegel. Aristotle tin rằng người châu Á chịu đựng sự cai trị chuyên quyền tốt hơn người châu Âu.

Marx lần theo dấu vết của “chủ nghĩa chuyên chế châu Á” ở Nga và tìm thấy nguồn gốc của nó ở thời kỳ thống trị của người Mông Cổ: “Vết bùn đẫm máu của chế độ nô lệ Mông Cổ, chứ không phải vinh quang thô lỗ của những thế kỷ dưới thời đại Norman [7], là cái nôi của Moscow, và nước Nga hiện đại là một biến thể của công quốc Moscow thuộc Mông Cổ này”, ông viết như thế trong “Những tiết lộ về lịch sử ngoại giao trong thế kỷ 18» từ năm 1856/57.

Nhà khoa học xã hội và cộng sản người Đức đã chạy trốn khỏi Đức Quốc xã để đến Hoa Kỳ, Karl August Wittfogel (1896–1988) cho rằng, chính trị nước Nga cũng giống như một “chế độ chuyên quyền châu Á” [8]. Cũng theo ông, nó có đặc điểm là phần lớn ruộng đất thuộc về nhà nước, giai cấp thống trị không đầu tư của cải vào tư liệu sản xuất mà tự làm giàu thông qua bộ máy nhà nước. Không có trung tâm quyền lực nào ngoài nhà chuyên chế và hành chính – không có giới quý tộc tự tin, không có thành phố tự trị và không có nhà thờ độc lập như chúng đã tồn tại ở châu Âu để làm đối trọng quyền lực với hoàng đế và vua chúa.

“Chủ nghĩa chuyên quyền châu Á” của Nga vẫn còn nguyên vẹn trong suốt quá trình lịch sử của lòng tự tin của giới tư sản. Ở đó, không có trào lưu phục hưng (Renaissance), cũng không có một cuộc cải cách tôn giáo (Reformation) nào, và văn hóa lý tính của thời đại Khai sáng Châu Âu chỉ lan đến những bộ phận nhỏ của giới tinh hoa đô thị. Không có sự phát triển của lòng tự tin cá nhân và không có ý thức tự do tư sản, nước Nga chưa bao giờ kiến tạo được một xã hội dân sự mạnh mẽ.

Giới sử học Liên Xô phủ nhận di sản châu Á lên dân tộc Nga, vì đối với họ, điều đó thật xấu hổ. Nó mâu thuẫn quá mức với lý tưởng toàn cầu của cộng sản Liên Xô về cuộc giải phóng công nhân và nông dân trong cuộc cách mạng vô sản thế giới. Mặt khác, bản thân Stalin vẫn tự hào mô tả mình là “người Gruzia châu Á”. Nhà khoa học chính trị người Nga Sergei Karaganov, người thân cận với Điện Kremlin, viết: “Nga là một quốc gia có nền văn hóa châu Âu, nhưng về mặt xã hội và chính trị là người thừa kế của đế chế Thành Cát Tư Hãn”.

Phong trào Á-Âu, một nhóm chính trị gồm những trí thức đặc biệt ở Liên Xô trong thập niên 1920, thậm chí còn ca ngợi di sản từ sự thống trị của Mông Cổ, mà theo triết gia Trubetskoy [9], đã tạo tiền đề cho Liên Xô theo đuổi “sứ mệnh Á-Âu” để trở thành địa vị lãnh đạo đối với toàn bộ khu vực Á-Âu. Ngày nay, viễn kiến Á-Âu này vẫn được quảng bá bởi triết gia cực hữu Alexander Dugin, người nổi tiếng là người ảnh hưởng lên tư tưởng của Putin. Ông cung cấp cho Putin lý luận về tính chính danh của văn hóa lịch sử cho việc sử dụng bạo lực để tạo trật tự mới trong khu vực Á-Âu trên lãnh thổ của đế chế Nga trước đây, điều mà Putin đang muốn đạt đến ở Ukraine hiện nay.

Thiếu sót lịch sử

Một số nhà sử học phương Tây chuyên về Đông Âu thích hạ thấp vai trò của di sản Mông Cổ về một “chế độ chuyên quyền châu Á” của Nga để làm sáng tỏ một cách mạnh mẽ hơn những mầm mống mong manh của phương pháp tiếp cận dân chủ trong lịch sử Nga. Thí dụ như, việc dựng nên trách nhiệm chính trị tạm thời của tiểu công tước Novgorod, người được người Mông Cổ tha thứ, để chống lại các tiểu quốc Boyars vào thế kỷ 13, hoặc như cuộc cách mạng năm 1905, hoặc cuộc cải cách của Stolypin từ 1906 đến 1911, hoặc Perestroika của Gorbachev. Tuy nhiên, những giai đoạn tự do này chỉ thoáng qua như những giây phút lịch sử ngắn ngủi trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Nga nói chung. Những trào lưu đó khó có thể thành công về lâu dài.

Với sự thiết lập các trọng điểm này, niềm mong mỏi phổ biến rộng rãi trong các diễn đàn lịch sử-chính trị công cộng có thể được thỏa mãn rằng, một ngày nào đó Nga sẽ trở thành một phần của ngôi nhà chung châu Âu theo một hình thức dân chủ nào đó. Ảo tưởng này có thể vẫn được chia sẻ bởi nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Nga can đảm đang sống lưu vong, nhưng họ chỉ đại diện cho một lực lượng mỏng manh về mặt số lượng.

Đại đa số dân chúng Nga không quen thuộc với văn hóa chính trị của phương Tây – một phần do nền tảng lịch sử của nó, nhưng phần khác cũng vì những tuyên truyền thường trực về ý thức hệ của các phương tiện truyền thông do Điện Kremlin kiểm soát. Điều đó khiến Putin trở nên vô địch, không thể bị thách thức trong nội bộ. Chế độ độc tài tàn bạo của Putin được xây dựng trên di sản bạo lực châu Á trong chế độ cai trị của Nga. Do đó, gần như chắc chắn rằng, ông ta sẽ tiếp tục tồn tại.

Thật đáng nghi ngờ khi cho rằng, thực sự có một vị trí cho Nga trong ngôi nhà châu Âu. Nhưng dù sao trong những năm tới, ngôi nhà này phải được bảo vệ khỏi những hoang tưởng vĩ cuồng về một vị trí siêu cường trong tư tưởng những kẻ nắm quyền ở Moscow. Một trật tự hòa bình của châu Âu chỉ có thể thực hiện bằng cách đối đầu với Nga. Phương Tây không thể cô lập hoàn toàn một đất nước đã tự biến mình thành kẻ thù qua hành động xâm lược Ukraine, nhưng việc ngăn chặn ý thức hệ một cách dứt khoát và răn đe bằng quân sự cuối cùng đã được chứng minh là một chính sách hòa bình thành công triệt để trong Chiến tranh Lạnh.

Nguyễn Xuân Thọ

Nguồn tiếng Đức: https://www.nzz.ch/.../russlands-asiatisches-erbe-ld.1699074

(Putins Herrschaft baut auf einem asiatischen Gewalterbe, das seine Zeit überleben wird – der Traum vom gemeinsamen europäischen Haus ist eine Illusion).

Thư gửi người đầu ngành

 KÍNH GỬI BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

Thưa Bộ Trưởng NGUYỄN KIM SƠN,

Tôi là Mạc Văn Trang, nhà giáo, 84 tuổi. Tôi đi dạy học từ lúc 22 tuổi, rồi sau này vừa học, vừa nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn Nghiên cứu sinh cho đến 80 tuổi. Cả một đời yêu nghề, gắn bó với giáo dục. Giờ đây vẫn rất trăn trở với nhiều chuyện của Ngành ta. Trong Thư này, tôi chỉ xin thưa với Bộ trưởng về vấn đề GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG.

1. Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục

Ngày xưa, các ông Đồ, các Thầy dạy tư có khi chả biết Bộ giáo dục là gì, tự họ dạy học trò nên người, người dân tin tưởng gửi con đến nhờ các Thầy dạy dỗ. Thời phong kiến, thực dân, thời Việt Nam Cộng hòa, người Thầy giáo vừa được trọng vọng vừa có lương bổng nuôi sống cả vợ con.

Thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ 1954 đến 1960, các giáo viên “Lưu dung" từ chế độ cũ vẫn được trọng dụng, hưởng nguyên lương như trước, cao gấp 2 - 3 lần giáo viên “cách mạng". Từ năm 1961 tiến lên CNXH, rồi sau đó chiến tranh, đời sống dân miền Bắc vô cùng khó khăn, nhưng nền giáo dục XHCN cùng với Y tế luôn được coi là “Hai Bông hoa” đáng tự hào của chế độ.

Tất cả những giai đoạn nêu trên, Nhà trường và Thầy giáo luôn có vị trí được xã hội tôn kính. Chính quyền, nhất là cấp Xã/ Phường không có chuyện can thiệp thô bạo vào nhà trường hay vô lễ với các Thầy, Cô giáo.

Từ những năm 1961 - 1962 tôi làm Hiệu trưởng trường cấp 2; lúc đó không có chuyện Chủ tịch, Bí thư xã đến “huấn thị" cho nhà trường. Họ lên phát biểu chỉ cảm ơn các Thầy, Cô và mong các Thầy, Cô thông cảm, địa phương còn nhiều khó khăn, chưa chăm sóc được cho nhà trường đầy đủ… Khi một giáo viên có chuyện gì, Công an báo cáo với Hiệu trưởng để xem xét giải quyết và thông báo cho họ…

Các giáo viên dù được đào tạo Chính quy hay Hàm thụ, khi đã tốt nghiệp đi dạy, không ai phân biệt, và như vậy đã ĐỦ ĐIỀU KIỆN để làm giáo viên. Việc đánh giá giáo viên chỉ có học sinh, đồng nghiệp, cha mẹ học sinh đánh giá là chính xác; cho nên mỗi giáo viên không ngừng TỰ học hỏi, trau dồi nghề nghiệp để mình xứng đáng làm Thầy, để có uy tín…

Càng yêu cầu cao với người giáo viên thì càng phải tôn trọng họ cao hơn và tạo điều kiện để họ sống đàng hoàng, xứng đáng với vị trí người Thầy…

Phải biết trân trọng lao động của Giáo viên và tôn trọng Nhân cách người Thầy, vì họ là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục.

Khi các cơ quan quản lý phình to, quan liêu, hống hách, còn vị trí Nhà trường và người giáo viên nhỏ bé đi thì hỏng rồi! Nên nhớ từ những năm 1960 người giáo viên “có giá" lắm, “coi thường" các cơ quan quản lý, không giáo viên giỏi nào chịu về các cơ quan quản lý, vì bị “mất dạy"! Lúc đó anh em giáo viên bông đùa: “Ho lao thối phổi về Ty/ Tham ô, hủ hoá thì đi về Phòng/ Những người già lão có công/ Thì đưa về Bộ cho xong cuộc đời”! Người giáo viên đàng hoàng, tự tin lắm, không phải xun xoe, khúm núm trước các cơ quan quản lý.

Hãy hình dung Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục “tự nhiên biến mất", nhưng nhà trường còn, giáo viên còn, thì mọi hoạt động giáo dục vẫn diễn ra như thường!

Vậy thì Bộ, Sở, Phòng giáo dục sinh ra để làm gì? Để phục vụ giáo viên thực hiện tốt nhất sứ mệnh thiêng liêng của mình. Cục Nhà giáo sinh ra là để chăm lo cho các Nhà giáo lao động nhẹ nhàng hơn mà hiệu quả hơn; Chế độ, chính sách lương bổng, đời sống giáo viên ngày càng cải thiện, sung sướng hơn, để nhà giáo thêm yên tâm cống hiến…

2. Vậy mà các cơ quan quản lý giáo dục đang làm khổ giáo viên đủ trò

Bao lâu nay bày trò “Thi giáo viên dạy giỏi” cấp trường, cấp huyện/quận, cấp tỉnh...rồi “Thi đua" đủ mọi thứ; bình bầu, đánh giá giáo viên theo bao nhiêu tiêu chí, khiến hoạt động giảng dạy của giáo viên bị rối nhiễu; người thầy giáo phân tán tâm trí, hao phí thời gian, sức lực vào những chuyện vô bổ, thậm chí gian dối... Những hoạt động đó thường gây không khí căng thẳng, tiêu cực trong môi trường sư phạm của nhà trường.

Nghe nói nhiều Phòng giáo dục, nhiều Hiệu trưởng trở thành “quan lớn" ức hiếp giáo viên, gây nhiều nỗi bức xúc cho các Thầy, Cô giáo. Nghe nói có nơi bắt các cô giáo đi “tiếp khách" hầu hạ quan chức(?). Hỏng quá!

Đặc biệt là Bộ, rồi các Sở quy định giáo viên phải học thêm bao nhiêu chứng chỉ mới được công nhận là giáo viên chính. Đây là trò làm khổ giáo viên, làm nhục giáo viên và làm giàu cho “nhóm lợi ích” ăn tiền trên mồ hôi nước mắt của giáo viên. Tôi đã nói ở trên, người đã tốt nghiệp Trường/Khoa Sư phạm ra làm giáo viên, sau thời gian tập sự, họ đã đủ điều kiện, không cần bất cứ Chứng chỉ nào nữa. Họ thiếu, yếu cái gì thì sẽ tự bồi dưỡng tại cơ sở…

Tôi có rất nhiều bằng chứng các giáo viên cung cấp: Họ bị bắt buộc đi học một cách qua loa, để nộp tiền và nhận mấy cái Chứng chỉ về vứt xó…

Tất nhiên cần những Tiêu chuẩn Nhà giáo, ai không còn xứng đáng thì đưa ra khỏi ngành, nhưng không vì thế mà làm như “khủng bố" tất cả cả đội ngũ giáo viên!

3. Mấy kiến nghị

3.1. Đề nghị Bộ trưởng TINH GIẢN BỘ MÁY các cơ quan quản lý giáo dục; càng lắm người, họ càng nghĩ ra nhiều trò có hại: Họ soạn ra bao nhiêu văn bản sai trái, có hại; họ tổ chức nhiều cuộc họp hành vô bổ… Đặc biệt xin Bộ trưởng kiến nghị các cấp có thẩm quyền bỏ ngay các Phòng giáo dục Quận/Huyện đi! Thêm cấp quản lý này chỉ bày việc ra làm khổ giáo viên, nhiều chuyện tồi lắm, không muốn kể ra đây! Thời đại 4.0, Bộ, Sở giáo dục thông tin trực tiếp đến các trường, vừa nhanh, vừa chính xác, không cần cấp trung gian.

3.2. Bãi bỏ ngay việc bắt giáo viên HỌC CÁC CHỨNG CHỈ và CẢI TIẾN CÁCH ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN. Nên bỏ việc Thi giáo viên giỏi các cấp; không bỏ được Thi đua thì tinh giản các tiêu chuẩn càng ít càng tốt; nghiên cứu việc đánh giá giáo viên sao cho nhẹ nhàng, thực chất. Cần thấy rằng, dẫu là Chiến sĩ Thi đua, Tiên tiến xuất sắc, Tiên tiến hay Bình thường không có giá trị gì, nếu học sinh và đồng nghiệp không tín nhiệm.

Người Thầy giáo không cần danh hiệu nào, ngoài sự kính trọng, yêu mến của học sinh và sự tin tưởng của Cha mẹ học sinh, của đồng nghiệp. Đó mới là điều người giáo viên cần tu dưỡng, rèn luyện, chứ không phải bày đặt mấy cái danh hiệu thi đua tào lao!

3.3. Việc học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên là việc thường xuyên và hết sức quan trọng, nhưng hãy tiến hành BỒI DƯỠNG TẠI TRƯỜNG bằng hình thực trực tiếp hay trực tuyến, hoặc qua các băng hình… Tránh hết sức bắt giáo viên tập trung nghe giảng bồi dưỡng rồi "mua" Chứng chỉ!. Mỗi trường học, Tổ bộ môn là một đơn vị tự bồi dưỡng hiệu quả nhất. Qua hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mỗi giáo viên, mỗi nhà trường.

3.4. Một trong những dấu ấn của nhiệm kỳ này, mong Bộ trưởng hãy CẢI THIỆN HÌNH ẢNH và ĐỜI SỐNG CỦA NHÀ GIÁO. Như Cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên nói, nhiều giáo viên yêu thích nghề vì “được nghỉ hè ba tháng" và là “nghề Tự do"... Hãy tôn trọng lao động sư phạm có tính độc lập, tự do của người giáo viên và do đó người giáo viên càng có ý thực tự chủ vươn lên xứng đáng với trách nhiệm của mình; càng o ép, kiểm soát làm người giáo viên nhỏ bé đi, hèn mọn đi, thì sự nghiệp giáo dục càng hỏng.

Bộ trưởng hãy tìm cách cải thiện đời sống cho giáo viên, nhất là các Thầy, Cô giáo ở những vùng khó khăn. Không thể để xã hội nhìn nhà giáo tội nghiệp như những kẻ cần được bố thí! Hãy kiên quyết làm sao để giáo viên được tăng lương.

Thưa Bộ trưởng,

Tôi tâm đắc với câu Bộ trưởng nói: “Bỏ văn mẫu", “Dạy THẬT, Học THẬT, Nhân tài THẬT", nhưng trước hết toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh phải NÓI THẬT đã!

Thư này tôi nói rất THẬT, và xin nhắc lại: Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy từ Bộ trưởng đến Hiệu trưởng hãy kính trọng các Thầy, Cô giáo đang đứng lớp.

Kính Chúc Bộ trưởng Mạnh khoẻ, Hạnh phúc!

Mạc Văn Trang

Sunday, September 4, 2022

Cuộc sống có ý nghĩa và cách sống

"Ông hoàng kinh doanh Nhật Bản" Kazuo Inamori qua đời, để lại 3 chân lý về ý nghĩa cuộc sống

Ngày 30/8, hãng thông tấn Kyodo của Nhật Bản đưa tin doanh nhân nổi tiếng Kazuo Inamori đã qua đời ở tuổi 90, cụ thể là 8h25 sáng ngày 24/8/2022 tại nhà riêng ở Kyoto.

Kazuo Inamori được được mệnh danh là "Ông hoàng kinh doanh", "Bậc thầy triết lý cuộc sống". Ông sinh ngày 21/01/1932 tại thành phố Kagoshima (Kagoshima, Nhật Bản), có 6 anh chị em, cuộc sống cơ cực.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Kazuo Inamori trở thành một kỹ thuật viên bình thường, tham gia vào nghiên cứu và phát triển gốm sứ. Ông luôn quan niệm: "Than vãn, trách móc cuộc đời cũng không giúp được gì, nên tin rằng chúng ta làm việc chăm chỉ để có được tương lai tươi sáng và tràn đầy hy vọng".

Vì vậy, ông đã tham gia vào nghiên cứu. Kết quả là, kết quả nghiên cứu của Kazuo Inamori đã được thương mại hóa thành công. Với sự giúp đỡ của những người khác, ông đã thành lập Công ty TNHH Gốm Kyoto (nay là Kyocera, chủ yếu sản xuất các sản phẩm gốm kỹ thuật, thiết bị in và thiết bị ngành ảnh) ở tuổi 27 (1959).

Ở tuổi 52 (1984), Kazuo Inamori thành lập Công ty Viễn thông (nay là KDDI). Cả hai công ty đều lọt vào top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Năm 2010, Kazuo Inamori (78 tuổi) được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Hàng không Nhật Bản, tái cơ cấu và vực dậy công ty này vốn đang trên bờ vực phá sản chỉ hơn 400 ngày. Japan Airlines đã giảm lỗ đáng kể, tạo ra lợi nhuận chưa từng có trong lịch sử là 188,4 tỷ yên, so với mức lỗ khoảng 180 tỷ yên trong năm trước đó.

Trong cuốn tự truyện của mình, Kazuo Inamori từng nói: “Cuộc sống luôn đầy sóng gió, không bao giờ biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Sẽ có sự xuất hiện của may mắn khiến người đời ghen tị, cũng sẽ gặp phải những thất bại và trải nghiệm bất ngờ. Tuy nhiên, điều quyết định cuộc sống không phải là may mắn hay xui xẻo, mà là trạng thái của tâm trí chúng ta. Càng khó khăn, càng không thể đánh mất hy vọng tốt đẹp; khi thành công, không được quên lòng biết ơn và khiêm tốn; duy trì thái độ tích cực, bắt đầu với những gì đang có, tập trung vào nó và làm hết sức mình. Con người chỉ cần có loại tâm thái này, bất cứ lúc nào cũng có thể thay đổi số mệnh” (tạm dịch).

Thành công vang dội trong kinh doanh cũng khiến Kazuo Inamori được đánh giá cao trong nước trong những năm qua. Là một bậc thầy truyền đạt triết lý kinh doanh, Kazuo Inamori đã thành lập Seiwajyuku (Trường giáo dục dành cho người lớn ở Kyōto), đến nay hoạt động gần 40 năm, mở rộng từ Nhật Bản đến Trung Quốc, Brazil, Hoa Kỳ và các nước khác, số lượng học viên đạt 13.000 người.

Trong tác phẩm "Cách sống", Kazuo Inamori hy vọng sẽ giúp các bạn vượt qua những khó khăn hiện tại, được chữa lành và giác ngộ.

Theo đuổi ý nghĩa cuộc sống trong thời đại hỗn loạn

Vật chất giàu có nhưng tinh thần lại trống rỗng. Cái ăn cái mặc đủ đầy nhưng thiếu hụt lễ nghĩa đạo đức. Thể xác tự do nhưng tâm hồn bế tắc. Chỉ cần làm việc chăm chỉ là có thể đạt được bất cứ điều gì, nhưng con người dần trở nên tiêu cực bi quan, khó tìm thấy lối thoát.

Bầu không khí ngột ngạt tràn ngập xã hội, tại sao lại như vậy?

Bởi vì nhiều người không thể tìm thấy ý nghĩa và giá trị của cuộc sống, bị mất phương hướng.

Để đối phó với tình trạng này, điều quan trọng nhất là đặt ra một trong những câu hỏi cơ bản nhất: "Tại sao con người phải sống?".

Một số người cho rằng việc đưa ra và giải quyết các vấn đề như vậy là vô ích như đổ nước vào sa mạc. Nhưng nếu trả lời được vấn đề này một cách thẳng thắn, bạn sẽ rõ ràng hơn về mục đích mình muốn hướng đến.

Không cần gì quá to tát, đôi khi chỉ là muốn cho bản thân mặc đẹp, ăn ngon, được vui vẻ nhìn thấy gia đình hạnh phúc, tìm được người đồng hành tri kỷ…

Ý nghĩa của cuộc sống là mài giũa linh hồn

Ý nghĩa cuộc sống của chúng ta là gì? Mục đích của cuộc sống là gì? Đó chính là: Nâng cao tâm trí, mài giũa linh hồn.

Sống trên thế giới này, con người thường bị mê hoặc và trói buộc bởi ham muốn. Nếu bỏ qua bản chất này, chúng ta sẽ theo đuổi sự giàu có, địa vị và danh tiếng một cách vô cùng vô tận.

Tất nhiên, cuộc sống cần cơm no áo ấm, tự do tự tại cũng cần tài chính tương ứng, muốn có địa vị trong xã hội cũng cần động lực để tiến bộ.

Tuy nhiên, tất cả những điều trên chỉ có thể phát huy tác dụng ở hiện tại, nhiều hơn nữa cũng không thể sử dụng khi đời này kết thúc.

Cuộc sống có một thứ bất diệt, đó là "linh hồn". Khi chết đi, địa vị, danh tiếng và tài sản mà bạn tạo ra trong kiếp này phải được từ bỏ, chỉ có thể bắt đầu một cuộc hành trình mới với "linh hồn".

Chúng ta đến thế giới, chịu đựng tất cả các loại sóng gió, nếm đủ đắng cay ngọt bùi, luôn phấn đấu không ngừng nghỉ để được sống cho đến hơi thở cuối cùng.

Quá trình này chính là trải nghiệm mài giũa linh hồn. Bạn sống đầy giá trị thì khi nhắm mắt xuôi tay cũng không còn gì vướng bận, nhẹ nhàng và thanh thản, linh hồn tinh khiết rời bỏ trần tục.

Hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua. Mỗi ngày đều bỏ ra nỗ lực chân chính, làm việc không biết mệt mỏi, hành sự bằng cái tâm chân thành. Quá trình này phản ánh mục đích và giá trị cuộc sống của chúng ta.

- Inamori Kazuo -

Hãy xem thử thách là cơ hội, chỉ như vậy mới có thể khiến cuộc sống tỏa sáng, phá vỡ giới hạn.

Tâm thái quyết định số phận

Nhiều người luôn cho rằng bản thân kém may mắn, ông trời bất công. Tại sao con người ta lại sống khổ sở như vậy?

“Mua vé số, nhiều người trúng thưởng, chỉ riêng tôi không trúng”, “Dù có cố gắng đến đâu cũng là vô ích, tôi lúc nào cũng bị xui xẻo quấn thân”...

Con người rất kỳ quái, một khi bị bức vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan mới nghĩ thông suốt, thoải mái. Nếu biết oán trời trách đất là chuyện vô ích, vậy thì chi bằng xốc lại tinh thần, tập trung tinh lực đầu tư cho công việc, toàn tâm toàn ý khám phá thế giới.

Có thể nói, tất cả chuyện phát sinh đều là do cái tâm tạo ra, đây là một nguyên lý căn bản.

Trải qua những thăng trầm của cuộc sống, số phận ra sao cũng do chính bàn tay ta làm nên. Ngay cả những người khôn ngoan, sống đủ đầy và hạnh phúc, chạm đến đỉnh cao danh vọng, cũng không ngoại lệ. Hạt giống tự gieo xuống, chắc chắn sẽ nở hoa trên người mình.

- Inamori Kazuo -

Đúng vậy! Số phận có thể thay đổi khi tâm thái của chúng ta thay đổi. Sống lạc quan và tích cực hướng về phía trước, cuộc đời cũng tươi sáng, rạng ngời theo.

(Nguồn: Thepaper)

Teréz anya, a szegények szentje

Szilágyi Éva emlékezetes írása a Nők Lapja archívumából.

Forró, fülledt, páratelt a levegő. A monszuneső függönyt képez. Megszólal a lélekharang. Akiért a harang szól, azt már életében szentként tisztelték. Teréz anya – így nevezték a szegények és elesettek önfeláldozó oltalmazóját. Szíve nyolcvanhét éves korában szűnt meg dobogni. Aranyszíve volt. Erős, vasakaratú. Indiában jelképpé vált. Megrendültén fogadták világszerte a szomorú hírt, távozásával szegényebb lett az emberiség.

India kétnapos gyászt tartott, félárbocra eresztették a nemzeti lobogókat, az államfő lemondta összes hivatalos programját, a kormányfő Calcuttába utazott, hogy fejet hajtson az ország nagy halottja előtt. Állami, kormányfőnek járó tiszteletadással temették el e rendkívüli teremtést. II. János Pál pápa „mélységes szomorúsággal” fogadta Teréz anya halálhírét. „Napjaink egyik óriását vesztettük el” – jelentette ki Clinton elnök. „Ragyogó példája volt az irgalmasságnak” – hangsúlyozta az ENSZ főtitkára. Chirac francia elnök szerint „…Teréz anya távozásával kevesebb szeretet, kevesebb együttérzés, kevesebb fény maradt a földön”. Milliók gyászolják korunk legtiszteletreméltóbb személyiségét.

Nővérei fehér száriba öltöztették, jégágyra fektették Teréz anyát, sorra elvonultak előtte, az indiai hagyományt követve, a tiszteletadás gesztusaként megérintették mezítelen lábát. Küldetése befejeződött. Mi tette ilyen naggyá, ilyen tiszteletreméltóvá? Hogyan vált Teréz anya nemzetközi hírűvé, példátlanul népszerűvé, példaképpé?

Küldetés

1910-ben, Szkopjében jött a világra Ágnes Gonxha Bojaxhiu, albán nemzetiségű szülők gyermeke. Apja módos építész volt. A családi védett fészek hamarosan elárvult, a papa korai, váratlan halála után megváltozott életük. A mama ruhákat, hímzéseket árulva kereste meg a kenyerüket. Agnes a helyi plébánia fiatalokból álló csoportjának a tagja lett. A velük foglalkozó jezsuita pap egy életre szóló hatást gyakorolt a tizenéves lányra. Elhivatottságot érezve, tizennyolc évesen jelentkezett a katolikus missziós apácák, a Lorettói Nővérek Rendjébe. Írországba küldték, megtanult angolul, majd Indiába irányították.

1929-ben érkezett meg Kalkuttába. Eskütételekor a Teréz nevet választotta, közel érezte magához Lisieux-i Szent TWzf. Kalkutta Ázsia és a világ egyik legnagyobb és legszegényebb városa. Modem, egyszerre gazdag és elképzelhetetlenül nyomorúságos. Emberek milliói születnek, élnek és meghalnak az utcán. Egész életük az utcán zajlik le. Kéregető kisgyerekek, testüket áruba bocsátó kislányok, koldusok serege, csontvázemberek, betegek, nyomorékok, haldoklók… Reménytelennek tűnik a helyzetük. Az utcán élők serege nem csökken. Az újszülöttektől a haldoklókig mindannyian kiszolgáltatottak.

Teréz anya Kalkuttában földrajzot és katekizmust oktatott egy rendi iskolában, ahová jómódú gyerekek jártak. Nap mint nap elé tárult az utca apokaliptikus képe. A feneketlen nyomor, a mérhetetlen szenvedés láttán összeszorult a szíve. Tüdőbajos lett. Dardzsilingbe, a Himalája lábánál lévő hegyi üdülőhelyre küldték gyógyulni. Ekkor született meg benne az elhatározás: a jólétből átköltözik a sorsukon segíteni nem tudó elesettek közé. 1948-ban a katolikus egyház engedélyezte, hogy tanítás helyett szolgálja a „szegények legszegényebbjeit”.

Megtanult hindi és bengáli nyelven. 1949-ben megkapta az indiai állampolgárságot. Egy év múlva a Vatikán jóváhagyásával megalapította A Szeretet Misszionáriusai Rendet. Nyolc ágra oszlik a rend: aktív nővérek, szemlélődő nővérek, aktív testvérek (papok), szemlélődő testvérek, misszionárius atyák, laikus misszionáriusok, önkéntesek, a betegek és szegények közül jelentkező munkatársak. A végső fogadalomtétel előtt a nővérek három hétre hazatérnek családjukhoz, hogy eldöntsék: valóban végleg a rendben akarnak-e maradni, szolgálni egy életen át. Lemondanak a magánéletről. Spártai életmódot folytatnak, mértékkel étkeznek, nincs külön szobájuk, csak egy ágyuk, egy váltás ruhájuk, egy pár szandáljuk és egyetlen fatányéruk. Mindenkihez egyformán kedvesek, figyelmesek, jóindulatúak. Teréz anya arcát többnyire szelíden mosolyogva láttuk.

Az első Nobel-díjas apáca

Első otthonukat 1952-ben, Tiszta Szív néven nyitották meg. Fizikai és lelki segélynyújtás, orvosi ellátás, oktatás, szociális tevékenység, a tbc-s, a leprás, az AIDS-es betegek ápolása, elhagyott, mozgássérült, szellemi fogyatékos gyerekek gondozása, mozgóklinikák működtetése, szakmai képzés tartozik feladataikhoz. A hajléktalanok, az alkoholisták, a kábítószeresek, a leányanyák istápolása, otthonok alapítása, főtt étel osztása (naponta legalább ezer emberre főznek). Tevékenységüket az emberszeretet diktálja. Mindez Teréz anya kezdeményezésére, ösztönzésére jött létre.

A misszionárius nővérek járják az utcákat, összeszedik a haldoklókat, hogy tiszta ágyon fekve, békében, emberi méltóságukat visszanyerve távozhassanak az élők sorából. Lepra… Már az említése is félelmet kelt. Bár a leprás beteg korunkban nincs halálra ítélve. Negyven évvel ezelőtt kezdték el a leprások kezelését. Ma falunak beillő központban látják el őket.

Számtalan kérés érkezett Teréz anyához a világ minden tájáról. Az AIDS új kihívást jelentett. Észak- és Dél-Amerika, Afrika, Európa, Ázsia számos városában létesítettek AIDS-otthonokat, -gondozókat.

Zöld ágyak sorakoznak a gyerekotthonban, a beteg, alultáplált kicsinyekbe lassan visszatér az élet. Játszószoba, játszóudvar — napjaikat igyekeznek megszépíteni. Az utca népe naponta találkozik a nővérekkel, akik a legelesettebbeket magukkal viszik, megfürdetik, lefektetik, infúziót adnak, felerősítik őket.

Első, Indián kívüli otthonuk a venezuelai Cocorotében nyílt meg. A fehér-kék száris nővérek megjelentek és otthonokat nyitottak minden kontinensen. Egyedül Indiában ekkor már 168 rendház működött.

Teréz anya „a szegények és nélkülözők, a betegek és árvák közötti emberbaráti tevékenységéért” 1979-ben Nobel-békedíjban részesült. Előtte még sohasem kapott apáca Nobel-díjat. Kérte, hogy a hagyományos díszvacsoráról mondjanak le, a hétezer dollárt hadd fordítsa szegényeire. VI. Pál pápa, hogy megkönnyítse Teréz anya közlekedését, drága Lincoln gépkocsiját neki ajándékozta. Természetesen ezt is értékesítette, élelmet vett belőle.

Számos kitüntetésben részesült, India messzemenő tiszteletét legmagasabb érdemrendjével fejezte ki. A XXIII. János pápáról elnevezett díjat először adták nőnek, Teréz anyának 1971-ben. Megkapta a Kennedy Alapítvány kitüntetését, Pertini olasz köztársasági elnök nyújtotta át neki a Balzan-díjat és sorolhatnánk tovább.

Hódolat és bírálat

India lakosságának csak három százaléka katolikus. Teréz anya nem nézte, ki milyen vallású, a rászoruló emberre tekintett, és segített. A társadalom kasztokra osztása több évezredes maradvány. A kasztrendszert eltörölték, de a gyakorlatban nehéz felszámolni. Gandhihoz hasonló nézeteket vallott.

Kemény bírálatok is érték. Mereven elutasította az abortuszt, csak a természetes családtervezést tanította a szegényeknek: „gyöngyfüzért adunk az asszonyoknak, amelyen kiszámíthatják ciklusuk napjait.” Tette ezt Indiában, ahol ötven évvel ezelőtt, a függetlenné váláskor 360 millió lakos volt és most vészesen közelít az egymilliárd felé. Távol tartotta magát a világ bajaitól, nem lépett fel okainak megszüntetéséért, bár közelről látta a nyomort, az igazságtalanságot. Szeretetek törődést, menedéket, gyógyírt, „felszíni kezelést” nyújtott védenceinek. Rosszallták, hogy adományokat bárkitől elfogadott, még a gyűlölt haiti diktátortól, Duvalier-től is. A haldoklóknak nem adott fájdalomcsillapítót, mert bár élete átívelt a XX. századon, ő mégis mintha a régi idők eszményképeit idealizálta volna. „Csak” segíteni akart, tette ezt tiszta szívvel, rendíthetetlen hittel, kitűnően.

Ma több mint százhúsz országban 4500 áldozatkész apáca követi Teréz anya útmutatását, 569 központban nyújtanak segítséget a „szegények közt a legszegényebbeknek”. E sorok írója az etiópiai éhínség idején, UNICEF Nemzetközi Küldöttség tagjaként találkozott Teréz anya lányaival. Iszonyatos körülmények között, éjt nappallá téve próbálták kiragadni a halálból a még megmenthető gyerekeket. Pontosan tudták, vészhelyzetben mit kell tenniük, kicsik és nagyok felnéztek rájuk, nemcsak tejet és tápszert kaptak, hanem biztatást, bátorítást is. Elmentek a nővérek Csernobilbe, a radioaktív sugárzás áldozatait ápolni. Az örmény földrengéskor a hajléktalanná váltak segítségére siettek. Magyarországon 1989-ben telepedtek meg Teréz anya nővérei.

Anyai szeretet

Óriás volt a törékeny, töpörödött, barázdált arcú, idős rendfőnöknő. Nem le-, felnéztek rá, csodálták heroizmusát. Legyőzhetetlennek tűnt. Még a betegségek, a tuberkulózis, a tüdőgyulladás, a maláriás rohamok, a csonttörések is csak időlegesen döntötték le lábáról. Lelki ereje legyőzte fizikai gyengeségét. 1983-ban kapta első szívrohamát, 1989-ben a másodikat, csaknem végzeteset. Szívritmus-szabályozóval élt tovább. 1990-ben még nem fogadták el lemondását, 1997 tavaszán súlyosan megrendült egészségi állapota miatt, érműtéte után már kénytelenek voltak.

„Én nem vagyok Teréz anya, Nirmala nővér vagyok. Kérem, ne hívjanak engem anyának” – mondta megválasztása után hatvannégy éves utódja, aki a rend első önkéntesei közé tartozott. Teréz anya jogi egyetemre küldte, ő lett a misszió jogtanácsosa. Ő ápolta Teréz anyát, ő volt a kísérője, szellemi gyermekének tekintik.

Teréz anya… Millióknak nyújtott meleg, anyai szeretetet. A legszegényebbeknek! Szolgálata lejárt… Példája él és hat. Életműve az emberiség öröksége. 

Szilágyi Éva

Con đường vượt biên tìm Tự do (3)

 Chuyện Vượt Biển tháng 5/1986

**Ngày 9** - 9/5/1986

- Khoảng nửa đêm, tôi đánh thức Cường nổ máy ghe, kêu Hà nhổ neo. Chúng tôi lại khởi hành tìm tự do.

Biển êm cấp 1, ghe hết nước uống, chúng tôi trông mưa nhưng chẳng thấy mưa. Ghe chạy bình thường, chỉ hơi khó lái, vì bánh lái bị cưa mất 1/4.

Cá heo bơi theo ghe. Cá heo lượn lội bên hông ghe. Báo hiệu chúng tôi đang chạy trên vùng biển cạn, có đá san hô ngầm dưới đáy. Do đó chúng tôi phải quan sát, lái cẩn thận hơn. Tôi nhắc chừng Hà, Dĩnh và Thuật thay phiên nhau lên ngồi trên sàn mũi và quan sát kỹ phía trước.

- Chiều 7 giờ sập tối, để an toàn với đá san hô ngầm khó lường, tôi nói Cường tắt máy và Hà thả neo, nghỉ. Chúng tôi vẫn chưa thấy đảo như tôi dự đoán.

Mọi người vẫn đọc kinh, hát cầu nguyện dâng Chúa, sáng và tối.

** Ngày 10** - 10/5/1986

Nửa đêm, tôi đánh thức Cường và Hà dậy, nhổ neo. Chúng tôi cùng nhau bắt đầu một ngày mới lúc nửa đêm. Cường nổ máy, tôi lái ghe, khởi hành.

Biển êm cấp 1, ghe hết nước uống, vẫn không mưa...

Trời mờ sáng, mọi người thức dậy đọc kinh. Tôi giao cần lái cho Thuật và tôi ngủ theo tiếng cầu kinh.

- Khoảng 10 giờ trưa, Thuật lay tôi dậy: "Anh Ba… Anh Ba… Thấy đảo! Thấy đảo!". Tôi vùng chồm dậy, nhìn quanh. Tôi nghe tiếng la "Đảo! Đảo! Đảo!!!" của mọi người. Tôi thấy Linh, Cường, Dĩnh, Nguyệt và Quan đứng cả trên mui khoang máy mà nhìn và la. Tôi cũng vui lây, tôi nhập cuộc la hét. Ghe lắc lư, tròng trành khó lái. Tôi bảo mọi người trên sàn mũi xuống bớt, đứng trong khoang mũi. Ghe hết tròng trành…

Nhìn phía chân trời trước mặt, bên trái ghe, hướng 11 giờ, tôi thấy mờ mờ một đốm đen hình nón, hình ảnh của đảo. Tôi nhìn hải bàn, đảo ở hướng 160 độ. Ghe đang chạy hướng 180 độ. Tôi kêu Thuật chuyển hướng lái 170 độ, sóng và gió sẽ bê dạt ghe hướng 160 độ để tới đảo.

Mọi người lấy lương khô chia nhau ăn, không có nước uống. Mấy đứa trẻ, chỉ mình Quan còn tỉnh táo, cười toe toét. 5 đứa kia vì quá khát nước, kiệt sức nằm yên nhìn mọi người.

Ghe tiếp tục chạy hướng 170 độ, nhắm đảo mà tới. Hình dáng đảo lớn dần, mặt biển xuất hiện những đàn cá heo bơi lượn lờ phía xa. Tôi nhìn thấy tháp hải đăng màu trắng trên đỉnh núi. Tôi nói với mọi người và chỉ một đảo lớn mờ mờ phía sau đảo hải đăng: "Tạ ơn Chúa. Chúng ta đã chạy đúng hướng và đến đúng nơi dự tính. Trước mặt chúng ta là hải đăng của quần đảo Natuna, Indonesia…"

- Khoảng 5 giờ chiều, ghe đang chạy bỗng tắt máy. Tôi hỏi Linh và giục Cường cho máy ghe nỗ trở lại. 10 phút trôi qua, Linh ló đầu ra khỏi khoang máy, buồn thiu nhìn tôi: "Máy cạn, hết trơn dầu… Anh Ba!" Mọi người nhìn nhau và, thất vọng…

Tôi nhìn đảo hải đăng. Đảo đã rất kề cạnh ghe, chỉ cách ghe khoảng 1 cây số. Buồn bã nhìn mặt biển một, phẳng lì, nước trong xanh. Tôi nói với mọi người: "Chúng ta chèo ghe tới đảo". Tôi dùng búa và kềm tháo các mảnh ván chung quanh mui khoang máy, đưa ván cho mọi người cùng nhau chèo. Chúng tôi cố chèo. Chúng tôi mong ghe nhúc nhích trôi tới đảo.

30 phút chèo ghe qua đi. Ghe không nhúc nhích. Mọi người mệt lã, vô vọng. Tôi nói với Cường xuống khoang máy tìm kiếm lại chai xá xị đựng dầu hoả dùng làm đèn trong đêm ghe chạy tới bãi. Cường tìm thấy chai xá xị đèn, dầu hoả vẫn còn đầy chai. Tôi bảo Cường đổ hết dầu hoả vào máy và nổ máy. Cường làm theo lời tôi, không chút lưỡng lự.

Phép lạ! Máy nổ và ghe chạy vô tới đảo, phía bắc của hải đăng. Vừa tấp bờ đảo thì ghe tắt máy, hết dầu! Tôi rảo mắt nhìn, bờ đảo dày đặc đá san hô lớn nhỏ chồng lên nhau, nước biển có màu xanh lá cây dị kỳ…

Tôi hỏi: "Ai muốn lên bờ trước?". Ai cũng giơ tay. Mọi người lần lượt xuống ghe, tìm cách bước lên các mỏm đá san hô, nhưng chân bước không nỗi, vì lâu ngày ở dưới ghe, đôi chân bị cuồng, mất sức. Mọi người nhìn nhau cười la. Tôi khuyên mọi người ngồi yên vài phút, hít thở để lấy hơi đất, rồi mới bước lên đá, và mọi người đã thành công.

Cùng lúc tôi thấy 2 người đang từ hải đăng đi xuống phía chúng tôi. Môt người giơ tay ra dấu cho chúng tôi đưa ghe vòng qua phải, phía đông của hải đăng. Tôi để Linh theo đoàn người đổ bộ và gọi Cường, Hà, Thuật, Dĩnh xuống lại ghe cùng tôi đẩy, kéo ghe. Ghe nổi, nước biển chỉ ngang ngực, chúng tôi dễ dàng đẩy ghe qua phía đông của đảo. Tôi nhìn thấy một cầu tàu bằng bêtông, chúng tôi cùng đẩy ghe và cột dây, cập cầu. Một nhân viên hải đăng đang đứng đó, 5 người chúng tôi cùng anh ta theo bậc thang đá đi lên chỗ tháp hải đăng.

Tới chân hải đăng, tôi thấy mọi người đang bu quanh thùng nước lớn và tranh nhau múc uống. Tôi la to: "Uống từ từ, không uống no quá. Chết người!" Mọi người khựng lại.

- Trời sập tối, khoảng 7 giờ, một nhân viên hải đăng tới và nói chúng tôi sẽ ngủ nghỉ ở chân tháp hải đăng.

Ba mặt chân tháp được che bằng tôn, có một lối trống đi ra phía sau để vệ sinh. Nhìn quanh chân tháp tôi đoán gian phòng này đã từng là nơi ngủ nghỉ của các thuyền nhân đến trước chúng tôi.

Một lúc sau, 2 nhân viên hải đăng mang đến một thùng nước, một thùng cơm gạo sấy và một rổ cá khô, không có chén, chỉ có muổng. Họ giơ tay mời chúng tôi. Chúng tôi ăn, không hề lưỡng lự, không hề nói tiếng cám ơn. Thiệt là bất lịch sự!

Ăn xong, tôi để Linh chuyện trò với người trưởng trạm hải đăng. Vì tôi nghĩ, muốn nói chuyện thương lượng thì phải có chút tiếng Anh và có chút tiền vàng. Linh đang có cả hai!

- Đêm nay mọi người ngủ dưới chân tháp hải đăng đảo Laut, quần đảo Natuna, Indonesia. Ăn uống no nê, chúng tôi chỉ biết ngủ, quên cả đọc kinh...

**Ngày 11** - 11/5/1986

- Tờ mờ sáng, tôi thức dậy, một mình lang thang đi xuống cầu tàu. Chiếc ghe của chúng tôi vẫn còn đó, vẫn đậu phía trái cầu tàu, phía đông hải đăng. Tôi nhìn mui ghe khoang máy, cái hải bàn ai đã gỡ lấy mất! Tôi nhìn đuôi ghe, bánh lái và quạt vịt 2 cánh vẫn còn. Một cảm giác xúc động dâng trào. Tôi thầm cám ơn trời, biển, ghe… cám ơn mọi thứ! Tôi không mảy may tiếc cái hải bàn!…

Đang đứng nhìn trời, nhìn biển, nhìn ghe của mình. Tôi thấy một chiếc ghe gỗ cở trung chạy tới và cập cầu phía bên phải. Trên ghe có những người mang áo quần lính rằn ri. Có 4 người lính trên ghe bước xuống cầu tàu, một người mang vai khẩu súng dài, tôi đoán họ là lính thủy quân lục chiến của đảo sát kế bên.

Họ bước tới gần tôi. Người lính có bộ râu quai nón với khẩu súng dài hỏi tôi: "Anh là trưởng ghe (leader)?", Tôi trả lời: "Vâng!". Người lính chỉ tay về phía hải đăng và lặng lẽ bước đi. Tôi và những người lính kia cùng bước theo.

Tới chân hải đăng, những người lính nhìn và gật đầu lịch sự chào đám thuyền nhân. Người lính mang súng (tôi đoán anh ta là trưởng toán) bỏ đi tới dãy nhà sát cạnh chân hải đăng (đó là nơi làm việc, ăn ở, sinh hoạt và nghỉ ngơi của các nhân viên hải đăng).

- Khoảng 10 giờ sáng, mặt trời ngang trán. Người lính có râu quai nón, súng dài cầm tay, đi trở lại chân tháp hải đăng. Anh giơ tay ngang trán, nhìn mặt trời phía đông, rồi quay lại nói to với đám thuyền nhân: "Chúng tôi đưa các bạn tới đảo tị nạn Kuku…" và anh chỉ tay về phía cầu tàu, nơi ghe chúng tôi đang đậu. Linh thông dịch cho mọi người nghe. Chúng tôi im lặng…

Tôi dẫn đầu đoàn người đi xuống phía cầu tàu, theo sau người lính râu quai nón dẫn đường.

Tới cầu tàu, người lính chỉ ghe chúng tôi và khoát tay ra dấu mọi người bước xuống ghe. Một thoáng nghi ngờ trong đầu, tôi thầm nghĩ: "Họ đưa chúng tôi tới đảo Kuku, sao không chở bằng ghe lớn của đảo, mà lại chở bằng ghe đã hết dầu hết nước của chúng tôi". Không cho tôi suy nghĩ thêm, người lính giơ cao súng và bắn chỉ thiên một loạt đùng…đùng…đùng… Tôi quay nhìn người lính, khuôn mặt râu quai nón của anh trở nên dữ tợn. Anh không hung hổ la hét, nhưng tay phải anh bấm cò, súng nổ chỉ thiên rền rền liên thanh, trấn áp. Mọi người la khóc, hoảng loạn nhảy và bước ào xuống ghe mình.

Khi mọi người đã xuống hết, súng cũng ngưng nổ. Sau phút định thần, tôi nói với Linh: "Họ không đưa mình đi Kuku. Họ đuổi mình ra biển. Mình cứ chạy ra ngoài rồi tính".

Tôi giơ hai tay, nói to với người lính râu quai nón: "Chúng tôi cần dầu (oil). Chúng tôi cần thực phẩm (food)". Người lính quay sang nói gì đó với người lính ngồi trên chiếc ghe đang đậu bên phải cầu.

10 phút sau, họ mang tới một can dầu 30 lít và một thùng gạo sấy.

Chúng tôi châm dầu vào máy, nổ máy, tháo giây và chạy ghe vòng qua phía bắc đảo tháp hải đăng. Chiếc ghe của lính thủy quân lục chiến cũng mở máy, chạy kè theo phía sau ghe chúng tôi, giữ khoảng cách.

Đang chạy, tôi thấy một sợi giây thừng lòng thòng phía đuôi ghe, nhìn xuống, quạt vịt của ghe đang bị giây thừng quấn. Tôi kêu Cường tắt máy, rồi nhảy xuống nước tháo bỏ sợi thừng khỏi quạt vịt. Lên ghe, nổ máy chạy tiếp.

Ghe chạy hướng tây, 270 độ. Hải bàn của ghe đã bị ai đó tháo gỡ, lấy mất đêm qua. Tôi lái ghe dựa theo hướng của mặt trời.

Ghe của thủy quân lục chiến chạy theo chúng tôi khoảng một giờ thì họ đổi hướng bắc, chạy về đảo bên cạnh. Ghe họ khuất dần, nhưng tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng đạn lớn nhỏ nổ đì đùng chỉ thiên hăm he.

Chúng tôi vẫn chạy hướng tây, và cho giảm máy ghe, chầm chậm xa khuất đảo hải đăng.

- Khoảng 3 giờ chiều, Linh đến ngồi bên cạnh, hỏi tôi: "Anh Ba đang tính gì?"

Không hỏi, tôi cũng biết Linh đã thương lượng, năn nỉ không thành công với người trưởng trạm hải đăng.

Tôi nói với Linh: "Thủy quân lục chiến có nhiệm vụ bảo vệ đảo. Họ bắt mình rời đảo này thì mình chạy tới đảo khác".

Rồi tôi chỉ cho Linh và mọi người thấy một đảo lớn mờ mờ ở phía nam: "Mình sẽ chạy vào đảo lớn đó. Nhưng ghe mình phải cần thêm dầu. Sáng nay họ không cho chúng ta nước. Chúng ta rất cần nước uống. Do đó, chúng ta phải quay lại đảo hải đăng, đưa họ tiền vàng để mua nước, mua dầu…". Không ai nói gì, nhưng nhìn trong mắt, tôi biết mọi người đã đồng ý. Tôi nói với vợ tôi lấy khâu vàng đang cất dấu đâu đó trong áo đứa con gái (Nhiên, 9 tuổi) và đưa cho Linh. Khâu vàng này có trị giá không tới 1 chỉ, đó là gia tài vượt biển duy nhất của gia đình tôi!

Tôi để Linh lo việc thâu vàng. Tôi quay ghe, tăng máy, chạy trở vào hải đăng đảo Laut. Mọi người đọc kinh, và cầu nguyện trở lại…

- Khoảng 6 giờ chiều, ghe chúng tôi cập cầu hải đăng, và chúng tôi thản nhiên dắt nhau đi lên chân tháp hải đăng như đã quen tháp đảo từ bao giờ. Hai nhân viên hải đăng xuất hiện, có mặt người trưởng trạm hiền hậu. Cả hai người nói năng chỉ chỏ, hoảng hốt lẫn tức giận. Họ nói rằng thủy quân lục chiến sẽ tới và sẽ đuổi chúng tôi, lần đuổi này chắc chắn sẽ căng và nguy hiểm hơn sáng nay.

Tôi và Linh nói với họ: "Chúng tôi chỉ muốn mua thêm dầu và nước để chạy ghe tới Malaysia". Người trưởng trạm nhìn chúng tôi, tỏ vẻ yên chí…

- 9 giờ đêm, toán thủy quân lục chiến lại tới chân hải đăng. Tất cả họ mang thường phục, tôi không thấy người lính râu quai nón.

Linh, cùng anh trưởng trạm hải đăng và một người lính trung niên đang chuyện trò nơi dãy nhà gần chân hải đăng.

Một anh lính đến ngồi gần tôi, mời tôi hút thuốc và bắt chuyện. Tôi hỏi anh, sao không thấy người lính râu quai nón sáng nay. Người lính nói: " Sáng nay anh ta bị điên, anh ta nói xin lỗi các bạn!". Tôi hút thuốc và đáp lễ ậm ừ…

- 10 giờ đêm, Linh về và cho biết mọi chuyện đã được thương lượng, dàn xếp xong. Ngày mai ghe phải rời đảo, đi Malaysia! Chúng tôi đi ngủ. Chờ sáng…

**Ngày 12** - 12/5/1986

Buổi sáng, chúng tôi dậy sớm hơn mặt trời. Chúng tôi dọn dẹp phòng nghĩ nơi chân tháp hải đăng. Mấy đứa trẻ đã tỉnh táo, đùa giỡn. Người lớn cũng bắt đầu kín đáo cười nói, đấu láo. Chúng tôi dẫn dắt nhau xuống cầu tàu, đứng chờ.

- Khoảng 9 giờ sáng, ghe của lính thủy quân lục chiến cập cầu. Họ xuống ghe và bắt tay Linh và tôi, thân thiện. Họ đưa thêm chúng tôi 2 can dầu 30 lít, 1 can nước 60 lít, và 1 thùng lương khô, gạo sấy.

Chúng tôi, mọi người và mọi thứ cùng dắt nhau xuống ghe.

- 10 giờ, ghe chúng tôi tách đảo, mọi người vẫy vẫy chia tay, chẳng thấy ai sướt mướt bùi ngùi!

Tôi lái ghe chạy hướng tây 270 độ đi Malaysia để đánh lừa… Biển êm, êm hơn biển một!

Sau 3 giờ ghe chạy đánh lừa, tầm nhìn đảo Laut đang mờ nhạt, tôi cho ghe đổi hướng nam, nhắm hòn đảo lớn của quần đảo Natuna, chạy tới.

Nhiều cá heo nổi lên bơi theo ghe, theo niềm vui của chúng tôi. Cá heo lượn lội bên hông ghe. Cá heo nhộn nhịp trước mũi ghe. Chúng tôi đang chạy trên vùng biển cạn, có đá san hô ngầm dưới đáy. Tính ra thì phần chìm xuống nước của ghe không tới 1m, tôi an tâm. Tôi có cái cái cảm giác là mình đang chạy ghe thảnh thơi du ngoạn. Tôi không có một chút âu lo vượt biển…

- 6 giờ chiều, ghe đang chạy trên vùng biển san hô. Chúng tôi phát hiện có vài mô đá san hô lú trên khỏi mặt nước, tôi cho chạy ghe chậm lại, quan sát. Nhìn các dấu hằn của lằn nước trên các mô đá san hô lộ thiên, tôi đoán thủy triều đang xuống, biển đang cạn. Nếu tiếp tục chạy đêm thì đáy ghe có thể chạm đá, nguy hiểm.

Tôi kêu Hà thả neo, Cường tắt máy. Chúng tôi đọc kinh, hát cầu nguyện và ngủ sớm.

**Ngày 13** - 13/5/1986

Sáng sớm, tiếng cầu kinh của mọi người đánh thức. Tôi thức dậy, nghêu ngao cùng hát theo với mọi người.

Trời sáng tỏ. Tôi nói Hà nhổ neo. Neo bị cắn đá san hô, không nhấc nỗi. Tôi và Hà loay hoay, cố sức kéo sợi giây neo, neo không chuyển. Tôi mượn cái dao nhỏ của chị Sương đang cầm trên tay, và cắt đứt giây neo, quyết định bỏ neo...

Cường nổ máy ghe. Chúng tôi bắt đầu ngày mới. Biểm êm, êm hơn cấp 1.

Thuật cầm lái, hướng tới vẫn là hòn đảo lớn trước mặt. Tiếng động của máy nổ và quạt vịt quay đã kích động những con cá heo đâu đó kéo đến, lượn lờ tung tăng trên đường ghe chạy. Mọi người đứng và ngồi cả trên sàn mũi, sàn lái coi cá heo. Ghe chạy tròng trành, lắc lư vì lòng ghe trống rỗng, đáy ghe thiếu trọng lượng để cân bằng. Tôi kêu mọi người xuống bớt khoang mũi. Ghe chạy cân bằng và an toàn trở lại.

- Khoảng 2 giờ trưa, ghe chạy tới phía tây hòn đảo lớn. Tôi cho ghe chạy ủi lên bờ cát. Bờ cát trắng, thoai thoải cạn, nước trong xanh. Trên bờ tôi thấy thấp thoáng những căn nhà lá thấp và nhỏ, nằm ẩn trong một rừng cây toàn dừa. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác về một làng quê ven biển.

Chúng tôi đang lội cát, đổ bộ đảo thì một đám con nít từ một căn nhà trong làng chạy tới (có thể đó là ngôi trường làng chăng?). Đám con nít tới, chỉ đứng nhìn, và chỉ trỏ chúng tôi. Có vẽ chúng đang nghiêm chỉnh đếm số mỗi chúng tôi!

Khoảng 10 phút sau, một thanh niên trung niên từ căn nhà đó bước tới. Quần áo của anh dính sơn nhiều màu, tôi đoán anh là một họa sĩ và là thầy giáo của đám trẻ. Anh chào chúng tôi bằng tiếng Anh. Chúng tôi mừng rỡ hỏi anh có biết chỗ tiếp nhận, tiếp cư thuyền nhân. Anh chỉ mũi đảo bên tay phải phía trước, anh nói: "Chạy qua mũi đảo và tiếp tục chạy dọc bờ bên phải". Tôi lột cái đồng hồ điện tử (đã bị vô nước) trên tay tôi và đưa cho người họa sĩ, chúng tôi cùng nói cám ơn. Mọi người trở lại ghe.

Tôi lái ghe chạy dọc theo bãi biển phía tây đảo để tới mũi đảo.

Qua khỏi mũi đảo, tôi chuyển lái cho ghe chạy dọc theo bãi biển phía đông đảo. Ghe đang chạy thì tôi thấy một chiếc du thuyền nhỏ chạy ngược chiều. Du thuyền kéo theo phía sau một người đang trượt nước. Du thuyền chạy ngang qua chúng tôi và người đang trượt nước giơ tay trái chỉ vào bờ, tôi nghĩ người này đang ra dấu ám chỉ với chúng tôi.

Khoảng 5 phút sau, tôi thấy xuất hiện một chiếc trực thăng đến và bay cao trên đầu chúng tôi một vòng rồi bỏ đi, bay mất dạng. Tôi vẫn cho ghe chạy chậm dọc bờ đông của đảo Riau và nói với mọi người tập trung quan sát phía bờ. Bờ cát trắng, cạn thoai thoải, nước trong xanh, tuyệt đẹp.

- Khoảng 6 giờ chiều, chúng tôi cùng nhìn thấy một bãi trống trên bờ có nhiều người đang đứng, ngồi. Họ vẫy tay với chúng tôi.

Vui mừng siết kể, tôi quay ghe hướng vào bờ. Bãi biển thoai thoải, nước cạn. Tôi kêu các thanh niên xuống nước, để cho ghe nổi, không vướng cạn. Nước ngang ngực, chúng tôi đẩy kéo ghe sát bờ, và mọi người rời ghe, đổ bộ.

Tôi nghe được tiếng vỗ tay trên bờ. Tôi nhìn thấy các chị phụ nữ đang ùa xuống nước dìu và bế mấy đứa nhỏ, con chúng tôi.

Lên bờ, bọn chúng tôi đứng đó. Thoạt đầu, mọi người im lặng và đứng nhìn chúng tôi, lạ lùng... Họ đang nhìn, coi cái gì đây? Tôi tự hỏi. Tôi quay nhìn mọi người chúng tôi: mặt mũi đen đũi, áo quần lem luốc, cứng hồ vì khói ghe và muối biển. Tôi nhìn Linh và chúng tôi cùng cười…mếu. Răng Linh trắng…hếu. Mọi người chung quanh bỗng vỗ tay, huýt sáo, cười theo…

Một anh trung niên bước tới, bên cạnh có một người mang đồ lính trên ve áo đính 1 sao, là một lão tướng. Phía sau ông có nhiều thanh niên trẻ. Họ vây quanh chúng tôi, xi xô bàn tán.

Anh trung niên hỏi: "Các bạn. Ai là người trưởng toán (leader)?". Tôi giơ tay.

Người mang bộ đồ lính đính 1 sao nói chầm chậm với chúng tôi là ghe chúng tôi đã chạy xâm nhập vùng cấm quân sự của Không quân, họ phát hiện và phái trực thăng đến để bắn chìm ghe, nhưng sau khi quan sát và theo dõi, họ nhận ra chúng tôi chỉ là ghe thuyền nhân (boat people), và họ đã cho lệnh đón tiếp chúng tôi… Ông nói thêm: "Các bạn được tiếp đón, được đưa tới nơi tạm cư, và tàu tiếp cư đang trên đường tới". Linh thông dịch cho mọi người nghe.

Chúng tôi cùng đứng chụp hình với người lão tướng và một số người chung quanh.

Các phụ nữ vui vẻ đưa cho chúng tôi nước và thức ăn. Vui mừng và cảm động quá, chúng tôi ăn không nỗi…

- Khoảng 8 giờ tối, một chiếc tàu nhỏ của hải quân chạy tới và ủi bãi. Chúng tôi chia tay mọi người, quyến luyến xuống tàu. Tôi quay nhìn tạm biệt chiếc ghe vượt biển. Tàu của hải quân đưa chúng tôi tới căn cứ Hải quân Ranai, đảo Riau, quần đảo Natuna, Indonesia.

- Sáng hôm sau 14/5/1986, mấy người lính của căn cứ Không quân ghé căn cứ Hải quân Ranai, họ đưa tặng tôi tờ báo có hình chúng tôi chụp chung với họ và vị lão tướng Không quân 1 sao!

Chúng tôi tạm cư Ranai 20 ngày.

oOo

** Ngày 1/6/1986, tàu Cao ủy tị nạn của Liên hiệp quốc tới Ranai chở chúng tôi và 50 người trên các đảo kế bên, đưa vào đảo Kuku, Indonesia, tạm cư 15 ngày.

** Ngày 15/6/1986, tàu Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc tới Kuku đưa chúng tôi và 500 người các đảo lân cận lên đảo Galang, Indonesia.

Tại Galang, hồ sơ tị nạn của ghe chúng tôi là: Boat NB0605-18.

NgHoa Nguyen

Đời rồi cũng là hư vô, điều để lại mới vô cùng đáng quý

NHẬT KÝ CỦA MỘT LINH HỒN SAU KHI CHẾT (rất đáng đọc)

Lúc sống tranh đấu một đời , bất chấp dư luận , chấp nhận mất nhân cách rồi thì....

- Vào một ngày, khi hơi thở ta không còn nữa, đứng cạnh thân xác đang nguội lạnh, cứng đờ của ta, ta đã thấy... Người ghét ta, nhảy múa vui mừng, người thương ta, nước mắt rưng rưng.

- Ngày động quan...

Thân thể ta nằm sâu dưới lòng đất. Người ghét ta, nhìn nấm mộ niềm vui hiện rõ. Người thương ta, chẳng nỡ quay đầu nhìn lần cuối.

- Ba tháng sau...

Thân xác ta đang dần trương sình, bốc mùi hôi thối, thuở còn sống ta vô cùng ghét côn trùng, giờ đây giòi bọ đang nhăm nhi cái thân mà ta cả đời nâng niu, tàn sát sinh mạng để cung phụng cho nó đủ thức ngon, mặc đẹp, đắp vào bao nhiêu tiền của.

- Một năm sau...

Thân thể của ta đã rã tan…

nấm mộ của ta mưa bay gió thổi...

ngày giỗ ta, họ vui như trẩy hội,

mở tiệc ca nhạc, ăn uống linh đình.

Người ghét ta, lâu lâu trong buổi trà dư tửu hậu nhắc đến tên ta...họ vẫn còn bực tức. Người thương ta, khi đêm khuya vắng lặng, khóc thầm rơi lệ tìm ai bày tỏ.

- Vài năm sau...

Ta không còn thân thể nữa, chỉ còn lại một ít xương tàn. Người ghét ta, chỉ nhớ mơ hồ tên ta, họ đã quên mất gương mặt của ta. Người yêu thương ta, khi nhớ về ta có chút trầm lặng. Cuộc sống xô bồ dần dần làm phai mờ đi tất cả.

- Vài chục năm sau...

Nấm mộ của ta hoang tàn không người nhang khói, quan tài nơi ta nằm đã mục nát, chỉ còn một mảng hoang vu. Người ghét ta, đã già lú cũng quên ta rồi. Người yêu thương ta, cũng tiếp bước ta đi vào nấm mộ.

- Đối với thế giới này...

Ta đã hoàn toàn trở thành hư vô, không ai biết ta từng tồn tại, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, mỗi người một nơi, kẻ già, người chết, những gì ta dùng đã mất, những gì ta dành dụm để lại, rơi vào tay kẻ khác.

Ta phấn đấu, hơn thua, tranh giành cả đời, cũng không mang theo được nhành cây ngọn cỏ. Tiền tài, gia sản mà ta cố giữ, cố thủ đoạn, mưu mô để có cũng không mang được một phần hư danh, vinh dự hão huyền nào.

- Ta nhận ra sống trên đời này, bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn khi nhắm mắt, xuôi tay phải bỏ lại tất cả, trả hết cho đời. Cái ta mang theo được, chính là cái ta đã cho đi là đạo đức là sự lương thiện.

Bất giác ta có chút ân hận, lòng lâng lâng một nỗi buồn khó tả, cứ da diết, da diết mãi không thôi.

Bao nhiêu phồn hoa, thoáng qua phút chốc.

Trăm năm sau, chỉ còn lại một nắm nấm mộ vô danh.

Cuộc đời như nước chảy hoa trôi, lợi danh như bóng mây chìm nổi, chỉ có tình thương ở lại đời.

P/s : Đã biết trần gian là quán trọ...

Hơn thua hờn oán để mà chi...

Thử ra ngồi xuống bên phần mộ.

Hỏi họ mang theo được những gì...

(copy từ PhunuGiađinh.vn-27.Aug.)

Saturday, September 3, 2022

CHÂN LÝ CỦA TÔI (10)

Ông Toàn Quyền

(tiếp theo)

Từ Paris tới Sài Gòn

Ko thể phủ nhận tính vượt trội của nền văn minh vật chất hiện đại so với nền văn minh cổ đại. Paul Doumer nhận thấy điều này khi đi qua 2 xoáy nước lớn mà những con thuyền thời cổ đại ko dám qua. Trong thần thoại Hy Lạp Homer gọi chúng là 2 quái vật (Scylla và Charybdis) chuyên hút nước biển vào rồi phun ra thành xoáy nước mạnh làm tàu bè chìm đắm. Ông đã mô tả về điều này trong cuốn sách của mình: "Tàu chúng tôi đi qua giữa chúng mà không lệch khỏi đường đi, không bị ảnh hưởng một li bởi các dòng xoáy do chúng sinh ra.".

Về vai trò của nước Pháp ở Địa Trung Hải, Paul Doumer nhận thấy tầm quan trọng của eo biển Messina và việc khống chế được nó sẽ làm chủ con đường biển đi qua eo biển này. Ông cho rằng: sau Napoléon, nước Pháp đã mắc sai lầm ko thể tha thứ vì hậu quả từ việc thi hành 1 chính sách hèn yếu, do dự, ko có tầm nhìn, ko có đầu óc, hành động qua loa có tính nhất thời nên để mất Ai Cập*, Tiểu Á và ảnh hưởng của Pháp ở vùng này chưa tiến triển thêm được chút nào. 

Sức mạnh của người Anh và người Tây Ban Nha ở phía Tây Địa Trung Hải, người Ý ở phía Đông làm cho Pháp ko thể coi Địa Trung Hải như cái hồ lớn của họ. Tuy nhiên, Pháp ko để các nước khác lấn át khi giữ vững ưu thế nhờ có bờ biển từ Port-Vendres đến Menton, đảo Corse, và bờ biển Algeria, Tunisia ở Bắc Phi, thêm nữa, họ còn có xưởng tàu Toulon, xưởng tàu Bizerte được cộng thêm sức mạnh của hạm đội Địa Trung Hải luôn sẵn sàng trong tình trạng cơ động.

Eo biển Messina: lối vào từ phía Tây (Hình chọn từ net)

(còn nữa)

*: Khi Paul Doumer trên hành trình đi qua Địa Trung Hải để đến ĐD thì Ai Cập đang là thuộc địa của Anh

Sống với nhau

TRÂN QUÝ 10 NGƯỜI NÀY ĐỂ HẠNH PHÚC CẢ ĐỜI

1. Quý trọng người chủ động gọi điện, nhắn tin cho bạn, bởi vì không ai lại ăn no rảnh rỗi đến mức dông dài cùng người mình không quan tâm.

2. Quý trọng người luôn bên cạnh khi bạn mệt mỏi, đau khổ.

3. Quý trọng người đặt biệt hiệu cho bạn, vì người này luôn hy vọng bạn nhớ đến họ nhiều hơn một chút.

4. Quý trọng người thường xuyên cùng bạn đùa giỡn, bởi vì chắc chắn bạn đã có một vị trí nhất định trong lòng họ

5. Quý trọng người mỗi ngày đều nhớ đến bạn, nếu như quan hệ của người ấy với bạn không tốt thì cũng chẳng cần mỗi ngày đều nhớ bạn, nhất định phải tin điều này.

6. Quý trọng người đầu tiên phát hiện tâm tình bạn không tốt.

7. Quý trọng người luôn hết lòng giúp đỡ bạn, chỉ cần có thể thì cái gì cũng không tiếc.

8. Quý trọng người luôn bênh vực kẻ yếu là bạn, bởi không phải ai cũng tình nguyện bảo vệ bạn đâu.

9. Quý trọng những kẻ ngốc bên cạnh bạn, bởi đó mới là người bên bạn đến phút cuối, khi mà những kẻ có tâm địa xấu xa đã sớm vứt bỏ bạn.

10. Quý trọng những người nổi giận với bạn, quý trọng cả những người hay càu nhàu với bạn.

Bởi vì trên thế giới này, ngoại trừ cha mẹ, không ai có thể đối tốt với bạn hơn đâu. Cũng sẽ chẳng có ai thích quản bạn nhiều đến thế nữa. Đừng để bạn trong lòng họ trở thành người có cũng được không có cũng không sao.

TnBS (st)

Friday, September 2, 2022

Con đường vượt biên tìm Tự do (2)

 Chuyện Vượt Biển tháng 5/1986

**Ngày 3** - 3/5/1986

- Khoảng 3 giờ sáng, tôi mệt lã và buồn ngủ ríu mắt. Đã 2 đêm rồi, tôi không được ngủ! Hơi ấm từ khoang máy phả vào mặt tôi, làm mắt tôi cứ muốn nhắm tít. Tôi tự nhéo má mình, nhéo tay mình, nhéo đùi mình cho tỉnh ngủ, nhưng vô ích. Người tôi lã đi, mắt không nhướng nỗi. Tôi ngủ chập chờn theo sự nhồi lắc của ghe, tay tôi vẫn nắm cần lái, ghe vẫn chạy, nhưng chạy không định hướng. Tôi ngủ ngồi ngon lành, tôi mơ thấy mình đang quỳ, và giơ tay gõ vào một cánh cửa mở hé, tai tôi nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền xen lẫn tiếng hát, mới đầu nhỏ rồi to dần: "Chúa cho con trời mới, đất mới, đường đời con đổi mới…"

Bài hát hay quá, tiếng hát văng vẵng nghe quen quá làm tôi mở mắt tìm kiếm. Tiếng hát im bặt, và tôi tỉnh ngủ. Tôi thấy đầu và vai của 2 thiếu nữ đang ngồi cạnh nhau, dựa lưng vào phía trước của khoang máy. Cả hai đang ngồi, hát hay chuyện trò, đợi chào bình minh trên biển! Nhờ tiếng hát chờ bình minh của 2 cô gái, tôi tỉnh ngủ và chỉnh hướng cho ghe chạy tiếp…

Bình minh mênh mông, mát mẻ. Mọi người đang vẫn say sóng, vẫn ngủ li bì. Biển vẫn động, động cấp 3. Sóng bạc đầu, nước biển xanh đen… Ghe chạy, trồi và hụp theo những con sóng, như chiếc lá. Có lúc ghe trèo ngồi trên chóp của ngọn sóng, tôi chỉ thấy trời và mây. Có khi ghe chuồi xuống đáy sóng, tôi chẳng thấy gì ngoài hai vách nước sừng sững bên ghe. Tôi lái ghe và cầu nguyện. Tôi không cầu biển lặng sóng êm. Tôi chỉ cầu xin để chiếc ghe, dù mong manh nhưng vững vàng chịu đựng…

- Khoảng 11 giờ trưa, biển chuyển êm hơn. Linh và Thuật thức dậy đến ngồi trên băng ghế tài công bên tôi. Tôi bảo Linh cầm lái để tôi ngủ. Linh và Thuật cùng đồng ý lái thay tôi. Tôi hướng dẫn hai người lái ghe theo hướng của hải bàn 160 độ. Hải bàn đã được tôi đóng đinh gắn trên mui khoang máy.

Giao cần lái cho Linh, tôi nằm dài trên khoang lái, đầu tôi kê lên trục cốt bánh lái, hai chân tôi thò vào khoang máy, tôi ngủ và ngáy quên trời!

- Khoảng 12 giờ trưa, nắng và nóng của mặt trời hắt vào mặt làm tôi tỉnh giấc. Thuật báo cáo: "Em lái theo hướng của hải bàn 160 độ, nhưng sao ghe cứ chạy lung tung, lúc thì chạy 140, lúc thì chạy 120, lúc thì chạy vòng vòng, v.v… Tôi giải thích: "Muốn chạy đúng hướng thì phải điều khiển bánh lái, cho nó ăn nước, cắn nước. Có nghĩa là cần lái phải được chuyển qua trái 5 – 10 độ, qua phải 5 – 10 độ, lắc ngang qua lại liên tục để bánh lái chẻ nước, giúp ghe chạy đúng hướng". Tôi biểu diễn, Thuật làm theo và học lái nhanh nhẩu…

Tôi, Linh và Thuật thay nhau chạy ghe, đêm trôi qua yên bình.

**Ngày 4** - 4/5/1986

Buổi sáng sương mù, biển êm hơn, cấp 2.

- Tầm 6 giờ sáng, mặt trời chưa mọc, tôi lái, ghe vẫn đi hướng 160 độ. Tôi nhìn thấy một chiếc tàu màu đen chạy ngang qua trước mặt. Tàu chạy khá nhanh, cách ghe khoảng 500m. Tôi mở to mắt trông theo, đọc tên chiếc tàu và nhận dạng lá cờ bay phất phới ở cột chính của tàu. Tôi không còn nhớ tên chiếc tàu, nhưng tôi nhớ mãi lá cờ, đó là cờ Đài Loan. Chiếc tàu đầu tiên tôi gặp trên đường vượt biển!

Tôi la lên: "Chúng ta đã tới hải phận quốc tế rồi!". Tôi giật mình, tôi đã bị khan tiếng từ bao giờ. Chính tai tôi không nghe được tiếng nói của mình. Tôi vói tay đập mạnh lên mui ván của khoang máy. Có ai đó nghe tiếng đập mui khoang của tôi và đứng dậy. Tôi giơ tay chỉ chiếc tàu Đài Loan đang chạy xa trước mũi ghe, tôi nói không ra hơi: "Chúng ta đang ở trên hải phận quốc tế, chúng ta sắp được cứu". Không có ai vỗ tay! Không có ai la hét! Không có ai nhảy múa! Mọi người đang cạn kiệt sức, đang cùng nhau đứng bất lực nhìn chiếc tàu chạy ngang qua. Tôi nhìn thấy nước mắt lưng tròng trong đôi mắt của những người phụ nữ, của vợ tôi. Tôi nhìn thấy môi mĩm, mắt cười của các thanh niên trên ghe. Nước mắt và nụ cười, chúng tôi đang sung sướng: “Ghe chúng ta đã vào và đang chạy trên hải phận quốc tế! ”…

Buổi trưa, mọi người có vẽ hết say sóng, bắt đầu tỉnh táo, cùng ăn uống, chuyện trò làm quen nhau. Tôi hỏi mọi người: "Ai là 2 người ngồi hát trước khoang máy sáng sớm hôm qua?". Liên và Nguyệt giơ tay. Tôi khen 2 cô hát quá hay, đã giúp tôi tỉnh ngủ, cảm ơn nhiều! Tôi còn biết thêm, Liên và Nguyệt là ca viên, cùng hát trong ca đoàn Giáo xứ Hải Sơn, Bà Rịa.

Tôi đề nghị mọi người:

1- múc nước biển tắm rửa,

2- làm vệ sinh bên trong lòng ghe,

3- bơm hút nước làm sạch lườn ghe,

4- coi soát lại thực phẩm dự trữ, dầu và nước,

5- cắt bỏ đống lưới đáy và quăng lưới xuống biển, chỉ giữ lại những sợi giây thừng lớn, nối chúng thành một sợi giây dài khoảng 100m, dùng làm giây buộc neo…

- Khoảng 12 giờ trưa, tôi đổi hướng ghe chạy, hướng 180 độ, hướng đi tới quần đảo Natuna (Indonesia) theo ước tính trên hải đồ. Ghe chạy sóng ngược. Biển êm cấp 2. Sóng chỉ thì thoảng phủ ghe. Máy bơm hoạt động hữu hiệu, thong thả. Mọi người vui vẻ, an tâm.

Ghe chúng tôi đang chạy trên hải phận quốc tế. Có nhiều tàu lớn qua lại, các tàu thương thuyền (như Hồng Kông, Anh, Do Thái, Panama…) đã đổi hướng chạy né khi ngang qua ghe chúng tôi, mặc kệ chúng tôi ra sức chạy đón đầu họ, mặc kệ chúng tôi vẫy tay, vẫy áo, vẫy khăn, kêu gào…

- Buổi chiều, tôi thả phao giây đo thử vận tốc, ghe chạy khoảng 2km/giờ!

Đêm xuống, trời trong, không trăng, nhiều sao. Tôi lái ghe, Linh và Thuật ngồi bên cạnh. Tôi chỉ ngôi sao sáng nhất phía nam trước mặt, tên của sao là Nam Tào, lơ lững gần chân trời phía nam, hướng 180 độ. Sao Nam Tào nằm bên cạnh chòm sao Thánh Giá (4 sao sáng mờ mờ)… Tôi quay lưng, chỉ ngôi sao sáng đang lơ lững chân trời phía bắc, hướng 0 độ, chính bắc, tên của sao là Bắc Đẩu (Polaris), nằm gần chòm sao Con Gấu Lớn (7 sao sáng), còn gọi là chòm Đại Hùng Tinh. Ngư dân đã dùng 2 vì sao Nam Tào và Bắc Đẩu để định hướng, lái ghe tàu trong đêm. Tôi có được những hiểu biết và kinh nghiệm này, nhờ vào những bài học thiên văn hàng hải, của trường Sĩ quan Hải quân… Ban ngày thì dễ hơn, lái ghe tàu theo hướng của hải bàn, và dựa vào mặt trời theo mùa. Tôi quên là mình đang huyênh hoang lên lớp Thuật và Linh!!!...

Ghe vẫn nổ máy, chạy không nghỉ, suốt đêm.

- Nửa đêm, tôi giao cần lái cho Linh và Cường, tôi ngủ. Trong đêm, 2 anh em Linh, Cường lái ghe cố gắng chận đầu mấy tàu lớn, may ra được họ vớt, nhưng vô ích. Đêm qua đi an bình.

**Ngày 5** - 5/5/1986

- Buổi sáng, tôi thức dậy. Linh đang lái ghe, Linh nói cho tôi biết rằng, trong lúc làm vệ sinh ghe và rà soát ghe, đã phát hiện 2 can nước 60 lít và 1 can dầu 60 lít đã bị rò bể trong những ngày qua biển động. Ghe chỉ còn lại một can dầu 60 lít, và rất ít nước uống dính đáy can! Tôi chỉ biết bất lực ậm ừ, và bàn với Linh thay máy ghe F7 cũ bằng máy F7 mới đang mang theo trên ghe, để tiết kiệm dầu.

- Khoảng 10 giờ sáng, tôi để Linh tiếp tục lái ghe và theo lối đi bên hông khoang máy, tôi bước tới khoang mũi, khoang này không có mui. Nhìn thấy mọi người ướt nhem, đang chia nhau lương khô, cùng ăn. Tôi nói cho mọi người biết ghe không còn nước. Để giảm bớt sự khát nước, mỗi người phải tự làm ướt mình bằng nước biển, bằng cách lấy áo quần nhúng nước biển đội lên đầu. Mọi người lắng nghe và làm theo.

Tôi bồng Phúc (7 tuổi), con trai nhỏ nhất của tôi lên tay, tôi theo lối đi bên hông khoang máy bước tới khoang lái.

Tội đặt Phúc ngồi ở góc phải của khoang máy và khoang lái. Linh trao cho tôi gói lương khô chưa khui. Tôi xé gói lương khô và đưa cho Phúc. Bỗng một con sóng ập mạnh mạn phải ghe, ghe lắc ngang và hất tôi xuống biển.

Tôi bơi theo ghe. Linh buông cần lái, bồng Phúc trả về khoang mũi. Linh quay trở lại cầm lái, quay đầu ghe, lái ghe đến gần tôi, với suy nghĩ là tôi sẽ tự bám được thành ghe. Nhưng ghe cách tôi trên cả 2 mét, đám thanh niên đứng đó, chỉ biết đưa với tay trần, trố mắt nhìn tôi bơi. Tôi vừa bơi theo ghe vừa kêu: "Quăng xuống sợi giây cho tôi". Tôi vẫn cố bơi theo ghe. Tôi bắt đầu kiệt sức, tuyệt vọng thì nghe tiếng Dĩnh: "Anh Ba bơi đứng tại chỗ, đừng bơi theo ghe". Tôi chợt tỉnh. Tôi không bơi theo ghe nữa. Tôi bơi đứng và nổi tại chỗ để giữ sức.

Linh quay đầu ghe trở lại, tôi nói với Linh lái ghe nhắm thẳng tôi, chạy ghe trên đầu tôi và chuẫn bị quăng tôi sợi giây. Linh làm đúng ý, và tôi được mọi người kéo lên ghe. Tôi nằm mệt nhừ, ngủ mê man…

Trong lúc tôi ngủ, Linh tắt máy, thả trôi ghe và điều động mấy thanh niên thay máy ghe F7 cũ bằng máy F7 mới.

- Khoảng 2 giờ xế trưa, tôi thức dậy thì việc thay máy đã xong. Cường cho biết, máy ghe chạy tốt nhưng nước biển tràn vào ghe từ trục quạt vịt, may mà có máy bơm thoát nước!

Biển êm, biển cấp 1. Trời nắng và nóng. Nước biển trong, xanh. Thuật cầm lái. Tôi và Linh nằm sấp trên khoang lái, nhoài người và nhìn quạt vịt của ghe. Quạt vịt bằng sắt đồng với 3 cánh quạt. Có một cánh quạt bị bẻ cụp, tôi hỏi Linh và Linh cho biết cánh quạt đã bị người bán ghe cố ý bẻ cong, sau khi cho ghe chạy thử ở bến, vì thấy ghe ra nhiều khói, người bán ghe đã bẻ cong quạt vịt nhằm giảm nhẹ sức máy. Tôi lí luận: "Bẻ cong một cánh quạt vịt, quạt vịt sẽ quay không đều, làm rung trục nối quạt vịt và máy, nước sẽ theo đó tràn vào khoang máy".

Tôi nói với Linh thay cái quạt vịt bị bẻ cụp 1 cánh bằng cái quạt vịt dự phòng, cùng kích thước, làm bằng đồng, đang cất trên ghe. Cả hai chúng tôi lấy kềm búa trong hộp sắt phụ tùng, bơi xuống nước, tháo quạt vịt cũ, ráp quạt vịt mới. Chỉ trong khoảng 30 phút, chúng tôi hoàn tất thay quạt vịt. Chúng tôi quăng bỏ cái quạt vịt cũ xuống với biển. Lên ghe và nổ máy, cho ghe chạy.

Ghe chạy không tới 10 phút, tôi có cảm giác ghe không còn chạy tới, tôi nghe trong tiếng máy nổ của ghe có tiếng hú, tôi bảo Cường tắt máy, thả trôi ghe. Tôi và Linh nằm nhoài nhìn xuống đuôi ghe, cái quạt vịt mới chỉ còn cùi, 3 cánh quạt đã gãy và bay mất. Tôi chỉ cho Linh, cả hai cùng điếng tim, ê chề… Tôi và Linh đã mua ở chợ trời một cái quạt vịt đồng dõm pha đất thó!!!

Tôi kêu Hà buông neo, Cường tắt máy, thả trôi ghe. Từ đó Hà là người chuyên lo buông neo và nhổ neo của ghe.

***- Một điều thú vị không tưởng, cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ là phép lạ: Neo ghe chúng tôi đã cắn đáy biển bằng với một sợi giây neo dài chưa tới 100m!!! Có phải đáy biển Thái Bình Dương cạn hơn 100m???... Theo lí thuyết hàng hải “sau khi neo cắn đáy biển, ghe thuyền sẽ đứng giật nước mũi, gió mũi”. Trong suốt chuyến hải hành, ghe chúng tôi đã được thả neo và nhổ neo nhiều lần và đều thành công như vậy, với sợi giây neo dài chưa tới 100m(?)... Tôi tâm sự, kể chuyện giây neo với các đồng nghiệp, các sư phụ hải quân thì ai cũng lắc đầu, than: "Phép lạ! Đó là phép lạ!"

- Khoảng 3 giờ chiều, tôi báo cho mọi người biết về điều tuyệt vọng "quạt vịt bị gãy, ghe bất khiển dụng, ghe đang thả neo trên hải phận quốc tế, chỉ còn cầu mong sự cứu vớt nhân đạo của các tàu bè qua lại". Nhìn ai cũng im lặng, thất thần, tôi đã bật khóc bất lực trước mặt mọi người!

- Buổi chiều, tôi nằm dài chán nãn, kiệt sức nơi khoang lái. Linh ngồi bên cạnh, bàn với tôi vất chiếc máy F7 cũ xuống biển cho nhẹ ghe, tôi gật đầu. Linh liền kêu đám thanh niên bê và xô chiếc máy F7 cũ xuống biển. Linh còn muốn quăng luôn thùng đồ nghề (có kềm, búa, cưa, dũa, kéo, đục…) nhưng tôi đã cản, giữ lại.

- Đêm xuống, tôi ngồi ở khoang lái, dựa lưng khoang máy, nhìn trời quang mây, nghĩ vẫn vơ, tâm trí tôi rũ liệt, buồn và tuyệt vọng! Tôi nhìn thấy vợ tôi và Liên từ khoang mũi đi lần theo hông khoang máy, đến và ngồi trước mặt tôi.

Liên mở lời: "Anh Ba hết khóc rồi hả?"

Tôi gượng cười: "Anh không còn nước mắt!"

Liên mạnh dạn: "Mình cùng đọc kinh, cầu nguyện nha anh Ba".

Tôi lại cố cười, nói nhảm: "Anh đã vẫn thầm cầu nguyện trong lúc anh lái ghe mấy ngày nay rồi".

Vợ tôi nhìn tôi, rồi kéo tay Liên: "Mình đi đọc kinh".

Tiếng đọc kinh, tiếng hát cầu nguyện vang lên trong đêm. Giọng nam, giọng nữ, giọng trẻ con quyện vào tiếng sóng biển, bập bềnh trí óc tôi. Tôi ngủ thiếp đi trong tiếng kinh, tiếng sóng và sự tuyệt vọng. Trên chuyến ghe này, 18 người, tất cả đều là Công giáo.

**Ngày 6** - 6/5/1986

Thêm một ngày ghe thả neo, tắt máy, bất khiển dụng.

Biển êm cấp 1, trời nắng gắt, ghe hết nước, mọi người trông mưa.

Chúng tôi đang thả neo trên hải phận quốc tế, nhiều tàu thương thuyền qua lại. Có thể họ nhìn thấy ghe chúng tôi, nhưng họ phải vờ và quên đi… Thế giới đang quay lưng, mặc kệ với thuyền nhân!…

Mọi người vẫn đọc kinh, hát cầu nguyện dâng Chúa hai buổi, sáng và tối.

**Ngày 7** - 7/5/1986

- Buổi sáng, biển êm cấp 1, trời nắng gắt, nước biển trong veo. Thức dậy tôi thấy Dĩnh và Linh đang cởi trần bơi lội quanh ghe. Dĩnh bơi tới phía đuôi ghe, tay bám thành ghe, chân Dĩnh đạp lên bánh lái, lấy trớn bước lên khoang lái. Dĩnh ôm bàn chân xuýt xoa: "Cái bánh lái bén quá!". Nghe Dĩnh nói vậy, tôi quay nhìn bánh lái của ghe. Cái bánh lái bằng sắt, màu đen, hình chữ nhật đang đứng và ngủ yên trong nước, thách thức vô tư... Tôi nhìn sững bánh lái, bỗng một ý tưởng khốc liệt đánh tan sự tuyệt vọng trong tôi: "Cưa bánh lái, chế làm quạt vịt, quạt vịt 2 cánh!!!"

Tôi nghĩ và làm liền, tôi gọi Linh và Dĩnh bơi xuống nước. Tôi ở phía trên, tháo gỡ cần lái khỏi trục bánh lái. Linh và Dĩnh đỡ bánh lái, lấy ra khỏi ổ lái và đưa lên sàn lái. Chúng tôi cưa bánh lái bằng 2 đường cưa để có một miếng sắt hình chữ nhật 5cm x 30cm. Chúng tôi dùng đục và dũa để khoét lỗ miếng sắt. Vì miếng sắt khá dày (4mm), việc đục lỗ đã phải kiên nhẫn và rất tốn thời giờ.

Sau khi đục xong lỗ quạt vịt 2 cánh, tôi dùng búa và kềm bẻ lật 2 cánh quạt vịt 15 độ để quạt vịt đạp nước.

- Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi lắp ráp quạt vịt 2 cánh. Ráp lại bánh lái về vị trí cũ. Và tôi cho nhổ neo, nổ máy chạy thử. Tiếng máy nổ êm. Ghe di chuyển nhanh, nhưng ghe chạy lùi. Tôi la lớn: "Ghe chạy lùi. Tắt máy!". Cường tắt máy ghe.

Tôi và Linh lại xuống nước, gỡ cái quạt vịt đem lên sàn lái, dùng kềm và búa bẻ lật 2 cánh quạt 15 độ sang phía ngược lại. Chúng tôi lắp ráp quạt vịt 2 cánh trở lại. Ghe nổ máy. Chúng tôi lên đường.

Biển êm cấp 1, nắng và nóng, ghe hết nước uống, chúng tôi trông trời mưa…Ghe chạy hướng nam 180 độ. Tôi nói với Linh: "Ghe sẽ giữ hướng nam mà chạy. Chúng ta thôi và sẽ không đổi hướng để chận đón, trông mong sự cứu vớt nhân đạo từ các tàu lớn qua lại. Vì kinh nghiệm rõ ràng mấy ngày qua, tàu quốc tế đang né tránh ghe thuyền nhân". Linh không nói gì…

Chúng tôi thay phiên nhau lái, ghe chạy suốt đêm.

Mọi người vẫn đọc kinh, hát cầu nguyện…

**Ngày 8** - 8/5/1986

- Buổi sáng trời trong. Biển êm cấp 1, ghe hết nước uống, chúng tôi trông mưa…

- Khoảng 10 giờ trưa, tôi phát hiện một chiếc tàu phía xa trước mặt. Tàu càng lúc càng lớn dần, tàu đang chạy ngược chiều với ghe chúng tôi. Linh đề nghị với tôi, để Linh nhảy xuống biển cầu cứu, may ra! Tôi đồng ý. Linh chuẩn bị 2 can trống. Tôi lái ghe chận đầu chiếc tàu lớn. Khi còn cách chiếc tàu khoảng 200m, Linh ôm can nhảy xuống biển. Chiếc tàu lớn vẫn chạy, tốc độ không giảm. Tôi thấy có 2 người đứng trên boong trái tàu lớn, họ đang vin thành tàu, nhìn chúng tôi khi chiếc tàu chạy qua ngang hông ghe. Vận tốc tàu lớn không đổi, chạy xa dần. Tàu này treo cờ Panama … Tôi quay đầu ghe và đón Linh lên ghe. Chúng tôi chỉ nhìn nhau, tăng máy ghe, tiếp tục hành trình cô đơn tìm tự do.

- Buổi chiều khoảng 3 giờ, Thuật lái ghe. Tôi có cảm tưởng ghe đang chạy chậm lại. Tôi kêu Cường tắt máy, Hà thả neo, nghỉ. Tôi nằm sấp trên khoang lái, nhoài người quan sát quạt vịt. Quạt vịt 2 cánh không còn thẳng, đã bị cụp cánh thành hình chữ V, vì đường nứt ngang nơi lỗ khoét.

Tôi lại cho lấy bánh lái lên, cưa miếng sắt chữ nhật 6cm x 30cm mới, lần này bề rộng lớn hơn. Mọi người túm tụm đục, dũa, khoét lỗ quạt vịt 2 cánh. Nhờ kinh nghiệm của lần trước, tiến độ làm quạt vịt lần 2 này nhanh hơn.

Trong khi làm quạt vịt, tôi thấy ở chân trời phía nam có 2 vệt khói trắng, tôi nói và chỉ cho mọi người cùng nhìn thấy: "Đó là vệt khói của máy bay phản lực nào đó để lại, chắc chắn quần đảo Natuna của Indonesia đang ở phía đó". Tôi nhìn hải bàn và định hướng vệt khói. Hướng 180 độ. Tôi nói với mọi người: "Hi vọng ngày mai mình sẽ thấy đảo".

Tôi nhìn mọi người. Ai cũng mặt mũi lem luốc, ám dày khói ghe. Quần áo mọi người bị hồ cứng bởi muối biển và nắng. Chúng tôi đều hốc hác giống nhau. Mọi người nhìn nhau. Mọi người im lặng. Tôi không nghe thấy ai thở dài!

- Khoảng 7 giờ tối, mặt trời sắp lặn, biển hoàng hôn, tuyệt đẹp! Những điều tôi nói, có vẽ đã trấn an và làm mọi người hi vọng. Chúng tôi cùng đọc kinh, ca hát dâng Chúa.

Tôi nói với mọi người tôi đi ngủ, để ngày mai nhổ neo sớm!

NgHoa Nguyen

12 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN NHẤT CỦA TIẾNG VIỆT

 Thôi khỏi để mọi người chờ lâu, mình chụp lại bài trên tạp chí và post lên, chữ nhỏ khó đọc nhưng kéo ra thì cũng đọc được. Thực ra thì hôm nay mình mới có bản cứng tạp chí.

Như đã nói, bài này viết chủ yếu là dành cho những người không có chuyên môn ngôn ngữ học, đọc có thể hiểu được những nét khái quát nhất về tiếng Việt.  

Còn nhớ hôm ở Hội thảo lấy ý kiến về dự thảo "Ngày tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài", mình có nói là với mỗi đặc trưng trong 12 đặc trưng này thì có thể viết được 20 trang, thậm chí cả quyển sách. Nhưng trong khuôn khổ một bài báo thì chỉ là tóm lược cái cốt lõi thôi.

Nếu nhặt nhạnh thêm thành ra 13,14,15 thì nhiều quá khó nhớ. Nếu để 8 hay 9 hay 10 thì lại không hết. Vậy nên mình để 12, là vừa 1 tá. Mình chỉ tập hợp lại những điều mà nhiều người biết rồi nhưng chưa được tập hợp lại cho dễ nhớ, dễ hiểu thôi.

Hôm trước khi đang đánh máy bài, chỗ họ Ngôn ngữ, nói 4 họ, nhưng mới gõ được 3 rồi có việc phải dừng, sau gõ tiếp thì lại tưởng xong rồi nên mới thiếu mất tên một họ, mà mình vừa chỉnh bút mực vào là họ Mông - Dao.

Theo gợi í của thầy Dang Dinh Cung thì mình cho vào cái danh sách của 12 đặc trưng này, giúp mọi người dễ nhớ hơn.

(1) Tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á

(2)Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu

(3) Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết, không biến hình  (tức không thay đổi hình thức của từ dù quá khứ hay hiện tại hay tương lai).

(4)Tiếng Việt là ngôn ngữ có loại từ/danh từ đơn vị (tức là những từ như con, cái, quyển, chiếc, bức, tấm, tờ....

(5)Tiếng Việt là ngôn ngữ có hệ thống từ xưng hô phong phú 

(6)Tiếng Việt là ngôn ngữ có trật tự từ SVO( chủ ngữ, động từ, bổ ngữ), trật tự thay đổi thì ý nghĩa thay đổi. Đây là phương thức ngữ pháp cực kì quan trọng.

 (7)Tiếng Việt sử dụng hư từ như một phương thức ngữ pháp rất cơ bản. Đó là những từ kiểu như: những, các, mọi, mỗi, từng, ...đã, đang, sẽ, đều, cũng, vẫn, còn, cứ, hãy, đừng, chớ, rất quá, lắm, hơi, khá..., Các cặp từ: nếu...thì..., không những...mà còn...,vì...nên...vv.

 (8)Tiếng Việt là ngôn ngữ có nhóm hư từ tình thái cuối câu khá phong phú ( tức là những từ kiểu như: à, ư, nhỉ, nhé, đây, đấy, chứ, cơ, cơ mà, mà lại, hở, hả...) 

(9) Tiếng Việt cũng sử dụng ngữ điệu và trọng âm như một phương thức ngữ pháp

(10)Tiếng Việt có hệ thống từ vay mượn từ tiếng Hán rất lớn

(11)Tiếng Việt có hệ thống từ láy phong phú 

(12)Tiếng Việt sử dụng chữ “Quốc ngữ”

Hy vọng mấy lời thô sơ trong bài này có thể có ích phần nào cho những người muốn hiểu đại cương, ngắn gọn về tiếng Việt, hay muốn nói khoảng năm, mười, mười lăm phút về tiếng Việt mà không sợ là nói linh tinh. 🙂 

Thế cũng vui rồi.

Tất nhiên trên đây chỉ là những kiến thức mình thu lượm được từ các Thầy Cô, từ sách vở, từ thực tiễn giảng dạy, từ góc nhìn sư phạm thôi.

Hôm trước mình có gửi cho bạn chuyên viên bên Bộ Giáo dục và Đào tạo phụ trách khóa tập huấn giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt ở nước ngoài bản thảo bài này, khi tạp chí chưa ra, bảo là nếu có thể thì in ra phát cho học viên sẽ rất hữu ích đấy. Không biết họ có kịp in phát cho học viên không.

(copy từ FB-Nguyễn Thiện Nam - 28.Aug. 2022)