Tuesday, August 25, 2020

Bữa sáng

 Mai reggeli, gyulai kolbasz, medve es trappista sajt, zoldpaprika, paradicsom es frissen sult kenyer!

copy từ csoport Hungarian Treasures

Monday, August 24, 2020

Từ thực trạng đến triển vọng của VN

 Với những ngạo nghễ, tự hào quá hay VN sẽ là công xưởng của thế giới thay Trung quốc thì những lời thẳng thắn dưới đây của ông Nguyễn Trần Bạt quả là khó nghe! Nhưng thường thì " thuốc đắng sẽ giã tật":

Apple bỏ chọn Việt Nam là bài học rất đau xót! Đau xót lắm, người ta nói thật hay mượn Việt Nam để mặc cả, để đánh tiếng với các quốc gia khác, điều này cho thấy Việt Nam không phải là một địa điểm cho các trò chơi có thật. 

Chúng ta không so được với Ấn Độ, chỉ nguyên việc đem kinh tế Ấn Độ ra phân tích trong tương quan so sánh với kinh tế Việt Nam thì đã rất chênh lệch rồi.

Tuy nhiên, cũng phải trách chúng ta bởi chúng ta không có những hoạt động thực tế chuẩn bị để thu hút đầu tư nước ngoài, không sớm xây dựng cơ sở vật chất để đón lõng họ.

Thí dụ, nếu nhìn nhận nghiêm túc thì phải thấy chỉ có những con đại bàng già hết trứng mới rời khỏi Trung Quốc chứ những con đại bàng còn đẻ được sẽ không rời đi. Apple, Samsung là những con đại bàng còn đẻ được, các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ cũng thế.

Hy vọng các công ty Mỹ từ Trung Quốc chạy về Việt Nam là không thực tế. Chúng ta thấy công ty Mỹ ở đây đa số chỉ có văn phòng đại diện, số công ty Mỹ hoạt động thật ở Việt Nam chỉ có vài doanh nghiệp trong khi doanh số của Mỹ ở khu vực châu Á rất lớn. Thực tế này buộc Việt Nam phải tự đặt câu hỏi cho mình và tự giải đáp.

Chúng ta chỉ chuẩn bị cho thu hút đầu tư mà không chuẩn bị cho con người. Đấy là "du thủ du thực" về phương diện văn hóa công nghiệp. Trong tất cả câu chuyện đón lõng đầu tư nước ngoài cần chú trọng đến yếu tố giáo dục con người.

Chúng ta đừng quên rằng người ta cần tìm kiếm là con người có giáo dục, có năng lực nghề nghiệp. Việt Nam không đủ điều kiện để quyến rũ các công ty ồ ạt chạy vào, chúng ta còn thiếu rất nhiều thứ. Như trường hợp Apple, nguyên nhân thiếu chỗ ở cho công nhân thì không thể tiến hành sản xuất ở đây được là sự thật đáng buồn! Việc Apple bỏ đi ko chọn VN cho thấy, chúng ta đã chưa thực sự chuẩn bị kỹ "tổ" để đón đại bàng. Nhất là về vấn đề con người.

Những năm đầu tiên của đầu tư nước ngoài, tôi từng tham dự những lớp tập huấn của các giáo sư người Mỹ tại văn phòng Chính phủ. Có buổi một vị giáo sư hỏi một quan chức cấp Thứ trưởng của Việt Nam: “Trâu bò ở nước các anh thuộc tài sản cố định hay lưu động?”. Vị thứ trưởng trả lời tỉnh bơ là “tài sản lưu động vì nó đi lại và dịch chuyển được"!

Có những lúc ngớ ngẩn như vậy mà chúng ta còn mở cửa và thu hút được các doanh nghiệp FDI thì nay chúng ta đã khác rồi, tại sao không kéo họ vào được. Người đòi hỏi chúng ta mở cửa khôn hơn chúng ta nhiều, họ đặt tiền cho chúng ta rồi, họ cần chúng ta làm thật, nghĩ thật. Chúng ta dốt cũng được nhưng phải thật!

Phải đặt Việt Nam trong bối cảnh phải cạnh tranh về chất và lợi thế so sánh với các nước khác. Cạnh tranh tức là anh trình bày cho người ta biết khuynh hướng phát triển tự nhiên của xã hội, ngoài chính trị ra còn lại là cái gì để người ta lường.

Khi làm ăn thì người ta phải lường trước được triển vọng thương mại. Người ta vẫn phải xem chính trị là một rủi ro, nhưng người ta chỉ tính toán rủi ro sau khi đã tính toán lợi ích một cách trung lập.

Việc chúng ta thiếu nhiều thứ không phải là một bí mật. Vấn đề là chúng ta cần hình dung ra toàn bộ thực tế thiếu ấy. 

Những người lãnh đạo cần phải tổ chức ra những nhiệm vụ và giao cho xã hội thực hiện để lấp những chỗ thiếu ấy. 

Tôi nghĩ có lẽ chúng ta cần phải bình tĩnh suy nghĩ lại xem chúng ta cần chuẩn bị những gì.

Theo Nguyễn Tuyền-Dân Trí

Nghĩ quẩn... nghĩ quanh về tình yêu thương của con người

 Rộng lượng hay từ tâm, mở lòng từ bi hỷ xả đều nói đến điều mà con người đang thiếu khi chạy theo đủ thứ khác trong cuộc sống hiện tại. Sự chật vật làm họ ngày càng trở nên hẹp hòi/ích kỷ, ngày càng đố kỵ với nhau hơn.

Kể cả bạn bè với nhau, trong cả tình yêu hay trong gia đình... và cả trong xh, giữa 2 giới đang có những mâu thuẫn/xúc phạm lẫn nhau, khắc nghiệt với nhau cũng từ sự đố kỵ, ko nhân từ, quảng đại.

Bình thường, ko ai bỗng dưng muốn làm vừa lòng kẻ khác, trừ khi đó là người ruột thịt, thân thích với mình...

Ngoại trừ với 1 người lạ, khi tình yêu chợt đến, làm con người bỗng dưng thay đổi: trở nên vô cùng rộng lượng, vô cùng dễ dãi... muốn làm tất cả vì người lạ, muốn người lạ vui lòng bởi ham muốn được kề bên nhau, vui vẻ thoải mái cùng nhau... Nam thì trở thành siêu nhân hào hiệp, nữ thì muốn dâng hiến tất cả, và đương nhiên, người ấy phải được quyền gần gũi, thậm chí cả quyền làm khổ mình mà ko hề bận tâm, bối rối chút nào.

Cho đến khi, tất cả qua đi, cuộc đời ko còn tươi thắm. Nếu vẫn còn mong muốn, còn muốn sống cho ai, vì ai... lại thấy: sống trong đời này "cần có 1 tấm lòng"... nếu ko có tấm lòng ấy thì sống cũng chẳng để làm gì.

BAO GIỜ tp HỒ CHÍ MINH HẾT ÚNG?

 1) Nước chảy chỗ trũng! Mọi đứa bé học hết lớp ba biết sự thật hiển nhiên này.

2) Nếu người ta lấp các chỗ trũng hay cản dòng chảy (chẳng hạn bằng việc xây nhà, đường, trồng nhiều cây cản dòng chảy)thì khi mưa lớn nước ứa lên gây ra ÚNG; ngược lại nếu cây trên núi bị chặt sạch thì nước mưa sẽ trôi rất nhanh xuống không những bào mòn đất núi mà gây ra LŨ ở dưới.

3) Trong chống Lũ cái gốc là phải bảo vệ rừng và lớp bì phủ để nước chảy chậm lại và thấm vào đất tạo ra nước sạch ở các tầng sâu; ngược lại chống úng ở các thành phố là phải KHÔNG lấp các nơi trũng hay xây nhà cửa, đường sá cản nước chảy về  chỗ trũng.

4) Đó là công tác quy hoạch: trồng rừng, bảo vệ rừng để chống lũ; cũng như quy hoạch đô thị theo hướng xây dựng ở phía cao, để thông thoáng ở phía trũng. Quy hoạch là việc của chính quyền: sai quy hoạch có thể gây tai hoạ hàng chục thậm chí hàng trăm năm hay không thể sửa chữa được.

5) Đáng tiếc Việt Nam đã cơ bản phá xong rừng! Các chính quyền Hồ Chí Minh và Hà Nội  đã ra sức lấp các chỗ trũng để xây dựng; Hồ Chí Minh còn ngu đến  mức phát triển đô thị theo đúng hướng nước chảy tự nhiên Đông-Nam, phát triển Thủ Thiêm, Nhà Bè và đến Cần Giờ,... tức là xây ngày càng nhiều vật cản dòng nước chảy theo hướng trũng và ra biển. KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ GIẢI QUYẾT ĐƯỢC NẠN ÚNG Ở HỒ CHÍ MINH dù chính quyền có hứa hươu hứa vượn và các "nhà khoa học" không hiểu được lẽ thường, mà đứa trẻ hết lớp ba kiểu kỹ (như trong 1), có vẽ ra bao nhiêu "giải pháp" cũng vô ích (trừ phi vay của quan thầy Tập hàng trăm tỷ USD để xây hệ thống cống ngầm, hồ ngầm như Tokyo đã xây). 

Tội ác hành hạ hàng chục triệu người trong hiều thế hệ này do ai gây ra? Những kẻ cầm quyền ngu dốt không chịu nghe dân nói mà luôn tìm cách ca ngợi mình và bịt miệng dân, dán nhãn "thế lực thù địch" cho những ai dám nói ngược với ĐCSVN.

Nguyễn Quang A

Sunday, August 23, 2020

MỘT NỬA TRĂM NĂM

 (Kỷ niệm 50 năm ngày đặt chân lên đất Hung - tặng các bạn khoá 1970)

Chúng tôi tạm biệt sông Hồng

Lên tàu liên vận nỗi lòng đầy vơi

Chưa đầy mười tám đôi mươi

Chưa xa bố mẹ, những người thân thương

Đằng sau bỏ lại quê hương

Sông Cầu vừa đó sông Thương qua rồi

Nhớ ai lòng bỗng rối bời

Bao nhiêu vất vả một thời ấu thơ

Con tàu chắp cánh ước mơ

Trung Hoa trong sách bây giờ thấy đây

Hôm trước còn lội ruộng cầy

Hôm sau đã nện gót giầy Bắc Kinh

Nước Nga đồng cỏ mông mênh

Bai-can hồ nước trong xanh trải dài

Bạch dương cô gái mắt nai

Lướt xa xa những lâu đài nguy nga

Hồng Trường giữa Mạc Tư Khoa

Bước chân cứ ngỡ như là trong mơ

Nhà quê một lũ ngu ngơ

Bùn chưa sạch đã tới bờ sông xanh

Duna tráng lệ kinh thành

Cứ vui cái đã học hành tính sau

Tiếng Hung đánh vật với nhau

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay*

Năm năm mải mốt đêm ngày

Chong đèn thi cử hao gầy tuổi xuân

Cầm trong tay tấm cử nhân

Sáu bảy năm chẳng một lần thăm cha

Con về thầy mẹ đã già

Mười hai năm lại bỏ nhà ra đi

Năm mươi năm kể từ khi

Nỗi tha hương lắm vân vi kiếp người

Đã xa quá nửa cuộc đời

Trong mơ còn thấy khoảng trời tôi thương.

Bp. 23.8.20

Lớp học tiếng Hung của tôi, 1970

Giáp Văn Chung

Chuyện quán nhỏ ven đường

 Chuyện ở Hội An: Vì sao chúng tôi tìm đến đây

Có hai ông bà già người Thổ Nhĩ Kỳ ăn mặc vô cùng giản dị, lịch sự hỏi thăm đường tìm đến một quán nhỏ ở Hội An.Khi đó tôi là khách, cũng đang ngồi uống nước ở bàn bên cạnh. Chủ quán đưa thực đơn và ông bà gọi hai bát mì quảng. Ăn xong họ trả số tiền cho ba bát. Cô chủ quán khoảng ngoài bốn mươi tuổi liền lễ phép thưa:– Dạ ông bà dùng hai bát mì chỉ 40.000 đồng thôi, ông bà trả tiền thừa một bát (cô chủ nói bằng tiếng Anh).Nhưng ông bà người Thổ Nhĩ Kỳ liền đáp lại:– Chúng tôi không trả tiền thừa mà là tìm đến đây để nói lời cảm ơn cô và xin trả thêm bát mì hôm trước hai con chúng tôi được cô cho ăn.Cô chủ quán ngạc nhiên:– Tôi đâu có cho ai bát mì nào đâu?”– Có đấy, con trai tôi đã kể lại hết cho chúng tôi nghe, về VN, về Hội An. Cô thử nhớ lại xem, tôi đã ghi đúng địa chỉ con tôi ghi lại. Đó là hai đứa con của tôi, chúng nó ham đi quá, đã xài hết tiền nên khi vào quán của cô, chúng chỉ còn đủ tiền gọi một bát mì. Một đứa không ăn ngồi nhìn, rồi bát mì cứ bị đẩy qua đẩy lại. Tinh ý, nhìn thấy vẻ mặt khá mệt và đói của hai thực khách, cô chủ quán liền vào bếp đưa thêm một bát mì quảng ra, nói bằng tiếng Anh, với ánh mắt trìu mến: “Bát mì này xin tặng bạn, chúng tôi chỉ tính tiền một bát”.Hai bạn trẻ nở nụ cười, nói cảm ơn rồi cắm cúi ăn. Ăn xong họ còn được mời thêm hai cốc nước trà gừng, rồi họ khoác ba lô lên và đi…Chuyện trôi qua đã khá lâu, cô chủ quán không còn nhớ nữa. Cô cũng không ngờ hai người khách đến VN lần này lại là chính cha mẹ cô cậu bữa nào. Hai bạn trẻ đó đã ghi lại địa chỉ để ông bà tìm đến ăn ở đây, hôm nay.Những ngày lưu trú lại Hội An, ông bà toàn ghé quán ăn, còn gửi tặng lại cô chủ quán một chiếc vòng tay của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ làm lưu niệm, với lời cảm ơn nhiều lần.

Ông bà người Thổ này lại hỏi:– Chị có con không?– Dạ không có, tôi không lập gia đình.– Thế sao chị biết thương con trẻ thế?– Dạ… thấy ai đói thì tôi tặng họ bát cơm, bát mì thôi, dù mình có nhiều tiền hay ít tiền… Giúp được ai thì giúp, không hề chi.Ông bà người Thổ đứng lên, bắt tay cô chủ quán. Ông bà nói, về bên Thổ Nhĩ Kỳ tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với bạn bè để họ trở lại với quán nhỏ bên đường của Hội An này. Cô chủ quán nói:– Chỉ nhìn thấy nụ cười của khách khi quay trở lại là tôi vui rồi.Đây quả là cách cư xử của những người văn minh. Cô chủ quán tốt bụng sẵn sàng chia sẻ bát mì Quảng với vị khách xa lạ, dù chẳng giàu có gì. Ông bà người Thổ Nhĩ Kỳ lặn lội nửa vòng trái đất đến tận khu phố nhỏ để cảm ơn tấm lòng của cô, dù bát mì cũng chẳng đáng giá bao nhiêu. Khi người ta sống với một trái tim nhân hậu bao dung, sống với lòng biết ơn cuộc sống, người ta sẽ luôn tìm thấy cho mình những người bạn tuyệt vời, dù ở bất cứ đâu.

Câu chuyện có thật hay không, nhưng là một bài học về lòng quảng đại.TVM

"Con người là sản phẩm của xã hội" (Fidel)

 BOT tại gia!

Hôm trước, chuẩn bị đi ngủ thì nhớ ra đang là cuối tháng, vậy là hắn đè vợ ra, định làm tí giải đen. Khởi động xong, chuẩn bị tăng tốc thì vợ đưa tay ra chặn lại, bảo:

- Nộp tiền đê!

- Tiền nộp từ đầu tháng rồi mà!? – hắn ngạc nhiên.

- Đó là tiền sinh hoạt hàng tháng, còn đây là phí tính theo lượt, hai loại khác nhau!

- Ở đâu ra cái phí đó?

Vợ hắn nghe vậy thì nghiêm giọng, chỉ chỉ lên hai quả bưởi “năm ngón” căng mọng trước ngực, bảo:

- Tôi mới bơm lại hai quả này mất hơn trăm củ đấy. Ông nghĩ tôi bơm để ông dùng miễn phí à? Tôi sẽ thu mỗi lần một trăm, theo hình thức BOT, tới khi đủ vốn thì thôi!

- Nhưng rõ ràng là từ lâu rồi tôi không hề đụng tới hai cái quả đó, tôi chủ yếu hoạt động ở khu vực trung tâm thôi. Tôi không có nhu cầu dùng, cô tự đi bơm rồi giờ bắt tôi nộp phí là sao?

- Không dùng là chuyện của anh, còn thu phí là chuyện của tôi. Tiền bơm là tôi đi vay ngân hàng, tôi mà không thu phí, ngân hàng nó đến nó siết bưởi của tôi à?

Hắn đem chuyện đó kể lại với bố. Bố hắn nghe xong giận tím mặt, bảo: “Yên tâm, bố đã có cách!” Rồi bố hắn mở tủ, lấy ra mấy bịch tiền lẻ mệnh giá 200 đồng đưa cho hắn... Đêm hôm ấy, và mấy đêm sau đó, hắn làm theo cách của bố: dùng tiền lẻ để trả phí cho vợ. Việc hắn đóng phí bằng tiền lẻ đã gây ra cảnh tắc “giường”: nửa đêm rồi, hai vợ chồng cứ nằm tồng ngồng trên giường đếm tiền, cãi nhau inh ỏi. Bà nội hắn – vốn đã cao tuổi và khó ngủ - nghe hai vợ chồng hắn ầm ĩ thì không chịu nổi liền đặt ra quy định là “Nếu quá 1h đêm mà hai vợ chồng vẫn “tắc giường” thì bà nội sẽ phạt vợ hắn. Vợ hắn sợ phạt, nên cứ đến 1h là phải xả trạm, để hắn nện miễn phí…

Chuyện của vợ chồng hắn vẫn diễn biến rất phức tạp và chưa có hướng xử lý thỏa đáng dù là đã được trình lên ông nội, cụ nội hắn để xin ý kiến chỉ đạo. Bố hắn thì vẫn tích trữ cả đống tiền lẻ để sẵn sàng tiếp ứng cho hắn trong cuộc chiến với vợ hắn.

Có lần hắn hỏi: “Tại sao bố ủng hộ con quyết liệt như vậy?”, bố hắn bảo: “Nếu vợ mày mà thu được phí của mày một cách ngon lành, chắc chắn mẹ mày cũng sẽ học theo và sẽ thu phí của tao, rồi tới lượt các mụ khác trong khu cũng học đòi theo, vậy là đàn ông cả cái khu này sẽ bị đè đầu, cưỡi cổ và bị bóc lột bởi chính vợ mình - những kẻ mà trước khi cưới nhau vẫn thề thốt rằng sẽ phấn đấu trở thành người vợ tốt, hết lòng phục vụ chồng như một người đầy tớ.... Mày biết không? Vợ thằng O 3 Ma mà thu kiểu nhà mày chắc giờ nó đi bụi đời rồi con!  Đàn ông ở khu ta đó. Có bị vợ bắt nạt không? Điều đó tùy thuộc hành động của mày! Chỉ thuộc vào mày mà thôi!”.

 theo Fb Long Van Đinh.

Saturday, August 22, 2020

Chaos

 Chaos được nhắc đến và tôn thờ như một đấng toàn năng trong thần thoại Hy Lạp. Theo miêu tả thì Chaos là khoảng không vô cùng vô tận, trống rỗng, mơ hồ, vật vờ, phiêu bạt trong khoảng không gian bao la". (Wikipedia)

Chaos, trong tiếng Anh: Thời đại hỗn nguyên, thời đại hỗn mang, Sự hỗn độn, sự hỗn loạn, sự lộn xộn, hỗn độn, hỗn loạn

1 cây làm chẳng nên non...

SỰ KIỆN BELARUS

Ba người vợ của các ứng cử viên bị bắt đã tạo ra cuộc cách mạng Belarus. Từ trái sang: Weranika Zapkala, Swjetlana Zichanouskaja và Maria Kalesnikawa. Hiện nay hai cô Weranika Zapkala, Swjetlana Zichanouskaja đang phải sống ở nước ngoài. Chỉ còn cô Maria Kalesnikawa ở lại trong nước

Trong một thế giới tràn ngập nhưng tin buồn: Covid-19 đặt loài người trước nhữngt thử thách chưa từng có, Trung Quốc vô hiệu hóa nền dân chủ Hong Kong trước một thế giới bất lực, Việt Nam lại lùi bước tại một dự án dầu mỏ Biển Đông, vụ nổ ở Beyrut, Paris của Trung Đông, đã đẩy Libanon vào hỗn loạn… thì tuần qua có một tin đáng khích lệ:  Kể từ cuộc bầu cử Tổng thống hôm 9.8 vừa qua, người Belarus (Bạch Nga) đã không còn chấp nhận sống mà ngậm miệng!

Belarus vốn là một nước Cộng hòa XHCN trong Liên bang Xô Viết từ 1918-1991. Dân ở đây chủ yếu là người Bach Nga, khoảng 7% là người Nga, 10% còn lại là các cộng đồng Ba-Lan, Ucraina, Litva, Do Thái v.v.. Tuy gọi là Nga (trắng), nhưng người Belarus chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Châu Âu. Từ Minsk đi Vilnus, thủ đô Litva chỉ hơn 200km, đến Warzava 500km, nhưng tới Moskva hơn 700km. Trong lịch sử Belarus từng là thành viên của vương quốc Ba-Lan-Litva. Vì vậy mà Belarus luôn có trình độ phát triển trên trung bình trong liên bang Xô-Viết (Phát triển nhất là ba nước vùng Baltic, chậm phát triển nhât là các nước Trung Á hồi giáo). Nhiều sinh viên Việt Nam từng học ở Minsk thời „Xô-Việt đuề huề“ đã chứng kiến cuộc sống khá dễ chịu ở đây.

Khi Liên Xô tan rã cuối năm 1991, Belarus thành một nước cộng hòa độc lập với thể chế dân chủ. Nhưng nền dân chủ này chỉ tồn tại trên giấy tờ, vì từ người dân đến lãnh đạo, từ anh công an đến anh thu thuế vẫn là con người cũ, quen sống trong nền độc tài, quen cách hành xử không minh bạch. Trong bối cảnh đó, việc giải thể nền kinh tế Liên Xô tạo ra „một cuộc hôi của“ vĩ đại nhất trong lịch sử. Nhiều kẻ lãnh đạo lưu manh của chế độ cũ cũng giành giật được những khúc xương, miếng thịt khá béo bở. 

Ông bộ đội phục viên, cán bộ  đảng cấp huyên Aljaksandr Lukashenko không chấp nhận “Trâu chậm uống nước đục“. Vốn quen ăn nói bỗ bã, "đù mẹ, đù cha" thoải mái, chơi bóng đá, khúc côn cầu cấp nghiệp dư rất hăng nên ông được quần chúng hâm mộ. Ông phát động phong trào chống tham nhũng và đi đâu cũng hô hào “hốt hết“. Năm 1994, dựa vào sự ủng hộ của số đông nhân dân bị trắng tay bởi nạn hôi của sau XHCN, phong trào chống tham nhũng của Lukashenko thắng lớn. Tổng thống Suskevich, người từng cùng Jelzin( Tổng thống Nga) và Kravshuk (Tổng thống Ucraina) đứng ra giải thể Liên Xô, bị hạ bệ cùng 70 quan chức cao cấp khác. Tất cả vì tội  tham nhũng. 

Như vậy mới thấy tay này hơn hẳn Bá Thanh ở Đà Nẵng. Cùng giống nhau ở xuất phát điểm và cá tính, nhưng gã "hốt" được hết vào tay mình. Tôi gọi gã là „Ba Luk“.

Từ 1994 đến nay, Ba Luk trở thành tổng thống Belarus gần như suốt đời. Tuy Hiến pháp 1991 quy định chỉ cho phép tối đa 2 nhiệm kỳ Tổng thống. „Độc tài“ tức là có tài thay đổi hiến pháp để độc quyền. Thế là năm 2006, Ba Luk cho đổi hiến pháp với „đa số nhân dân tuyệt đối hưởng ứng“. 

Dân Belarus có cuộc sống khá dễ chịu, vì thừa hưởng nền tảng công nghiệp vào hàng tốt nhất của Liên-Xô cũ. Nga coi Belarus như phên dậu chống phương tây nên có những ưu đãi quan trọng. Dầu khí cấp cho Belarus rẻ hơn hẳn cho Ucraina cứng đầu. Belarus cũng ngoan ngoãn nấp dưới cái ô hạt nhân và quốc phòng của Nga. Vì thế hơn 9 triệu người Belarus có thu nhập bình quân theo sức mua hơn 20.000 USD/năm. Họ được đi lại, giao lưu thoải mái với Ba-Lan và các nước vùng Baltic. Tuy báo chí bị kiểm duyệt, nhưng có thể vẫn được phê phán ông bạn Putin 4 tốt, 16 chữ vàng, chỉ cấm không được chê Ba Luk. Người dân Belarus cảm thấy ách thống trị và bộ máy cảnh sát, tuyên truyền của Ba Luk không đến nối phải đổ máu để gạt bỏ.

Nền độc tài Lukashenko trôi qua một cách không ồn ào lắm 26 năm qua giữa châu Âu.

Lần này Ba Luk cũng tưởng làm tiếp được nữa. Nhưng gã đã già néo đứt dây. Lần già néo thứ nhất là gã cho bắt hết mấy ông ứng cử viên đối lập. Tội trạng thì đã có cơ quan „Công an điều tra“ lo. Không ngờ cô Zichanouskaja, vợ của ứng cử viên Zichanouski vừa vị bắt, nhảy ra ứng cử thay chồng. Để tránh sự trừng phạt của chế độ, cô gửi các con ra nước ngoài rồi mới tuyên bố ứng cử. Lập tức có hai bà vợ của các ứng cử viên bị bắt khác là Weranika Zapkala và Maria Kalesnikawa  cùng đứng ra ủng hộ cô Zichanouskaja. Lòng dũng cảm của ba người phụ nữ này đã làm xúc động hàng triệu người dân Belarus xưa nay vốn sợ thay đổi. 

Luồng gió cách mạng đó tạo ra những điều chưa từng xảy ra trong một nhà nước mà cảnh sát đông như quân nguyên. Chỉ trong vòng 2 tuần trước ngày bầu cử, các cuộc mít ting vận động tranh cử của ba người phụ nữ trẻ luôn có hàng ngàn đến hàng chục ngàn người tham dự, rất ôn hòa. Cảnh sát tuy đông nhưng lúng túng trước đám đông ôn hòa, bất bạo động và… rất xinh gái.

Biểu tình bất bạo động làm cảnh sat lúng túng

Ba Luk lại già néo đứt dây lần nữa trong ngày bầu cử 09.08. Để chắc ăn, gã cho công bố kết quả bầu cử với 80% số phiếu cho mình, còn ứng cử viên được đông đảo người dân mến mộ nhất là Zichanouskaja chỉ có 6,9%. Người ta mến mộ cô, vì cô chỉ nhận làm tổng thống để chuẩn bị cho một cuộc bầu cử dân chủ, rồi sẽ về nhà nuôi con, chăm chồng. Chỉ nhìn quanh gia đình và bè bạn, ai cũng nghĩ là Zichanouskaja sẽ đạt 70% phiếu trở lên. Giờ nghe kết quả đó, mọi người đều cảm thấy bị Ba Luk coi là đàn lừa. Sự giận dữ bùng nổ ngay sau khi công bố kết quả. Các cuộc biểu tình đầy bạo động đã nổ ra trong toàn quốc, khác hẳn trước ngày bầu cử.

Điều đáng nói là cho đến lúc này, phong trào phản kháng không hề có tổ chức, không hề có lãnh đạo. Ngay trong hai ngày sau khi bầu cử, hai cô Zichanouskaja và Zapkala đều biến khỏi Belarus một cách bí hiểm. Chỉ còn nhân vật thứ ba là cô Maria Kalesnikava ở lại và kiên trì lên tiếng. Nhưng cô cũng không nhận mình là lãnh đạo phong trào. 

Cuối tuần rồi, Ba Luk cho phản công bằng cách lấy xe chở những người ủng hộ ông ta về Minsk để biểu tình chống bọn „phản động“. Tại cuộc biểu tình 4000 người đó, vẫn có một ông công nhân lên phát biểu ngược dòng, đề nghị Ba Luk từ chức. Cùng lúc đó một cuộc biểu tình 100.000 người không do ai chỉ đạo nổ ra ở khu phố khác, đòi xóa bỏ chế độ độc tài. Hôm đó, cảnh sát hầu như bị vô hiệu hóa bởi các cô gái tóc vàng xinh đẹp và các bà mẹ đôn hậu. Cái loa phường của Ba Luk là Đài Truyền hình Trung ương cũng tê liệt vì các biên tập viên, mới trước đó 1 tuần còn dám đưa tin láo về bầu cử, nay đứng ra phản đối gian lận bầu cử.  

Nhà độc tài Lukashenko vẫn hay quảng bá hình ảnh của mình là một người thân thiện, gần gũi quần chúng

Điều khó xử của Ba Luk là không biết bắt ai để dập tắt sự chống đối của nhân dân. Khác với Ucraina, người Belarus không đòi tách khỏi liên minh với Nga, không đòi theo EU, không ủng hộ EU trừng phạt nước mình. Họ chỉ muốn không bị coi là ngu. Putin, bố già của các nước thuộc Liên Xô cũ cũng đang bí. Đưa quân vào Belarus có thể sẽ biến nước Nga từ bạn thành thù. Liệu có đáng để cứu một kẻ bất tài như Ba Luk?

Belarus đang là một hiện tượng đặc biệt mà tôi gọi là „Xã hội dân sự 4.0“. Không cần chuẩn bị lâu dài, không có lãnh đạo, một dân tộc không chịu nhục, không chịu ngậm miệng vẫn có thể thay đổi được số phận của mình. Mạng xã hội đương nhiên thành môi trường kết nối và phát triển cho xã hội dân sự, chỉ cần có những con người tự trọng. 

Tuy nhiên với một Putin mưu lược và một nước Nga đang muốn khôi phục lại sức mạnh đã mất, nhiều điều chưa thể lường được.

Cùng với Belarus, những cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủ, tự do ở Thái Lan và Libanon cũng đang gây chú ý cho dự luận. Hai nước này khác hẳn Belarus vì lâu nay đã từng được hưởng nền dân chủ khiếm khuyết [1]. Sự xói mòn dân chủ bởi chính quyền quân sự Thái Lan và chính phủ tham nhũng Libanon đã khiến người dân tức giận. 

Bảng xếp hạng dân chủ có nhiều mức độ, nhưng có thể nói nôm na như sau: Nếu như dân các nước phương tây được bay nhảy thì dân các nước độc tài coi như nằm một chỗ. Còn dân các xứ có nền dân chủ khiếm khuyết thì coi như được đi bộ. Đang đi bộ mà bắt nhảy lò cò như dân Thái Lan thì mỏi chân. Lâu, tức quá bỏ cả hai chân xuống để đi. 

Dân Belarus đang nằm một chỗ, thấy nó bảo mình ngu, tức điên, không những ngồi dậy mà đứng lên đi luôn. Nằm lâu, chân tê, đi còn cà nhắc, nhưng chớ nằm xuống lại liệt trở lại. Cố, rồi sẽ đi được.

Người biểu tình không cần có chỉ đạọ, không có kế hoạch vẫn tự động để hoa thành ngôi mộ tưởng niệm một thanh niêni bị chết vì bạo lực cảnh sát

[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Democracy_Index

TRUYỆN VUI CUỐI TUẦN – HÉTVÉGI VICCEK (No.237)

 Giám đốc ngân hàng nhắc nhở nhân viên bảo vệ vì ông già lại đi làm trễ mấy phút.

- Bác Pista! Bác nên biết rằng đúng giờ trong ngân hàng cũng quan trọng như ... trong quân đội! Bác đã đi bộ đội bao giờ chưa?

- Thưa có ạ.

- Vậy, sĩ quan trực ban đã nói gì với bác khi bác vào doanh trại muộn?

- Đó là "Thưa đông chí trung tá, tiểu đoàn đã xếp hàng ..."

-----------------

A bankigazgató rászól a biztonsági őrre, mert az öreg ismét néhány percet késett a szolgálatból.

- Pista bácsi! Vegye tudomásul, hogy a bankban a pontosság ugyanolyan fontos, mint... mint a katonaságnál! Volt maga katona?

- Igen kérem, voltam.

- Na, és mit mondott magának az ügyeletes tiszt, amikor késve ment be a laktanyába?

- Azt, hogy "Alezredes elvtárs jelentem, a zászlóalj felsorakozott..."

Nguyễn Ngô Việt (DEBRECEN.vidi73)

Friday, August 21, 2020

Tiểu thuyết Ấn Độ: MÙA TÔM (CHEMMEEN)

Với 14 ngôn ngữ chính và vài trăm ngôn ngữ khác hoặc thổ ngữ, Ấn Độ ngày nay có nhiều nền văn học phồn thịnh.

Gương mặt nổi bật nhất trong nền văn học Malayalam, tiếng nói chính thức của bang Kelara ở miền Tây-Nam Ấn Độ là nhà văn đương đại Thakazhi Sivasankara Pillai (sinh năm 1914). Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông nhan đề Chemmeen (Con tôm) đã được dịch sang tất cả các ngôn ngữ chính ở Ấn Độ, ngoài ra còn được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới (bản dịch tiếng Việt nhan đề Mùa Tôm). Chemmeen kể lại mối tình giữa Kanruthamma, 1 người con gái làng chài Ấn Độ giáo, với Pareekutti, con trai 1 nhà buôn cá Hồi giáo. Chúng tôi trích đăng dưới đây những trang cuối cùng trong cuốn tiểu thuyết của Pillai. Karuthamma và Pareekutti gặp nhau trên bãi biển trong khi chồng Karuthamma là Palani đang đánh cá ngoài biển khơi. Kết cục của câu chuyện phản ánh tín ngưỡng của người Ấn Độ giáo cho rằng cách sống ko tuân theo tập tục của Karuthamma đã làm Nữ Thần biển Katalamma nổi giận. Phần dưới đây trích trong cuốn Mùa Tôm (nxb Tác Phẩm Mới, in lần thứ tư 1986) do Hoàng Cường dịch qua bản dịch tiếng Anh Chemmeen của Narayana Menon xb năm 1962 trong "Tủ sách các tác phẩm tiêu biểu" của Unesco.

CƠN THỊNH NỘ CỦA NỮ THẦN BIỂN

Trong lúc Palani ở ngoài biển, cô ra đây đứng nói chuyện với người lạ có là phải hay ko? Dẫu vậy, Karuthamma vẫn ko thấy sợ. Xưa kia, cô đã từng gặp anh một mình trong đêm tối. Nếu cô có thể đem lại ít nhất 1 giây phút hạnh phúc ngắn ngủi cho con người mà cuộc đời đã bị tan nát vì cô, lẽ nào cô lại ko làm?

Hai người đứng mặt sát mặt nhìn nhau. Người con trai mà cô đã hủy hoại cuộc đời đang đứng trước mặt cô. Cô biết chắc: anh sẽ yêu cô đến cùng trời cuối biển. Anh sẽ mãi mãi hiểu cô và tha thứ cho cô. Dù cho cô có gây mọi khổ đau cho anh, anh sẽ chịu đựng được và tha thứ.

Trong giây phút ngắn ngủi ấy, Karuthamma quên hết mọi nỗi đau buồn trong cuộc sống. Cô cảm thấy mình chưa hề bị gục ngã. Cô thấy có trong người 1 sức mạnh ko mấy ai có. Cô được sự che chở của 1 người đàn ông cường tráng, cuộc đời cô sẽ yên ổn. Palani sẽ ko để cho thế giới bên ngoài đụng chạm đến cô, làm thương tổn cô. Và cô còn có 1 người đàn ông khác đem lại cho cô sự sống tinh thần. Chưa có người đàn ông nào đã yêu 1 người đàn bà bằng người ấy yêu cô. Giữa 2 người đàn ông ấy, cuộc sống của cô thật đầy đủ, trọn vẹn. Gio72 đây, người đàn ông yêu cô đang đứng trước mặt cô.

Cô ngả người vào 2 cánh tay mở rộng của anh, tấm thân cô hòa nhập làm 1 với anh. Gương mặt 2 người chạm vào nhau. Anh thì thầm bên tai cô:

- Karuthamma của anh!

- Dạ!

Anh vỗ về cô, vuốt ve cô, bàn tay anh từ từ tìm đến nơi ngày xưa ánh mắt anh đã dừng lại khao khát.

- Karuthamma!

Cô ngoan ngoãn đáp lại anh trong trạng thái đê mê thẫn thờ:

- Dạ!

- Em yêu anh đến đâu?

Cô ôm lấy mặt người yêu vào 2 lòng bàn tay và nhìn anh với con mắt mơ màng.

- Anh là tất cả, là hạt ngọc của lòng em.

Hai người lại hòa với nhau làm một. Và trong trạng thái đó, anh thì thầm êm ái bên tai cô.

Cô ko bứt nổi mình ra khỏi vòng tay đó.


Xa tít ngoài biển khơi, Palani đương tung mồi đánh 1 con cá mập. Từ trước đến nay chưa có 1 con cá mập nào to đến thế mắc vào mồi của anh hoặc 1 người đánh cá nào khác. Tại vùng biển này chưa có ai đánh được con cá nào to như thế bao giờ.

Lúc đớp phải mồi, con cá quẫy mạnh. Biển sủi bọt trắng xóa, nước bắn tung lên trời. Sau đó, con cá quay mình lại tấn công chiếc thuyền. Palani nhìn thấy nó lao mình lên khỏi mắt nước, anh nhìn rõ dây câu mắc vào miệng cá.

Palani hiểu rằng: anh đã đánh được con cá mập to nhất vùng biển này. Anh reo lên vui mừng. Anh phải quyết định mau lẹ: có nên giữ chặt dây câu ghìm nó lại hay cứ để nó kéo đi 1 lúc? Nếu lưỡi câu đã móc vào họng nó rồi, chỉ cần kéo dây câu cũng đủ ghìm con vật nguy hiểm lại. Nhưng nó có thể lao mình đâm nát thuyền mất. Song cứ để nó kéo đi, thuyền sẽ phải lao nhanh theo nó. Và khó biết chắc thuyền sẽ bị nó kéo đi xa đến đâu.

Palani ko nhìn thấy bờ đâu cả. Anh hoàn toàn ko biết bờ nằm về phía nào. Một tay giữ dây câu, 1 tay lái thuyền, anh ngước mắt lên trời nhìn sao tìm phương hướng. Anh ko thấy ngôi sao muốn tìm. Mây đen che kín bầu trời.

Thuyền bị con cá kéo đi vùn vụt. Nó phăng phăng xé nước lao đi. Biển ko nổi sóng. Mặt biển yên tĩnh. Nhưng màu biển đã sẫm lại và mang điềm gở. Anh chăm chú nhìn mặt nước để dò tìm luồng nước. Nhưng dù cố đến mấy, anh vẫn ko sao nhận ra.

Con cá mập lôi thuyền đi vun vút như tên bay gió thổi. Nó đi đâu? Anh đã đi xa đến đâu rồi?

Palani kêu lên:

- Dừng lại! Dừng lại! Ko khéo mày lại kéo tao xuống đến tận Thủy cung.

Anh giật mạnh dây câu. Con thuyền đột nhiên đứng lại. Palani cười điên dại.

- Ha, ha, ha, đứng lại như thế chứ!

Cách thuyền ko xa, con cá trong cơn giãy chết lại chuẩn bị tấn công. Nóng nảy, Palani lại giật dây câu. Con cá nhảy vọt lên rồi lại rơi xuống biển. Tuy thuyền có vẻ như vẫn đứng yên 1 chỗ, nhưng anh chợt nhận ra nó đã mắc vào 1 luồng nước và đang vạch thành những vệt trên mặt biển mênh mông. Luồng nước chạy thành hình vòng tròn. Palani lại chăm chú theo dõi. Phải chăng anh bị mắc vào 1 con nước xoáy? Bây giờ, anh biết chắc thuyền anh đang chạy vòng tròn theo 1 đường cong lớn. Nhưng anh vẫn giữ chặt dây câu. Anh ngửa mặt nhìn trời. Bầu trời ko 1 vì sao.

Palani đứng trong khoang thuyền nhìn ra xung quanh. Bốn bề chỉ thấy biển. Nhưng bây giờ mặt nước lại mang 1 hình dạng khác. Bây giờ, hình như bao quanh anh là 1 quả núi, 1 quả núi hình tròn bằng nước. Anh và con thuyền của anh nằm ở dưới đáy thung lũng nước đó. Mũi thuyền dường như ngóc lên.

Thủy cung nằm dưới đáy biển sâu. Đây là nơi thờ Nữ Thần Biển. Palani đã được nghe tả về Thủy cung. Anh phải đến đó qua 1 con nước xoáy, 1 con nước xoáy làm biển sôi lên sùng sục thành những vòng tròn, rồi vào gõ cửa chốn thâm nghiêm của Nữ Thần Biển.

Palani tưởng chừng như những quả núi bao quanh anh mỗi lúc một cao hơn. Anh buông lỏng dây câu đôi chút. Con thuyền lại lao đi vùn vụt.

Bỗng Palani nghe thấy 1 tiếng gầm khủng khiếp vang lên đâu đó trong ko trung. Anh chưa bao giờ nghe thấy 1 âm thanh nào dữ dội đến thế. Đó là tiếng cơn bão đang nổi lên.

Sóng biển cuộn dâng như núi. Đợt sóng nọ tiếp đợt sóng kia cuồn cuộn dâng cao. Anh chưa bao giờ thấy con sóng nào lớn đến thế. Những đợt sóng này ko di chuyển theo đường thẳng, chúng dâng lên thành 1 đường vòng tròn xung quanh anh, 2 đầu sóng bắt liền với nhau làm thành 1 cái vòm nước.

Palani nhìn xung quanh, tìm hiểu trong giây lát tính chất của biển trong cơn thịnh nộ ghê gớm này. Anh biết cách lái thuyền cưỡi trên ngọn sóng. Anh cũng biết lựa chiều hợp sức mình với bão táp. Anh đã từng đi thuyền trong những đêm tối mịt mùng nhất.

Trời bỗng lóe lên 1 tia chớp sáng lòa, tiếp theo là 1 tiếng sấm rền kinh khủng. Palani buông lỏng dây câu. Nếu anh giữ chặt dây câu làm con thuyền dừng lại thì nó sẽ nát vụn mất. Anh để mặc con cá lôi thuyền đi tùy thích.

Khi mũi thuyền leo ngược đỉnh các đợt sóng cao, anh giữ thăng bằng bằng mái chèo và nhảy lên cho thuyền nhẹ bớt. Lên đến đỉnh sóng, con thuyền lại đột ngột lao xuống. Thân thuyền dốc ngược gần như thẳng đứng. Một đợt sóng khổng lồ khác lại trào tới, lăm le nuốt chửng con thuyền vào trong cái mồm ngoác rộng của nó.

Biển gầm lên. Nó gầm thét trong cơn thịnh nộ với người đánh cá khốn khổ kia. Bão táp đem lại âm thanh làm nền cho tiếng gầm của biển, sấm sét đem lại tiết tấu. Một vũ khúc ma quái, ghê rợn. Chơi vơi giữa biển cả mịt mùng là 1 con người nhỏ nhoi. Nữ Thần Biển cần gì phải nổi trận lôi đình để nghiền nát con người bé nhỏ kia? Nếu muốn, Nữ Thần có thể lôi tuột trong chớp mắt con người bé nhỏ ấy xuống tận cùng đáy biển.

Những đợt sóng khổng lồ này có lẽ đánh về bờ. Sóng có lẽ trào qua các mái nhà trên bờ. Bãi biển có lẽ nhung nhúc thuồng luồng, rắn độc. Xa xa, có cái gì đang dâng lên cao ngút. Có phải là đỉnh 1 đợt sóng cực lớn hay đó là 1 con quái vật đang ngóc đầu lên, miệng ngoác rộng như hang núi? Người đánh cá khốn khổ kia có mất tinh thần hay ko? Palani cố nhảy qua mũi sóng nhưng anh ko nhảy được cao. Con sóng ngoác rộng miệng ngụp lên anh và con thuyền của anh.

Mây ko những che kín bầu trời với sấm rền chớp giật liên hồi mà chính bầu trời tưởng chừng như bị xé toạc ra. Tất cả nước trong biển tường như dồn lại 1 chỗ. Bão gầm rú như muốn nghiền nát mọi vật. Nhưng vẫn còn thấy mũi thuyền nhô lên trên đỉnh 1 đợt sóng khác nữa. Khi đợt sóng ấy qua rồi thì thấy Palani đang bíu lấy con thuyền bây giờ đã bị lật úp. Trong khoảnh khắc anh hít được 1 hơi thở và kêu to:

- Karuthamma!

Tiếng kêu của Palani vang lên át cả tiếng gầm thét của bão tố.

Tại sao anh lại gọi Karuthamma? Thần hộ mệnh của người đánh cá là người vợ ở nhà. Anh gọi cô xin cô hãy cầu nguyện cho tính mạng của anh được vẹn toàn. Người đánh cá đầu tiên chẳng đã vượt qua được bão táp trở về nhà bình yên nhờ sức mạnh từ lời cầu nguyện của 1 người đàn bà dân chài ở nhà đấy ư? Palani cũng tin là anh sẽ thoát nạn. Anh có 1 người vợ. Vợ anh chẳng đã hứa hẹn với anh vừa mới đêm trước đấy ư?

Cơn bão càng lồng lộn dữ dội. Palani chống chọi với bão táp. Nhưng gió bão lại hợp lực với sóng biển. Một đợt sóng khổng lồ khác lại cuồn cuộn đổ tới. Vừa lúc anh mới thốt được có 2 tiếng "Karu..." thì con sóng đã ụp lên người anh.

Ko còn nhìn thấy gì hết. Sấm chớp cùng với bão táp dồn sức với nhau tàn phá.

Nước biển sôi lên ghê rợn và bắn tung tóe lên tận bầu trời. Cả mặt biển thành 1 cái hang núi. Con thuyền lại hiện ra trên đỉnh các đợt sóng. Palani nằm sóng xoài trên thuyền, anh đang cố bíu lấy thuyền.

Cuộc hủy diệt tàn khốc này liệu có bao giờ chấm dứt hay ko?

Con thuyền sau đấy lại bị cuốn vào 1 xoáy nước rồi chìm nghỉm như 1 tảng đá.

Chỉ có 1 vì sao lẻ loi hiện ra lấp lánh. Đó là sao Arundhati* của những người đánh cá, ngôi sao chỉ đường cho họ, nhưng đêm ấy ánh sao hình như mờ đục.

Bình minh ló dạng trên mặt biển yên tĩnh, tưởng như ko có chuyện gì xảy ra. Một vài người đánh cá nói đêm qua ở giữa biển nổi lên 1 cơn bão lớn. Sóng biển trào đến cửa 1 vài ngôi nhà ngoài bãi. Và thấy có vệt rắn biển trên cát trắng.

Panchami đứng trên bờ, nước mắt giàn dụa trên má. Đứa bé cô bế trên tay kêu khóc thảm thiết đòi bố và mẹ. Palani đi biển đánh cá từ tối hôm trước chưa về. Karuthamma cũng ko thấy đâu.

Panchami khóc, cô vừa khóc vừa dỗ cháu.

Hai hôm sau, sóng biển đưa dạt vào bờ xác 1 đôi nam nữ trong vòng tay nhau. Đấy là Pareekutti và Karuthamma.

Và bên làng Cheriyazhikkil, 1 con cá mập chết lưỡi câu còn mắc trong mồm cũng bị đánh giạt vào bờ.

(*): Sao Arundhati là biểu tượng của sự trong trắng

BS Yersin và VN

 MỘT NGƯỜI MÀ CHÚNG TA CHỊU ƠN

01/3 LÀ NGÀY MẤT CỦA BS. ALEXANDRE YERSIN NGƯỜI PHÁP GỐC THUỴ SĨ CÓ CÔNG LAO LỚN ĐỐI VỚI VIỆT NAM. XIN ĐƯỢC KÍNH CẨN NGHIÊNG MÌNH NGƯỠNG MỘ VÀ BIẾT ƠN ÔNG!❤️


Hiện nay cà chua, cà rốt, các loài Hoa phương Tây ở Đà Lạt... ;Cà phê, Điều, Tiêu.... mà Việt Nam xuất khẩu mang về hàng tỉ USD có từ đâu? Chắc ít ai nghĩ đó là do công lao của bác sĩ Yersin!
Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam.
Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằn nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương "dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ". Ông nói "đời mà không đi, thì còn gì là đời".
Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur "mời ăn tối và nghe báo cáo", "thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể". Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.
Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời". Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương.
Ông cũng là người mang cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình), đến bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu. Ông thử nghiệm nhiều giống cây ôn đới như cà rốt súp lơ su su lay-ơn cẩm tú cầu xà lách xông cà chua....(hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp đều là do ông và bạn bè đồng sự ông mang qua). Ông còn nuôi cừu trồng nho ở Phan Rang, nuôi đà điểu ở Ninh Hoà, thử nghiệm trồng quy mô lớn cây cà phê ở Lâm Đồng, Đăk Lăk và Pleiku. Ông cũng là 1 triệu phú nhờ trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và là cổ đông chính của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng "tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân". Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.
Với tầm nhìn vĩ đại, bác sĩ Yersin không chỉ làm khoa học mà còn giỏi nhiều thứ. Ngoài việc mang sang cho chúng ta bao nhiêu giống cây trồng vật nuôi mới lạ, khám phá và xây dựng Sapa Đà Lạt Bà Nà...thành những nơi du lịch nghỉ dưỡng, ông còn tham gia quy hoạch đô thị khu trung tâm Sài Gòn Hà Nội Nha Trang Đà Nẵng Hải Phòng, ranh giới các tỉnh....mà chúng ta ngày nay hay có cụm từ "ngày xưa người Pháp đã quy hoạch chỗ này là, chỗ kia là..". Ông đã giúp người Việt chúng ta có được nền tảng kinh tế ban đầu từ một nước thuần nông lạc hậu, những công trình về hạ tầng, giáo dục, y tế. Do chính quyền Pháp khi đó rất tín cẩn ông, vì ông đi nhiều khám phá nhiều. Hầu như mọi ngóc ngách ở Lào, Việt Nam và Campuchia đều có dấu chân ông. Núi cao vực sâu, thú dữ, bệnh tật...không hề làm ông nản bước. Ông luôn yêu cầu Pháp phải xây dựng nhiều trường học ở các tỉnh của Việt Nam và ý kiến cho Pháp đầu tư tiền để xây đường sắt Bắc Nam từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn, hiện chúng ta vẫn còn đang khai thác. Con đường quốc lộ 1A thời đó là con đường đất nhỏ xíu (gọi là con đường cái quan) bề rộng chỉ có 2-3 mét từ thời chúa Nguyễn đã được ông "bày vẽ" cho kè đá, rải nhựa, mở rộng nâng cấp để xe ô tô có thể chạy được. Ông nói phải ưu tiên làm con đường to nhất, tốt nhất gọi là quốc lộ, chạy ngang qua hết các tỉnh ven biển để người dân tỉnh nào cũng có thể hưởng lợi từ giao thông. Đường sắt Phan Rang đi Đà Lạt cũng là ông tư vấn cho toàn quyền Doumer làm. Các trạm khí tượng từ Sapa đến Mẫu Sơn đến Bạch Mã, các ngọn hải đăng ngoài biển mà chúng ta thường nói "do Pháp xây" là do ông chọn vị trí. Những gì ông có thể nghĩ ra, ông đã làm tất cả cho người Việt.
Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu. Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo "thôi đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". 1 lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông "dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ lại thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém....của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê hương ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới khi ấy, ông vẫn xuống tàu đi đến một miền đất nghèo xa lạ. Ông nói "tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và sẽ phụng sự tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".
Đám tang ông là đám tang lớn nhất Việt Nam lúc đó. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nơi ghi dấu 1 thời dọc ngang tuổi trẻ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố lớn khác châu Á yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã thành công trong việc giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, khi ông mất, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn. Di chúc ông ghi giản dị "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi".
Nếu bạn đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo....để ăn với mắm tôm) thì hãy biết ơn BS Yersin. Công lao của ông với dân tộc mình, với đất nước mình là không bao giờ kể hết. Các bạn có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin để thấy những tranh cãi lặt vặt, những suy nghĩ tầm thường đã phí thời gian cuộc đời mình. Sách giáo khoa nên bổ sung nhiều bài học về ông để các thế hệ mãi mãi biết ơn. Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc.
Và mỗi người, nếu đọc được những dòng chữ trên thì hãy học tập ông ở tinh thần PHỤNG SỰ, CỐNG HIẾN. Không nhỏ hẹp, vun vén cá nhân, cái xe - cái nhà - miếng đất - bằng cấp - chức vụ - công danh, tiền tài mang về cho vợ cho con tầm thường nữa. Mạnh dạn vẫy vùng biển rộng trời cao, dấn thân, xả thân vì MỘT LÝ TƯỞNG SỐNG của riêng mình. Bỏ quê hương đi đến chỗ phồn vinh thì dễ, quay về làm cho nó giàu sang văn minh thì mới khó. Mà khó cỡ nào, mình quyết tâm là làm được hết. Cuối đời, mình tự hào vì đã góp phần vô việc MAKE A BETTER VIETNAM.
Phàm làm người, ai càng sớm tìm được lý tưởng sống, thì càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn, không hối tiếc.

By Fanpage Tony .

Về 2 quê hương

 CON CHIM THIÊNG TURUL VÀ LỊCH SỬ CHINH PHỤC ĐẤT NƯỚC CỦA NGƯỜI HUNG (Phần 2)

Chim thiêng Turul trước Cung điện Hoàng gia trên Đồi Buda

Chim Turul huyền thoại của người Hung cổ là loại chim gì? Căn cứ các huyền thoại và bằng cứ về ngôn ngữ, không thể khẳng định được chắc chắn, nó là chim ưng hay đại bàng. Chỉ biết, rất có thể nó là loài chim của dân săn bắn, gắn liền với đời sống của họ tại những vùng thảo nguyên mênh mông Nội Á.

Trong lịch sử của dân tộc Hungary, sử gia lừng danh Kézai Simon trong bộ quốc sử “Gesta Hunnorum et Hungarorum” (Hành sự của người Hung Nô và người Hung” (thế kỷ 13) cho hay, chim Turul đội vương miện từng là biểu tượng trong chiến đấu của các bộ lạc Hung cho tới thời của Vương công Géza.

Huyền thoại cổ của Hungary hai lần nhắc tới vai trò của chim thiêng Turul, và lần thứ nhất là sự tích về giấc mơ báo mộng của bà Emese, mẹ của thủ lĩnh Álmos sau này. Đã từng có cách lý giải, cho rằng chính Turul đã khiến bà Emese thụ thai, khiến bà trở nên là “mẫu hậu” của tất cả người Hung cổ đại.

Những nghiên cứu mới hơn thì cho hay, thật ra Turul xuất hiện trong giấc mộng của một phụ nữ đang có thai, và nhiệm vụ của nó là bảo vệ đứa con trong bụng bà mẹ. Dù thế nào đi nữa, thì sự xuất hiện của Turul với bà Emese khi các bộ lạc Hung còn đang tìm đường tới quê hương mới, là rất thiêng liêng.

Lần thứ hai Turul xuất hiện, là trong quá trình chinh phục đất nước của người Hung. Khi đó, người Hung còn ở Levédia, và thủ lĩnh của các bộ lạc Hung mơ rằng súc vật của họ bị một đàn đại bàng khổng lồ cắn xé, và không làm sao họ chống đỡ nổi vì đàn chim luôn tấn công bất ngờ.

Khi đó, xuất hiện một con Turul can đảm và nhanh như cắt, nó lao từ trên xuống cắn chết tươi một con đại bàng. Thấy thế, lũ đại bàng hoảng sợ chạy trốn. Vì vậy, người Hung quyết định rời Levédia để tìm nơi khác sinh sống: đó là mảnh đất mà Thiền vu A Đề Lạp (Attila) của dân Hung Nô đã để lại cho họ.

Thiền vu A Đề Lạp (Attila), “Ngọn roi của Thượng Đế”

Tuy nhiên, do không biết đường nên người Hung cứ quanh quẩn không tới được đích. Khi đó, Turul lại xuất hiện và bảo thủ lĩnh của người Hung hãy đi theo nó, và rồi nó bay đi mất dạng. Tỉnh dậy sau giấc mơ, người thủ lĩnh đưa các bộ lạc Hung đi tiếp, tới khi một bệnh dịch khiến đàn gia súc của họ bị tiêu tan.

Trên đống xác súc vật, một đàn kền kền bâu quanh kín đặc, nhưng rồi thình lình một con Turul từ xa bay tới đạp chết một con. Người thủ lĩnh nhận ngay ra con chim thiêng mà ông đã thấy trong giấc mơ thuở trước, rồi tất cả các bộ lạc Hung từ đó đồng lòng theo Turul dẫn đường để tìm quê hương mới.

Mỗi khi Turul bay khỏi tầm mắt, người Hung lại dừng lại và cắm lán trại chờ đợi. Khi nào chim tìm được đường và quay trở lại, đoàn người đông đảo lại tiếp bước Turul. Cứ như thế, vào năm 895, người Hung tới Pannónia (bồn địa Kárpát), vùng đất cổ của thủ lĩnh Hung Nô (Hoàng đế Attila) thuở nào.

Tại đây, con chim Turul bay đi vĩnh viễn mà không trở lại, nên người Hung biết rằng, họ đã tìm thấy quê hương mới. Huyền thoại cổ sơ này có một cơ sở thực tế là trên con đường thiên lý dằng dặc và đầy gian khổ từ Phương Đông qua Phương Tây, người Hung đã dừng lại ở nơi mà những đàn đại bàng làm tổ.

Song hành với lịch sử chinh phục đất nước và lập quốc của Hungary, trong chuỗi đại lễ thiên kỷ năm 1896, chính phủ Hung đã cho dựng 7 tượng đài kỷ niệm tại những vùng đất thuộc Vương quốc Hungary, mà ngày nay chỉ còn hai nơi là thuộc lãnh thổ nước Hung. Trong số 7 tượng đài ấy, 3 tượng đài là Turul.

Tượng đài Turul tại TP. Tatabánya, được coi là lớn nhất tại Hungary - Ảnh: termeszetjaro.hu

Nhưng không cần phải đi xa đến thế, vẫn có thể thấy tượng đài Turul nổi tiếng nhất ngay bên cổng Hoàng Thành trên Thành cổ Buda: sừng sững với độ cao 6m, pho tượng do Donáth Gyula hoàn tất năm 1905 mô tả Turul cắp thanh gươm thần chở che cho người Hungary mỗi khi họ xung trận.

Cả một lịch sử bi hùng và lãng mạn của người Hung và nước Hung thời tiền lập quốc tập trung trong hình tượng chim thiêng Turul như thế...

Chim Turul trên đỉnh Cầu Tự do (Budapest)

Nguyễn Hoàng Linh

Thursday, August 20, 2020

Về 2 quê hương

 GIẤC MỘNG CỦA EMESE VÀ HUYỀN THOẠI VỀ CON CHIM THIÊNG TURUL (Phần 1)

Đó là hai sự tích đẹp nhất của lịch sử Hungary, thời kỳ Chinh phục Đất nước (honfoglalás), mà có lẽ không một người Hung nào không thuộc nằm lòng, từ lời kể của cha mẹ thuở ấu thơ tới những trang sách đầu đời về huyền sử dân tộc Hung.

Biết được câu chuyện này, có thể cảm nhận được, đối với người Hung khái niệm dân tộc (nemzet) thiêng liêng biết nhường nào: đó là tập hợp của những người con cùng xuất phát từ một cội nguồn, một bà mẹ, và được thụ thai, chào đời một cách huyền bí.

Giấc mộng của Emese là một trong những truyền thuyết đầu tiên của người Hung về nguồn gốc của đại thủ lĩnh Álmos. Thời điểm xuất hiện của nó được cho là khoảng năm 860-870, nhưng chắc chắn là trước năm 997, khi người Hung dần cải đạo sang Công giáo.

Truyền thuyết này còn đặc biệt ở chỗ, nó mang tính chất rất cổ sơ, và được đưa vào các cuốn sách sử cổ nhất của nước Hung, bên cạnh câu chuyện về nguồn gốc của dòng họ Árpád, triều đại quân chủ đầu tiên của Vương quốc Hungary (1000-1301).

Cả “Gesta Hungaroruma” (Hành sự của người Hung) của sử gia vô danh Anonymus đầu thế kỷ 13, cả “Chronicon Pictum” (Biên niên sử bằng tranh, 1360) của Kálti Márk có lẽ đã đều dựa theo một văn bản chung từ trước đó để ghi nhận lại sự tích này của người Hung.

Cái tên Emese theo ngôn ngữ Hung cổ có nghĩa là “bà mẹ”, và có lẽ ko phải ngẫu nhiên, về sau bà được coi là “mẫu hậu” của tất cả người Hung cổ đại. Con trai của bà, Álmos (819-895), là đại thủ lĩnh tiên khởi của người Hung thế hệ Chinh phục Đất nước.


Nữ thủ lĩnh Emese - Tranh của László Gyula

Chuyện kể rằng, giữa thế kỷ thứ 8, đầu thế kỷ thứ 9, các bộ lạc du mục người Hung vẫn phiêu bạt trên con đường di cư vô định của mình từ Châu Á xa xôi, về hướng Tây. Khi đó, tù trưởng các bộ tộc Hung là Ügyek có một người vợ là nữ thủ lĩnh xinh đẹp Emese.

Vào lúc đó, người Hung đã và đang trải qua muôn vàn gian khổ để kiếm tìm quê hương mới cho mình. Cần hình dung rằng, họ cứ vừa đi vừa tìm, chứ không hề có phương hướng hoặc mục tiêu nào cụ thể. Tương truyền, khi ấy, các bộ tộc Hungary còn đang lang bạt ở Levédia.

Một đêm nọ, chìm vào giấc ngủ, Emese có một giấc mơ kỳ lạ: một con chim Turul (nửa đại bàng, nửa chim ó) rất to - được coi như sứ giả của Thượng đế - xõa cánh trên bà. Chim có gương mặt mang dáng dấp của con người, và mang tới thông điệp của Đức Chúa trời.

Đó là, đứa con trong bụng bà sẽ bá chủ một vùng đất lạ. Người con ấy sẽ dẫn dắt dân tộc Hung khỏi vùng Levédia, tới vùng đất mới mà họ sẽ gây dựng thành quê hương, và con cháu của ông sẽ trở thành những vị quân vương đứng đầu một xứ sở vinh quang.

Tỉnh dậy, Emese cảm thấy mình được thụ thai. Khoảng năm 819, bà sinh một con trai, được đặt tên là Álmos, theo tiếng Hung cổ nghĩa là “được nhận từ Đức Chúa trời” - Anonymus thì cho rằng cái tên ấy có nghĩa là Thánh. Ông là cha của Đại vương công Árpád sau này.

Đúng như theo giấc mơ báo mộng, Álmos trở thành một trong 7 thủ lĩnh chính của các bộ tộc Hungary thời Chinh phục Đất nước. Ông cùng người con là Árpád đã dẫn dắt các bộ lạc Hung vào vùng bồn địa Kárpát (Carpathian) năm 895, khởi đầu sự nghiệp vinh quang của dân tộc Hung.

Đại thủ lĩnh tiên khởi Álmos của các bộ lạc Hungary

(còn tiếp)

Nguyễn Hoàng Linh

Isten Áld meg a Magyart!

 Chúc đất nước Hungary ngày càng giàu mạnh. Chúc nhân dân Hungary ngày càng hạnh phúc!

Wednesday, August 19, 2020

Hình ảnh Hungary: Nhà ở nông thôn

 Paraszt ház

Cụ Đào và 1 phần lịch sử

Bản lĩnh của người Việt Nam

Nguyễn Thái Nhật Duy: Bài này do học giả Đào Duy Anh viết xong vào mùa hè 1979. Trước sự hưng vong của đất nước, nhà sử học già đã phải nói lên những “lo nghĩ của kẻ thất phu”, là tên đặt lúc đầu cho bài viết này. Tài liệu này nằm trong di cảo của nhà sử học đã quá cố, chưa được công bố. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc để tham khảo.

Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thuỷ Hoàng có thể tận dụng nhân lực và tài lực cả “thiên hạ” nghĩ ngay đến mưu đồ đem lực lượng hùng hậu của dân tộc Trung Hoa là dân tộc đông đúc và văn minh nhất ở giữa các ngoại tộc mà người Hán cho là dã man hết cả, để bành trướng thế lực ra bốn phương. Về phía Tây Bắc thì Tần sai tướng quân Mông Điềm đem 30 vạn binh đánh đuổi bộ tộc Hung Nô gọi chung là rợ Hồ, chiếm cứ các đất ở phía nam Hoàng Hà (các tỉnh Ninh Hạ, Tuy Viễn đời sau) mở thêm 44 huyện và dời đến những người phạm tội cho cư trú và khai thác, về phía Đông Nam thì Tần sai Hiệu uý Đồ Thư đem 50 vạn binh gồm những kẻ lưu vong, những người rể thừa và những người lái buôn, chia làm 5 đạo đi đánh chiếm các miền Bách Việt, mở đặt ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng (đất Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu ngày sau), cho bọn quân lính ấy đóng đồn giữ đất và ở lẫn với người Việt, do đó mà khai thác miền đất phía Nam Ngũ Lĩnh làm lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng khi quân Tần tiến sâu vào miền đất tương đương với nước Việt Nam ta ngày sau thì chúng vấp phải sự kháng chiến quyết liệt, do đó quân Tần không thể tiến sâu hơn vào đất miền Nam. Việc ấy được sử sách Trung Quốc chép rõ.

Sử ký của Tư Mã Thiên (2.112) chép rằng: “Nhà Tần lại sai Hiệu đô úy Đồ Thư đem quân Lâu Thuyền đi đánh Bách Việt ở phương Nam, sai Giám Lộc đào cừ vận lương để vào sâu đất Việt. Người Việt bỏ trốn. Quân Tần cầm giữ lâu ngày, lương thực thiếu hụt. Người Việt ra đánh, quân Tần thua to. Nhà Tần lại sai Uý Đà đem quân đóng giữ đất Việt Đương. Bấy giờ nhà Tần ở phía Bắc thì bị hoạ với người Hồ, ở phía Nam thì mắc với người Việt, đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái không được. Hơn mười năm con trai mặc giáp, con gái chuyên chở, khổ không sống nổi, tự treo cổ ở cây dọc đường xác chết nhìn nhau. Đến khi hoàng đế Tần mất thì thiên hạ cả phản”. Trước Tư Mã Thiên thì Lưu An tác giả sách Hoài Nam Tử đã chép chi tiết hơn rằng: “Nhà Tần tham cái lợi sừng tê, ngà voi, long chả, ngọc châu ngọc cơ, lại sai quan uý là Đồ Thư phái 50 vạn binh, chia làm 5 đạo quân. Một đạo đóng ở Đào Đàm Thành, một đạo giữ ải Cửu Nghi, một đạo đóng ở Đô Phiên Ngung, một đạo giữ cõi Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can, ba năm không cởi giáp giãn nỏ. Giám Lộc không có đường để chờ lương, lại lấy quân đào kênh mà thông đường lương, để đánh người Việt, giết được quần trưởng Tây Âu là Địch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào rừng rú, cùng ở với cầm thú, không chịu để cho nhà Tần bắt rồi cùng nhau đặt người kiệt tuấn làm tướng, ban đêm ra đánh cả phá quân Tần, giết được uý Đồ Thư. Quân Tần chết thương mấy chục vạn. Bèn phái những người bị đày đến đóng giữ”.

Cuộc kháng chiến trường kỳ của người Việt chống quân Tần đó là do một bộ phận người Tây Âu liên hiệp với người Lạc Việt tiến hành, dựng lên nước Âu Lạc chặn đứng không cho người Hán tộc tiến xuống đất Đông Dương và miền Đông Nam Á.

Thế là cái mưu đồ bành trướng xuống Đông Nam Á của nhà Tần bị cuộc kháng chiến ngoan cường của tổ tiên dân tộc ta làm thất bị từ tận thế kỷ III trước Công nguyên.

Tiếp theo Tần Thuỷ Hoàng là thuỷ tổ của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc kế thừa chế độ quân chủ chuyên chế của nhà Tần, không triều đại nào là không kế thừa luôn chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của Tần Doanh Chính.

Sau khi nhà Hán thống nhất Trung Quốc, chấm dứt cuộc đại loạn tiếp sau khi nhà Tần sụp đổ, Hán Võ đế lại dốc toàn lực lượng của Trung Quốc mới được phục hồi để tiến hành ngoại xâm đại quy mô phía Bắc. Hán Võ Đế phái đến 120 vạn binh đánh đuổi bộ tộc Hung Nô khiến họ phải lui về miền Mạc Bắc và một bộ phận là Nam Hung Nô phải đầu hàng và triều phục nhà Hán, sang thời Đông Hán thì tướng quân Đậu Hiến lại mấy lần đánh phá Bắc Hung Nô, khiến di tộc của họ phải sang phương Tây để sau này tham gia cuộc đánh phá Tây đế chế La Mã. Về phía Tây Trung Quốc là các nước gọi chung là Tây Vực, vốn là những nước phụ thuộc của Hung Nô, nhà Hán đương đánh phá Hung Nô thì phái Trương Khiên, rồi nhà Đông Hán lại phái Ban Siêu sang sứ các nước ấy, vừa dùng quân sự để uy hiếp doạ nạt vừa dùng mưu mô để dụ dỗ mua chuộc, khiến uy thanh của Trung Quốc đạt đến tận bờ phía Đông Địa Trung Hải. Về phía Tây Nam thì nhà Hán kiêm tính các nước nhỏ Tây Nam Di trước kia nhà Tần chưa chinh phục được, đặc biệt là ba nước Dạ Lang, Điền, Cùng Đô, đặt làm châu quận, còn ở phía nam thì Triệu Đà là một huyện lệnh của nhà Tần ở quận Nam Hải đã thừa cơ cuộc loạn khoảng Tần Hán mà dựng nước Nam Việt, Hán Võ Đế đã dùng mánh khoé kết hợp với quân sự diệt nước Nam Việt, rồi dùng gián điệp và mưu gian mà chiếm luôn nước Âu Lạc cũ, chia đất này làm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Thế là cái mục tiêu nhà Tần dùng bạo lực đơn thuần không thể đạt được, nhà Hán không mưu gian quỷ quyệt đã đạt được dễ hơn. Nhưng nhân dân Âu Lạc vốn tha thiết tự do độc lập không thể cam tâm làm nô lệ cho người phương Bắc sai khiến, nên chỉ sau khoảng một thế kỷ họ đã theo lời hiệu triệu của hai vị nữ anh hùng Trưng Trắc, Trưng Nhị dòng dõi của Lạc tướng Mê Linh, tức dòng dõi Hùng Vương của nước Văn Lang xưa, mà nổi lên đánh đuổi bọn thống trị ngoại tộc, nhà Đông Hán phải phái viên lão tướng đầy kinh nghiệm Mã Viện sang mới chinh phục lại được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và áp đặt hẳn chính sách trực trị để xúc tiến công cuộc đồng hoá dân Âu Lạc bằng sự di thực ồ ạt những phần tử mạo hiểm và xấu xa trong dân gian Hán tộc và bằng sự thâm nhập ào ạt của văn hóa Hán tộc. Nhưng trong suốt thời kỳ Bắc thuộc thứ hai này nhân dân Âu Lạc vẫn bền bỉ chống đối, cuộc đấu tranh lâu dài ấy mở đầu bằng những cuộc nổi dậy của quân lính Giao Chỉ và Cửu Chân không chịu để cho bọn quan lại Hán tộc điều động đi xâm lược lại nước Lâm Ấp mới được thành lập ở quận Nhật Nam. Rồi sau đó cứ khoảng vài ba chục năm một lần, nhân dân Giao Chỉ và Cửu Chân lại nổi lên đánh giết bọn quan lại Hán tộc tàn bạo tham nhũng.

Sang thời Tam Quốc, anh em cha con Sĩ Nhiếp dùng thủ đoạn khôn khéo trấn an nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân nên giữ vững được cục diện hơn hai chục năm, nhưng sau khi Sĩ Nhiếp chết thì bọn quan lại địa phương cướp giết lẫn nhau, nhân dân lầm than, một vị tù trưởng ở Cửu Chân là Triệu Quốc Đạt và em gái tục danh là Triệu Ẩu nổi lên chống bọn quan lại nước Ngô trong cả nửa năm trời. Qua sự ghi chép vắn tắt và thiếu sót của chính sử Trung Quốc, chúng ta cũng có thể thấy rằng sự chống đối của nhân dân Âu Lạc trong suốt năm thế kỷ của thời kỳ Bắc thuộc thứ hai từ sau Mã Viện không bao giờ ngớt. Đến thời Nam Bắc triều nhân cuộc suy đốn của Trung Quốc bị các bộ tộc phương Bắc chèn ép và xâu xé, nhân dân Âu Lạc cũ đã cử hành một cuộc khởi nghĩa đại quy mô dưới sự lãnh đạo của Lý Bôn, muốn xây dựng một triều đại tự chủ chỉ tồn tại hơn nửa thế kỷ, rồi đến khi nhà Tuỳ thống nhất được Trung Quốc thì ách thống trị của phong kiến Hán tộc lại được đặt trở lại trên toàn cõi đất Âu Lạc xưa, tới thời kỳ Bắc thuộc thứ ba.

Sau khi nhà Đường thay nhà Tuỳ mà thống nhất hoàn toàn Trung Quốc, Đường Thái Tôn nghĩ ngay đến chuyện bành trướng về phương Bắc và phía Tây. Lý Thế Dân kiêm dùng cả hai chính sách quân sự và thông hôn, dùng quân sự để diệt bộ tộc Đột Quyết mà chiếm tất cả vùng phía Nam Đại Mạc, lại dùng quân sự kết hợp với thông hôn mà diệt luôn bộ tộc Thiết Lặc mà chiếm luôn cả miền Mạc Bắc, rồi lần lượt diệt cả các nước Tây Đột Quyết, Qui Tư, Cao Xương, Thổ Phồn, Thổ Cốc Phồn ở miền Tây Vực. Sau lại kết hợp quân sự và chiêu dụ mà thần phục được cả các nước Thiên Trúc (tức Ấn Độ), mở mang bờ cõi đến sát Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải. Về phía Đông thì Đường Thái tôn không thể để yên nước Cao Ly là một nước mạnh ở miền biển chưa chịu thần phục. Sau một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc kéo dài 25 năm, nhà Đường chiếm được toàn bộ Cao Ly, cho Tiết Nhân Quí làm An Đông đô hộ đóng quân ở Bình Nhưỡng để trấn thủ. Ở phía Nam thì nước Vạn Xuân bị nhà Tuỳ diệt Lý Phật Tử mà chiếm lại, nhà Đường thừa thế đặt An Nam đô hộ phủ ở Giao Châu (trung tâm là miền Hà Nội) làm một chính quyền quân phiệt để trấn áp thuộc quốc. Nhưng dưới ách thống trị quân phiệt tàn ngược nổi lên, đặc biệt họ liên kết với người Nam Chiếu ở Tây Bắc và người Chiêm Thành ở Nam làm cho chính quyền đô hộ của nhà Đường suy yếu dần mà cuối cùng đến khi nhà Đường suy vong, họ Khúc thừa cơ tự cường để cho Ngô Quyền lật đổ hẳn ách thống trị của phong kiến Hán tộc mà xây dựng nền tự chủ dân tộc.

Như thế là sau hơn một nghìn năm của nạn thống trị ngoại tộc luôn luôn bị cắt quãng bằng những thời khởi nghĩa, hoặc hỗn loạn, hoặc giải phóng ngắn ngủi, tổ tiên chúng ta từ cuộc kháng chiến bất khuất của Liên hiệp Tây Âu – Lạc Việt đến cuộc quật cường của họ Ngô, là thành phần duy nhất trong các nhóm Bách Việt ở miền Nam Trung Quốc giữ trọn khí phách và bản lãnh của mình mà chống lại sự đồng hoá, sự tiêu hoá của cái khối khổng lồ Hán tộc đã từng đồng hoá và tiêu diệt bao nhiêu tộc loại sừng sỏ ở xung quanh.

Từ sau khi các họ Ngô, Đinh và Lý, Trần kế tiếp nhau xây dựng những triều đại tự chủ và theo hình mẫu của chế độ chính trị mà các triều đại phong kiến Trung Quốc trước kia đã đế lại ấn tích qua hơn nghìn năm của mưu đồ đồng hoá trường kỳ, các triều đại phong kiến Trung Quốc tương đương các nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh vẫn không bao giờ từ bỏ ý đồ ăn sống nuốt tươi cái dân tộc nhỏ bé hơn dân tộc chúng nhiều mà luôn luôn làm vật chướng ngại duy nhất chặn đường không để cho chúng thả sức thực hiện tham vọng bành trướng Đại Hán của chúng xuống miền Đông Nam.

Sau khi nhà Tống thống nhất và ổn định tình hình của Trung Quốc bị xâu xé bởi cuộc diện Ngũ đại thập quốc, Tống Thái Tổ mưu đồ xây dựng một chế độ trung ương tập quyền hùng hậu với một lực lượng quân sự rất lớn nhằm đề phòng những cuộc nổi loạn chống mình, nhưng mưu đồ ấy dẫn đến cái tình hình chính trị hủ bại, tướng kiêu, binh nhác, phú thuế không hai, vét hết của cải của cả nước mà nuôi nấng binh lính ăn không, binh càng nhiều mà thế lực càng yếu. Nhà Tống suy yếu, không thể đối phó với sự uy hiếp của bộ tộc Nữ Chân, phải nhường cắt cho nhà Kim nửa nước phía Bắc, mới nghĩ đến mưu chước bành trước sang nước ta để mong cứu vãn nguy cơ ở trong, nhưng quân Tống hai lần bị Lý Thường Kiệt đánh đuổi vào đến tận nội địa Trung Quốc.

Nhà Tống đã bị con cháu Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt, bộ tộc Mông Cổ chiếm cứ toàn bộ lãnh thổ và thuộc quốc của Trung Quốc trong phạm vi rộng hơn các thời Hán, Đường. Trên đà phát triển ghê gớm của quân Mông Cổ ra tứ phương, người Mông Cổ bị văn hoá ưu việt của Hán tộc đồng hóa, các vua Mông Nguyên không thể không kế thừa luôn cái chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của các triều đại Trung Hoa, cho nên đã ba lần xua quân mạnh nhất thế giới đương thời để xâm lược An Nam (tên người Trung Quốc gọi nước ta từ thời Đường) mà cả ba lần đều bị quân ta dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn đánh bại xiểng liểng không thể bén mảng được xuống miền Đông Nam Á.

Chu Nguyên Chương, Thái tổ nhà Minh khôi phục chủ quyền dân tộc và xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế cực đoan, tàn sát công thần, tàn sát văn nhân, giết hại nhân mạng không sao kể xiết. Con thứ của Nguyên Chương là Chu Đệ nổi loạn, đánh giết anh để cướp ngôi, lại một phen giết người như rạ, để trấn áp nhân tâm, rồi phát động ngoại xâm để đề cao uy vọng của mình, do đó sai hoạn quan Trịnh Hoà đem binh thuyền chở 2 vạn người đi sứ các nước Đông Dương quần đảo và sai Trương Phụ đem 80 vạn binh xâm lược nước ta, kế tục thực hiện cái ý đồ bành trướng xuống Đông Nam Á mà lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới bọn thống trị Mông Nguyên cũng không thực hiện nổi. Nhưng không vượt nổi bức tường thành vĩ đại là cuộc kháng chiến trường kỳ của thầy trò Lê Lợi, Minh Thanh Tổ đành phải dùng chính sách thông thương quốc doanh, bảy lần sai Trịnh Hoà dùng binh thuyền vượt biển xuống các đảo quốc miền Đông Nam Á để thoả mãn yêu cầu mậu dịch mà sự phát triển kinh tế của xã hội Trung Quốc từ thời nhà Nguyên mở rộng quan hệ với người Tây dương đặt ra.

Lại một lần nữa mưu đồ bành trướng Đại Hán của Trung Hoa bị chặn đứng. Nhưng do sự yêu cầu thông thương hải ngoại đó của xã hội Trung Hoa mà một số lớn tư nhân trốn tránh cấm chế vượt biên doanh thương đã hình thành những tập thể Hoa Kiều ở các nước Đông Nam Á mà thư tịch Trung Quốc gọi là Trải Oa (Java), Tam phật tề hay Cựu Cang, Ma Lục Giáp (Malacca), Tô-môn-đáp-lạp (Sumatra), Là căn cứ đắc lực cho chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

Cuộc kháng chiến ngoan cường của Lê Lợi đã dồn nhà Minh đến thế suy vi, khiến cuối cùng Trung Quốc bị bộ tộc Mãn Thanh chinh phục. Nhưng cũng như các rợ Hồ và Mông Cổ trước kia, bộ tộc Mãn Thanh văn hoá thấp kém dùng võ lực mà đánh bại được Trung Quốc suy đốn bạc nhược, nhưng họ đã bị hấp thu vào văn hoá cao hơn của Hán tộc; mà cái sức hấp thu văn hoá và xã hội Hán tộc mạnh mẽ cho đến nỗi, cũng như trường hợp người Mông Cổ trước kia, các hoàng đế Mãn Thanh sau khi bị đồng hoá theo Hán tộc đã bị tinh thần Đại Hán chinh phục luôn mà lại xem mình là những kẻ kế thừa đích phái của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. Trên tinh thần ấy, nhà Mãn Thanh đã dùng binh lực áp đảo cả bộ tộc Nội Mông và Ngoại Mông và các bộ tộc theo Hồi giáo ở phía Nam và phía Bắc Thiên Sơn (Tân Cương) lấn chiếm các đất Tây Tạng (trước là Thổ Phồn), Thanh Hải, Miêu Cương (khu Miêu tộc ở miền Đông Vân Nam, Quí Châu), cả nước nhỏ Nê Bạc Nhi (Nepal) ở sát Ấn Độ và buộc cả các nước Miến Điện, Xiêm La đều phải xưng thần triều cống. Trên dải đất Đông Dương, lại cũng chỉ có dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ là quét phăng được mấy chục vạn binh Mãn Hán, do cái tội rước voi về giày mồ của vua Lê Chiêu Thống mà kéo vào giày xéo thành Thăng Long một thời gian ngắn, do đó mà quân lực hùng hậu của Mãn Thanh đã gãy mất đà tiến xuống các nước miền Nam Dương, một lần cuối cùng cái mộng làm bá chủ nghĩa Đại Hán lại bị đập tan. Mãi đến giữa thế kỷ XIX từ khi chính Trung Quốc bị các nước đế quốc chủ nghĩa Tây Phương xâu xé, bọn vua chúa Hán tộc mới phải tạm ngưng cái tham vọng thôn tính nước ta, nhưng bấy giờ thì nước ta lại bước vào một giai đoạn đấu tranh gian khổ mới là giai đoạn chống chủ nghĩa thực dân Pháp.

Nhìn qua lịch trình đấu tranh ác liệt của dân tộc ta như thế thì có thể nói rằng lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại đến suốt cả thời kỳ phong kiến quả là lịch sử đấu tranh không mệt mỏi, ở vị trí mấu chốt chống mưu đồ thôn tính của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

Cái vận mệnh đặc thù như thế của tổ tiên chúng ta cố nhiên không phải là một chuyện may rủi ngẫu nhiên. Trong khi tìm hiểu về cái vận mệnh đặc thù của dân tộc, chúng tôi xin ghi lại đây một số suy nghĩ như sau:

Địa bàn sinh tụ của dân tộc ta ở trên góc chót về Đông Nam của lục địa châu Á, nhìn ra Thái Bình Dương, cái góc lục địa này do ba giải núi từ khối cao nguyên Tây Tạng chẻ ra làm những sơn mạch Miến Điện, Lào và Việt Nam tạo thành cõi đất mà các nhà địa lý học Tây phương gọi là Đông Dương, ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Những sông lớn từ vùng núi cao Tây Tạng chảy ra đã xây dựng những thung lũng tỏa ra nhiều những đồng bằng rất thích hợp cho nghề cấy lúa. Ở triền phía Đông của sơn mạch Việt Nam và Lào, toàn những sườn phủ đầy rừng rậm thỉnh thoảng được khảm một mảnh nương do người mới vỡ và ở dưới thì chẻ ra mấy thung lũng hẹp ở mép rừng xanh với những ruộng nước ở đáy thấp và những ruộng bậc thang trên sườn đồi hai bên. Đó là địa vực cư trú của những tộc ít người từ xưa quen ở rải rác giữa núi rừng để kiếm ăn bằng canh nông và săn bắn. Ở dưới nữa là miền trung du với những thung lũng lớn và những đồi thấp cùng miền đồng bằng do hai sông lớn là sông Hồng và sông Khung cùng chi lưu của chúng tạo thành, lấn dần ra đại dương bằng một dải bờ biển dài; đó là địa vực cư trú của dân tộc Việt ta đã thảm đạm kinh dinh trải hàng ba mươi thế kỷ. Chính vị trí và địa bàn sinh tụ ấy đánh dấu và chi phối vận mệnh và sứ mệnh của dân tộc ta trong lịch sử.

Điều kiện sinh hoạt trên địa bàn ấy rèn luyện cho nhân dân ta một nếp sống vất vả và cần cù, một yếu tố quan trọng của sức mạnh mà chúng ta cần có để đấu tranh với cuộc sống.

Cái địa thế của lãnh thổ nước ta ở nơi “góc bể bên trời’’, ngay trên đường di động lớn của các chủng tộc châu Á theo cái hướng nghìn xưa từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tức núi cao ra biển cả, lại đặt tổ tiên chúng ta vào một tình thế gay go nữa phải đấu tranh để sống còn. Như đã biết, ngay từ buổi đầu lịch sử, tổ tiên dân tộc chúng ta, người Lạc Việt và người Tây Âu đã đương đầu thắng lợi với cuộc xâm lược của mấy chục vạn quân Tần là lực lượng quân sự hùng mạnh nhất của châu Á mà có lẽ của cả thế giới thời bấy giờ. Trong tất cả các nhóm Việt tộc ở miền Nam Trung Quốc đều có văn hóa đồ đồng ở một trình độ xấp xỉ ngang nhau, có thể nói văn hóa đồ đồng của nhóm Lạc Việt đã đạt đến trình độ tương đối cao hơn cả những di vật điển hình là trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh. Đó là một trong những ưu điểm về phương diện văn hóa. Trong đồ đồng Lạc Việt và những di vật khảo cổ khác cùng một hệ thống không có những dấu vết chứng tỏ ở xã hội Lạc Việt đã thịnh hành chế độ nô lệ, mà đồ đồng của nhóm Việt tộc ở Thạch Trại Sơn thuộc tỉnh Vân Nam thì thấy có những chứng tích hiển nhiên về chế độ này, và ở miền Nam Việt trên đất Quảng Đông, Quảng Tây thì sử sách Trung Quốc chép rõ rằng ở thời nhà Triệu đã có tình trạng bắt nô lệ đem bán cho nước Hán. Sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc lắm có lẽ cũng là một yếu tố gây nên sức mạnh đoàn kết của những thành phần công xã còn được tự do bảo vệ đất đai của mình. Những hình thuyền khắc trên trống đồng và thạp đồng lại cho thấy rằng người Lạc Việt là nhóm người mà tổ tiên đã từng vượt biển trong những cuộc viễn du, có lẽ là từ miền khác đến địa bàn hiện tại, điều ấy có thể liên hệ đến tinh thần dũng cảm mạo hiểm của họ. Cuối cùng chúng tôi nghĩ rằng những người định cư trên mảnh đất này bị kẹt ở giữa bốn mặt, phía Bắc là miền đất Quảng Đông Quảng Tây đã bị Hán tộc hùng cường chiếm được, phía tây là rừng sâu núi cao không thể vượt qua, phía Nam là những bộ tộc mà con cháu là dân tộc Chiêm Thành là những bộ tộc ngoan cường không dễ gì mà lấn được, phía Đông là sóng cả biển sâu mà sinh hoạt định cư từ bao lâu đã khiến họ không quen vượt xa được nữa. Trong tình thế ấy người ta khó lòng có chỗ rút lui an toàn trước sức ép của người Hán tộc, cho nên người ta phải sống chết bám lấy mảnh đất của mình mà sáng tạo cái chiến lược chiến thuật vô cùng công hiệu khi một cộng đồng người nhỏ bé phải đương đầu với một lực lượng quân sự hùng hậu, tức chiến lược lấy ít đánh nhiều, chiến thuật chống trường bằng đoản mà ngày sau gọi là du kích. Chính cái nhu cầu bám đất ấy đã khiến tổ tiên chúng ta, từ nước Âu Lạc trải qua hàng nghìn năm tuy bị Hán tộc đô hộ mà không bao giờ chịu ngừng chống cự, đã xây dựng cuộc sinh tụ và phát triển bằng một phương thức tổ chức thích hợp nhất là công xã nông thôn.

Công xã nông thôn xưa, hình thức cuối cùng của công xã nguyên thủy, còn để hình ảnh tương đối đậm nét của nó ở các làng Mường, nhất là tại miền trung du Thanh Hóa. Các làng xã ở vùng đồng bằng trong thời phong kiến và thời Pháp thuộc vẫn là hình thức tiến triển của công xã nông thôn. Điển hình quen thuộc của công xã nông thôn tiến triển ấy là các làng gồm nhiều nhà thuộc về mấy họ, có khi là cùng một họ, chia ra làm nhiều xóm, tụ tập nhau ở sau cái lũy tre cổ điển làm giới tuyến bất khả xâm phạm cho công xã, và ở xung quanh một ngôi đình là nơi hội họp và một ngôi đền thờ vị thành hoàng, nhiều khi là người tộc trưởng khai khẩn hay là khai khai canh. Ở quanh lũy tre là ruộng đất công và tư chia làm những mảnh nhỏ theo nhiều hình dạng khác nhau tùy theo địa thế. Khắp miền đồng ruộng cò bay thẳng cánh, những làng nấp sau lũy tre ấy hiện lên như những hòn đảo ở giữa biển lúa xanh hoặc nối tiếp như xiết chặt tay trên những doi đất dài, nhất là dọc bờ sông, bờ biển. Sự sống bám đất của con người đã rèn luyện cho các công xã ấy một sức mạnh dẻo dai với lòng thiết tha độc lập tự do và tinh thần tương trợ giữa các gia đình và làng xã, khiến chúng ta có thể trải qua bao nhiêu thiên tai và nhân họa mà vẫn đứng vững. Lụt bão có thể phá ruộng phá đê, sập nhà sập cửa, hễ nước rút gió lặng là người ta lại giúp nhau xây dựng và cấy trồng trở lại để tiếp đời sống lam lũ cần cù. Mỗi lần đất nước bị xâm lăng, làng mạc bị phá hoặc bị san bằng, người nông dân bất đắc dĩ phải tản đi để chuẩn bị chống trả, hễ giặc rút lui là người ta lại về tập hợp họ hàng làng xóm và xây dựng tất cả lại từ đầu, rồi lại âm thầm làm lụng để chờ một thiên tai hay một nhân họa mới lại quét sạch trơn, để rồi sau đó nhà cửa, làng xã, lũy tre, ruộng nương lại nổi dậy tươi xanh như trước. Cái tổ chức ấy, cái nếp sống ấy khiến dân tộc ta như một cơ thể bất tử, bị chặt nát ra từng đoạn vẫn sống để cuối cùng hợp nhau lại cho cả cơ thể hồi sinh.

Một nét đặc biệt nữa của công xã nông thôn là mỗi khi sự sống sinh sôi nảy nở của các gia tộc khiến sự sống trở thành quá chật chội ở quê cha đất tổ thì người nghèo khổ nhất hay những người tháo vát nhất, rủ nhau làm như tổ ong chia đàn, tạm từ giã bà con làng xóm, đem theo cả gia đình của mình tìm nơi đất trống ở miền hoang vu cách xa nhiều ít để khai phá thành ruộng nương vườn tược mà xây dựng một làng xã mới theo như kiểu mẫu của làng xã quê hương, nhiều khi rước theo cả bát hương của vị thần thành hoàng làng quê cũ mà thờ, hay tôn người tộc trưởng khai canh hoặc khai khẩn mới làm thành hoàng che chở nhân dân. Nhiều khi Nhà nước là cơ quan tập hợp và chi phối các công xã ở trên cũng đứng ra làm công việc khai hoang, hoặc bằng lực lượng nhân dân dưới sự đốc suất của một ông quan dinh điền hay điền tuấn, hoặc bằng lực lượng quân sự tổ chức thành đơn vị đồn điền rồi cứ theo nhịp độ tiến hành của công việc khai hoang mà xây dựng dần những công xã nông thôn mới theo kiểu mẫu điển hình để gieo cho những người khai hoang chiếm lĩnh những đất đã vỡ. Những đất hoang ở bờ biển hay ở nơi biên giới xa xôi thường được kinh dinh như thế.

Do sự tồn tại bền bỉ dẻo dai của các công xã nông thôn, dân tộc ta có một đặc tính kỳ lạ có khả năng hấp thu tiêu hóa mọi thành phần khác mình mà lịch sử đã cho tiếp xúc. Trong suốt cuộc Bắc thuộc hàng nghìn năm tổ tiên chúng ta đã hấp thu tiêu hóa những yếu tố văn hóa của người Hán tộc mỗi thời di cư sang, hoặc là những người tù tội bị đày, hoặc là những người tránh loạn, hoặc là những thương nhân và quan lại, hoặc là những đạo sĩ tăng đồ truyền giáo. Thậm chí những người Trung Quốc ở lại hẳn đã sinh cơ lập nghiệp mà không có thống kê để biết được là bao nhiêu vạn ức người, cuối cùng đã bị dân tộc ta hấp thu và tiêu hóa. Những người Hán tộc này chỉ dăm ba đời sau là biến thành người bản địa, ví như Lý Bôn, Trịnh Thiều thời Nam Bắc triều ở Giao Chỉ, và có khi chỉ một đời như Lê Cốc thời Tùy ở Cửu Chân là trở thành người Việt cùng với nhân dân Việt nổi lên đánh đuổi quan lại và quân lính Trung Hoa mà được nhân dân Việt thờ làm anh hùng dân tộc. Hán tộc là một dân tộc lớn có sinh khí mạnh mẽ bao nhiêu, từ mấy nghìn năm đã hấp thu bao nhiêu tộc loại mà họ gọi là Man Di Nhung Địch ở bốn xung quanh để càng lớn càng mạnh hơn nữa, đã có năng lực đồng hóa những người Kim, Mông Nguyên, người Mãn Thanh, những người đã chinh phục và chiếm giữ đất nước họ từ mấy chục đến mấy trăm năm, thế mà khi tiếp xúc với dân tộc Việt Nam, tuy rằng có khi có thể lấy thịt đè người mà đắc thắng tạm thời, cuối cùng đều bị chúng ta đồng hóa. Cái sức đồng hóa kỳ diệu ấy do đâu mà có được? Đối với người Hán tộc thì không phải là do sự cưỡng ép bạo lực đã đành, mà đối với những người phương Nam như Chiêm Thành chẳng hạn cũng không thấy mấy khi dùng bạo lực để cưỡng ép đồng hóa. Chính là sức hấp dấn kì diệu của công xã nông thôn Việt Nam đã gây nên sự đồng hóa nhẹ nhàng ấy. Với quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần, công xã nông thôn vốn là một tập thể đóng kín khiến nó nhất thiết không dung nạp những phần tử lạ, vì tất cả những cái gì lạ đều là đáng ngờ. Những người dân ngoại tịch phần nhiều là những dân lang thang không gốc rễ thường làm những nghề không lấy gì làm lương thiện lắm, phải sống ngoài lề của cộng đồng. Nhưng đến khi người nào đã tỏ rõ là người lương thiện chăm lo bản nghiệp (làm ruộng và học hành) thì cộng đồng rất cởi mở vui vẻ nhận vào tập thể của mình mà lấy tình lấy nghĩa nông đỡ đùm bọc nhau. Chính cái tính cởi mở tình nghĩa ấy cộng tồn bên cạnh cái tính đóng kín nghiêm ngặt đã khiến người ta không còn có thành kiến kỳ thị với những người trước lạ sau quen và bằng những quan hệ hôn nhân và giao hảo, những thành phần mới cũ không còn gì phân biệt nhau nữa. Sự cộng tồn của hai năng khiếu đối lập ấy tạo thành sức mạnh vô địch luôn luôn tăng tiến của công xã và của dân tộc, khiến bạo lực dựa trên vũ khí ghê gớm nhất của bọn thực dân cũ và mới gần đây cũng vẫn không làm gì nổi. Một nhà học giả người Pháp từng sống nhiều năm gần gũi nhân dân Việt Nam đã viết rất đúng rằng: “Trong một nước được nhào nặn về mặt chính trị như nước này bằng những cuộc xâm lược, kháng chiến kết đảng, nổi dậy, một môi trường tự nhiên xã hội như vậy đặt cho cái bí mật những quy tắc riêng… Trong những cánh đồng lúa ấy, thường thường không còn xó xỉnh tự nhiên nào cho người ta có thể rút lui như rừng rú chuông chằm. Nếu con người muốn nấp kín hay trốn biệt thì chỉ có thể nấp trốn sau người khác… Những khối dân tộc đông đúc là một nơi trú ẩn công hiệu để chống lại kẻ địch tiếng nói khác và màu da khác’’. Như thế thì kẻ địch ngoại lai không thể lọt vào làng để dò xét tình hình, mà khi quân địch ào ạt kéo đến để mong chụp cả làng thì sự chống cự của cả làng có bờ tre làm thành lũy, hoặc là có thể đánh lui quân địch không thể bấu víu vào đâu, hoặc là lúc đầu không chống nổi thì phải rút lui để cho quân địch vào chiếm làng không và đốt phá, rồi sau khi tập hợp lực lượng chờ cho quân địch trễ tràng thì sẽ úp đánh trở lại, rồi sau khi quân địch bị tiêu diệt hay rút lui thì lại trở về để vừa tiếp tục làm ăn, vừa bố phòng chuẩn bị đợt tiến công khác của địch. Cái sức mạnh của công xã vừa là sức mạnh của một tập thể đồng tâm hợp lực cùng sống chết, cứng như thép, đồng thời là sức mạnh của một tập thể uyển chuyển mềm dẻo như nước mà Lão tử đã nói là: “Thiên hạ không gì yếu mềm bằng nước mà đánh cái cứng mạnh không gì hơn nó”. Với cái sức mạnh vô địch như thép và như nước ấy của công xã nông thôn, tổ tiên chúng ta trước kia đã đánh bại quân Tần và sau hàng nghìn năm thử thách đã đánh bại được mọi lực lượng bành trướng của Hán tộc, đồng thời lại hấp thu được mọi yếu tố tích cực của nhân dân Trung Quốc mà tăng thêm sức mạnh cho mình.

Cần phải nói thêm rằng đối với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán thì dân tộc ta đời nào cũng cương quyết đấu tranh và hết sức mình ngăn chặn, song đối với văn hóa Hán tộc mà thực tế lịch sử đã khiến dân tộc ta phải tiếp xúc và nhiều khi chung đụng, thì dân tộc ta vẫn biết trân trọng những giá trị tích cực thật sự đã khiến tổ tiên chúng ta, mặc dầu trải qua bao nhiêu mất mát to lớn và hi sinh đau đớn, đã có thể từ một cộng đồng bán nguyên thủy chất phác trở thành một dân tộc mà vị anh hùng dân tộc trọn vẹn Nguyễn Trãi ngay trong đầu bài Bình Ngô Đại Cáo là áng Hiến chương độc lập của dân tộc đã tuyên bố lớn rằng dân tộc ta vốn là: “Văn hiến chi bang” và đồng thời đã nêu nhân nghĩa của Khổng Mạnh làm giá trị đạo đức cơ bản chi phối cả cuộc khởi nghĩa: “Điếu dân phạt tội” chống chủ nghĩa Đại Hán.

Tất cả các giá trị tích cực của các nhà tư tưởng Hán tộc ở thời Tiền Tần, từ Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử, Lão Tử đến Tuân Tử, ngay cả sau Tần Hán từ khi các học thuyết của Nho gia, Đạo gia, Phật gia nói chung đã bị bọn thống trị phong kiến biến thành lợi khí đàn áp và nô dịch tinh thần đối với nhân dân, các giá trị tích cực của các học giả ưu tú Trung Quốc còn giữ được phẩm chất làm người đời nào cũng vẫn còn có mặc dầu hiếm hoi, thì các nhà nho ưu tú nước ta, từ Chu An đời Trần, Nguyễn Trãi đời Lê, Ngô Thì Nhậm, Võ Trường Toản đời Tây Sơn, cho đến cả loạt sĩ phu ái quốc trác tuyệt trong thời chống thực dân Pháp, từ Phan Đình Phùng đến Phan Bội Châu, đều đã trân trọng tiếp thu mà làm giàu cho kho tàng tư tưởng của dân tộc. Về văn chương thì những giá trị quí báu trong khi văn Trung Quốc từ Phong Tao thời Tiền Tần đến các thi phẩm trác tuyệt thời Đường thời Tống thì các thi hào văn hào nước ta trải các đời đều lấy làm mẫu mực để noi theo. Chữ Hán mà phong kiến Trung Quốc cho tổ tiên chúng ta học vốn để dùng làm công cụ hành chính đã được tổ tiên chúng ta chuyển dùng làm văn tự dân tộc mà mọi người trìu mến gọi là chữ Ta. Cái “tình nghĩa” sâu sắc lồng qua những ảnh hưởng tích cực của văn hóa Trung Quốc đó, dân tộc ta vẫn luôn luôn trân trọng. Cho đến cả những viện trợ vật chất mà Trung Quốc đã dành cho nước ta trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong thực tế đã góp phần đáng kể vào cuộc kháng chiến thắng lợi ở Điện Biên Phủ và vào cuộc toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng ta cũng vẫn trân trọng mà xem là biểu hiện tình hữu nghị chân thành giữa dân tộc Trung Hoa và dân tộc ta trong mấy chục thế kỷ.

Đấy là những yếu tố tạo nên bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, để có thể ngẩng cao đầu mà tồn tại cho đến ngày nay.

Đào Duy Anh