Friday, September 8, 2023

Ko gian số của chúng ta

 NGHỊ ĐỊNH 72, GIẾNG LÀNG MÔNG PHỤ & TƯ DUY “1.0”

Rất thất vọng về chất lượng văn bản pháp quy của mấy nhiệm kỳ gần đây nhưng phải đến khi đọc Dự thảo Nghị định 72 về “Quản lý dịch vụ internet & Thông tin trên mạng” mới có cảm giác, “Đất nước” dường như không còn nằm trong thứ tự ưu tiên của các nhà ban hành chính sách.

Bộ trưởng Thông tin & Truyền thông[TT & TT] đã từng cứ mở miệng ra là “bốn chấm không”[4.0] nhưng tư duy trong Dự thảo này lại không khác “một chấm không”[1.0] là mấy. 

Số [digital] không chỉ là một ngành kinh tế, là xu hướng mà còn là một hệ sinh thái, hơn nữa nó là hệ sinh thái toàn cầu. Làm chính sách mà chỉ nhìn thấy trong hệ sinh thái ấy dăm kẻ “lợi dụng MXH” để “nói xấu chế độ” thì không những không thể lành mạnh không gian mạng mà còn phương hại đến kinh tế, đánh mất cơ hội của dân chúng và làm mờ mịt hơn tương lai đất nước.

Thật ảo tưởng khi định góp ý với những người soạn thảo những kiến thức căn bản về luật pháp, về quyền tài sản [trên nền tảng số] của người dân, về ranh giới quan hệ hành chính, quan hệ dân sự. 

Không hề đánh giá tác động chính sách lên hệ sinh thái số mà người dân, doanh nghiệp đang làm ăn, kinh doanh, không chỉ trong nước mà cả với thế giới, những người “dự thảo” chỉ nhăm nhe khai quật những công cụ như của “thời kỳ đồ đá” để buộc các nền tảng công nghệ gỡ bài, để dễ xâm nhập vào tài khoản của công dân mạng.

Tướng Nguyễn Mạnh Hùng không nhận ra điều khác biệt [trong di sản] giữa ông và những người tiền nhiệm trong ngành viễn thông. Họ có thể không trực tiếp sản xuất tên lửa hay dựng nên Viettel. Họ tạo điều kiện để ông tạo ra Viettel. Họ xả thân để cạy cửa, đục bỏ những đoạn tường mục, để dân chúng trong các thành trì có thể bước ra thay vì nỗ lực bịt lại những lỗ thông hơi trong cái thành trì ấy. 

Họ mở ra còn ông thì loay hoay nhốt lại.

Ông Hùng cho thấy rất rõ sai lầm, rủi ro của việc đưa hai ngành phát triển công nghệ thông tin với kiểm soát báo chí vào một “tay”.

Tôi tin là khi quyết định kết nối Việt Nam với phần còn lại của thế giới, các nhà lãnh đạo không hình dung hết mức độ dữ dội của internet như nó đã diễn ra. Nhưng, nhìn lại sau gần ba thập niên internet, cả chính quyền và người dân đều trưởng thành hơn chứ không hề suy yếu đi. 

Nhìn từ góc độ cá nhân, cho dù luôn bị tấn công mạng, những điều tốt đẹp mà một thường dân như tôi nhận được luôn nhiều hơn những điều xấu xa, bịa đặt.

Quyền được thông tin và thông tin của người dân là cốt lõi để một quốc gia thịnh vượng. Làm chính sách thì đừng nghĩ tới việc có thể hưởng lợi từ đấy các thứ “quyền rơm…” do mình cài cắm vào. Ai cũng có lúc về hưu. Một ông bộ trưởng thông tin phải lấy làm xấu hổ khi đi ép Youtube, Facebook chặn tài khoản, gỡ thông tin… chứ không phải trưng chúng ra như thành tích.

Cũng không phải là những cái vỗ vai của cấp trên hay những lời cám ơn của quan lại đồng triều khi giúp họ gỡ bỏ vài thông tin khó chịu. Rồi có ngày anh phải thu lu trong phòng lặng, không vâng dạ, không thưa gửi, một mình đối diện với di sản của mình.

Ở làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, có một cái giếng cổ. Năm 2021, có một đoàn làm phim về đã tự ý tô trát và vẽ một cách rất “đồng cốt” lên thành giếng để quay phim. Theo người dân ở đây, sau khi báo chí phản ánh, các chuyên gia bảo tồn của Nhật đã tức tốc quay lại đưa ra các phương án khôi phục. Nhưng, đại diện nhân dân ở đó nói thôi, sự phá hoại ấy cũng là một chứng tích. 


Họ tô vữa lên và vẽ

Giếng làng Mông Phụ hiện nay, sau khi bị phá hoại bởi một "đoàn làm phim"[hình chụp trưa 18-8-2023]

Quyết định của dân làng Mông Phụ làm tôi nhớ, người Đức sau Thế chiến thứ II cũng đã không xóa những dòng chữ mà Hồng quân viết bậy lên nhà Quốc hội. Đấy cũng là lịch sử. Chỉ là, nên có một cái bia đá ghi tên của Đoàn làm phim và người ra quyết định lòe loẹt hóa cái giếng ấy.

Không biết Mông Phụ rồi có làm bia đá không nhưng chắc chắn những người dùng não trạng “1.0” làm chính sách can thiệp vào thời đại “4.0” sẽ được nhắc tên trên bia miệng.

Nhưng, đọc văn bản, thấy cái cách mà các nhà soạn thảo Nghị định 72 ở Bộ TT & TT đang tiếp cận thì bia đá hay bia miệng, với họ, không phải là vấn đề. 

Với đất nước mới là vấn đề.

Chắc chắn đã và sẽ có thêm không ít kẻ khai thác không gian số để “nói xấu Đảng và lãnh đạo”; nhưng không gian số còn là nơi làm ăn kinh doanh của người Việt Nam, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả với toàn cầu. Do đó, không thể coi đây là chuyện “nội bộ” của Bộ TT & TT. Hy vọng, Thủ tướng, các lãnh đạo Chính phủ và lãnh đạo các bộ ngành sẽ không để cho những “bộ óc 1.0” làm phương hại tới lợi ích của người dân, phương hại tới tương lai đất nước.

Trương Huy San

Thursday, September 7, 2023

Chân lý của tôi: Từ cuộc cách mạng giành độc lập và chặng đường đến tương lai (5)

 Phần 2: Xứ ĐD thời kỳ 1911-1945

(tiếp theo)

Con đường Hồ Chí Minh & Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02-09-1945

NHÀ LÃNH ĐẠO BẬC THẦY

Thời điểm này cũng là một bước ngoặt lớn. Thế chiến thứ 2 nổ ra, người Nhật đã chiếm quyền kiểm soát ĐD mà không vấp phải bất cứ sự chống trả nào. Giới cầm quyền tại đây (hầu hết thuộc chính quyền Vichy) đã chấp nhận hợp tác với người Nhật. Bằng sự táo bạo và "ảo tưởng" tuyệt vời, HCM đã lợi dụng Thế chiến thứ 2 để tập hợp một liên minh những người theo chủ nghĩa dân tộc và những người cộng sản VN để thành lập tổ chức gọi là Việt Minh (tức Mặt trận Độc lập).

Việt Minh đã phát triển một lực lượng du kích lên đến khoảng 10 nghìn người. Những "Người đàn ông mặc áo đen" này đã quả cảm chiến đấu chống lại quân Nhật trong rừng rậm và tạo nên nhiều thành công đáng kể.

Những hành động của HCM đã đưa ông trở thành là 1 nhà dân tộc chủ nghĩa của VN và là đồng minh của Hoa Kỳ chống lại người Nhật. Ông nói: 

❝Tôi đã là một người Cộng Sản, nhưng không còn nữa. Tôi là một người con của đất nước Việt Nam, và không là gì khác.❞

Năm 1942, các báo cáo cho thấy HCM đã đến Côn Minh theo đề xuất của các cố vấn quân sự Mỹ. Ông bị bắt tại đó bởi người của Tưởng Giới Thạch và bị cầm tù cho đến tháng 9/1943 trước khi được trả tự do theo yêu cầu (được cho) là của phía Mỹ. 

Trong quá trình được trả tự do, HCM đã hợp tác với một tướng lĩnh Quốc Dân Đảng (tướng Trương Phát Khuê) để thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong tại miền Nam TQ thành 1 khối thống nhất mà hệ quả của nó là vào năm 1944, HCM đã chấp nhận trở thành người đứng đầu của Chính phủ Cộng hòa Lâm thời VN. Chính phủ này tuy chủ yếu chỉ là hình thức trên giấy, nhưng nó đã cho phép HCM gửi một thông điệp mạnh mẽ đến Cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS). Vì vậy, khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội năm 1945, trong đoàn tùy tùng của ông có mặt những sĩ quan quân sự cấp cao của Mỹ. Cũng trong giai đoạn này, ông đã lấy tên chính thức là Hồ Chí Minh*.

OSS chụp ảnh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh tư liệu chọn từ net)

Đội Nai - OSS và Cơ hội bị bỏ lỡ 

Năm 1945, Đội Nai - OSS (Deer Team - Office of Strategic Services) đã nhảy dù xuống khu rừng già Kim Lũng, Tân Trào. Ở đây họ đã gặp Mr. Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) với nhiệm vụ huấn luyện Việt Minh cách sử dụng vũ khí bộ binh. Trong 2 tuần rưỡi, họ đã huấn luyện cho 85 người. Tất cả những người này đều thông minh, có học thức và trở thành hạt nhân của quân đội HCM.

Bộ phim tài liệu "Có một cơ hội bị bỏ lỡ" (đạo diễn Nguyễn Mộng Long) được thực hiện về Henry Arthur Prunier, một trong số 7 thành viên của Deer Team - OSS (DTO). Ông Henry từng học tại Đại học Berkeley và học tiếng Việt (sau khi gia nhập quân đội). Sau đó ông được Cục Tình báo Chiến lược (OSS) tuyển chọn và tiếp tục huấn luyện đặc biệt cho đến khi đến Texas học lớp huấn luyện cơ bản để chuẩn bị cho nhiệm vụ "tình nguyện đến Đông Dương". Sau đó, ông được chuyển đến Calcutta và bay đến căn cứ OSS tại Côn Minh. Đội DTO được thành lập ngày 16.05.1945 và chuẩn bị nhảy dù xuống căn cứ của Việt Minh vào tháng 8 cùng năm với nhiệm vụ mới.

      Nói về Chủ tịch HCM, Henry Prunier thuật lại: "lúc mới đến, ông chưa thể gặp ngay Mr. Hồ, bởi lúc ấy Mr. Hồ bị bệnh sốt rét và một số bệnh nhiệt đới khá nặng. Quân y sĩ Paul Hoagland của DTO đã điều trị cho ông bằng ký ninh với một phác đồ thuốc trị liệu và sau đó, tình hình đã khá hơn một chút. Khi tôi gặp ông ấy, ông ta chỉ có da bọc xương. Tuy nhiên, ông có cặp mắt sáng. Đôi mắt của ông rất sáng, và rất thông minh. Tôi thực sự thoải mái khi trò chuyện với ông ấy. Ông ấy nói được tiếng Anh. Nhưng tôi với ông ấy trao đổi với nhau bằng tiếng Pháp. Tiếng Việt của tôi không đủ để trò chuyện (dù đã được học 3 năm và đảm nhiệm vai trò phiên dịch của DTO). Khi tôi nói là tôi ở Massachusetts, ông đã vui vẻ nói về chuyện này bởi vì ông từng có thời gian ở Boston. Trong thực tế, ông đã ghi chú lên sổ văn phòng của Parker House, vốn là khách sạn nổi tiếng tại Boston. Ông đã có thời gian ở Boston nhưng lưu lại ở New York lâu hơn..."

      Bộ phim như "những trang hồi ký" làm sáng tỏ quá khứ của Henry với những ý kiến, bài viết của một số nhà nghiên cứu sử học, nhà báo, cựu chiến binh... trong và ngoài nước về những khởi đầu trong quan hệ Việt Mỹ. Đặc biệt là cuộc phỏng vấn đại tá Archimedes Patti nói về chính sách của Mỹ đối với VN năm 1945. Patti từng phụ trách Ban ĐD thuộc Pháp của OSS, là người đứng đầu phái bộ tiền trạm OSS đến Hà Nội vào tháng 8.1945 và tiếp xúc mấy lần với Chủ tịch HCM. Patti được coi là một trong số những "người trong cuộc" hiểu biết rất nhiều tình hình lịch sử VN.

     Có hai vấn đề chính được đặt ra trong phim:

      1. Trong lịch sử quan hệ Việt Mỹ, từng có sự hợp tác và tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa OSS với Việt Minh trong thời kỳ chống phát xít Nhật. Nhưng tại sao DTO đã sớm rút đi và những bức thư của Chủ tịch HCM gửi chính phủ Mỹ, trong đó có nội dung chủ yếu "...Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ"; thế nhưng Tổng thống Truman đã không trả lời bất cứ văn bản nào.

      2. Vì sao người Mỹ lại ủng hộ Pháp chiếm lại ĐD? Lẽ ra, VN đã không bị đẩy vào thế đối đầu với Pháp mạnh hơn mình gấp trăm lần và sau đó với chính người Mỹ mạnh gấp ngàn lần!

Tuy nhiên, với góc nhìn chiến lược từ kinh nghiệm Đông Dương, ông Patti nhận định:

  ..."Chúng ta đã có HCM. Chúng ta đã có Việt Minh. Chúng ta đã nắm vấn đề ĐD. Nhưng vì lý do bất chấp logic mà hôm nay chúng ta đã nhận ra rằng, chúng ta đã ủng hộ người Pháp trong cuộc chiến mà chính họ còn gọi là "la sale guerre" (cuộc chiến bẩn thỉu). Chúng ta đã gánh 80% chiến phí cho người Pháp và sau đó 100% cho cuộc chiến giữa Mỹ và VN."

      Henry Prunier từng bị chỉ trích vì cho rằng: "lẽ ra không nên để xảy ra cuộc chiến tranh với Việt Nam". Claude Berube cũng tán thành quan điểm này: "Rất tiếc cho Henry Prunier đã bị chỉ trích trong khi ông lại có cái nhìn hết sức độc đáo về những người lãnh đạo cuộc chiến chống Mỹ. Đó chính là cơ hội bị bỏ lỡ."

 Chủ tịch HCM (chọn từ net)

Những ngày tháng 8

Ngày 14/8, tiếng súng chiến tranh lặng im trên toàn châu Á. Nhật đã đầu hàng và tướng Mc Carthur bay đến vịnh Tokyo để ký kết các điều kiện đầu hàng với Hoàng gia Nhật bản trên chiến hạm Missouri. Từ các căn cứ địa của mình trên vùng rừng núi Tân trào, Việt minh (VM) bắt đầu hành động. Ngày 16, cùng ngày với Đại hội quốc dân, các đơn vị của Võ Nguyên Giáp (VNG) do nhóm Con Nai hộ tống bắt đầu tiến xuống phía Nam, hướng về Hà Nội. Lác đác tại một số vùng nông thôn Bắc bộ, nơi nạn đói và lụt lội đã cướp đi sinh mạng của hơn 1 triệu người trong nửa năm đầu, dưới sự chỉ đạo của các hội VM địa phương, nông dân đã nổi dậy cướp chính quyền, phá kho thóc và thành lập các Uỷ ban giải phóng nhân dân địa phương.

Ở Hà Nội, rạng sáng chủ nhật, ngày 19/8. Dòng người từ các huyện Thanh trì, Thường tín, Phú xuyên, cuồn cuộn đổ vào thành phố hoà cùng với công nhân, sinh viên, tiểu thương và các công chức tò mò, bắt đầu tụ tập trước quảng trường Nhà hát Lớn. Đàn ông mặc áo nâu, đi dép cao su, đàn bà áo nâu, chít khăn mỏ quạ, đi giày cỏ. Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Cuộc diễu hành bắt đầu bằng phút mặc niệm các chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Dàn nhạc chơi giai điệu mới "Đoàn quân Việt nam đi", các lãnh đạo VM tuyên bố lệnh Tổng khởi nghĩa. 

Đoàn người chia làm nhiều ngả chiếm Bắc bộ phủ, Dinh Toàn quyền, Trụ sở bảo an và các địa điểm quan trọng khác. Họ hầu như không gặp sự chống đối nào, ngoại trừ một chút khó khăn ở Bắc bộ phủ. Sau khi đàm phán, quân Nhật tuyên bố sẽ không can thiệp. Uỷ ban cứu quốc bù nhìn hoàn toàn bị tan rã. Đến cuối ngày, toàn bộ thành phố đã nằm trong tay quân khởi nghĩa. Đoàn diễu hành đi khắp các phố hát vang những bài ca cách mạng và hô khẩu hiệu đòi độc lập dân tộc. Chắc chắn là rất ít người trong số họ hiểu VMlà ai và tại sao lại có thể đại diện cho dân tộc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Thế giới đã kết thúc và viễn cảnh ĐD ko còn người Pháp cũng đủ để vui mừng.

Tình hình miền Trung và ở Huế diễn biến chậm hơn do không có vùng giải phóng như ở Bắc bộ để huy động lực lượng. Ngày 21/8, Hà Nội gửi điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị. Nhà cách mạng, nhà thơ trẻ Tố Hữu được phái vào Huế để phát động phong trào. Sáng 22/8, hơn 100,000 người tụ tập trước cửa Ngọ Môn để chứng kiến Uỷ ban khởi nghĩa chiếm chính quyền mà không gặp phải sự kháng cự nào của quân Nhật.

Nam bộ là vùng tiến triển khó khăn hơn. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, tất cả các lãnh đạo Đảng hoặc chết hoặc đang ở trong trại giam. Vì mất liên lạc với TW, sau khi trốn khỏi nhà tù, Trần Văn Giàu (TVG) đã xây dựng lực lượng lại từ đầu. Xứ uỷ Nam kỳ quyết định hành động theo chỉ thị của Hội nghị 6 năm 1939, kêu gọi chuẩn bị lực lượng để tổng khởi nghĩa. TVG tập trung vào khu đô thị Sài gòn - Chợ lớn, cùng lúc xây dựng phong trào tại các vùng nông thôn. 

Ngày 14/8, Nhật chuyển giao quyền lực. Thừa cơ, ngày 16, khi Sứ thần của Bảo đại là Nguyễn Văn Sâm chưa đến nơi, các phần tử dân tộc không cộng sản lập ra Mặt trận Quốc gia Thống nhất, chiếm lấy chính quyền. Cũng lúc đó, ngày 14 TVG đã họp các đồng chí của mình để chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 20, sau khi nghe tin Hà Nội thành công, TVG đã yêu cầu Mặt trận Quốc gia từ chức vì quá dính líu với Nhật, chắc chắn sẽ không được Đồng minh chấp nhận. Giàu thông báo chỉ có VM mới được sự hỗ trợ hoàn toàn của Đồng minh. Đang hoang mang, Mặt trận lại được tin Bảo Đại đã gửi điện đề nghị Hà Nội lập chính phủ cộng hoà thay thế Trần Trọng Kim, cả hội vội vàng giải tán. Ngay lập tức Giàu thành lập Uỷ ban Nam bộ do chính ông làm chủ tịch, triệu tập cuộc họp Xứ uỷ, quyết định khởi nghĩa vào ngày 25. 

Biểu tình trước cửa Phủ Khâm sai (Bắc bộ phủ) ngày 19-8-1945

Trước giờ phút lịch sử

VN trở thành thuộc địa của thực dân Pháp từ giữa thế kỷ 19. Trong Thế chiến thứ hai, Đế quốc Nhật Bản đã thay Pháp chiếm đóng VN từ năm 1940. Khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh giữa năm 1945, VM có cơ hội lớn để chiến thắng và cơ hội này đã được VM tận dụng.

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, HCM đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam**. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 1945, HCM mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo. Ngày 31 tháng 8 năm 1945, ông bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập và đến 2 tháng 9 năm 1945, ông đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn quần chúng, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối tháng 8 năm 1945, HCM lo chuyện tác động đến các lãnh đạo của phe Đồng Minh theo hướng công nhận nền độc lập của VN, cũng như chuyện ông phải nắm quyền lực nhà nước hoặc phải tự thể hiện bản thân như là biểu tượng dân tộc của sự thống nhất và tự quyết. HCM đã lựa chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác với các vua, chúa trước đây của VN khi ông trực tiếp đọc bản Tuyên ngôn chứ không cần thông qua 1 bên trung gian nào đó. Điều này cũng khác hẳn với Đế quốc Việt Nam, bên đã không triệu tập một buổi đọc bản Tuyên ngôn độc lập có sự tham gia của quần chúng. Còn lễ thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại, cựu hoàng dường như không được mời nói chuyện trước công chúng cho đến lúc đọc lời tuyên bố thoái vị đầy cảm xúc trước đám đông ở cổng Ngọ Môn tại Huế vào ngày 30 tháng Tám. Cái cách HCM đọc bản tuyên ngôn cũng phảng phất nét tương đồng với không khí lộng lẫy và hoành tráng của các buổi lễ chính trị tại Tây Âu, Mỹ và Liên Xô. HCM đã lựa chọn quảng trường Puginier, sau này được gọi là quảng trường Ba Đình, một nơi rộng rãi không bị các chướng ngại vật che khuất tầm nhìn nhằm đủ chỗ chứa lượng khán thính giả càng nhiều càng tốt dù chỉ có vài ngày thông báo. Đối với đồng bào Công giáo, ngày hôm đó cũng là ngày “Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam” của Công giáo, tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình, đặc biệt vào thế kỉ 19, nên các nhà thờ ở Hà Nội buổi sáng đó tràn ngập người tham dự thánh lễ. Việc lựa chọn ngày 02/09 của Hồ Chí Minh còn nhằm gắn kết chính quyền mới với phía Giáo hội Thiên chúa giáo. Các linh mục sau buổi lễ của mình đã cùng các giáo dân hướng về Quảng trường Ba Đình để tham dự buổi lễ. Những nhà sư trụ trì ở những ngôi chùa cũng làm tương tự vậy. Các giáo viên trang bị còi hay loa dẫn đầu đám trẻ con hát những bài ca cách mạng. Đám thanh niên đặc biệt chú ý đến cách những lá quốc kì đỏ rực mà những nhóm thiếu nữ đang cầm tương phản với những chiếc áo dài trắng tinh khôi.

Nhà 48 Hàng Ngang, HN (chọn từ net)

(còn nữa)

(*): Trích từ bài HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN của ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (1969). Dịch giả: Hube

(**): Tổ chức này được thành lập ngày 03-02-1930 Từ ngày 3 đến 7-2-1930, tại Cửu Long (Hong Kong, TQ), dưới sự chủ trì của NAQ, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản ở VN là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu lãnh đạo phong trào cách mạng VN tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Wednesday, September 6, 2023

Tư liệu về Hoàng đế cuối cùng

FB-Dương Sông Lam: Mình là người thích sử, đọc sách nhưng gần 2/3 cuộc đời mới đọc Chiếu thoái vị của Vua Bảo Đại. Một ông Vua cuối cùng của triều Nguyễn. Đọc để hiểu hơn, để biết hơn về Vua, để hiểu về 1 người đã khó, nhất lại là Vua thì càng khó, đọc bài chiếu thấy khác nhiều như một số bài sử mình học, mình đọc về vị Vua cuối cùng triều Nguyễn.

CHIẾU THOÁI VỊ

"Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Vì nền độc lập của Việt Nam.

Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc. Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.

Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.

Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước. Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:

—Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.

—Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.

—Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.

Việt Nam độc lập muôn năm..."

Monday, September 4, 2023

Về 1 trong những trí thức hàng đầu của VN trong vụ án Nhân văn-Giai phẩm

Bi kịch của triết gia Trần Đức Thảo

Cách đây 30 năm, ngày 28-4-1993, trước linh cửu của giáo sư Trần Đức Thảo, Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Paris, đã đọc một thông báo vừa được Hà Nội gửi qua, nguyên văn như sau:

“Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Tổng hợp cùng di quyến thương tiếc loan tin: Giáo sư Thạc sĩ Trần Đức Thảo sinh năm 1917 tại xã Phong Tháp, Từ Sơn, Hà Bắc, nguyên Đại diện Việt kiều tại Pháp, Ủy viên ban Liên viện Paris, thành viên ban Phụ trách Nghiên cứu Sử Địa, giáo sư Trường Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuyên viên cấp cao của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Huân chương Độc lập hạng nhì, đã nghỉ hưu, sau một thời gian lâm bệnh đã được Đại sứ nước ta tại Pháp tận tình chăm sóc, nhưng do tuổi cao bệnh nặng, đã từ trần vào lúc 8 giờ 10 phút, giờ Paris tại bệnh viện Broussais Paris, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ hỏa táng tại Paris ngày 28-4-93, lễ truy điệu giáo sư Thạc sĩ Trần Đức Thảo được cử hành lúc 10 giờ ngày 28-4-93 tại giảng đường Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội”.

Giáo sư Trần Đức Thảo là một nhà triết học nổi tiếng của Việt Nam. Theo cuốn “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, học giả Hoàng Văn Chí kể rằng: Trần Đức Thảo là con cụ Trần Đức Tiến, một tiểu công chức tòng sự tại sở Bưu Điện Hà Nội. Lúc còn trẻ học ở Lycée Albert Sarraut, ông hết sức thông minh. Các thầy dạy ông, nhất là giáo sư Ner, đã phải kêu lên là không chấm nổi bài của ông. Ông đậu tú tài Pháp ban Triết học năm 1935. Năm sau, ông đậu đầu trong kỳ thi vào Trường Sư phạm École Normale Supérieure của Pháp. Sau đó, ông tốt nghiệp thạc sĩ Triết học và dạy tại Đại học Sorbonne.

Lúc đầu ông theo chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Sartre, nhưng từ năm 1946, ông thiên về chủ nghĩa Marx và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Trong một cuộc phỏng vấn, ông cho biết: “Tôi là người nghiên cứu về chủ nghĩa Marx; tôi không phải là người Cộng sản, tôi không hề xin vào Đảng Cộng sản Việt Nam” (khi ấy gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương).

Trần Đức Thảo là một người yêu nước. Năm 1945, khi thực dân Pháp chuẩn bị trở lại Đông Dương, trong một cuộc họp báo, một ký giả Pháp đã hỏi ông:

“Nếu mai đây quân đội Pháp trở lại Đông Dương thì họ sẽ được dân chúng Đông Dương đón tiếp ra sao?” Ông đã trả lời không do dự: “Bằng những phát súng”.

Câu trả lời trên đã nói lên tâm tư của ông đối với đất nước và đã trở thành hiện thực. Quân đội Pháp đã phải đối đầu với cuộc kháng chiến của toàn dân Việt Nam, mở đầu với những phát súng ngày 23-9-1945 tại Sài gòn

Nhưng cũng vì câu trả lời này mà ông và một số thân hữu đã bị chính quyền của De Gaule bắt giam vào khám lớn La Santé trong 3 tháng. Khi còn trong tù, ông đã viết một bài báo có nhan đề “Về vấn đề Đông Dương” gửi đăng trên tạp chí Les Temps Modernes số ra tháng 2 năm 1946).

Năm 1950, dư luận đặc biệt chú ý tới 5 buổi tranh luận giữa Jean-Paul Sartre và Trần Đức Thảo. Cuộc tranh luận giữa hai triết gia nổi tiếng này đã được thỏa thuận trước là sẽ ghi lại và xuất bản, theo nguyên văn cuộc tranh luận giữa hai người, nhưng cuộc tranh luận đã đi đến chỗ gay gắt vì những bất đồng ý kiến quá sâu sắc. Việc xuất bản do đó bị ngưng lại và đưa đến việc thưa kiện giữa hai người. Vụ thưa kiện đang được tòa án thụ lý thì Trần Đức Thảo quyết định về nước trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Vì theo ông: “… Chiến tranh đã bùng nổ ngày càng căng thẳng… thế nên sau nhiều đêm suy nghĩ đắn đo, tôi quyết định bỏ hết để đi về”. Và ông đã về thật, bỏ hết quyền lợi vật chất và danh vọng. Những bạn bè thân thiết cho đây là một quyết định sai lầm vì liệu một nhà nghiên cứu triết học sẽ làm được gì trong bưng biền kháng chiến. Ông cũng đã nghĩ đến điều đó và ông tâm sự: “Nếu chuyến trở về này mà không làm được gì thì cuộc đời tôi kể như chết từ hôm nay”. Ông rời Paris đi Prague, thủ đô Tiệp Khắc, qua Moscow, Bắc Kinh, về Việt Bắc. Đó là thời điểm cuối năm 1951.

Nhà văn Tô Hoài kể về những ngày đầu của Trần Đức Thảo ở Việt Bắc:

“… Trần Đức Thảo ở Pháp về Việt Bắc… Trần Đức Thảo còn viết cả bài quy định giai cấp tiểu thương, tiểu chủ cho các nhân vật Thúc Sinh, Mã Giám Sinh trong Truyện Kiều. Trần Đức Thảo hồn nhiên, hăng hái bằng các sinh hoạt của anh lúc ấy. Thảo đem cho hết đồ Tây, Thảo mặc áo nâu, đi chân đất. Chúng tôi ngủ không màn, mặc dầu chúng tôi ở rừng đầu sông Lô, đêm đến muỗi nhiều như trấu. “Về muộn mà, tớ phải luyện tập gian khổ cho kịp với các cậu”. Trần Đức Thảo nói đứng đắn thế. Chẳng bao lâu, Thảo lăn đùng ra sốt rét xanh tái…” (Tô Hoài, Cát Bụi Chân Ai).

Nhưng cũng trong lúc đó, ông cũng choáng váng trước “hiện thực Marxist” mà ông tiếp xúc lần đầu tiên. Ông được giao cho những công tác lặt vặt và trái với chuyên môn. Năm 1953, ông được giao việc dịch các bài nói, bài viết của ông Trường Chinh, người lúc ấy đang được coi là lý thuyết gia số một của Đảng Cộng sản Đông Dương. Và cũng từ mùa hè 1953, ông trực tiếp tham gia cuộc “chỉnh huấn” dưới sự cố vấn của các cán bộ Trung Quốc. Quan điểm thịnh hành lúc bấy giờ của cuộc “chỉnh huấn” và “cải cách ruộng đất” ở vùng do Việt Minh kiểm soát là quan điểm hoàn toàn Maoist, rập khuôn Trung Quốc.

Về Hà Nội, Trần Đức Thảo được cử giữ chức Chủ nhiệm khoa Sử trường Đại học Hà Nội. Cuối năm 1956, một người trong nhóm “Nhân văn” là Nguyễn Hữu Đang (người đã dựng lễ đài Độc Lập tại Hà Nội năm 1945) đến gặp Trần Đức Thảo và nhờ ông viết bài. Ông nhận lời, và trên báo Nhân văn số 3, ngày 15-10-1956, có bài viết của ông có nhan đề “Nỗ lực phát triển Tự do, Dân chủ”. Tiếp theo đó là bài “Nội dung Xã hội và hình thức Tự do” trên “Giai phẩm mùa Đông”. Hai bài viết có tác dụng như hai quả bom nổ giữa lòng Hà Nội. Ngay lập tức ông bị cách chức, bị kiểm điểm cùng với tất cả những ai có liên quan đến “Nhân văn” và “Giai phẩm mùa Đông” như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Lê Đạt… Trần Đức Thảo nói riêng và nhóm “Nhân văn – Giai phẩm”.

Phạm Huy Thông, một trong những trí thức hàng đầu của miền Bắc lúc bấy giờ, đã viết bài: “Một triết gia phản bội chân lý: Trần Đức Thảo” đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 4-5-1958, lúc cuộc đấu tố bước vào thời kỳ cao điểm: “… Thật ra thành tích học thuật cũng như thành tích chính trị của Thảo ở Pháp trước đây, nhìn lại toàn là những thành tích bất hảo. Mất gốc rễ dân tộc, Thảo chỉ say mê với văn học Hy Lạp, với triết học duy tâm từ Platon đến Hegel với những phương pháp suy luận trừu tượng, hình thức. Trở nên môn đệ của Jean-Paul Sartre, Thảo đã tham gia những hoạt động văn hóa và chính trị phản động của nhóm Les Temps Modernes, do Sartre chỉ huy, nêu cao thuyết “hiện sinh– một thuyết phản động về triết học và chính trị, chủ yếu nhằm chống lại phong trào Cộng sản ở các nước phương Tây. Dưới chiêu bài hiện sinh, người ta thấy tập hợp đủ mọi hạng phá hoại, Tờ-rốt-kít vô chính phủ cùng mọi cở sa đọa về chính trị…” Nhưng nhà trí thức Phạm Huy Thông, một người từng du học ở Pháp, đã không dừng lại ở đó:

“… Ngay từ năm 1945, Thảo công kích những người đem tư tưởng Marxist truyền bá cho kiều bào, công nhân, cho rằng công nhân không có văn hóa, không tiếp thu được hay tiếp thu một cách máy móc thì nguy hiểm… Thảo phỉ báng chính sách ngoại giao của ta mà Thảo cho là đầu hàng, phản bội. Nói về Hiệp ước sơ bộ 6-3-1946, Thảo đã phụ họa với bè lũ Tơ-rốt-kít chống lại chính phủ của ta và đã thốt ra những lời thóa mạ thô bỉ, rất hỗn xược đối với các lãnh tụ của ta… Bọn Tơ-rốt-kít đã có lần gây một vụ đổ máu thê thảm ở trại Ma-đát gần Marseille để đe dọa những kiều bào ủng hộ kháng chiến, khiến hàng chục kiều bào thiệt mạng, hàng trăm kiều bào bị tàn phế, thương tật. Nhiều người đã lên tiếng nói rằng không phải Thảo không có trách nhiệm gì trong vụ khiêu khích bẩn thỉu này…” 

Sau khi nói xấu Trần Đức Thảo đủ điều, Phạm Huy Thông xoay ra “chụp mũ, quy kết chính trị” ông:

“… Mùa thu 1956, tưởng thời cơ đã đến. Từ số 3 trở đi, báo Nhân văn chuyển hướng sang chính trị một cách rõ rệt. Bài “Nỗ lực phát triển tự do, dân chủ” của Trần Đức Thảo được đăng trong số báo ấy, mở đầu cho sự chuyển hướng và được nhóm Nhân văn coi như cương lĩnh của mình… Trần Đức Thảo ở trong đại học và ở ngoài đại học lúc nào cũng lớn tiếng đòi trả chuyên môn cho chuyên môn, đòi trục xuất chính trị ra khỏi chuyên môn… Qua thư của Hoàng Cầm và nhiều tài liệu khác nữa, cho thấy đường lối chính trị của nhóm Nhân văn là do Trần Đức Thảo trực tiếp và chủ yếu vạch ra…” 

Tố Hữu, người chỉ đạo công tác tư tưởng và văn hóa, văn nghệ thời bấy giờ, đã nhiều lần nhắc đến tên Trần Đức Thảo: “… Chúng vu khống Đảng ta là ‘chủ nghĩa Cộng sản phong kiến’ bóp nghẹt tự do, chúng vu khống những người Cộng sản là ‘người khổng lồ không tim’ chà đạp con người… xuyên tạc những quan hệ giai cấp trong xã hội, Trần Đức Thảo cũng đã cố tạo thế đối lập giữa lãnh đạo ‘kìm hãm tự do’ và quần chúng lao động ‘đòi tự do’… Tất cả những luận điệu của chúng rõ ràng không nhằm mục đích nào khác là chống lại lợi ích của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, kích thích chủ nghĩa cá nhân thối nát, tạo nên miếng đất tốt cho những hoạt động khiêu khích, phá hoại của chúng, hòng làm thất bại cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc…” (Tố Hữu, Báo cáo tổng kết cuộc tranh đấu chống nhóm phá hoại “Nhân văn – Giai phẩm” trong Hội nghị Ban chấp hành Hội Liên Hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam lần thứ III tại Hà Nội ngày 4-6-1958).

Đó không phải là lần nhắc đến tên Trần Đức Thảo duy nhất trong bài nói của Tố Hữu. Ở một đoạn khác, Tố Hữu nói:

“… Trần Đức Thảo cố bịa ra cái “hạt nhân duy lý”, là một hỏa mù cốt để xóa nhòa ranh giới giữa cái đúng và cái sai, giữa cách mạng và phản cách mạng…”

Và cuối cùng, Tố Hữu kết luận: “… Lấy đường lối văn nghệ của Đảng Lao động Việt Nam làm vũ khí chiến đấu, giới văn nghệ chúng ta hãy tiến lên tiêu diệt tận gốc đường lối văn nghệ phản động của nhóm Nhân văn – Giai phẩm”. 

Số phận của nhóm “Nhân văn – Giai phẩm” đã được định đoạt: mất quyền công dân, bị tuớc đoạt tất cả, bị cưỡng bức lao động ở một vùng quê. Nhiều năm sau, Trần Đức Thảo mới được trở lại Hà Nội, sống nghèo nàn với tài sản đắt giá nhất là một chiếc xe đạp cũ kỹ. Vợ ông, tiến sĩ Tâm lý giáo dục Nguyễn Thị Nhất, đã ly dị ông để kết hôn với Nguyễn Khắc Viện, một người bạn thân của ông ở Pháp.

Trần Đức Thảo đã sống trong tăm tối,  nghèo khổ cùng cực trong 30 năm. Sau khi ông Nguyễn Văn Linh lên cầm quyền và đưa ra chính sách Đổi mới năm 1986, Trần Đức Thảo mới được viết trở lại. Lúc này ông đã già. Năm 1991, ông được cho qua Pháp ngắn hạn. Hết hạn, ông vẫn ở lại, sống vô cùng túng quẫn. Bị cúp tiền, ông lén nấu ăn lấy thì bị cúp gas, cúp điện. Thấy vậy, Hội Những Nhà khoa học Pháp (Société des Hommes de Sciences) để tỏ lòng ngưỡng mộ đã quyết định trợ cấp cho ông vô hạn định mỗi tháng 10.000 franc (2.000 USD). Nhưng ông vừa nhận được tấm ngân phiếu đầu tiên vào ngày hôm trước thì hôm sau ông qua đời (theo “Trần Đức Thảo, một trí thức lầm đường”).

Copy từ FB-Huỳnh Xuân Lộc

Sunday, September 3, 2023

Xoá bỏ sự phân biệt trong chế độ phán xét theo chủ nghĩa lý lịch

 NGƯỜI VƯỢT LẰN RANH ĐỎ ĐƯA BS TRẦN ĐÔNG A TỪ TRẠI GIAM VỀ BV NHI ĐỒNG 2

Gs.Bs. Trần Đông A, trước 1975, ông  nguyên là Thiếu tá quân y VNCH; sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 2 năm. Cải tạo về, ông vượt biên và bị bắt giam...

Ông Võ Văn Kiệt lúc đó là Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, đã tới thăm ông trong trại để mời gọi ông ở lại làm việc với lời hứa 

"Sau 2 năm làm việc mà Bs thấy không ổn thì tôi sẽ tạo điều kiện giúp Bs đi bằng đường chính thức".

 Ngay sau đó Bs Thiếu tá Trần Đông A nhận lời mời về Bv Nhi Đồng 2 và được mọi người tạo điều kiện để Bs tự do thực hiện chuyên môn của mình. Bs Trần Đông A đã mang hết tâm lực đêm ngày thăm khám và chữa cho các bệnh nhi và Bs đã không còn có thời gian để nghĩ tới "ra đi".

Cho tới lúc có ca mổ song sinh Việt & Đức, hai bác sỹ quân y VNCH làm trưởng - phó ca mổ, là Bs Trần Thành Trai nguyên Đại úy quân y VNCH và Bs Trần Đông A  tiến hành ca mổ. Ca mổ tách hai bé Việt - Đức thành công đã làm cho cả thế giới tôn vinh và ghi tên ông vào lịch sử ngành y thế giới. Sau này khi Đức lấy vợ, Bs Trần Đông A cũng tới chúc mừng !

Ông tuy đã rất lớn tuổi, nhưng vẫn đêm ngày chắt chiu từng giây phút để âm thầm nghiên cứu chuyên môn đào tạo và trau dồi  kiến thức cho thế hệ kế cận. 

Trước khi quyết định mổ tách Trúc Nhi và Diệu Nhi, ê kíp y bác sĩ ở bv Nhi Đồng 2 đã tới mời ông làm cố vấn trưởng cho ca phẫu thuật tách hai bé và kết quả ca mổ đã thành công trọn vẹn.

Xin cảm ơn nguyên TT Võ Văn Kiệt, người dám xóa bỏ lằn ranh đỏ ý thức hệ để tạo điều kiện cho nhân tài Việt có thể phát triển trên quê hương.

Pham Mylan Sưu tầm (Trang Văn chương Miền Nam)

Saturday, September 2, 2023

Chân lý của tôi: Từ cuộc cách mạng giành độc lập và chặng đường đến tương lai (4)

Phần 2: Xứ ĐD thời kỳ 1911-1945

(tiếp theo)

Con đường Hồ Chí Minh & Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02-09-1945

Rất ít dân tộc ở châu Á phải trải qua những cuộc chiến tranh trường kỳ gian khổ như VN để bảo vệ chủ quyền và tồn tại  như 1 quốc gia độc lập trong lịch sử của  mình.

Năm 1858, những toán quân Pháp đầu tiên đã đổ bộ vào Đà Nẵng. Sau thời kỳ bình định, từ đầu thế kỷ 20, Pháp thiết lập chế độ cai quản ĐD với Phủ Toàn quyền đặt ở Hà Nội. Lúc này, những người VN yêu nước ngày càng thất vọng trước sự suy bại của triều đình nhà Nguyễn trong tay người Pháp. Họ băn khoăn với truyền thống "trung quân ái quốc'' lâu đời, nên khi phải đặt mình vào nghĩa vụ phục vụ nền quân chủ ngày càng trở nên mục nát và ko còn phù hợp, họ nhận thấy cần phải cách tân. 

Những người VN cấp tiến nhất đã đặt nhiều hy vọng rằng: người Pháp sẽ thực hiện trách nhiệm truyền bá văn minh cho ĐD và muốn tìm kiếm câu trả lời từ phương Tây về nỗi thống khổ của đất nước mình.
Trong số họ, có 1 chàng trai lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Đối với Thành: ko có cách nào để giải quyết vấn đề này ở trong nước. Anh muốn tìm thấy nó ở nước ngoài. 

Sau khi Marx rời nước Đức để đến Paris vào năm 1843, 68 năm sau (05.06.1911), Nguyễn Tất Thành đã rời tổ quốc của mình để bắt đầu tìm hiểu về nước Pháp và thế giới phương Tây*.


Tàu Latouche Treville, con tàu đã đưa Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài từ Cảng Nhà Rồng (Ảnh: Chọn từ net)

Tàu Latouche Treville (LT) là một tàu nhỏ so với các con tàu vượt đại dương khác. Vì thế cuộc sống của Thành trên tàu hết sức vất vả. Tuy nhiên anh vẫn nhìn đời một cách hóm hỉnh: “nhân vật của chúng ta vừa huýt sáo vừa chùi toa lét và đổ rác“.  LT cập bến Marseilles ngày 6 tháng bảy năm 1911 sau khi đã qua Singapore, Colombo và Port Said. Thành nhận được những đồng lương đầu tiên khoảng 10 frances. Chừng đó chỉ đủ cho vài ngày trên bờ, nhưng Thành đã có thể dừng bước uống cafe trên đường Cannebiere, để được gọi bằng “Ngài”. Thành ngạc nhiên kết luận: “Người Pháp ở Pháp tốt hơn và lịch sự hơn người Pháp ở Đông dương”. 

Thành quay lại tàu trước khi nó nhổ neo và đến Le Havre ngày 15 tháng 7. Sau đó LT đi Dunkirk, rồi quay về Marseilles và neo ở đó đến giữa tháng 9. Từ đó, Thành đã viết một bức thư gửi thẳng cho tổng thống Pháp để xin học tại trường Thuộc địa như một sinh viên thực tập.
Sau đó, Thành nhận được tin là đơn xin học của mình đã bị từ chối. Nhà trường chỉ nhận những học sinh được toàn quyền ĐD giới thiệu. 

Trong những năm đó, Thành đã đến nhiều hải cảng ở Tây bán cầu. Con tàu của anh cũng đã ghé qua bờ Đông nước Mỹ, và Thành đã chọn New York làm nơi dừng chân của mình. Anh rời tàu và quyết định tìm việc để ở lại nước Mỹ. Giai đoạn này là một trong những giai đoạn mập mờ nhất trong cuộc đời của anh. Ngoài giờ làm việc, Thành giao du với những người bạn trong khu China town, ngửa cổ ngắm những toà nhà chọc trời New York, tham dự các cuộc họp của hội da đen Harlem, và ngạc nhiên khi thấy pháp luật công nhận sự bình đẳng của những kẻ nhập cư châu Á. 

Nhiều người  cho rằng Thành rời nước Mỹ vào năm 1913, nơi mà anh cho là 1 biểu tượng chống chủ nghĩa thực dân châu Âu và sẽ giúp VN giành độc lập. Từ Mỹ, Thành đến Anh để học tiếng Anh. Trong một bức thư gửi Phan Chu Trinh (PCT), anh nói rằng đã ở London bốn tháng rưỡi để học tiếng Anh và giao lưu với người nước ngoài. Bức thư chắc phải được viết trước khi nổ ra đại chiến thế giới I, tháng 8 năm 1914, vì Thành còn hỏi PCT sẽ đi nghỉ hè ở đâu. Bức thư thứ hai cho PCT, Thành đã bình luận về sự khởi đầu của chiến tranh. Anh cho rằng những kẻ dây vào sẽ phải lãnh đủ, anh chờ đợi những sự thay đổi lớn ở châu Á và hy vọng chiến tranh sẽ làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của Pháp.

Trong hồi ký của mình Thành đã thừa nhận những công việc rất cực nhọc của mình ở Anh như quét tuyết và đốt lò. Một vài người quen khi gặp Thành ở Pháp đã nhận thấy bàn tay của anh bị cái lạnh làm cho cong queo. Cũng may là sau đó anh tìm được một chân phụ bếp trong khách sạn Drayton Court rồi chuyển đến Carton giúp việc cho đầu bếp nổi tiếng Auguste Escoffier, nhưng anh đã từ chối cơ hội để trở thành đầu bếp.

Ngoài việc lang thang ở Hayden Park với cây bút chì và quyển sách để học tiếng Anh, Thành còn tham gia vào các hoạt động chính trị của Hội công nhân hải ngoại, tham gia vào các cuộc biểu tình đòi độc lập của người Ailen. Có thể là trong thời gian này Thành đã lần đầu tiên làm quen với các tác phẩm của Karl Marx. Anh vẫn không quên nỗi đau mất nước. 

Statue of Liberty @ NY (chọn từ net)

Trong lòng người dân VN giai đoạn đầu thế kỷ 20 vẫn âm ỉ một chủ nghĩa yêu nước xóm làng (village patriotism, chữ của Alexander Woodside). Đại  diện cho nó là tinh thần yêu nước chống Pháp của cụ Phan Bội Châu, nhưng đã thất bại vì là dòng trí thức Nho gia tàn lụi. Cái chủ nghĩa quốc gia kiểu tư sản mà ông Nguyễn Thái Học, ông Xứ Nhu, kể cả cậu ruột ông đã khởi xướng ở Việt Nam Quốc dân đảng thì đã bị thực dân vùi dập khủng bố tan hoang từ thập kỷ 30. 

Từ bỏ tất cả những xu hướng này, Thành muốn tìm 1 con đường mới, 1 giải pháp có thể áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn xh tư sản Tây Âu mà anh thấy. Vốn là 1 người VN điển hình lúc đó mang căn tính nông dân, Thành muốn có 1 hướng đi mới cho người Việt (như 1 giải pháp  cho nông dân) thoát khỏi sự thống trị của thực dân Pháp và mở ra kỷ nguyên độc lập cho tổ quốc.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, số người VN tại Pháp đã tăng lên gấp bội so với trước đó. Hàng ngàn người VN làm việc tại các công xưởng, tham gia quân đội so với không đến 100 người trước chiến tranh. Qua mối quan hệ đã sẵn có với PCT và Phan Văn Trường, Thành có thể thâm nhập vào cộng đồng chính trị VN ở nước ngoài nhằm mưu đồ cứu nước. PCT được coi là lãnh tụ của phong trào, nhưng sau khi bị bắt vì nghi ngờ phản bội hồi đầu chiến tranh, ông trở nên rất thận trọng.

Cụ Phan Chu Trinh (chọn từ net)

Khoảng năm 1918, Thành trở về Pháp và sống trong một căn hộ nhỏ trên đồi Montmartre của Paris, làm nghề chỉnh sửa ảnh dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc (NAQ).

Tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919, NAQ nổi lên như một người phát ngôn tự do cho quê hương mình. Nhận thấy khả năng giành được độc lập của VN trong đề xuất của Tổng thống Woodrow Wilson về quyền tự quyết của các dân tộc, NAQ – trong bộ vest đen đi thuê và mũ quả dưa – đã đến Cung điện Versailles để trình bày yêu cầu của mình.

Nhưng những gì mà NAQ hy vọng về việc giải phóng VN khỏi ách cai trị của thực dân Pháp đã bị phá hủy hoàn toàn bởi sự thất bại của Hội nghị Versailles trong việc giải quyết các vấn đề thuộc địa. Vì thế, niềm tin của ông giờ đây được chuyển sang CNXH. Bài phát biểu được ghi âm đầu tiên của NAQ là tại một đại hội của đảng Xã hội Pháp vào năm 1920, và đó là một lời kêu gọi không phải cho cách mạng thế giới mà là "chống lại những kẻ đã gây ra nhiều tội ác ghê tởm trên quê hương tôi.". Ông đề nghị đảng có "những hành động thiết thực hơn để hỗ trợ người dân bản xứ bị áp bức."

Như một định mệnh, ngay lập tức sau đó, NAQ trở thành một trong những thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp vì ông cho rằng những người theo CNXH chỉ đang quan tâm đến vấn đề thuộc địa, trong khi những người Cộng sản đã sẵn sàng thúc đẩy sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ông nói với các đại biểu: "Tôi không hiểu gì về chiến lược, chiến thuật và tất cả những từ đao to búa lớn khác mà các bạn sử dụng, nhưng tôi hiểu rõ một điều duy nhất: Quốc tế thứ ba quan tâm rất nhiều đến vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của nó cũng hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa bị áp bức giành lại tự do và độc lập, trong khi những người ủng hộ Đệ nhị Quốc tế thì không nói một lời nào về số phận của các khu vực thuộc địa chúng tôi."

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, tháng 12-1920. Ảnh tư liệu/TTXVN 

BIÊN TẬP VIÊN BÁO TUẦN VÀ BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP

Với quyết định gia nhập vào hàng ngũ những người Cộng sản, sự nghiệp của NAQ đã có một bước ngoặt rõ rệt. Một mặt, ông trở thành thành viên ưu tú của Đảng Cộng sản Pháp cũng như là biên tập viên của tờ Le Paria (Người Cùng Khổ), tờ báo tuần của Hội liên hiệp Thuộc địa mà ông cùng tham gia thành lập năm 1921. Hội Liên hiệp Thuộc địa là một tổ chức nhiều sắc tộc những người đến từ Algeria, Senegal, Tây Ấn và châu Á đang lưu vong ở Paris, những người đã được thống nhất bởi một chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành và đều cam kết chung cho chủ nghĩa cộng sản.

Mặt khác, một NAQ với vẻ ngoài mảnh khảnh đã trở thành một nhà hùng biện. Ông đi khắp nơi ở Pháp để nói chuyện với đám đông binh lính và công nhân chiến trường người Việt đang đợi hồi hương.

Bên cạnh đó, NAQ còn bị hấp dẫn bởi Moscow, nơi có thể gọi là trung tâm đầu não của Chủ nghĩa Cộng Sản thế giới. Ông đến Moscow lần đầu tiên vào năm 1922, nơi ông đã trở thành một thành viên của Đệ Tam Quốc Tế khu vực ĐNA. Bằng tất cả nhiệt huyết của mình, ông cất lên tiếng nói, gặp gỡ tất cả những Đảng viên CS, giúp đỡ thành lập Quốc tế Nông dân (hay còn gọi là Krestintern) cho công cuộc cách mạng giữa các dân tộc thuộc địa.

Sau một thời gian ngắn ở Pháp, NAQ trở lại Moscow, nơi là căn cứ của ông trong nhiều năm sau đó. Ông theo học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông, được đào tạo chính quy về chủ nghĩa Marx và các kỹ thuật kích động, tuyên truyền. Vào năm 1925, NAQ xuất bản cuốn Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp mang nội dung "tố cáo thực dân Pháp đã bắt dân bản xứ phải đóng "thuế máu" cho chính quốc... để "phơi thây trên chiến trường châu Âu"; "đày đọa" phụ nữ, trẻ em thuộc địa; các thống sứ, quan lại thực dân "độc ác như một bầy thú dữ" v.v.... Tác phẩm được cho là đã "hướng các dân tộc bị áp bức" đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, tiêu diệt "hai cái vòi của con đỉa đế quốc" – một "vòi" bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một "vòi" bám vào nhân dân thuộc địa. Tác phẩm được cho là đã đề ra cho VN "con đường đấu tranh giải phóng" theo chủ nghĩa Marx-Lenin".

Cũng trong năm 1925, NAQ được cử đến Quảng Châu với tư cách là thông dịch viên cho Michael Borodin, một trong những lãnh đạo của phái đoàn LX giúp đỡ Tưởng Giới Thạch – khi đó, Tưởng được Quốc tế CS ủng hộ với tư cách là người thừa kế của Tôn Trung Sơn. Trong thời gian này, ông bắt đầu truyền bá tinh thần cách mạng ở Viễn Đông. NAQ tập hợp những người tị nạn VN, tổ chức thành Đoàn Thanh niên Cách mạng VN và thành lập Liên đoàn các dân tộc bị áp bức ở châu Á. Tổ chức này nhanh chóng trở thành đảng Cộng sản Nam Hải, tiền thân của các nhóm Cộng sản quốc gia khác nhau, trong đó có đảng Cộng sản Đông Dương của riêng NAQ năm 1930.

Trong hai năm, cho đến tháng 7 năm 1927, khi Tưởng từ chối các đồng minh Cộng sản của mình, NAQ đã gửi những người Việt giỏi nhất đến trường quân sự của Tưởng tại Whampoa trong khi tiến hành một khóa huấn luyện về khả năng kích động chính trị cho các đồng chí của mình.

Bìa sách Bản án chế độ thực dân Pháp (Ảnh chọn từ net)

LÁNH ĐẾN MOSCOW

Khi mối quan hệ Tưởng – Cộng tan vỡ, NAQ lánh đến Moscow bằng con đường xuyên qua sa mạc Gobi. Cuộc đời ông sau đó bao phủ bởi một màn sương mờ không rõ ràng**, nhưng người ta tin rằng NAQ đã sống ở Berlin một thời gian. Sau đó đến Bỉ, Thụy Sĩ và Italia – dĩ nhiên, dưới nhiều cái tên khác nhau.

Sau năm 1928, cái tên Hồ Chí Minh*** (HCM) lại bất ngờ xuất hiện ở miền đông Thái Lan trong vỏ bọc một nhà sư Phật giáo. Tại đây, ông cạo trọc đầu và hoạt động giữa những người Việt lưu vong, xây dựng các hội nhóm chính trị, xuất bản nhiều ấn phẩm báo chí… Từ đó xuyên qua biên giới tuồn vào VN.

Năm 1930, theo lời khuyên của Đệ tam Quốc tế, HCM đã góp công lớn trong việc giải quyết những tranh chấp gay gắt nảy sinh giữa những người theo chủ nghĩa Cộng sản ở ĐD, đặt nền móng cho sự thành lập ĐD Cộng sản Đảng – tiền thân của Đảng Cộng Sản VN (hay còn gọi là Đảng Lao Động) sau này. 

Cùng năm đó, được sự hậu thuẫn của những người Cộng Sản, một cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở VN. Năm 1931, HCM bị bắt ở Hong Kong và bị giam trong nhà tù của thực dân Anh vì các hoạt động lật đổ. Vào thời điểm đó, dưới sự đàn áp của Pháp, ông cũng chính thức bị kết án tử hình vắng mặt. Người Pháp đã tìm mọi cách để dẫn độ HCM về, nhưng ông cho rằng mình là một người tị nạn chính trị, và vì thế không thể bị dẫn độ. Vụ án được (Sir) Stafford Cripps thụ lý ở London trong một phiên tranh biện với Hội đồng Cơ mật, đã ra phán quyết cuối cùng: HCM được trả tự do. Ngay sau đó, ông lánh khỏi Hong Kong (lần này là dưới vỏ bọc một thương gia TQ) để trở lại Moscow.

Tại Moscow, HCM theo học tại các trường Cộng Sản như Viện nghiên cứu các vấn đề Dân tộc & Thuộc địa, cũng như trường Lenin danh tiếng. Tuy nhiên, năm 1938 ông quyết định quay ngược lại TQ và trở thành thông tín viên trong hàng ngũ Bát lộ quân nổi tiếng của Mao Trạch Đông. Từ đó, ông tìm đường đi xuống phía Nam để trở về quê hương vào năm 1940. Đó cũng là lần đầu tiên HCM đặt chân về VN sau hơn 30 năm xa cách****.

(còn nữa)

(*): Cụ Phan Bội Châu từng tới làng Kim Liên và đề nghị Thành và anh trai mình tham gia phong trào Đông Du. Khi Thành hỏi Cụ: làm thế nào mà Nhật Bản có được sự thành công về công nghệ, Cụ trả lời là người Nhật Bản đã học hỏi phương Tây.
Ngay sau đó, Thành nói với cha rằng: anh muốn học tiếng Pháp.

(**): Theo W. J. Duiker, trong mỗi nhân vật vĩ đại đều tiềm ẩn 1 vẻ huyền bí. Chủ tịch HCM cũng vậy. Trả lời Bơ-na Phôn, 1 nhà nghiên cứu về VN, Chủ tịch nói: ''Người già thích có một vẻ bí ẩn nho nhỏ về mình. Tôi muốn giữ lại những vẻ bí ẩn của mình.'' 

(***): Theo tài liệu của Đảng: danh xưng “Hồ Quang” hay “Hồ Chí Minh” ban đầu được NAQ sử dụng như là một bí danh. Đó là thời điểm cuối năm 1938, từ LX trở lại TQ hoạt động, trong vai một Thiếu tá của Bát Lộ quân, NAQ đã sử dụng cái tên “Hồ Quang” để công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát Lộ quân ở Quế Lâm (TQ), nhiệm vụ cụ thể là Ủy viên y tế kiêm Ủy viên bích báo, tham gia lãnh đạo Phòng.

(****): Theo tài liệu của Đảng: ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (HCM) và các đồng chí của mình  đã vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó (xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng)
Hình ảnh: NAQ phát biểu tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5, họp từ 17/6 - 8/7/1924 ở Moskva với tư cách là đại biểu của Bộ thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Friday, September 1, 2023

Con đường đau khổ: Khi cuộc đời xiêu vẹo

Nhân 21 năm ngày mất của nhạc sĩ Văn Cao

VĂN CAO : MỘT THIÊN TÀI BỊ LƯU ĐẦY

 Văn hóa - nghệ thuật (Nguồn: dân luận )

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư...” - Trịnh Công Sơn.

Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn nghệ Văn Cao - người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.

Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.

Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều...

Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…

Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường mùa vui nay đã về

mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng cho bao tâm hồn.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh

Niềm vui phút giây như đang long lanh.

ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.

ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Từ đây người biết quê người

Từ đây người biết thương người

Từ đây người biết yêu người.

Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu

với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm... nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: “một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà trưa xao xác não nùng”.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót nhớ...

Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?

Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị cấm)?

Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu tiên”

Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?

Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.

Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:

    “Sau khi bài "Tiến về Hà Nội" ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa... Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng...

    Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

    Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

    Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.” - Trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180

Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh Matxcova:

    “Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.””

Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.

Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn - Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu”.

Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:

    “Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano - đối diện với chiếc đivăng tôi đang ngủ.

    Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.

    Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.

    Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” - Nhà thơ NGHIÊM BẰNG - THU HÀ ghi

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chinh chủ trương đánh “Nhân Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem thú thích dưới bài)

Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)

Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.

Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.

Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương Chi”, “Thiên Thai”...) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu quân thù”... “đường ta đi xây xác quân thù”... đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo mát...

Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”... nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!

Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến - một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn - Giai phẩm”...

Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng...) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con...”

Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì...”

Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?

Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông...?

Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn - Giai Phẩm” (NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối bài)

Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo sau năm 1975...

Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn ngào “Mùa xuân đầu tiên” này...

Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy...

Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của mình.

Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:

Ai lướt đi ngoài sương gió,

Không dừng chân đến em bẽ bàng,

Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,

Từ từ xa đường vắng.

Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.

Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.

Người ơi còn biết em nhớ mong,

Tình xưa còn đó xa xôi lòng.

Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên

Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.

Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,

Chàng ngày nào tìm đến?

Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa

Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.

Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.

Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”...

Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu...

Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái - Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”...

Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của nỗi buồn, của Cái - Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?

Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon - thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos - thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?

Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên

Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên

theo gió tiếng đàn xao xuyến

Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền

Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi

Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời

Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền nan

Quê hương dần xa lấp núi ngàn

Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền

Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian

Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần

Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm

Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên

đây đó nỗi lòng mong nhớ

Này khúc bồng lai

là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi

Đàn xui ai quên đời dương thế

Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian

Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa

Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn

Cùng bầy tiên đàn ca bao năm

Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về

Tiên nữ ơi!

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về

Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?

Những khi chiều tà trăng lên

Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly khác, ảo diệu khác... do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.

Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu - Nguyễn - Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức...

Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ

Trầm trầm không gian mới rung thành tơ

Vương vất heo may hoa yến mong chờ

Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,

Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan

Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng

Đây đó từng song the hé đợi đàn.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân

Hò khoan mơ bóng con đò trôi

Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời

Anh Trương Chi

Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,

Anh thương nhớ.

Oán trách cuộc từ ly não nùng.

Đò trăng cắm giữa sông vắng.

Gió đưa câu ca về đâu?

Nhìn xuống đáy nước sông sâu.

Thuyền anh đã chìm đâu!

Từng khúc nhạc xa vời

Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.

Sương thu vừa buông xuống

Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông

Ai qua bến giang đầu tha thiết,

Nghe sông than mối tình Trương Chi

Dâng úa trăng khi về khuya,

Bao tiếng ca ru mùa thu.

Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn

Còn nghe như ai nức nở và than,

Trầm vút tiếng gió mưa

Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?

Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn

Về phương xa ai nức nở và than,

Cùng với tiếng gió vương,

Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.

Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao

Mà ai hát dưới trăng ngà

Ngồi đây ta gõ ván thuyền,

Ta ca trái đất còn riêng ta.

Đàn đêm thâu

Trách ai khinh nghèo quên nhau,

Đôi lứa bên giang đầu.

Người ra đi với cuộc phân ly,

Đâu bóng thuyền Trương Chi?

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?

Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.

Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời.

Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng Mỵ Nương - Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)...

Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi - Văn Cao:

“Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ - chua thêm TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...

Sài Gòn ngày 23-01-2013

Trần Mạnh Hảo

Phần chú thích:

Chú thích <*1*>:

“Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy - Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là cuộc quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ Nhân văn - Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của Lúy[2] vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế - bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp. Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!" Lúy nghe, mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này nữa: Lúy muốn mình phải hiểu - tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy xu?.

http://vi.wikipedia.org/.../Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V...

Chú thích <*2*>:

"Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (...)

Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (...)

Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền

Ta ca trái đất còn riêng ta! (...)

Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước.

Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

Ta là đàn chim bay trên mây xanh

Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan...

...Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!

Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", hay như bài "Ngoại ô mùa đông 46" (Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):

Ta đi trong nhà đổ

Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình

Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh

Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…

...

Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp

Gió lạnh khi qua viện tàng thư

Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ

Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (...)

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?

Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả (...)

Trên đất nước ta, “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy (...)

Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất cũng biết chúng ta vĩ đại!" (Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc Nxb Văn học, Hà Nội 1963, tr. 101-114. Bản điện tử do Lại Nguyên Ân cung cấp 

Nguồn Nơi góc phố - Hà Nội ngày tháng cũ