Sunday, November 16, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (06)

LỊCH SỬ KINH TẾ ISRAEL HIỆN ĐẠI

Bối cảnh trước khi thành lập đất nước Israel hiện đại bắt đầu từ thập niên 1880, khi những người nhập cư theo chủ nghĩa Zion (chủ nghĩa phục quốc Do Thái) đầu tiên tới Palestin, khi ấy còn dưới sự quản lý của Ottoman, để gia nhập vào cộng đồng Do Thái đã sinh sống từ trước tại đó, lập nên những khu vực định cư và một số ngành công nghiệp, khôi phục tiếng Hebrew làm ngôn ngữ chính thức quốc gia, và tạo lập nên những định chế kinh tế và xã hội mới. Những hậu quả của Thế chiến thứ nhất khiến dân số Do Thái giảm một phần ba, xuống còn 56.000 người, tương đương với mức đầu thế kỷ.

Vì hậu quả chiến tranh, Palestin rơi vào tầm kiểm soát của Anh, Tuyên bố Balfour của Anh trước đó đã kêu gọi thành lập một Quốc gia Do Thái tại Palestin. Quyền kiểm soát của Anh Quốc được chính thức công nhận năm 1920, khi họ được Hội quốc liên chính thức Ủy quyền cai trị Palestin. Trong thời gian Ủy quyền, kéo dài tới tận tháng 5 năm 1948, cơ cấu xã hội, chính trị và kinh tế của một quốc gia Israel tương lai đã được phát triển. Dù chính phủ Palestin chỉ có một chính sách kinh tế duy nhất, các nền kinh tế Do Thái và Ả rập phát triển riêng biệt, có rất ít quan hệ với nhau.

Hai yếu tố là phương tiện gia tăng sự phát triển kinh tế nhanh chóng của khu vực Do Thái: sự nhập cư và các dòng vốn. Dân số Do Thái tăng chủ yếu nhờ nhập cư; tới cuối năm 1947 đã đạt tới 630.000, khoảng 35 phần trăm tổng dân số. Những người nhập cư tới theo từng đợt, với số lượng đặc biệt lớn vào giữa thập niên 1920 và 1930. Họ gồm những người thuộc hệ tư tưởng Zion và người tị nạn, cả kinh tế và chính trị, từ Đông và Trung Âu. Các dòng vốn gồm cả vốn công cộng, được các định chế Zion thu thập, nhưng chủ yếu là vốn tư nhân. Sản phẩm quốc nội tăng trưởng mạnh mẽ trong những giai đoạn nhập cư lớn, nhưng cả hai làn sóng nhập cư lớn đều kéo theo những thời kỳ giảm sút, những giai đoạn chỉnh sửa và củng cố.

Trong giai đoạn từ năm 1922 tới 1947 Sản phẩm Quốc nội Thực (NDP) của khu vực Do Thái tăng trưởng với mức độ trung bình 13.2 phần trăm, và tới năm 1947 đã chiếm 54 phần trăm NDP nền kinh tế của cả khu vực Do Thái và Ả rập. NDP trên đầu người ở khu vực Do Thái tăng ở mức 4.8 phần trăm; tới cuối giai đoạn này nó đã vượt 8.5 lần so với năm 1922, và lớn gấp 2.5 lần khu vực Ả rập (Metzer, 1998). Dù phát triển nông nghiệp - một mục tiêu ý thức hệ - không đáng kể, lĩnh vực này chưa bao giờ chiếm hơn 15 phần trăm tổng sản phẩm quốc nội thực của kinh tế Do Thái. Tăng trưởng sản xuất ở mức chậm trong hầu hết thời gian này, nhưng rất nhanh chóng trong thời gian Thế chiến thứ hai, khi Palestin không bị cạnh tranh từ phía bên ngoài và trở thành nhà cung cấp chính cho các lực lượng quân sự Anh ở Trung Đông. Tới cuối giai đoạn, sản xuất đã chiếm một phần tư NDP. Xây dựng nhà cửa, dù là một yếu tố nhỏ của NDP, là lĩnh vực hay thay đổi nhất, và có đóng góp vào các vòng luân chuyển kinh doanh. Một yếu tố nổi bật của kinh tế Do Thái trong thời gian Ủy trị, và tiếp tục đảm trách vai trò ở các giai đoạn sau này, chiếm phần quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ - hơn một nửa tổng NDP. Lĩnh vực dịch vụ còn gồm cả giáo dục và y tế, nền tài chính hiệu quả và các lĩnh vực kinh doanh, và các định chế bán chính phủ Do Thái, sau này sẽ sẵn sàng đảm trách trách nhiệm của các cơ quan chính phủ.

Hình ảnh: Hơn một trăm năm trước, vào ngày 2 tháng 11 năm 1917, Bộ trưởng Ngoại giao Anh khi đó là James Balfour đã viết một bức thư có chữ ký gửi cho Walter Rothschild, một quý tộc theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái người Anh.

Được viết bởi 1 nhân vật đại diện của đế chế hàng đầu thế giới, bức thư đã thay đổi hướng đi của phong trào phục quốc DT mới ra đời, hợp pháp hóa khát vọng chính trị của phong trào này nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là thành lập một nhà nước DT tại Lãnh thổ Ủy trị (của Anh) tại Palestin.


Những năm hình thành: 1948-1965 Nhà nước Israel đang được hình thành, giữa tháng 5 năm 1948, trong một cuộc chiến với những người Ả rập láng giềng. Những vấn đề kinh tế trước mắt rất nghiêm trọng: để đảm bảo đủ tiền chi trả cho cuộc chiến, và để thu hút càng nhiều người nhập cư càng tốt (ban đầu là những người tị nạn tại các trại ở châu Âu và Cyprus), để cung cấp các đồ dùng căn bản cho người già và dân số mới, và để tạo lập một bộ máy chính phủ quan liêu nhằm đối phó với những thách thức đó. Việc thành lập một chính phủ diễn ra khá êm xuôi, bởi các định chế bán chính phủ Do Thái vốn đã phát triển trong thời gian Ủy trị hiện trở thành các cơ quan của chính phủ.

Những thoả thuận ngừng bắn được ký kết năm 1949. Tới cuối năm đó, tổng cộng 340.000 người nhập cư đã tới, và tới cuối năm 1951 có thêm 345.000 người (những người này gồm cả người nhập cư từ các nước Ả rập), tăng gấp đôi số dân Do Thái. Những nhu cầu cấp bách được đáp ứng bằng một chương trình thắt lưng buộc bụng chặt chẽ và chính sách tài chính lạm phát của chính phủ, được kìm nén bằng các biện pháp quản lý giá và cung cấp các nhu yếu phẩm bằng tem phiếu. Tuy nhiên, các vấn đề như cung cấp nhà cửa và sử dụng lực lượng lao động mới chỉ được giải quyết dần dần. Một Chính sách Kinh tế Mới được đưa ra đầu năm 1952. Nó bao gồm việc phá giá trao đổi ngoại tế, dần giảm các biện pháp quản lý giá và cung cấp tem phiếu, và kìm chế mở rộng tiền tệ, chủ yếu bằng cách kiềm chế ngân sách. Những biện pháp khuyến khích nhập cư bị cắt bớt, để chờ đợi sự hội nhập của những người di cư trước đó.

Từ năm 1950 tới 1965, Israel đã đạt mức tăng trưởng cao: GNP Thực (Tổng Sản phẩm Quốc dân) tăng trưởng ở mức trung bình 11 phần trăm và GNP trên đầu người ở mức hơn 6 phần trăm. Nhân tố nào đã khiến điều này trở thành hiện thực? Israel may mắn nhận được những dòng vốn lớn: sự hỗ trợ của Mỹ dưới hình thức chuyển vốn và những khoản cho vay đơn phương, sự bồi thường thiệt hại của Đức và sự hoàn trả các khoản tiền tư nhân, việc bán Khế ước nợ của Nhà nước Israel ra nước ngoài, và việc đơn phương chuyển các khoản hoàn trả công cộng, chủ yếu là Cơ quan Do Thái, vốn chịu trách nhiệm thu hút người nhập cư và các khu định cư nông nghiệp. Vì thế, Israel có được những nguồn tài nguyên lớn để sử dụng trong nước – cho tiêu thụ công cộng và cá nhân và đầu tư - khoảng 25 phần trăm lớn hơn chính GNP của họ. Điều này khiến họ có khả năng tiến hành một chương trình đầu tư ở diện rộng, chủ yếu được cung cấp tài chính thông qua một khoản ngân sách đặc biệt của chính phủ. Cả những nhu cầu tội phạm và triết lý xã hội của đảng chính trị lớn trong các liên minh chính phủ dẫn tới sự can thiệp sâu của chính phủ vào nền kinh tế.

Ngân sách chính phủ và các biện pháp bảo vệ mạnh mẽ để thay thế nhập khẩu, cho phép phát triển các ngành công nghiệp mới, chủ yếu là dệt may, và các khoản trợ cấp giúp tăng trưởng xuất khẩu, ngoài món hàng xuất khẩu truyền thống là các sản phẩm cam quýt và gia công kim cương.

Trong bốn thập kỷ từ giữa thập niên 1960 tới ngày nay, nền kinh tế Israel đã phát triển và thay đổi, cũng như chính sách kinh tế của họ. Một lĩnh vực chính phản ánh những sự phát triển đó là cuộc xung đột Ả rập-Israel. Ảnh hưởng của nó được chú ý đầu tiên, và tiếp đó là những xáo động ngắn hạn trong tăng trưởng kinh tế cũng như tiến trình hoạch địch chính sách kinh tế.

Hình ảnh: CNN

Cuộc xung đột Ả rập-Israel 

Sự kiện đáng quan tâm nhất của thập niên 1960 là Cuộc chiến sáu ngày năm 1967, cuối cuộc chiến này Israel đã kiểm soát Bờ Tây (Sông Jordan) – vùng thuộc Palestin đã bị Jordan sáp nhập từ năm 1949 – và Dải Gaza, khi ấy thuộc quyền kiểm soát của Ai Cập.

Như một hậu quả của việc chiếm đóng các vùng đất đó, Israel chịu trách nhiệm về đời sống kinh tế và chính trị tại các vùng họ chiếm đóng. Những khu vực Ả rập tại Jerusalem được hợp nhất vào các khu vực Do Thái. Các khu định cư Do Thái được thành lập tại nhiều vùng lãnh thổ chiếm đóng. Khi những vụ việc căng thẳng tăng lên, các khoản đầu tư đặc biệt vào hạ tầng được tiến hành để bảo vệ những người định cư Do Thái. Sự phân bổ các nguồn tài nguyên cho những người định cư Do Thái tại những vùng đất chiếm đóng bắt đầu trở thành một vấn đề chính trị và kinh tế từ thời điểm đó.

Kinh tế Israel và các lãnh thổ bị chiếm đóng được hoà nhập một phần. Việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ phát triển, với những hạn chế trong việc xuất khẩu tới Israel các sản phẩm bị cho là có tính cạnh tranh quá cao, và những công nhân Palestin được vào làm việc bên trong Israel đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp. Ở thời kỳ đỉnh điểm, năm 1996, số nhân công người Palestin làm việc tại Israel lên tới 115.000 đến 120.000 người. Đây là một con số lớn (chiếm 40% nhân lực của Palestin) trong khi ko vượt quá 6,5% đối với Israel. Vì thế, trong khi việc lao động tại Israel là nhân tố đóng góp chính vào nền kinh tế Palestin, thì những hiệu ứng của nó trên kinh tế Israel, trừ các lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng, không lớn.

Kinh tế Palestin phát triển nhanh chóng – thu nhập thực trên đầu người của quốc gia tăng với mức độ trung bình gần 20 phần trăm hàng năm trong giai đoạn 1969-1972 và 5 phần trăm trong giai đoạn 1973-1980 – nhưng đã thay đổi rất bất thường sau giai đoạn đó, và trên thực tế đã giảm sút trong những khoảng thời gian xảy ra các vụ việc thù địch giữa hai bên. Thu nhập trên đầu người của người Palestin bằng 10.2 phần trăm mức thu nhập bình quân đầu người của người dân Israel năm 1968, 22.8 phần trăm năm 1986, và giảm xuống còn 9.7 phần trăm năm 1998 (Kleiman, 2003).

Một phần nhờ tiến trình hoà bình giữa Israel và người Palestin bắt đầu được tiến hành trong thập niên 1990, một thoả thuận kinh tế được ký kết giữa hai bên năm 1994, trên thực tế nó chuyển đổi cái từng hầu như là thoả thuận hải quan một bên (vốn trao cho Israel toàn quyền hành động trong việc xuất khẩu vào các vùng lãnh thổ nhưng hạn chế các loại hàng xuất khẩu của Palestin vào Israel) trở thành một liên minh thuế quan công bằng hơn: thực tế Israel được hưởng chính sách thương mại bên ngoài đồng nhất trong khi người Palestin chỉ được trao một số chủ quyền hạn chế trong việc nhập khẩu một số loại hàng hoá.

Những cuộc nổi dậy của người Ả rập (intifadas), trong thập niên 1980, và đặc biệt là cuộc nổi dậy có mức độ bạo lực cao hơn bắt đầu từ năm 2000 và tiếp diễn tới tận năm 2005, dẫn tới việc Israel đưa ra nhiều biện pháp hạn chế chặt chẽ những hoạt động thương mại giữa hai nền kinh tế, đặc biệt trong việc sử dụng nhân công Palestin tại Israel, và thậm chí là việc tái chiếm bằng quân sự một số vùng đã được trao cho người Palestin kiểm soát trước kia. Các biện pháp đó khiến nền kinh tế Palestin tụt hậu nhiều năm, xoá sạch đa số những thành quả thu nhập đầu người từng đạt được từ năm 1967 – GNP trên đầu người năm 2004 là $932, so với khoảng $1500 năm 1999. Các công nhân Palestin tại Israel được thay thế bằng các công nhân nước ngoài.

Một quan hệ kinh tế quan trọng của cuộc xung đột Ả rập-Israel là Israel phải tái cơ cấu một phần quan trọng trong ngân sách quốc phòng của họ. Tầm vóc của ngân sách quốc phòng luôn thay đổi, tăng trong chiến tranh và trong những cuộc xung đột quân sự. Tổng gánh nặng quốc phòng (gồm cả các chi phí không thuộc trong ngân sách) đã đạt tới mức cao nhất trong và sau cuộc Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, chiếm gần 30 % GNP trong giai đoạn 1974-1978. Trong giai đoạn 2000-2004, chỉ riêng ngân sách quốc phòng lên tới khoảng 22 đến 25 phần trăm GDP. Israel rất may mắn nhận được các khoản tiền hỗ trợ to lớn từ phía Mỹ. Cho tới năm 1972 đa số chúng tới từ các khoản trợ cấp hay vay nợ, đặc biệt dưới hình thức mua hàng nông nghiệp Mỹ. Nhưng từ năm 1973 viện trợ của Mỹ đã thay đổi trở nên liên quan mật thiết hơn tới nhu cầu quốc phòng của Israel. Trong giai đoạn 1973-1982 các khoản trợ cấp và vay nợ một năm trung bình ở mức $1.9 tỷ, và chiếm khoảng 60 phần trăm tổng nhập khẩu quốc phòng. Nhưng thậm chí trong những giai đoạn yên ắng nhất, gánh nặng quốc phòng, chưa tính tới khoản hỗ trợ của Mỹ, đã lớn hơn cả khoản chi thông thường của các quốc gia công nghiệp trong thời gian hoà bình.

 Hình ảnh (aspistrategist, Australia): Về phong trào nổi dậy intifada (từ bài viết The beginning of a new intifada? ngày 17 May 2021) 

Tăng trưởng và sự Dao động kinh tế 

Israel từng đạt những mức độ tăng trưởng cao nhất về thu nhập và thu nhập trên đầu người cho tới năm 1973, nhưng từ đó nó không bao giờ còn có thể quay về mức cũ nữa. Tăng trưởng GDP thường có biến động, nói chung trong khoảng 2 đến 5 phần trăm, đạt tới mức 7.5 phần trăm năm 2000, nhưng đã giảm xuống dưới 0 trong những năm giảm phát từ 2001 tới giữa 2003. Tới cuối thế kỷ 20, thu nhập trên đầu người đạt mức khoảng $20.000, tương tự mức ở những nước có mức độ công nghiệp hoá cao hơn.

Những biến động kinh tế tại Israel thường liên quan tới những làn sóng nhập cư: một làn sóng người nhập cư lớn bất thần khiến những nhu cầu dân cư tăng cao trong một giai đoạn cho tới khi họ hội nhập được vào nền kinh tế, với những khoản đầu tư cho sự hội nhập đó. Nhập cư không bao giờ còn đạt mức cao như những năm đầu tiên sau khi Nhà nước được thành lập, nhưng sau khi Liên bang Xô viết bãi bỏ những quy định hạn chế, làn sóng nhập cư lại một lần nữa tăng khá cao. Tổng số người nhập cư trong giai đoạn 1972-1982 là 325.000, và sau khi Liên bang Xô viết tan rã tổng số người nhập cư lên tới 1.050.000 trong giai đoạn 1990-1999, chủ yếu từ các nước Cộng hoà thuộc Liên Xô trước đây. Không giống như ở giai đoạn trước, những người nhập cư lần này dần hội nhập vào nền kinh tế (dù thường không làm việc trong lĩnh vực trước đây) không cần nhờ đến các dự án tạo việc làm của chính phủ. Tới cuối thế kỷ dân số Israel vượt quá 6.300.000 người, và số lượng dân Do thái chiếm 78 phần trăm. Những người nhập cư từ Liên Xô cũ chiếm một phần năm số dân Do Thái, và là lực lượng lao động chất xám quan trọng của đất nước.

Khi kinh tế phát triển, cơ cấu sản xuất cũng thay đổi. Dù các lĩnh vực dịch vụ vẫn chiếm một phần khá lớn – thương mại và dịch vụ đóng góp 46 phần trăm sản phẩm trong lĩnh vực kinh doanh – nông nghiệp đã giảm tầm quan trọng, và công nghiệp chiếm một phần tư tổng thể. Cơ cấu sản xuất cũng đã thay đổi: cả trong tổng sản lượng và trong số phần trăm xuất khẩu, các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu truyền thống, hàm lượng kỹ thuật thấp giảm bớt, và những loại hàng tinh vi, có hàm lượng kỹ thuật cao, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử đã chiếm một phần quan trọng.

Những biến động trong sản lượng sản xuất được đánh dấu bởi các giai đoạn lạm phát và các giai đoạn tỷ lệ thấp nghiệp cao. Sau một sự thay đổi trong chính sách tỷ giá cuối thập kỷ 1970 (như được thảo luận dưới đây), một giai đoạn từ từ giảm lạm phát diễn ra. Những tỷ lệ lạm phát siêu tốc xuất hiện trong thập kỷ 1980, khoảng 400 phần trăm mỗi năm khi một chính sách ổn định quyết liệt được áp dụng năm 1985. Tỷ giá trao đổi ổn định, ngân sách và tiền tệ được thắt chặt, và lương cũng như giá ổn định đã khiến tỷ lệ lạm phát giảm lớn xuống mức chưa tới 20 phần trăm, và sau đó là khoảng 16 phần trăm cuối thập kỷ 1980. Các chính sách tiền tệ rất mạnh mẽ, từ cuối thập kỷ 1990, cuối cùng đã khiến tỷ lệ lạm phát còn 0 phần trăm năm 2005. Tuy nhiên, chính sách này, cộng với các yếu tố bên ngoài như sự phát triển của bong bóng công nghệ cao, sự giảm phát trên thế giới, và tình trạng mất an ninh bên trong do hậu quả của phong trào intifada, dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp lên tới 10 phần trăm từ đầu thế kỷ mới. Những cải thiện kinh tế có được từ nửa cuối năm 2003, tới nay (tháng 2 năm 2005), không khiến con số thất nghiệp giảm nhiều.

(còn nữa)

Saturday, November 15, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (05)

THỜI KỲ CỦA NETANYAHU

Netanyahu, Thủ tướng Israel

Netanyahu lên nắm quyền lực

Tháng 2 năm 1996 người kế nhiệm Rabin, Shimon Peres, kêu gọi tổ chức bầu cử sớm. Cuộc bầu cử được tổ chức tháng 5 năm 1996 và là lần đầu tiên chức vụ thủ tướng được bầu trực tiếp, dẫn tới một thắng lợi sít sao cho lãnh đạo Đảng Likud là Binyamin (Bibi) Netanyahu cùng Liên minh Quốc gia trung hữu (Likud) của ông ta và đánh bại Peres cùng chính phủ Lao động/Meretz trung tả. Trước khi cuộc bầu cử diễn ra, các cuộc khảo sát đều cho thấy Peres sẽ chiến thắng với một tỷ lệ an toàn, nhưng một loạt các vụ đánh bom tự sát diễn ra ở thời điểm đó khiến lập trưởng của Likud về an ninh được người dân ủng hộ hơn. Hamas tuyên bố nhận trách nhiệm về đa số các vụ đánh bom này.

Dù có những quan điểm khác biệt với Hiệp ước Oslo, Thủ tướng Netanyahu tuyên bố tiếp tục tôn trọng việc áp dụng nó, nhưng thời kỳ cầm quyền của ông đã cho thấy một thời kỳ chậm lại trong Tiến trình Hòa bình. (Những người ủng hộ Netanyahu cho rằng sự chậm lại này có nguyên nhân từ chủ nghĩa khủng bố Palestin.)

Thỏa thuận Hebron và Sông Wye

Thủ tướng Netanyahu đã ký kết Nghị định thư Hebron với Chính quyền Palestin ngày 15 tháng 1 năm 1997. Nghị định thư này dẫn tới việc tái triển khai các lực lượng Israel tại Hebron và việc chuyển giao chính quyền dân sự tại đa số diện tích thuộc vùng này cho Chính quyền Palestin. Từ thỏa thuận này, đã có ba tiến trình đàm phán nhỏ giữa Israel-Palestin. Một cuộc khủng hoảng lòng tin đã xảy ra giữa các bên khi họ không thể đáp ứng những yêu cầu của nhau cũng như giải quyết những vấn đề lo ngại của phía bên kia. Tuy nhiên, Israel và Palestin đã đồng thuận, vào tháng 9 năm 1997, về một lịch trình đàm phán bốn bên tiếp theo: hợp tác an ninh trong cuộc chiến chống khủng bố; những chiến dịch tái triển khai thêm nữa của các lực lượng Israel; một "hạn chót" cho những hành động đơn phương có thể dẫn tới những dự đoán trước về các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng; và việc đẩy nhanh những cuộc đàm phán đó. Mỹ tìm cách thúc đẩy các bên tiếp tục áp dụng Thỏa thuận tạm thời 1995 cùng với việc đẩy nhanh các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng. Để vượt qua cuộc khủng hoảng lòng tin cũng như tạo bước đột phá những rào cản, Tổng thống Clinton đã đưa những sáng kiến của Mỹ nhằm khôi phục tiến trình hòa bình ra trước Thủ tướng Netanyahu và Chủ tịch Arafat tại Washington vào tháng 1 năm 1998. Những ý tưởng này bao gồm mọi lĩnh vực của lịch trình đàm phán bốn bên tháng 9 năm 1997 và sẽ cho phép việc thúc đẩy các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng. Người Palestin đã đồng ý với những nguyên tắc trong ý tưởng đó.

Mỹ tiếp tục thúc giục các bên liên quan đạt tới một thỏa thuận dựa trên các đề xuất của họ. Sau cuộc họp chín ngày tại Trung tâm Hội nghị Sông Wye ở Maryland, một thỏa thuận đã đạt được ngày 23 tháng 10 năm 1998. Thỏa thuận Wye dựa trên nguyên tắc nhân nhượng lẫn nhau và đáp ứng các yêu cầu chủ chốt của cả hai phía, gồm cả những biện pháp an ninh chưa từng có từ phía Palestin cũng như việc tiếp tục tái triển khai quân đội Israel tại Bờ Tây. Thỏa thuận này cũng cho phép các cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng diễn ra vào ngày 4 tháng 5, 1999 ngày kết thúc của Thỏa thuận Tạm thời.

Rút quân khỏi Liban

Năm 2000, Israel đơn phương rút nốt các lực lượng của họ tại "vùng an ninh" ở nam Liban. Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã kết luận rằng: tới ngày 16 tháng 6 năm 2000, Israel đã rút các lực lượng của họ ở Liban theo Nghị quyết 425 của Hội đồng bảo an. Liban tuyên bố rằng: Israel tiếp tục chiếm vùng lãnh thổ Liban được gọi là "Sheeba Farms"; nhưng Liên hiệp quốc nhấn mạnh rằng Sheeba Farms thuộc Syrian, chứ không phải là lãnh thổ của Liban. 

Phong trào Intifada lần thứ hai

Lãnh đạo đối lập Israel Ariel Sharon đã tới thăm Temple Mount ngày 28 tháng 9, 2000, gây ra những vụ bạo loạn của người Palestin. Chuyến thăm này đánh dấu sự khởi đầu của al-Aqsa Intifada. Israel tuyên bố rằng: người Palestin đã xếp đặt các kế hoạch nổi dậy từ trước chuyến thăm của Sharon, và rằng chuyến thăm của ông ta được sử dụng làm cái cớ cho những kế hoạch nổi dậy đó. Trong cuốn sách Giá đắt của Hòa bình The High Cost of Peace) của mình, Yossef Bodansky đã miêu tả sự kiện: "Khi Sharon thể hiện ý muốn viếng thăm Temple Mount, Barak đã ra lệnh cho giám đốc GSS là Ami Ayalon tiếp cận Jibril Rajoub với một yêu cầu đặc biệt nhằm bảo đảm cuộc viếng thăm diễn ra suôn sẻ trong tình hữu nghị... Rajoub đã hứa rằng nó sẽ diễn ra trong hòa bình nếu Sharon không vào bất kỳ một thánh đường Hồi giáo nào hay cầu nguyện trước công chúng... Để cẩn thận hơn nữa, Barak đã đích thân yêu cầu Arafat và một lần nữa được bảo đảm rằng chuyến thăm của Sharon sẽ diễn ra suôn sẻ..." (trang 354)

Tháng 10 năm 2000, người Palestin đã phá hủy một lăng mộ Do Thái tại Nablus, Mộ Joseph. Họ cũng ném đá vào những người cầu nguyện tại Bức tường phía Tây và tấn công những lăng mộ Do Thái khác, Mộ Rachel. 

Những cuộc bầu cử và đàm phán đặc biệt của Barak

Khi tiến trình hòa bình dần đi chệch hướng, Thủ tướng Israel Ehud Barak đã kêu gọi một cuộc bầu cử Thủ tướng đặc biệt. Barak hy vọng rằng một chiến thắng sẽ trao cho ông quyền lực mới trong đàm phán với người Palestin. Nhưng những hy vọng của Barak không diễn ra, và vào năm 2001, lãnh đạo đối lập Ariel Sharon được bầu làm Thủ tướng Israel trong cuộc bầu cử thủ tướng đặc biệt 2001. 

Bức tường phía Tây/Western Wall

Hàng rào Bờ Tây của Israel 

Trong những năm gần đây, đa số giới chức lãnh đạo chính trị và công luận Israel đều mất lòng tin vào Chính quyền Palestin với tư cách là một đối tác hòa bình, cho rằng nhiều người Palestin coi hiệp ước hòa bình với Israel chỉ là một biện pháp tạm thời. Cùng với biểu hiện như vậy, một số nhóm cánh tả Israel đã khẳng định rằng: Israel chưa bao giờ được tôn trọng theo những thuật ngữ của bất kỳ một đề xuất nào họ từng đồng ý với người Palestin và gắng sức làm mất uy tin của tất cả những đề xuất hòa bình thật sự, không cần biết nguồn gốc của nó.

Sự rút lui khỏi Gaza

Ngày 18 tháng 12 năm 2003, Cựu thủ tướng Ariel Sharon đã thông báo rằng ông sẽ xem xét việc đơn phương rút quân khỏi nhiều khu vực lãnh thổ chiếm đóng để việc đối phó trong thời hạn lâu dài với phong trào intifada đang diễn ra được dễ dàng hơn. Điều này bị chỉ trích là một kế hoạch nhằm rút toàn bộ khỏi Dải Gaza, trong khi vẫn giữ đa số khu định cư ở Bờ Tây. Chính phủ Mỹ đã thông báo sự ủng hộ của họ cho kế hoạch này ngày 14 tháng 4 năm 2004. Giai đoạn đầu của kế hoạch liên quan tới công việc của những ủy ban kỹ thuật nhằm đưa ra những chi tiết hậu cần được nội các Israel thông qua ngày 6 tháng 6 năm 2004.

Ngày 26 tháng 10 năm 2004, kế hoạch rút quân của Sharon được nghị viện Israel phê chuẩn. Trước đó nó đã bị bác bỏ trong một cuộc bỏ phiếu bên trong đảng Likud của Sharon và chỉ được nghị viện thông qua với sự hỗ trợ của phe Công đảng đối lập. Nhiều cuộc bỏ phiếu khác đã được tổ chức về các kế hoạch sẽ diễn ra trong năm sau trước khi kế hoạch này được triển khai.

Ngày 12 tháng 4 năm 2005, Sharon tới trang trại của Tổng thống Bush tại Crawford, Texas, Hoa Kỳ. Những người phản đối kế hoạch rút quân đã đốt lốp xe tại Tel Aviv. Một ngày trước đó một cuộc náo loạn đã diễn ra tại Temple Mount, địa điểm linh thiêng nhất của Do Thái giáo, nơi các cuộc xung đột giữa những người Israel theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan và người Ả rập đã khiến hơn 3.000 cảnh sát phải can thiệp.

Temple Mount

(còn nữa)

Friday, November 14, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (04)

Những sự kiện cuối thế kỷ 20

Chiến tranh Vùng Vịnh

Năm 1990, Iraq xâm chiếm Kuwait, dẫn tới cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh giữa Iraq và một lực lượng liên quân, do Mỹ cầm đầu. Iraq, tìm cách lôi cuốn sự chú ý của cộng đồng Ả rập và ngăn chặn các nước Ả rập tham gia Liên quân (và cả khả năng tham gia cùng Iraq), đã tấn công Israel với 39 quả tên lửa Scud. Dưới sức ép từ phía Mỹ, Israel đã không trả đũa. Thay vào đó, họ chấp nhận sự hỗ trợ bảo vệ trước những cuộc tấn công từ phía Mỹ. Một người đàn ông ở vùng lân cận Ramat Khen tại Ramat Gan đã bị một tên lửa chống tên lửa MIM-104 Patriot gây thiệt mạng khi nó đi chệch mục tiêu. Khoảng 7 tới 13 người đã chết vì ngạt do sử dụng mặt nạ phòng độc không đúng cách. Những phân tích thống kê cho thấy khoảng 30-80 cái chết khác cũng có liên quan tới các cuộc tấn công, chủ yếu do những cơn đau tim được quy cho bởi "căng thẳng thần kinh và khó thở" (Journal of the American Medical Association, Tập 273(15), 19 tháng 4 năm 1995, trang 1208-1210).

Cuộc di cư từ Liên bang xô viết cũ

Năm 1990, LX cho phép những người Xô-viết gốc DT di cư từ LX về Israel. Trước sự kiện này chính phủ Xô-viết từng cấm tất cả những người DT Xô-viết (gần ba triệu người), những người muốn được di cư, quay trở lại Israel. Hàng trăm ngàn người đã lựa chọn rời bỏ đất nước sau khi lệnh cấm bị bãi bỏ. Một số nghi ngờ đặt ra về con số người DT thực sự theo luật DT là bao nhiêu trong cuộc di cư này. Những người DT truyền thống bày tỏ quan ngại này vì những vấn đề liên quan tới sự đồng nhất trong cộng đồng DT.

Những lo ngại khác tập trung trên khả năng thích ứng với văn hóa Israel và khả năng tìm kiếm việc làm thích hợp của những người di cư. (TL Lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2008 tại Wayback Machine).

Tiến trình hòa bình Trung Đông

Thắng lợi của liên quân trong cuộc chiến vùng Vịnh mở ra những khả năng mới cho một nền hòa bình khu vực, và vào tháng 10 năm 1991 Tổng thống Mỹ và LX đã cùng tham dự một cuộc gặp lịch sử tại Madrid với các nhà lãnh đạo Israel, Liban, Jordan, Syria, và Palestine. Cuộc gặp này đã trở thành nền tảng cho những cuộc đàm phán song phương và đa phương dẫn nhằm mang lại một nền hòa bình lâu dài cũng như sự phát triển kinh tế cho khu vực.

Ngày 13 tháng 9 năm 1993, Israel và PLO đã ký Tuyên bố về các Nguyên tắc (DOP) (văn bản DOP) tại Sảnh phía Nam Nhà Trắng. Tuyên bố này là một sự đột phá lớn về nhận thức đạt được sau cuộc gặp tại Madrid. Nó đưa ra những mục tiêu đầy tham vọng liên quan tới việc chuyển giao chính quyền từ phía Israel cho một nhà nước lâm thời Palestin. DOP quy định thắng 5 năm 1999 sẽ là thời gian để một thỏa thuận vĩnh viễn về quy chế cho Bờ Tây và Dải Gaza bắt đầu có hiệu lực. Israel và PLO sau này đã ký kết Hiệp ước Gaza-Jericho vào ngày 4 tháng 5 năm 1994, và Hiệp ước Chuẩn bị Chuyển giao Quyền lực và Trách nhiệm ngày 29 tháng 8, 1994, bắt đầu tiến trình chuyển giao quyền lực từ Israel cho người Palestin.

Căng thẳng với Jordan đã giảm bớt ngày 25 tháng 7, 1994 khi hai quốc gia ký Tuyên bố Washington chính thức chấm dứt tình trạng chiến tranh vốn đã tồn tại giữa họ từ năm 1948. Ngày 26 tháng 10, 1994, Israel và Jordan đã ký kết một hiệp ước hòa bình lịch sử tại biên giới giữa hai nước, với sự chứng kiến của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, cùng với Ngoại trưởng Warren Christopher. Israel nhường một phần đất tranh cãi nhỏ cho Jordan, và hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, với đường biên giới mở và thương mại tự do. Govt Israel, Govt Jordan

Thủ tướng Yitzhak Rabin và Chủ tịch PLO Yasser Arafat đã ký kết Thỏa thuận Lâm thời Israel-Palestin mang tính lịch sử về Bờ Tây và Dải Gaza ngày 28 tháng 9 năm 1995, tại Washington, D.C.. Thoả thuận này, với sự chứng nhận của Tổng thống Bill Clinton thay mặt cho Mỹ và Nga, Ai Cập, Na Uy, cùng Liên minh châu Âu, kết hợp và thay thế cho những thỏa thuận trước đó và đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đàm phán đầu tiên giữa Israel và PLO.

Hiệp ước mở rộng quyền tự trị của người Palestin thông qua cuộc bầu cử tự do để hình thành một hội đồng lập pháp. Nó quy định việc bầu cử và thành lập hội đồng đó, chuyển giao quyền dân sự, việc tái triển khai của Israel tại các trung tâm dân cư ở Bờ Tây, cá thỏa thuận an ninh, và hợp tác trong nhiều khu vực khác. Những cuộc đàm phán về quy chế cuối cùng bắt đầu ngày 5 tháng 5 năm 1996 tại Taba, Ai Cập. Như đã được đồng thuận trong Tuyên bố về các Nguyên tắc năm 1993, những cuộc đàm phán này sẽ giải quyết vấn đề quy chế Jerusalem, những người tị nạn Palestin, những người định cư Israel tại Bờ Tây và Dải Gaza, những thỏa thuận an ninh cuối cùng, các đường biên giới, các mối quan hệ và hợp tác với các quốc gia láng giềng, và các vấn đề liên quan tới lợi ích chung khác.

Vụ ám sát Rabin

Vụ ám sát Thủ tướng Rabin bởi một người DT cực đoan cánh hữu ngày 4 tháng 11, 1995 đã đẩy cuộc tranh luận tầm quốc gia về vấn đề tiến trình hòa bình sẽ đi đến đâu lên đỉnh điểm. Cái chết của Rabin khiến Israel bị rung động mạnh mẽ, dẫn tới một giai đoạn tự vấn quốc gia và tạo ra sự đồng thuận ở mức độ cao trong nước cao nhất ủng hộ cho tiến trình hòa bình.

Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin và Chủ tịch PLO Yasser Arafat bắt tay nhau trước sự chứng kiến ​​của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tại Nhà Trắng năm 1993

(còn nữa)

Thursday, November 13, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (03)

Chiến tranh Yom Kippur

Chiến tranh Yom Kippur bắt đầu khi vào ngày 6 tháng 10 năm 1973 (Ngày Chuộc lỗi của người Do Thái) quân đội Syria và Ai Cập đồng loạt tung ra những cuộc tấn công, trước sự bất ngờ của Bộ Quốc phòng Israel, khiến nước này phải chịu một thất bại tạm thời. Sau 24-48 giờ đầu tiên ưu thế chuyển sang phía Israel và trong ba tuần sau đó, phe tấn công bị đẩy lùi, các vùng đất được tái chiếm và một lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc được triển khai.

Kết quả của sự sửng sốt của xã hội Israel khiến chính phủ nước này phải bắt đầu các cuộc đàm phán về an ninh cho những đường biên giới của họ. Ngày 18 tháng 1 năm 1974, một thỏa thuận giải giáp được ký kết với chính phủ Ai Cập và ngày 31 tháng 3, với chính phủ Syria. Trên bình diện quốc tế, thế giới Ả rập trả đũa bằng cách áp đặt một lệnh cấm vận dầu lửa lên các nước có quan hệ thương mại với Israel. Chính phủ Nhật Bản tuyên bố vào ngày 22 tháng 11 năm 1973 rằng họ sẽ tái lập các mối quan hệ với chính phủ Israel trừ khi nước này rút khỏi mọi vùng lãnh thổ chiếm đóng năm 1967.

Chiến hạm Mỹ thuộc Hạm đội 6 hoạt động ở phía đông Địa Trung Hải trong Chiến tranh Yom Kippur (tháng 10 năm 1973). (Andy/Naval History and Heritage)

Hiệp ước hòa bình với Ai Cập

Tháng 11 năm 1977, Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat đã chấm dứt 30 năm thù địch với Israel khi viếng thăm Jerusalem theo lời mời của Thủ tướng Israel Menachem Begin, người vừa nhậm chức đầu năm sau thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1977, trong sự kiện được gọi là Mahapakh. Trong chuyến thăm hai ngày, gồm cả một bài phát biểu trước Knesset, nhà lãnh đạo Ai Cập đã tạo ra một không khí thuận lợi mới tại Trung Đông theo đó nền hòa bình giữa Israel và các nước Ả rập láng giềng dường như đã trở thành một mục tiêu hiện thực. Sadat công nhận quyền tồn tại của Israel và tạo ra những nền tảng cho các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Ai Cập và Israel.

Tháng 9 năm 1978, Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã mời Tổng thống Sadat và Thủ tướng Begin tới gặp cùng ông tại Trại David, và vào ngày 11 tháng 9 họ đã đồng thuận trên một khuôn khổ hòa bình giữa Israel và Ai Cập và một nền hòa bình toàn diện tại Trung Đông. Nó đã đặt ra những nguyên tắc rộng lớn và hướng lộ trình cho những cuộc đàm phán giữa Israel với các quốc gia Ả rập. Nó cũng thiết lập những khuôn khổ cho một chế độ chuyển tiếp tại Bờ Tây-Gaza với quyền tự trị toàn diện cho những người dân Palestine đang sống trên những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và cho một hiệp ước hòa bình giữa Ai Cập và Israel. Hiệp ước được Begin và Sadat ký kết ngày 26 tháng 3 năm 1979, với một chữ ký làm chứng của Tổng thống Carter. Theo hiệp ước này, Israel trao trả Sinai cho Ai Cập vào tháng 4 năm 1982. Năm 1989, Chính phủ Israel và Ai Cập ký kết một thỏa thuận giải quyết quy chế của Taba, một vùng do lịch tại Vịnh Aqaba.

Liên đoàn Ả rập đã phản ứng trước hiệp ước hòa bình bằng cách tạm ngưng quy chế thành viên của Ai Cập trong tổ chức này và rời trụ sở của nó từ Cairo tới Tunis. Sadat sau này bị các thành viên phản đối những nỗ lực tìm kiếm hòa bình của ông với Israel trong quân đội Ai Cập ám sát.

Tổng thống Jimmy Carter, Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat và Thủ tướng Israel Menachem Begin ở Trại David (tháng 9 năm 1978)

Liban và tình hình biên giới giáp với Israel 

Những năm sau cuộc chiến năm 1948, biên giới của Israel với Liban khá yên tĩnh so với những đường biên giới với các quốc gia khác. Tuy nhiên, sau cuộc trục xuất những chiến binh fedayeen Palestin khỏi Jordan năm 1970 buộc họ phải tràn vào miền nam Li ban, tình trạng thù địch tại biên giới phía bắc Israel ngày càng tăng cao. Tháng 3 năm 1978, sau một loạt những vụ chạm súng giữa các lực lượng Israel và du kích Palestin tại Li ban, các lực lượng Israel đã vượt biên giới vào Liban bắt đầu Chiến dịch Litani. Sau khi Nghị quyết 425 của Hội đồng bảo an được thông qua, kêu gọi sự rút lui của Israel và thành lập Các lực lượng lâm thời Liên hiệp quốc tại Liban (UNIFIL) để giữ gìn hòa bình, Israel đã rút lui.

Tháng 7 năm 1981, sau những cuộc đấu súng khác giữa Israel và người Palestin tại Liban, phái viên đặc biệt của Tổng thống Ronald Reagan, Philip C. Habib, đã giúp đỡ dàn xếp một cuộc ngừng bắn giữa các bên. Trong thời gian này Tổ chức Giải phóng Palestin (PLO) đã tung ra các cuộc tấn công bằng rocket và pháo vào miền bắc Israel. PLO đồng thời giao chiến với các lực lượng Thiên chúa giáo Li ban.

Tháng 6 năm 1982, Israel trả đũa bằng cách xâm chiếm phần phía nam Liban trong cuộc Chiến tranh Liban 1982 nhằm tiêu diệt PLO, ban đầu chỉ là khỏi miền nam Liban nhưng sau này trên toàn diện đất nước. Một số người Liban ban đầu thực sự có cảm tình với Israel, nhưng sau đó hầu như toàn bộ người Liban cảm thấy bực bội với sự chiếm đóng của Israel. Thương tích nặng nề của Israel và sự thiếu hụt mục tiêu rõ rệt khiến sự bất bình trong nhân dân Israel về cuộc chiến cũng ngày càng gia tăng.

Tháng 8 năm 1982, PLO rút toàn bộ các lực lượng của mình khỏi Liban. Với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, Israel và Liban đã đạt được một thỏa thuận vào tháng 5 năm 1983 đặt ra tiến trình rút quân đội Israel khỏi Liban. Tuy nhiên, những văn kiện đã được phê chuẩn không bao giờ được trao đổi giữa hai bên, và vào tháng 3 năm 1984, dưới sức ép từ phía Syria, Liban đã hủy bỏ thỏa thuận này. Tháng 6 năm 1985, Israel rút đa số quân đội của mình khỏi Liban, chỉ để lại một lực lượng đồn trú nhỏ và một nhóm du kích ủng hộ Israel tại miền nam Liban trong một "vùng an ninh," mà Israel coi là miếng đệm cần thiết chống lại các cuộc tấn công vào lãnh thổ phía bắc của họ. Cuối cùng Israel đã rút toàn bộ khỏi vùng này năm 2000, dưới thời cầm quyền của Thủ tướng Ehud Barak, đáp ứng Nghị quyết 425 của Hội đồng bảo an. Từ đó Liban vẫn tuyên bố chủ quyền với một vùng nhỏ tại Cao nguyên Golan được gọi là "Shebaa Farms" mà Israel đã chiếm của Syria năm 1967.

Hình ảnh (IDF): Binh lính Israel trong Chiến tranh Liban 1982

(còn nữa)

Wednesday, November 12, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (02)

Chiến tranh giành độc lập 1948

Ngay sau việc tuyên bố thành lập Nhà nước Israel, các lực lượng Ai Cập, Syria, Iraq, Jordan, và Liban tấn công nhà nước mới ra đời từ mọi hướng. Trong một cuộc chiến liều lĩnh và đẫm máu đặc trưng bởi sự sử dụng nhiều loại vũ khí và những chiến thuật mưu mô, Israel cuối cùng đã đẩy lùi các lực lượng thù địch, và sau đó tiến quân chiếm một số vùng lãnh thổ vốn được quy định dành riêng cho người Ả rập theo Kế hoạch phân chia và cả thành phố Jerusalem. Một thỏa thuận ngừng bắn được ký kết giữa hai phía, và giới tuyến trở thành đường biên giới giữa Israel và các lãnh thổ Ả rập. Như một kết quả của cuộc chiến tranh năm 1948, Israel kiểm soát toàn bộ lãnh thổ đã được dành cho họ theo Kế hoạch Phân chia và đa phần lãnh thổ dành cho người Ả rập cũng như một nửa thành phố Jerusalem thuộc quyền quản lý của Liên hiệp quốc. Các vùng lãnh thổ Ả rập còn lại là Bờ Tây và Dải Gaza; Bờ Tây do Jordan quản lý, trong khi Dải Gaza thuộc quyền quản lý của Ai Cập (Để có thêm chi tiết, cần xem các bài về Chiến tranh Ả rập-Israel 1948).

Năm 1949, dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc, bốn thỏa thuận đình chiến đã được đàm phán và ký kết tại Rhodes, Hy Lạp, giữa Israel và các nước lân cận là Ai Cập, Jordan, Liban và Syria. Cuộc chiến tranh giành độc lập 1948-49 dẫn tới việc lãnh thổ Israel tăng thêm 50%, gồm cả phần tây Jerusalem. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán tại Rhodes không mang lại được một thỏa thuận dàn xếp tổng thể và bạo lực dọc theo các đường biên giới tiến tục kéo dài trong nhiều năm.

Kết cục của cuộc chiến này, khoảng 711.000 người tị nạn Ả rập trở thành người tị nạn và hơn 800.000 người Do Thái cũng rơi vào tình trạng tương tự. Con số sau gồm cả toàn bộ người Do Thái phải bỏ chạy hay bị trục xuất khỏi các nước Ả rập sau khi nhà nước Israel hình thành. Những nguồn tin ủng hộ người Palestine gọi đó là những người di cư, chứ không phải người tị nạn. Những người ủng hộ Israel cho rằng đó là sự trục xuất người Do Thái khỏi những vùng đất Ả rập, nhiều cộng đồng trong số đó đã được hình thành từ hơn 2000 năm trước. Theo quan điểm của đại đa số người Ả rập sự ra đời của Israel là một nguyên nhân gây ra sự tẩy rửa sắc tộc mà mục tiêu chính là những người Palestin. Khoảng 600.000 người tị nạn Do Thái đã định cư tại Nhà nước Israel, họ không có ý định và cũng không muốn quay trở lại những quốc gia cũ; nhiều người tị nạn Ả rập, và con cháu họ, tới bây giờ vẫn là những người tị nạn sống trong những trại tị nạn do Cơ quan Cứu trợ và Lao động Liên hiệp quốc cho những Người tị nạn Palestin tại Cận Đông (UNRWA) thành lập. Họ là nhóm người tị nạn duy nhất không được các quốc gia thu nhận từ giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai.

Ngày 5 tháng 7 năm 1950, Knesset (Nghị viện Israel) thông qua luật hồi hương trao cho mọi người Do Thái quyền di cư tới Israel. Thậm chí trước khi luật này được thông qua, những làn sóng nhập cư đã tăng mạnh, và được chính quyền nước này hỗ trợ. Từ năm 1947 đến năm 1950 khoảng 250.000 người còn sống sót sau những vụ diệt chủng của Phát xít Đức đã quay trở về Israel. "Chiến dịch Thảm Thần" đã đưa hàng nghìn người Yemen (gốc DT) về Israel.

Những năm đầu tiên nhà nước Israel mới thành lập gặp khá nhiều khó khăn, và một chính sách thắt lưng buộc bụng được đưa ra áp dụng năm 1949, và có hiệu lực mãi tới năm 1959.

Hình ảnh (chọn từ net): Đại úy Avraham Adan dựng lá cờ Israel tại Umm Rashrash (nay là Eilat) đánh dấu kết thúc chiến tranh

Vụ Lavon

Sau khi Gamal Abdal Nasser lên cầm quyền ở Ai Cập vào năm 1952, quan hệ giữa Mỹ và Ai Cập đã được cải thiện. Điều này được coi là một mối đe dọa đối với Israel. Trong một vụ rắc rối khiến công chúng Israel xúc động khi sự thật được phơi bày, và sau đó dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ, một nhóm cá nhân bên trong chính phủ Israel và Mossad đã âm mưu phá họai quan hệ giữa Ai Cập và Mỹ. Nhóm này đã đạo diễn một chiến dịch đánh bom chống lại các cơ sở chính phủ và dân sự Mỹ tại Ai Cập, gồm cả thư viện Mỹ tại Alexandria và Cairo, một rạp chiếu phim MGM, và các tòa nhà kinh doanh dân sự khác của Mỹ.

Chiến dịch này bị ngừng lại năm 1954 với việc Ai Cập bắt giữ hai nhân viên mật vụ đang tìm cách gài một quả bom; việc này đã dẫn tới sự tan rã của nhóm và sự bắt giữ hay hành quyết đa số thành viên của nó. Một số người cho rằng Israel đã không hành động đầy đủ để bảo vệ các nhân viên mật vụ của mình, những người bị cho là bị các cơ quan Ai Cập ngược đãi và tra tấn.

Trong cuộc điều tra sau đó, Thiếu tướng Binyamin Gibli đã tuyên bố rằng Bộ trưởng Quốc phòng, Pinhas Lavon đã ra lệnh miệng tiến hành chiến dịch này. Giám đốc Nhân sự ở thời điểm đó, Moshe Dayan, đồng ý với ý kiến này. Vì hậu quả của vụ việc, hiện được gọi là Vụ Lavon, Lavon buộc phải từ chức. David Ben Gurion lên thay thế. Năm 1960, sau khi bằng chứng mới từ một vụ xét xử kín một nhân viên mật vụ bị nghi ngờ là hai mang năm 1958, Lavon đã yêu cầu Ben Gurion tuyên bố miễn tội cho mình. Ben-Gurion đã từ chối, bởi ông không thể tin rằng các sĩ quan của quân đội Israel, do chính ông đào tạo, có thể phạm một hành động bất lương như vậy  (như Lavon dàn dựng).

Năm 1960, một ủy ban gồm bảy bộ trưởng đã tiến hành một cuộc điều tra vụ việc và tìm ra một tài liệu đã được Moshe Dayan và Shimon Peres khi ấy là Thứ trưởng Quốc phòng sử dụng, để đẩy trách nhiệm về chiến dịch Ai Cập 1954 cho Lavon. Một băng ghi âm sau đó cho thấy Peres, Dayan và Thiếu tướng Abraham Givli cũng có liên quan. Những kết luận của ủy ban được chính phủ chấp nhận. Dù có những nỗ lực nhằm che đậy các chi tiết của vụ việc dưới mác an ninh quốc gia, Vụ Lavon đã dẫn tới một scandal thứ hai và Ben Gurion buộc phải từ chức vì sự bất lực của chính phủ liên quan tới các nguyên nhân chính trị. Công chúng Israel phản ứng trước diễn biến mới của vụ việc khi họ biết sự thật của âm mưu này.

Trong cuộc bầu cử năm 1961 sau đó, Ben-Gurion đã tuyên bố rằng ông sẽ chỉ chấp nhận nhậm chức nếu Lavon rời khỏi chức vụ lãnh đạo Histadrut, tổ chức liên đoàn lao động của Israel. Những yêu cầu của ông được chấp nhận; tuy nhiên năm 1963 ông một lần nữa phải rời khỏi nhiệm sở khi vụ việc được lật lại. Những nỗ lực của ông nhằm tạo lập đảng chính trị MAPAI riêng biệt của mình để giải quyết vấn đề này trong giai đoạn 1964-1965 đã hại ông, và Ben-Gurion buộc phải ra đi.

Chiến tranh Suez 1956

Cuộc khủng hoảng Suez xảy ra khi cuộc xung đột năm 1956 giữa Israel và Ai Cập nổ ra, với việc Ai Cập đã gửi các lực lượng du kích vào trong lãnh thổ Israel và Israel tung ra những cuộc tấn công vào lãnh thổ Ai Cập để trả đũa. Ai Cập phong toả Vịnh Aqaba, và đóng cửa Kênh đào Suez với tàu bè Israel. Ai Cập cũng quốc hữu hóa kênh đào, sự việc khiến những nước châu Âu đang cai quản kênh nổi giận. Để trả đũa, Pháp và Anh Quốc ký kết một thỏa thuận mật với Israel để chiếm lại con kênh bằng vũ lực.

Theo thỏa thuận này (vốn không được chính thức công nhận cho mãi tận gần đây), Israel xâm chiếm Dải Gaza và Bán đảo Sinai vào tháng 10 năm 1956. Các lực lượng Israel sẽ nhanh chóng tiến tới kênh đào và sau đó các lực lượng Anh và Pháp sẽ tới với lý do thiết lập lại ổn định.

Các lực lượng Israel, Pháp và Anh nhanh chóng giành thắng lợi nhưng buộc phải rút lui vào tháng 3 năm 1957 vì có áp lực từ phía đồng minh của họ là Mỹ, vốn không ủng hộ cuộc Chiến tranh Suez. The Liên hiệp quốc thành lập Lực lượng Khẩn cấp Liên hiệp quốc (UNEF) để giữ gìn hòa bình trong vùng.

Cuộc chiến sáu ngày 

Tháng 6 năm 1967, quân đội Ả rập thống nhất triển khai với số lượng lớn dọc các đường biên giới, trong khi Ai Cập đóng cửa Eo Tiran và Nasser yêu cầu UNEF rời Ai Cập. Cuộc Chiến tranh sáu ngày bắt đầu ngày 5 tháng 6 năm đó, không quân Israel tung ra các cuộc tấn công phủ đầu phá hủy các căn cứ không quân Ai Cập, cùng ngày hôm đó họ cũng tấn công các lực lượng không quân Jordan và Syria. Sau đó Israel đánh bại (gần như liên tục) Ai Cập, Jordan và Syria. Tới ngày 11 tháng 6 các lực lượng Ả rập rút lui và tất cả các bên chấp nhận lời kêu gọi ngừng bắn của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc theo Nghị quyết 235 và 236.

Israel giành được quyền kiểm soát Bán đảo Sinai, Dải Gaza, Cao nguyên Golan, và vùng Bờ Tây Sông Jordan vốn thuộc quyền kiểm soát của Jordan trước kia, gồm cả Đông Jerusalem thành nhà nước 'Đại Israel'. Ngày 22 tháng 11 năm 1967, Hội đồng bảo an thông qua Nghị quyết 242, theo công thức "đổi đất lấy hòa bình", kêu gọi thành lập một nền hòa bình công bằng và lâu dài dựa trên việc rút quân đội Israel khỏi các vùng đất chiếm đóng năm 1967 để đổi lấy việc chấm dứt tình trạng chiến tranh giữa mọi quốc gia, sự tôn trọng chủ quyền của mọi nước trong vùng, và quyền sống trong hòa bình, an ninh cũng như được công nhận các đường biên giới.

Trong cuộc chiến tranh tiêu hao giai đoạn 1969-1970, máy bay Israel đã tấn công sâu vào trong lãnh thổ Ai Cập để trả đũa những vụ bắn pháo liên tục của Ai Cập vào các vị trí của họ dọc Kênh Suez. Đầu năm 1969, giao tranh nổ ra giữa Ai Cập và Israel dọc theo Kênh đào Suez. Mỹ đã giúp chấm dứt những cuộc xung đột đó vào tháng 8 năm 1970, nhưng những nỗ lực sau này của Mỹ nhằm đàm phán một thỏa thuận tạm thời để mở cửa Kênh Suez và giải giáp các lực lượng hai bên không mang lại thành công.

Máy bay chiến đấu Mirage của Israel bay qua Sinai tại biên giới Israel-Ai Cập vào ngày 5 tháng 6 năm 1967, khi Israel tấn công Ai Cập, mở đầu Chiến tranh Sáu ngày. (AFP/Getty Images)

(còn nữa)

Monday, November 10, 2025

Thế giới: Lược sử Israel (01)

Ngày Độc lập của Israel là 1 trong những ngày lễ lớn nhất của quốc gia này, trong khi với người Palestin và các quốc gia Ả Rập, thì đây là ngày tang thương.

Việc hòa giải 2 dân tộc là vấn đề ko đơn giản!

------------

Phần mở đầu

Mong ước của người Do Thái nhằm quay trở lại nơi mà họ coi là Tổ quốc theo đúng quyền lợi của họ đã được thể hiện lần đầu tiên trong thời gian chiếm đóng của người Babylon sau năm 597. Nó đã trở thành một đề tài chính của người Do Thái từ sau những cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã, dẫn tới việc phá huỷ Jerusalem của người La Mã năm 70, và việc trục xuất người Do Thái sau đó. Cộng đồng người Do Thái và những người còn ở lại tiếp tục coi vùng đất đó là quê hương tinh thần và miền đất hứa của họ; không hề có bằng chứng về bất cứ một sự gián đoạn nào trong sự hiện hiện của người Do Thái tại vùng đất đó trong hơn ba nghìn năm qua. Trong nhiều thế hệ, chủ đề chính đa phần mang tính chất tôn giáo dựa trên lòng tin về việc người Do Thái sẽ quay trở lại Zion với sự xuất hiện của Messiah, tức là, chỉ sau khi có sự can thiệp của thần thánh; một số đã đề xuất hay cố gắng quay trở lại sớm hơn, nhưng họ chỉ là thiểu số.

Tuy nhiên, từ thời Holocaust, chủ nghĩa Do Thái đã lấn át trong những người theo Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionist). Hiện hay, tất cả những người theo phái Cải cách, Bảo thủ và Chính thống đều là người theo Chủ nghĩa phục quốc Do Thái; và thậm chí những người Do Thái Haredi đã thay đổi từ chống Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (chống đối tích cực Chủ nghĩa phục quốc Do Thái) thành không theo Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (giữ thái độ trung lập với Chủ nghĩa phục quốc Do Thái.) Những phong trào không theo Phục quốc Do Thái hiện nay rất hiếm thấy.

Tới giữa thế kỷ 19, Lãnh thổ Israel từng là một phần của Đế chế Ottoman với đa số dân Hồi giáo và Ả rập theo Thiên chúa giáo sinh sống, cũng như người Do Thái, Hy Lạp, Druze, Bedouin và các dân tộc thiểu số khác.

Tới năm 1844, người Do Thái là nhóm người đông đảo nhất (và tới năm 1890 trở thành đa số tuyệt đối) ở một số thành phố, nhất là tại Jerusalem. Hơn nữa, ngoài những cộng đồng tôn giáo truyền thống Do Thái đó, được gọi là Old Yishuv, ở nửa sau thế kỷ 19 xuất hiện một hình thức nhập cư Do Thái mới, đa số là những người cánh tả theo chủ nghĩa xã hội với mục tiêu đòi lại đất đai bằng cách lao động trên đó.

Tuyên bố Balfour năm 1917 xác nhận rằng Chính phủ Anh Quốc "nhìn nhận với sự ưu tiên việc thành lập tại Palestin một nhà nước quê hương cho người Do Thái"..."nó được hiểu rõ ràng rằng không hành động nào có thể được thực hiện nếu nó có thể làm tổn hại cho các quyền dân sự và tôn giáo của các cộng đồng không phải Do Thái đang sinh sống ở Palestin". Tuyên bố này được một số nước ủng hộ, gồm cả Hoa Kỳ và ngày càng trở nên quan trọng hơn sau Chiến tranh thế giới thứ nhất khi Liên đoàn quốc gia giao cho Anh Quốc quyền ủy trị Palestin.

Vào những năm 1920, việc nhập cư của những người Do thái diễn ra khá chậm chạp. Những biến động chính trị gây ra bởi sự khủng bố của Đức Quốc xã tại châu Âu đã làm gia tăng nhanh chóng làn sóng nhập cư vào những năm 1930, cho đến khi Anh Quốc ban hành lệnh phong tỏa vào năm 1939. Chứng kiến sự tàn sát người Do thái của Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cộng đồng quốc tế đã nỗ lực giúp đỡ người Do thái thoát khỏi sự phong tỏa của Anh Quốc để định cư tại Jerusalem.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Anh Quốc đã bày tỏ ý định muốn rút chân ra khỏi Palestin vốn đang được đặt dưới sự ủy trị của mình. Đại hội đồng Liên hiệp quốc đề xuất việc chia cắt Palestin ra là hai nhà nước, Ả Rập và Do Thái cùng với khu vực Jerusalem được đặt dưới sự kiểm soát của Liên hiệp quốc.

Cuộc di cư của người Do Thái tăng dần từ thập niên 1920; về căn bản cuộc di cư này tăng chủ yếu trong thập niên 1930, vì sự bất ổn chính trị tại châu Âu với cuộc diệt chủng người Do Thái của Phát xít Đức đang diễn ra ở thời điểm đó, tới khi những biện pháp hạn chế được Anh Quốc đưa ra năm 1939. Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ hai và sự hầu như tuyệt chủng của người Do Thái tại châu Âu với nguyên nhân từ Phát xít Đức, sự ủng hộ quốc tế cho những người Do Thái đang tìm kiếm nơi định cư tại Palestin khiến các nỗ lực của Anh nhằm ngăn chặn làn sóng này không còn kết quả.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, người Anh đã thông báo ý định rút lui khỏi lãnh thổ ủy trị Palestin của mình. Đại hội đồng Liên hiệp quốc đề xuất việc phân chia Palestin thành hai nhà nước, một nhà nước Ả rập và một nhà nước Do Thái, với Jerusalem sẽ thuộc quyền quản lý của Liên hiệp quốc. Đa số người Do Thái tại Palestin chấp nhận đề xuất này, trong khi đa số người Ả rập tại Palestin phản đối nó. Người Ả rập hoàn toàn bác bỏ ý tưởng về một nhà nước Do Thái tại Palestin (tuy nhiên, họ không bị một ràng buộc pháp lý nào với việc chấp nhận kế hoạch bởi các nghị quyết của Đại hội đồng không mang tính bắt buộc).

Bạo lực giữa cộng đồng Ả rập và Do thái nổ ra hầu như ngay lập tức sau đó. Tới cuối thời kỳ ủy trị của Anh, người Do Thái dự định tuyên bố thành lập một nhà nước riêng rẽ, một động thái mà người Ả rập quyết tâm ngăn chặn. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, những lực lượng Anh cuối cùng rời khỏi Palestin, và người Do Thái, dưới sự chỉ đạo của David Ben Gurion, đã tuyên bố thành lập Nhà nước Israel, theo Kế hoạch phân chia.

(còn nữa)

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Israel 

Hình ảnh: Quốc kỳ Israel (Chọn từ net)

Được mất 1 đời

 Đừng kết hôn với ai đó chỉ vì "tiềm năng"

Trong "Một đời được mất", Vãn Tình có một lời khuyên rất thấm thía về hôn nhân: Đừng mong chờ con người sẽ vì tình yêu mà thay đổi tâm tính. Bạn kết hôn với ai thì hãy kết hôn với chính con người hiện tại của người đó, chứ không phải vì phiên bản mà bạn hy vọng họ sẽ trở thành. 

Thế nên khi thấy điều gì đó không ổn thì hãy sớm buông tay. Từ bỏ một cuộc tình tồi tệ, từ bỏ một người không xứng đáng thì chẳng có gì đáng tiếc, ngược lại, bạn phải thấy may mắn vì đã có cơ hội rời đi kịp thời, nhờ vậy sau này bạn mới gặp được người tốt hơn.

Có một sự thật phũ phàng: khi kết hôn, vì kiến thức và tầm nhìn của bản thân có hạn, bạn khó nhận biết đâu là người thực sự tốt. Nếu hai người đã tương đương nhau ở thời điểm cưới, thì điều bạn chưa làm được, anh ấy cũng khó mà làm được. Ký thác kỳ vọng lên “phiên bản chưa tồn tại” của anh ấy chẳng khác nào đặt cược cả đời vào một ảo tưởng.

Phụ nữ thông minh chưa chắc đã gặp được người đàn ông hoàn hảo, nhưng chắc chắn họ sẽ không làm khổ mình bằng cách chấp nhận cả đời ở bên một người khiến cuộc sống tồi tệ hơn. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không được xây trên tiềm năng, mà trên thực tế: anh ấy là ai, đang sống thế nào, đối xử với bạn ra sao - ngay lúc này.

Hãy nhớ, tiềm năng thì ai cũng có. Vấn đề là, không phải ai cũng biến tiềm năng thành hiện thực. Và bạn không thể đánh đổi tuổi trẻ, cơ hội, hay cả hạnh phúc của mình để chờ một người… biết đâu sẽ thay đổi.

Những gì em không chịu được trong khi yêu nhau, thì khi kết hôn sẽ còn tăng lên mấy lần. Vậy nên đừng kết hôn vì "tiềm năng".

Bloom Văn học và Nghệ thuật

Sunday, November 9, 2025

Tuổi 70: Những khám phá được đúc kết từ "Super Agers"

Bác sĩ tim mạch U80 trẻ hơn 13 tuổi nhờ 5 thói quen

Ở tuổi 71, bác sĩ Eric Topol có "tuổi tim" trẻ hơn 13 tuổi, nhờ áp dụng những thói quen mà ông tin rằng có thể giúp mọi người kéo dài 10-20 năm sống khỏe mạnh.

Bác sĩ Eric Topol. Ảnh: Dan Tuffs

Tại nhà riêng ở California, bác sĩ Topol khoe một bức ảnh trên điện thoại. Đó là dữ liệu từ chiếc nhẫn Oura, một thiết bị theo dõi giấc ngủ và sức khỏe, cho thấy tuổi tim của ông trẻ hơn 13 tuổi so với tuổi thật 71. "Thật tuyệt khi thấy điều đó", ông nói. "Mọi công sức đều được đền đáp. Tôi không cố gắng để trở thành một vận động viên thể hình, chỉ muốn sống và già đi một cách khỏe mạnh".

Mỗi ngày, ông dành một giờ cho các bài tập kết hợp sức mạnh, tim mạch và vùng cơ lõi. Ông tập với tạ, deadlifts và nhảy dây – một kỹ năng mà ông cũng phải kiên trì luyện tập từ những lần vấp ngã đầu tiên. "Một nghiên cứu trong sách cho thấy chỉ một giờ tập luyện kháng lực mỗi tuần đã làm giảm 25% nguy cơ tử vong", bác sĩ chia sẻ.

Song song đó, chế độ ăn của ông tuân thủ nguyên tắc khoa học, gồm một thực đơn Địa Trung Hải chủ yếu dựa trên thực vật, với nhiều dầu ô liu, các loại hạt, rau quả, cá và đậu. Suốt 45 năm qua, ông không tiêu thụ thịt đỏ.

Bài học sâu sắc nhất Topol nhận ra lại đến từ thời điểm khó khăn của cả thế giới. "Mãi đến khi đại dịch xảy ra, tôi mới nhận ra các mối quan hệ xã hội quan trọng như thế nào", ông bày tỏ. Sự cô đơn và cách ly xã hội, theo nhiều bằng chứng thuyết phục, gây hại cho sức khỏe không kém gì các yếu tố thể chất.

Kể từ đó, ông đã nỗ lực một cách có ý thức để vun đắp các mối quan hệ. Topol không phản đối việc thưởng thức một ly rượu vang cùng người thân, bởi ông tin rằng lợi ích từ những khoảnh khắc giao tiếp xã hội vui vẻ có thể vượt qua nguy cơ nếu tiêu thụ ở mức độ chừng mực. "Những giây phút vui vẻ bên người thân rất quan trọng, tôi không nghĩ phải bỏ hẳn rượu bia thì mới sống khỏe khi về già", bác sĩ nói.

Cuối cùng, bí quyết của Topol không chỉ nằm trong phòng gym hay trên bàn ăn, mà còn ở ngoài trời. "Chúng ta dành quá ít thời gian để hòa mình với thiên nhiên", ông trăn trở. Lợi ích của việc này đã được chứng minh rộng rãi như giúp hạ huyết áp, ngủ ngon hơn, giảm nguy cơ bệnh tim mạch và cải thiện sức khỏe tinh thần.

"Thế nên, nếu bạn muốn 'một công ba việc' để chống lão hóa", vị bác sĩ đúc kết. "Hãy đi dạo cùng một người bạn giữa thiên nhiên. Bạn sẽ được tập thể dục, được giao lưu xã hội và còn được hưởng những lợi ích từ thiên nhiên".

Bình Minh (Theo The Telegraph)

Saturday, November 8, 2025

Meet Nghĩa @ Thảo Điền: Tọa đàm về nhiều đề tài lý thú

 

Món đùi cừu nướng là đặc sản của nhà hàng


Đặc sản cừu nướng và rượu ngon là cái nền tuyệt vời của buổi tọa đàm hôm nay

Vấn đề đặt ra rất nghiêm túc


Đầu đề của 6000 cái ấy

Thursday, November 6, 2025

Những lý do máy tính bị chậm và cách khắc phục

 Máy tính chạy chậm là vấn đề nhiều người gặp phải, nhưng hoàn toàn có thể khắc phục nếu biết đúng nguyên nhân và cách xử lý phù hợp.

Thiếu RAM

RAM là bộ nhớ tạm giúp máy xử lý các tác vụ khi đang hoạt động. Nếu máy chỉ có 2–4GB RAM, việc mở nhiều phần mềm hoặc trình duyệt với nhiều tab sẽ khiến máy chậm đi rõ rệt.

Cách khắc phục:

Nâng cấp RAM lên tối thiểu 8GB nếu có thể.

Đóng bớt phần mềm không cần thiết.


Ổ cứng HDD quá chậm hoặc đã xuống cấp

Ổ cứng HDD sử dụng cơ chế quay đĩa, tốc độ truy xuất dữ liệu chậm và dễ bị phân mảnh sau thời gian dài sử dụng, khiến máy tính mất nhiều thời gian để mở tệp tin hay khởi động.

Cách khắc phục:

Nâng cấp lên ổ SSD, tốc độ nhanh gấp nhiều lần HDD.

Nếu vẫn dùng HDD, nên chống phân mảnh định kỳ bằng công cụ tích hợp trong Windows.


Máy tính nhiễm virus hoặc phần mềm độc hại

Virus, phần mềm quảng cáo hoặc mã độc có thể chạy ngầm và chiếm tài nguyên hệ thống, làm chậm máy và gây lỗi bất thường.

Cách khắc phục:

Cài đặt phần mềm diệt virus uy tín.

Quét virus thường xuyên.

Tránh tải phần mềm hoặc nhấp vào link không rõ nguồn gốc.


Có quá nhiều phần mềm chạy nền

Một số phần mềm như Skype, Zalo, Zoom… tự động khởi động khi bật máy, gây tốn tài nguyên.

Cách khắc phục:

Vào Task Manager > Startup, tắt bớt các chương trình không cần thiết.

Gỡ các phần mềm không dùng đến trong Control Panel > Programs and Features.


Máy quá nóng khiến hiệu suất giảm

Nhiệt độ cao làm CPU tự động giảm xung nhịp để bảo vệ phần cứng, khiến máy chậm lại. Nguyên nhân có thể do bụi bẩn bám vào quạt tản nhiệt hoặc keo tản nhiệt khô.

Cách khắc phục:

Vệ sinh máy định kỳ (nhất là laptop sau 1–2 năm sử dụng).

Đặt máy nơi thoáng mát, tránh bịt lỗ thông gió.

Thay keo tản nhiệt nếu máy đã quá nóng.


Ổ đĩa hệ thống (thường là ổ C) bị đầy

Khi ổ C gần đầy, Windows không đủ không gian tạm để hoạt động, làm máy chạy chậm hoặc dễ bị treo.

Cách khắc phục:

Xóa file rác, dọn thùng rác.

Dùng công cụ Disk Cleanup hoặc phần mềm như CCleaner.

Di chuyển dữ liệu sang ổ khác hoặc lưu trữ lên cloud.


Hệ điều hành và phần mềm lỗi thời

Hệ điều hành và phần mềm cũ có thể chứa lỗi, không tương thích với máy, gây ra sự cố hoặc làm giảm hiệu suất.

Cách khắc phục:

Cập nhật Windows và phần mềm thường xuyên.

Bật tự động cập nhật trong Windows Update.


Driver thiết bị chưa được cập nhật

Driver cũ hoặc bị lỗi có thể gây xung đột phần mềm, làm máy hoạt động không ổn định.

Cách khắc phục:

Cập nhật driver từ trang chính thức của hãng (Intel, AMD, NVIDIA…).

Hoặc sử dụng phần mềm hỗ trợ như Driver Booster, Snappy Driver.


Phần cứng đã cũ, yếu hoặc xuống cấp

Nếu máy quá cũ (trên 5–7 năm), CPU hoặc card đồ họa có thể không đủ mạnh cho các phần mềm hiện đại.

Cách khắc phục:

Nâng cấp phần cứng như RAM, ổ SSD.

Với máy quá cũ, hãy cân nhắc thay máy mới phù hợp với nhu cầu.

THIỆN NHÂN (T/H) - Lao Động onl

Wednesday, November 5, 2025

Đạo làm người

ĐỜI DẠY TA: LÀM NGƯỜI, ĐỪNG THẤT ĐỨC.

Đời có thể không dạy ta phải khôn ngoan từ sớm, nhưng chắc chắn sẽ dạy ta biết rằng làm người mà thất đức, thì sớm muộn cũng phải trả giá.

Có những người tưởng rằng lừa được ai đó là thắng, chiếm được lợi một chút là khôn. Nhưng họ quên rằng, luật nhân quả không cần ai ban, nó chỉ chờ đủ thời gian để quay lại một cách lặng lẽ và chính xác đến lạnh người. Đời này, có thể thoát được pháp luật, nhưng không ai thoát khỏi lòng mình, và không ai tránh được cái giá phải trả cho sự thất đức.

Làm người, không cần phải quá giỏi, nhưng nhất định phải có tâm.
Có thể nghèo tiền, nghèo của, nhưng đừng bao giờ nghèo nhân cách.
Bởi tiền bạc có thể kiếm lại, danh tiếng có thể xây lại, nhưng một khi đánh mất đức – thì chẳng còn gì để làm lại nữa.

Đời dạy ta rằng, sự thật có thể bị che giấu, nhưng không bao giờ bị chôn vùi.
Lòng người có thể đổi thay, nhưng trời đất thì có mắt.
Ai gieo điều ác, sớm muộn cũng gặp quả đắng.
Ai sống có tâm, có hậu, dù đi chậm, nhưng đường họ đi luôn thảnh thơi và an nhiên.

Người ta tưởng mạnh là khi có quyền, có tiền.
Nhưng thật ra, mạnh nhất là khi vẫn giữ được lòng thiện giữa một thế giới đầy mưu toan.
Bởi khi bạn có thể chọn cách xấu mà vẫn chọn điều đúng, đó là bản lĩnh.
Còn khi bạn vì tham mà thất đức, thì dù có giàu đến đâu, cũng chỉ là kẻ đáng thương.

Đời dạy ta đừng hơn thua bằng mưu kế, hãy hơn người bằng nhân nghĩa.
Đừng để lòng tham làm mờ mắt, và đừng để cái ác dạy mình cách sống.
Vì cuối cùng, những gì ta gieo trong đời, không mất đi, nó chỉ đang trên đường quay trở lại.

Làm người, giữ đức như giữ mạng.
Vì khi đức mất, mọi thứ còn lại cũng chỉ là vỏ rỗng của một đời.

TnBS

Tuesday, November 4, 2025

Trong dòng chảy AI

 CẢNH BÁO VỀ SỰ TRÀN LAN AI VÀ NHỮNG CÁI BẪY 

Tôi vẫn nhớ như in cái ngày đầu những năm cuối 1990s, khi nghe thấy âm thanh “rè rè” đặc trưng của chiếc modem đang kết nối Internet. Âm thanh ấy với thế hệ chúng tôi là biểu tượng của hy vọng và nỗ lực. Để tìm được một mẩu thông tin, chúng tôi phải học cách gõ những dòng lệnh, phải kiên nhẫn chờ đợi, phải tự tay lật qua hàng chục trang “rác” để tìm được một “viên ngọc” tri thức. Quá trình đó tuy mệt, nhưng rèn cho chúng tôi lòng kiên nhẫn, óc phân định và thói quen tự học.

Tri thức khi được chắt lọc từ gian khó thì sẽ thấm sâu vào máu.

Một cuộc cách mạng còn lớn hơn đang đến

Gần ba mươi năm sau, chúng ta đang đứng trước một cuộc cách mạng còn vĩ đại hơn: Trí tuệ nhân tạo - AI.

Tại Việt Nam, AI đang dấy lên như một “cơn sốt tiện lợi”. Học sinh, sinh viên dùng ChatGPT để viết luận văn trong vài phút. Dân văn phòng dùng AI để viết báo cáo, lập kế hoạch. Giới sáng tạo dùng Midjourney để “vẽ” hàng trăm bức tranh trong một giờ. Ai cũng hào hứng khoe kết quả. Ai cũng thán phục vì mình “làm được nhiều đến thế”.

Nhưng trong dòng chảy cuồn cuộn đó, tôi lo.

Tôi lo không phải vì AI quá mạnh, mà vì chúng ta đang trở nên hời hợt đến yếu đuối. Chúng ta đang say mê với “thành phẩm”, mà quên mất “quá trình”.

Chúng ta đang học cách ra lệnh (prompting) mà không học cách đặt câu hỏi (questioning).

Chúng ta đang sử dụng AI như một cỗ máy bán câu trả lời, thay vì như một người bạn để đồng tư duy.

Trên cương vị là một người làm công nghệ, và hơn hết là một người đã từng sống trong bóng tối để suy ngẫm sâu sắc về tự do và ánh sáng, tôi buộc phải lên tiếng. Nếu không, có lẽ đến lúc ta nhận ra thì đã quá muộn.

Ba tác hại nghiêm trọng nhất của việc lạm dụng AI

1. Sự xói mòn tư duy phản biện

Điều nguy hiểm nhất của AI tạo sinh không nằm ở việc nó trả lời sai, mà là nó trả lời quá trơn tru, quá hay ngay cả khi sai.

AI ngày nay khiến chúng ta bỏ qua giai đoạn vật lộn với vấn đề – vốn là thứ quan trọng nhất để hình thành tư duy. Nó không chỉ đưa ta con cá, mà còn nấu chín cá sẵn cho ta.

Một nghiên cứu của College Board (Mỹ) cho thấy: 87% giáo viên lo ngại rằng sinh viên sẽ mất khả năng tư duy phản biện nếu phụ thuộc vào AI. Trường IMD (Thụy Sĩ) cũng cảnh báo rằng: AI có thể bào mòn khả năng suy luận logic, tính sáng tạo và sự độc đáo.

Khi ta quen với việc có ngay câu trả lời sau một cú click, ta sẽ mất dần khả năng phân tích độc lập. Và từ người giải quyết vấn đề, ta thành kẻ sao chép thụ động.

2. Giảm sút trí nhớ và khả năng học tập

AI không chỉ trả lời thay bạn. Nó nhớ thay bạn.

Một nghiên cứu của MIT phát hiện: 83% người dùng AI không thể nhớ nổi đoạn văn họ vừa tạo bằng ChatGPT. Cấu trúc não bị “lười biếng”, khả năng liên kết thần kinh giảm gần một nửa.

Hiện tượng này được gọi là “giảm nhẹ nhận thức” (cognitive offloading) khi não người “khoán trắng” nhiệm vụ tư duy cho máy. Tệ hơn, tác động này không biến mất ngay cả sau khi ngừng sử dụng AI.

3. Khuếch đại thiên kiến và tạo ra buồng giam tư duy

AI học từ dữ liệu con người. Mà dữ liệu con người thì rất nhiều thiên kiến, sai sót, thậm chí độc hại. AI không có lương tri để tự lọc. Nó sẽ học và khuếch đại tất cả.

Tại Việt Nam, nếu phần lớn người dân dùng chung một vài mô hình AI phổ biến (đa phần được huấn luyện bằng dữ liệu tiếng Anh, mang thiên kiến phương Tây), chúng ta có nguy cơ bị nhốt trong một buồng giam tư duy khổng lồ. Những gì AI trả lời chỉ củng cố thêm định kiến sẵn có, khiến ta không còn khả năng mở rộng thế giới quan.

Chúng ta tưởng rằng mình đang tiếp cận tri thức nhân loại nhưng thực ra chỉ đang nhìn thế giới qua lăng kính mờ ảo của vài tập dữ liệu ngôn ngữ thống trị.

Tỉnh táo trước khi quá muộn

Tôi không chống AI. Ngược lại, tôi đang phát triển một dự án tích hợp AI với trí tuệ tự nhiên (DI - những Quy luật của vũ trụ), gọi là Ai+Di để AI trở thành công cụ khơi gợi chứ không thay thế ta suy nghĩ.

Nhưng trong lúc chờ các giải pháp như vậy chín muồi, tôi mong mỗi người Việt hãy:

 • Sử dụng AI điều độ: đừng để nó làm thay bạn. Hãy để nó gợi ý để bạn làm tốt hơn.

 • Rèn luyện phản biện: đừng tin ngay, hãy kiểm tra.

 • Tự hỏi lại: bạn đang dùng AI để tiết kiệm thời gian, hay để đánh đổi năng lực tư duy?

Một dân tộc có thể nghèo tài nguyên, thiếu vốn, thiếu công nghệ… nhưng nếu còn giữ được tinh thần độc lập tư duy, thì vẫn có thể đi lên. Nhưng một khi buông bỏ trí tuệ và phụ thuộc vào “cái dễ”, thì sẽ bị dẫn dắt và tụt hậu, không thể cứu vãn.

Đừng để sự tiến bộ về công cụ trở thành sự thoái lui về trí tuệ.

Đừng để sự tiện lợi công nghệ che khuất đi ánh sáng trong tâm trí mỗi con người.

Hãy sử dụng AI như một ngọn đèn, không phải như một cái buồng giam.

(copy từ FB-Trần Huỳnh Duy Thức)

Monday, November 3, 2025

TỈNH THỨC

DẤU HIỆU BẠN ĐANG TỈNH THỨC 

Nếu bạn có những dấu hiệu này, chúc mừng bạn sắp bước qua cánh cửa Cải Mệnh !! 

1. Bạn không còn thích tranh cãi

Bạn không phản ứng mạnh mẽ như trước đây, cũng không cần tức giận, la hét để bảo vệ cái tôi. Không còn thích hơn thua với người Bạn dần bình tĩnh hơn, thích sự nhẹ nhàng, an yên. 

2. Bạn tập trung vào chính mình 

Thay vì cố gắng thay đổi ai đó ... Bạn hiểu mỗi người đều có nghiệp, có tần số, những bài học và số mệnh riêng, nên tôn trọng hành trình mỗi người. Càng cố ép chỉ càng làm mệt mỏi cả hai. 

3. Bạn nhận ra mọi mối quan hệ đều do duyên khởi diệt. 

Mỗi người đến với mình đều có những bài học. Nên không cần cố tìm, cũng chẳng buồn khi ai đó rời đi. Ai thuộc về ta, họ sẽ tự ở lại. 

4. Bạn không còn muốn giải thích quá nhiều với người không muốn hiểu. 

Bạn tĩnh lặng hơn. Bạn cũng thấy mình sâu sắc hơn, ngộ ra nhiều bài học hơn. Không cãi lý với người đang tức giận. Cũng không cần hơn thua với ai. 

5. Bạn sống bình an hơn 

Những chuyện làm cho bạn hoảng loạn, lo sợ, hay nổi nóng trước đây... biến mất. Tâm bạn bình an hơn, đón nhận mọi điều nhẹ nhàng bình an hơn. Thấy biết ơn, không còn thấy thiếu thốn, sợ hãi. Không còn bị cảm xúc chi phối. 

6. Bạn không so sánh mình với người khác. 

Cây tùng không cần ganh tị với hoa sen - vì mỗi người có một mùa nở khác nhau. Không nói xấu người khác - kể cả trong suy nghĩ. Điều đó phản ánh chính bạn nhiều hơn là họ. 

7. Bạn nhận ra khi tỉnh thức, không phải là tha thứ cho người khác, mà là cho chính mình. 

Vì họ chịu trách nhiệm với toàn bộ mọi sự đến với mình, với cảm xúc của mình. Khi này họ không còn đóng vai nạn nhận nữa. Tha thứ là đang giải thoát cho chính mình chứ không phải là cho người khác. 

8. Chăm sóc sức khỏe. 

Yêu bản thân đúng cách. Vì ta sẽ không làm được gì nếu cả thân và tâm đều mệt mỏi. Giữ chỗ yên tĩnh trong tim. Để khi mỏi mệt, vẫn còn nơi để quay về. 

FB-Đắc Nhân Tâm

Sunday, November 2, 2025

Thế giới: Trận chiến sống còn

[BÀI PHÁT TRÊN CHƯƠNG TRÌNH PODCAST CỦA GS MERESHEIMER VỀ ẢO TƯỞNG HÒA BÌNH KINH TẾ CỦA MỸ, SỰ TRỖI DẬY CỦA TRUNG QUỐC VÀ THÁCH THỨC CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ]

Bài dưới đây là chương trình podcast phát trên kênh YouTube của Giáo sư John J. Mearsheimer vào ngày 30 tháng 10 năm 2025. Mearsheimer là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Chicago, được xem là một trong những học giả hàng đầu thế giới về chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế và là tác giả của các công trình kinh điển như The Tragedy of Great Power Politics và Why Leaders Lie. Trong số phát sóng này, Giáo sư Mearsheimer bàn sâu về ảo tưởng “hòa bình kinh tế” – niềm tin rằng: thương mại và toàn cầu hóa sẽ bảo đảm hòa bình giữa các cường quốc – và lý giải vì sao chính ảo tưởng này đã dẫn Hoa Kỳ đến đối đầu chiến lược với Trung Quốc.

ẢO TƯỞNG HÒA BÌNH KINH TẾ CỦA HOA KỲ 

Trong nhiều thập kỷ, Hoa Kỳ tin rằng: sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau với Trung Quốc sẽ đem lại hòa bình dài lâu. Học thuyết này từng hấp dẫn về mặt trí tuệ và được các nhà lãnh đạo phương Tây ca ngợi như nền tảng cho trật tự thế giới tự do hậu Chiến tranh Lạnh. Giới tinh hoa Mỹ tin rằng: thị trường có thể thuần hóa địa chính trị, thương mại sẽ biến đối thủ thành đối tác, và lợi nhuận sẽ chiến thắng quyền lực. Nhưng mọi ảo tưởng đều có giá. Ngày nay, “hóa đơn” ấy xuất hiện dưới hình thức các mức thuế quan khổng lồ, thậm chí được đề xuất ở mức 200% đối với hàng hóa Trung Quốc, như một biểu hiện của tuyệt vọng chiến lược.

Trên thực tế, hệ thống quốc tế luôn là môi trường vô chính phủ, nơi các quốc gia phải cạnh tranh để bảo đảm an ninh và ảnh hưởng. Không một thỏa thuận thương mại nào có thể thay đổi logic quyền lực đó. Washington từng tin rằng: Trung Quốc sẽ hòa nhập hòa bình vào trật tự do Mỹ dẫn dắt, dần dân chủ hóa và tuân thủ quy tắc phương Tây. Niềm tin này sai lầm ở mọi bước. Kể từ thập niên 1990, dòng vốn Mỹ đổ vào Trung Quốc vì lao động rẻ và quy mô lớn, xây dựng nền tảng sản xuất khổng lồ cho Bắc Kinh trong khi làm suy yếu ngành công nghiệp Mỹ. Lợi nhuận thay thế chiến lược, và Mỹ gọi đó là “toàn cầu hóa”, không nhận ra mình đang chuyển giao năng lực quốc gia cho một đối thủ tương lai.

Kết quả là: Trung Quốc không trở thành nền dân chủ tự do mà phát triển thành một cường quốc công nghiệp, với quân đội hiện đại hóa và chính sách đối ngoại quyết đoán hơn. Các đời tổng thống từ Clinton tới Obama đều duy trì ảo tưởng hợp tác – coi Trung Quốc là đối tác trong một thế giới hòa hợp. Nhưng theo lăng kính chủ nghĩa hiện thực, khi một quốc gia đủ mạnh, nó sẽ tìm cách tái định hình trật tự theo lợi ích của mình – và Trung Quốc đã làm đúng như vậy. Vấn đề không nằm ở ý định mà ở năng lực, và năng lực ấy đã thay đổi căn bản cán cân quyền lực toàn cầu.

SỰ TRỖI DẬY CÓ CHỦ ĐÍCH CỦA TRUNG QUỐC

Sự trỗi dậy của Trung Quốc không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của chiến lược tích lũy quyền lực có hệ thống, do nhà nước chỉ đạo. Nhiều người ở Washington cho rằng: đó là hệ quả tự nhiên của thị trường, nhưng thực tế Bắc Kinh đã chủ đích tận dụng toàn cầu hóa để phục vụ cho lợi ích quốc gia. Trung Quốc không bao giờ theo đuổi chủ nghĩa tự do phương Tây; họ coi toàn cầu hóa là công cụ, không phải mục tiêu. Trong khi Mỹ tin rằng: sức mạnh quân sự và tài chính bảo đảm vị thế vĩnh viễn, Trung Quốc hiểu rằng: quyền lực thật sự bắt nguồn từ sản xuất, công nghệ, tài nguyên và kiểm soát chuỗi cung ứng chiến lược.

Từ cuối thập niên 1970, Đặng Tiểu Bình mở cửa kinh tế không nhằm thay đổi hệ tư tưởng, mà để nhập vốn, hấp thụ công nghệ và xây dựng năng lực sản xuất nội địa. Trong khi doanh nghiệp phương Tây nhìn thấy lao động rẻ, Bắc Kinh nhìn thấy con đường phục hưng quốc gia. Trung Quốc phát triển hạ tầng cảng biển, đường cao tốc, năng lượng và công nghiệp nặng, còn Mỹ lại phi công nghiệp hóa, chuyển nhà máy ra nước ngoài. Kết quả, năm 2024, Trung Quốc sản xuất hơn 1 tỷ tấn thép (chiếm 55% toàn cầu), đóng hơn 50% số tàu biển thế giới (40 triệu tấn), và sản xuất hơn 30 triệu ô tô – những con số chưa từng có trong lịch sử công nghiệp nhân loại.

Đó không chỉ là thành tựu kinh tế, mà là nền tảng quyền lực quốc gia. Trong khi giới hoạch định chính sách Mỹ tự thuyết phục rằng: nền kinh tế dịch vụ và phần mềm là đủ, Trung Quốc không bao giờ tin vào ảo tưởng đó. Khi năng lực vật chất tăng, tham vọng địa chính trị của Bắc Kinh cũng mở rộng: Sáng kiến Vành đai và Con đường đầu tư hơn 1.000 tỷ USD vào năm 2024; hải quân Trung Quốc đã có thể thách thức ưu thế Mỹ ở Tây Thái Bình Dương; các tập đoàn công nghệ nội địa giảm phụ thuộc vào Mỹ. Một cường quốc đang trỗi dậy luôn hành động như vậy – chỉ có Washington là bất ngờ.

CHÍNH SÁCH CỦA TT TRUMP ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Khi TT Trump lên nắm quyền, giới hoạch định chính sách Mỹ coi ông là người thiếu kinh nghiệm và khó đoán. Nhưng Trump đã nhìn ra điều mà họ không: ông không tin vào bá quyền tự do hay “hòa bình thương mại”. Với ông, Trung Quốc không phải là đối tác hội nhập mà là đối thủ chiến lược, đe dọa trực tiếp sức mạnh của Hoa Kỳ. Ông không dùng ngôn ngữ học thuật của chủ nghĩa hiện thực tấn công, nhưng bản năng chính trị giúp ông nắm được quy luật cơ bản: các cường quốc không thể dung thứ một đối thủ ngang hàng.

Trump chọn chiến trường kinh tế, dùng thương mại làm công cụ chiến lược và thuế quan làm vũ khí. Nhiều người chỉ trích phương pháp này là thô thiển, nhưng ông hiểu rõ bản chất: ngoại giao kinh tế chính là phần mở rộng của địa chính trị. Khi Trump đe dọa thuế 200% đối với hàng hóa Trung Quốc, đó là tuyên bố rằng kỷ nguyên kiên nhẫn đã kết thúc. Washington từng nói toàn cầu hóa là không thể đảo ngược, nhưng Trump đã bác bỏ điều đó – nhận ra rằng Trung Quốc đã lợi dụng chính sự cởi mở của Mỹ để vươn lên.

Thuế quan, kiểm soát xuất khẩu, hạn chế đầu tư và ưu đãi tái công nghiệp hóa là một phần của chiến lược thống nhất nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, bảo vệ năng lực công nghiệp Mỹ và tái định hướng chuỗi cung ứng toàn cầu. Ông không đảo ngược được lịch sử, nhưng đã chạm vào vấn đề cốt lõi mà giới tinh hoa Mỹ né tránh: phụ thuộc kinh tế không phải là tài sản chiến lược mà là gánh nặng.

NỖI LO CHIẾN LƯỢC TẠI WASHINGTON

Khi Washington nhận ra quy mô thực sự của sự trỗi dậy Trung Quốc, thời gian để điều chỉnh nhẹ nhàng đã qua. Trong suốt nhiều năm, các nhà hoạch định chính sách Mỹ tin rằng: hội nhập kinh tế đồng nghĩa với hòa bình. Khi ảo tưởng này sụp đổ, giới tinh hoa rơi vào trạng thái hoảng loạn. Chính sách trở thành sự pha trộn giữa phủ nhận và chia rẽ. Một phe tiếp tục bám vào mô hình toàn cầu hóa, tin rằng đối đầu với Trung Quốc là sai lầm; phe khác thừa nhận cạnh tranh là không thể tránh nhưng thiếu một tầm nhìn thống nhất.

Hệ quả là sự bất định chiến lược. Các viện nghiên cứu tung ra hàng loạt báo cáo, các bài xã luận bàn cãi nhưng không che giấu được sự thật: Hoa Kỳ đã bị bất ngờ. Lịch sử từng chứng kiến điều tương tự: đầu thế kỷ 20, Anh cũng chậm phản ứng trước sự trỗi dậy của công nghiệp Đức. Mỹ nay ở vị thế đó – vừa phụ thuộc, vừa cảnh giác.

Khi chính quyền thay đổi lập trường liên tục giữa hợp tác và đối đầu, giữa “tách rời” và “hội nhập”, sự mâu thuẫn ấy lan rộng. Đồng minh bối rối, đối thủ lợi dụng, còn thị trường quốc tế trở thành mặt trận của địa chính trị. Uy tín lãnh đạo của Mỹ vì thế bị xói mòn không phải vì yếu, mà vì không chắc chắn.

SỰ PHÁ VỠ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU

Nền kinh tế toàn cầu chưa bao giờ là một cơ thể hòa hợp; nó phụ thuộc vào trật tự do Mỹ kiểm soát. Khi Trung Quốc dần chiếm lĩnh các tầng cao công nghệ – từ bán dẫn, năng lượng đến trí tuệ nhân tạo – cấu trúc này bắt đầu rạn nứt. Chuỗi cung ứng, từng được xem như biểu tượng của toàn cầu hóa, nay trở thành công cụ quyền lực.

Các chính sách thuế quan của Trump, đặc biệt là đe dọa mức 200% đối với hàng Trung Quốc, đã tăng tốc quá trình tách rời này. Hoa Kỳ nhận ra rằng phụ thuộc vào đối thủ chiến lược là rủi ro sinh tử. Trung Quốc nắm giữ hơn 80% công suất tinh luyện đất hiếm toàn cầu, cung cấp phần lớn dược phẩm và linh kiện điện tử cho Mỹ. Trong hòa bình, đó là “hiệu quả”; trong cạnh tranh, đó là “lỗ hổng”.

Sự dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam, Ấn Độ, Mexico hay Đông Nam Á chỉ là tạm thời. Trung Quốc sở hữu cả hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh, từ logistics đến nhân lực. Tháo dỡ nó đòi hỏi nhiều thập kỷ. Ở Mỹ, sự phi công nghiệp hóa đã để lại hậu quả xã hội nghiêm trọng: lương đình trệ, cộng đồng suy thoái, và cơn giận dữ dân túy trỗi dậy. Khi Trump làm gián đoạn hệ thống, ông thực chất chạm vào một chân lý: không quốc gia nào duy trì được vị thế lãnh đạo nếu đánh mất năng lực sản xuất.

SỰ SỤP ĐỔ CỦA BÁ QUYỀN TỰ DO

Sau Chiến tranh Lạnh, Washington tin rằng: lịch sử có hướng đi tất yếu – rằng bá quyền tự do sẽ mở rộng mãi mãi. Nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự kiên định của Nga, thất bại ở Iraq và Afghanistan đều cho thấy chính trị quyền lực chưa bao giờ biến mất.

Bá quyền tự do thất bại vì nó giả định rằng: các quốc gia khác sẽ chấp nhận sự thống trị của Mỹ. Nhưng theo quy luật cân bằng quyền lực, khi một nước quá mạnh, các nước khác sẽ phản ứng. Nga, Trung Quốc và thậm chí các đồng minh Mỹ đều bắt đầu tìm cách tự chủ hơn. Hoa Kỳ mở rộng quá mức ở nước ngoài trong khi đánh mất nền tảng công nghiệp trong nước – một sai lầm chí tử trong lịch sử các đế chế.

Khi TT Trump đe dọa áp thuế 200% với hàng Trung Quốc, đó không chỉ là chính sách kinh tế mà còn là dấu mốc tư tưởng: Hoa Kỳ đang rời bỏ niềm tin rằng thị trường tự do và biên giới mở có thể duy trì hòa bình. Thế giới mới nổi lên với ưu tiên khác: tự chủ chiến lược, an ninh chuỗi cung ứng, và phục hồi năng lực quốc gia. Bá quyền tự do không sụp đổ tức thì – nó đang tan rã trong im lặng, khi chính những người từng ủng hộ nó nay quay sang nói về “chính sách công nghiệp” và “khả năng phục hồi quốc gia”.

Cuối cùng, GS Mearsheimer kết luận: sự kết thúc của bá quyền tự do không có nghĩa là sự sụp đổ của Hoa Kỳ, mà là bước chuyển tất yếu sang một trật tự đa cực – nơi Mỹ chỉ còn là một cường quốc trong số các cường quốc khác. Tương lai phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ có đủ can đảm nhìn nhận thực tế để thiết kế chiến lược mới – thực dụng hơn, khiêm tốn hơn và gần với bản chất của quyền lực hơn.

Copy từ FB-Hoàng Anh Tuấn

Saturday, November 1, 2025

Ko chỉ là phúc

NHÀ CÓ PHÚC NHỜ HÒA KHÍ, NGƯỜI CÓ PHÚC NHỜ BẠN TỐT 

Một gia đình muốn yên ấm không phải do giàu hay nghèo, mà là do hòa khí. Khi trong nhà biết nhường nhau một chút, hiểu nhau một chút, tôn trọng nhau thêm một chút, thì cái mái nhà dù đơn sơ cũng trở thành nơi chốn bình yên nhất. Hòa khí không mua được, cũng không dạy bằng lời được – nó đến từ cách mỗi người chọn cư xử: bớt nóng nảy, bớt hơn thua, bớt nói lời làm tổn thương người mình thương.

Cả đời này, ai cũng mong có một chỗ để trở về sau những giông bão ngoài kia. Và nếu trong nhà luôn ấm, luôn vui, luôn có người đợi… thì đó chính là phúc lớn nhất.

Còn đời người, ngoài gia đình thì bạn bè là thứ kết nối quan trọng nhất. Gặp được một người bạn tốt, biết nghĩ cho mình, biết chơi đẹp, biết sống tử tế – đó cũng là phúc đức không phải ai cũng có. Bạn xấu làm mình mệt, bạn giả tạo làm mình đề phòng, bạn lợi dụng làm mình tổn thương. Nhưng bạn tốt thì khác: họ cho mình năng lượng, cho mình niềm tin, kéo mình lại khi sai và nâng mình dậy khi gục ngã.

Một người may mắn không phải vì họ có nhiều mối quan hệ, mà vì họ có vài người bạn thực sự. Những người không bỏ mình khi gặp khó, không ghen tị khi mình thành công, không lợi dụng khi mình tử tế, và không xét nét khi mình sai sót.

Cuộc đời này phúc lớn nhất chính là:

Nhà lúc nào cũng êm, không khí trong nhà khiến mình muốn quay về mỗi ngày.

Bên ngoài có vài người bạn tử tế, những người dành cho mình sự chân thành hiếm có.

Tiền bạc có thể kiếm lại. Thành công có thể xây dựng lại. Nhưng hòa khí trong nhà và bạn tốt bên cạnh – mất rồi, khó tìm lại được.

Thế nên, ai có được hai điều này, đừng xem nhẹ.

Đó không chỉ là phúc, mà là vốn quý để đi qua cả một đời bình an, chỉ có thể tự mình giữ và tự mình trân trọng.

Tạp chí Doanh nhân