Monday, December 25, 2017

Họp mặt ngày Chúa Giáng sinh

Sáng ngày 24.12.2017, Ngô Tiến Nhân điện thoại báo đến quán Hoa Sứ dự tiệc Giáng Sinh do anh Ngọc (BME,VIDI68) tổ chức, giờ hẹn là 11h. Tới nơi, chỉ có tôi và Nhân là VIDI72, còn lại toàn các anh già như anh Khánh, anh Kha, anh Long, anh Yên, anh Nghĩa, anh Vinh "cồ"... già nhất là anh Thắng (katona) sang năm 1967. Ăn uống vui vẻ thỏa thích, lại có cả cseresznye pálinka và xúc xích Hung nữa. Toàn hàng xách tay. Anh Ngọc nhận mình là Chúa Giêxu trong Bữa tiệc cuối cùng (Utolsó vacsora/L'Ultima CenaIl hay Cenacolo,The Last Supper) với các môn đồ của mình (vì có mặt đúng 13 người, anh Thắng đến sau cùng nên mọi người gọi là Giuđa).

Mọi người đang nghe anh Quang phát biểu

Chuyện trò rôm rả với những téma cũ & mới

Sunday, December 24, 2017

Saturday, December 23, 2017

Cái tôi

Cái tôi và sự hiểu biết tỷ lệ nghịch với nhau. Hiểu biết càng nhiều, cái tôi càng bé. Hiểu biết càng ít, cái tôi càng to.
ALBERT EINSTEIN

Friday, December 22, 2017

Sống cùn

"Cùn" có lẽ là phong cách/chữ dùng hợp với dân ta, nhất là với những dạng "ít" văn hóa. Xã hội là nơi tập hợp mọi thể hiện thuộc về bản chất qua những phong cách khác nhau, nó cho thấy ở đâu người ta phô diễn "cái tôi" nhiều hơn.

"Cùn" là tình trạng chung của phần lớn dân chúng xứ ta lâu nay, không ít thì nhiều đã trở thành mặc định, không phải tự nhiên, nó là cách đối phó cù nhầy của cái tôi hạn hẹp/nhỏ mọn, mất hết tư cách, kể cả với kẻ sĩ khi phải chấp nhận "sống hèn" lạc trôi theo thời cuộc.

"Cùn" không đi cùng với thanh danh và lòng tự trọng. Nó hủy hoại chúng để làm mất đi những gì là vốn quý, tiếng lành mất đi, tiếng dữ đồn xa... tôi không biết bây giờ người Việt là gì, dấu ấn của chúng ta trong lòng thế giới là gì? Chúng ta có còn thanh danh là cái sẽ theo ta suốt đời, sẽ được lưu lại cho hậu thế hay chỉ toàn rác rưởi nặng mùi không được xử lý quăng tùm lum mọi lúc mọi nơi...

Nói gì thì nói, "cùn" đến thế thì cứ tạm cho là của 1 cá thể không biết xấu hổ là gì, là chuyện phải tự chuốc lấy, ai làm nấy chịu, thơm thối gì cũng chỉ của người ấy thôi. Nhưng nếu "cùn" mà thành ra đường lối/chính sách thì mới to chuyện, mới nhục nhã thậm tệ.

Thursday, December 21, 2017

Kén chọn

Xưa rồi dân gian có câu: "Chọn mặt gửi vàng" hay đáo để. Trong mọi chuyện, từ việc tìm người xứng hợp phải đôi vừa lứa cho đến người tài giỏi để gánh vác đại sự, từ việc trao cái "ngàn vàng" của đời con gái đến gửi trọn "niềm tin"... đều phải vậy cả.

TP.HCM thế mà cũng có nhiều cái khác so với thủ đô. Khác ở chỗ vị thế đã đành, nhưng cái khác nhiều hơn nằm ở chỗ "lựa chọn" làm cái gìnhư thế nào.

Về chuyện thay da đổi thịt thì khắp cả VN đâu đâu cũng đang thay đổi gần như vô tội vạ. Chỗ thì nhà cửa to nhỏ mọc lên như nấm, chỗ thì nhà máy cứ thế xây lên, chỗ thì làm thủy điện tràn lan... cái gì cũng bất chấp hậu quả.

Riêng về cái khoản làm đường sắt trên cao thì thấy rõ. Cái thì như "rồng rắn lên mây", cái thì ngay ngắn thẳng băng. Có phải do "chọn mặt gửi vàng" không?

Lãnh đạo là biết dùng người. Muốn vậy phải chọn đúng người, đúng việc. Chọn được rồi thì đừng có chỉ trỏ bày vẽ nhiều, lấn vào cả chuyên môn mà chính mình cũng mù tịt chỉ để tỏ ra: bố mày có quyền thì chỉ có toi. Lâu rồi vẫn thế, chẳng thay đổi mấy. Càng ra xa về phía Bắc càng mù mịt, càng giống Tàu, lai Tàu, theo Tàu nhiều hơn.

Từ cái logo của VNA cho đến phát triển tp như thế nào là rõ. Tuy vậy, Sài Gòn hình như không hẳn là chạy theo thủ đô trong cách thức và lựa chọn. Như việc giao cho kts nước ngoài thiết kế tòa nhà biểu tượng cho tp chẳng hạn, rõ là con số tầm cao "333" nhấn mạnh cái thế mạnh nổi trội của nhãn hàng số 1 của "cường quốc bia" VN mà thủ phủ là TP.HCM. Mà ông kts cũng không phải dạng vừa, nói đến là biết đã có nhiều thành tích tầm cỡ châu lục chứ chẳng phải loại móc từ "xó xỉnh" ra. Chỉ mong rằng, nếu đã mất công tìm người như thế thì cũng phải biết chấn chỉnh/quản lý một vừa hai phải cho cái tp này nó thay đổi theo đúng cái tầm mức/tiêu chuẩn ấy may ra mới trở thành cái chỗ làm cho người Việt nở mày nở mặt với thiên hạ vì không ngu lâu đến mức chọn nhầm, chọn sai, chọn tới chọn lui cuối cùng vẫn chọn cái "lợi ích" riêng hay nhóm, toàn là hạng "nát bét" chằng làm nên cơm cháo gì, thấy mà chán.

Wednesday, December 20, 2017

Chuyện nhà văn: Mark Twain (1835-1910)

Văn hào Mark Twain là nhà văn trào phúng bậc nhất của Mỹ ở thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với 2 tác phẩm Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry FinnNhững cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Ông có thói quen làm việc sau khi ăn sáng, rồi viết một mạch đến bữa tối mà không ăn trưa. Lúc ông đang viết, tất cả các thành viên trong gia đình không ai được quấy rầy.


Nguyễn Hưng st (KTNN-No.985)

Tuesday, December 19, 2017

Về cái chỗ mê hồn - Cội nguồn của thế gian (2): Hồ Xuân Hương 胡春香


Vịnh cái quạt

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày chừng ấy chành ba góc
Rộng hẹp ngần nao cắm một cay
Càng nực bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chẳng chán lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này

(Quốc văn tùng ký)

Cái Quạt 

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên này tác hợp tự ngàn xưa
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

(Quốc văn tùng ký)

Bài này trong văn bản chỉ có 4 câu, các bản quốc ngữ sau này có thêm 4 câu nữa:

Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa

st onl

Monday, December 18, 2017

Tầm suy nghĩ

Càng nâng tầm suy nghĩ của mình, con người càng trở nên can đảm, chính trực, công bằng.
JAMES ALLEN

Sunday, December 17, 2017

Đô thị mới: Dự án Empire City

Kts. Ole Scheeren, tác giả của một số tòa nhà độc đáo nhất thế giới, đã công bố kế hoạch thiết kế một tòa nhà mà ông hy vọng sẽ làm thay đồi bộ mặt của TP.HCM.

Dự án mới nhất của Ole Scheeren, 46 tuổi, kiến trúc sư người Đức sẽ được thực hiện tại khu trung tâm mới của tp nằm ở Quận 2. Tòa tháp lớn nhất trong cụm kiến trúc gồm 3 tháp sẽ trở thành biểu tượng mới của tp. Với chiều cao 333m, nó sẽ là một trong những tòa nhà cao nhất VN. Ý tưởng thiết kế được lấy từ đặc điểm địa lý của VN chứ không phải từ những ngẫu hứng cá nhân. Ole Scheeren khẳng định: thiết kế của ông có mục tiêu hòa quyện vào môi trường nhiệt đới của VN thành một tổng thể thống nhất.

Sky Forest là 1 trong những hạng mục gây ấn tượng nhất nằm trên những tầng cao của công trình. "Chúng tôi muốn đưa cây xanh mặt đất lên bầu trời và ngược lại, đưa không khí trong lành của bầu trời xuống mặt đất. Thiên nhiên hiện diện trên cao khiến con người có cảm giác họ đang sống dưới mặt đất. Không gian chung nhiều cây xanh không chỉ có ở bên dưới, trên các ban công với quy mô nhỏ mà còn trên các tầng cao với quy mô lớn như một khu vườn thật sự, giống như mặt đất nâng lên cao - Scheeren trả lời phỏng vấn - Độ cao không quan trọng trong thiết kế này mà điểm nhấn là hội nhập thiên nhiên vào nơi cư trú bằng cách thức đúng nghĩa nhất, giúp những người sống và làm việc trong ngôi nhà không còn khái niệm về tầng cao, xóa nhòa ranh giới giữa mặt đất và bầu trời. Tòa nhà không chỉ phản chiếu cái bóng của chính nó như một tổ hợp bê tông, thép, kính mà chính nó là một mảng xanh thật sự".

Sky Forest chứa trong nó cuộc sống của một đô thị hiện đại. Bao quanh nó có cả những công trình vui chơi, giải trí và cây xanh nhiệt đới thuộc nhiều chủng loại khác nhau. Scheeren bộc bạch: "Môi trường thiên nhiên Việt Nam là thứ bạn không thể quên nếu đã tiếp cận một lần với nó; phong phú, xinh đẹp và độc đáo của một quốc gia nhiệt đới. Sức hút của những gì tôi đã trải nghiệm là không thể cưỡng lại được và đã biến thành nguồn cảm hứng trong thiết kế Empire City của tôi. Đây là dịp may để tôi giới thiệu một khái niệm kiến trúc mới của mình: đưa nhiều đặc diểm của môi trường nơi kiến trúc mọc lên vào cả bên trong thiết kế chứ không chỉ bên ngoài. Chất lượng sống sẽ được nâng cao nếu bạn làm cho người sống trong tòa nhà không cảm thấy bị tách khỏi môi trường thiên nhiên của đất nước họ".

Làm việc ở châu Á 20 năm qua, với Empire City, Scheeren tham gia vào danh sách ngày càng phát triển những dự án green building ở châu Á. Ole Scheeren xem xu hướng "xanh hóa tầng cao" không phải là "mốt" kiến trúc đương thời mà là "đòi hỏi bắt buộc" của thực tiễn. Scheeren nói:  "Làm sao giúp cư dân đô thị có lại được không gian sống và làm việc chất lượng như trước khi đô thị hóa vội vã giết chết nhiều mảng xanh và tách thành phố ra khỏi môi trường thiên nhiên. Đã có nhiều dự án xanh hóa đô thị, nhưng phần lớn là "mốt", chắp vá và làm chiếu lệ. Nay, Empire City được tiến hành theo hướng khác với khả năng tự duy trì cao, quy mô hơn và bám sát thiên nhiên hơn".

Từng thiết kế tòa nhà Interlace ở Singapore với danh hiệu "World Building of the Year" vào năm 2015, nhưng với Ole Scheeren, Empire City là dự án đầu tiên tại VN, một đất nước được mô tả "tràn đầy sức sống và năng lượng". Scheeren khẳng định dự án của ông chỉ thể hiện thực tế về đất nước này: "Bạn phải làm điều gì đó rất sáng tạo để phản ánh hết con người và khung cảnh Việt Nam. TP.HCM đang có sự phát triển mạnh mẽ về sự đột phá trong kiến trúc với tham vọng tạo ra dấu ấn riêng của một thành phố hiện đại, vừa giữ được di sản của quá khứ vừa đón đầu được tương lai. Tôi không bao giờ thiết kế một tòa nhà theo cảm hứng tùy tiện cá nhân mà dựa vào thực tế môi trường và ước vọng của người dân nơi kiến trúc sẽ mọc lên. Họ chính là những người chủ tương lai của kiến trúc chứ không phải tôi. Ý tưởng kiến trúc phải đáp ứng được mọi yêu cầu của họ. Tất cả những gì thời thượng phương Tây đang theo đuổi trong kiến trúc đều đã được thể hiện tại TP.HCM. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là chất lượng không gian cư trú chung và làm việc chung. Tôi muốn đóng góp phần của mình vào không khí sinh động của thành phố này".

(lược trích từ bài "Cuộc sống đô thị, từ kiến trúc xanh đến ô nhiễm ánh sáng" của Lê Nguyên Trung, KTNN No.985)

Saturday, December 16, 2017

Về cái chỗ mê hồn - Cội nguồn của thế gian (1): "Hiền nhân quân tử ai mà chẳng..."

Trong chuyện vicc hay "Lạy cụ Đề ạ", phần kết đã được đẩy lên đỉnh bằng đoạn bà mẹ tức điên người đến mức tốc ngược cả váy lên vì thằng con ngu quá đỗi.
Tại sao người ta hay biểu lộ hoặc lôi cái chỗ kín của đàn bà để chê trách, phỉ báng khi người khác phạm lỗi/yếu kém hoặc đơn giản chỉ là trút bực tức hoặc chỉ quen mồm khi nói năng một cách thô tục.

Danh từ l... để chỉ cái khe ẩm ướt của đàn bà làm đàn ông mê đắm theo cách thông tục. Vì cái chỗ này mà biết bao anh hùng sĩ tử phải điêu đứng, dở sống dở chết đến thân bại danh liệt. Mà lạ, tại sao hễ nói tục là cứ phải văng "nó" ra mới xong. Hay chỉ vì nó đã hại "chết" biết bao nhiêu người... Trong tiếng Việt, l... còn có nhiều tên khác mà chữ tôi thích là "bướm", có lẽ vì cả hình dáng và nghe hoa mĩ hơn chăng.

Trong văn học, Hồ Xuân Hương là người có những bài thơ Nôm đặc tả thanh tao nhất về cái chỗ mê hoặc cánh đàn ông này. Nhưng tôi không thấy chữ l... nào trong thơ của bà. Khi thì bà tả nó như cái quạt, quả mít, khi thì bà mượn một bài thơ vịnh cảnh của mình để gọi nó là "Hang cắc cớ". Có lẽ từ lâu người ta đã coi l... là từ tục, một danh từ thường dùng của giới thường dân/lao động, nên nhiều người cho rằng từ này dùng không được thanh tao cho lắm khi muốn chỉ "cái cửa mình" của đàn bà. Trong sinh họat hàng ngày, từ này thường được dùng trong những câu chuyện tục tĩu, chuyện tiếu lâm, hoặc khi người ta văng tục, chửi thề ... theo kiểu "ít" văn hóa. "Riêng trường hợp khác, trong câu vè bình dân, câu đố dân gian xa xưa thì "cái lồn" hay "lồn" không có dụng ý xấu, hay tục tĩu mà là người xưa muốn ám chỉ, nói bóng gió đến hình tượng khác ... chứ không phải để ám chỉ bộ phận sinh dục của người phụ nữ như nói trên.

Người Việt nhiều khi dùng từ lồn để ví von, ca ngợi:

Đẻ đứa con khôn, mát lồn rười rượi
Đẻ đứa con dại, thảm hại cái lồn
Gắn phù lồn mèo, (dán bùa lồn mèo)
Sồn sồn như lồn phải lá han
Lồn lá mít, đít lồng bàn (Tướng phụ nữ ham muốn dục vọng cao)
Lồn bà bà tưởng lồn ai
Bà cho ông Lý mượn hai tháng liền.
Lồn lá vông, chồng trông chồng chạy
Lồn là mít, chồng hít chồng ngửi
Lồn lá tre, chồng đe chồng đánh
Lồn Cổ Am, Cam Đồng Dụ, Vú Đồ Sơn (Làng Cổ Am ngày xưa lắm người đỗ đạt nên người ta ví ở đó có những cái lồn tốt đẻ ra người tài)
Cơm nhà, cháo chợ, lồn vợ, nước sông (Phong lưu khoáng đạt)
Lo co đầu gối, lo rối lông lồn (Lo lắng)
Lồn chằng ghế đá, lồn vá xe hơi

Tuy nhiên, từ này được coi là từ bất lịch sự trong giao tiếp.

ăn cái lồn
có cái lồn
phủ nhận điều gì đó

thằng/con mặt lồn
Mày là thằng mặt lồn
chửi bậy

thán phục điều gì đó, có thể mang nghĩa tiêu cực

như cái lồn
chê bai một điều gì đó

Có thể mang ý nghĩa khi giận dữ. Ví dụ:

bổ sung cái lồn (nói nhấn mạnh)
không muốn bổ sung


Từ lồn đa số mang nghĩa tục tĩu nhưng đến nay vẫn có nhiều câu đố, thơ vè truyền tụng trong đó có từ lồn như dưới đây mà đến cả người tu hành còn phải "động lòng":

Bốn cô trong tỉnh mới ra
Cái lồn trắng hếu như hoa ngó cần
Sư ông tẩn ngẩn tần ngần
Cái buồi cửng tếu như cần câu rô

Đôi khi có những câu đố tuy tục nhưng lời giải lại thanh, ví dụ là câu đố về bộ ấm chén. Nhưng trong một số giao tiếp, tối kỵ dùng từ lồn, đặc biệt là với người hơn tuổi, điều đó hết sức bất lịch sự và thô tục."

(Wiktionary)

Friday, December 15, 2017

Vương cung thánh đường chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội

Ngay sau khi chiếm Sài GònPháp đã cho lập nhà thờ để làm nơi cử hành Thánh Lễ cho người theo đạo Công giáo. Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường Số 5 (nay là đường Ngô Đức Kế). Đây vốn là một ngôi chùa nhỏ của người Việt bị bỏ hoang do chiến cuộc, linh mục Lefebvre đã tu sửa ngôi chùa này thành nhà thờ. Vì ngôi nhà thờ đầu tiên đó quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốcBonard đã quyết định cho khởi công xây dựng ở nơi khác một nhà thờ khác bằng gỗ bên bờ "Kinh Lớn" (còn gọi là kinh Charner, địa điểm là trụ sở Tòa Tạp Tụng thời Việt Nam Cộng hòa). Cố đạo Lefebvre tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Nhà thờ được dựng bằng gỗ, hoàn thành vào năm 1865, ban đầu gọi là Nhà thờ Saigon. Về sau, do nhà thờ gỗ này bị hư hại nhiều vì mối mọt, các buổi lễ được tổ chức trong phòng khánh tiết của Dinh Thống Đốc cũ, về sau cải thành trường học Lasan Taberd, cho đến khi nhà thờ lớn xây xong.


Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourard với phong cách kiến trúc Roman cải biên pha trộn nét phong cách kiến trúc Gothic đã được chọn. Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:
  • Trên nền Trường Thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).
  • Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
  • Vị trí hiện nay.
Sau cùng vị trí hiện nay đã được chọn. Sau khi đề án thiết kế được chọn, Đô đốc Duperré cho đấu thầu việc xây dựng nhà thờ và cũng chính kiến trúc sư này là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình. Mọi vật liệu từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Đặc biệt, mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Toulouse (Pháp), để trần, không tô trát, không bám bụi rêu mà đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật cấp cao thời ấy. Nhà thờ được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, nghi thức cung hiến và khánh thành do cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Nhà nước vì nó do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý. Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và có 6 chuông đồng lớn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Tượng đồng Giám mục Adran và Hoàng tử Cảnh, trước Nhà thờ trước kia
Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long). Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục Giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng "hai hình" để phân biệt với tượng "một hình", là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (nay là cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị chính phủ độc lập Trần Trọng Kimphá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào đặt lên trên.

Năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, giờ đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn thời ấy, đã đặt tạc một Tượng Đức Mẹ Hòa bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý. Tượng được tạc tại Pietrasanta cách Roma khoảng 500 km. Khi tượng hoàn tất thì được đưa xuống tàu Oyanox vào ngày 8 tháng 1 năm 1959 từ hải cảng Gênes chở tượng qua Việt Nam và tới Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1959. Sau đó, công ty Société d'Entreprises đã dựng tượng Đức Mẹ lên bệ đá vốn còn để trống kể từ năm 1945 trước nhà thờ. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện "Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình" rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng yAganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ tọa lễ bế mạc Đại hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Từ sự kiện này mà từ đó nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà. Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ "xức dầu", tôn phong Nhà thờ chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn. Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà NộiHuế và Sài Gòn. Nhà thờ trở thành nhà thờ chính tòa của vị tổng giám mục Sài Gòn cho đến ngày nay.

Vật liệu

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măngsắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, không bám bụi rêu, đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi. Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon, có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh. Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.

Thiết kế

Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn - Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Nội thất nhà thờ
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ chiều dài thánh đường là 93m. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của vòm mái thánh đường là 21 m. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.
Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ về các thánh (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ 14 chặng Đàng Thánh Giá làm bằng đá trắng khá tinh xảo, được bố trí như sau (nhìn từ cổng trước vào nhà thờ):
cánh tráiCung Thánhcánh phải
Đức Mẹ Fátimagian ghế ngồi của giáo dânThánh Giuse
Kitô VuaLòng Chúa Thương Xót
Thánh AnnaThánh Patrick
Thánh TêrêsaĐức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Tổng lãnh thiên thần MicaeCác thánh tử đạo Việt Nam
Đức Mẹ Lộ ĐứcThánh Antôn thành Padova
Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo hình thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại vào khoảng những năm 1949 để thay thế các cửa kính màu nguyên thủy của nhà thờ đã bị bể gần hết trong thế chiến thứ 2.

Dòng chữ Latin nơi cổng chính: DEO OPTIMO MAXIMO BEATIEQUE MARIŒ VIRGINI IMMACULATŒ
Nghĩa là: Thiên Chúa tối cao đã ban cho Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Bên dưới cho biết năm khánh thành
Còn trên trán tường của cửa vào bên phải có những hàng chữ bằng tiếng Hoa, thật ra đó là hai câu đối: "Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức - Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội". và hàng chữ nói tới năm khánh thành nhà thờ 1880. Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện (không dùng đèn cầy) ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện.
Ngay phía trên cao phía cửa chính là "gác đàn" với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Phần thân đàn cao khoảng 3 m, ngang 4 m, dài khoảng 2 m, chứa những ống hơi bằng nhôm đường kính khoảng một inch. Phần điều khiển đàn nằm riêng nối với thân đàn bằng những trục, có những phím đàn như đàn organ bình thường và những phím to đặt dưới sàn nhà (dài chừng 3 m, ngang khoảng 1 m) để người điều khiển đàn đạp lên khi dùng nốt trầm. Đàn còn có những thanh gõ lớn để đập vào phần dưới các ống hơi phát ra âm thanh. Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.

Tháp chuông


Hai tháp chuông vươn cao nhìn từ phía sau
Ban đầu, hai tháp chuông cao 36,6 m, không có mái và chỉ có độc một chiếc cầu thang hẹp chừng 40 cm bề ngang. Nội thất gác chuông rất tối và sàn được lót sơ sài bằng những miếng gỗ nhỏ cách khoảng, nhìn xuống thấy sâu hút. Vào năm 1895, thánh đường xây thêm hai mái chóp để che gác chuông cao 21 m, theo thiết kế của kiến trúc sư Gardes, tổng cộng tháp chuông cao 57 m. Có tất cả sáu chuông gồm sáu âm, treo trên hai tháp chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879. Từ ngoài nhìn vào, trên tháp bên phải treo 4 quả chuông (sol, đô, rê, mi); tháp bên trái treo 2 chuông (la, si). Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo. Tổng trọng lượng bộ chuông là 27.055 kg tức khoảng 27 tấn, nếu tính luôn hệ thống đối trọng (1.840 kg) được gắn trên mỗi quả chuông thì tổng trọng lượng của bộ chuông sẽ là 28.895 kg.
Các quả chuông
TênKhối lượngĐường kính miệngVị trí
Đô4315 kg169 cmTháp phải
2194 kg145 cmTháp phải
Mi1646 kg125 cmTháp phải
Sol8745 kg225 cmTháp phải
La5931 kg190 cmTháp trái
Si4184 kg170 cmTháp trái
Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện. Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi vào lúc 5 giờ sáng và đổ chuông re vào lúc 16g15. Vào ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông theo hợp âm Mi, Rê và Đô (đúng ra là hợp âm ba chuông Mi, Đô và Sol, nhưng vì chuông Sol quá nặng nên thay thế bằng chuông Rê). Vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh thì mới đổ cả sáu chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.
Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống báo giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Công viên


Mặt trước Thánh đường

Mặt sau Thánh đường
Mặt trước thánh đường là một công viên (Công trường Công xã Paris) với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá, gần đó là Bưu điện Sài Gòn. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được ghi ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh:
Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàngbạcthiếcnhômgiấyda và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Các cuộc tu bổ

Từ khi xây dựng tới nay, nhà thờ này đã trải qua ba cuộc trung tu. Lần trung tu đầu tiên là việc xây dựng thêm mái nhọn cho tháp chuông nhà thờ vào năm 1895. Lần thứ hai vào năm 1903, mặt tiền nhà thờ được tôn tạo, xây thêm vườn hoa và tượng đài Bá Đa Lộc. Lần thứ ba là lần dựng tượng Đức Bà Hòa Bình vào năm 1959.
Đến năm 2015, Tòa Tổng giáo mục Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định thực hiện cuộc đại tu Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn, khởi công chính thức ngày 29 tháng 6 năm 2017 (dịp Lễ kính Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ), và kéo dài trong ba năm, dự kiến đến cuối năm 2019 hoặc giữa năm 2020 sẽ hoàn thành với kinh phí được ước tính không dưới 100 tỉ đồng.

Nguồn: Wikipedia

Thursday, December 14, 2017

Về những dòng đạo chính thờ Thiên Chúa trên thế giới

Trong sách vở hay ở đâu đó chúng ta bắt gặp những tên gọi như đạo Thiên Chúa, đạo Công Giáo, đạo Ðức Chúa Trời, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Hoa Lang, đạo Khirixitô, đạo Kirixitô, đạo Kitô, v.v. Nhưng có phải các tên gọi ấy có cùng ý nghĩa?

Trong tiếng Việt, thuật ngữ "Thiên Chúa giáo" thường dùng để chỉ Giáo hội Công giáo Rôma, hay gọi tắt là Công giáo. “Xét về từ ngữ (terminology) thì danh xưng Đạo Thiên Chúa nghe có vẻ hợp lý vì mục đích tôn thờ Thiên Chúa là Chủ thể của vạn vật và vũ trụ. Nhưng nếu đi sâu vào nôi dung thần học, thì danh xưng này không phân biệt rõ đối tượng và mục đích tôn thờ của các tín hữu có cùng niềm tin vào Thiên Chúa (God) nói chung và Chúa Cứu Thế Giêsu nói riêng.” (theo Linh mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn, trong bài Đạo Thiên Chúa hay đạo Công Giáo? – xem thêm dưới đây)

Về cơ bản, từ ngữ "Thiên Chúa giáo" là chỉ về tất cả các tôn giáo thờ Thiên Chúa là thần linh tối cao và duy nhất ngự trên trời ("Thiên" là trời, "Chúa" là chúa tể, "giáo" là tôn giáo), và từng tôn giáo đó có cách gọi tên riêng về Thiên Chúa. Bao gồm:

Đạo Do Thái: thờ Thiên Chúa mang danh hiệu là "Yahweh" (Việt hóa là "Giavê"). Do Thái giáo hình thành ở vùng Trung Đông như Hồi giáo và Kitô giáo vào thời kỳ Đồ Sắt (khoảng 2000 năm trước Công nguyên). Mặc dù chỉ có khoảng 14 triệu tín đồ, chủ yếu ở Israel, Mỹ và châu Âu nhưng Do Thái giáo là một tôn giáo quan trọng vì đã tạo nền tảng lịch sử cho sự hình thành của Kitô giáo và Hồi giáo. Do Thái giáo do Abraham, tổ phụ và là nhà tiên tri của người Do Thái sáng lập. Do Thái giáo cũng theo thuyết độc thần, chỉ công nhận một mình Đức Chúa toàn năng. Điểm khác biệt của Do Thái giáo là mối quan hệ đặc biệt với Chúa, qua đó người Do Thái là "dân tộc được chọn" thông qua Giao ước (covenant). Giao ước được thể hiện dưới dạng như pháp luật và tập trung vào Mười điều răn Chúa tiết lộ cho Tiên Tri Moses, nhà tiên tri đã dẫn dắt dân tộc Do Thái ra khỏi ách nô lệ Ai Cập. Do Thái giáo coi năm quyển đầu tiên của bộ kinh mà đối với người Kitô giáo chính là Kinh Thánh Cựu ước là Thánh thư - lịch sử cũng như pháp luật của mình. Do Thái giáo cũng không hướng đến thế giới bên kia mà xem quá khứ là nguồn hướng dẫn hiện tại và tương lai. Người Do Thái phục tùng ý Chúa bằng cách thực hiện đầy đủ tinh thần cũng như lời văn của Thánh thư thì một ngày kia, Chúa sẽ phái sứ giả mang thiên đàng xuống trái đất. Chúa Jesus được coi chính là sứ giả đó, nhưng người Do Thái không công nhận Người, vì Người đã chịu chết khốn cực chứ không vinh hiển như ý tưởng của họ theo lời Thánh thư.

Đạo Kitô: gồm ba nhánh chính là Công giáo RômaChính Thống giáo, Kháng Cách (Tin Lành) và nhánh trung dung Anh giáo đều thờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Kitô giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất trên thế giới, khoảng 2,1 tỷ tín đồ, chủ yếu ở Bắc Mỹ, Mỹ Latin, châu Âu và rải rác ở nhiều nơi khác trên thế giới. Kitô giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo ở Trung Đông và do Chúa Jesus sáng lập. Kitô giáo theo thuyết độc thần thể hiện ở quan điểm về Chúa Ba Ngôi: Đức Chúa Cha - Đấng Tạo hóa; Đức Chúa Con (Jesus Christ) - Đấng Chuộc tội và Đức Chúa Thánh Thần - Đấng Thánh hoá. Jesus Christ bị hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập tự, từ đó cây thập tự trở thành biểu tượng thiêng liêng của tín đồ Kitô giáo và theo niềm tin của tín đồ Kitô giáo, Chúa phục sinh là bằng chứng về việc Người là Con Thiên Chúa, Người được phái đến để giải phóng con người khỏi ách quỷ Satan. Con người không chỉ là tôi tớ của Chúa, kẻ được cứu rỗi, mà còn là con của Chúa, do vậy con người có bổn phận noi gương Chúa trong tình yêu cuộc sống, tình yêu đồng loại, con người phải sống thánh thiện và đạt đến cuộc sống vĩnh hằng. Từ khi ra đời và trong giai đoạn đầu, Kitô giáo bị ngược đãi, đàn áp nhưng dần dần đã được truyền bá rộng rãi trên thế giới. Đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới và là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nền văn minh phương Tây.

Đạo Hồi: thờ Thiên Chúa mang danh hiệu là "Allah". Hồi giáo: là tôn giáo có số lượng tín đồ đông thứ hai trên thế giới, với khoảng 1,5 tỷ tín đồ, chủ yếu tập trung ở Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á và rải rác ở khắp nơi trên trái đất. Theo những người bên ngoài đạo này thì Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII, do Muhammad sáng lập. Muhammad là Đấng Tiên tri chứ không phải là thần thánh như Chúa Jesus Christ đối với người Kitô giáo, ông là Đấng tiên tri cuối cùng sau các Đấng tiên tri trước đó là Adam, Abraham, Moses và Jesus Christ. Vai trò của Muhammad là ghi lại lời của Thượng Đế và kinh Koran được các tín đồ coi là lời răn của Đấng Chí Tôn. Cũng giống Kitô giáo, Hồi giáo tin rằng có địa ngục, thiên đàng và ngày phán xét, mọi người có trách nhiệm giải thích trước Thượng Đế về những việc làm của mình trên trần thế. Tín đồ Hồi giáo cũng thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ đức tin, chống lại mọi đe dọa và trong một số trường hợp, giáo lý này của Hồi giáo được sử dụng để biện minh cho các cuộc Thánh chiến.

Ba tôn giáo trên gọi chung là các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham và đều là độc thần giáo.

Người Việt Nam dùng từ ngữ "Thiên Chúa giáo" để chỉ về Công giáo vì Công giáo Rôma, tôn giáo thờ Thiên Chúa xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam. Mặc dù việc thờ "Ông Trời" theo tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, nếu xét theo nghĩa rộng, cũng có thể gọi là Thiên Chúa giáo, tức là thờ một vị "Chúa" ở trên trời.

St onl: "Về những tên gọi “đạo Thiên Chúa”, “đạo Công Giáo”, “đạo Cơ Ðốc”, “đạo Ki tô”, ..."

Wednesday, December 13, 2017

Album: Những hình ảnh chọn lọc từ phong cách Đông Dương (Selection from style indochinois)

Đây là những hình ảnh tôi chọn từ những công trình tiêu biểu của Pháp ở VN.

Bưu điện Trung tâm - Sài Gòn

Bên trong Bưu điện Trung tâm Sài Gòn

Sofitel Metropole - HN

Viện Đại học Đông Dương nay là Đại học Tổng hợp - HN

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn

(còn nữa)

Tuesday, December 12, 2017

ZERO

Số 0 (zero) được xem là "con số kỳ diệu". Có nhà toán học còn phát biểu: "Đến nay, dù đã quá quen thuộc, song việc nghĩ ra và sử dụng con số zero phải được xem là một trong những phát minh cơ bản và quan trọng nhất của nền văn minh nhân loại".
Nhưng chưa thấy tài liệu nào nêu chứng cứ cho thấy thời gian chính xác zero xuất hiện. Căn cứ trên các tài liệu khảo cổ và thư tịch, người ta biết rằng Ấn Độ là nơi sử dụng số 0 rất sớm, ít nhất là từ thế kỷ 8 TCN. Người Ấn Độ gọi số 0 là "Sanya", nguyên nghĩa là "trống rỗng". Mãi về sau, người Ả Rập du nhập số 0 và gọi là "Sifr". Đến thế kỷ thứ 5, số 0 từ phương Đông mới truyền sang La Mã và được đặt tên Latinh là "Ziphium". Từ zero xuất phát từ đó.

Nguyễn Đình Hiếu st (KTNN No.984)

Monday, December 11, 2017

Kho tàng văn học dân gian: Lạy cụ Đề ạ!

Có thằng bé nọ tối dạ lắm, dạy dỗ mấy cũng không được. Mẹ nó bèn gửi nó ở nhà một ông thầy xem nó có khá hơn không.
Nhưng nó vẫn chứng nào tật nấy. Thầy phải vất vả lắm nó mới biết được: cái ống nhổ, cái hoả lò, và cái cấp thiêu [1], ngoài ra chẳng biết cái gì khác.
Một hôm, có ông Ðề là bạn của thầy dạy nó đến chơi, nó cũng không chào. Ông thầy mới mắng:
- Cụ Ðề là bạn tao, thì cũng như tao. Sao cụ ấy đến chơi mà mày không chào? Thế là vô phép. Hễ bận sau mà thấy cụ ấy thì mày phải chắp tay lại mà chào: Lạy cụ Ðề ạ! Nhớ chưa?
Từ ngày ấy, hễ thấy ông Ðề đến là nó chắp hai tay lại, chào: "Lạy cụ Ðề ạ!". Bận nào cũng thế. Một hôm nó về chơi nhà. Mẹ nó muốn thử xem con học hành tấn tới thế nào, mới đi lấy cái điếu đem ra hỏi con rằng:
- Cái này là cái gì?
Thằng bé nói: 
- Cái ống nhổ!
Mẹ nó chán quá, lại lấy cái ấm tích, hỏi nó: 
- Cái này là cái gì?
Nó trả lời: 
- Cái hoả lò!
Bà mẹ tức lắm, lấy cái cơi trầu, hỏi nó:
- Cái này là cái gì?
Nó đáp: 
- Cái cấp thiêu.
Mẹ nó điên ruột, tốc ngược váy lên, hỏi nó:
- Thế thì cái này là cái gì?
Thằng bé liền chắp hai tay, kính cẩn: 
- Lạy cụ Ðề ạ!

------------
[1]: ấm con đun nước

Sunday, December 10, 2017

Không sợ súng đạn

Có anh chồng khờ mới cưới vợ xong là vợ mang bầu liền. Sau đó vợ sinh được một trai. Đưa vợ từ nhà hộ sinh về, chưa kịp mừng anh còn bị vợ mắng:
- Sinh đẻ mà đau thấu trời xanh thế này thì tôi thề từ nay đến già tôi mà ... với anh nữa thì súng đạn sẽ bắn tôi!
Chồng nghe vậy sợ quá không dám đụng đến vợ nữa.
Mấy tháng sau, đang ngủ say, anh chồng giật mình vì có người chui vào mùng nằm với mình. Anh hỏi lớn:
- Ai đó?
- Em!
- Em là ai?
- Em là người không sợ súng đạn!

Phương Tâm st (KTNN No.984)

Saturday, December 9, 2017

Những điều ghi nhận từ cuộc sống

Sống bởi cái gì? Trước hết là bởi những giá trị vì 1 tương lai tốt đẹp hơn bằng những nỗ lực trong hành động và tin tưởng vào chính mình, quên đi những thứ làm tổn thương nhưng đừng quên chúng đã dạy mình như thế nào.

Những điều làm con người nhẹ nhõm đều đến từ cảm xúc: sự khích lệ của bạn bè, tình cảm của những cái hôn và vòng tay ấm áp đầy tình thương yêu của người thân...

Sống thiếu những điều cần thiết dễ làm con người bi quan, nghi ngờ tất cả, chẳng bao giờ nhận được giá trị thực sự của cuộc sống. Điều này làm con người thiếu kiên định, mất phương hướng, dễ bị sai lạc dẫn tới sa ngã không thể đứng dậy được.

Mix

Friday, December 8, 2017

CHUYỂN ĐỔI TIẾNG VIỆT hay CẢI CÁCH TIẾNG VIỆT (1)

Theo tên gọi thì đây là chữ để ghi tiếng nước nhà, cách gọi đó là do các nhân sĩ yêu nước đề xuất vì thấy nó dễ học, có lợi cho việc canh tân nước nhà. Thực ra đây là chữ của các giáo sĩ Cơ đốc đặt ra để phiên âm tiếng Việt, để học tiếng Việt nhằm mục đích truyền đạo cho người bản xứ.

Giai đoạn tiền khởi

Họ từ Châu Âu tới một khu vực có nền văn hóa cao như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam. Họ không thể đối xử như người Tây Ban Nha với người da đỏ ở Nam Mỹ. Buộc lòng họ phải thích nghi.
Tại Nhật, F.Xavier (1548) đã phiên một quyển giáo lý ra tiếng Nhật. Họ đã in nhiều sách vào cuối thế kỷ 16 như Ngữ pháp tiếng Nhật và Từ vựng Nhật – Bồ tại Nagasaki (1603). Ở Trung Hoa, giáo sĩ người Ý đã dịch Bộ Tứ thư ra chữ La tinh. Chính ông và một giáo sĩ khác đã soạn Từ điển Bồ - Hán (trong đó có chữ Bồ, chữ Hán gốc, chữ Hán phiên âm). Giáo sư người Pháp là Trigault (1626) đã cho in “Âm vận kinh vi toàn cục”, trình bày các phụ âm, nguyên âm, thanh điệu của tiếng Hán và sự kết hợp của chúng.
Như vậy là việc phiên âm tiếng bản địa bằng chữ La tinh nhằm mục đích truyền giáo là hiện tượng phổ biến, mang tính khu vực, chứ chữ quốc ngữ không phải là hiện tượng độc đáo, chỉ có ở Việt Nam như một số người đã lầm tưởng. Mặt khác, cần thấy rằng trong số các giáo sĩ Châu Âu có một số trước khi đến Việt Nam đã từng sống ở Nhật Bản. Việc phiên âm tiếng bản địa không phải là xa lạ với họ. Đương nhiên việc phiên âm này phụ thuộc vào trình độ tiếng Việt của họ. Bước đầu họ phải mò mẫm thử nghiệm. Đấy là chữ quốc ngữ ở giai đoạn manh nha.
Minh chứng cho thứ chữ phiên âm tiếng Việt ở thời kỳ này chỉ có thể tập hợp những bức thư, những bản tường trình lẻ tẻ viết tay bằng tiếng Ý, tiếng Bồ gửi cho cấp trên. Chẳng hạn João Roiz đến Cửa Hàn viết một báo cáo bằng tiếng Bồ gửi về La Mã (1621) trong đó có từ Annam (viết liền), unsai: ông sãi, ungue: ông Nghè (Nghè bộ - chức quan cai trị về địa ba tài chính), Cacham: Kẻ Chàm (Thanh Chiêm, Quảng Nam).
Văn kiện của Gaspar Luis viết từ Macao gửi về La Mã (đề ngày 17/11/1621) thuật lại các việc xảy ra ở miền Nam Việt Nam có những tên riêng như Facfo: Hải phố (Hội An), Tuson: Đà Nẵng, Cachiam: Kẻ Chàm, Noiicman: Nước Mặn (Bình Định) và danh từ chung như Ungue: ông Nghè, Ontrum: ông Trùm. Năm 1626, Gaspar Luis trong bản tường trình hàng năm, viết bằng tiếng La tinh ghi một số địa danh Dinhcham, Cacham, Nuocman, Quanghia, Quinhin, Ranran: Đà Nẵng. 


Gaspar d’Amaral, người Bồ được cử đi Nhật năm 1623 sau đến Việt Nam (1630) và ở lại làm trưởng phái đoàn tại Kẻ Chợ (Thăng long). Ông đã viết bản tường trình hàng năm về cho Cha Giám sát các tỉnh Nhật Bản và Trung Hoa (1632).
Ở đây, chữ viết phiên âm đã có dấu ghi thanh điệu như đàng tlão, đàng ngoày, đàng tlân: Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đàng Trên (vùng Cao Bằng do nhà Mạc cai trị), Oũ nghè: ông Nghè, nhà phũ: nhà Phủ (mỗi xứ có nhiều nhà Phủ), nhà huyện: nhà Huyện (mỗi Phủ có một số Huyện), đức vương: Đức Vương (thời đó người dân gọi Chúa Trịnh Tráng là Đức Vương), giỗ: giỗ, ngày giỗ, chai: chay, ăn chay, ma chay, chặp: chạp, tháng chạp, Kẻ uạc: Kẻ Vạc (ở gần Kẻ Nộ trong tỉnh Thanh Hóa).

Giai đoạn hình thành

Đến đây kể như chữ Quốc ngữ đã được hình thành. Alexandre de Rhodes, tác giả cuốn Từ điển Việt – Bồ - La đã có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, gần như đồng thời với Gaspar d’Amaral. Ông truyền giáo ở miền Bắc. Sau do Chúa Trịnh trục xuất, ông rời Bắc vào Nam. Truyền giáo được 5 năm (1640 – 1645). Rồi Chúa Nguyễn Phúc Loan cũng cấm đạo, ông đành trở về Châu Âu. Ngoài nhiều bài viết, ông để lại Từ điển Việt – Bồ - La, Ngữ pháp tiếng Việt và “Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chịu phép rửa tội mà beào đạo thánh Đức Chúa Blời”.
Về Từ điển Việt Bồ La ta sẽ xem xét vị trí của nó sau. Trong Ngữ pháp tiếng Việt có 2 chương trong 8 chương là 1 và 2 giới thiệu về lai lịch các con chữ, về các dấu trên nguyên âm và thanh điệu. Tác giả cho biết:
Về chữ viết như vậy là khá rạch ròi.
Còn trong Từ điển ta sẽ thấy diện mạo của các từ Việt vào thế kỷ 17 (không đơn thuần là cách ghi mà là cách phát âm của thời kỳ đó)
Có nhiều từ không khác ngày nay như: đi đây đi đó, dưa gang, ghen ghét, thơm tho. Có những từ khác cả về cách ghi lẫn cách phát âm: chuầng trâu bò, cớ gì cớ sao, blái giứa (trái dứa), tlả (trả), tlứng (trứng)…
Chữ Quốc ngữ thực sự trở thành một công cụ ghi chép với đầy đủ khả năng ghi phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu mà bằng chứng là những tài liệu của Igesico Văn Tín và Bento Thiện, mặc dù thứ chữ phiên âm ấy không giống với chữ viết hiện đại.
Đến đây chữ Quốc ngữ được coi là bước vào giai đoạn hình thành. Từ điển Việt – Bồ - La là một cái mốc để gọi tên một thời điểm trong quá trình tiến hóa liên tục của thứ chữ phiên âm.
Sau thế kỷ 17 có “Sách sổ sang chép các việc” của Philiphê Bỉnh (bản viết tay năm 1822). Cuốn Từ điển Việt – La tinh của Pigneaux de Béhaine, trước tưởng rằng bị thất lạc trong một vụ hỏa hoạn ở Cà Mau, may có một bản sao được lưu trữ ở Văn khố Hội Truyền giáo ngoài.
Chữ Quốc ngữ trong từ điển này có những thay đổi cơ bản. Cuốn “Nam Việt Dương hiệp từ vựng” của JL.Taberd xuất bản tại Sérampore 1838 đã có cách ghi gần đúng với chữ Quốc ngữ ngày nay. Vậy mà tác giả đã nói rõ là ông chỉ sửa sang lại, còn bảo lưu cách viết của Pigneaux De Béhaine. Thấy có cách viết gần gũi với chúng ta ngày nay thì thật đáng mừng nhưng giải thích sao về sự đột biến này.
Từ điển Việt – Bồ - La thuộc thế kỷ 17. Từ điển Việt – La thuộc thế kỷ 19. Người viết bài này hiểu rằng giữa hai thế kỷ ấy có một khoảng trống vắng tư liệu cần phải lấp đầy và nếu làm được thì mới giải thích được cặn kẽ những biến đổi kia.
Quả thực trong kho lưu trữ của Hội Truyền giáo nước ngoài Paris còn bảo tồn được những bức thư của các giáo dân gửi bề trên hoặc ngược lại với niên đại rõ ràng từ 1702 đến 1792. Những tài liệu này đã được công bố trong cuốn sách “Chữ Quốc ngữ thế kỷ 18”(do Đoàn Thiện Thuật sưu tầm và chủ biên, Nxb Giáo dục, 2008).
Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?
Về phần vần, xét qua những vần mà ngày nay ghi là ung, ông, ong, ta thấy như sau:
Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?
Cách viết của tác giả Việt – Latinh dù sao cũng chỉ là cách viết của một người chứ không phải của tất cả mọi người. Nói như vậy để khỏi ngộ nhận là vào thời kỳ của ông, mọi người đều viết như thế. Bên cạnh ông vẫn có người viết khác, nhưng ông đã chấp nhận một cách thì ông luôn luôn nhất quán, ông làm cho hệ thống chữ viết tiết kiệm và xóa đi được dấu vết của hệ thống chữ Bồ.
Nhưng cách viết của ông còn lâu mới thắng thế được và giành được địa vị độc tôn nếu không được JL Taberd tiếp tay.
Từ điển Nam Việt Dương hiệp Từ vựng ra đời là rất quan trọng. Nó là chỗ dựa cho mọi người muốn học chữ Quốc ngữ. Nó điển chế hóa chính tả và làm cho cách viết của Pigneaux De Béhaine lưu truyền đến ngày nay.
GS Đoàn Thiện Thuật (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)


Công nhận chữ quốc ngữ là văn tự chính thức

Trước khi có những đề xuất cải tiến, chữ Quốc ngữ đã được công nhận là văn tự chính thức của Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhà cầm quyền cũng có nhiều động thái để thúc đẩy sự truyền bá chữ quốc ngữ như đưa vào quy định bổ nhiệm, thăng tiến cho quan chức hay miễn thuế cho dân ở Nam Kỳ.
Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?
Chữ quốc ngữ hình thành như thế nào?
Thực hiện: Diễm Anh - Nguyễn Thảo - Ngân Anh (VIETNAMNET.VN)