"Không ai tự nhiên sinh ra đã biết căm thù những người khác vì màu da, nguồn gốc hay tôn giáo của họ. Lòng căm thù cũng cần phải học, và nếu có thể học căm thù thì cũng có thể học yêu thương vì lòng yêu thương lẽ tự nhiên sẽ đi vào lòng người."
Thursday, May 22, 2014
Quán bánh ngọt trên quảng trường Vorosmarty - Vorosmarty téri cukrászda
Ezt már igértem magamnak errol írni évek óta. De ezt a kézenfekvo álmot mindig elmulasztottam, amig úgy dontottem hogy most vagy soha. És euréka! Felfedeztem néha nem olyan nehéz azt csinálni, amit nagyon akarunk csinálni. Magdinak és barátaimnak ajándékként adom ezt az irást. Nem vagyok biztos, annyi év után, a magyar irásom még érheto. De akárhogy ez a legnagyobb probálkozásom. Remélem valaki fog javitani rajta.
Tôi tự hứa sẽ viết về điều này từ nhiều năm. Nhưng tôi vẫn luôn lần khân làm lỡ giấc mơ đã nằm trong tay này, cho đến khi tôi quyết định là bây giờ hoặc không bao giờ. Và Ơ rê ka, tôi đã phát hiện ra, đôi khi việc làm một việc mà chúng ta muốn cũng không đến nỗi khó lắm. Tôi tặng cho Magdi và các bạn của tôi bài viết này. Tôi không dám chắc, sau ngần ấy năm, tiếng Hung viết của tôi vẫn có thể hiểu được. Nhưng dù sao đây cũng là cố gắng lớn nhất của tôi. Hy vọng sẽ có ai đó sửa giúp.
Quảng trường Vorosmarty nằm ở cuối phố Váci útca, một bên có lối đi ra khách sạn Duna Kontinentál phía bờ sông Duna, bên kia có lối đi bộ ra quảng trường Deák là bến xe bus liên tỉnh. Ở phố Váci útca và quảng trường Vorosmarty, người ta chỉ đi bộ. Không có bất cứ một phương tiện cơ giới nào chạy qua quảng trường, ngoại trừ tàu điện ngầm chạy trong lòng đất, cửa ga ra quảng trường trông giống như một cái hàng rào của nhà ai đó. Quảng trường Vorosmarty luôn có rất nhiều chim bồ câu. Ngày nắng, ngồi phơi nắng giữa quảng trường, nhìn người tất bật đi lại một cách lười biếng, cảm giác rất tuyệt. Xung quanh quảng trường có các tòa nhà cổ kính, có thể nhìn không chán mắt và tưởng tượng ra nhiều câu chuyện về số phận và cuộc đời, đan chen rồi lại rời xa.
Vorosmarty tér a Váci útca végén van, az egyik oldalán egy keskeny járat a Duna Kontinentál szállodába vezet, a másikon egy kis ustca nyilik a Deák Ferenc terére, ahol buszok várják a vidéki utazókat. A Váci útcán és a Vorosmarty terén csak gyalogon járnak. Nem mukodik bármilyen mechnikai járgány a tér teruletén, kivéve a foldalatti villámosok, amik mélyen a tér alatt jonnek és mennek. A foldalatti megálónak kijárata a tér kozepén van és úgy néz ki mint valamilyen háznak a kerítése. A Vorosmarty téren nagyon sok galamb van. Egy napos napon, a téren lustálkodva heverve a napsutésben és bámulva a sieto utazókra, egy olyan gyonyoru érzést tapasztalhat az ember. A tér kornyékén régi stilusú épuletek vannak, amelyekre soha nem únva bámulhatsz és kiképzelhetsz emberi sorsokat, életeket és torténeteket, amelyek átszonik egymást és távoznak egymástól.
Quán bánh ngọt là tầng dưới của một tòa nhà cổ chiếm hẳn một phía quảng trường, trước nhóm tượng đài vừa là đài phun nước, ở một góc nhìn đẹp nhất. Đây là quán bánh ngọt đẹp nhất Hungari và cũng là quán bánh ngọt đẹp nhất thế giới mà tôi đã từng biết. Đối với tôi quán bánh ngọt này có không ít kỷ niệm. Với tôi, quán bánh ngọt này chính là Budapest. Những khi nghĩ về Budapest, tôi lại nhớ đến quán bánh ngọt này. Nằm mơ về Budapest, cũng thấy quán bánh ngọt này. Chắc hẳn Bình "to" và Khánh còn có thể nhớ được cái quán bánh ngọt này, nơi ba chúng tôi đến đây lần đầu tiên, và đã ăn ngô luộc "fozott kukorica" bán rong gần trước cửa quán, ở trước cửa lối rẽ xuống đường metro. Ngô luộc của Hung vừa dẻo vừa ngọt, lại không non quá như ngô Mỹ nên có vị đậm đà thơm hơn, có thể ăn vài bắp không chán. Rồi chúng tôi mua kem để ăn ở quán bánh ngọt này. Chúng tôi thường chọn loại vị punch, màu hồng có vị hơi chua chua. Khánh chọn cho tôi, tôi không sành về kem. Đối với tôi, cảm giác mát lạnh của kem là quan trọng hơn cả.
A cukrászda egy régi épulet foldszintjén van, amely a tér az egyik oldalát foglalja, egy szobor-szokokút elott, a legszebb kilátással. Ez a Magyarország legszebb cukrászdája, és állitólag egyben a világ legszebbje is, legalább a tudásom szerint. Nekem ez a cukrászda orzott sok jó emléket. Bennem ez a cukrászda a Budapest jelképe. Az álmaimban a Budapestrol mindig látom a Vorosmarty teri cukrászdát. Egykori haveraim, "Nagy" Binh és Khanh, biztosan még emlészenek erre a cukrászdára ahol amikor mentunk oda eloszor ettunk fozott kukoricát, amit árultak a cukrászda mellet, a foldalatti bejárat irányában. A magyar fozott kukoricának jobb ize mint az amerikainak, mi gyakran fogyasztottunk jó néhány darabot. Utána veszunk fagyit a cukrászdában. Gyakran kértunk a puncsot, egy rózsszinu és enyhén savanyú fagyi fajtája. Khanh választott nekem, mert nem voltam nagy fagyi szakértoje. Nekem a fagyi huvossége a legfontosabb nem az ize.
Rồi năm thứ năm đại học, về ở Budapest, tôi cũng thường ghé qua quán bánh ngọt này thường xuyên hơn, khi thì đi cùng với Khánh, Bình, khi thì với Ánh, khi thì một mình trước khi về ăn cơm ở nhà ăn của trường ELTE với Nhân ở đầu cầu Erzsébet, ở cuối bên kia của Váci útca. Tên Ánh thì thích học cách chơi sang, thường hay gọi một ly Martini gì đó, uống mãi chẳng hết. Bình "to", Khánh và tôi vẫn chén ngô, ăn kem hoặc uống coca cola cho nó bình dân và ngon thực sự.Một vài lần, tôi cũng hẹn Magdi đến đây. Nàng gọi một chai bia gì đó, không phải của Hung, hai đứa uống chung. Tôi cũng gọi thêm hai suất bánh ngọt. Bánh ngọt ở đây có nhiều loại làm rất tuyệt, không ngọt quá.
Az egyetem otodik évében, Budapesten diploma munkáztam KFKI-ben és néhány tantárgyat hallgattam ELTÉN, tobb alkalmom volt a cukrászdát látogatni, néha Khanhhal és Binnhel, néha Ánnhal, náha egyedul az ebéd elott Nhannal, az ELTE menzán az Erzsébet hídfonél a Vasci útca másik végén. Ánh szeretett tanulni a luxus életmódot, gyakran parancsolt egy Martinit egy sárga citrom szelettel, de soha nem végzett el az ivással. Én, "nagy" Binh és Khánh mindig fozott kukoricat és fagyit ettunk kolával jóizuen. Úgy emlékszem hogy egy kétszer jottem Magdi-val. Egy sort kért és egyutt ittunk. Két torta adagot is kértem. Sok torta fajtája van a cukrászdában, mesterien készítve, és foleg nem túl édes.
Lần thứ hai trở lại Hung, tôi trở lại quảng trường này cùng vợ con vào một ngày lạnh. Bé Fanni mới ba tuổi. Chúng tôi cũng ăn ngô luộc, bánh ngọt và kem punch. Fanni chạy theo đàn bồ câu trên quảng trường. Bầu không khí thật êm đềm hạnh phúc và đột nhiên tôi rất nhớ những người bạn cũ và những năm đi học. Ánh vẫn ở Budapest, nhưng chúng tôi không còn thời gian cho nhau, để cùng ngồi trước một ly Martini, chia nhau ăn một cái bánh ngọt như ngày xưa. Không rõ chúng tôi đang vội vã đi đâu hay đi về cuối đường đời. Và vội để làm gì, khi kết cục đều như vậy, không có gì mới lạ hấp dẫn. Vài lần, trong năm đầu, tôi cũng có dịp gặp Magdi tại đây. Nàng ở cách đấy vài bến tàu điện nên đến hẹn đến cũng tiện. Chúng tôi cũng uống cùng một chai bia, nhấm nháp một lát bánh ngọt, nói những chuyện không đầu không đuôi, đôi khi ngồi yên, chẳng nói gì, cùng nhấm nháp không khí trên quảng trường, nắng trên khung cửa, và căn phòng lớn, trang trí với những đồ gỗ của mấy thế kỷ trước với những chùm đèn pha lê uy nghi.
Amikor Magyarországra jottem másodszor, elvittem feleségemet és kis lányom, Fannit a Vorosmarty terre egy hideg napon. Kis Fannikám három éves volt. Ettunk fozott kukoricát, tortát és fagylaltot. Fanni futott lelkesen a galambok után a téren. A légkor nagyon békés és boldog volt és hirtelenul nagyon sokat hiányoztak a régi barátok és diák kori évek. Ánh Budapesten volt, de nem volt idejunk egymásnak, hogy egyutt ulhessunk egy Martini elott, vagy osztozzunk egy tortát mint régen. Nem világos volt hogy hová siettunk, vagy egyszeruen csak az élet végére. Minek a sietés, amikor ugyanaz a vég lesz, nincs bármilyen izgamas meglepetés. Az elso évben, Magdival találkoztam néhányszor. Magdi csak néhány villámos megálóval lakott a Vorosmarty tértol, így konnyu volt neki jonni a találkozásunkra. Ittunk egyutt egy sort, bele kóstoltunk a régi torták ízébe, beszéltunk a kezdet and vég nélkuli dolgokról. Néha csak halgattunk, élvezve a Vorosmarty teri légkort, az ablakon átszuro napsugárt és az a nagy termet diszítve a múlt évszázadok bútoraival és a tekintélyes kristályos csillárokal.
Nhưng rồi, cuộc sống thời đó trôi qua hối hả. Chúng tôi cũng không còn thời gian cho nhau. Cũng chẳng biết với thời gian đó, chúng tôi làm được gì hơn cho đời, cho mình. Rồi tôi sắm được xe hơi, ít khi có dịp đi bộ để trở về Quảng trường Vorosmarty. Đôi khi, có việc lái xe đi qua khách sạn Duna hoặc quảng trường Deák tôi cố nghển cổ nhìn về hướng quảng trường Vorosmarty để mường tượng lại quán bánh ngọt đẹp tuyệt vời và hình ảnh Bình, Khánh, Ánh, Nhân ngày xưa. Tất nhiên tất cả chỉ là ảo ảnh, tưởng tượng. Hiện thực rất dễ dàng đạt được đó chỉ cách vài bước chân. Nhưng luôn có một khó khăn vô hình đẩy chúng ta ra xa cuộc gặp với những hoài niệm cũ. Mặc dù đôi lúc giấc mơ hiện thực đến mức không phải cố gắng gì. Nhưng người ta vẫn ngại ngùng làm một việc nhỏ xíu, để nó cứ mãi nằm trong mơ tưởng và nuối tiếc. Có lẽ điều cản trở lớn nhất là sự lười biếng. Tôi cũng không rõ lười biếng và già cỗi, cái nào là nguyên nhân của cái nào. Cũng như một lần tôi đã nói với một người bạn vong niên về ước mơ có một ngày nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn trời xanh và mây trắng thỏa thích. Người bạn đó nghi ngờ đó là một ước mơ thực sự vì thực hiện giấc mơ đó không hề mất gì. Thế rồi mấy chục năm trôi qua, cái ước mơ đó vẫn chỉ vẫn là ước mơ. Con người cũng thật kỳ lạ, luôn tự trói buộc mình, hoặc ngại ngùng với những ràng buộc vô hình.
De utána, az akkori élet rohant sok kulonbozo eseménnyel. Nem volt tobbé idonk egymásnak. Most már nem igazán tudom hogy azt az idot használva mit tehettunk magunknak vagy az életnek. Nekem elég pénzt sikerult keresnem hogy egy autokocsit vehettem, nem volt tobbé alkamam gyalogolni hogy viszalátogathassam a Vorosmarty teret. Néha dolgom volt arra felé, akkor vezettem autót a Duna Kontinentál szálloda vagy Deák tér mellett, probáltam felemelni a nyakomat és igyekeztem nézni a Vorosmarty tér felé, és hiába képzeltem el a régi cukrászdát a régi Binh, Khanh, Anh, Nhan,.... barátaimmal. De minden csak elképzelés volt. A nagyon konnyen elérheto valóság csak néhány lépéssel tovább van. De mindig valami láthatatlan nehézség taszított el bennunket a régi emlékekkel való találkozástól. Akár néha az álom olyan reális, nem túl sok eroltetés kell hozzá. De az ember tétovázik egy kis igyekvéssel, így az álom orokké egy álom maradt az orok sajnálatban. Talán legnagyobb akadály a lustaságunk. Nem tudom lustaság és és oregedés melyik az oka a melyiknek. Egyszer mondtam egy barátomnak hogy azt akarom hogy van egy teljes napom, nem csinálnék semmit csak bámulnék a kék égre és a fehér felhore. A barátom nagyon kételkedett hogy az az igazi álmom, mert annak az álomnak megvalósitása nem kerul semmibe. Évek teltek el, de az álom tényleg mindig csak egy álomnak marad. Az ember olyan furcsa, mert mindig koti le magát, vagy tétovázik a láthatatlan kotésekkel.
Trước khi rời Hungari đi Mỹ không lâu, tôi nhớ còn có dịp gặp Magdi tại quán bánh ngọt này. Nàng vẫn gọi chai bia và nói một câu đã nói bao nhiêu lần "Iszunk egyutt egy sort, jó?". "Chúng mình uống chung một chai bia, được không?" Tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt, một trắng (vanila) một đen (sô cô la). Trên bánh trắng là một lớp caramel vàng, thơm vị chanh, trên bánh đen là một lớp kem trắng muốt thơm mùi hồ đào. Chúng tôi vẫn im lặng ăn, thưởng thức không khí xưa cũ đặc quánh, với một linh cảm, bầu không khí tĩnh lặng hàng chục năm này sắp biến đổi. Chúng tôi chia tay nhau, như thể rồi sẽ gặp lại sau vài hôm, mặc dù biết thời gian trước mắt sẽ dài đằng đẵng, mỗi người đi trên con đường riêng của mình, rất khó lòng tìm lại một điểm giao nhau để gặp lại.
Roviden az Amerikába való távozás elott, úgy emlékszem hogy Magdival találkoztam a Vorosmaty teri cukrászdában. Mindig egy sort kért és mondta ugyanazt a mondatot, mit már tobbszor is mondott "Iszunk egy sort, jó?". Én is mindig ketto tortát kértem, egy fehér (vaniliás) és egy sotét barna (csokoládé). A fehér tortán volt egy sárga, citrom izu cukor réteg, a sotét barna tortán pedig volt egy hó fehér krém réteg a dió illattal. Csendesen fogyasztottunk, élvezve a régi surített légkort, egy jovore szóló érzéssel hogy ez a nem változott régi csendes hangulat a változásra készult. Elkoszontunk egymástól, mintha találkozni fogunk néhány nap után, bár tudtuk hogy nagyon hosszú távolét várt, egyikunk a saját utját fogja menni, és nagyon nehéz lesz visza találni egy metszo pontot, hogy viszaláthassuk egymást
Cũng may, mười lăm năm sau, chúng tôi đã gặp lại nhau. Tôi đến Budapest từ Viên, chỉ có đúng một ngày. Chúng tôi hẹn gặp, tại bến metro ga Keleti. Chúng tôi thấy nhau, mỉm cười, và tiến lại gần nhau, không vội vã, không quá đon đả, như một đôi bạn vẫn thường gặp nhau hàng tuần, từ hàng chục năm. Sau khi cùng đi bộ lang thang trên đường Budapest hàng tiếng đồng hồ, chúng tôi chợt thấy mình đang đi trên quảng trường Vorosmarty. Không ai bảo ai, chúng tôi đi về phía quán bánh ngọt. Quán bánh ngọt được trang hoàng lộng lẫy hơn mang một tên mới lạ lẫm, nhưng vẫn còn phảng phất chút phong vị ngày xưa. Magdi lại gọi một chai bia, tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt. Câu chuyện lặp lại y nguyên như cũ, đến mức có lúc tôi tưởng mấy chục năm vừa qua biến mất, nàng mới gọi bia và tôi mới gọi bánh ngọt ở lần đầu. Bia rót ra cốc, nàng cười và nâng ly "Szia" (Chào anh). Tôi không còn thói quen chào hỏi khi uống, nhưng còn nhớ người Hung uống bia không bao giờ cụng ly, nên chỉ cười và uống cạn cốc bia lạnh. Chúng tôi nhẩn nha nhấm nháp xong hai suất bánh ngọt cùng hai ly cà phê rồi đứng dậy. Có cảm giác chúng tôi đã ngồi đó suốt mấy chục năm vừa qua. Khi đứng dậy, xung quanh đều đã có chút đổi thay.
Szerencsésen, tizenot év után, találkoztunk még egyszer. Bécsbol jottem Budapestre, és csak egy szabad napom volt. Keleti pályaudvari metró volt a találkozásunk a helye. Láttuk egymást és mosolyogva kozelkedtunk egymáshoz, nem túl sietve, nem túl lelkesen, mintha mindig találkoztunk volna minden heten, évek óta. Néhány órás sétáltunk a budapesti útcákon és hirtelenul felfedeztuk hogy Vorosmarty téren voltunk. Szótlanul sétáltunk a cukrászda felé. A régi cukrászda jobban nézett ki, de egy új idegen nevet viselt, a régi hangulat láthatatlanul lebegett a levegoben. Magdi kért egy sort, én ketto tortát ketto presszó kávéval. A torténet úgy ismétlodott, mintha a távoléti évek eltuntek volna Magdi sort és én tortát kértunk csak eloszor. A sort pohárba ontve, mosolygott, emelt poharat és mondta "Szia". Már sokáig elfelejtettem az ivás elotti koszontést, de mindig tudtam hogy egy magyarral nem illik kocintgatni a sorozéskor. Igy mosolyogtam és fenekig urítettem a huvos poharomat. Lassan befejeztunk a tortákkal és felálltunk. Olyan érzésem volt hogy ott ultunk évek óta és felálláskor a kornyezetunk már egy kicsit változott.
Nắng bên ngoài quảng trường vẫn rực rỡ như năm nào. Đàn chim bồ câu vẫn đậu kín khắp trên quảng trường. Không biết có còn cặp chim câu nào của ngày xưa cũ. Gió từ Duna ùa về lồng lộng như vẫn gió năm xưa.
A napsutés ragyogott kint mint régen. A tér még mindig tele volt a galambokkal. Nem tudtam, hogy kozuluk volt-e olyan galamb pár, amelyik is volt a régi napokban. Dunáról fújtott a szél uvoltve mint a régi év szele.
Tôi tự hứa sẽ viết về điều này từ nhiều năm. Nhưng tôi vẫn luôn lần khân làm lỡ giấc mơ đã nằm trong tay này, cho đến khi tôi quyết định là bây giờ hoặc không bao giờ. Và Ơ rê ka, tôi đã phát hiện ra, đôi khi việc làm một việc mà chúng ta muốn cũng không đến nỗi khó lắm. Tôi tặng cho Magdi và các bạn của tôi bài viết này. Tôi không dám chắc, sau ngần ấy năm, tiếng Hung viết của tôi vẫn có thể hiểu được. Nhưng dù sao đây cũng là cố gắng lớn nhất của tôi. Hy vọng sẽ có ai đó sửa giúp.
Quảng trường Vorosmarty nằm ở cuối phố Váci útca, một bên có lối đi ra khách sạn Duna Kontinentál phía bờ sông Duna, bên kia có lối đi bộ ra quảng trường Deák là bến xe bus liên tỉnh. Ở phố Váci útca và quảng trường Vorosmarty, người ta chỉ đi bộ. Không có bất cứ một phương tiện cơ giới nào chạy qua quảng trường, ngoại trừ tàu điện ngầm chạy trong lòng đất, cửa ga ra quảng trường trông giống như một cái hàng rào của nhà ai đó. Quảng trường Vorosmarty luôn có rất nhiều chim bồ câu. Ngày nắng, ngồi phơi nắng giữa quảng trường, nhìn người tất bật đi lại một cách lười biếng, cảm giác rất tuyệt. Xung quanh quảng trường có các tòa nhà cổ kính, có thể nhìn không chán mắt và tưởng tượng ra nhiều câu chuyện về số phận và cuộc đời, đan chen rồi lại rời xa.
Vorosmarty tér a Váci útca végén van, az egyik oldalán egy keskeny járat a Duna Kontinentál szállodába vezet, a másikon egy kis ustca nyilik a Deák Ferenc terére, ahol buszok várják a vidéki utazókat. A Váci útcán és a Vorosmarty terén csak gyalogon járnak. Nem mukodik bármilyen mechnikai járgány a tér teruletén, kivéve a foldalatti villámosok, amik mélyen a tér alatt jonnek és mennek. A foldalatti megálónak kijárata a tér kozepén van és úgy néz ki mint valamilyen háznak a kerítése. A Vorosmarty téren nagyon sok galamb van. Egy napos napon, a téren lustálkodva heverve a napsutésben és bámulva a sieto utazókra, egy olyan gyonyoru érzést tapasztalhat az ember. A tér kornyékén régi stilusú épuletek vannak, amelyekre soha nem únva bámulhatsz és kiképzelhetsz emberi sorsokat, életeket és torténeteket, amelyek átszonik egymást és távoznak egymástól.
Quán bánh ngọt là tầng dưới của một tòa nhà cổ chiếm hẳn một phía quảng trường, trước nhóm tượng đài vừa là đài phun nước, ở một góc nhìn đẹp nhất. Đây là quán bánh ngọt đẹp nhất Hungari và cũng là quán bánh ngọt đẹp nhất thế giới mà tôi đã từng biết. Đối với tôi quán bánh ngọt này có không ít kỷ niệm. Với tôi, quán bánh ngọt này chính là Budapest. Những khi nghĩ về Budapest, tôi lại nhớ đến quán bánh ngọt này. Nằm mơ về Budapest, cũng thấy quán bánh ngọt này. Chắc hẳn Bình "to" và Khánh còn có thể nhớ được cái quán bánh ngọt này, nơi ba chúng tôi đến đây lần đầu tiên, và đã ăn ngô luộc "fozott kukorica" bán rong gần trước cửa quán, ở trước cửa lối rẽ xuống đường metro. Ngô luộc của Hung vừa dẻo vừa ngọt, lại không non quá như ngô Mỹ nên có vị đậm đà thơm hơn, có thể ăn vài bắp không chán. Rồi chúng tôi mua kem để ăn ở quán bánh ngọt này. Chúng tôi thường chọn loại vị punch, màu hồng có vị hơi chua chua. Khánh chọn cho tôi, tôi không sành về kem. Đối với tôi, cảm giác mát lạnh của kem là quan trọng hơn cả.
A cukrászda egy régi épulet foldszintjén van, amely a tér az egyik oldalát foglalja, egy szobor-szokokút elott, a legszebb kilátással. Ez a Magyarország legszebb cukrászdája, és állitólag egyben a világ legszebbje is, legalább a tudásom szerint. Nekem ez a cukrászda orzott sok jó emléket. Bennem ez a cukrászda a Budapest jelképe. Az álmaimban a Budapestrol mindig látom a Vorosmarty teri cukrászdát. Egykori haveraim, "Nagy" Binh és Khanh, biztosan még emlészenek erre a cukrászdára ahol amikor mentunk oda eloszor ettunk fozott kukoricát, amit árultak a cukrászda mellet, a foldalatti bejárat irányában. A magyar fozott kukoricának jobb ize mint az amerikainak, mi gyakran fogyasztottunk jó néhány darabot. Utána veszunk fagyit a cukrászdában. Gyakran kértunk a puncsot, egy rózsszinu és enyhén savanyú fagyi fajtája. Khanh választott nekem, mert nem voltam nagy fagyi szakértoje. Nekem a fagyi huvossége a legfontosabb nem az ize.
Rồi năm thứ năm đại học, về ở Budapest, tôi cũng thường ghé qua quán bánh ngọt này thường xuyên hơn, khi thì đi cùng với Khánh, Bình, khi thì với Ánh, khi thì một mình trước khi về ăn cơm ở nhà ăn của trường ELTE với Nhân ở đầu cầu Erzsébet, ở cuối bên kia của Váci útca. Tên Ánh thì thích học cách chơi sang, thường hay gọi một ly Martini gì đó, uống mãi chẳng hết. Bình "to", Khánh và tôi vẫn chén ngô, ăn kem hoặc uống coca cola cho nó bình dân và ngon thực sự.Một vài lần, tôi cũng hẹn Magdi đến đây. Nàng gọi một chai bia gì đó, không phải của Hung, hai đứa uống chung. Tôi cũng gọi thêm hai suất bánh ngọt. Bánh ngọt ở đây có nhiều loại làm rất tuyệt, không ngọt quá.
Az egyetem otodik évében, Budapesten diploma munkáztam KFKI-ben és néhány tantárgyat hallgattam ELTÉN, tobb alkalmom volt a cukrászdát látogatni, néha Khanhhal és Binnhel, néha Ánnhal, náha egyedul az ebéd elott Nhannal, az ELTE menzán az Erzsébet hídfonél a Vasci útca másik végén. Ánh szeretett tanulni a luxus életmódot, gyakran parancsolt egy Martinit egy sárga citrom szelettel, de soha nem végzett el az ivással. Én, "nagy" Binh és Khánh mindig fozott kukoricat és fagyit ettunk kolával jóizuen. Úgy emlékszem hogy egy kétszer jottem Magdi-val. Egy sort kért és egyutt ittunk. Két torta adagot is kértem. Sok torta fajtája van a cukrászdában, mesterien készítve, és foleg nem túl édes.
Lần thứ hai trở lại Hung, tôi trở lại quảng trường này cùng vợ con vào một ngày lạnh. Bé Fanni mới ba tuổi. Chúng tôi cũng ăn ngô luộc, bánh ngọt và kem punch. Fanni chạy theo đàn bồ câu trên quảng trường. Bầu không khí thật êm đềm hạnh phúc và đột nhiên tôi rất nhớ những người bạn cũ và những năm đi học. Ánh vẫn ở Budapest, nhưng chúng tôi không còn thời gian cho nhau, để cùng ngồi trước một ly Martini, chia nhau ăn một cái bánh ngọt như ngày xưa. Không rõ chúng tôi đang vội vã đi đâu hay đi về cuối đường đời. Và vội để làm gì, khi kết cục đều như vậy, không có gì mới lạ hấp dẫn. Vài lần, trong năm đầu, tôi cũng có dịp gặp Magdi tại đây. Nàng ở cách đấy vài bến tàu điện nên đến hẹn đến cũng tiện. Chúng tôi cũng uống cùng một chai bia, nhấm nháp một lát bánh ngọt, nói những chuyện không đầu không đuôi, đôi khi ngồi yên, chẳng nói gì, cùng nhấm nháp không khí trên quảng trường, nắng trên khung cửa, và căn phòng lớn, trang trí với những đồ gỗ của mấy thế kỷ trước với những chùm đèn pha lê uy nghi.
Amikor Magyarországra jottem másodszor, elvittem feleségemet és kis lányom, Fannit a Vorosmarty terre egy hideg napon. Kis Fannikám három éves volt. Ettunk fozott kukoricát, tortát és fagylaltot. Fanni futott lelkesen a galambok után a téren. A légkor nagyon békés és boldog volt és hirtelenul nagyon sokat hiányoztak a régi barátok és diák kori évek. Ánh Budapesten volt, de nem volt idejunk egymásnak, hogy egyutt ulhessunk egy Martini elott, vagy osztozzunk egy tortát mint régen. Nem világos volt hogy hová siettunk, vagy egyszeruen csak az élet végére. Minek a sietés, amikor ugyanaz a vég lesz, nincs bármilyen izgamas meglepetés. Az elso évben, Magdival találkoztam néhányszor. Magdi csak néhány villámos megálóval lakott a Vorosmarty tértol, így konnyu volt neki jonni a találkozásunkra. Ittunk egyutt egy sort, bele kóstoltunk a régi torták ízébe, beszéltunk a kezdet and vég nélkuli dolgokról. Néha csak halgattunk, élvezve a Vorosmarty teri légkort, az ablakon átszuro napsugárt és az a nagy termet diszítve a múlt évszázadok bútoraival és a tekintélyes kristályos csillárokal.
Nhưng rồi, cuộc sống thời đó trôi qua hối hả. Chúng tôi cũng không còn thời gian cho nhau. Cũng chẳng biết với thời gian đó, chúng tôi làm được gì hơn cho đời, cho mình. Rồi tôi sắm được xe hơi, ít khi có dịp đi bộ để trở về Quảng trường Vorosmarty. Đôi khi, có việc lái xe đi qua khách sạn Duna hoặc quảng trường Deák tôi cố nghển cổ nhìn về hướng quảng trường Vorosmarty để mường tượng lại quán bánh ngọt đẹp tuyệt vời và hình ảnh Bình, Khánh, Ánh, Nhân ngày xưa. Tất nhiên tất cả chỉ là ảo ảnh, tưởng tượng. Hiện thực rất dễ dàng đạt được đó chỉ cách vài bước chân. Nhưng luôn có một khó khăn vô hình đẩy chúng ta ra xa cuộc gặp với những hoài niệm cũ. Mặc dù đôi lúc giấc mơ hiện thực đến mức không phải cố gắng gì. Nhưng người ta vẫn ngại ngùng làm một việc nhỏ xíu, để nó cứ mãi nằm trong mơ tưởng và nuối tiếc. Có lẽ điều cản trở lớn nhất là sự lười biếng. Tôi cũng không rõ lười biếng và già cỗi, cái nào là nguyên nhân của cái nào. Cũng như một lần tôi đã nói với một người bạn vong niên về ước mơ có một ngày nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn trời xanh và mây trắng thỏa thích. Người bạn đó nghi ngờ đó là một ước mơ thực sự vì thực hiện giấc mơ đó không hề mất gì. Thế rồi mấy chục năm trôi qua, cái ước mơ đó vẫn chỉ vẫn là ước mơ. Con người cũng thật kỳ lạ, luôn tự trói buộc mình, hoặc ngại ngùng với những ràng buộc vô hình.
De utána, az akkori élet rohant sok kulonbozo eseménnyel. Nem volt tobbé idonk egymásnak. Most már nem igazán tudom hogy azt az idot használva mit tehettunk magunknak vagy az életnek. Nekem elég pénzt sikerult keresnem hogy egy autokocsit vehettem, nem volt tobbé alkamam gyalogolni hogy viszalátogathassam a Vorosmarty teret. Néha dolgom volt arra felé, akkor vezettem autót a Duna Kontinentál szálloda vagy Deák tér mellett, probáltam felemelni a nyakomat és igyekeztem nézni a Vorosmarty tér felé, és hiába képzeltem el a régi cukrászdát a régi Binh, Khanh, Anh, Nhan,.... barátaimmal. De minden csak elképzelés volt. A nagyon konnyen elérheto valóság csak néhány lépéssel tovább van. De mindig valami láthatatlan nehézség taszított el bennunket a régi emlékekkel való találkozástól. Akár néha az álom olyan reális, nem túl sok eroltetés kell hozzá. De az ember tétovázik egy kis igyekvéssel, így az álom orokké egy álom maradt az orok sajnálatban. Talán legnagyobb akadály a lustaságunk. Nem tudom lustaság és és oregedés melyik az oka a melyiknek. Egyszer mondtam egy barátomnak hogy azt akarom hogy van egy teljes napom, nem csinálnék semmit csak bámulnék a kék égre és a fehér felhore. A barátom nagyon kételkedett hogy az az igazi álmom, mert annak az álomnak megvalósitása nem kerul semmibe. Évek teltek el, de az álom tényleg mindig csak egy álomnak marad. Az ember olyan furcsa, mert mindig koti le magát, vagy tétovázik a láthatatlan kotésekkel.
Trước khi rời Hungari đi Mỹ không lâu, tôi nhớ còn có dịp gặp Magdi tại quán bánh ngọt này. Nàng vẫn gọi chai bia và nói một câu đã nói bao nhiêu lần "Iszunk egyutt egy sort, jó?". "Chúng mình uống chung một chai bia, được không?" Tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt, một trắng (vanila) một đen (sô cô la). Trên bánh trắng là một lớp caramel vàng, thơm vị chanh, trên bánh đen là một lớp kem trắng muốt thơm mùi hồ đào. Chúng tôi vẫn im lặng ăn, thưởng thức không khí xưa cũ đặc quánh, với một linh cảm, bầu không khí tĩnh lặng hàng chục năm này sắp biến đổi. Chúng tôi chia tay nhau, như thể rồi sẽ gặp lại sau vài hôm, mặc dù biết thời gian trước mắt sẽ dài đằng đẵng, mỗi người đi trên con đường riêng của mình, rất khó lòng tìm lại một điểm giao nhau để gặp lại.
Roviden az Amerikába való távozás elott, úgy emlékszem hogy Magdival találkoztam a Vorosmaty teri cukrászdában. Mindig egy sort kért és mondta ugyanazt a mondatot, mit már tobbszor is mondott "Iszunk egy sort, jó?". Én is mindig ketto tortát kértem, egy fehér (vaniliás) és egy sotét barna (csokoládé). A fehér tortán volt egy sárga, citrom izu cukor réteg, a sotét barna tortán pedig volt egy hó fehér krém réteg a dió illattal. Csendesen fogyasztottunk, élvezve a régi surített légkort, egy jovore szóló érzéssel hogy ez a nem változott régi csendes hangulat a változásra készult. Elkoszontunk egymástól, mintha találkozni fogunk néhány nap után, bár tudtuk hogy nagyon hosszú távolét várt, egyikunk a saját utját fogja menni, és nagyon nehéz lesz visza találni egy metszo pontot, hogy viszaláthassuk egymást
Cũng may, mười lăm năm sau, chúng tôi đã gặp lại nhau. Tôi đến Budapest từ Viên, chỉ có đúng một ngày. Chúng tôi hẹn gặp, tại bến metro ga Keleti. Chúng tôi thấy nhau, mỉm cười, và tiến lại gần nhau, không vội vã, không quá đon đả, như một đôi bạn vẫn thường gặp nhau hàng tuần, từ hàng chục năm. Sau khi cùng đi bộ lang thang trên đường Budapest hàng tiếng đồng hồ, chúng tôi chợt thấy mình đang đi trên quảng trường Vorosmarty. Không ai bảo ai, chúng tôi đi về phía quán bánh ngọt. Quán bánh ngọt được trang hoàng lộng lẫy hơn mang một tên mới lạ lẫm, nhưng vẫn còn phảng phất chút phong vị ngày xưa. Magdi lại gọi một chai bia, tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt. Câu chuyện lặp lại y nguyên như cũ, đến mức có lúc tôi tưởng mấy chục năm vừa qua biến mất, nàng mới gọi bia và tôi mới gọi bánh ngọt ở lần đầu. Bia rót ra cốc, nàng cười và nâng ly "Szia" (Chào anh). Tôi không còn thói quen chào hỏi khi uống, nhưng còn nhớ người Hung uống bia không bao giờ cụng ly, nên chỉ cười và uống cạn cốc bia lạnh. Chúng tôi nhẩn nha nhấm nháp xong hai suất bánh ngọt cùng hai ly cà phê rồi đứng dậy. Có cảm giác chúng tôi đã ngồi đó suốt mấy chục năm vừa qua. Khi đứng dậy, xung quanh đều đã có chút đổi thay.
Szerencsésen, tizenot év után, találkoztunk még egyszer. Bécsbol jottem Budapestre, és csak egy szabad napom volt. Keleti pályaudvari metró volt a találkozásunk a helye. Láttuk egymást és mosolyogva kozelkedtunk egymáshoz, nem túl sietve, nem túl lelkesen, mintha mindig találkoztunk volna minden heten, évek óta. Néhány órás sétáltunk a budapesti útcákon és hirtelenul felfedeztuk hogy Vorosmarty téren voltunk. Szótlanul sétáltunk a cukrászda felé. A régi cukrászda jobban nézett ki, de egy új idegen nevet viselt, a régi hangulat láthatatlanul lebegett a levegoben. Magdi kért egy sort, én ketto tortát ketto presszó kávéval. A torténet úgy ismétlodott, mintha a távoléti évek eltuntek volna Magdi sort és én tortát kértunk csak eloszor. A sort pohárba ontve, mosolygott, emelt poharat és mondta "Szia". Már sokáig elfelejtettem az ivás elotti koszontést, de mindig tudtam hogy egy magyarral nem illik kocintgatni a sorozéskor. Igy mosolyogtam és fenekig urítettem a huvos poharomat. Lassan befejeztunk a tortákkal és felálltunk. Olyan érzésem volt hogy ott ultunk évek óta és felálláskor a kornyezetunk már egy kicsit változott.
Nắng bên ngoài quảng trường vẫn rực rỡ như năm nào. Đàn chim bồ câu vẫn đậu kín khắp trên quảng trường. Không biết có còn cặp chim câu nào của ngày xưa cũ. Gió từ Duna ùa về lồng lộng như vẫn gió năm xưa.
A napsutés ragyogott kint mint régen. A tér még mindig tele volt a galambokkal. Nem tudtam, hogy kozuluk volt-e olyan galamb pár, amelyik is volt a régi napokban. Dunáról fújtott a szél uvoltve mint a régi év szele.
Zúzaporkolt - Mề nhựa mận
Tôi muốn nói về các món ăn nổi tiếng khác của Hung trước khi nói về món zúzaporkolt. Món này không phải là món phổ biến. Về danh tiếng nó cũng phải xếp sau những món như toltott káposzta, paprikás csirke, fozelék, toltott paprika,... là những món quốc hồn quốc túy của Hungari.
Tôi nhắc đến món này là vì kỷ niệm của tôi với bạn cùng lớp là Bán Gábor. Anh này có lẽ là bạn thân nhất của tôi thời học đại học. Mỗi lần về thăm nhà anh ta cũng mang lên cho tôi bao nhiêu món ngon như đùi gà bọc bột rán, kolbász, salámi và các loại dưa tại nhà ngon tuyệt: dưa chuột muối, dưa thập cẩm loại csalamádé, ớt anh đào ngâm, ớt vàng muối chua, dưa bắp cải... Nhưng đáng nhớ nhất là vào những mùa học thi, đêm đói bụng, Gábor đưa tôi vào một cái quán rất cổ trong phố. Quán này nằm dưới tầng hầm, đèn tù mù, cửa sắt đen, bàn ghế gỗ nặng nề, cũ kỹ, trông như hắc điếm của Ténardier trong Les Miserables (Những người khốn khổ). Chúng tôi lần nào cũng chọn mỗi một món là zúzaporkolt, ở đó nấu ngon tuyệt vời. Sau này tôi không thể kiếm chỗ nào có món zúzaporkolt nấu ngon được như vậy ở Budapest hay bất cứ chỗ nào khác. Với 16Ft, rất vừa vặn với túi tiền eo hẹp của sinh viên, chúng tôi được một đĩa ê hề, cộng với khoảng 3-5 lát bánh mì là no kềnh. Chúng tôi ra về, phởn chí, đi dọc theo các đường phố cổ kính phủ đầy tuyết, thấy ấm áp và tươi vui lạ lùng. Đâu đó, một vài ông say rượu đang hứng chí như chúng tôi rống lên hát. Chúng tôi đi ngang qua nhau, nháy mắt, dơ một ngón tay cái lên chào nhau, đồng cảm.
Zúzaporkolt, thường nấu bằng mề (zúza) gà hoặc mề ngỗng, vì đây là các vật liệu rẻ tiền, nên một đĩa rất nhiều ăn thoải mái. Một gói mề chừng nửa cân, giá chỉ khoảng 5-7Ft thời đó, nhưng chúng tôi thường mua chân, cổ, cánh và lưng gà với giá 9-12Ft, vì nấu xúp ngọt nước, và nhiều người ăn được hơn. Nhiều người dịch món porkolt của Hung là "kho". Tôi có thể tạm đồng ý nếu liên tưởng đến món bò kho, có cà rốt, khoai tây và rau mùi ăn với bánh mì ở Sài gòn. Nhưng quả thực các món porkolt gọi là "kho" là một sự hạ nhục và làm sai lạc món ăn thần thánh này. Nói như thế không có nghĩa là tôi hạ thấp giá trị của món kho truyền thống của cha ông ta. Tuy nhiên, món kho là món ăn mặn để đưa cơm, hoặc đi kèm với các món luộc, rau dưa khác. Món kho Việt Nam khó mà ăn một mình và nhấm nháp được được như porkolt. Porkolt nấu sền sệt, nước xốt rất đặc, thẫm màu, với rất nhiều gia vị, tương tự như món nhựa mận ở ta, hoặc giống món nấu tiết mà mẹ tôi thường hay nấu. Do đó tôi dịch tên món này là "mề nhựa mận".
Zuzaporkolt có thể ăn với cơm, khoai tây nghiền. Nhưng do nước xốt đặc, sẫm màu, nhiều gia vị nên zúzaporkolt tôi thích ăn cùng với galuska, một thứ mì làm bằng tay từ bột và trứng gà, dẻo quánh, rất quấn quít với các loại nước xốt. Do đây là món ăn "nghèo", nên tôi hoàn toàn không có khái niệm về đồ uống đi kèm dù là bia hay rượu vang. Tôi chỉ nhớ đến nước lọc, sau khi ăn hết nữa dĩa, uống nước lọc thấy ngon lạ thường.
Trước khi rời Hungari để đi Mỹ, tôi mới đọc được đâu đó về lịch sử của món ăn này. Hình như đầu thế kỷ trước có vợ một nhà văn, tôi nhớ là Móricz Zsigmond, nhưng cũng có thể là Jókai Mór hoặc Karinthy Frigyes, mở một quán ăn cho các nhà văn bạn của chồng đến tụ tập. Để quán ăn vừa túi tiền bà đã dùng mề, một nguyên liệu rẻ tiền làm ra món zúzaporkolt. Quán đó nằm sát đường tàu điện số 6 từ cầu Margit về quảng trường Moszkva. Khi vừa qua khỏi đầu cầu bên Buda của cầu Margit, khi tàu vừa đổi hướng sang trái, chưa đến rạp phim Május 1, có một lối đi lên núi Óbuda, đường rất dốc, rất cổ kính. Chính trên triền dốc đó là quán "nhà văn" nổi tiếng với món zúzaporkolt. Đêm cuối cùng của chúng tôi ở Budapest, tôi đã cất công đưa cả nhà đến đấy để thưởng thức món này, nhưng tiếc thay tối hôm đó quán lại đóng cửa. Không biết câu chuyện này có đáng tin hay chỉ là một giai thoại, vì tìm trên Google không ra. Hơn nữa, với câu chuyện này thì khó mà giải thích tại sao zúzaporkolt Debrecen lại ngon lạ lùng hơn hẳn các nơi khác.
Mời các bạn thưởng thức món zúzaporkolt. Nếu có dịp đến Hungari, bạn nhớ gọi món này và cố gắng đừng đọc nhầm thành Zsuzsaporkolt.
Công thức
Tôi nhắc đến món này là vì kỷ niệm của tôi với bạn cùng lớp là Bán Gábor. Anh này có lẽ là bạn thân nhất của tôi thời học đại học. Mỗi lần về thăm nhà anh ta cũng mang lên cho tôi bao nhiêu món ngon như đùi gà bọc bột rán, kolbász, salámi và các loại dưa tại nhà ngon tuyệt: dưa chuột muối, dưa thập cẩm loại csalamádé, ớt anh đào ngâm, ớt vàng muối chua, dưa bắp cải... Nhưng đáng nhớ nhất là vào những mùa học thi, đêm đói bụng, Gábor đưa tôi vào một cái quán rất cổ trong phố. Quán này nằm dưới tầng hầm, đèn tù mù, cửa sắt đen, bàn ghế gỗ nặng nề, cũ kỹ, trông như hắc điếm của Ténardier trong Les Miserables (Những người khốn khổ). Chúng tôi lần nào cũng chọn mỗi một món là zúzaporkolt, ở đó nấu ngon tuyệt vời. Sau này tôi không thể kiếm chỗ nào có món zúzaporkolt nấu ngon được như vậy ở Budapest hay bất cứ chỗ nào khác. Với 16Ft, rất vừa vặn với túi tiền eo hẹp của sinh viên, chúng tôi được một đĩa ê hề, cộng với khoảng 3-5 lát bánh mì là no kềnh. Chúng tôi ra về, phởn chí, đi dọc theo các đường phố cổ kính phủ đầy tuyết, thấy ấm áp và tươi vui lạ lùng. Đâu đó, một vài ông say rượu đang hứng chí như chúng tôi rống lên hát. Chúng tôi đi ngang qua nhau, nháy mắt, dơ một ngón tay cái lên chào nhau, đồng cảm.
Zúzaporkolt, thường nấu bằng mề (zúza) gà hoặc mề ngỗng, vì đây là các vật liệu rẻ tiền, nên một đĩa rất nhiều ăn thoải mái. Một gói mề chừng nửa cân, giá chỉ khoảng 5-7Ft thời đó, nhưng chúng tôi thường mua chân, cổ, cánh và lưng gà với giá 9-12Ft, vì nấu xúp ngọt nước, và nhiều người ăn được hơn. Nhiều người dịch món porkolt của Hung là "kho". Tôi có thể tạm đồng ý nếu liên tưởng đến món bò kho, có cà rốt, khoai tây và rau mùi ăn với bánh mì ở Sài gòn. Nhưng quả thực các món porkolt gọi là "kho" là một sự hạ nhục và làm sai lạc món ăn thần thánh này. Nói như thế không có nghĩa là tôi hạ thấp giá trị của món kho truyền thống của cha ông ta. Tuy nhiên, món kho là món ăn mặn để đưa cơm, hoặc đi kèm với các món luộc, rau dưa khác. Món kho Việt Nam khó mà ăn một mình và nhấm nháp được được như porkolt. Porkolt nấu sền sệt, nước xốt rất đặc, thẫm màu, với rất nhiều gia vị, tương tự như món nhựa mận ở ta, hoặc giống món nấu tiết mà mẹ tôi thường hay nấu. Do đó tôi dịch tên món này là "mề nhựa mận".
Zuzaporkolt có thể ăn với cơm, khoai tây nghiền. Nhưng do nước xốt đặc, sẫm màu, nhiều gia vị nên zúzaporkolt tôi thích ăn cùng với galuska, một thứ mì làm bằng tay từ bột và trứng gà, dẻo quánh, rất quấn quít với các loại nước xốt. Do đây là món ăn "nghèo", nên tôi hoàn toàn không có khái niệm về đồ uống đi kèm dù là bia hay rượu vang. Tôi chỉ nhớ đến nước lọc, sau khi ăn hết nữa dĩa, uống nước lọc thấy ngon lạ thường.
Trước khi rời Hungari để đi Mỹ, tôi mới đọc được đâu đó về lịch sử của món ăn này. Hình như đầu thế kỷ trước có vợ một nhà văn, tôi nhớ là Móricz Zsigmond, nhưng cũng có thể là Jókai Mór hoặc Karinthy Frigyes, mở một quán ăn cho các nhà văn bạn của chồng đến tụ tập. Để quán ăn vừa túi tiền bà đã dùng mề, một nguyên liệu rẻ tiền làm ra món zúzaporkolt. Quán đó nằm sát đường tàu điện số 6 từ cầu Margit về quảng trường Moszkva. Khi vừa qua khỏi đầu cầu bên Buda của cầu Margit, khi tàu vừa đổi hướng sang trái, chưa đến rạp phim Május 1, có một lối đi lên núi Óbuda, đường rất dốc, rất cổ kính. Chính trên triền dốc đó là quán "nhà văn" nổi tiếng với món zúzaporkolt. Đêm cuối cùng của chúng tôi ở Budapest, tôi đã cất công đưa cả nhà đến đấy để thưởng thức món này, nhưng tiếc thay tối hôm đó quán lại đóng cửa. Không biết câu chuyện này có đáng tin hay chỉ là một giai thoại, vì tìm trên Google không ra. Hơn nữa, với câu chuyện này thì khó mà giải thích tại sao zúzaporkolt Debrecen lại ngon lạ lùng hơn hẳn các nơi khác.
Mời các bạn thưởng thức món zúzaporkolt. Nếu có dịp đến Hungari, bạn nhớ gọi món này và cố gắng đừng đọc nhầm thành Zsuzsaporkolt.
Công thức
Hozzávalók:
- 1 kg csirke- vagy libazúza
- 2 vöröshagyma
- 5 evőkanál
olaj - fél mokkáskanál őrölt köménymag
- 3-4 nagyobb gerezd fokhagyma
- 1 csapott evőkanál pirospaprika
- só
- 1-1 paprika és paradicsom vagy 15 dkg kész lecsó
- 1 mokkáskanál cseresznyepaprika
Elkészítés:
A zúzát és a hagymát megtisztítjuk. Az előbbit nagyobb kockákra, az utóbbit finomra vágjuk, majd az olajon együtt megpirítjuk. A köménnyel és a zúzott fokhagyma felével fűszerezzük. A pirospaprikával meghintjük, egy kevés vizet öntünk alá, megsózzuk, és az apróra vágott paradicsomot, paprikát, illetve a lecsót is belekeverjük. Lefedve, kis lángon puhára pároljuk, végül a maradék fokhagymát is hozzáadjuk, a cseresznyepaprikával tüzesítjük. Tarhonya vagy sós vízben főtt burgonya illik hozzá.
Các bạn xem thêm bài của Đoàn Hồng Nghĩa ở đây
Các bạn xem thêm bài của Đoàn Hồng Nghĩa ở đây
A távollét
Đây là 1 trong số những bài hát đầu tiên của Hungary mà tôi biết cùng với Fehér házikó, Azok a szép napok, Egy szál harangvirág... (NEI - slágerek). Szécsi Pál cover bài này từ 1 bài hát Ý (La
Lontananza), lời
Hung của Vándor Kálmán. Lúc đầu tôi chỉ chú ý đến bài này vì lời thoại mở đầu với câu nói mà tôi rất thích “A
távollét olyan mint a szél. A kis tüzeket kioltja, a nagyokat
fellobbantja.” Về sau, mỗi lần nghe bài này tôi lại thấy day dứt vì câu nói đó...
Nhạc & lời: Modugno – Vándor Kálmán
Nhạc đệm: Harmónia-vokál, Stúdió 11.
Szeretettel barátaimnak
Nghe bài hát ở đây
Utolsó beszélgetésünket egy száguldó mentőautó szirénája szakította félbe.
Megijedtem, mint mindig ha valahol a sziréna felhangzik.
Pedig akkor még nem tudtam, hogy számomra és számodra nagyobb veszély nem jöhet, mint hogy elhagyjuk egymást.
Azóta sem feledtem el azt a délutánt.
Egymást átölelve álltunk az utca forgatagában, mintha soha többé nem akarnánk elválni egymástól.
De én egy erőltetett mosollyal kibontakoztam a karjaidból,lágyan megcsókoltalak és fölényes könnyed hangon azt mondtam:
"Ne félj az elválástól. A távollét olyan mint a szél. A kis tüzeket kioltja, a nagyokat fellobbantja. A nagyokat fellobbantja..."
Viharként tombol már a messzi távol
Felgyúlt a régi tűz, s a szívem lángol
Eszembe jutnak mind a meghitt órák
Egy ablak és a te kis szobád
Beláttam én már rég a tévedésem
Azt hittem, szalmaláng és ellobban szépen
Szívembe markol száz és száz kis emlék
Megöl a messzeség
Viharként tombol már a messzi távol
Felgyúlt a régi tűz, s a szívem lángol
Eszembe jutnak mind a meghitt órák
És a te kis szobád
Elmúlt egy hosszú év a búcsú óta
Azóta várok én egy hívó szóra
Félek, hogy régesrég már elfeledtél
Úgy kínoz, kínoz a távollét
Bocsáss meg egyszer még és kezdjük újra
Szerelmem szívedet majd lángra gyújtja
Megadnék mindent én egy ölelésért
Egyetlen csókodért
Bocsáss meg egyszer még és kezdjük újra
Szerelmem szívedet majd lángra gyújtja...
Nhạc & lời: Modugno – Vándor Kálmán
Nhạc đệm: Harmónia-vokál, Stúdió 11.
Szeretettel barátaimnak
Dalszöveg
Emlékszel?Utolsó beszélgetésünket egy száguldó mentőautó szirénája szakította félbe.
Megijedtem, mint mindig ha valahol a sziréna felhangzik.
Pedig akkor még nem tudtam, hogy számomra és számodra nagyobb veszély nem jöhet, mint hogy elhagyjuk egymást.
Azóta sem feledtem el azt a délutánt.
Egymást átölelve álltunk az utca forgatagában, mintha soha többé nem akarnánk elválni egymástól.
De én egy erőltetett mosollyal kibontakoztam a karjaidból,lágyan megcsókoltalak és fölényes könnyed hangon azt mondtam:
"Ne félj az elválástól. A távollét olyan mint a szél. A kis tüzeket kioltja, a nagyokat fellobbantja. A nagyokat fellobbantja..."
Viharként tombol már a messzi távol
Felgyúlt a régi tűz, s a szívem lángol
Eszembe jutnak mind a meghitt órák
Egy ablak és a te kis szobád
Beláttam én már rég a tévedésem
Azt hittem, szalmaláng és ellobban szépen
Szívembe markol száz és száz kis emlék
Megöl a messzeség
Viharként tombol már a messzi távol
Felgyúlt a régi tűz, s a szívem lángol
Eszembe jutnak mind a meghitt órák
És a te kis szobád
Elmúlt egy hosszú év a búcsú óta
Azóta várok én egy hívó szóra
Félek, hogy régesrég már elfeledtél
Úgy kínoz, kínoz a távollét
Bocsáss meg egyszer még és kezdjük újra
Szerelmem szívedet majd lángra gyújtja
Megadnék mindent én egy ölelésért
Egyetlen csókodért
Bocsáss meg egyszer még és kezdjük újra
Szerelmem szívedet majd lángra gyújtja...
Wednesday, May 21, 2014
Mindennap egy Magyar idézet: Hồi sinh
Đôi khi bạn cũng phải chết trong lòng một ít để có thể Hồi Sinh và lại Trỗi Dậy như một phiên bản của chính mình, Mạnh mẽ hơn và Sáng suốt hơn
Việc dịch chuẩn xác từng câu, từng chữ hoặc một tác phẩm đòi hỏi trước hết 1 khả năng nắm vững cả 2 ngôn ngữ với 1 vốn từ phong phú, ngoài ra còn là cảm nhận, kiến thức tổng quát, vốn sống và sự am hiểu về nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa, lịch sử, địa lý & con người, về bối cảnh/context và về tác giả của từng thể loại/tác phẩm. Tóm lại, bạn phải là 1 kho tàng phong phú về nhiều mặt để có thể dịch được đúng nghĩa từ nguyên bản.
Rất tiếc, khả năng tiếng Hung của mình, như đã đề cập về việc mình thật thật dại khờ, thật ngốc nghếch khi chọn quyết định về nước mà không chọn đổi ngành học (ví dụ như học về ngôn ngữ & văn học Hungary @ ELTE, hoặc học chuyên về Thiết kế/design như cô giáo chủ nhiệm/NEI đề nghị với mình sau khi kết thúc năm học đầu tiên) nên bây giờ mình không đủ tư cách để có được comments về chữ nghĩa cho mục "Mindennap egy Magyar idézet" của Ngô Việt (NV). Dù vậy, bằng 1 cách khác, mình vẫn muốn đóng góp cùng NV với những "idézet" tương tự nhưng không phải là tiếng Hung.
Hôm nay là 1 "idézet" mà mình rất thích và muốn chia sẻ cùng các bạn (từ wall/FB của con gái), NV dịch giúp mình từ tiếng Anh qua 2 thứ tiếng Hung - Việt nhé.
Việc dịch chuẩn xác từng câu, từng chữ hoặc một tác phẩm đòi hỏi trước hết 1 khả năng nắm vững cả 2 ngôn ngữ với 1 vốn từ phong phú, ngoài ra còn là cảm nhận, kiến thức tổng quát, vốn sống và sự am hiểu về nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa, lịch sử, địa lý & con người, về bối cảnh/context và về tác giả của từng thể loại/tác phẩm. Tóm lại, bạn phải là 1 kho tàng phong phú về nhiều mặt để có thể dịch được đúng nghĩa từ nguyên bản.
Rất tiếc, khả năng tiếng Hung của mình, như đã đề cập về việc mình thật thật dại khờ, thật ngốc nghếch khi chọn quyết định về nước mà không chọn đổi ngành học (ví dụ như học về ngôn ngữ & văn học Hungary @ ELTE, hoặc học chuyên về Thiết kế/design như cô giáo chủ nhiệm/NEI đề nghị với mình sau khi kết thúc năm học đầu tiên) nên bây giờ mình không đủ tư cách để có được comments về chữ nghĩa cho mục "Mindennap egy Magyar idézet" của Ngô Việt (NV). Dù vậy, bằng 1 cách khác, mình vẫn muốn đóng góp cùng NV với những "idézet" tương tự nhưng không phải là tiếng Hung.
Hôm nay là 1 "idézet" mà mình rất thích và muốn chia sẻ cùng các bạn (từ wall/FB của con gái), NV dịch giúp mình từ tiếng Anh qua 2 thứ tiếng Hung - Việt nhé.
Budapest qua ảnh chụp của con gái
Đây là những bức ảnh tôi thích nhất trong số ảnh mà con gái tôi đã chụp khi cháu ghé thăm Budapest trong kỳ nghỉ tháng 10, 2013 (click vào hình để xem rõ hơn).
Pest

Sông Duna và những cây cầu nổi tiếng của Budapest

Budai Vár (Halászbástya): Bản giao hưởng không gian của những kiến trúc cũ và mới
Vár, nơi ba và bạn bè đã từng 1 thời vui chơi và yêu thích
Eötvös József
"Trái tim con người ta không có gì hạnh phúc hơn khi nhìn thấy hạnh phúc mà chính chúng ta là người tạo ra."
Gulyás leves - Xúp Gulyás
Gulyás nghĩa là người mục đồng (người chăn súc vật). Tuy nhiên, xúp gulyás nổi tiếng thế giới với cái tên Goulash đến mức nếu tra Google bạn sẽ thấy Gulyás được dịch là Goulash, là món xúp hoặc món thịt bò kho Hungari.
Điều đó có nghĩa là Gulyás có hai cách nấu: Xúp hoặc nấu sền sệt như kiểu Cari hoặc thịt bò kho ở miền Nam, ăn với bánh mỳ. Các quán ăn của Đức cũng sẵn có món Gulyás nấu theo phong cách kho, ăn với bánh mì rất ngon, và người ta cũng cho đó là món của Đức.
Tôi thích cả hai món. Nhưng kỷ niệm gắn bó với món xúp hơn. Có một bài dân ca Hung tôi còn nhớ được vài câu như sau
" A gulyások a kanászok, szép bocskorban járnak
Azok élik világukat, akik ketten hálnak
Lám én szegény gulyás legény, csak egyedul hálok
Akármerre kaparászok csak falat találok"
Mời các bạn thưởng thức lại hương vị Hungari và nhạc dân ca trong tiếng vĩ cầm của các nghệ sĩ cigány trứ danh. Bạn có thể mở thêm một chai rượu tiết bò của thành Eger (Egri bikavér).
CÁCH NẤU
(Trích http://www.nosalty.hu/recept/tradicionalis-gulyasleves)
Món ăn chính gốc Hungari mà chúng ta có thể tự hào. Nhiều người nấu theo nhiều cách, và cũng nhiều loại. Szegedi, Alföldi, Csángó vv.... Sau rất nhiều thí nghiệm tôi đã đi đến thực đơn sau...Tôi hy vọng bạn sẽ thích
Điều đó có nghĩa là Gulyás có hai cách nấu: Xúp hoặc nấu sền sệt như kiểu Cari hoặc thịt bò kho ở miền Nam, ăn với bánh mỳ. Các quán ăn của Đức cũng sẵn có món Gulyás nấu theo phong cách kho, ăn với bánh mì rất ngon, và người ta cũng cho đó là món của Đức.
Tôi thích cả hai món. Nhưng kỷ niệm gắn bó với món xúp hơn. Có một bài dân ca Hung tôi còn nhớ được vài câu như sau
" A gulyások a kanászok, szép bocskorban járnak
Azok élik világukat, akik ketten hálnak
Lám én szegény gulyás legény, csak egyedul hálok
Akármerre kaparászok csak falat találok"
Mời các bạn thưởng thức lại hương vị Hungari và nhạc dân ca trong tiếng vĩ cầm của các nghệ sĩ cigány trứ danh. Bạn có thể mở thêm một chai rượu tiết bò của thành Eger (Egri bikavér).
CÁCH NẤU
(Trích http://www.nosalty.hu/recept/tradicionalis-gulyasleves)
Món ăn chính gốc Hungari mà chúng ta có thể tự hào. Nhiều người nấu theo nhiều cách, và cũng nhiều loại. Szegedi, Alföldi, Csángó vv.... Sau rất nhiều thí nghiệm tôi đã đi đến thực đơn sau...Tôi hy vọng bạn sẽ thích
Az igazi Hungarikum, amire igazán büszkék lehetünk. Nagyon sokan máshogy készítik, és sok fajtája is van. Szegedi, Alföldi, Csángó stb...stb. Rengeteg kísérlet után jutottam el ehhez a recepthez....Remélem, tetszeni fog!
Nguyên liệu để nấu 6 suất ăn
- 60 dkg marhalábszár (thịt chân bò)
- 30 dkg vöröshagyma (hành đỏ)
- 2 nagy db sárgarépa (cà rốt)
- 1 nagy db fehérrépa (củ trắng - Việt Nam không có)
- 1 kis db zeller (cần)
- 40 dkg burgonya (tisztított) (khoai tây)
- 1 ek fűszerpaprika (csapott, édesnemes) (ớt gia vị, giã, loại ngọt)
- 0.5 ek csípős fűszerpaprika (ớt gia vị cay)
- 1 ek só (csapott) (muối)
- 1 teáskanál őrölt fűszerkömény (gia vị Hungari tôi không biết dịch là gì, các bạn bổ sung)
- 2 db babérlevél (lá húng Tây)
- 1 teáskanál fekete bors (frissen őrölt) (tiêu đen xay mới)
- 1 kis db paradicsom (cà chua)
- 1 db tv paprika (ớt ngọt)
- 3 gerezd fokhagyma (magyar) (tỏi)
- 2 ek zsír (mangalica) (mỡ)
- 0.5 csokor petrezselyem (thơm Tây)
- 5 db zellerlevél (lá cần tây)
A csipetkéhez (để làm mì)
elkészítés (cách nấu)
- A hagymákat kis kockára vágjuk. A húst leöblítjük, szárazra töröljük, majd 2 cm-es kockára daraboljuk. Cắt hành thành các khối vuông nhỏ. Rửa thịt và lau khô, sau đó thái miếng vuông cỡ 2cm
- A zsírt felhevítjük, megfonnyasztjuk benne a hagymát, majd félrehúzzuk, a fűszerpaprikákkal összekeverjük, felöntjük 1,5 dl vízzel, majd a vizet elfőzve, zsírjára pirítjuk. Đun nóng mỡ, phi hành rồi đổ ra trộn với ớt gia vị, đổ 1.5l nước vào, đun nổi váng mỡ
- Ekkor hozzáadjuk a marhahúst, és kevergetve fehéredésig pirítjuk. Sózzuk, borsozzuk, köménnyel megszórjuk, hozzáadjuk az áttört fokhagymát, a kis kockára vágott paradicsomot, a kicsumázott egész paprikát, babérlevelet. Đổ thịt vào, trộn đều đun cho đến khi trắng thịt, rắc muối, tiêu và thảo quả (komény), thêm tỏi đập dập, cà chua xắt miếng vuông, bỏ thêm ớt ngọt và húng tây xắt nhỏ.
- Fedővel lefedve saját levében 90 percet főzzük.Elkészítjük a csipetkét. Đậy nắp vung, đun 90 phút. Chuẩn bị mỳ.
- Ezután kerülnek bele a zöldségek: a karikára vágott sárga- és fehérrépa, a kockára vágott zeller, burgonya, az aprított petrezselyem és zellerzöld, felöntjük 2 l -2.5 l vízzel. Đổ tiếp rau quả vào: cà rốt và củ trắng xắt khoanh, cần, khoai tây cắt miếng vuông, phần xanh của cần và rau thơm thái nhỏ và đổ thêm 2-2.5l nước.
- Letakarva további 50 percet főzzük. Beletesszük a csipetkét, és 10 perc alatt készre főzzük. Đậy lại và nấu thêm 50 phút. Bỏ mì vào và nấu thêm 10 phút là xong.

Tuesday, May 20, 2014
Melódia - koktél: Szerelem
Cho đến bây giờ thì mình đã thấy rằng: Igazi szrelem hoặc szerelem là rung động ko phân biệt tuổi tác, dân tộc, đẳng cấp... và chỉ đơn giản là yêu và thích nhau thôi. Tất cả là ham muốn để cùng "thăng hoa" như Ái Việt nói hay như ca sĩ Bob Marley (Ca sĩ rất nổi tiếng từ năm 1974 với bài "No Woman, No Cry") đã hát trong bài "One Love":
"One love, One heart
Let's get together and feel all right"
Szeretettel barátaimnak
Nghe bài hát ở đây
"One love, One heart
Let's get together and feel all right"
Szeretettel barátaimnak
Nghe bài hát ở đây
Lyrics:
One love, One heart
Let's get together and feel all right
Hear the children crying (One Love)
Hear the children crying (One Heart)
Sayin' give thanks and praise to the Lord and I will feel
all right
Sayin' let's get together and feel all right
Let them all pass all their dirty remarks (One Love)
There is one question I'd really love to ask (One Heart)
Is there a place for the hopeless sinner
Who has hurt all mankind just to save his own?
Believe me
One Love, One Heart
Let's get together and feel all right
As it was in the beginning (One Love)
So shall it be in the end (One Heart)
Give thanks and praise to the Lord and I will feel all right
One more thing
Let's get together to fight this Holy Armageddon (One Love)
So when the Man comes there will be no no doom (One Song)
Have pity on those whose chances grove thinner
There ain't no hiding place from the Father of Creation
Sayin' One Love, One Heart
Let's get together and feel all right
I'm pleading to mankind (One Love)
Oh Lord (One Heart)
Give thanks and praise to the Lord and I will feel all right
Let's get together and feel all right
Ernest Hemingway Quên đi điều tồi tệ
"Tôi không biết số phận của bạn ẩn chứa điều gì, mang lại nụ cười hay những giọt nước mắt. Vậy hãy học cách quên đi những điều tồi tệ và gìn giữ những giây phút hạnh phúc."
Subscribe to:
Posts (Atom)





























