Monday, September 7, 2020

Xài điện thoại nhớ lưu các tính năng và các điều cần biết này

NHỮNG CHI TIẾT RẤT NHỎ NHƯNG BẠN NÊN BIẾT 

Tôi đã dùng ĐTDĐ hơn 20 năm nay từ khi là chiếc đt hòn gạch cùi bắp thô và to, cho đến giờ là chiếc đt thông minh đời mới nhất nhưng đúng quả thật cũng chỉ biết sử dụng được một vài tính năng của nó. Nay đọc được thông tin này mới thấy hiểu biết về chiếc đt mình đang dùng là quá it ỏi. Tôi nghĩ có lẽ nhiều bạn cũng như tôi. Chia sẻ này mong cung cấp thêm cho bạn vài thông tin bổ ích nào đó, mọi người hãy đừng bỏ qua nhé. 

Có thể bạn chưa biết hết về chiếc điện thoại di động của mình : Mở cửa xe khi bị kẹt chìa khoá ở trong xe , mất chìa khoá xe vẫn lái xe đươc , hết pin vẫn sử dụng điện thoại được..v.v...

Chiếc điện thoại di động (ĐTDĐ) ngày nay đã trở thành một điều cần thiết cho mỗi người chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày. Thế nhưng, khi sở hữu một chiếc ĐTDĐ người ta chỉ biết 2 chức năng chính là nhận cuộc gọi hoặc gọi đi, cùng lắm là “lướt” Web, chơi game, chat với bạn bè…

Theo ước tính, toàn thế giới hiện có đến khoảng 4,5 tỷ người dùng ĐTDĐ nhưng số người hiểu cho hết những chức năng của chiếc điện thoại có lẽ chỉ khoảng 10% số người sử dụng! Một số chức năng đó sẽ giúp chúng ta “thoát hiểm” một cách ngoạn mục nếu ta biết được những “tuyệt chiêu” của chiếc ĐTDĐ.

Trường hợp phổ biến nhất là lúc cần gọi hay đang gọi ĐTDĐ lại báo… hết pin! Đừng hốt hoảng khi bạn gặp trường hợp này ở những nơi không thể sạc pin. ĐTDĐ nào cũng được thiết kế với lượng pin dự trữ, tương đương với 50% dung lượng pin khi được sạc đầy. Vấn đề là biết được cách nào để khởi động nguồn pin dự phòng đó.

Đơn giản thôi, chỉ cần bấm: *3370# và bạn sẽ thấy pin của bạn lại đầy 50% lằn vạch báo dung lượng… Lúc đó, bạn có thể tiếp tục các cuộc gọi ít ra trong vài tiếng đồng hồ nữa! Xin nhắc lại, chỉ cần 6 động tác trên bàn phím, khởi đầu là dấu hoa thị (*), tiếp đến là 4 chữ số (3370) và kết thúc với dấu thăng (#): điện thoại của bạn sẽ báo đang có 50% dung lượng!

50% là phần năng lượng dự trữ trong máy điện thoại gọi là "Third Hidden Battery Power" để điều hành bộ phận báo hết pin của máy và lưu trữ các dữ liệu như ngày giờ, danh sách phone book... Khi bạn sạc lại pin, lượng pin dự trữ sẽ đầy lại trước khi lượng pin của máy được sạc đầy.

Ở Mỹ số Điện Thoại cấp cứu là 911 nhưng bạn hãy nhớ số điện thoại cấp cứu trên toàn thế giới là 112, số này được tất cả các ĐTDĐ công nhận. Nếu chẳng may bạn đi lạc vào rừng, trượt chân trên núi tuyết, bị lạnh cóng ở Bắc Cực hay bất cứ một nơi nào đó, nếu không có ai cứu thì bạn sẽ chết. Hãy bình tĩnh bấm số 112 trên điện thoại di động của bạn.

Khi bạn bấm số 112, ĐTDĐ của bạn sẽ tự động tìm bất cứ mạng khẩn cấp nào hoặc những số cấp cứu nào gần nhất và tự động nối mạng cho bạn với đường dây đó. Điều thú vị là con số cấp cứu 112 này có thể thao tác ngay cả khi bàn phím đang bị khóa mà bạn không biết mật mã để mở ra. Bạn cứ thử đi, nhưng ngay khi máy thông thì phải ngắt cuộc gọi kẻo lực lượng cấp cứu sẽ tìm đến bạn!

Trường hợp xe hơi của bạn có chìa khóa điện tử (tức là loại chìa khóa bấm để mở cửa hay khóa cửa xe) mà bạn sơ ý bỏ quên chìa khóa trong xe rồi xe tự động khóa cửa lại hoặc bạn làm mất chìa khóa xe. Bạn chớ vội lo.

Nếu bạn có một chìa khóa điện tử phụ đang cất ở nhà thì bạn nên dùng ĐTDĐ của bạn gọi về nhà cho thân nhân của bạn để nhờ người nhà giúp bạn mở cửa xe theo các bước như sau:

- Bước 1: Bạn để điện thoại di động của bạn gần sát cửa xe của bạn.

- Bước 2: Bảo người nhà lấy chìa khóa điện tử của xe để sát vào điện thoại di động của họ và bấm nút mở xe.

- Bước 3: Khi người nhà bấm nút mở cửa xe thì xe của bạn dù đang ở một thành phố nào đi nữa sẽ được mở cửa.

Nếu chìa khóa xe bạn để quên trong xe thì bạn tiếp tục lái bình thường. Nhưng trong trường hợp bạn đã bị mất chìa khóa thì sau khi mở được cửa xe theo cách trên, bạn có thể rút dây điện nối ở phần start cho nổ máy xe và chạy tạm đến chỗ thợ làm chìa khóa để làm chìa khóa phụ!

Mỗi ĐTDĐ đều có “số căn cước” (serial number) hay còn gọi là ID của máy. Bạn cần làm ngay sau khi đọc bài này. Hãy bấm các phím *#06# (xin nhắc lại: hoa thị (*), dấu thăng (#), hai số 06 và kết thúc bằng dấu thăng (#)… lập tức màn hình điện thoại sẽ hiện lên một hàng số gồm 15 con số nối tiếp nhau. Đây là số căn cước của máy. Bạn phải ghi 15 số nầy vào cuốn sổ hay một miếng giấy bỏ riêng trong bóp của bạn để khi cần có thể lấy ra.

Trong trường hợp bạn bị mất máy điện thoại, hãy gọi cho công ty đang cung cấp dịch vụ nối mạng. Ở Việt Nam có các công ty như Mobifone, Vinaphone, Viettel, FPT… Thông báo cho họ biết số căn cước của máy. Công ty sẽ khóa ngay điện thoại của bạn và kẻ nào lấy chiếc điện thoại đó cũng không thể sử dụng được. Nếu khi bạn tìm lại được điện thoại thì nhớ gọi cho công ty cung cấp dịch vụ để mở khóa và bạn tiếp tục sử dụng.

Nếu bạn bị mất điện thoại di động và nghi có kẻ đang sử dụng máy của bạn, bạn chỉ cần mang số Serial Number gồm 15 con số này đến báo cho cảnh sát. Ở Việt Nam thì không biết như thế nào nhưng ở Mỹ và các nước tiên tiến khác thì cảnh sát và ngành An ninh Viễn thông sẽ dùng vệ tinh theo dõi số Serial Number để biết máy của bạn đang ở địa chỉ nào và cảnh sát sẽ đến đó lập biên bản tịch thu máy và người sử dụng máy của bạn sẽ bị mời về văn phòng cảnh sát để lấy lời khai và đưa ra tòa xét xử.

Nhiều trường hợp người đang sử dụng đã mua của một kẻ khác nên cảnh sát đã phanh phui được cả một đường dây tội phạm trộm cắp điện thoại. Nếu bạn đi ra Chợ Trời (Flea Market) để mua lại ĐTDĐ đã qua sử dụng, hãy nhớ bấm phím *#06# để lấy ra hàng 15 con số. Yêu cầu người bán ký nhận có bán cho bạn cái máy điện thoại với hàng số đó để nhỡ có ai đi truy tìm thì bạn không phải là người ăn cắp!

***

Làm thế nào để biết nguồn gốc nơi sản xuất ĐTDĐ của bạn? Hãy đếm từ trái qua phải trên dãy số gồm 15 con số của Serial Number. Tại con số thứ 7 và thứ 8, bạn sẽ biết quốc tịch nơi sản xuất ra chiếc máy điện thoại của bạn đang sử dụng:

- Nếu số hàng 7 và 8 là số 02 hoặc 20 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Trung Quốc, điều này có nghĩa là chất lượng của nó khá tệ, không bảo đảm!

- Nếu hai số đó là số 08 hoặc 80 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Đức (Germany) nên chất lượng bảo đảm rất tốt.

- Nếu hai số này là 01 hoặc 10 thì máy điện thoại của bạn được sản xuất tại Phần Lan (Finland) theo tiêu chuẩn Âu Châu nên rất tốt.

- Nếu hai số kia là 13 thì đáng buồn cho bạn vì máy của bạn được sản xuất tại Azerbaijan với phẩm chất rất tệ ngang với… hàng mã để đốt cúng cô hồn! Nhiều người mua nhầm máy điện thoại có số 13 của Azerbaijan hay số 02 hoặc 20 của Trung Quốc nên khi sử dụng đã bị nổ, cháy khi sạc pin. Để tránh những trường hợp này, nên bấm số Serial Number của máy để biết xuất xứ sản xuất trước khi mua!

- Nếu hai số ở hàng thứ 7 và thứ 8 là hai số 00 tiếp nhau thì chắc chắn máy ĐT Di Động của bạn được sản xuất ngay chính quốc giả phát minh ra nó. Ví dụ: iPhone có số 00 là do Apple của Mỹ sản xuất; hoặc Galaxy có hai số 00 là do chính hãng Samsung của Nam Hàn sản xuất.

***

Trên đây là những lượm lặt nho nhỏ mà nhiều người sử dụng ĐTDĐ hầu như không bao giờ để ý đến. Bây giờ biết rồi nên cũng chưa muộn phải không bạn!!!

             Nguồn : Fb Nguyễn Sinh Hạ

THÂN PHẬN ĐÀN BÀ

Đàn bà đừng quá trông mong hay nghĩ đời mình phải dựa dẫm vào đàn ông mà sống.

Sinh ra cái phận đàn bà, xác định số đông là đã buồn với khổ. Mà đàn bà Á Đông, lại chịu cái vòng siết của trọng nam khinh nữ, để rồi cái khổ nó chồng lên nhau thành núi.

Yêu, đàn bà cũng khổ.

Đàn ông nó yêu mười con đàn bà, chuyện thường. Bởi mấy ông bà già xưa cho rằng cái thói trăng hoa đàn ông nào cũng có, rồi thì tam thê tứ thiếp là thường. Chứ thử đàn bà yêu nhiều, người đời nó gán cho cái chữ lẳng lơ, trắc nết.

Cưới, đàn bà cũng khổ.

Chọn chồng với đàn bà coi như chọn nửa đời còn lại, kiểu rất hên xui. Nhiều đàn ông lúc chưa cưới thì tốt, cưới về tự dưng đổ đốn ra. Mà đàn bà lại đâu thể sống thử trước khi cưới, vì sống thử cũng là lăng loàn trắc nết. Chưa kể, lấy chồng còn là lấy cả giang sơn nhà chồng. Về rồi hầu hạ mẹ chồng, cha chồng, em chồng. Nói thì buồn, chứ có cô ở nhà mẹ ruột không nấu được nồi cơm cho cha mẹ mình ăn, qua nhà chồng thì từ trà tới nước cũng bưng.

Giận, đàn bà cũng khổ.

Sống ở nhà chồng, có giận chồng thì chỉ có nước vô phòng riêng úp mặt vào gối mà khóc không ra tiếng. Chứ méc ai bây giờ, méc mẹ chồng thì con bả bả phải bênh, chứ mắc gì bênh cái thứ người dưng như mình. Gọi cho mẹ ruột thì sợ mẹ xót lòng xót dạ. Muốn xách cái giỏ về nhà mẹ ở cho thỏa cơn cũng không dám, tại cái tiếng “bị nhà chồng trả về” nó ác nghiệt dữ lắm.

Đẻ con, đàn bà cũng khổ.

Đàn ông bốn mươi, năm mươi mà còn mạnh, “giống” còn khỏe giúp đàn bà thụ thai. “Giống” yếu một chút thì đời con mình nó yếu, chứ bản thân đàn ông không bị ảnh hưởng. Còn đàn bà, trên ba mươi mà đẻ con thì xác định là không tốt cho cả con và mẹ.

Đẻ con, coi như cắt một phần máu, thịt, da, xương của mình để tạo ra một sinh linh mới. Trong vụ này thì đàn ông nó góp có mỗi “giống”. Đẻ xong rồi, cơ thể đàn bà yếu ớt hơn hẳn, không chăm sóc nghỉ dưỡng kỹ thì về già càng đớn càng đau. Đàn ông thì vẫn khỏe phây phây. Đàn bà đẻ chứ đàn ông có đẻ đâu.

Đẻ xong, đàn bà xuống sắc. Da nứt thịt rạn cho đám đàn ông nó chê ỏng chê ẹo, đi kiếm mấy em trẻ hơn, đẹp hơn.

Vậy chứ mà không đẻ con thì thiên hạ nó kêu “cây độc không trái, gái độc không con”.

Ly dị, đàn bà càng khổ.

Sau này người ta hay nói “Cưới đại đi, có gì thì li dị”. Thử đi rồi thấy cái cảnh đàn ông một đời vợ không sao, chứ đàn bà một đời chồng thì coi như… xong! Thằng nào muốn nhào vô cũng lo ngay ngáy trong lòng. “Con này nó sống sao mà thằng chồng trước không chịu nổi?”. Chưa kể đàn ông nó còn sợ làm thằng đổ vỏ cho thằng nào ăn trước nó.

Ly dị xong, gặp gia đình thương yêu, hiểu chuyện thì cha mẹ ruột còn đón về chăm sóc, chứ mà gặp gia đình phong kiến, mang cái tư tưởng “con gái gả đi rồi là coi như hất chén nước đi, nó có quay về nằm trước cửa cũng không nhìn” thì coi như xác định là bỏ xứ mà đi cho khỏe.

Đẻ con thì đàn bà đẻ, chứ lúc ly dị thì lại phải đấu tranh để giữ đứa con cho mình, bởi luật có thể đưa đứa con cho chồng. Máu thịt mình dứt ra mà bắt cho đi sao đành. Mà giữ lại nuôi thì kinh tế phải vững, hên lắm thì gặp được người chồng có trách nhiệm, chu cấp mỗi tháng, nhưng số này đếm trên đầu ngón tay.

Sơ sơ nhiêu đó, chứ kể hết ra, chắc đàn bà đi tự tử hết.

Nên đàn bà đừng quá trông mong hay nghĩ đời mình phải dựa dẫm vào đàn ông mà sống. Lo cho bản thân mình đã, lo làm đẹp ngoại hình, lo trang điểm kiến thức, lo thăng tiến tương lai, lo cho Cha Mẹ…

Còn đàn ông, kệ bà tụi nó tự sinh tự diệt, tự mang lại hạnh phúc cho nhau là được rồi.

Bởi… làm đàn bà cơ bản là khổ mà…!

HCT – 05092020

Sunday, September 6, 2020

VÔ ĐỊCH: Đào - xây - sửa...

Việt nam vô địch! Vô địch! Vô địch...

Đó là tiếng hô ta thường thấy trên khán đài bóng đá Seagame.

Người Việt ai mà chả thích VN vô địch?

Trong khi nhảy cao, nhảy xa hay bóng đá và các môn thể thao cơ bản khác VN chưa từng vô địch để tung hô nên tôi xin tình nguyện cất công tìm tòi vài môn vô địch thế giới khác để chúng ta có cái mà vỗ ngực tự hào.

Một.

Đào vỉa hè.

Ko người Việt hay hội đồng trọng tài nào có thể bác bỏ được cup vàng này của VN.

Chỉ tính từ sau 1975 đến nay đào hè đã đủ là kinh văn khủng mà sử sách ko sao ghi hết nổi.

- Làm đường: đào (dĩ nhiên, nhưng sửa mặt đường thì đâu cần?)

- Làm điện: đào tiếp

- Nước? Đào!

- Điện thoại, cáp thường, cáp quang, dây chìm, dây nổi, thay cây, thay cỏ, trồng hoa, trồng... rau...? 

Cái gì cũng đào.

Ừ thì thôi!

Đổi mới, lắp đặt mới ko đào sao làm?

Nhưng, đào hè chỉ vì cần... đào hè mới thực sự vô cmn địch.

Ngay tại thủ đô Hà nội của tôi.

- Mới 2016 sau nhiều chục lần đã đào thay, sửa vỉa hè người ta quyết định lát toàn bộ bằng gạch con sâu để... có đủ chỗ ghi tội lũ tham nhũng.

- 2017 đào tiếp để thay gạch xi măng giả granit cho lành.

- 2018 lại đào, vì đá xanh tuổi thọ được những 50 năm cơ.

- 2019 đào tiếp, bởi đá xanh đã vỡ hết phải thay đá granit dày 3-4cm: đá này tuổi thọ được trên 70 năm nhé!

- Giờ, 2020 Đào tung cả Hồ Gươm lên rồi nó thanh minh thanh nga: "đá mặt dày" như này tuổi thọ mới được trăm năm!

Mẹ cha nó! Năm 2021 ai tìm đâu cho tôi loại đá nào có thể đào lên rồi chôn xuống hết lũ khốn đang hủy hoại HN dưới đất đen được mấy ngàn năm không?

Kao Phú

ĂN TẤT

 "Một cái cặp simili 350.000đ nâng giá lên 3,5 triệu. Một thiết bị y tế 7 tỷ đồng nâng lên 40 tỷ. Vậy thì một bộ sách giáo khoa lớp 1 giá 800.000 đồng có gì là lạ đâu nhỉ" 

Ăn k chừa thứ gì. Ở chung cư thì chủ đầu tư ăn, bầu BQT thì BQT ăn. Ở Everich Infinity dân kiện thì Trưởng BQT Nguyễn Sơn Hà làm đơn từ chức (nhưng không hội nghị cư dân để dân thông qua. Từ chức để né trách nhiệm nhưng vẫn tự ý chọn cty quản lý Realtylink với giá dịch vụ cao cấp 15.000đ/m nhưng k chăm sóc cây xanh, mấy năm k lau kính toà nhà, bước vô sảnh là nghe mùi rác. Mỗi tháng phí dân nộp 1,2 tỷ đồng, phí bảo trì dân đóng đến 60-70 tỷ nhưng k công khai tài chính. BQT nộp đơn nghỉ nhưng ký giấy cho Cty Phát Đạt vẽ ô xe chắn lối chữa cháy. Dân biểu tình vì k có chỗ để xe thì Trưởng BQT nghe đâu sở hữu đến 2 ô xe.

Kiện lên chính quyền cả năm qua nhưng UBND quận 5, phường 4, Sở Xây dựng đều đá qua đá lại k giải quyết. Cư dân phải biểu tình! Đúng là thành phố đáng sống mà!

Hình tại Everich Infinity!


Nhà báo Hàn Ni

Kinh tế tư nhân: Các đại gia VN (1)

Những ông trùm tài chính Việt Nam – nhóm Đông Âu (phần 1): những người mở đường..

Sau khi viết status về Kiên “bạc” nhiều người quen cũ của tôi từ thời trước có đánh giá là tôi hơi đề cao Kiên quá, thời nào cũng có nhiều người tài lắm, tất nhiên họ nói thế là đúng và tôi đã có idea viết về những nhân vật “kiệt xuất” của thời 1995-2000 trong kinh doanh.

Tôi chọn thời gian đó và có ý định đặt tên status là “Những người mở đường hay Oligarkhi đầu tiên của Việt Nam” bởi vì thời điểm đó Việt Nam mới bỏ cấm vận, kinh tế bắt đầu khởi sắc, khối tư nhân trỗi dậy và có rất nhiều điểm tương đồng với xã hội Nga sau sụp đổ của Liên Xô, nhưng sau lại thay, tôi thích cái tên mới này hơn!

Xin lưu ý là tiêu chí lựa chọn hoàn toàn của riêng cá nhân tôi, muốn chọn ra các nhân vật chưa hẳn là giàu nhất, nhưng thực sự tài ba, cá tính, và để lại dấu ấn “những người mở đường” cho thế hệ doanh nhân cùng thời và đi sau.

Đa số các vị trong danh sách tôi đã được tiếp xúc trực tiếp (cũng lạ, một thằng “lìu tìu” như tôi trong đời gặp rất lắm cao nhân!), một số thông tin tôi cố gắng chắt lọc từ nguồn tin tưởng được nhất, và vì tôi ở Hà Nội là chính nên ít đưa đại diện phía Nam vào (hồi đó Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Phước Tamexco bắt đầu bi đát rồi, chưa nổi “Lý Đức” –“bầu Đức”, Tâm “Tân Tạo”, Trầm Bê… nên nếu đưa vào danh sách này tôi mạn phép chỉ đưa 2 nhân vật phía Nam là bác Trần Mộng “Hùng ACB” và Huỳnh Phi Dũng “lò vôi” lúc đó chưa đổi tên).

Và cũng xin lỗi các ACE có thể biết rõ người này, người khác hơn tôi nhiều, đã là cảm nhận cá nhân thì không ai giống ai… và nhất là dành cho các bạn trẻ, có thể chưa nghe đến những cái tên này (hãy nhớ thời đó xã hội chưa dùng từ “đại gia” mà hay gọi theo kiểu Đông Âu là “soái”).

Không thể ngắn gọn mà phác thảo chân dung một doanh nhân, nhưng xin ACE đọc và so sánh chính họ với nhau, sẽ thấy rõ hơn khá nhiều!

Đa số họ quen nhau, nhiều người là bạn bè của nhau, vẫn cạnh tranh “vô tư” và chúng ta rất nên biết về họ! Xin bắt đầu danh sách 9 người, theo thứ tự tầm ảnh hưởng giảm dần, cũng do tự tôi chủ quan chọn lựa:

VINH “ĐEN” – 1956

Vinh “đen”: Hoàng Quang Vinh “đen”, Vinh “xoăn” hay Vinh “Cotec” – 1956. Anh là thiên tài kinh doanh bẩm sinh, là “người khởi xướng” cũng như “linh hồn” của mọi “cuộc chơi”. Nhiều người nghĩ đến, nhưng chính anh là người tập hợp được một loạt các gương mặt “sáng giá” của người Việt ở Liên Xô và Đông Âu để lập nên Cotec, một tập đoàn tư nhân đầu tiên của Việt Nam sau đổi mới hoạt động trên diện rộng trong và ngoài nước, mũi nhọn chính là áp dụng công nghệ mới và xuất nhập khẩu!

Các thành viên Cotec cho đến ngày nay vẫn giữ được “phong độ”, ai cũng giàu và thành đạt trong ngành nghề của mình, từ làm xi măng, bán thiết bị, làm bia…và đầu tư tài chính. Có thể nói Masan sau này chính là mẫu hình thu nhỏ hơn và thành công hơn của Cotec, vì Quang “Masan” cũng là thành viên Cotec, và Quang cũng học được rất nhiều từ bác Vinh!

Vinh “đen”, Trần Mộng Hùng, Kiên “bạc” là những người đi đầu trong việc thành lập ngân hàng tư nhân ở Việt Nam, anh là người khởi xướng ra Techcombank từ 1992 và lèo lái nó trong những năm đầu “ra đời trong cách mạng” như anh hay đùa.

Tiếp xúc với Vinh “đen” tự nhiên tôi hình dung ra nhà thơ Xuân Diệu (tuy XD không “đen” như anh). Đen lắm, hơi béo, thấp, tóc xoăn tít, đeo kính, có dáng dấp nhà thơ hơn là một “Tanô” (từ chỉ banker vào thời đó, theo phim của Ý) và khi anh nói thì ngay lập tức người ta phải hiểu anh là một thiên tài.

Bất cứ đề tài gì trong kinh doanh được nêu ra anh cũng có thể kể vanh vách như người trong ngành lâu năm, vạch ngay ra hướng tiến hành và mục tiêu cần đạt được! Anh nói nhanh, chẳng hiểu các suy nghĩ trong đầu của anh có nhanh hơn thế nữa không, ý tưởng của anh tuôn trào không dứt, nhưng tất cả các điều anh nói ra đều HAY và ĐÚNG! Trong các cuộc họp cũng chủ yếu anh nói, mọi người nghe, thư ký có nhiệm vụ chính ghi lại các ý tưởng của anh cho kịp, chứ không kịp là quên, vì chúng nhiều quá…

Chắc là có rất nhiều cộng sự, kể cả đối thủ kinh doanh, cũng đã nghe được ý tưởng hay mà anh chia sẻ vô tư và đem về áp dụng cho mình! Nhiều người hoàn toàn không liên quan đến kinh doanh cũng muốn gặp được anh và nghe anh nói chuyện…

Thời đó đi đâu anh cũng có hai, ba nữ thư ký tháp tùng, mỗi người một vẻ, nhưng ai cũng như anh đều uống rượu như thuồng luồng (anh khoe cả nước anh có 9 nữ thư ký), càng uống càng “xuất thần”.

Thêm nữa anh cũng thích giao lưu với các thầy bói, phóng viên…nên chỗ nào có anh là chỗ đó rất xôm tụ. Một loạt câu nói quen quen bây giờ ta hay nghe, chẳng biết của ai, kiểu như “để cho đứa khác làm đường, mình cứ xây cái cầu qua sông rồi thu phí qua lại sướng hơn” hay “thằng lắm tiền ra hẳn chỗ đồng không mông quạnh xây lên một dãy phố thì người ta vẫn lao vào mua ầm ầm, cần gì chen nhau vào nội thành, mua mặt tiền…” tôi vẫn nhớ đến giờ, đều là ý tưởng của Vinh “đen” (xin nhớ hồi đó đến Phú Mỹ Hưng cũng chưa có, Hà Nội thì có đường đôi Trần Khát Chân cũng là ý tưởng tiến bộ lắm rồi).

Anh là “kiến trúc sư đại tài” nhưng không phải “thợ xây” giỏi, lại “tinh hoa phát tiết ra ngoài” nên hóa ra người khác lại “đọc” được anh, vả lại có quá nhiều ý tưởng, nhiều mối quan tâm nên cũng không thể quản lý chuẩn hết được, dần dần anh mất vị thế ở chính những tổ chức mà anh sáng lập nên, mặc dù cho đến bây giờ anh vẫn được mọi người rất quý mến và khâm phục. Sau này sức khỏe yếu, anh lui về chữa bệnh.

Tôi chỉ được nghe kể, anh nghiên cứu về việc chữa bệnh cũng rất giỏi, rất khác người, và bây giờ anh đầu tư một resort ven biển để chữa bệnh cho bệnh nhân một cách thực sự, kết hợp với nghỉ dưỡng, hình như cả trong việc này ở nước ta anh cũng là người đi đầu…

NGUYỄN QUANG A – 1946

Quang A: báo chí đã viết quá nhiều về anh Nguyễn Quang A-1946, từ “học viên quân sự có bàn chân to ngoại cỡ” đến “người Việt Nam ở Hungari giỏi nhất từ trước tới nay”, rồi “người Việt Nam được trả lương cao nhất” đến “công ty nợ thuế nhiều nhất Việt Nam”…và còn nhiều lắm.

Từ một tài năng IT kiệt xuất lứa đầu tiên, anh trở thành “nhà khoa học đi buôn”, đã kinh qua rất nhiều ngành nghề, sáng lập nên GenPacific rồi đế chế 3C, là người dịch và xuất bản những cuốn sách có ảnh hưởng sâu rộng tới lớp trẻ toàn quốc, là nhà kinh tế học (cựu viện trưởng IDS) và người đấu tranh cho dân chủ rất nổi tiếng…không thể liệt kê hết được!

Tôi nhớ anh qua “cuộc chiến” chống “lợi ích nhóm” ở VP Bank (nơi anh cũng là cổ đông sáng lập và sau này làm Chủ tịch HĐQT một thời gian), nơi anh và những đối thủ đều rất thông minh hết “đấu” nhau qua các cuộc họp lại lôi nhau đi “đấu rượu” và anh uống cũng vô cùng khủng khiếp!

Tôi ấn tượng với anh qua câu nói rất thật, đại ý là “tiền của công ty tôi lúc đó nếu mua thì chắc được cả khu phố Lý Thường Kiệt”. Bây giờ tiền không còn là mục đích cuộc đời anh nữa, anh trông tuy không khác trước mấy nhưng đã gần 70 rồi và hôm nay anh có thể không giàu hơn một nhà buôn gỗ Đồng Kỵ gặp thời ở quê hương Bắc Ninh của anh, nhưng tôi biết anh sẽ còn mang lại cho cộng đồng rất nhiều giá trị ở nhiều phương diện, và rất kính trọng anh qua hành động sau.

Từ sau hồi 3C anh và Kiên “đầu bạc” có những mâu thuẫn khá sâu sắc, nhưng tôi biết trong thâm tâm Kiên vẫn coi anh là một trong những người đáng nể phục. Còn anh, sau phiên tòa vội vàng vừa rồi xử Kiên rồi lại hoãn, đã viết một bài mà tôi thấy là hay, chuẩn nhất, fair play nhất trong những bài viết về “đại án” này.

NAM “HÓI” HOẶC NAM SẮT” – LÊ HOÀI NAM – 1955

Người con giữa của 3 anh em đều kinh doanh nổi tiếng Ái-Nam-Hòa. Anh là một trong những người sớm và thành công trong việc mang tiền từ Việt Nam ra nước ngoài (Nga, Ukraina) để kinh doanh, và nhiều năm anh “đánh” sắp thép về Việt Nam nên có biệt danh như thế.

Anh gặp tôi ở nước ngoài năm 1995, kể là “Hà Nội bé tí, tao đi đâu cũng có người quen, có đi ăn phở quên tiền thì đi 10 m thể nào cũng gặp người quen mà vay tiền”, tôi về nước một phần cũng vì tò mò về anh và Hà Nội, thì quả Hà Nội thời đó bé thật và anh quen nhiều thật, anh quen chủ yếu là các bạn nhậu và buôn sắt thép!

Hãy tưởng tượng một anh chàng hói, tóc tai dài, gầy, bơ phờ vì rượu và “tá lả” suốt ngày, áo không bao giờ bỏ trong quần và không bao giờ đi giày, chỉ dép lê, không hề dùng vi tính hay ngoại ngữ nhưng cái gì cũng nhớ, cũng biết, tối tối đi lên Queen Bee uống rượu với khách, bao nhiêu cũng không say…thì đó là Nam “hói”.

Anh sớm nhập cho mình một xe BMW xịn bên Đức về (hồi đó cũng là ăn chơi lắm đấy) nhưng vẫn thấy anh chở vợ đi chợ bằng Dream, vợ vào chợ nhiều khi anh nằm luôn trên xe máy mà ngủ được! Nhà anh to đẹp, rộng lắm nhưng nằm sâu trong ngõ, ô tô không vào được, anh bỏ tiền mua luôn một loạt nhà bên ngoài để làm đường ô tô ra vào ngõ cho mình – một hành động rất “soái” thời đó (tất nhiên như vậy giá trị miếng đất của anh cũng tăng lên có khi còn hơn số tiền bỏ ra…).

Là cổ đông sáng lập VP Bank (Ngân hàng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh), trường hợp của anh có thể lấy là case study cho cụm từ “lợi ích nhóm”. Anh “sảy chân”, anh và mấy “đồng chí” nữa bị tạm giam, một loạt “anh tài” khác một phần vì anh mà ngấp nghé cửa lao tù…cuối cùng hậu quả được khắc phục, tất cả miễn khởi tố, chẳng có báo chí nào làm “kền kền” như vụ của Kiên bây giờ, nhưng hay hơn cả theo tôi là một tập đoàn Hàn Quốc bán hàng mở L/C bảo lãnh qua VPBank, bán hàng rồi mà không được ai thanh toán, kiện mãi không đòi được… hy hữu!

Và lạ nhất là ra tù rồi thì anh và các “anh tài” kia, không vì mâu thuẫn nhất thời vẫn rất gắn bó yêu thương nhau cho đến bay giờ, chính vì họ phục tài Nam “hói”!

Hỏi anh có thần tượng nào trong kinh doanh không, Nam “hói” kể là có! Bác ấy tên Tâm, từ thời bao cấp đã là nhà “tư bản”, mục tiêu lũng đoạn thị trường, ví dụ có thời đã đi thu mua hết thuốc đánh răng của miền Bắc lúc đó rồi bán lại với giá cao hơn.

Nhưng thị trường sắt thép sau này to quá, không thể lũng đoạn được, anh Nam thử nhưng “lực bất tòng tâm”! Những năm gần đây tuy sức khỏe có vẫn đề nhưng anh vẫn âm thầm theo đuổi kế hoạch của mình, tuy không phải để thâu tóm thị trường sắt thép nữa…

NGUYỄN TRUNG HÀ – 1962

Trung Hà: là biệt hiệu luôn của anh Nguyễn Trung Hà (có anh em còn gọi là Hà “bờm”)-1962, với tôi anh đã và vẫn là thanh niên “quân khu Nam Đồng”- từ bé rất ngang ngược, không giống ai trong cách nói, cách nghĩ, cách làm. Là học sinh giỏi toán nhưng ít ai biết anh và một bạn cấp 3 đã trốn trường lên biên giới xin đánh nhau với Trung Quốc.

Triết lý kinh doanh của anh rất đặc biệt, không biết anh học ở đâu hay tự anh chọn cho mình, chính xác là của một “nhà đầu tư thông thái”, nếu tôi là Thủ tướng thì tôi dám giao cả SCIC cho anh mang tiền đi đầu tư! Anh bỏ toán và đi làm ăn rất sớm, là cổ đông của hàng loạt “con gà đẻ trứng vàng” như FPT, Zodiac, ACB, Vĩnh Trinh, Togi, hãng phim Thiên Ngân Galaxy, CK Thiên Việt, Liên Việt Bank…danh sách này có thể kéo dài ra gấp nhiều lần!

Và đến bây giờ anh vẫn sẵn sàng chọn những công ty nhỏ, mới, lạ, có tiềm năng để đầu tư. Nhưng tôi thấy anh không bao giờ muốn giành số cổ phần đủ lớn để đứng ra “cầm cương” cho bất cứ công ty nào-để thì giờ anh còn làm việc khác!

Trông Trung Hà lụ khụ như ông cụ đồ nho, kính cận, dép lê, nói năng chậm rãi nhưng câu nào “xắt ra miếng” câu đấy, còn uống rượu thì không kém cả 3 bác kể trên, và có đam mê vượt trội đó là “52 quân”. Anh có trí nhớ siêu và phán đoán tốt lắm, hay thắng nhưng đó không phải là mục tiêu, mà anh đánh để được trải nghiệm, để được sống trong thế giới yêu thích của anh. Anh chỉ thích đánh bài với người trình độ tương đương, nếu anh hay người chơi nào đánh sai một lỗi (để mất “con gà” chẳng hạn), anh có thể nhớ và xuýt xoa hàng tháng sau, còn nếu ai đánh sai lỗi thô thiển thì y như rằng sau này có rủ, có thiếu “chân” anh cũng thoái thác không muốn đánh cùng…

Hai vợ chồng đều là dân toán MGU nên khi anh nói “học toán là tự sướng, làm toán là rất lãng phí” có rất nhiều người phản bác, kể cả GS Ngô Bảo Châu, nhưng tôi thấy hoàn toàn nhất trí vì nó đúng như vậy, tuy nhiên nếu tôi là anh sẽ bổ sung thêm “…đi kinh doanh như tôi sướng hơn!”

Tác giả: Nam Nguyên

Saturday, September 5, 2020

Vài điều về âm nhạc

 “Không có hai người nào trên đời này hoàn toàn giống nhau và âm nhạc cũng vậy, còn nếu không, đó không phải là âm nhạc” - Billie Holiday

Hành trình âm nhạc của mỗi người là một trải nghiệm thú vị và đầy cảm xúc. Trong chúng ta có nhiều lớp quá khứ gắn với âm nhạc, rất nhiều gắn kết, thậm chí một vài thứ đã bị lãng quên cho đến khi ta có thời gian để nghĩ về chúng.

Âm nhạc kết nối rất sâu sắc với cảm xúc và quá khứ của mỗi người. Hãy cho bản thân thời gian để bắt nhịp với âm nhạc của mình. Hãy để nó giúp chúng ta định hướng bản thân qua các giá trị của nó.

Hãy tập hợp/tạo ra một danh sách những bài hát, bản nhạc sẽ giúp bạn trong những tình huống khác nhau của cuộc đời, để bạn có thể vượt qua một ngày của mình một cách bình tĩnh hơn, hạnh phúc hơn và thậm chí là có kiểm soát hơn.

Bốn bước bạn cần thực hiện để tìm thấy âm nhạc của mình. Đó là:

Lưu thông tin về bản nhạc cuộc đời của bạn

Chúng ta luôn góp nhặt âm nhạc. Theo thời gian, một vài bộ sưu tập của chúng ta bị loại bỏ và tạm thời bị lãng quên, trong khi những ký ức âm nhạc khác tồn tại suốt cuộc đời.

Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh thích hợp, tất cả âm nhạc đều có thể mang ý nghĩa gợi nhắc thứ gì đó mà chúng ta có thể nhớ lại khi gặp điều kiện phù hợp.

Mặc dù vậy, điều bạn có thể thấy thú vị nhất về bài tập này là, bằng cách dành thời gian xem lại lịch sử âm nhạc của mình, chúng ta có thể lùi một bước ra ngoài cuộc sống và dành thời gian nhìn lại bản thân một cách khách quan hơn, điều này có thể rất hữu ích.

Xác định thói quen nghe nhạc hiện tại của bạn

Thói quen nghe nhạc của mỗi cá nhân là độc nhất. May mắn thay, đối với hầu hết chúng ta, việc tiếp cận âm nhạc là khá dễ dàng và không cần phải nghe quá nhiều mới có được tác động đáng kể.

Mặc dù giờ đây số lượng âm nhạc mà tôi nghe ít hơn so với khi còn trẻ, nhưng tôi nhận thấy chỉ số tác động nhận thức của tôi đã được tăng lên. Khi nghe nhạc sống hoặc nhạc thu âm, tôi thường hoàn toàn đắm chìm vào âm nhạc và tôi tiếp tục bổ sung nhạc mới vào bộ sưu tập của mình.

Nhận biết sở thích âm nhạc của bạn

Việc lắng nghe bài hát ưa thích kích hoạt một khuôn mẫu hoạt động của não bộ, bất kể đó là thể loại nhạc gì. Điều này có thể giải thích tại sao nhiều người khác nhau lại mô tả cùng một cảm xúc và phản ứng ký ức mỗi khi nghe đoạn nhạc họ yêu thích, dù là của Bach hay Eminem.

Khi nghe bài hát ưa thích, người ta thường báo cáo cùng một cách phản ứng: Trải nghiệm những suy nghĩ và ký ức cá nhân. Bài hát yêu thích có thể tăng cường hoạt động kết nối trong một mạch não gắn với những suy nghĩ tập trung sâu bên trong.

Chúng ta đều ít nhiều nhận thức được về những điểm mình thích và không thích đối với âm nhạc. Trong bước ba, việc tìm kiếm âm nhạc của bạn chính là nhận thức được ba lĩnh vực khiến bạn hình thành nên sở thích âm nhạc của mình: Phong cách yêu thích, nhịp độ yêu thích và âm sắc yêu thích.

Kết hợp cùng nhau, chúng sẽ đem tới cho bạn danh sách đầy đủ về sở thích âm nhạc của mình. Sở thích của bạn là những yếu tố kích hoạt mạnh mẽ nhất giúp đưa bạn thật nhanh tới trạng thái mà bạn muốn.

Bản nhạc cuộc đời cho ta cái nhìn thoáng qua về việc bản thân bị tác động ra sao bởi lựa chọn âm nhạc của chính mình qua một thời gian dài. Nghiên cứu thị trường đã thực sự rất chú trọng vấn đề này.

Các công ty dành thời gian nghiên cứu loại nhạc (hoặc không có nhạc) phù hợp nhất nên được bật tại các quầy hàng bán lẻ và trên chương trình quảng cáo.

Thiết lập những bài hát neo giữ của bạn

Rất nhiều người trong chúng ta sở hữu thứ mà tôi gọi là “những bài hát neo giữ” hay những ca khúc chủ đề. Đó là những ca khúc giúp chúng ta đạt tới trạng thái cảm xúc ổn định, kêu gọi chúng ta hành động.

Một số nhà hùng biện lão luyện, bao gồm cả các chính trị gia hàng đầu, đã phát hiện ra rằng những bài hát chủ đề có thể là đồng minh lớn nhất của họ trong việc tạo ra tác động lên nhiều nhóm người - tất nhiên, điều này không phải lúc nào cũng là vì mục đích tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, nó rất hữu ích khi nỗ lực hun đúc trong mọi người trạng thái đoàn kết bằng hữu bằng cách giúp họ cảm thấy được gắn kết. Bạn có thể đọc lướt nhanh qua phần này và cảm nhận được chúng ta đang đi đâu trong quá trình tìm kiếm âm nhạc của bạn hoặc bạn có thể thực hiện những hoạt động đó một cách chậm rãi, theo nhóm, hoặc với một người bạn.

Bất kể cách làm là thế nào, hãy để âm nhạc trở thành một phần của bạn, thậm chí ngay từ giây phút bạn cảm nhận được nó. Cảm nhận âm nhạc và cho phép âm nhạc tác động lên trạng thái tinh thần của bạn, bạn sẽ đạt được lợi ích tối đa khi tìm ra thứ âm nhạc quan trọng nhất với bản thân.

theo Zing 

TRUYỆN VUI CUỐI TUẦN – HÉTVÉGI VICCEK (No. 240)

 Đêm khuya trong một nhà tù. Có tiếng thì thầm:

- Anh ở đây bao lâu rồi?

- Mười năm.

- Anh thích ở đây chứ?

- Không!

- Có thích chạy trốn cùng tôi đêm nay không?

- Không.

- Sao lại không?

- Vì tôi là quản giáo...

-----------

Éjszaka a börtönben. Halk suttogás:

- Maga mióta van itt?

- Tíz éve.

- Jó itt magának?

- Nem!

- Hajlandó velem megszökni ma éjjel?

- Nem.

- Miért?

- Mert én vagyok a börtönőr...

Nguyễn Ngô Việt (DEBRECEN.vidi73)

Friday, September 4, 2020

Tư liệu về vấn đề Hoàng Sa: BA ĐIỆN TÍN CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ VỀ BIẾN CỐ HOÀNG SA THÁNG 1 NĂM 1974

 Từ ngày 16/1 đến ngày 19/1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm các nhóm đảo phía tây nam thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lực lượng đồn trú của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trên đảo, cùng với hải quân vừa được tăng cường từ đất liền đã giao chiến với quân Trung Quốc, nhưng do tương quan lực lượng bất cân xứng nên đã để mất Hoàng Sa vào tay Trung Quốc. 

Do không thể dùng hải quân để tái chiếm các đảo, nên chính quyền VNCH dự định dùng không quân để phản công giành lại Hoàng Sa. Theo lời kể của Đại tá Nguyễn Quốc Hưng, Phụ tá tham mưu phó hành quân của Bộ Tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa, với TS. Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ VNCH, kiêm cố vấn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, thì ngày 19/1/1974, ông Thiệu đã ra mật lệnh cho Tư lệnh Không quân VNCH điều động máy bay chiến đấu siêu thanh F5-E ra oanh kích, phản công quân Trung Quốc để giành lại quần đảo Hoàng Sa. 

Ngày 19/1/1974, Tư lệnh Không quân VNCH đã điều 5 phi đoàn F5-E, gồm 4 phi đoàn ở Biên Hòa và 1 phi đoàn ở Đà Nẵng, mỗi phi đoàn gồm 24 máy bay và 120 phi công, tập kết về sân bay Đà Nẵng chuẩn bị tái chiếm Hoàng Sa. Trong những ngày này, máy bay do thám RF5 của VNCH đã liên tục bay thám thính lực lượng Trung Quốc ở khu vực Hoàng Sa, chụp ảnh và cung cấp thông tin để không quân chuẩn bị phương án tác chiến. 

Cũng trong ngày 19/1/1974, 2 phi đoàn F5-E của Không lực VNCH tại Đà Nẵng, mỗi phi đoàn gồm 2 chiếc, đã 2 lần cất cánh ra khơi, nhưng vừa bay được khoảng trên 100 dặm thì được lệnh phải quay trở lại. (Nguyễn Tiến Hưng, “Tổng thống Thiệu và hải chiến Hoàng Sa, BBC, ngày 7/3/2017).

Chính quyền VNCH đã hủy bỏ lệnh tái chiếm Hoàng Sa bằng không quân, để cho Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ đó đến nay. Vì sao có sự thay đổi này? 

Một số tài liệu liên quan đến trận “hải chiến Hoàng Sa” được công bố trong thời gian qua cho rằng: do Mỹ đã bắt tay với Trung Quốc trong vấn đề Hoàng Sa, không ứng cứu lực lượng VNCH khiến Hoàng Sa thất thủ, đồng thời ngăn cản VNCH phản công tái chiếm Hoàng Sa; hoặc do phía VNCH do tự lượng sức mình, thấy khó có thể tái chiếm Hoàng Sa nếu không có sự yểm trợ từ phía Mỹ nên đã ngưng việc phản công. Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán chưa được kiểm chứng.

Trong số những tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam được phía Mỹ giải mật trong thời gian gần đây, có 3 điện tín trao đổi giữa Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington D.C với Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 1/1974. Nội dung 3 điện tín này sẽ làm sáng tỏ vì sao Tổng thống VNCH hủy bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa bằng không quân.

* ĐIỆN TÍN TỪ WASHINGTON D.C

Trong bài viết đăng trên BBC ngày 7/3/2017 đã dẫn trên đây, ông Nguyễn Tiến Hưng có công bố nội dung một bức điện tín, mức độ KHẨN - MẬT, do Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger gửi cho Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn là Graham Martin vào ngày 19/1/1974. Nội dung bức điện như sau (bản dịch nguyên văn):

“Mật điện Bộ Ngoại giao 012641

1. Xung đột quân sự tại Hoàng Sa đã đưa đến thương vong cho VNCH với hai chiến hạm bị tên lửa STYX của Trung Quốc bắn chìm. Chính phủ VNCH có yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân. Tình hình thêm phức tạp vì báo cáo là trên đảo Pattle [đảo Hoàng Sa, nơi có lực lượng VNCH đóng quân] lại có một nhân viên dân sự Mỹ làm việc cho Văn phòng Tùy viên ở Đà Nẵng. Chúng tôi không hiểu tại sao người này lại có mặt ở đó.

2. Bộ Ngoại giao đã yêu cầu Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Hải quân Mỹ tránh khỏi khu vực này. Hai ngày trước đây [17/1/1974] chúng tôi [Kissinger] có bàn luận với Đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ ý muốn của chúng tôi là tình hình phải được hạ nhiệt…

3. Thông cáo của Bộ Ngoại giao gửi cho báo chí về vụ này sẽ nói theo những điểm như sau:

- Chính phủ Mỹ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa nhưng hết sức mong muốn là sự tranh chấp được giải quyết trong hòa bình.

- Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào xung đột này.

4. Chúng tôi yêu cầu Tòa Đại sứ ở Sài Gòn tư vấn cho chính phủ VNCH chỉ nên có những hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân (và người nhân viên Mỹ ở trên đảo) nhưng làm tất cả những gì có thể để tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với lực lượng Trung Quốc. Việc mà VNCH hay chúng ta không cần chút nào trong lúc này là đụng độ giữa Trung Quốc và Chính phủ Việt Nam về mấy hòn đảo, dẫn tới vai trò bất chấp của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam”.

* HAI ĐIỆN TÍN TỪ SÀI GÒN 

Trong quá trình tìm kiếm các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tôi đã tiếp cận 2 điện tín do Graham Martin, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gửi về Washington D.C., ngay sau khi xảy ra biến cố Hoàng Sa. Nội dung 2 điện tín này đề cập nhiều vấn đề, trong đó có nguyên nhân khiến VNCH hủy bỏ lệnh không kích tái chiếm Hoàng Sa.

1. Điện tính do Đại sứ Martin gửi đến Nhà Trắng ngày 20/1/1974, mức độ KHẨN 

Bức điện gồm 8 mục, xin lượt thuật những nội dung chủ yếu như sau:

- Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã gọi điện cho Đại sứ Martin vào lúc 4g15 sáng ngày 20/1/1974 để báo tin về tình hình nghiêm trọng ở Hoàng Sa. Cuộc gọi này thực hiện theo lệnh của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, nhằm thông qua Đại sứ Martin để báo tin đến Tổng thống Mỹ Nixon về tình hình tại quần đảo Hoàng Sa và kế hoạch hành động của chính quyền VNCH. Theo đó hải quân Trung Quốc với sự yểm trợ của 3 chiếc MIG, đã tấn công lực lượng VNCH đang đóng giữ trên các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa và Hoàng Sa, đã buộc lực lượng VNCH rút lui, để lại khoảng 70 quân nhân, có khả năng bị Trung Quốc giết hoặc bắt làm tù binh.

- Do lực lượng Trung Quốc áp đảo, “nên nó dường như không thực tế để cố gắng giải quyết vấn đề bằng phương thức quân sự, kể cả phản công bằng máy bay” (it did not seem practical to attempt to solve the problem by military means. Even counterattack by air was not feasible). Vì vậy Tổng thống Thiệu [cần] chỉ thị cho Ngoại trưởng Bắc tiến hành các bước đi ngoại giao để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và kêu gọi sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận. Theo đó, VNCH sẽ đưa vụ việc ra Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (LHQ); thông báo với SEATO về hành động xâm lược của Trung Quốc; cân nhắc đưa vụ việc tranh chấp ra tòa án công lý quốc tế. Tuy nhiên, VNCH chưa quyết định việc này vì e ngại Trung Quốc sẽ không chấp nhận ra tòa. 

- Thông báo cho các bên tham gia ký kết Hiệp định Paris (1973) rằng Hiệp định quy định tất cả các bên đều phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và Trung Quốc là một bên tham gia ký kết Hiệp định này. Ngoại trưởng Bắc cũng kêu gọi một cuộc họp với các phái đoàn ngoại giao ở Sài Gòn về vụ việc và yêu cầu sự hỗ trợ từ chính phủ của họ.

- Đại sứ Martin hứa với Ngoại trưởng Bắc là sẽ cập nhật tình hình cho Ngoại trưởng Mỹ [Henry Kissinger], và sẽ liên lạc với ông Bắc ngay khi có phản ứng chính thức từ Washington D.C, đồng thời nói rằng nếu VNCH đưa vụ việc ra Hội đồng bảo an LHQ thì Mỹ sẽ lên tiếng nhưng cần cân nhắc đến những tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa của các đồng minh khác của Mỹ như Đài Loan và Philippines.

- Đại sứ Martin nghĩ rằng VNCH cần xem xét lại mối nghi ngờ khi đưa vấn đề ra Tòa án La Haye, kể cả khi Trung Quốc từ chối ra tòa thì việc này cũng chứng tỏ là VNCH đã chọn giải pháp hòa bình thay cho vũ lực. Điều này rõ ràng là có ích trong việc duy trì sự liên lạc sau này.

2. Điện tín do Đại sứ Martin gửi cho Tướng Brent Scowcroft, trợ lý của Ngoại trưởng Henry Kissinger, ngày 21/1/1974, mức độ KHẨN, 

Bức điện gồm 10 mục, xin lượt thuật những nội dung chủ yếu như sau:

- Thông báo cho Brent Scowcroft biết diễn biến tình hình, để Brent Scowcroft báo cho Kissinger biết và quyết định cách tiếp cận của ông ta đối với Trung Quốc, nếu có. Martin cho rằng sự hiện diện của Tổng thống Thiệu ở Đà Nẵng tại thời điểm này đã tạo ra áp lực vô hình không cần thiết để xử lý vụ việc. Nếu như ông Thiệu có mặt ở Sài Gòn thì phía Mỹ sẽ biết được dự định của ông ấy và tham vấn cho ông Thiệu những hành động hợp lý hơn. Martin thông báo rằng: “sáng nay tôi đã nghe nói ông Thiệu đã ra lệnh cho không lực Việt Nam Cộng hòa ném bom quân Trung Quốc ở Hoàng Sa. Lệnh đó đã được đình chỉ”. (I heard this morning he had ordered RVN airforce to bomb Chinese forces in Paracels. That has been stopped).

- Cân nhắc việc tư vấn cho chính quyền VNCH rút đơn vị đồn trú ra khỏi đảo Nam Yết ở Trường Sa hay chờ đợi trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục xâm phạm Trường Sa. 

- Khẳng định Mỹ “không thể tham gia trực tiếp trong cuộc tranh chấp chủ quyền giữa các đồng minh lâu đời là VHCH, Đài Loan và Philippines, hoặc giữa những nước này với Trung Quốc mà Mỹ đang hy vọng xây dựng một mối quan hệ nhiều hơn trong tương lai” (We cannot, I think, become directly involved in the disputes over sovereignty between our old allies - the RVN, the ROC, and the Philippines. Or between them and the PRC with whom we would hope to build a more forthcoming relationship).

- Sử dụng tổ chức Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm quốc tế (ICRC) để yêu cầu các bên trao trả tù binh và những binh lính tử trận, tốt nhất là tiến hành trước dịp Tết [Giáp Dần, 1974] và nơi thực hiện việc trao trả này là ở đảo Hải Nam hay Đại lục thì sẽ thuận tiện hơn so với việc trao trả ở đảo Hoàng Sa.

- Xác minh việc hãng tin UPI ở Sài Gòn đưa tin “có một người Mỹ là [Gerald] Kosh bị Trung Quốc bắt giữ tại trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa”, xem thử ông ta đã bị giết hay bị bắt giữ.

- Dựa vào những quan sát của phái đoàn Mỹ tại Liên hiệp quốc để khuyên Việt Nam chỉ gửi công hàm phản đối Trung Quốc lên Hội đồng bảo an, nhưng không thông tin cho báo chí và chắc chắn là không phải để bỏ phiếu [lên án Trung Quốc]. 

- Đại sứ Martin cho biết Tổng thống Thiệu muốn gửi thư cho Tổng thống Nixon yêu cầu can thiệp và lên án Trung Quốc, nhưng Martin đã tìm cách ngăn cản việc gửi lá thư này đến Nixon, mà chỉ đề nghị Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc yêu cầu chính phủ VNCH đưa sự vụ ra Tòa án quốc tế và gửi báo cáo tới SEATO (Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á). Dùng ảnh hưởng của cá nhân để kiềm chế bất cứ hành động thiếu cân nhắc nào của Tổng thống Thiệu.

- Cân nhắc để tìm cách sử dụng sự kiện đáng tiếc này theo cách tiến hành các mục tiêu tổng thể của Mỹ; tìm cách tiếp cận với Trung Quốc theo các hướng có ích. Không đề nghị Trung Quốc trả lại quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam, vì Trung Quốc đã chiếm được nó và rõ ràng là không muốn trả lại. Chỉ khuyến nghị Trung Quốc trao trả cho VNCH những người tử trận và tù binh trong dịp Tết [Giáp Dần 1974]; Giúp VNCH bảo vệ Trường Sa và những mỏ dầu tiềm năng ở đó… 

* MỘT VÀI NHẬN XÉT

Từ nội dung 3 điện tín trao đổi giữa Bộ Ngoại giao Mỹ với Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trên đây, cho thấy:

- Mỹ đã “đi đêm” với Trung Quốc trong vấn đề Hoàng Sa, vì thế họ không hỗ trợ VNCH giành lại Hoàng Sa, bỏ mặc cho Trung Quốc chiếm đóng quần đảo này.

- Mỹ ngăn không cho chính quyền VNCH, đặc biệt là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, có những hành động có thể gây phương hại cho mối quan hệ Mỹ - Trung đang ấm dần lên. Vì thế Mỹ ủng hộ VNCH lựa chọn giải pháp hòa bình (ngoại giao và pháp lý) đối với vấn đề xung đột ở Hoàng Sa, mà không dùng giải pháp quân sự. 

- Tuy nhiên, phía Mỹ không trực tiếp yêu cầu VNCH hủy bỏ việc dùng không quân để phản công giành lại Hoàng Sa, mà tạo sức ép tâm lý, buộc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cân nhắc tương quan lực lượng và nhận thấy thái độ của Mỹ đối với vấn đề Hoàng Sa, rồi tự ra quyết định hủy bỏ việc không kích tái chiếm Hoàng Sa.

- Phía Mỹ khẳng định là sẽ giúp VNCH giữ Trường Sa trong trường hợp Trung Quốc manh động xâm phạm quần đảo này. Như vậy có thể thấy rằng Mỹ quyết định buông Hoàng Sa cho Trung Quốc nhưng với Trường Sa thì không.

TS Trần Đức Anh Sơn (tổng thuật)

copy từ FB-Góc nhìn

Thư gửi tên hề

Đáp lại sự hăm dọa vô lối, kiểu nước lớn của Trung Cộng đối với chính khách là Chủ tịch Thượng viện CH Séc "sẽ phải trả giá đắt" vì thăm chính thức Đài Loan,  ông Pavel Novotny, THỊ TRƯỞNG vùng Řeporyje của PRAHA (CH Séc) đã gửi “CHIẾN THƯ" đến  NGOẠI TRƯỞNG Trung Cộng VƯƠNG NGHỊ ngày 31/8/2020 :  

" Gửi: Ông Vương, Bộ trưởng BNG Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Đây là lần cuối cùng ông mở mồm nói về CH Séc ! Hành vi của ông đã vượt qua ranh giới của những gì có thể chấp nhận được về mặt ngoại giao. Ông đã dám trả giá đắt để đe dọa Chủ tịch Thượng viện của chúng tôi, nước CH Séc, hả thằng hề thô lỗ mất lịch sự kia!

Bây giờ hãy nghe tôi, hỡi đồng chí Bộ trưởng Trung Hoa, hãy xin lỗi ngay, càng sớm càng tốt về lời đe dọa vô liêm sỉ của ông. Và khi tôi nói càng sớm càng tốt, ý tôi muốn nói là ngay bây giờ! Tôi muốn nó nằm trên bàn của Ngoại trưởng Séc trong 24 giờ tới. ...

Ông phải biết xấu hổ và thừa nhận rằng, trong tương lai, ngay cả một giọng điệu có thể ám chỉ mối đe dọa đối với các đại diện của đất nước có chủ quyền như chúng tôi, tôi sẽ khiến ông phải trả giá đắt cho hành vi bắt nạt, và chắc chắn ông sẽ không thích điều đó.

Ông đừng ỷ thế tự coi mình là mạnh hơn, dạy đời chúng tôi và tôi báo cho ông biết rằng, phản ứng từ phía chúng tôi sẽ như nhau ngay cả khi ông đã đầu tư nhiều hơn 14 lần thay vì ít hơn 14 lần so với bạn bè của chúng tôi từ Đài Loan.

Tỉnh lại đi. 

Không được đụng vào chúng tôi. Đừng để điều này lặp lại.

Gửi cho tôi bản sao lời xin lỗi qua email, để tôi có thể lưu nó lại và quên đi chuyện ngoại giao khốn nạn mà ông vừa làm.

Đừng chọc giận tôi.

Chào vờ.

Pavel Novotný, Thị trưởng Praha-Řeporyje

31.08.2020 " 

copy từ FB-Fonok Tibor

Thursday, September 3, 2020

75 năm chuyển biến

 CƯỚP, LỪA, BẠO LỰC

Một nhà xã hội học hỏi tôi dùng một từ để mô tả đặc trưng của chế độ này. Tôi dùng 1 trong ba từ trên, ông bảo không trúng và nói có lẽ từ "đánh" hợp hơn. Khó, dùng 1 từ thì khó nhưng dùng 3 từ trên thì có thể thâu tóm đại thể bản chất của nó.

1. Từ 1941 đến 1945 Việt Nam bị Nhật cai trị. Nhân chiến tranh thế giới II sắp kết thúc ngày 11-3-1945 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập và chính phủ do Trần Trọng Kim lãnh đạo. Tháng Năm năm 1945 Đức bị đánh bại. Tháng 8-1945 Nhật đầu hàng đồng minh (Anh,Pháp, Mỹ, Trung Hoa dân Quốc của Quốc dân đảng, Nga,...) và chiến tranh thế giới II thật sự kết thúc. Chính phủ Trần Trọng Kim đang là chính phủ hợp pháp và ĐCSVN đã CƯỚP chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim. Và khi đó ĐCSVN đã  nói toẹt ra rằng nó đã CƯỚP chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim. CƯỚP là thế, nhưng mãi về sau thấy từ cướp có vẻ không hay họ không dùng nữa và bảo là giành chính quyền.

2. ĐCSVN luôn nói đánh Pháp, đuổi Nhật làm cách mạng tháng Tám vẻ vang. Thực ra như đã thấy ở điểm 1) chả có đánh thằng nào cả, đấy là LỪA (chưa bàn đến chiến tranh 1946-1954 vì ta chỉ tập trung làm rõ 3 từ trên).

3. ĐCSVN luôn nói vì công nông nên đã huy  động được lực lượng đông đảo nhân dân lao động mà chủ yếu là nông dân tham gia đấu tranh giành chính quyền của họ với khẩu hiệu chính "người cày có ruộng". Nhưng khi đã nắm chính quyền thật sự ĐCSVN đã bắt nông dân vào Hợp tác Xã, thực sự là lấy mất ruộng đất của nông dân. Thế là LỪA. Cho đến tận nay, tức là 75 năm sau khi CƯỚP chính quyền, đất đai bị cướp dưới chiêu bài "sở hữu toàn dân" do "nhà nước" (hãy hiểu cho đúng thực chất do ĐCSVN) quản lý. Chủ sở hữu phải là một thể nhân hay pháp nhân có thể bị kiện ra toà án khi có tranh chấp, nhưng cái thằng "nhân dân" không là thể nhân, càng không là pháp nhân và chẳng ai có thể kiện cái thằng "nhân dân" chủ sở hữu toàn bộ đất đai ở Việt Nam cả, cái thằng "quản lý" thì nó bảo nó không  sở hữu nó chỉ "quản lý" thôi (tức là nó định đoạt mọi thứ: thu hồi, chuyển quyền sử dụng, cấp, ban phát,...) đấy là LỪA một cách khủng khiếp và gây ra bao tai hoạ và khiếu kiện suốt hàng chục năm qua.

4. Không những tước đoạt ruộng của nông dân đưa vào HTX, nó còn tước đoạt quyền làm ăn, kinh doanh của nhân dân Việt Nam (chỉ nhớ lại các đợt đánh tư sản nhiều lần ở miền Bắc rồi ở miền Nam sau 1975) khiến cho nền kinh tế Việt Nam suy sụp, hết viện trợ của Nga, Tàu và nền kinh tế suy sụp thì ĐCSVN cũng toi đời, cực chẳng đã nó để kệ dân phá rào và người dân lấy lại được một phần Quyền kinh tế của mình, kinh  tế Việt Nam cải thiện đáng kể do công sức của người dân và ĐCSVN lại CƯỚP công của dân một lần nữa bảo họ rằng thành công đó là do sự nghiệp ĐỔI MỚI do ĐCSVN chủ  trương và lãnh đạo! Cú LỪA này cũng ngoạn mục làm sao.

5. Quân đội phải là lực lượng bảo vệ đất nước, công an phải bảo vệ trật tự cho dân chúng. Cả hai lực lượng được ĐCSVN gọi là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân nhưng một trong những nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ ĐCSVN, cơ cấu tổ chức, sự lãnh đạo tuyệt đối của ĐCSVN với các lực lượng vũ trang phải đòi hỏi thay "nhân dân" bằng "đảng cộng sản Việt Nam" trong tên gọi của chúng mới đúng thực chất. Cú lừa "nhân dân" này cũng hết sức cao tay. Và vì hai lực lượng này sử dụng BẠO LỰC nên BẠO LỰC là một đặc trưng quan trọng của ĐCSVN.

6. Suốt 90 năm và nhất là 75 năm ĐCSVN luôn chủ trương BẠO LỰC. Trong tuyên ngôn của đảng cộng sản (chí ít trong bản dịch tiếng Việt của ĐCSVN) đầy dẫy bạo lực. Theo tuyên ngôn, các đảng cộng sản "công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng BẠO LỰC  lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành". Bài tiến quân ca của Văn Cao được ĐCSVN lấy làm quốc ca cũng bạo lực một cách khủng khiếp (tuy "thề phanh thây uống máu quân thù" man rợ quá đã được sửa). Ông tổ thề dù phải đốt cả dãy Trường Sơn... cũng thể hiện cái tính bạo lực vốn có đó. Rồi suốt cho đến nay mà điển hình nhất là vụ Đồng Tâm đầu năm nay. Bạo lực với kẻ thù, họ có thể nói vậy. Nhưng kẻ thù là ai? Từ bà Năm trong cải cách ruộng đất đến cụ Kình 2020 đều là những đại diện ưu tú của nhân dân! Vì hăng bạo lực, nó luôn luôn phải tìm ra kẻ thù! Không có thì phải vẽ ra! Tâm tính kẻ thù gắn với BẠO LỰC.

Qua phân tích sơ sài như trên về 3 từ có thể mô tả đặc trưng cho bản chất của ĐCSVN có thể thấy ĐCSVN rất có tội với dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Quang A

“ĐẠI BẢN DOANH” MỘT THỜI CỦA GIỚI DU HỌC SINH VIỆT NAM SẼ BỊ PHÁ BỎ

 Ký túc xá tại Budaörs - nơi nhiều thế hệ sinh viên Việt Nam khi mới đặt chân lên nước Hung đã sinh sống và theo học khóa ngôn ngữ Hungary kéo dài 1 năm - sẽ bị phá bỏ trong năm nay, theo một nghị định của Chính phủ nước này.

Theo tin của mạng pestbuda.hu ngày 2/9/2020, Nghị định Chính phủ số 1544/2020. (VIII. 17.), ra ngày 17/8/2020, gọi đây là “ký túc xá tại địa chỉ 1118 Budapest, phố Homonna số 1-7. và đường Harasztos út số 2-8.”, và cho biết: kinh phí dự trù để phá bỏ tòa nhà từng ghi nhớ rất nhiều ký ức và kỷ niệm này của giới cựu du học sinh Việt Nam là 165.694.584 Forint.

Biểu tượng một thời của “tinh thần quốc tế vô sản” - Ảnh: Google

Mang tên Ký túc xá Sinh viên Học bổng Ngoại quốc, tòa nhà nhiều tầng này được xây trong thời gian 1965-1968 và là công trình của hai kiến trúc sư Hofer Miklós và Török Ferenc. Từ đầu thập niên 70, rất nhiều sinh viên ngoại quốc - chủ yếu đến từ Châu Á và Phi - đã ở đây trong thời kỳ học dự bị ngoại ngữ và tìm hiểu nền văn hóa Hungary trước khi bước vào đại học.

Nhật báo “Dân tộc Hungary” (Magyar Nemzet) số ra ngày 13/10/1968 viết như sau về tòa nhà mới tại Quận 11, Budapest, gần Doanh trại Quân đội mang tên Petőfi: “Một ký túc xá hiện đại được xây dành cho sinh viên học bổng ngoại quốc. Người đi xe hơi về hướng hồ Balaton và Vienna, hoặc từ đó về, ít lâu nay đã nhận thấy công trình mới với dáng vẻ mẫu mực này.

Nằm trên đường Budaörsi, Ký túc xá Sinh viên Học bổng Ngoại quốc sẽ là nơi ở tiện lợi cho 312 sinh viên đại học gốc Á và Phi học tập tại Hungary. Quá trình xây dựng đã kết thúc, khâu kiểm tra kỹ thuật đã bắt  đầu trong tuần này và tới cuối tháng 11/1968, giới sinh viên đã có thể chuyển tới nơi ở mới của họ. (...) Tòa nhà có 8 tầng, bốn góc có phần tháp bê-tông cốt sắt.

Đó là nơi đặt hệ thống thang máy, cầu thang và các công trình phụ. Các tầng dưới là nơi làm việc của Ban Giám hiệu, phía trên là 20 phòng học, các tầng trên là các phòng đôi cho giới sinh viên. Ký túc còn có một giảng đường lớn đủ chỗ cho 300 người (...)”. Rốt cục, cũng theo tư liệu đương thời, tòa nhà chính thức được khai trương và đi vào hoạt động vào tháng 3/1969.

Tin về ký túc xá trên báo chí đương thời: nhật báo “Dân tộc Hungary” (Magyar Nemzet) số ra ngày 13/10/1968

Trong nhiều năm, ký túc xá Budaörsi là nơi ở của sinh viên sẽ theo học các ngành khoa học nhân văn (khi đó gọi là “khoa học xã hội”) ở bậc đại học, còn giới sinh viên theo học khoa học tự nhiên được phân về ở tại ký túc xá ở đường Nándorfehérvári (cũng tại Quận 11). Tuy nhiên, “đầu não”, “đại bản doanh” của Viện Dự bị Quốc tế (NEI) vẫn là tòa nhà ở đường Budaörsi.

Những năm qua, tòa nhà xuống cấp, có lúc bỏ hoang, không được sử dụng, có lúc là nơi ở dành cho người vô gia cư. Chưa biết khu đất nơi tọa lạc ký túc xá sẽ được sử dụng vào mục đích gì, tuy nhiên, tin ký túc xá Budaörsi sẽ bị phá dỡ cũng gây cảm xúc tiếc nuối và ngậm ngùi cho nhiều cựu du học sinh Việt Nam, những người đã để lại một phần cuộc đời và trái tim ở đó...

Các bạn đọc thêm ở đây

(copy từ FB của Nguyen Hoang Linh)

Wednesday, September 2, 2020

Chuyện lịch sử: Thời láo toét

CHÚNG TA ĐANG Ở THỜI ĐẠI NÓI LÁO TOÀN TẬP! 

Toàn Láo Cả!

Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?

Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.

Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.

Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.

Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh..... Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.

Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.

Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo. 

Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả... Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.

Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh... Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.

Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu. 

·        Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển...tất cả đều rặt láo. 

·        Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm. 

·        Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả. 

·        Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.

Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn... Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng  trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi. 

Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ... Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.

Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..

Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình. 

Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồtổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…

Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..

Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám quanh. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.

Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.

Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.

Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.

Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!

Ngày cuối tháng 10.2017

Đỗ Duy  Ngọc ( Tác giả bài viết là  một người con của Đà nẵng)

CHẤT HÙNG CA TRONG BÀI ĐIẾU VĂN TIỄN ĐƯA BÁC

(ĐHVO) Năm 1969, tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời trong thời điểm khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang còn dang dở khiến hầu như mọi người dân Việt Nam ai cũng bàng hoàng.

Lễ truy điệu được ấn định ngày 9/9/1969, nhưng đến tận chiều tối ngày 6/9, khâu quan trọng nhất là bài điếu văn vẫn chưa hoàn thành. Cả hai bản dự thảo điếu văn đều không được tập thể Bộ Chính trị thông qua. Tối ngày hôm ấy, Tổng bí thư Lê Duẩn sau khi rời cuộc họp về nhà đã cho gọi ngay hai trợ lý của mình là ông Đống Ngạc và ông Đậu Ngọc Xuân lên gặp. Tổng bí thư trao đổi với hai ông về những vấn đề lớn cần đề cập trong điếu văn, cách hành văn sao cho giản dị mà vẫn truyền cảm, chứ không lâm li bi đát, sáo mòn như trong các bài điếu văn khác. Bên cạnh đó, hai ông cũng được yêu cầu cần tham khảo các bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước phần mộ Các Mác, của Stalin khi tiễn biệt Lê-nin. Đặc biệt, cần tham khảo bài điếu văn của Hồ Chủ tịch đã đọc khi vĩnh biệt nhà cách mạng lão thành Hồ Tùng Mậu.

Mặc dù đã được Tổng bí thư Lê Duẩn định hướng, nhưng từ lúc được giao nhiệm vụ tới tận nửa đêm, cả hai ông vẫn chưa viết xong câu mở đầu. Trách nhiệm cũng như nỗi bi thương khi không dám nghĩ rằng Bác đã đi xa đè nặng lên tâm trí, khiến ngồi trước trang giấy mà hai ông vẫn không thể nhấc nổi cái bút viết bài điếu văn. Vì lao lực nhiều ngày, ông Đậu Ngọc Xuân bị ngất đi ngay trên bàn làm việc, khiến ông Đống Ngạc phải dừng nghĩ, cùng tổ phục vụ lo thu xếp cho ông Đậu Ngọc Xuân tĩnh dưỡng.

Sau khi lo liệu mọi việc, trở lại bàn làm việc, ông Đống Ngạc tĩnh trí, cầm bút viết như tự nói với lòng mình: 

"Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa!”.

 Ngay khi viết xong câu đó, ông như bừng tỉnh, viết liền một mạch đoạn mở đầu về nỗi đau khi Bác mất. Ông ghi nhận cuộc đời và công lao to lớn của Bác đối với dân tộc, nhân dân bằng câu khẳng định:

 “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch – Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta...”. 

Những nhiệm vụ cụ thể kế tục sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh được ông chuyển thành 5 lời thề dứt khoát của Ban chấp hành TW Đảng với Bác Hồ, với toàn quân, toàn dân. Để tăng sức truyền cảm và tỏ rõ ý chí, ông lặp lại điệp khúc trước mỗi câu thề: 

“Vĩnh biệt Người, chúng ta thề !”. 

5 giờ sáng ngày 7/9/1969, ngay khi ông Đống Ngạc vừa đặt xong dấu chấm than kết thúc bài điếu văn thì Tổng bí thư Lê Duẩn cũng vừa xuất hiện trước cửa phòng. Ngay lập tức, bài điếu văn với từng câu chữ rung động lòng người đã được Tổng bí thư Lê Duẩn cho đánh máy, gửi từng Ủy viên Bộ chính trị và Ban bí thư xem xét lúc 8 giờ sáng cùng ngày. Về cơ bản, mọi người đều nhất trí với điếu văn do ông Đống Ngạc chấp bút, nhưng việc chỉnh lý để từng câu chữ cho chuẩn xác, ý tứ cho nhuần nhuyễn hơn nữa cũng phải làm tới 11 giờ mới xong. Đến 20 giờ ngày 7/9/1969, sau khi Ban đối ngoại dịch ra 5 thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc, Tây Ban Nha và được Tổng bí thư Lê Duẩn đặt bút ký, bài điếu văn mới chính thức hoàn thành.

Ngày cử hành Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, trời mưa tầm tã như khóc thương người. Mọi hoạt động ở Hà Nội khi ấy dường như bị ngưng trệ. Từ trong nhà ra đến ngoài đường, ai cũng im lặng, lầm lũi đi trong mưa. Một không khí u buồn, bi thương bao trùm khắp Thủ đô và phủ đầy lòng mỗi người dân đất Việt. Đến tiễn đưa Bác, nhiều người không cầm được nước mắt. Tiếng khóc từ khối thiếu niên lan sang khối các bà các chị, rồi lan tới cả những người đàn ông. Ai cũng cảm thấy hẫng hụt và đau buồn khi dự lễ tiễn biệt Bác Hồ.

Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng đọc điếu văn tiễn đưa Người. Ngay khi câu đầu tiên của bài điếu văn cất lên: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!”, tiếng khóc lại lớn hơn khiến ông phải dừng lại, chờ mọi người ngớt khóc. Khi ông đọc tới câu: 

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta” thì tiếng khóc dần bé lại. 

Và rồi, cả Quảng trường Ba Đình vang dội lời “Xin thề” khi Tổng Bí thư đọc 5 lời thề nguyện kế tục sự nghiệp Hồ Chí Minh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Với mỗi câu thề được Tổng bí thư Lê Duẩn đọc lên là hàng vạn cánh tay cùng giơ cao, và tiếng hô “Xin thề” vang khắp quảng trường.

Có lẽ, kể từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới mãi về sau, chưa có và sẽ không thể có một bài điếu văn có sức lay động lòng người lớn lao và xúc động đến vậy. Đến nay, đã nhiều năm trôi qua, nhưng sức mạnh lan tỏa của bài điếu văn trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên đó. Bài điếu văn tiễn đưa Hồ Chủ tịch được coi là một văn kiện lịch sử đặc biệt, được thể hiện một cách hào hùng, xúc động; là tinh hoa của trí tuệ Bộ chính trị và Ban bí thư, và cả tâm huyết, tình cảm của ông Đống Ngạc dành cho Bác Hồ kính yêu. Những âm hưởng đau buồn nhưng không bi lụy, hào hùng nhưng vẫn bình dị và truyền cảm ấy đã làm rung động trái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè thế giới!

Hồ Công Thiết 19/05/2020

Tuesday, September 1, 2020

TỪ NGHÈO ĐÓI, HÀN QUỐC THÀNH QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NHƯ THẾ NÀO

 Từ đống tro tàn của Chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc bắt đầu quá trình tăng trưởng mạnh mẽ và liên tục để trở thành nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới chỉ trong vòng vài chục năm.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 (1945-2020) và chuẩn bị tiến hành đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Tổng bí thư - Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề cập mục tiêu cụ thể hướng tới dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước. Theo đó, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam sẽ thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.

Trao đổi với Zing, ông Layne Hartsell - giáo sư nghiên cứu về triết học công nghệ tại Viện châu Á, nhà đồng sáng lập Verixeum Technologies - nhận định đích đến của Việt Nam là trở thành một trong "những con hổ châu Á", tương tự "kỳ tích sông Hán" mà Hàn Quốc từng trải qua.

"Kỳ tích sông Hán" là cụm từ được dùng để đề cập đến thời kỳ công nghệ hóa thần tốc của Hàn Quốc diễn ra từ giai đoạn giữa thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. So với các quốc gia khác, Hàn Quốc chỉ mất một nửa thời gian để chuyển mình từ nước nông nghiệp lạc hậu trở thành cường quốc công nghiệp.

Cùng với Hong Kong, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore, Hàn Quốc giờ được xem là một trong bốn con rồng kinh tế của châu Á. Đây là quốc gia châu Á thứ hai trong lịch sử có nền kinh tế đạt tới ngưỡng phát triển, chỉ sau Nhật Bản.

Phát triển chóng mặt

Sau Chiến tranh Triền Tiên 1950-1953, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người vỏn vẹn 64 USD/năm. Đến thập niên 1960, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ tương đương các nước nghèo tại châu Phi và châu Á.

Năm 1963, tướng Park Chung Hee trở thành tổng thống Hàn Quốc. Dưới thời của ông, toàn bộ đất nước từ đống tro tàn của Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu quá trình tăng trưởng mạnh mẽ và liên tục nhờ các chính sách đẩy mạnh xuất khẩu, tái cấu trúc nền kinh tế, phát triển ngành công nghiệp nặng và hiện đại hóa nhanh chóng.

Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee có đóng góp lớn vào "kỳ tích sông Hán" của nước này. Ảnh: Getty Images.

Cùng với đó là nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học - công nghệ lớn ra đời, chất lượng giáo dục được cải thiện toàn diện, mức sống 52 triệu dân được nâng cao, những tòa nhà chọc trời, đường cao tốc nối liền các thành phố lớn mọc lên hàng loạt.

Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của Hàn Quốc trong vòng 40 năm kể từ năm 1961 đến năm 2000 là 7,83%. Chỉ số này từng chạm ngưỡng kỷ lục 14,83% vào năm 1973, 14,54% năm 1969 và 13,12% năm 1976.

WB cho biết GDP Hàn Quốc năm 1960 chỉ vỏn vẹn 3,957 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 1985, GDP quốc gia này lần đầu vượt ngưỡng 100 tỷ USD và tiếp tục đà tăng mạnh mẽ. 21 năm sau, GDP Hàn Quốc vượt mốc 1.000 tỷ USD và đạt 1.619 tỷ USD vào năm 2018.

Từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, nền kinh tế Hàn Quốc hiện đứng thứ 21 trên tổng số 205 nước trên thế giới với tổng thu nhập bình quân đầu người đạt 30.000 USD, đứng thứ 30 toàn cầu.

Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hàn Quốc từ năm 1960 đến năm 2018. Ảnh: Ngân hàng Thế giới.

Với chiến lược đẩy mạnh sản xuất hàng hóa xuất khẩu, bao gồm tận dụng tối đa nguồn lao động giá rẻ, duy trì lãi suất cao và các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc tăng từ 32 triệu USD vào năm 1960 lên 10 tỷ USD năm 1977. Năm 2016, tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của nước này chạm ngưỡng 494 tỷ USD.

“Hàn Quốc vươn lên từ nước chủ yếu nhận viện trợ từ nước ngoài thành nước phát triển chỉ trong vài chục năm. Chìa khóa thành công của quốc gia này là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhưng vẫn thận trọng với các nhà đầu tư quốc tế”, ông Emanuel Pastreich - Chủ tịch Viện châu Á tại Washington (Mỹ), ứng cử viên độc lập trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2020 - nói với Zing.

Tự cung khoa học

Theo ông Emanuel, Hàn Quốc chỉ mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đảm bảo rằng khoản đầu tư phù hợp với mục tiêu tự cung khoa học của quốc gia này. Vào đầu những năm 1960, các chính sách mở cửa nền kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp Hàn Quốc bật lên từ tro tàn chiến tranh, nhất là với nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, tỷ lệ tiết kiệm thấp và thị trường nội địa nhỏ bé.

Dòng FDI được hỗ trợ tích cực nhằm bù đắp tình trạng thiếu hụt tiền tiết kiệm trong nước. Song song với đó, những tập đoàn gia đình trong nước như Hyundai, Samsung và LG nhận được các ưu đãi lớn từ chính phủ Hàn Quốc như giảm thuế, cho vay giá rẻ và cho phép đẩy mạnh khai thác.

Thông qua mô hình công nghiệp hóa xuất khẩu này, chính phủ Hàn Quốc khuyến khích các tập đoàn phát triển công nghệ mới và nâng cao hiệu quả sản xuất để cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Các tập đoàn gia đình trong nước như Hyundai, Samsung và LG được chính phủ hỗ trợ tích cực để cạnh tranh toàn cầu. Ảnh: Reuters.

Ngành công nghiệp thép và đóng tàu đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn này. Năm 1973, chính phủ Hàn Quốc công bố kế hoạch phát triển ngành công nghệ hóa chất và ngành công nghiệp nặng bao gồm công nghệ đóng tàu, kỹ nghệ ôtô, máy phát điện, máy móc hạng nặng và máy móc diesel.

Cũng trong năm này, tốc độ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc chạm ngưỡng kỷ lục 14,83% và duy trì ở ngưỡng cao vào những năm tiếp theo.

Trên Tạp chí Nghiên cứu Hệ thống thế giới, chuyên gia Kyoung-ho Shin và Paul S. Ciccantell nhận định các ngành công nghiệp nặng như sản xuất ôtô và tàu thủy đã thống trị nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm 1980.

Ứng dụng công nghệ

Kể từ năm 1990, các nhà sản xuất Hàn Quốc bắt đầu lên kế hoạch đổi mới sản xuất công nghệ cao. Tháng 6/1989, một hội đồng bao gồm các quan chức chính phủ, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp cùng nhau lập kế hoạch sản xuất đối với các sản phẩm trong mảng vật liệu mới, kỹ thuật điện tử, điện tử, hóa học, hàng không vũ trụ và cơ điện tử, bao gồm robot công nghiệp.

Cùng với các mặt hàng thuộc lĩnh vực dệt may, tàu thủy, ôtô và thép, sản phẩm điện tử trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Hàn Quốc vào giai đoạn này.

Hàn Quốc cũng là một trong số ít quốc gia phát triển tránh được suy thoái kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Cuộc khủng hoảng khiến tốc độ tăng trưởng GDP của quốc gia này lao dốc xuống 0,2% vào năm 2009. Nhưng chỉ vỏn vẹn một năm sau, GDP Hàn Quốc đã bật tăng 6,2% với sản lượng kinh tế chính là hàng công nghệ xuất khẩu.

Theo giáo sư Layne Hartsell tại Viện châu Á, các yếu tố như đầu tư quốc tế, phát triển công nghệ, lực lượng lao động trong nước và hệ thống chính sách xã hội là chìa khóa giúp một nền kinh tế bật lên vị thế hàng đầu.

Hàn Quốc tăng trưởng chóng mặt sau nửa thế kỷ. Ảnh: Reuters.

Bình luận về công cuộc công nghệ hóa của Hàn Quốc và Trung Quốc, giáo sư Layne cho biết họ đã “đưa các chuyên gia và người lao động trẻ tuổi sang nước ngoài để học hỏi kiến thức về công nghệ và kỹ thuật, đồng thời mang nhiều phương pháp sản xuất về nước và gia tăng khả năng đổi mới”.

Trả lời Zing về triển vọng của Việt Nam, ông chia sẻ: "Chẳng hạn, Việt Nam đã gửi các sinh viên đến Hàn Quốc để nghiên cứu về chất bán dẫn. Những sinh viên này sau đó trở lại giảng dạy hoặc nghiên cứu nhằm gia tăng kiến thức và kỹ năng sản xuất tại Việt Nam".

"Tôi từng có cơ hội dạy và làm việc với một vài người trong số họ ở Viện Tiên tiến Sungkyunkwan tại Hàn Quốc. Những bước phát triển như vậy sẽ dẫn đến các phát minh và đổi mới. Tôi hy vọng Việt Nam sẽ đẩy mạnh nội địa hóa, từ đó xây dựng mạng lưới sản xuất rộng lớn với nguồn mở và ứng dụng kỹ thuật số", giáo sư Layne nói thêm.

Thảo Cao (Zing-05.09.2020)

Những điều làm cụ Phan Chu Trinh phải trăn trở vì nước nhà

 Diễn văn của cụ Phan Chu Trinh năm 1925 tại SG, sau khi Pháp thấy cụ gần chết vì lao phổi nên đưa cụ từ Pháp về Sài Gòn (để chết). Đến lúc gần chết cụ vẫn đau đáu về tương lai của Việt Nam. 

Thưa các anh em, chị em, đồng bào ! 

Từ khi tôi biết cái học mới đến bây giờ, thì trong trí tôi bực tức, ngẫm nghĩ lấy làm lạ quá. Lạ vì trong xứ Á Đông này có bốn nước đồng văn, mà đều sùng bái cái chính thể quân chủ, đều sùng thượng Nho Giáo. Vậy làm sao mà từ hồi cái văn minh bên Châu Âu tràn sang cõi Á Đông đến nay thì chỉ có người Nhật Bản bỏ ngay cái học cũ mà theo lối mới, thì sự giàu mạnh trông thấy liền trước mắt, chừng trong bốn năm mươi năm mà đã sánh vai với liệt cường? Còn nước Xiêm [Thái Lan] ở gần bên ta, thì nó chẳng có đạo Nho gì hết, nó chỉ có đạo Phật mà thôi, mà nay nó cũng đứng vào hàng Vạn quốc bình đẳng. Tại làm sao mà được như thế? 

Chẳng có sự gì thế, hễ người Anh lại nó cũng cho vào, người Pháp lại nó cũng cho vào, người Mỹ, người Đức lại nó cũng đãi tử tế, để nó theo học cái hay của mấy nước đó. Chỉ chừa ra có ba nước là nước Tàu, nước Cao Ly [Triều Tiên] và nước ta, dân thì nghèo, nước thì yếu, cái phần người dốt nát thì chiếm đến 80%. Còn gọi là thượng lưu, chẳng qua là trong bọn “bát cổ” đã chiếm hai phần ba trong nước; thật chẳng biết biết cái Nho Học là gì, mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh mới là mọi rợ! (đây tôi nói Cao Ly và Tàu, còn Việt Nam ta để tôi nói lại sau). 

Nhưng mà nay cái phong trào trong thế giới nó mãnh liệt lắm: ai thuận theo nó mà đi thì thuận buồm xuôi gió, ai không thuận theo nó thì cũng bị xô đẩy mà đổ lướt đi như cỏ rác. 

Vậy cho nên bọn thiếu niên Cao ly họ đã tỉnh dậy, mới có cái hồi vận động năm 1919, làm cho Nhật Bản phải bỏ lòng hổ lang đi, mà trả cái tự do lại cho họ; nước Tàu thì có sự vận động bọn thanh niên năm 1925, làm cho liệt cường thể nào cũng phải lấy sự công bình mà đối xử lại với họ. 

Khốn nạn thay cho cái dân tộc nước Việt Nam ta, đến bây giờ trong dân tộc mà gọi là các ông Nho học tức là các ông có học được ít chữ Tàu, mà nhất là các ông đã đậu được Cử Nhân Tiến Sĩ; các ông đó tôi dám chắc rằng không hiểu Nho Giáo là gì hết; vậy mà mở miệng ra là cứ đem Nho Giáo ra để làm chỗ dựa,để bài bát cái văn minh kim thời, tức là cái văn minh mà các ông tuyệt nhiên không hiểu được một chút nào cả. 

Còn nói về các anh thiếu niên tân học, trừ ra có đôi anh tự cái sức thông minh của mình mà tìm kiếm ra thấy được nhiều ít, kỳ dư thì chỉ theo cách học cũ; mong kiếm lấy cái chức phẩm gì, hay là coi cho rộng để viết lách khoe khoang mà thôi. Không có ông nào chịu đem cái sự học của Âu Tây để so sánh lại với cái cũ của ta, xem điều gì hay, điều gì dở cho người ta xét đoán mà tìm lấy đường tiến tới về sau này. 

* * * 

Tôi xin lỗi các anh chị em đồng bào, cái đề mà tôi lựa diễn thuyết bữa nay, Quân Trị Chủ Nghĩa (tức nhân trị chủ nghĩa), Dân Trị Chủ Nghĩa (tức là pháp trị chủ nghĩa), cái đề mục đó thật là lớn lao quá, không phải là sức tôi có giải quyết ra cho minh bạch được. Muốn giải quyết ra cho minh bạch thì phải tìm về Âu Á lịch sử chính học và chính trị triết học, mới có thể nói ra cho tinh tường được. 

Các anh em chị em có lạ gì tôi: cái học về đường lịch sử chính trị Tàu thì tôi cũng hiểu được ít nhiều, còn về đường Tây học thì thật là kém lắm. Nhưng mà tôi cũng ráng hết sức, đem cái việc mà tôi đã biết xin nói ra cho anh em nghe, còn cái việc gì cao xa không thấu, thì để phần ông nào hiểu hơn tôi diễn giải ra cho anh chị em rõ. 

NÓI VỀ CÁI LỊCH SỬ QUÂN TRỊ CHỦ NGHĨA 

Cuộc quân chủ đến ngày nay thì cũng như một cái hoa tàn lá héo phất phơ trong đời bây giờ. 

Xem như trong một cõi Á Đông này, không kể những ông vua mất nước rồi mà những nước mạnh họ chỉ để làm con nộm, con bồ nhìn để đè dân bổn xứ, thì chỉ có Vua Xiêm và Vua Nhật đủ quyền phép đáng xưng là Ông Vua mà thôi. Âu Châu bây giờ dân chủ đã đến 14 nước mà quân chủ chỉ xót lại có 12 nước. Còn bên Mỹ Châu thì chẳng có một nước nào quân chủ. Vậy thì ta có thể nói rằng: trong trái đất này chỉ có 8.000 triệu người, mà số dân có vua thì không được một phần trong số mười. 

Vẻ vang thay cái oai quyền dân chủ! Gớm ghê thay cái dục vọng của quân chủ! Đang hồi Thượng cổ, Trung cổ, dân chúng còn hèn yếu ngu dốt, cho nên bất câu loài dân nào cũng phải có cái quyền quân chủ để bao bọc cho dân, dạy dỗ cho dân, che chở cho dân; đang cái thời đó thì quân chủ thật là một vị thuốc hay cho loài người hồi đó. 

Khốn nạn thay cái tính loài người; thấy người ta tôn trọng mình bao nhiêu thì mình lại thêm kiêu hãnh bấy nhiêu; thấy người ta kính nể mình bao nhiêu thì mình lại càng tự thần tự thánh bấy nhiêu; thấy người ta chiều chuộng mình thì mình lại muốn ngồi lên đầu người ta! Không những thế lại muốn truyền cho con cháu từ đời này qua đời khác, như cái gia tài riêng của mình. Đất muốn cho ai thì cho như là bán ruộng, còn dân thì làm như bọn mọi vậy. 

Ta thử xem từ xưa đến nay, bất cứ vua nào, hễ cướp được nước lên làm vua thì tìm đủ cách để truyền cho con cháu cho lâu dài, mà rốt cuộc lại họ nào lâu lắm là ba trăm năm, còn mấy họ vắn thì năm mười năm thôi. Cái cuộc đó thì ở Á ở Âu gì cũng như thế cả. Nhưng mà ở Âu Châu thì đến thế kỷ mười bảy, mười tám, các bậc hiền triết ra xướng lên cái chủ nghĩa dân quyền. Mấy ông vua nào hung dữ chuyên chế, phản đối lại cái phong trào dân chủ thì bị nhào cả; còn anh nào điều hòa với dân thì còn ngoắc ngoải đến bây giờ. 

Về cái vấn đề này thì tôi cốt chỉ cho rõ cái quân trị chủ nghĩa bên Á Đông này thật không phải là gốc tự Nho Giáo. Tôi xin chỉ vẽ rõ ràng cái tư tưởng sai lầm từ xưa đến nay cho anh chị em đều hiểu. 

Cứ theo các ông triết học Âu Châu bàn về lịch sử nhân loại: kể từ loài người mới sinh, rồi làm sao mà có tù trưởng, làm sao rồi thành vua thành chúa; cứ nói như thế thì mất hết thì giờ, mà các Ngài nghe cũng vô ích. Vậy nên tôi cứ sử Tàu mà cắt nghĩa để các Ngài dễ hiểu hơn. 

Tàu thì tôi cứ nói từ vua Hoàng Đế là một ông vua mạnh nhất ở nước Tàu. Từ ở núi Côn Lôn (phía Tây nước Tàu) tràn xuống phía Bắc Tàu, rồi đánh với dân bản xứ Tàu là dân Hữu Miêu ở miền Dương Tử Giang, giết được tướng nó là Xuy Vưu; ông ta thật là một ông vua lớn của nước Tàu. Nhưng vậy mà đến khi ông Khổng Tử làm sách, Ngài không muốn để tên ông Hoàng Đế đầu, vì ông thấy thượng binh thượng võ lắm. Ngài chỉ chép từ vua Nghiêu vua thuấn mà thôi. Vì hai ông vua ấy không có lòng gì muốn làm vua hết, chỉ bị các nước chư hầu bắt buộc, họ bầu cử lên mà thôi, cũng nối nghiệp ông Hoàng Đế đi đánh Hữu Miêu, nhưng trong một tháng không được thì rút binh về để lo sửa việc học hành, dạy dỗ dân mà thôi. 

Đời đó thì bày ra những là dạy dân có ngũ luân, làm ra lịch có ngày tháng thì giờ, cho tiện người làm ruộng, đặt ra cân ra thước, ra lường để cho tiện dân buôn bán, bày ra có áo xiêm, có lễ phục v.v… còn nhiều nữa tôi không có kể ra đây cho hết được. Đây các Ngài nghe cho rõ: cái dân tộc Á Đông mà có Nho Giáo ra là từ hai ông. Nên ông Khổng xưng là “tổ thuật Nghiêu Thuấn”. Thầy Mạnh nói cũng chỉ khuyên Nghiêu Thuấn. Mà bây giờ ở nước ta những ông có học được một hai chữ Tàu, hễ mở miệng ra là nói đạo Nho cũng vì cái lịch sử lờ mờ đó. 

Đây tôi xin nhắc lại cái đời Nghiêu Thuấn, lúc đó thế nào? Cái đời đó vua Nghiêu vua Thuấn chẳng qua là một anh thủ lĩnh của đám tù trưởng ở trong dân tộc Trung Hoa hồi đó mà thôi. 

Cứ theo cái dấu tích lịch sử mà suy, thì lúc đó chư hầu nước Tàu có ít cũng là đến mười lăm ngàn nước; về sau trong hai trăm năm rồi vua Võ hội chư hầu ở Đồ Sơn còn lại một vạn nước, tính theo số đó, thời đó thì không sai sút mấy. Vậy thì cái nghi vệ và cái quyền lợi của Thiên Tử hồi đó ra thế nào? Thiên Tử cũng ở trong một nước nhỏ như các nước chư hầu vậy thôi, chỉ có lập ra triều nghi để cho các chư hầu triều cống. Cái quyền to nhất là cái quyền được tế trời đất, còn chư hầu chỉ được tế những núi những sông ở xứ mình mà thôi. Thiên Tử có đi xem xét ở các nước chư hầu thì chư hầu phải đón rước, Thiên Tử được cử lên làm quan, có tội thì phạt, có công thì cũng được phong làm chư hầu. 

Vậy thì nói lược qua đó, anh em chị em đủ biết ông Thiên Tử cũng như ông Tổng Lý Hội Vạn Quốc đời nay. Chỉ có được lễ triều cống, được cầm quyền chinh phạt, là theo cái số nhiều chư hầu mà phạt nước này mà thưởng nước kia. 

Thương hại thay các ông học chữ Tàu, nghe nói cái tên Nghiêu Thuấn thì các ông tưởng là nhà Ngũ Phụng Lâu, cỡi xe lục long xa, tưởng là cũng ra vào hò hét như các vua ta bây giờ. Nhưng mà ai có độc địa dư hay là có đi du lịch đến chốn Bình Dương Bồ Bản, thì mới biết rằng cái kinh đô của hai Ngài bằng hai cái thành con bây giờ, nghĩa là không đầy hai ba dặm vuông. 

Từ đó vua Võ nối vua Thuấn, truyền ngôi cho con trị những nước chư hầu lớn mà cứng đầu nhất, nghĩa là nó muốn giành ngôi Thiên Tử: như là đời ông Võ thì giết ông Phòng Phong, đời ông Khải thì giết Hữu Hộ, đời ông Thiếu Khang thì giết Hậu Nghệ ở nước Hữu Cùng. Ấy tôi tạm đặt đó là cái thời kỳ thứ hai của Thiên Tử. 

Từ đó về sau đến 400 năm, đến đời ông Kiệt. Ông Kiệt thì tôi không cần nói những cái lỗi của ông ấy ra, các Ngài cũng đã hiểu rồi. Đến khi đó thì các nước chư hầu nhỏ nhất làm đầu, mà đánh đuổi ông Kiệt đi, rồi thay vào ngôi Thiên Tử. Cái việc đã mấy nghìn năm rồi, có thật hay không, không biết, nhưng mà tôi cũng thuật lại cho mà nghe. Khi ông Thang đã được chư hầu cử lên làm Thiên Tử, thì ông cáo với dân và các nước chư hầu rằng: “Ông lấy cái sự đuổi vua Kiệt đó làm thẹn, nhưng vì ông muốn cứu dân nên phải ra làm”. Tuy ông nói thế nhưng chư hàu vẫn cứ tôn ông lên ngôi Thiên Tử. Ấy là cái oai quyền Thiên Tử tấn tới về nước thứ ba. 

Từ đó con cháu ông đến sáu bảy vua giỏi nối nhau làm vua, truyền đến 600 trăm năm. Đến đời ông Trụ, dân không phục nữa mới mất nước. Hồi ấy dân ông Trụ ba phần thì đã hai phần phục theo ông Văn Vương rồi, thế mà ông Văn Vương cũng không chịu đuổi Trụ, đến đời con ông Văn Vương là ông Võ Vương mới giết ông Trụ mà lên làm vua. Đến hồi đó thì trong sự đánh dẹp, thấy luyện tập cũng đã ghê lắm rồi, thấy quân lệnh cũng nghiêm trang, binh giáp cũng dữ dội, cũng lấy giết người chảy máu làm nhiều danh giá, giết được tướng giặc thì cũng chặt đầu bêu lên, cũng đã làm cách dã man như lối bây giờ vậy. Cho nên ông Khổng Tử khen ông Văn Vương là chí đức, chê ông Võ Vương là vị tận thiện là thế. 

Từ ông Võ đến đây là hơn một nghìn năm, ông tức là vua đầu nhà Hạ. Khi ông lên làm vua thì dưới quyền ông còn hơn một vạn nước; đến hồi vua Thang nhà Thương đuổi vua Kiệt, thì còn mấy nước chư hầu sử không thấy nói. Đến đời ông Võ Vương nhà Chu đánh ông Trụ thì thấy chư hầu không hẹn mà tới hội được 800 nước. Vậy thì trong độ một nghìn năm mà tuyệt mất hơn 9000 nước . Đời ông Võ Vương nhà Chu thì oai quyền lắm, nên có thể nói rằng đến đời này thì cái oai quyền Thiên Tử tấn tới bước thứ tư. 

Bây giờ tôi xin nói tóm lại: Khổng, Mạnh, và Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Võ tức là những ông đã làm ra cái gương để cho các vua đời sau gọi là Nho Giáo đó. Ta phải xem xét cái thời thế phong tục của các vua đời sau so lại với Nho Giáo thì có giống chút nào không? 

Từ sau Võ Vương giết vua Trụ, dân đã không phục, duy có đời vua Văn, vua Võ, vua Thành, vua Khang thì dân phục mà chư hầu cũng phục. Đến đời vua U vua Lệ thì dân nó nổi lên giết các vua ấy, rồi ngôi Thiên Tử của nhà Chu từ đó mà mất theo. Một đoạn lịch sử tốt đẹp như Tàu từ Nghiêu Thuấn cho đến Văn, Võ, thật như là cái khí mùa xuân, như là cái ánh sáng mặt trời êm ái, ai thấy không khen ngợi. Ai thấy mà không ước ao. Vậy cho nên Đức Khổng, Thầy Mạnh nhân đó mà lập ra cái đạo để bình trị thiên hạ thì cũng phải lắm. 

Lạ thay cho đến đời Xuân Thu là nữa đời Chu thì năm nước Bá ra, chẳng cần gì đạo đức nhân nghĩa như trước cả, chỉ lấy cái giả dối thay nhau, còn Thiên Tử chỉ để lấy cái huy hiệu mà thôi. Từ lúc đó thì còn được 300 nước; hơn một trăm năm nữa rồi chỉ còn bảy nước; không đầy một trăm năm nửa thì rút cuộc lại thống nhất về nhà Tần.

copy từ FB-Góc nhìn

VIÊN ĐÁ CẢN ĐƯỜNG

 Nguyễn Hoàng Linh: “Lịch sử Đức là một lịch sử tan vỡ - với trách nhiệm đối với hàng triệu vụ sát nhân và hàng triệu nỗi thống khổ. Điều này làm tan nát cõi lòng chúng ta cho đến ngày hôm nay. Cho nên, người ta chỉ yêu đất nước này với cõi lòng tan nát” là phát biểu của Tổng thống CHLB Đức Frank-Walter Steinmeier trước Đài Tưởng niệm Nạn nhân Chiến tranh và Chế độ Độc tài, Berlin ngày 8/5/2020.

8/5 là Ngày Chiến thắng phát-xít Đức, nhưng đồng thời cũng là một ngày được gọi bằng nhiều thứ tên trong lịch sử nước Đức hiện đại, tùy theo nhãn quan và góc nhìn của mỗi người đã trải qua biến cố đó. Một điều chắc chắn, Đức là một trong những nước lưu giữ ký ức của quá khứ và lịch sử tốt nhất trên thế giới, và không ngại đối mặt với những nét đen tối và tủi nhục của quá khứ.

Bằng cách ấy, từ đống tro tàn của Đệ nhị Thế chiến và kinh qua bao biến cố của Chiến tranh lạnh sau đó, nước Đức đã thực sự hồi sinh, trở thành “anh cả” của Châu Âu, và thường là có cách hành xử mẫu mực trong những vấn đề chính trị mang tính đạo đức và dễ gây tranh cãi, trên địa hạt quyền con người, như trong hồ sơ tỵ nạn và nhập cư dăm năm trở lại đây, và khiến thế giới kính nể.

Tầm quan trọng của việc gìn giữ ký ức, bảo lưu lịch sử để rọi sáng cho những vấn đề hiện tại và tương lai, điều mà nước Đức đã làm một cách hết sức xuất sắc, có thể là điểm tựa, tham khảo và học tập cho Việt Nam, một đất nước có nhiều điểm chung với Đức trong những vấn đề quá khứ, dầu con đường mà hai quốc gia lựa chọn hoàn toàn khác nhau? Bài viết của Nguyên Hà từ Berlin.

Các bạn đọc bài ở đây