Thursday, December 9, 2021

Truyền thông và Tuyên truyền (3)

 Truyền thông thổ tả (3)

(tiếp theo)

Đang định viết tiếp về vai trò của mạng xã hội đối với truyền thông thì hôm nay có một chuyện thú vị lên báo.

Ở Đức có hai kênh TV công cộng phát toàn quốc, chương trình 1 (ARD) và chương trình 2 (ZDF). ARD không phải là đài truyền hình nào cả, mà là tập hợp của tất cả các đài truyền hình địa phương . Tập hợp này gồm 9 đài cho 16 bang, vì có những đài chung cho 3 bang (NDR) hoặc cho 4 bang (MDR) . Các đài địa phương này cũng là đài công cộng, không phụ thuộc vào chính quyền bang. Chúng chịu trách nhiệm phát kênh 3 là kênh địa phương và hàng ngày phải đóng góp chương trình cho ARD để phát chung trong toàn quốc. 

Vì thế ARD không có trụ sở ở đâu cả. Chủ tịch ARD thì do 9 ông tổng giám đốc các đài kia thay nhau làm từng nhiệm kỳ. Chương trình hàng ngày của ARD lúc thì phát từ Hamburg, lúc sau chuyển sang studio Berlin, rồi Munich, Cologne v.v. Đây là cách để nước Đức tạo thành thế liên bang ngay cả trên truyền hình. 

Liên bang là cách chống tập trung quyền lực trên mọi hoạt động xã hội của Đức ngay từ năm 1949. Thế là toàn quốc được xem chương trình 1 ARD và tại các bang có thêm chương trình địa phương.

Đến năm 1963 người ta thấy phải thêm chương trình 2 để cạnh tranh với chương trình 1. Thế là kênh 2 lấy tên ZDF (Zweites Deutsches Fernsehen = Truyền hình 2 của Đức) ra đời. Lúc này thì không chơi kiểu phát sóng phân tán được nữa, vì mạng truyền viba cho ARD đã quá tải. Trung tâm truyền hình ZDF được xây tại thành phố Mainz, là đài truyền hình to và đẹp nhất nước Đức.

Tôi có hân hạnh làm việc với ZDF từ năm 1990, khi còn làm ở VTV, nên khá gắn bó với đài này. Trong số các gương mặt trên sóng ZDF tôi khoái nhất Steffen Seibert. Anh là bình luận viên chính trị, đẹp trai như tượng, thông minh nhưng điềm đạm. Khi nghe anh bình về chính trị không ai đoán ra anh thiên tả hay thiên hữu. Năm 2009, khi nói về kết quả bầu cử, đã có người hỏi: Anh thích đảng nào? 

Seibert nói luôn: Tôi có chính kiến rõ ràng, nhưng là người nhà đài, tôi không được phép nói ra. Vì khi biết như vậy khán giả bỗng dưng sẽ có cảm giác là tôi không còn trung lập nữa!

Steffen Seibert, nhà báo, bình luận viên chính trị của đài ZDF

Năm 2010, Seibert xin thôi ở ZDF, sang làm người phát ngôn cho bà Merkel. Lúc bấy giờ tôi mới biết anh ta là người của đảng CDU (trung hữu). Tôi phục anh ta sát đất, vì xưa nay không thấy „hương vị hữu“ ở anh. 

Đài ZDF cũng ngỡ ngàng và rất tiếc. Họ thanh lý hợp đồng lao động với Seibert, ghi thêm điều khoản cho phép anh quay lại ZDF bất cứ lúc nào. Chẳng ai biết bà Merkel cầm quyền được bao lâu, mà người như anh thì hiếm.

Từ đó đến nay, anh luôn xuất hiện bên cạnh bà Merkel như một trợ lý thân cận. Trong nhiều cuộc họp quan trọng với những đối thủ cộm cán, bà Merkel chỉ kéo Seibert đi cùng. Seibert vừa là cánh tay trái, vừa là bộ nhớ của bà. (Cánh tay phải là bộ trưởng phủ thủ tướng, nhưng cóc phải bộ nhớ). Từ một nhà báo, anh đã vươn lên tầm một bộ trưởng.

Steffen Seibert, người phát ngôn chính phủ, cánh tay trái của bà Merkel

Seibert luôn có mặt bên cạnh bà Merkel với mọi văn bản, hồ sơ cần thiết

Từ hôm bà Merkel chuẩn bị về hưu đến nay, người ta đồn đoán rằng Seibert lại quay về đài ZDF, nhưng với cương vị cao hơn. Bản thanh lý hợp đồng năm 2010 với điều khoản cho anh quay lại ZDF được nhiều báo moi ra. Ai cũng khoái việc này, vì một người nắm giữ nhiều thông tin cơ mật như Seibert mà quay lại làm báo thì tuyệt cú mèo.

Đến hôm nay thì mọi việc đã rõ ràng. Đài ZDF chính thức cho biết: „Một nhà báo có thể chuyển sang làm việc cho chính phủ hay đảng phái. Nhưng khi đã dính sâu vào nền chính trị và gắn bó với một đảng như ở cương vị của Seibert thì việc quay lại làm việc cho một đài công cộng sẽ làm mất tính trung lập của nhà đài“ [1]

Đã có trường hợp ông Michael Speng, thủ lĩnh của báo „Bild“ ra làm cố vấn cho ông Stoiber trong liên minh bảo thủ CDU/CSU. Sau khi ông Stoiber thua cử, ông Speng lại quay về làm cho các báo tư nhân mà không ai kêu ca gì cả, vì báo tư nhân có quyền ủng hộ bất cứ đảng phái nào. Các chính khách cũng có thể thông qua quan hệ với các ông chủ truyền thông để tạo ảnh hưởng lên báo tư nhân.

Nhưng đối với truyền hình công cộng thì điều đó là cấm kỵ. Tôi còn nhớ vụ scandal „Hans Michael Strepp“.

Trong đợt tranh cử bang Bayern năm 2012, ông Strepp lúc đó phụ trách báo chí của đảng CSU cầm quyền ở Bayern, đã nhiều lần gọi đến ZDF để cản đài không đưa tin nhiều về đại hội đảng SPD đang diễn ra. SPD là đối thủ của CSU ở cả liên bang và bang Bayern. Strepp nhiều lần đe dọa ban biên tập thời sự ZDF về những hậu quả nào đó. Nhà đài cáu quá đưa chuyện này lên sóng. Dư luận chửi ầm ỹ và vài hôm sau Strepp mất chức [2]

Loại như Strepp mất chức là đáng. Nhưng tôi lại tiếc hùi hụi về việc anh bạn đẹp trai Seibert không lên sóng được nữa.   🙂 

(Còn tiếp)

---

Wednesday, December 8, 2021

Về vấn đề giáo viên

 Ngày 8/12/2021

KÍNH GỬI BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO 

Thưa Bộ Trưởng NGUYỄN KIM SƠN,

Tôi là Mạc Văn Trang, nhà giáo, 84 tuổi. Tôi đi dạy học từ lúc 22 tuổi, rồi sau này vừa học, vừa nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn Nghiên cứu sinh cho đến 80 tuổi. Cả một đời yêu nghề, gắn bó với giáo dục. Giờ đây vẫn rất trăn trở với nhiều chuyện của Ngành ta. Trong Thư này, tôi chỉ xin thưa với Bộ trưởng về vấn đề GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG.

1. Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục

Ngày xưa, các ông Đồ, các Thầy dạy tư có khi chả biết Bộ giáo dục là gì, tự họ dạy học trò nên người, người dân tin tưởng gửi con đến nhờ các Thầy dạy dỗ. Thời phong kiến, thực dân, thời Việt Nam Cộng hòa, người Thầy giáo vừa được trọng vọng vừa có lương bổng nuôi sống cả vợ con.

Thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ 1954 đến 1960, các giáo viên “Lưu dung" từ chế độ cũ vẫn được trọng dụng, hưởng nguyên lương như trước, cao gấp 2 - 3 lần giáo viên “cách mạng". Từ năm 1961 tiến lên CNXH, rồi sau đó chiến tranh, đời sống dân miền Bắc vô cùng khó khăn, nhưng nền giáo dục XHCN cùng với Y tế luôn được coi là “Hai Bông hoa” đáng tự hào của chế độ. 

Tất cả những giai đoạn nêu trên, Nhà trường và Thầy giáo luôn có vị trí được xã hội tôn kính. Chính quyền, nhất là cấp Xã/ Phường không có chuyện can thiệp thô bạo vào nhà trường hay vô lễ với các Thầy, Cô giáo.

Từ những năm 1961 - 1962 tôi làm Hiệu trưởng trường cấp 2; lúc đó không có chuyện Chủ tịch, Bí thư xã đến “huấn thị" cho nhà trường. Họ lên phát biểu chỉ cảm ơn các Thầy, Cô và mong các Thầy, Cô thông cảm, địa phương còn nhiều khó khăn, chưa chăm sóc được cho nhà trường đầy đủ… Khi một giáo viên có chuyện gì, Công an báo cáo với Hiệu trưởng để xem xét giải quyết và thông báo cho họ…

Các giáo viên dù được đào tạo Chính quy hay Hàm thụ, khi đã tốt nghiệp đi dạy, không ai phân biệt, và như vậy đã ĐỦ ĐIỀU KIỆN để làm giáo viên. Việc đánh giá giáo viên chỉ có học sinh, đồng nghiệp, cha mẹ học sinh đánh giá là chính xác; cho nên mỗi giáo viên không ngừng TỰ học hỏi, trau dồi nghề nghiệp để mình xứng đáng làm Thầy, để có uy tín…

Càng yêu cầu cao với người giáo viên thì càng phải tôn trọng họ cao hơn và tạo điều kiện để họ sống đàng hoàng, xứng đáng với vị trí người Thầy…

Phải biết trân trọng lao động của Giáo viên và tôn trọng Nhân cách người Thầy, vì họ là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục.

Khi các cơ quan quản lý phình to, quan liêu, hống hách, còn vị trí Nhà trường và người giáo viên nhỏ bé đi thì hỏng rồi! Nên nhớ từ những năm 1960 người giáo viên “có giá" lắm, “coi thường" các cơ quan quản lý, không giáo viên giỏi nào chịu về các cơ quan quản lý, vì bị “mất dạy"! Lúc đó anh em giáo viên bông đùa: “Ho lao thối phổi về Ty/ Tham ô, hủ hoá thì đi về Phòng/ Những người già lão có công/ Thì đưa về Bộ cho xong cuộc đời”! Người giáo viên đàng hoàng, tự tin lắm, không phải xun xoe, khúm núm trước các cơ quan quản lý.

Hãy hình dung Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục “tự nhiên biến mất", nhưng nhà trường còn, giáo viên còn, thì mọi hoạt động giáo dục vẫn diễn ra như thường!

Vậy thì Bộ, Sở, Phòng giáo dục sinh ra để làm gì? Để phục vụ giáo viên thực hiện tốt nhất sứ mệnh thiêng liêng của mình. Cục Nhà giáo sinh ra là để chăm lo cho các Nhà giáo lao động nhẹ nhàng hơn mà hiệu quả hơn; Chế độ, chính sách lương bổng, đời sống giáo viên ngày càng cải thiện, sung sướng hơn, để nhà giáo thêm yên tâm cống hiến…

2. Vậy mà các cơ quan quản lý giáo dục đang làm khổ giáo viên đủ trò

Bao lâu nay bày trò “Thi giáo viên dạy giỏi” cấp trường, cấp huyện/quận, cấp tỉnh...rồi “Thi đua" đủ mọi thứ; bình bầu, đánh giá giáo viên theo bao nhiêu tiêu chí, khiến hoạt động giảng dạy của giáo viên bị rối nhiễu; người thầy giáo phân tán tâm trí, hao phí thời gian, sức lực vào những chuyện vô bổ, thậm chí gian dối... Những hoạt động đó thường gây không khí căng thẳng, tiêu cực trong môi trường sư phạm của nhà trường. 

Nghe nói nhiều Phòng giáo dục, nhiều Hiệu trưởng trở thành “quan lớn" ức hiếp giáo viên, gây nhiều nỗi bức xúc cho các Thầy, Cô giáo. Nghe nói có nơi bắt các cô giáo đi “tiếp khách" hầu hạ quan chức(?). Hỏng quá!   

Đặc biệt là Bộ, rồi các Sở quy định giáo viên phải học thêm bao nhiêu chứng chỉ mới được công nhận là giáo viên chính. Đây là trò làm khổ giáo viên, làm nhục giáo viên và làm giàu cho “nhóm lợi ích” ăn tiền trên mồ hôi nước mắt của giáo viên. Tôi đã nói ở trên, người đã tốt nghiệp Trường/Khoa Sư phạm ra làm giáo viên, sau thời gian tập sự, họ đã đủ điều kiện, không cần bất cứ Chứng chỉ nào nữa. Họ thiếu, yếu cái gì thì sẽ tự bồi dưỡng tại cơ sở…

Tôi có rất nhiều bằng chứng các giáo viên cung cấp: Họ bị bắt buộc đi học một cách qua loa, để nộp tiền và nhận mấy cái Chứng chỉ về vứt xó…

Tất nhiên cần những Tiêu chuẩn Nhà giáo, ai không còn xứng đáng thì đưa ra khỏi ngành, nhưng không vì thế mà làm như “khủng bố" tất cả cả đội ngũ giáo viên!

3. Mấy kiến nghị

3.1. Đề nghị Bộ trưởng TINH GIẢN BỘ MÁY các cơ quan quản lý giáo dục; càng lắm người, họ càng nghĩ ra nhiều trò có hại: Họ soạn ra bao nhiêu văn bản sai trái, có hại; họ tổ chức nhiều cuộc họp hành vô bổ… Đặc biệt xin Bộ trưởng kiến nghị các cấp có thẩm quyền bỏ ngay các Phòng giáo dục Quận/Huyện đi! Thêm cấp quản lý này chỉ bày việc ra làm khổ giáo viên, nhiều chuyện tồi lắm, không muốn kể ra đây! Thời đại 4.0, Bộ, Sở giáo dục thông tin trực tiếp đến các trường, vừa nhanh, vừa chính xác, không cần cấp trung gian.

3.2. Bãi bỏ ngay việc bắt giáo viên HỌC CÁC CHỨNG CHỈ và CẢI TIẾN CÁCH ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN. Nên bỏ việc Thi giáo viên giỏi các cấp; không bỏ được Thi đua thì tinh giản các tiêu chuẩn càng ít càng tốt; nghiên cứu việc đánh giá giáo viên sao cho nhẹ nhàng, thực chất. Cần thấy rằng, dẫu là Chiến sĩ Thi đua, Tiên tiến xuất sắc, Tiên tiến hay Bình thường không có giá trị gì, nếu học sinh và đồng nghiệp không tín nhiệm. 

Người Thầy giáo không cần danh hiệu nào, ngoài sự kính trọng, yêu mến của học sinh và sự tin tưởng của Cha mẹ học sinh, của đồng nghiệp. Đó mới là điều người giáo viên cần tu dưỡng, rèn luyện, chứ không phải bày đặt mấy cái danh hiệu thi đua tào lao! 

3.3. Việc học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên là việc thường xuyên và hết sức quan trọng, nhưng hãy tiến hành BỒI DƯỠNG TẠI TRƯỜNG bằng hình thực trực tiếp hay trực tuyến, hoặc qua các băng hình… Tránh hết sức bắt giáo viên tập trung nghe giảng bồi dưỡng rồi "mua" Chứng chỉ!. Mỗi trường học, Tổ bộ môn là một đơn vị tự bồi dưỡng hiệu quả nhất. Qua hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mỗi giáo viên, mỗi nhà trường.

3.4. Một trong những dấu ấn của nhiệm kỳ này, mong Bộ trưởng hãy CẢI THIỆN HÌNH ẢNH và ĐỜI SỐNG CỦA NHÀ GIÁO. Như Cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên nói, nhiều giáo viên yêu thích nghề vì “được nghỉ hè ba tháng" và là “nghề Tự do"... Hãy tôn trọng lao động sư phạm có tính độc lập, tự do của người giáo viên và do đó người giáo viên càng có ý thực tự chủ vươn lên xứng đáng với trách nhiệm của mình; càng o ép, kiểm soát làm người giáo viên nhỏ bé đi, hèn mọn đi, thì sự nghiệp giáo dục càng hỏng.

Bộ trưởng hãy tìm cách cải thiện đời sống cho giáo viên, nhất là các Thầy, Cô giáo ở những vùng khó khăn. Không thể để xã hội nhìn nhà giáo tội nghiệp như những kẻ cần được bố thí! Hãy kiên quyết làm sao để giáo viên được tăng lương.

Thưa Bộ trưởng, 

Tôi tâm đắc với câu Bộ trưởng nói: “Bỏ văn mẫu", “Dạy THẬT, Học THẬT, Nhân tài THẬT", nhưng trước hết toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh phải NÓI THẬT đã!

Thư này tôi nói rất THẬT, và xin nhắc lại: Nhà giáo là trụ cột và linh hồn của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy từ Bộ trưởng đến Hiệu trưởng hãy kính trọng các Thầy, Cô giáo đang đứng lớp.

Kính Chúc Bộ trưởng Mạnh khoẻ, Hạnh phúc! 

Mạc Văn Trang

Ngụ tại Khu căn hộ Phú Mỹ Thuận, xã Phú Xuân,

huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh

Nguồn và hình minh hoạ: St từ net

Chuyện nghề (27): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Sự nghiệp và thành công ko phải là 1 con đường bằng phẳng. Có người nói rằng: nếu thấy khó khăn, vất vả nhọc nhằn mới là đáng kể, bởi đó là con đường đi lên. Tuy nhiên, nếu gọi những thách thức ở phía trước, để đến được vinh quang là những vực thẳm phải vượt qua, thì đó là những cái vực nhiều khi có thể chôn vùi tất cả mọi thứ, dù tốt đẹp đến thế nào cũng phải chấp nhận đó là 1 sự thật.

Đôi khi, trên cái dốc dẫn xuống vực thẳm có những ngã rẽ bất ngờ. Những cơ hội mỉm cười với kẻ liều lĩnh và lì lợm dường như đã kéo tất cả trở lại với niềm tin và hy vọng.

Nhưng câu chuyện tưởng chừng suôn sẻ lại ko toàn màu hồng. Những ý kiến trái ngược tưởng như ko quan trọng lại gây nên rắc rối chỉ vì đó là những phản ứng cá nhân hoàn toàn do cảm tính. Chủ nhân của căn nhà tương lai vốn ủng hộ thiết kế của kts lại muốn làm vừa lòng người khác để giữ hòa khí trong nhà. Những khó khăn trở nên lớn hơn sau khi các bản vẽ thi công đã được chấp thuận ko có nhà thầu có uy tín nào nhận thi công. Trên thực tế, về nguyên tắc thì hầu hết các nhà thầu ko ưa các kts.

Do đó, công việc xây dựng chỉ có thể do những nhà thầu ko có tiếng tăm đảm nhận. Và quá trình thi công cũng xảy ra rất nhiều vấn đề. Mỗi ngày nó lại mang đến những cuộc chiến mới từ mọi phía để chống lại những gì đã nằm trong đồ án. Thậm chí dù căn phòng ko tối nhưng người ta chỉ CẢM THẤY như thế cũng có chuyện để kts phải thức suốt nhiều đêm để xử lý/sửa đổi những cái mà anh ta ko thể tránh được.

Điều đó có nghĩa là phải mất nhiều ngày để phá bỏ các sàn nhà, cầu thang, vách ngăn... đã thi công; và những khoản phát sinh chồng chất trong các bản thống kê chi phí của nhà thầu. Được thể, nhà thầu sẽ buông ra những câu quen thuộc: "Tôi đã nói trước rồi. Đó là điều luôn xảy ra khi thuê 1 kts ngông cuồng và lạc điệu".

Nhìn căn nhà được xây như 1 thứ có tật nguyền như thế, kts của chúng ta hiểu rằng: nó đã bị mất những cái để trở nên hợp lý hơn trong 1 tổng thể chặt chẽ. Anh ta biết mình đang trong quá trình trải nghiệm những bước đi đầu tiên và nói rõ/công khai những khiếm khuyết phải khắc phục với chủ đầu tư thì câu trả lời mà anh nhận được chỉ là: "Ko phải là tôi ko đồng ý với anh. Thực ra, tôi biết anh đúng nhưng chúng tôi ko thể đủ tiền cho việc đó. Xin lỗi!".

Cuối cùng, dù căn nhà có được làm theo cách nào thì sự thật cũng bị dư luận tung búa rìu để hủy hoại và nhấn chìm nó trong 1 đống đá đầy ác ý, rằng đó là ngôi nhà bị gia chủ coi là ko thể ở được và là nhân chứng cho vấn đề của sự thiếu khả năng chuyên môn.

Hình ảnh: chọn từ net

(còn nữa)

Tuesday, December 7, 2021

Chuyện nghề (26): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Cũng có những khách hàng tính cách thẳng thừng, với những yêu cầu cụ thể, rõ ràng và khá phù hợp tuy có nhiều quan điểm trái ngược ban đầu.

Với những khách hàng như vậy, kts của chúng ta muốn trình bày rất nhiều, nhất là khi thấy đó là 1 công trình thật sự làm anh ta khao khát phải giành lấy.

Thuyết phục những người mạnh mẽ ko thích khoa trương chỉ cần nêu rõ vấn đề nằm ở chỗ loại bỏ những cái thừa thãi, vô dụng và vớ vẩn. Chỉ giữ lại những gì là quan trọng và thiết yếu. Chúng ko thể thiếu vì vốn là những thành phần như vẻ đẹp của con người, được tạo nên từ sự hợp lý và tự nhiên. Cơ thể người ko có cơ bắp nào ko phục vụ cho mục đích tồn tại của nó. Đó là 1 siêu phẩm của tự nhiên ko có sai sót, ko có đường nét nào thừa, mọi chi tiết đều phù hợp với 1 ý niệm chủ đạo - đó là ý niệm của 1 con người và sự sống của người đó.

Với nguyên lý tương tự, tại sao người ta lại ko muốn như thế với 1 ngôi nhà mà lại muốn nó trông khác với ý niệm về mục đích tồn tại của nó. Tại sao người ta muốn nó trở nên ngột ngạt với đủ thứ trang trí chắp vá, hy sinh mục đích của ngôi nhà cho vẻ ngoài của nó dù ko hề biết tại sao lại muốn như thế. Cuối cùng, ngôi nhà như 1 con vật lai tạo từ những giống loài khác mà từ trong ra ngoài là 1 mớ hổ lốn. Một sinh vật kỳ lạ bên trong trống rỗng, chỉ toàn da, đuôi, móng vuốt, mình đầy lông lá. 

Để tránh con vật quái dị này, điều mà kts muốn đạt được là đẩy thân chủ của mình vào vị trí của lẽ phải. Như thế, chủ nhân của tòa nhà phải là người đối lập với sự trì trệ, mơ hồ, nặng nề và mù quáng. Tức là ko đi theo con đường an toàn, mà dấn thân một cách mạo hiểm. Nhưng thà như thế còn hơn phải mạo hiểm với những thứ xấu xí. cũ kỹ, phù phiếm, thậm chí là ngu xuẩn.

Bước đầu mà kts đạt được có thể chỉ là sự đồng tình, sau đó vấn đề sẽ gay cấn hơn khi chuyển sang 1 cuộc đấu tranh về rất nhiều câu hỏi khác.

Hình ảnh: Venus de Milo

(còn nữa)

Điều trị và cái kết

 Tại sao một số BS từ chối điều trị cứu sống bản thân.

Câu hỏi: Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa

Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ) thường từ chối khi mục đích duy nhất của những phương pháp điều trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi.

Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp. Họ kiệt sức, ốm yếu. Cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa.

Tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác.

Điều này, về cơ bản là điều trị để chết.

Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày.

Nó cực kỳ vô nhân đạo.

Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

Gia đình tôi biết điều này.

Tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

Hãy để tôi kể chuyện này.

Tôi đã có một đồng nghiệp. Anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học.

Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất. Anh còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút.

Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm, đi biển.

Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu. Anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vịm.Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon.

Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó.

Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện.

Anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan.

Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính.

Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó cho bản thân mình.

Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

Với tất cả sự bình yên.

luomtrennet.

Chia sẻ từ fb Van Nguyen

Monday, December 6, 2021

Chuyện nghề (25): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Thỉnh thoảng, cái điện thoại thường im lìm cũng kêu lên và sau đó cánh cửa nặng trĩu cũng mở ra... Một số người thành đạt trong giới trí thức có sự quan tâm đến các kts tân tiến đã tìm đến họ qua sự giới thiệu đầy thiện chí của những người hảo tâm.

Nhưng đa số họ đến để phô trương con người của mình hơn là tìm kiếm 1 giải pháp cho căn nhà của mình. Nhiều khi họ quá đề cao 1 phong cách mà họ cho là phù hợp với cá tính của mình, nhất là khi họ khẳng định rằng: họ có thị hiếu thẩm mỹ tốt, thậm chí về hiểu biết có thể còn vượt nhiều kts. Do đó, lựa chọn của họ là sự quyết định, là chính kiến rõ ràng ko cần phải tranh luận.

Trước sự áp đặt như vậy buộc các kts duy tân phải bày tỏ và khẳng định khả năng của mình. Nếu ko được chấp thuận, họ có thể nhã nhặn đề nghị khách hàng tìm 1 kts khác vì họ ko làm những thứ như thế. Dù với sự từ chối này, họ đã bỏ qua cơ hội kiếm tiền và phải tiếp tục sống hết sức dè sẻn, chi tiêu rất ít để đủ tiền cho 1 quãng thời gian dài ko thể xác định ở phía trước.

Nhiều khách hàng cho rằng họ đã giao cơ hội cho kts thì với họ tất cả mọi giải thích và thuyết phục của kts yêu cầu họ thay đổi đều vô ích. Khi đó, trước mắt kts ko phải là chủ nhân của căn nhà mà họ cần xây mà là 1 lớp vỏ bao bọc những lựa chọn của 1 nhóm người ảnh hưởng quan điểm của nhau (từ những hình ảnh ưa thích mà khách hàng đã thấy ở nhiều nơi khác nhau, hoặc những mô tả đầy lãng mạn trong các cuốn tiểu thuyết v.v.), những thứ phi vật chất làm họ ko thể nghe thấy sự giải thích có tính thuyết phục của kts. Đó là những khách hàng chỉ muốn sao chép những gì họ thấy như 1 biểu tượng cho mình và hoàn toàn trở nên vô cảm với những thứ khác. Họ cho rằng: căn nhà/biểu tượng, cái mà họ đã chờ đợi và làm việc vì nó trong suốt nhiều năm dài, đã đến lúc để thực hiện nó với rất nhiều tiền bạc.

Vì thế, họ chỉ nghĩ một cách đơn giản về cái mình muốn cũng như việc sẽ trả tiền cho người thiết kế và thực hiện nó. Họ ko chú ý nghe những ý kiến thuyết phục của kts bởi chúng ko thể lọt vào đầu họ. Lẽ ra, khi chọn 1 kts theo phong cách hiện đại, điều đầu tiên mà họ cần hiểu là: Cái họ muốn ko thể là 1 tượng đài vì đó ko phải thứ cho bản thân hay cho cuộc sống hoặc cho những thành tựu của riêng họ. Cái thứ đó dành cho những người khác, cho cái xu thế áp đảo làm cho họ tôn thờ nó và làm nó trở nên bất tử. Họ lệ thuộc vào nó, ko thể vứt bỏ và đi theo nó mãi mãi. Và như thế, họ đã đánh mất mình, để bị niêm phong vào những thứ vay mượn trong quãng đời còn lại. Ko thể vùng thoát khỏi nó để xây cho mình 1 ngôi nhà thật sự MỚI theo đúng nghĩa của nó.

Với những khách hàng ko có lối thoát đó, kts đi theo tiếng gọi của CÁI MỚI hoàn toàn bất lực trước cái - ko - có - thực. Trước mặt họ, chủ nhân của ngôi nhà mới ko hề hiện diện, ko có thật, chỉ có tàn tích của những người từng sống trong khuôn mẫu cũ, và người ta ko thể thuyết phục những tàn tích được!

Kts hoàn toàn có thể sống và hợp tác bằng cách thỏa hiệp với những khách hàng giàu sụ miễn là đáp ứng và làm thỏa mãn được ý muốn của họ.

Nhưng để theo đuổi mục đích, nghề nghiệp của kts có lý lẽ khác và ko phải bằng cách đó.

Kiến trúc Tudor thời Elizabeth (trong khoảng từ 1560 đến 1600) - Phong cách được những người giàu có và quyền thế ưa chuộng 
(còn nữa)

Kiến trúc thời Pháp thuộc ở HN: Dinh Toàn quyền Đông Dương

Một trong những dinh thự đẹp nhất Hà Nội (Dzung Vu - Ảnh Hà Nội Xưa)

Sunday, December 5, 2021

Chuyện nghề (24): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Dân gian có câu: hữu xạ tự nhiên hương. Nhưng đó là lẽ thường khi mọi người thấy thơm và bảo thế. Nó ko bình thường chút nào trong cái xh bị quản chế (quản thúc & khống chế) dù thấy thơm/đúng cũng ko dám công nhận, thậm chí còn bảo là thối.

Những người duy tân chỉ được thừa nhận khi kết quả của họ, rất hiếm hoi, thật sự lan truyền và được ưa chuộng bởi sự lựa chọn của những người đồng cảm, ở chính cái thời điểm mà chúng được tạo nên trong sự hài hòa, hoàn hảo đến mức tưởng chừng ko thể do người ta cố tình tạo ra.

Nhưng bi kịch ở chỗ chúng ko được lan tỏa đến những nơi khác nhau, có vị trí dành cho chúng 1 cách xứng đáng. Và như thế, những kts tiên phong của trào lưu hiện đại là những người sẽ phải đối diện với những thời gian dài nhàn rỗi, nếu họ dám can đảm hành nghề độc lập. Đó là những buổi sáng họ đến văn phòng chỉ để nhìn cánh cửa hầu như ko bao giờ mở, để những ngón tay lãng quên trên chiếc điện thoại gần như ko bao giờ rung chuông...

Họ chỉ có thể cho người khác thấy các công trình của họ được xây dựng trong thực tế mới có sức thuyết phục. Nhưng nếu con người ko cảm nhận được những thông điệp, bất cứ cái gì từ công việc mà họ tạo nên, họ chẳng là gì với công chúng.

Đi trước thời đại, có nghĩa là phải chờ đám đông chuyển biến, chỉ mong 1 số ít có cùng những nguyên lý cơ bản và nhận thức có cùng điểm chung. Đó có thể là sự trung thực, nhưng cũng chỉ 1 phần thôi. Những người đi qua và dừng lại khi nhận ra 1 điều gì đó đáng ghi nhận/chú ý có lẽ ko chiếm đến 1 phần 1000.

Tuy nhiên, các kts trung thành với phong cách hiện đại cần người ta giao những việc mà họ coi là những công việc thiết thực, là nhu cầu sống chứ ko phải lăng tẩm hoành tráng. Cũng vì thế, nhiều khi họ bị người đời gán cho danh hiệu "quái vật" khi cho rằng: họ tự cho mình là trung tâm của vũ trụ. Nhất là khi họ tỏ ra lạnh lùng và tai quái 1 cách lặng lẽ, nhưng lại chứa đựng bên trong 1 cuộc sống thật sự, đầy nhiệt huyết và mới mẻ, ko hề nhàm chán.

Chapelle Notre-Dame-du-Haut (Le Corbusier-World Heritage)
(còn nữa)

Truyền thông & Tuyên truyền (2)

 Truyền thông thổ tả (2)

(tiếp theo)

Người ta nhận ra rằng: Chỉ một khi báo chí không phụ thuộc vào nhà nước cũng như các tập đoàn tư bản, độc lập về tài chính và nhân sự thì mới không bị lợi dụng. Mô hình truyền thông công cộng ra đời.

Mô hình này chỉ bao gồm các đài phát thanh và truyền hình. Báo giấy, in ấn, điện ảnh, sân khấu, âm nhạc hội họa v.v vẫn tiếp tục nằm trong tay tư nhân và xã hội.

Truyền thông công cộng đảm nhiệm những nhiệm vụ chính trong nước: Thông tin, giáo dục công dân, phát triển văn hóa và giải trí, cũng như đại diện cho quốc gia ra quốc tế. Đó vẫn là các nhiệm vụ mà các đài nhà nước đảm nhiệm. 

Nhưng khi nhà nước không rót tiền cho nó, không chỉ định các ông tổng biên tập, không có bộ truyền thông để quản lý nội dung thì vị thế của nó đối với nhà nước khác hẳn. Nó đủ độc lập để kiểm tra và phê phán hoạt động của nhà nước, từ Tổng thống, Thủ tướng, Quốc hội (Hạ viện), Hội đồng Liên bang (Thượng viện) đến các bộ và chính quyền địa phương.

Vậy ai sẽ chỉ định tổng biên tập các đài này? Mỗi một đài đều chịu sự kiểm soát của một hội đồng. Hội đồng này bao gồm đại diện của các chính đảng trong quốc hội, của các bang và của các tổ chức ngoài quốc hội, ví dụ như hội đồng quân nhân, công đoàn, các tôn giáo, hội nghề nghiệp, hội bảo về người tàn tật, tổ chức môi trường v.v. Ví dụ „Hội đồng truyền hình“ của đài ZDF (Kênh 2 của Đức) bao gồm 60 người[1]. Họ hưởng phụ cấp chỉ để theo dõi các hoạt động của đài và bầu hoặc phế truất tổng giám đốc đài. 60 vị này đại diện cho các khuynh hướng chính trị và các nhóm quyền lợi trong xã hội Đức nên vị Tổng biên tập nào được họ thống nhất lựa chọn phải có quan điểm chính trị hài hòa với tất cả. Vì được hội đồng này bầu ra nên TBT chỉ chịu trách nhiệm trước họ, chứ không phải trước thủ tướng hay bộ trưởng nào.

Bên cạnh sự độc lập về chính trị, các đài công cộng cần độc lập về tài chính. 

Không được phép ăn tiền của chính phủ để khỏi nịnh chính phủ đã đành, nhưng ăn tiền tài trợ cũng như phụ thuộc vào tiền quảng cáo cũng không được phép. Như vậy mới tránh được ảnh hưởng của giới tài phiệt và công nghiệp lên nội dung của đài. Khi xem chương trình y tế hay kinh tế của các đài công cộng như ZDF hay ARD người xem cảm nhận được tính khách quan so với chương trình của đài tư nhân. Vì đài tư nhân sống bằng quảng cáo nên đứng phía sau mỗi chương trình chữa bệnh hay giới thiệu công nghệ thường là các hãng y dược, công nghiêp nên bóng dáng của chúng khá đậm. Đã có trường hợp người sản xuất chương trình của đài công cộng bị đuổi việc vì tội „quảng cáo ngầm“ (Schleichwerbung).

Đài công cộng nếu là của dân thì chỉ được ăn tiền của dân. Dân nuôi hệ thống phát thanh truyền hình công cộng thông qua „Cước truyền thông“ (Rundfunkgebühr). Tất cả gia đình nào có máy thu thanh, thu hình đều có nghĩa vụ đóng cước này hàng tháng để nuôi „cố máy thông tin quốc gia“. Đừng  chày cối là tôi chỉ xem kênh tư nhân, không xem kênh công cộng! Khi có thiên tai, địch họa, khủng hoảng chính trị, ai rồi cũng sẽ cần đến nó. Anh có ghét thì cũng phải góp tiền nuôi nó. Hiện nay mỗi gia đình đóng 18,35 EUR/tháng để nuôi hệ thống này. Đầu thế kỷ, con số này chỉ khoảng 15 EUR. 

Vài năm một lần, „Hội đồng tuyền hình quốc gia“ (Khác với hội đồng của từng đài), sẽ bàn xem nên tăng hay giảm cước, tùy theo lạm phát, theo nhu cầu xã hội. Hội đồng này cũng quyết định chia cái bánh „cước truyền thông“ cho các đài phát thanh và truyền hình công cộng. Tỷ lệ chia phụ thuộc yêu cầu chi tiêu của từng đài, vào lượng khán thính giả (qua công cụ thăm dò). Thường thì họ cãi nhau cả tháng mới đi đến thỏa thuận.

Cơ quan quản lý cước GEZ[2] giải trình thu chi năm 2020 như sau: Toàn quốc có 45.938.729 hộ đăng ký máy thu, trong đó có 3,06 triệu hộ thu nhập thấp đươc miễn phí. Nếu nhân với 17,5 EUR (cước 2020) rồi nhân với 12 tháng thì mỗi năm toàn dân đóng khoảng 8,2 tỷ EUR cho hệ thống truyền thông công cộng. Chương trình 1 (ARD) gồm 9 đài được 5,7 tỷ, đài ZDF (chương trình 2) được 2,02 tỷ, đài phát thanh Đức được 231 triệu v.v.[3]

Trên thế giới hiện có khoảng 40 nước áp dụng mô hình truyền thông công cộng [4], ở Mỹ có VOA, PBS, ở anh có BBC, ở Pháp có TF1 chẳng hạn, là những đài không phụ thuộc cả vào chính phủ lẫn tư nhân.

Ở Đức, các đài công cộng than phiền rằng kinh phí eo hẹp, nhưng dân không chịu tăng cước vô hạn. Do đó các đài được thu thêm 15% ngân sách qua quảng cáo. Nhưng quảng cáo không được phát vào các giờ cao điểm, vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ và không được ngắt các chương trình.

Các đài tư nhân không bị hạn chế này, vì họ sống bằng quảng cáo. Xem đua xe F1 trên RTL tức như bị bò đá, vì đúng lúc Schumacher bị Häkkinen vượt thì màn ảnh chui vào góc, nhường chỗ cho quảng cáo. Mô hình đài công cộng đã khiến các đài tư nhân gặp muôn vàn khó khăn. Khán giả muốn có thông tin khách quan đều không xem các chương trình thông tin của đài tư nhân, do đó các đài tư nhân thường tập trung vào giải trí, phim truyện. 

Đài, báo tư nhân bị thao túng bởi các nhóm quyền lợi khác nhau, phải phản ảnh quan điểm chính trị của ông chủ, nhưng vì không ông nào giống ông kia nên tổng thể lại, các báo chí tư nhân nhân cũng phản ánh một quang phổ rất rộng, giúp người đọc có nhiều lựa chọn. Dù ở Đức, Mỹ hay Thụy Điển thì báo chí tư nhân đều đại diện cho tất cả các quan điểm từ cực tả đến cực hữu. 

Đó chính là cái hay của truyền thông tự do. Mọi quan điểm đều có chỗ phát biểu và có người nghe, vì nó đại diện cho mọi nhóm trong xã hội. Do đó, dù có xây dựng được hệ thống truyền thông công cộng hoàn hảo đến mấy, cũng không thể từ bỏ truyền thông tư nhân.

Vậy trong truyền thông tự do có tồn tại kiểm duyệt hay không? Có chứ!

Mỗi tờ báo tư nhân đều có mầu sắc riêng. Chính nhờ vậy mà nó mới được ông chủ chi tiền và quan trọng nhất: giữ được được những bạn đọc cùng quan điểm. Rời khỏi đường ray này sớm muộn sẽ sập tiệm. 

Báo „Nước Đức Mới“ (Neues Deutschland) có thể coi là báo „Nhân Dân“ của CHDC Đức. Đến hôm nay, nhờ giữ nguyên lập trường cộng sản và số độc giả trung thành mà mỗi ngày vẫn ra 17.000 tờ báo in [5]. Ông biên tập viên nào trót dại ca ngợi CNTB thì sớm về đuổi gà 🙂.

Tuy nhiên báo nào thì cũng có giai đoạn nhuộm mầu khác. Lý do là tư chất của ông TBT hoặc các nhân vật ảnh hưởng đến nó. Vai trò và trách nhiệm cá nhân của ông Tổng biên tập thường được coi trọng, cho đến lúc... giọt nước tràn ly khiến ông chủ phải ra tay.

Các đài công cộng cũng vậy. Chúng không thể trung lập tuyệt đối, vì cách nhìn của từng nhà báo, từng ban biên tập khác nhau. Tuy không có ban tuyên huấn chỉ đạo đường lối tuyên truyền, nhưng các toàn soạn sợ nhất là mất khán giả. Đài nào cũng bị đo chất lượng bởi số người xem. Khi đám đông đang thích A mà anh nói ra sự thật B ắt „không có lợi“. Tôi có người bạn, đang ở địa vị tốt trong một đài công cộng ở miền nam Đức mà phải bỏ ra ngoài làm để phản đối kiểm duyệt là vậy.

Nhưng vì kiểm duyệt không đến từ một nơi, không theo một khuôn, mà tùy thuộc từng ông chủ, từng ông tổng biên tập nên vẫn ra kết quả khác nhau. Nơi này cắt bài bênh lão Trump vì sợ khán giả bất bình thì nơi kia bài chê bác Trump lại bị cắt.

Có thể ví nền truyền thông tự do là một khu rừng đa dạng sinh học, có cây quả ngọt, có cây độc, có cây lim tạo bóng mát, có cỏ dại chống xói mòn. Rừng cây này tạo điều kiện cho nhiều thú vật, côn trùng sinh sống. Cây này chết đi, cây khác mọc lên. Đó chính là điều khác biệt với khu rừng mà chỉ một loại cây được sống. 

Độc canh là cách phá hủy môi sinh khủng khiếp nhất mà tôi đã nêu trong bài „Vườn rừng Cao Quảng“ (Lại quảng cáo ngầm 🙂  )

(còn tiếp)

[2] GEZ: Gebühreneinzugzentrale = Trung tâm thu cước phí. Cơ quan này có gần 1000 nhân viên làm việc tại các cơ sở thu cước phí trong toàn quốc. Hàng năm GEZ tiêu từ 2,5%-2,7% số cước phí thu được. Mỗi năm nó phát hiện vài triệu trường hợp không khai báo máy thu để trốn cước.

Saturday, December 4, 2021

Chuyện nghề (23): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Tất cả chúng ta sẽ tốt hơn nhiều nếu quên đi những ý tưởng phô trương được tạo nên từ 1 nền văn minh xa hoa và lãng phí. Lẽ ra cần quan tâm nhiều hơn đến điều mà thủy tổ của chúng ta đã biết từ lâu: đó là kính trọng Mẹ Trái Đất.

Nhưng nhân loại nói chung - ko muốn thấy những điều vốn trang nghiêm và thật sự quan trọng - những gì thường thấy và gặp từ những con người và sự việc bình thường trong 1 cuộc sống khổ sở nhiều khi dẫn tới sự cùng cực về vật chất và tinh thần mà họ phải chịu đựng và vượt qua làm cho họ trở nên đáng kính trọng. Tuy nhiên, khi họ trở nên đầy đủ, sung túc thì mọi thứ lại có vẻ tệ hơn.

Với một số rất ít thực sự giàu có thì dường như cả thế giới đều nằm dưới chân họ (số này hình như chỉ chiếm 1% dân số thế giới nhưng sở hữu 45% tài sản trên toàn thế giới). Nhiều người trong số họ sống quá ích kỷ, quá suy đồi nên càng gây nên nhiều bất ổn cũng như sự hỗn loạn/chaos đang xảy ra hiện nay.

Và có lẽ, thêm 1 điều khác cần tôn trọng từ tổ tiên của chúng ta: ham muốn đúng nghĩa của 1 con người, điều mà họ có thể thực sự cho phép chính bản thân mình, đó là sự tự do. Cũng có thể hiểu bằng 1 cách khác: hoặc HOÀN HẢO, hoặc KHÔNG GÌ CẢ, ko có sự thỏa hiệp. 

(còn nữa)

Truyền Thông & Tuyên truyền (1)

 Truyền thông thổ tả (1)

Khái niệm “Truyền thông thổ tả” chỉ có trong tiếng Việt, không dịch được ra ngôn ngữ nào hết. Trước kia người Việt cánh hữu thỉnh thoảng gọi người phái tả là ”Bọn thổ tả”. Nhưng trong thời gian cầm quyền của D.Trump, người ta coi tất cả báo nào dám phê phán ông ta đều là “Truyền thông thổ tả”. 

Rồi chống phân biệt chủng tộc, khen ngợi Bill Gates hay ủng hộ các biện pháp cách ly và tiêm phòng Covid 19 v.v và v.v cũng là “Thổ tả” tuốt. Khái niệm này hầu như được gắn cho gần hết báo chí phương tây, từ CNN, WP, WSJ ở Mỹ, đến BBC, Financial Time ở Anh, Le Monde của Pháp, ZDF hay FAZ của Đức đến NZZ của Thụy Sỹ…

Truyền thông, báo chí được coi là quyền lực thứ tư trong xã hội dân chủ, bên cạnh ba trụ cột: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cái trụ thứ tư này không được thể chế hóa, không đầu não, không ngân sách, nhưng xem ra rất mạnh, có thể chiếu tướng cả ba cái trụ kia cùng lúc. Vì không có đầu não, không có tổ chức nên nó không bao giờ bị đánh bại hay bị khuất phục. Vì là một quần thể đa nguyên nên nếu tế bào nào chết thì cứ chết, tế bào khác lại mọc ra. Vì đa nguyên nên nó có quang phổ rộng, bao gồm mọi mầu sắc.

Trong chế độ không chấp nhận tam quyền phân lập thì ba chân chụm một. Truyền thông lẽ ra phải là chân thứ tư cũng vui vẻ chui tọt vào cái ống quần duy nhất. Người ta mừng vì có cái chân to gấp bốn, nhưng đáng buồn là 4 chân trong một ông quần khó mà đi nhanh, lại càng khó đứng vững. Cái “chân” truyền thông, lẽ ra phải chỉ cho bọn kia những điều cần phải chỉnh đốn, thì toàn a dua khen vùi những chuyện bậy bạ. Thậm chí, truyền thông trở nên lực lượng xung kích để tiêu diệt những cái gì mà ba tay kia không ưa. Trước khi kết tội, bắt giam ai đó, một chiến dịch vu khống được phát động để dọn đường dư luận. 

Suốt một thời gian dài, bức màn sắt đã phát huy hết tác dụng của nó, nhốt hàng tỷ người trong u mê. Người ta tưởng rằng Internet sẽ làm cho truyền thông độc tài mất tác dụng. Đó là một nhầm lẫn chết người. 

Về chủ quan: Internet giúp người ta tự do tiếp nhận thông tin, điều đó không thể chối cãi. Nhưng nó không giúp kẻ lười sàng lọc, hời hợt và ngại khó. Những người này chỉ thích vào các nơi dễ tham gia, như là đi lễ hội, thấy show nào đông thì xúm vào tìm chỗ giải trí. Họ lười đọc các phân tích sâu sắc, lười kiểm chứng các tin thật giả, thậm chí không cần quan tâm đến cách vượt tường lửa nên cái gọi là “Tự do thông tin” trên mạng chỉ lùa họ vào những cái bẫy mới, thâm độc hơn.

Khách quan thì có nhiều nguyên nhân biến internet thành một cái bẫy thông tin khổng lồ. 

Thứ nhất là toàn cầu hóa và cách mạng kỹ thuật đã đưa thế giới xích lại gần nhau về công nghệ. Không còn chuyện phương tây xem TV-màu, phương đông ngồi nghe loa nén nữa. Mọi chế độ độc tài đều có khả năng kiểm soát kỹ thuật. Chúng sử dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo (vốn bắt nguồn từ phương tây) để xử lý thông tin, tìm ra thị hiếu người đọc để tạo ra các thông tin theo hướng có lợi. Những tin giả này không nhất thiết phải phê phán kẻ thù, ca ngợi phe mình hoặc phản bác hoàn toàn tin thật. Loại tin rẻ tiền đó vẫn nhan nhản nhưng đang mất dần tác dụng. 

Chiến tranh thông tin mới rất thâm độc. Fake news đưa ra có vẻ rất khách quan, có vẻ rất bất đồng, nhưng làm cho những ai nhẹ dạ, lười suy đoán bị mất phương hướng. Người ta vẫn còn nhớ đến vụ dân Anh bỏ phiếu Brexit hôm 23.06.2016. Gần ngày bầu cử bỗng xuất hiện một loạt kết quả thăm dò dư luận trên mạng chứng tỏ phe phản đối Brexit thắng áp đảo. Điều này khiến cho rất nhiều người trẻ tuổi, vốn thích ở lại EU, sao nhãng đi bầu, tranh thủ ngày nghỉ lễ ngủ bù cho đêm disco. Ngày hôm sau, khi phe Brexit thắng, các tài khoản tung tin đó biến mất. 

Các kênh tin giả kiểu Russian Today (RT) hay Đại Kỷ Nguyên là những ví dụ rõ nét cho chiến thuật tung hỏa mù kiểu này tại các nơi mà internet phát triển rộng.

Đối với những nơi mà sự kìm kẹp trên mạng đã thành công như ở Trung Quốc thì internet là bộ máy tẩy não tuyệt vời. Người dân từ sáng đến tối bị khống chế bởi các loại tin nhắn, huấn thị của đảng. Khi lên mạng thì hoàn toàn chỉ được nghe, xem những thứ đã được chỉ đạo. 

Vụ cô cầu thủ quần vợt Peng Shuai bị biến mất mấy tuần liền trên mạng Trung Quốc khiến thế giới kinh ngạc không chỉ ở các bức thư giả, email giả, ảnh giả của cô, mà ở chỗ một tỷ người sử dụng mạng không thể tìm ra chữ “Peng Shuai”, “Zhang Gaoli” (ông phó thủ tướng bị tố cáo hiếp dâm cô). Thậm chí từ “Tennis” (Quần vợt) cũng biến mất. Đó là cách xóa trí nhớ của một dân tộc. 

Không thể kể hết các mánh khóe của cái lưới trời truyền thông độc tài giăng ra khắp không gian mạng. Đó là chưa kể đến sự đồng lõa của các nhà mạng phương tây tham tiền.

Vậy mà “Truyền thông 4 chân như một” không bị chửi là “Truyền thông thổ tả”, trong khi phần lớn truyền thông phương tây bị xếp vào cái rọ đó. Vả lại "cái quần một ống" không phải là chủ đề của bài viết này.

Tuy chỉ là anh thợ, nhưng vì có dính dáng đến báo chí và truyền hình ở Đức, tôi xin nói chuyện Đức để mổ xẻ một chút về cái gọi là “Truyền thông thổ tả”.

Từ hơn 200 năm trước, khi chủ nghĩa tư bản ra đời, người ta đã nghĩ đến tự do tư tưởng, tự do ngôn luận. Đó là cách tốt nhất để phát triển con người và xã hội. Không có tự do thì không có con người sáng tạo [1]. Người ta coi việc phê phán nhà nước, phê phán pháp luật là điều cần thiết để giúp xã hội lành mạnh. Vì vậy nên dù sợ “Bóng ma cộng sản” của ông Marx người ta vẫn phải để ông in sách, viết báo.

Thời đó phương tây chỉ có báo chí tư nhân, nhà nước không rỗi hơi in báo. Họ chỉ nắm đài phát thanh quốc gia, (bên cạnh các đài tư nhân) là đủ để thông báo đường lối của chính phủ. Vì chính phủ của các đảng thay phiên nhau nên không đảng phái nào nắm được đài phát thanh. 

Hitler lên cầm quyền ở Đức năm 1933, thành lập “Bộ khai dân trí và tuyên truyền đế chế” (Reichsministerium für Volksaufklärung und Propaganda) do Goebbels (nhiều người gọi là Gơ-Ben) cầm đầu. Ngay từ 1925, mặc dù chưa cầm quyền, đảng quốc xã (NSDAP) đã thành lập “Cơ quan chỉ đạo tuyên truyền đế chế” (Reichspropagandaleiters der NSDAP ) trực thuộc trung ương đảng.

Goebbels nắm tất cả các đài phát thanh, ra lệnh cho công nghiệp Đức sản xuất máy thu thanh rẻ (bằng ¼ giá máy đang hiện hành) để phổ cập nhanh chóng trong toàn quốc. Đồng thời y quốc hữu hóa công nghiệp điện ảnh và phần lớn công nghiệp in ấn. Báo chí tư nhân thì không dễ dẹp, nhưng bị khống chế toàn bộ. Khi truyền thông bị “nhét vào chung một ống quần” với bọn khác, bắt nói gì phải nói nấy thì thảm họa đã xảy ra. Cả một dân tộc văn minh, nổi tiếng về nền triết học, văn học, âm nhạc, hội họa… bổng bị tẩy não, thành một đám đông man rợ, bạc nhược đến thảm hại.

Để kể về bộ máy này của Hitler, từ kiểm duyệt đến các học viện báo chí tuyên truyền, phải mất mấy bài. Xin để lúc khác. 

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, người ta nhận ra tác hại của báo chí nhà nước. Đã là báo chí ăn tiền của chính phủ, người lãnh đạo do chính phủ bổ nhiệm thì làm gì còn tính độc lập. Ăn cơm chúa múa tối ngày, kể cả khi chúa cởi truồng vẫn khen đẹp. 

Nhưng nước Đức còn có hệ thống báo chí tư nhân khổng lồ thì sao lại để NSDAP thao túng như vậy? Báo chí nào thì cũng sống bằng tiền. Báo chí tư nhân sống được nhờ bú sữa của các nhà tư bản.  Nhưng khi chế độ độc tài khống chế được đàn bò sữa thì thì bọn khát sữa chỉ còn biết hát theo kẻng. Và kẻ đánh kẻng là truyền thông nhà nước.

Từ nhận thức trên, ngay từ trước khi lập quốc năm 1949, CHLB Đức kiên quyết xóa bỏ truyền thông nhà nước. Trong xã hội chỉ tồn tại báo chí công cộng, báo chí tư nhân và gần đây có thêm mạng xã hội của các loại phó thường dân. Cũng như ở Mỹ, Anh và tất cả các nước phương tây khác, nhà nước bị cấm không được làm báo để tự tuyên truyền cho mình [3].

Vậy truyền thông công cộng (Public media, rechtlich-öffentliche Medien) khác truyền thông nhà nước ở chỗ nào? Vai trò của báo chí tư nhân trong xã hội dân chủ ra sao? Phải chăng mạng xã hội  là một thành phần của báo chí hiện đại?

(còn tiếp)

[3] Từ năm 1948, nước Mỹ cấm không cho phép nhà nước bỏ tiền ra làm báo chí. Năm 2004 Lầu năm góc lập ra kênh PentagonChannel, chạy khá tốt. Nhưng vì dư luận lên án mạnh nên năm 2015 kênh này phải đóng.

Friday, December 3, 2021

Chuyện nghề (22): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Đối lập với xu hướng của số đông tức là ko thừa nhận trở thành 1 thành viên của Hội kts, một tổ chức nhằm lôi kéo những người làm thiết kế công trình vào những kế hoạch thâu tóm đất đai với những dự án phân lô bán nền... và những khoản thu nhập béo bở cho những người tham gia. Ko gia nhập nó có nghĩa là trở thành kẻ thù của nó, thêm 1 mối phiền phức vào những gì gọi là cần tháo gỡ trong phần còn lại mà nó sẽ được thả ra để chống lại những người đi theo con đường hiện đại. 

Những người đối lập làm những ngôi nhà với suy nghĩ rằng: Một ngôi nhà cũng có sự chính trực, như 1 con người. Mối quan hệ của những khối nhà được quyết định bởi việc tổ chức/phân bố ko gian bên trong. Cách trang trí của nó quyết định bởi giải pháp xây dựng. Trang trí chỉ là sự nhấn mạnh cái nguyên tắc khiến cho căn nhà đứng vững. Nó khác với những tòa nhà cao tầng hay những căn biệt thự với những cái cột chẳng đỡ gì cả, những mái đua vô tác dụng, những trụ bổ tường, những gờ, mái vòm giả, cửa sổ giả... Sự khác biệt của nó với những căn nhà từ những thiết kế/bản sao giả tạo bởi được làm từ nhu cầu tự thân của nó, ko phải là nhu cầu gây ấn tượng. Động cơ thiết kế của ngôi nhà tự thân nằm ở bên trong ngôi nhà, còn ngôi nhà tạo ấn tượng có động cơ quyết định từ cái nhìn của người ngoài.

Hình ảnh: chọn từ net

(còn nữa)

100 năm tà áo dài Việt Nam

 Từ chiếc áo ngũ thân cho tới lối cải cách của Le Mur Nguyễn Cát Tường, chặng đường quay ngược dòng thời gian của áo dài cho chúng ta thấy bộ quốc phục nền nã nhưng sâu xa hơn, những thay đổi của áo dài cũng chính là những thay đổi trong nhận thức của phụ nữ Việt về bản thân, sự tự do, và về cách ăn mặc chuẩn mực hiện đại.

“Áo dài mình tới Nhật, áo dài mình qua Nga”, “Áo dài – tâm hồn Việt, văn hoá Việt”. Và có lẽ bản thân bạn cũng đã quen thuộc với rất nhiều câu nói, câu thơ khác nhắc tới tà áo dài Việt Nam. Trong tiềm thức của mỗi chúng ta, áo dài đã luôn là quốc phục, là một phần của văn hoá, truyền thống cũng như vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam. Và điều này không hề bị giới hạn trong khuôn khổ vững vàng của đường biên giới. “Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố, sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó, em ơi”, lời bài hát “Một thoáng quê hương” của nhạc sĩ Từ Huy, Thanh Tùng chắc hẳn sẽ chạm tới không ít thế hệ người nghe, nhất là những con người xa xứ, chúng ta nhận ra nhau nhờ tà áo dài. Chúng ta tự hào, ngợi ca áo dài, mang chúng đến với những triển lãm quốc tế và hiện tại, thậm chí bạn đã bắt đầu có thể nhìn thấy “bóng dáng thướt tha” trên những sàn diễn thời trang tầm cỡ, hãy nhớ về Peter Do và cách tà áo dài của anh tung bay trước mắt giới mộ điệu của tuần lễ thời trang New York mùa Xuân Hè 2022 mới đây.

Trước đó, vào năm 2018, NTK Minh Hạnh đã có cơ hội mang áo dài đến thuyết trình tại hai thành phố lớn là Fukuoka và Moskva hay Moscow theo chuyển thể tiếng Anh quen thuộc với bạn đọc. Tại thời điểm đó, chỉ còn mỗi những quốc gia Châu Phi là Minh Hạnh chưa từng mang áo dài sang trình diễn. Thậm chí, NTK vui mừng khi được tận mắt trông thấy người mẫu Nga mặc ào dài Việt Nam và trình diễn cho BST của chị: “Con gái Nga mặc áo dài quá xinh đi. Chỉ cần ‘casting’ mấy em sinh viên trong trường thôi là ngời ngời”.

Như vậy, dù xuất hiện cùng thời trang đại chúng, cùng những BST Ready – To – Wear hay dưới những góc độ hàn lâm, tà áo dài Việt cũng đã vươn ra thế giới. Tuy vậy, song song với những lần “vượt biên” của tà áo dài, những xu hướng thời trang mới cũng du nhập mạnh mẽ vào phong cách ăn mặc của người dân Việt Nam nội địa. Chúng ta giờ đây dành áo dài cho những dịp lễ hay những sự kiện đặc biệt quan trọng, những cột mốc như đám cưới, ăn hỏi, trao giải, lễ tết hay quốc khánh. Áo thun, quần jeans rất ứng dụng và chúng giúp ích rất nhiều trong công cuộc hoà nhập với xu hướng thế giới, không chỉ riêng Việt Nam mà ở bất kì nơi đâu, quốc phục ngày nay tồn tại với ý nghĩa biểu tượng nhiều hơn là trang phục ứng dụng.

Tuy nhiên, lật ngược lại vấn đề, trên thực tế, quốc phục nào cũng đã từng là thường phục.

Phụ nữ Việt đã mặc áo dài từ ngàn đời, từ khi đất nước còn “gồng mình” trong bom đạn và những cuộc chiến dai dẳng vì độc lập, tự do. “Trong lịch sử hình thành, phát triển qua những thời điểm quan trọng nhất, áo dài có những cuộc cải biên thành công và không thành công, nhưng giá trị cao nhất của áo dài là luôn luôn đi được cùng với sự biến đổi của thời đại” (NTK Minh Hạnh). Đất nước càng hiện đại, áo dài lại càng hiện đại theo. Thời gian và những cột mốc áo dài trải qua chắc chắn khiến tà áo “lớn tuổi” hơn hầu hết tất cả chúng ta. Để có thể tìm hiểu và đi cùng “bộ mặt quốc gia” từ ngày khởi nguồn, một bài báo chắc chắn sẽ không thể bao hàm đầy đủ những dấu mốc cũng như những ý nghĩa đặc trưng. Tuy nhiên, quay ngược thời gian 100 năm về trước, bắt đầu từ năm 1921, ngay tại thời điểm này đã có rất nhiều tư liệu để chúng ta cùng bàn luận và phân tích quốc phục trong tiềm thức của người Việt Nam.

Gắn liền số báo với cột mốc 100 năm cùng những nỗ lực không ngừng nghỉ để tôn vinh văn hoá nội địa và những nét đẹp chỉ riêng Việt Nam mới có, mời bạn đọc cùng đội ngũ L’OFFICIEL nhìn lại chặng đường 100 năm của tà áo dài, từ chính thời điểm khi chúng ta đang cùng nhau đọc những trang báo in mới nhất quay ngược trở về thời kì đất nước bước đi trên con đường xây dựng và phát triển độc lập. Từ 1921 tới 2021, chặng đường 1 thế kỷ với đủ những đổi mới, những cải tiến về mọi mặt đi kèm hàng loạt cái tên gắn liền với sự cải cách trang phục tính nữ mà chắc hẳn bạn đọc sẽ thấy thật quen thuộc.

Thời kỳ 1921 – 1930

Thời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam với những hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận sôi nổi của Nguyễn Ái Quốc trên địa bàn nước Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn người trí thức được đón nhận những tác phẩm của Bác từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925), “Đường Kách mệnh” (1927), “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt)” (1930).

Như vậy, thập niên 1920, khi “giấc mơ Mỹ” chúng ta quen thuộc hiện nay đang rực rỡ với thời vàng son của những cuộc ăn chơi không hồi kết, nhạc jazz, thế hệ “flapper” phóng túng cùng những cô nàng diện đầm lụa, lông vũ, chất liệu kim sa lấp lánh, giày cao gót, trang điểm đậm và cắt tóc ngắn như bạn đã thuộc lòng nhờ loạt hình ảnh hoa lệ của thước phim “Đại gia Gastsby” thì ở Việt Nam, cuộc đấu tranh dành lấy độc lập vẫn còn là ưu tiên trên hết của mọi tầng lớp. Lúc này, trang phục áo dài vẫn còn nhiều điểm cầu kì của thể áo năm thân, hay năm tà của những năm đầu thế kỉ 20. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải thân trước. Phần phía dưới khuỷu tay sẽ được may nối với tay áo. Sở dĩ, đây không phải một chi tiết thiết kế hay sáng tạo, người xưa phải may như vậy vì sự thiếu thốn và hạn chế các chất liệu tốt như lụa, sa, gấm, đoạn. Thời kì khó khăn, những loại vải tốt chỉ có thể dệt được rộng nhất là 40cm chiều ngang và chỉ những người có điều kiện mới có thể chi tiền mua loạt vải vóc này.

Mặc dù thân trên và tay áo vẫn có điểm tương đồng với áo dài ngày nay khi được may ôm dáng, phần tà áo lại được may rộng từ sườn đến gấu, đi kèm điểm khác biệt lớn chính là chiếc áo dài lúc này không chít eo. Vạt áo rất rộng, gấu vạt trước được cắt dài hơn vạt sau, may võng để ngực áo có thể kéo vòng lên khi mặc.

Là một trang phục thường ngày, cổ áo chỉ cao khoảng 2cm cho nữ và 3 tới 4cm cho nam. Đặc điểm cơ thể với phần cổ ngắn của người Việt Nam khiến cách may và độ cao cổ áo trung bình trở nên phù hợp cũng như tạo ấn tượng về một hình thể thanh mảnh, uyển chuyển hơn. Tuy vậy, phụ nữ Huế vẫn rất thích chiếc áo dài của họ có phần cổ cao 3cm. Khác với sở thích cổ áo dựng thấp và quần áo dài màu đen của phần đông nữ giới miền Bắc và miền Nam, người Huế ưa chuộng cổ áo thật cao và quần mặc cùng áo dài của họ nên được may bằng vải trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế, cả nam lẫn nữ, dọc hai bên mép ngoài quần sẽ được may với ba lần gấp, mục đích để khi di chuyển, chiếc quần sẽ xòe rộng thêm.

Thời ấy, vải áo màu đậm được ưa chuộng hơn cả. Và một lẽ dĩ nhiên, cha ông sử dụng những loại thuốc nhuộm vải hoàn toàn tự nhiên. Không có sự can thiệp của hoá chất hay những phụ liệu và công nghệ như hiện nay, màu tự nhiên của áo dài rất dễ phai. Vì vậy, đối với một chiếc áo đắt tiền và những loại vải cao cấp, hầu như chiếc áo dài chỉ được dùng để khoác ngoài và hạn chế tối đa việc giặt giũ hay ngâm nước. Những chiếc áo chỉ được phơi nắng một năm vài lần rồi ướp hương thơm để bảo quản.

Thời kỳ 1930 – 1940

Đây có lẽ là thời điểm cuộc cải cách áo dài diễn ra sôi nổi nhất, với sự xuất hiện của nhóm những nhà văn, những cây bút đến từ Tự Lực Văn Đoàn, tuần báo Phong Hoá và chuyên mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô”. Những quy cách ăn mặc 1920 bắt đầu tan biến và nhường chỗ cho nhiễu Tây, lụa Tàu và vải Bombay màu sắc rực rỡ. Không những thay đổi quan niệm về y phục, những đổi mới còn mang đến cho phụ nữ Việt loạt nhận thức về nữ quyền, đề cao chủ nghĩa tự do và hiện đại trong bối cảnh cả dân tộc đang phấn đấu tiến bộ, thoát khỏi sự bảo thủ không cần thiết của hủ tục phong kiến và Nho giáo.

Trên báo Phong Hoá số 85 năm 1934, lần đầu tiên xuất hiện một chuyên mục dành riêng cho “thời trang” với tên gọi “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô” giao cho hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường viết bài và vẽ minh hoa. Tới đây, bạn đọc chắc hẳn đã thấy cái tên quen thuộc, tay tạo mẫu nòng cốt của chuyên mục cải cách y phục Le Mur Nguyễn Cát Tường. Lời toà soạn đăng kèm trên chuyên mục khi đó nói rằng “mong rằng nhờ có mục này rồi người, quần áo và đồ đạc sẽ dần dần được tăng thêm vẻ đẹp”.

Như vậy, bắt đầu từ số 85 cho tới số 109 của tuần báo Phong Hoá, Le Mur Nguyễn Cát Tường và chuyên mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô” đã viết những bài xã luận, minh hoạ kiểu mẫu và cách may trang phục lối mới, giới thiệu y phục hiện đại đến với công chúng và dần dần thay đổi chính bộ áo dài truyền thống quen thuộc.

Áo dài Le Mur xuất hiện và ngay lập tức bị cho là những ý tưởng quá mức táo bạo, chỉ có giới nghệ sĩ thời thượng mới dám mặc. Cụ thể, những cải cách của Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài từ eo xuống gấu áo, tuy nhiên, cổ áo khoét hình trái tim với mũi nhọn đằng trước ngực hay sau lưng và một cái nơ đính vào chỗ khoét nhọn đó. Có khi áo được gắn cổ bèo, vai áo phồng, tay nối vai, những đặc điểm rất dễ thấy trong trang phục may kiểu Âu. Cũng có khi, chiếc áo dài Le Mur bỏ hẳn phần cổ áo và tay áo truyền thống, cổ xẻ rộng xuống giữa lưng, khuy áo lúc này may dọc trên vai và sườn bên phải, quần mặc kèm cắt loe rộng. Với những lí do cho rằng cổ áo và tay áo dài rất vướng víu, chỉ có công năng che đậy cơ thể mà trên thực tế rất nóng và gò bó, đối với Nguyễn Cát Tường, cổ dựng cao và tay nên được cắt bỏ khỏi bộ áo truyền thống.

Song song với những tranh cãi, Le Mur Nguyễn Cát Tường trở thành cái tên rất nổi tiếng, tạo tiếng vang lớn đối với đông đảo phụ nữ lúc bấy giờ. Mặc dù nhận về không ít lời chỉ trích cũng như những quan điểm phản bác cho rằng áo dài Le Mur, trang phục kiểu mới không có “tính cách dân tộc”, những gì Nguyễn Cát Tường thực hiện cũng phần nào chạm đến quan điểm “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô” cũng như thu về sự ủng hộ và những bày tỏ chân thành của phụ nữ lúc bấy giờ, khi họ rất hoan nghênh đổi mới nhưng vẫn rụt rè và không dám thực hiện vì “chúng tôi hầu hết còn ở dưới quyền cha mẹ hoặc cha mẹ chồng, mà số đông các cụ đây mới thực là nô lệ của dư luận”, “không phải các cụ không biết thế nào là hay đâu, nhưng vì các cụ không thích bỏ quốc hồn quốc tuý mà nhất là không thích cho lời con cháu nói là phải đó thôi”.

Như vậy, những đổi mới y phục diễn ra với bước đầu chính là thuyết phục thế hệ cha ông, những người đã quá gắn bó với Nho giáo và ngần ngại thay đổi. Không chỉ cải cách áo dài, Le Mur Nguyễn Cát Tường đã cải cách cả hệ thống trang phục Việt Nam, tạo nên một gợn sóng trong dòng chảy y phục truyền thống. Đăng trên báo Phong Hoá số 90, hoạ sĩ Cát Tường giới thiệu chiếc áo dài Le Mur “chính thức” và viết : “Vậy kiểu áo này tuy có đôi vẻ khác thường, xin các bạn cứ yên lòng. Không những nó có một tính cách riêng, nó lại còn tỏ cho người ngoài biết rằng: nước ta đã đến thời kỳ biết cải cách và cũng có bộ quốc phục hợp thời.”

Mặc dù đến khoảng 1945 – 1947, xu hướng áo dài Le Mur bắt đầu đi xuống, tuy nhiên, những cải cách về y phục cũng như áo dài của thập niên 1930 đã ít nhiều thay đổi lối ăn mặc, ý thức về phục trang tính nữ cũng như quyền lợi của chính người phụ nữ và có những ảnh hưởng nhất định lên trang phục Việt Nam sau này.

Thời kỳ 1950 đến nay

Đi qua thập niên 30 với rất nhiều những thay đổi và tinh thần cải cách, chiếc áo dài ngày nay chúng ta quen thuộc có nhiều điểm tương đồng nhất với thiết kế của những năm 50. Thân áo sau may rộng hơn thân trước để ôm phần eo và hông, cổ áo bắt đầu cao lên và gấu áo hạ thật dài. Đầu những năm 60, tà áo không để lộ quần được cho là một trong những minh chứng tiêu biểu để đánh giá một người thợ may khéo. Càng ngày áo dài may càng chít eo chặt hơn và tôn dáng ngực, eo áo cắt cao để lộ cạp quần. Đặc biệt, tay áo raglan bắt đầu xuất hiện, ôm gọn phần vai, khiến áo đỡ nhăn và cũng tiết kiệm vải.

Như vậy, tới hiện tại, chúng ta đã có bộ áo dài hoàn chỉnh, phù hợp với “tính cách dân tộc”, phù hợp thời tiết và quan điểm thẩm mĩ mới. Cùng với đó, “giá trị cao nhất của áo dài là luôn luôn đi được cùng với sự biến đổi của thời đại”. Từ những cái tên nổi tiếng thế giới như Peter Do cho tới Lâm Gia Khang và loạt thương hiệu nội địa (Subtle Studios, Maison Phiêu và Nosbyn), áo dài đã có vô số phiên bản phù hợp với mọi dạng cơ thể, thời tiết và nhu cầu ứng dụng. Nếu ngay lúc này, để trả lời cho câu hỏi liệu áo dài có thể quay trở lại vai trò thường phục, có lẽ phần đông chúng ta đều đã sẵn sàng câu trả lời cho mình với những thiết kế mới đa dạng và hiện đại, xuất hiện hầu như trong tất cả các mùa thời trang gần đây.

12.03.2021 by Minh Nhật

(L'Officiel)

Nguồn tham khảo: Website trường đại học Hoa Sen: news.hoasen.edu.vn lưu giữ bản số hoá của đầu báo "Phong Hoá", chuyên trang Style Republik, tư liệu đến từ nhà nghiên cứu Trịnh Bách

Thursday, December 2, 2021

Chuyện nghề (21): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Tiếng gọi của lịch sử là điều ko thể bị bác bỏ. Khi thế giới hòa trong 1 dòng chảy, dù muốn hay ko, lịch sử sẽ cuốn đi tất cả.

Có những dòng chảy lớn và dòng chảy nhỏ. Nếu ai cũng bận tâm với những cái nhỏ nhặt, vụn vặt thì tất cả cũng chỉ trong phạm vi hẹp, để đáp ứng được nhu cầu về sự thoải mái của bản thân, như thế cũng có thể tự mãn/bằng lòng với khả năng của mình. 

Nhưng còn có những tác động lớn hơn từ những người thuộc tầng lớp thượng đẳng, theo tôi là giới quý tộc đúng nghĩa. Những người ko phải chỉ mang danh nghĩa thượng lưu với sự giàu có và màu mè, luôn phô trương sự vượt trội hơn hẳn các giai cấp khác. Họ mang trong mình phẩm chất của những người đại diện cho sự văn minh và xu hướng tiến bộ của nhân loại với các giá trị CHÂN - THIỆN - MỸ tối thượng nằm trong tư tưởng tự do của con người. Vì thế, theo tôi,  ko thể có khái niệm quý tộc vô lại hay biến chất, nếu thế thì chỉ có thể là 1 kẻ hám danh mà thôi.

Đó là sự tự do chấp nhận hay ko các giá trị vĩnh hằng vốn là nền tảng của 1 xh. Nếu sự tác động của tầng lớp quý tộc áp đảo, xh sẽ phát triển, ngược lại, đó là 1 xh bị kìm hãm và trì trệ trong mọi vấn đề. Và con người chỉ có thể trung thực với lịch sử bằng cách tuân theo quy luật của nó: đó là sự đòi hỏi sức sáng tạo từ việc gieo trồng các hạt mầm nghệ thuật trên mảnh đất thực tại mà họ đang hiện hữu.

Kts cũng ko thể tách khỏi dòng chảy mà họ đang sống. Dù sống trong bất kỳ giai đoạn nào họ đều xây dựng ý tưởng của mình trên tinh thần của thời đại. Nếu là những kts đích thực, họ ko sử dụng các thiết kế thuộc về quá khứ. Việc lặp lại/vay mượn từ kiến trúc Hy Lạp, La Mã hay Gothic... chỉ là công việc cho những kts ko có khả năng. Nếu có thể chọn, về nguyên lý, có thể từ nền tảng dựa trên quan điểm được xây dựng từ quan điểm kiến trúc hiện đại theo phong cách kiến trúc thời kỳ Phục Hưng, nhưng chỉ dùng cái tinh thần của nó thôi, cách thức phải thuộc về thời đại mà chúng ta đang sống.

Những người chống lại kiến trúc hiện đại phản biện rằng: ko thể đặt CÁI MỚI lên trên CÁI ĐẸP. Nhưng khi thực hiện nghệ thuật thiết kế thì kts cũng là những nhà soạn nhạc ứng tác dưới 1 sự thôi thúc bí hiểm. Kiến trúc của họ tạo nên là những bản nhạc ko lời, chúng khẳng định đẳng cấp của họ, cho thấy họ có phải là những nghệ sĩ hay ko.

Vẽ tay trên giấy can

(còn nữa)

Học hành: Ta và Tây

Tại sao trẻ Tây thường học kém hơn trẻ Việt ở bậc phổ thông nhưng ra trường lại giỏi hơn?

Người Việt mình ra nước ngoài thường kháo nhau, đi học 12 năm phổ thông chung thì bọn Tây dốt lắm.

Vậy mà, các cấp bậc học sau đại học có khi không đủ sức đua với “chúng nó”, nhất là xui mà gặp giống Do Thái hay hội hàn lâm gốc Đông Âu.

Rồi đến lúc đi làm, thì trăm phần trăm là phục sát đất mấy ông sếp Tây, công lực thâm hậu mà liêm minh chính trực cũng vững vàng. Chưa xét tới quan điểm sống. Cũng chỉ nói về thành phần số đông thôi, bỏ bớt thành phần cá biệt, thiểu số, và các loại thần đồng.

Cái gì đã xảy ra trong một thời gian ngắn, từ sau 18 tuổi, khiến cho thành phần 12 năm học dốt mình hay nói tới, thành nhân và thành công hơn hội học sinh khá và giỏi của chúng ta?

Thật ra, không phải người ta vào đại học rồi cuồng học lên để bù đâu các bạn ạ. Họ dành 12 năm phổ thông, và nhiều năm sau đó học chuyên môn, chỉ để làm điều họ thích. Vì vậy mình sẽ thấy họ lựa chọn nghề nghiệp rất đa dạng. Nếu họ không còn thích nữa, họ sẵn sàng xé nháp, làm lại cuộc đời. Tính thích ứng và tự thân vận động rất cao.

Người Việt học dày đặc từ mẫu giáo, lên lớp 1 đã biết làm hết các phép toán cơ bản, viết thư, làm văn, thi vở sạch chữ đẹp, đến lớp 9 là đã học hết khoa học cơ bản của giáo trình 12 năm bên này. Dành 3 năm cấp ba để tụng kinh gõ mõ luyện thi bộ đề dành cho các giải thi Olympics quốc tế. Sau khi vào đại học, trước siêng bao nhiêu thì nay lười bấy nhiêu. Phần lớn vẫn trông cậy vào bài đọc giảng của giáo viên, các môn học khi thi toàn viết theo khuôn mẫu đã học, chữ nghĩa trả lại cho thầy. Không viết được thì chép, không chép được thì thuê người viết hộ. Cứ thế, đến khi đi làm thì ngừng luôn việc tự học. Phần lớn chọn an phận thủ thường, khi các bạn mới ở độ tuổi 24-25.

Nếu vẽ biểu đồ, thì người Việt mình học theo giáo trình của hình tháp. Khi nhỏ thì gánh khối kiến thức nặng nhất, càng lớn lại càng ít dần, đến tuổi vào đời thì gần như ngừng học.

“Bọn Tây” thì ngược lại, họ học theo hình tháp ngược. Khoảng thời gian đầu đời khi đi học chỉ toàn chơi. Các bậc phụ huynh người Việt tha hồ sốt ruột. Học đã không xếp thứ hạng, mà đứa nào cũng được lên lớp. Gặp đứa chịu học thì không sao, mấy đứa lười lười thì vẫn được tạo điều kiện để... vừa lười vừa học mà vẫn không bị hổng kiến thức. Họ xây dựng giáo trình như những viên gạch xây nhà. Mỗi năm trẻ vẫn học lại kiến thức cũ, nhưng cách áp dụng mới. 

Một concept toán cơ bản, loanh quanh suốt 9 năm chỉ có cộng trừ nhân chia. Vậy mà khi làm bài kiểm tra, có ngồi trước Google và máy tính cũng không nhờ máy giải hộ được, vì toán của họ là toán tư duy, không phải loại giải hay tính nhẩm ào ào như mưa rào.

Ai cũng biết trẻ con ở nước ngoài được khuyến khích tranh thủ cái tháp ngược, học rất ít thì chơi rất nhiều. Giờ hoạt động thể chất của tụi nó, bao gồm tắm nắng và chạy nhảy ngoài trời ít nhất 1h mỗi ngày là bắt buộc, bất luận thời tiết quá nóng hay quá lạnh. Một trẻ quên không làm bài tập về nhà, thì tự dành thời gian nghỉ giữa các tiết học để cho kịp trước khi vào bài mới. Trong tuần có ít nhất vài tiết học bỏ trống, để mấy ông lười làm nốt các bài tập, còn các bạn đã làm xong bài dùng thời gian đó để làm cái mình thích.

Khi giải bài, tụi nó thường giải trong nhóm, bàn cãi chán chê, không có câu trả lời nào là sai cả. Nếu chúng nó cần thêm thời gian để cãi nhau, cô giáo cũng đào đâu ra thời gian để đợi, có khi cả tuần tụi nhỏ mới giải xong. Vấn đề là ở chỗ, người Việt mình sẽ rất nóng vội. Người lớn sẽ lao vào giải cứu. Sẽ dùng hết sinh lực để giải càng nhanh, càng khó, càng nhiều càng tốt. Còn bên này, không một bài toán nào của cô có lời giải. Trước và sau, toàn bọn học trò tự giải thích và chỉ nhau thôi. Khi nộp bài, cô cũng không vội chấm điểm. Mỗi đứa tự dò lại bài theo tiêu chí chấm điểm công khai. Xong rồi giao bài cho đứa khác trong lớp nó chấm và sửa cho. Sau đó, tuỳ đứa trẻ ấy có muốn sửa lại theo hướng dẫn của bạn không, rồi nộp cho cô bản final.

Điểm số không có tính định kiến hay may rủi ở đây. Nó hoàn toàn là kết quả của việc tư duy, tự học, học ở bạn và học theo kì vọng cá nhân đã được đặt ra. Từ nhỏ đến lớn, học theo hình xoáy ốc, càng lớn thì năng lực tự học và học ở người khác ngày càng dồi dào. Họ học trong một thế giới mở. Ai cũng có quyền có sai lầm, và được tạo điều kiện để được góp ý, chỉnh sửa trước khi hoàn thiện.

12 năm phổ thông để rèn luyện phẩm chất đó, chứ không phải chinh phục bộ đề toán cao cấp nhanh nhất có thể. Các vị phụ huynh người Việt ở đây sẽ có hai lựa chọn, tiếp tục sốt ruột và nóng vội gửi con đi học các lớp kèm thêm, hay ... để cho lũ trẻ cãi nhau vì một bài toán nhỏ suốt cả tuần, thời gian còn lại ngoài lớp học chỉ thấy chúng nó say sưa cào cát ở ven sông :))

copy từ FB-N2Q

Wednesday, December 1, 2021

Chuyện nghề (20): Đường xuống địa ngục

(tiếp theo)

Muốn làm những việc ko thuộc về đam mê của mình, các kts duy tân phải học cách chấp nhận trong công việc bởi họ chỉ làm thuê cho người khác. Họ phải chôn chặt những gì muốn thể hiện để có những công trình tuyệt vời theo ý tưởng của mình. Như phải kiềm chế ham muốn từ những sự thấy-biết đó.

Để làm được như thế, họ phải tiêu diệt sức tưởng tượng, phải tuân lệnh và vẽ những đường nét khác. Phải chấp nhận bị tổn thương nghiêm trọng đến mức phải giận dữ đến điếng người khi phải thấy những cái lẽ ra phải vứt chúng đi. Cần phải cứu những tòa nhà đang chìm trong sự sao chép, nhưng họ phải bỏ mặc chúng như bỏ mặc những người chết đuối mà ko thể nhảy xuống cứu vậy.

Dần dần, họ trở nên lì lợm trong công việc với những thứ trái ngược hoàn toàn trống rỗng, dù chúng đe dọa/thủ tiêu những giấc mơ ấp ủ của họ. Chúng ko làm phiền họ, và họ chỉ tuân theo nguyên tắc của hệ thống, ko biểu lộ sự tức giận, cũng ko hề hy vọng. Họ hiểu rằng: những người thuê mướn họ cần những người thiết kế giỏi, nhưng chỉ để vẽ thôi, ko cần tài năng thiết kế!

Vẽ tay - Phác thảo 1 khu nhà

(còn nữa)

Nhìn người

Xưa nay thế thái nhân tình

Nhìn con biết mẹ, nhìn bà biết ông...

Cuộc sống & xh VN

 Lực đẩy hay sức hút?

Việc người Việt Nam chết trên đường bỏ nước ra đi có lẽ sẽ còn tiếp tục, dù đất nước đã hòa bình hơn 44 năm. Nếu ai đó gọi Việt Nam là một dân tộc tỵ nạn thì không chỉ vì khái niệm „Thuyền Nhân“ (Boatpeople) xuất phát từ thảm cảnh người Việt chết trên Biển Đông, mà vì chúng ta khác hẳn các dân tộc khác ở chỗ: Họ chạy trốn chiến tranh, còn mình trốn hòa bình. Dù là dưới các mỹ từ „Hợp tác lao động“, „Thẻ xanh“ , Visa EB3, EB5 hay từ miệt thị „Gái bán hoa“, thì tất cả đều là bỏ quê hương đi kiếm ăn.

Nhờ có Internet mà công luận mới biết về cái chết trong xe lạnh của 39 người ở Anh, về tai nạn của cháu bé ở trường Gate Way hay cái chết của một vị thứ trưởng từ tầng 8. Tôi không dám nhắc đến tên ai, chỉ mong họ được thanh thản ở bên kia thế giới. 

40 mươi năm trước, không ai được thông tin về hơn nửa triệu đồng bào chết đuối, chết khát, chết vì bị cướp biển giết, bị hãm hiếp trên biển Đông. Không báo nào dám đưa tin. Nhiều đồng bào của chúng ta đã phải ăn thịt người chết trên những con thuyền gỗ tơi tả để cầm hơi sống sót. Nhiều người đã phát điên khi được cứu sống.

Nhờ có mạng xã hội mà hôm nay báo chí Việt Nam không cần phải bịt tin về những cái chết nữa. Họ chỉ cần chờ vài ngày để áp lực của mạng xã hội phá tung cái van của các nhà quản lý. Sau hai, ba ngày im lặng, báo nhà nước sẽ tìm cách vượt các tin ngoài luồng bằng cách đua nhau giật các titre, đưa mọi chi tiết về các vụ án để tăng lượng views. 

Mở van là cách duy nhất để nhà nước chứng tỏ sự cởi mở của mình trước những cái chết của người dân? Quốc tang, điện chia buồn, một nén nhang của nguyên thủ quốc gia chưa bao giờ dành cho dân thường, dù là hàng trăm người thiệt mạng do thiên tai, thảm họa.

Nhưng cũng nhờ mạng xã hội mà tâm can người Việt được phơi bày rõ hơn. Trong khi những người dưng ở Châu Âu bày tỏ sự thương xót với những nạn nhân quá cố thì người Việt đang lên án nhau về thái độ đối với các nạn nhân, thậm chí phê phán gia đình nạn nhân. Hạt giống thù hận gieo rắc trong xã hội đã kết thành trái độc. Nhiều  đồng bào quên mất rằng: Đau khổ không phân biệt người Bắc, Trung hay Nam, không phân biệt màu da bò mà ta gán cho nhau. Chỉ lòng người bị nhiễm hận thù mới phân biệt xác chết theo màu đỏ, đen hay vàng.

Nhà tôi ở Đức đã có lúc bị bạn bè coi là „Trại tỵ nạn“, vì luôn có người ghé qua nhờ vả về giấy tờ, về các thủ tục để tạm trú trên con đường đi kiếm ăn tha phương. Tiếp xúc với họ, tôi cũng hiểu nhiều mánh lới khiến tôi sợ hãi: Từ chuyện cưới giả, chú lấy cháu, anh cưới em,  đến các loại giấy tờ giả, chứng cứ giả. Dù không ủng hộ cách làm, tôi luôn tìm cách hiểu lý do ra đi của họ.

Tôi thì đã ngấm đòn từ suốt 28 năm qua: Bỏ quê hương ra đi luôn là một quyết định đau đớn của mỗi con người. Trước khi đi Đức lập nghiệp năm 1991, tôi đã từng sống ở cả hai nước Đức. Tôi không bị ai lừa bịp về một tương lai rực rỡ xứ người. Tôi chỉ muốn thoát khỏi cảnh tù túng và những cái mặt nạ mà tôi phải đeo hàng ngày.

Tại Hội nghị Geneve 1979 về người tỵ nạn Đông Dương, chính phủ Việt Nam đã lên án các thế lực phản động quốc tế tuyên truyền lừa bịp, lôi kéo người Việt Nam ra đi. Trong số hơn hai triệu người ra đi ngày đó, tôi tin là có những người chỉ vì lý do kinh tế, chứ không chỉ là những người Việt thua trận bị đàn áp, bạc đãi hay người gốc Hoa bị xua đuổi. 

Vào những năm tháng của bức màn thép đó, không một mẩu tin của Phương tây lọt vào Việt nam. Nếu có lọt vào thì không một kẻ ham chơi ngông cuồng nào chỉ vì các buổi disco, mấy bộ quần áo đẹp hay chiếc xe ô-tô mà dám leo lên chiếc thuyền gỗ để vượt biển. Cái sức ép kinh tế ngày đó chắc phải kinh khủng. 

30 năm sau, vẫn có người tin rằng nguyên nhân chính của „Tỵ nạn hòa bình“ là do bọn lừa bịp, buôn người. Vậy tại sao người Thái, người Mã Lai, người Philippin, những hàng xóm cùng đẳng cấp như chúng ta lại không bị lừa, để rồi dồn toàn bộ của cải, liều chết ra đi?

Nguyên nhân chính phải thừa nhận là: Gần 45 năm hòa bình đã không giúp VIệt Nam trở thành một xã hội ấm no. Ấm no không thể hiên qua GDP, mà qua các chỉ số xã hội lành mạnh. Do vậy dù GDP đầu người đã tăng hơn 10 lần so với 1975, Việt nam vẫn chỉ là nước xếp thứ 115 về chỉ số phát triển con người HDI [1], đứng sau cả Palestina đang bị Do-Thái chiếm đóng. Cu Ba nghèo xơ xác còn đứng trên Việt Nam gần 40 bậc. 

Xếp hạng HDI cho thấy Việt Nam là một xã hội không công bằng. 

Thảm họa môi trường liên tục xảy ra đã cướp đi không gian sống của hàng triệu người Việt.

Nếu nhìn vào bản đồ Tự do báo chí 2019, Việt nam màu đen kịt.[2] 

Nghèo đói, môi trường bị tàn phá, cơ hội làm ăn mờ mịt, bất công, tham nhũng, thiếu tự do, không minh bạch… Đó là những lực đẩy khổng lồ, đẩy người Việt, giàu cũng như nghèo bỏ nước ra đi. Chứ không phải sức hút của những lời lừa bịp.

Hãy tỉnh táo và lương thiện.

Nguyễn Xuân Thọ

Köln 30.10.2019

Sổ gạo

 SỔ MUA LƯƠNG THỰC

                           *****

      Thời bao cấp có rất nhiều loại tem, phiếu nhưng sổ mua lương thực là loại sổ quan trọng nhất mà dân chúng gọi vắn tắt là sổ gạo. Một trong những hiện tượng tiêu biểu của thời bao cấp trên miền Bắc đất nước ta.

      Đã có một thời mà “sổ gạo” gắn liền với sự sống còn của người dân, như một “vị cứu tinh”, một bùa hộ mệnh.

      Theo từ điển Bách khoa toàn thư: "Sổ lương thực, hay nôm na là sổ gạo, là một quyển sổ ghi chỉ tiêu lương thực của một hộ gia đình được mua hàng tháng, trong thời bao cấp. Hàng tháng, người dân thành phố được mua một số lượng gạo và chất độn nhất định tùy theo tiêu chuẩn được ghi trong sổ. Sổ này do Sở Lương thực cấp căn cứ vào tên, tuổi, nghề nghiệp đăng ký trong sổ hộ khẩu chính thức. Để nhận lương thực, người dân mang sổ lương thực và xếp hàng mua tại cửa hàng lương thực".

      Nguyên nhân sâu xa của việc hình thành chế độ cấp sổ gạo ở Việt Nam là cung luôn luôn thấp hơn cầu. Tình trạng này xuất hiện ở Miền Bắc từ cuối thập kỷ 50 và kéo dài trong cả nước từ sau 1975 cho tới khi đổi mới kinh tế.

     Bắt đầu từ ngày 1-3-1957, Nhà nước thực hiện chế độ cung cấp gạo ăn hàng tháng cho tất cả bộ đội, CBCNV, học sinh các trường chuyên nghiệp, học sinh trường phổ thông hưởng học bổng toàn phần, bệnh nhân tại các bệnh viện, trạm điều dưỡng… Giá thống nhất và ổn định là 0,4 đ/kg (4 hào/kg)

      Định lượng như sau:

    - Cán bộ viên chức làm công tác hành chính sự nghiệp được tiểu chuẩn 13,5kg/người/tháng

    - Trẻ em từ sơ sinh đến 4 tuổi được hưởng 4kg/tháng. Tăng một tuổi được tăng thêm 1kg và không quá 15kg.

    - Từ 18 tuổi trở lên được hưởng 13kg/người/tháng.

    - Công nhân lao động tùy theo công việc nhẹ, nặng hay độc hại được hưởng theo công việc từ 18kg -24kg/tháng. Cho nên có những người không thích làm công việc nhẹ nhàng, muốn được giao làm công việc nặng nhọc để được tiêu chuẩn lương thực cao hơn.

      Định lượng như vậy nhưng không phải là được mua toàn gạo mà phải mua kèm từ 25% đến 50%(có lúc lên tới 75%) chất độn có thể là ngô, khoai, sắn, bột mỳ, mỳ sợi, thậm chí là hạt bo bo (loại thức ăn dùng cho gia súc).

      Sổ gạo như là một tài sản lớn để đảm bảo cuộc sống cho một gia đình, nếu không may làm mất thì trong thời gian chờ đợi các thủ tục cấp lại phải ăn gạo giá thị trường thì vô cùng khốn khổ.Cho nên dân Hà Nội ai cũng biết câu "mặt nghệt như mất sổ gạo".

      Ngoài sổ mua lương thực còn có tem lương thực với đủ các loại định lượng từ 25 gram, 50gram... đến 1kg, 2kg, 5kg....Tem lương thực được trích ra từ định lượng trong sổ mua lương thực gia đình, có thể dùng cho cán bộ đi công tác xa nhà để mua gạo theo giá cung cấp, ăn cơm ở các cửa hàng mậu dịch hay đổi bánh mỳ.

     Có thời gian, nếu có người thân ở quê đến chơi hoặc đi chữa bệnh, gia chủ có thể mang sổ hộ khẩu kèm theo giấy thông hành của người thân do địa phương cấp ra khai báo với đồn Công an khu phố để được cấp tem lương thực.

     Trang bìa của một quyển sổ mua lương thực ở nội thành Hà Nội thời bao cấp (Cám ơn GS Hà Đình Đức cung cấp ảnh này)

Hồi ức của Viet Cuong Sarraut