Thursday, December 14, 2023

ANH HÙNG BẤT LUẬN THÀNH BẠI

 Anh hùng xin chớ căn cứ vào thành bại. Bởi mưu sự tại nhân, nhưng thành sự lại tại thiên, không ai cưỡng được ý trời. Vậy không nên đánh giá anh hùng dựa vào thành bại. Nhưng thành công và thất bại là gì? Mỗi người có những tiêu chuẩn khác nhau. Nếu bạn làm việc đủ chăm chỉ, cố gắng hết mình và kiên trì cho đến khi vượt qua chính mình, bạn là một anh hùng. Còn lão PP cho rằng, lão không phải anh hùng, bởi mục tiêu lớn nhất là sánh vai với tỉ phú Lý Gia Thành nhưng bị thất bại thì buồn lắm, không thể là anh hùng. Ấy vậy mà rất nhiều thằng đệ từ New York, đến Hồng Kông và Diệc Lam vẫn cứ hò hét ;”Đại ca và Tào Tháo là anh hùng!” Tiên sư cái anh Tào Tháo, cứ xuất hiện trong óc để lão phải nhắc tên. Nếu luận anh hùng, lão cho rằng không nên dựa vào thành bại để luận anh hùng. Các hảo hớn Lương Sơn Bạc dưới sự cầm đầu của Tống Giang sau khi về với triều đình cuối cùng xông pha trận mạc cũng thua vãi đái, người chết, kẻ bị thương, người đi tu, kẻ về quê chăn lợn, tan tác như đống tro tàn gặp gió. Vậy mà bọn họ vẫn được gọi là anh hùng. Không hiểu mấy lão già bụng bia với bộ óc kinh bang tế thế ở bia Ụ pháo có được gọi là anh hùng không? kkk

Mỗi người đều có mộng tưởng, mộng lớn hay nhỏ tùy vào tham vọng của mình. Nhưng ông trời không cho mộng tưởng thành thật thì chỉ bó tay quy phục. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, thiếu đi yếu tố nào đều bất thành.

Trực diện với thành bại cũng vậy, tâm tĩnh và không đắc ý, không ngạo mạn khi thành công và cũng bình tĩnh, không nao núng, không đổ tại này nọ khi thất bại. Điềm nhiên tiếp nhận thành bại, không tự ti, không tự phụ, kiên trì niềm tin, không dựa vào thành bại luận anh hùng, điều quan trọng là trong quá trình ấy,  bạn có thực sự làm việc chăm chỉ, kiên trì và cống hiến hết mình hay không. Quá nhiều người chỉ tập trung vào kết quả mà bỏ qua quá trình quan trọng nhất. Cũng giống như một người trên đường đi đến đích, hành trình có gió có mưa, có chông gai lầy lội, vượt được qua và ngắm nhìn cảnh vật dọc đường đôi khi còn thú vị hơn điểm đến.

Có ai nói Napoleon là kẻ thất bại không? “ Không bàn về thiên tài quân sự, chỉ nói về tình yêu. “Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”. Tình yêu của Napoléon dành cho Josephine mê mệt đến mức thậm chí ông còn thản nhiên mỉm cười khi được biết Josephine ngoại tình. Thật khâm phục người Pháp vì sự cởi mở và bao dung của họ đối với đời sống tình dục. Điều thú vị là sau này Napoléon ly dị Josephine vì bà không thể sinh con cho ông để củng cố vương triều. Từ góc nhìn này, có thể khẳng định, Napoleon chỉ quan tâm tận hưởng hiện tại và không đếm xỉa tới kết quả. Bên trong nhà thờ Saint-Piere Saint-Paul bên rìa thành phố Paris là lăng mộ của hoàng hậu Josephine, người phụ nữ hơn 6 tuổi mà Napoleon Đại đế say đắm. 

Mặc dù Napoléon bị đánh bại và bị bắt trong trận Waterloo và bị lưu đày lần thứ hai và cuối cùng chết vì bệnh tật ở nước ngoài, nhưng cuộc đời của ông vẫn rất oanh liệt. Mặc dù người dân Pháp hiện nay vẫn còn có những quan điểm và tranh luận khác nhau về thành bại của ông nhưng không thể nghi ngờ rằng ông là một người hùng, một nhân vật lịch sử vĩ đại. Chúng ta có thể xóa bỏ một số thành tựu to lớn trước đây của ông ta vì trận Waterloo hay vì tình yêu không bất hủ? không thể!

Hãy nhắc lại Sở bá vương Hạng Vũ, dù bị Lưu Bang đánh bại và mổ bụng tự sát ở bên sông Ô Giang. Nhưng nhìn vào cuộc đời của ông, thực sự là rất tuyệt vời. Tại sao dân gian vẫn gọi ông là anh hùng vì cái kết thất bại?

Có một chiếc vòng xoay được chia thành 10 phần bằng nhau, trong đó có 7 phần sơn màu đỏ và 3 phần còn lại sơn màu xanh, sau đó một người bắt đầu quay chiếc vòng xoay và hỏi bạn đoán xem sẽ dừng lại ở màu gì. Chắc chắn bạn sẽ đoán màu đỏ bởi màu đỏ chiếm 7 phần. Đến một đứa trẻ con cũng chọn màu đỏ bởi xác suất 70% lớn hơn xác suất 30% rất nhiều. Nhưng liệu vòng xoay có dừng ở vị trí màu xanh không? Vâng, điều đó là có thể. Bạn đã chọn màu đỏ và tình cờ bàn xoay dừng lại ở vị trí màu xanh. Bạn có thể nói rằng quyết định bạn vừa đưa ra là sai lầm không? Bạn có hối hận khi chọn màu đỏ thay vì màu xanh không? Lão có thể khẳng định với bạn rằng quyết định và lựa chọn của bạn không có vấn đề gì, vấn đề là vận may của bạn chưa đủ tốt mà thôi.

Nhưng xui xẻo không phải là lỗi của bạn mà do thượng đế. Nếu bạn hiểu được điều này thì có lẽ không quá khó để chấp nhận những kết quả đi ngược lại mong đợi, những cảm xúc tiêu cực khác như tự trách móc, chán nản, tiếc nuối,… sẽ không xuất hiện, từ đó giảm thiểu những đau đớn  về sau. Tiếp theo trong tình huống này là gì? Bạn chỉ cần quay lại. Từ sự việc này, chúng ta có thể hiểu một sự thật là chúng ta không thể sử dụng kết quả cuối cùng để suy ra quyết định đó là đúng hay sai. Ngay cả khi bạn đã làm đúng 70% thì 30% đó bao gồm nhiều yếu tố không thể kiểm soát được có thể là lý do thực sự khiến kết quả cuối cùng trái ngược với mong đợi. Hãy bình tĩnh tìm ra nguyên nhân và thử lại lần nữa. Tuy nhiên, trong cuộc sống, hầu hết mọi người đều bị mù quáng bởi những phán xét theo thói quen. Mọi người đều có thói quen sử dụng kết quả cuối cùng để suy ra tính đúng đắn của quyết định.

Sau bài “Luận ngạo mạn” nhiều bạn trẻ nhắn tin yêu cầu lão bàn về sự hồi sinh sau thất bại. Kèm theo thất bại là hổ nhục, lão từng viết trong một bài là “Hổ nhục, tủi nhục hay hổ thẹn đều làm lòng quặn đau không thể chống chế. Chỉ biết ngậm đắng nuốt cay im lặng trong nhẫn nhục. Làm người chưa từng một lần bị hổ nhục thì con đường nhân sinh chưa thể gọi là hoàn chỉnh.” Muốn không tủi nhục thì chỉ có thể đứng lên trong thất bại. 

“Ai chiến thắng mà chẳng hề chiến bại

Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”

Lão thích câu thơ này của Tố Hữu và đã thầm đọc lại muôn vàn lần để khởi động lại ý chí tìm ra những cơ hội mới, tìm ra đường đi nước bước tiếp theo. Sau khi bị mất tiền, muốn khôi phục lại nhà máy phải cần đến vốn. Ngân hàng quay lưng lại và không chi tiền cho vay bởi sự quản lý nguồn vốn quá sơ xuất của mình. Thôi đành liều mạng dùng số vốn còn lại đánh những canh bạc cuối cùng với Donald Trump xem có thể kiếm chác từ lão tỉ phú này không. Nhưng càng đánh càng bại bởi sòng bạc của Trump quá đỏ, Trump quá cứng cựa. Thật ra thì “Cờ bạc là bác thằng bần”, tính chuyện kiếm tiền ở bất kỳ sòng bạc nào đều là điên rồ và hoang tưởng. Thất bại nối tiếp thất bại, khi tỉnh táo ngộ ra thì đã hơi muộn. Khi những cay đắng đến liên tiếp và hy vọng tiêu tan như bong bóng thì lão từng nghĩ đến tự tử. 

Các bạn chắc sẽ cười thầm bởi một lão từng xưng là “Hero” (Anh hùng) lại nghĩ đến tự tử? Wait a minute! Lão Elon Musk cũng từng nghĩ đến việc tự tử, bạn có biết không? Khi Musk tham dự Hội nghị thượng đỉnh DealBook 2023 ở New York, anh ta tiết lộ rằng anh từng trải qua một "cuộc khủng hoảng hiện sinh" lúc còn nhỏ và từng nghĩ đến việc tự tử khi mới 12 tuổi. Trong cuộc phỏng vấn với các phóng viên, Musk nói rằng khi còn nhỏ anh đã nghĩ đến một câu hỏi "sâu sắc": "Ý nghĩa của cuộc sống là gì khi cuối cùng là sự tử vong? Chẳng phải tất cả đều vô nghĩa sao? Tại sao không tự tử cho xong mà tại sao cứ phải sống?" Điều đã thay đổi suy nghĩ của anh ấy về việc tự tử là một cuốn sách - cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng "The Hitchhiker's Guide to the Galaxy" của Douglas Adams.

Musk nói: "Cuộc sống của tôi thực sự có hạn, nhưng nếu chúng ta có thể mở rộng tầm nhận thức của mình thì chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống đẹp đẽ đến từ vũ trụ."

Mối liên kết không thể tách rời giữa Musk và vũ trụ bắt đầu từ đó...

Musk tiếp tục tiết lộ rằng ngay cả trong những khoảnh khắc hạnh phúc của tuổi thơ, suy nghĩ của anh thường giống như một cơn bão táp cuồng nhiệt. Nguyên nhân không ngoài  “nguồn ý tưởng” luôn tuôn trào trong đầu anh và hơn thế nữa là “tuổi thơ khó khăn đã làm gia tăng hoàn cảnh tự phát” trong anh.

Một tuổi thơ khó khăn? Đúng vậy, tuy hiện tại anh đã là tỷ phú và là người giàu nhất thế giới, nhưng con đường trưởng thành của anh không hề dễ dàng, thậm chí có thể nói là có chút khốn khổ...

Musk sinh ra ở Pretoria, Nam Phi vào năm 1971. Khi còn nhỏ, anh là một cậu bé có phần vụng về và chỉ thích đọc sách, sau khi bố mẹ ly hôn, anh sống với bố. Cậu bé Musk thường xuyên bị các bạn cùng lớp bắt nạt ở trường, các bạn thường đuổi theo và đẩy anh xuống cầu thang bê tông, có lần anh bị đánh đến mức phải nhập viện. Theo hồi ức của Musk: "Đó là lý do tại sao việc trưởng thành trở nên rất khó khăn. Không có cơ hội để nghỉ ngơi relax trong nhiều năm. Tôi bị các bạn cùng lớp đánh ở trường và hoàn cảnh cũng tồi tệ không kém khi về nhà". 

Mọi thứ Musk phải gánh chịu ở nhà đều là do cha anh, Errol Musk…

Mẹ của Musk, Meyer từng nói rằng chồng cũ của bà là một người rất nóng nẩy hung hăng, mặc dù ông đã hứa sẽ thay đổi sau khi kết hôn nhưng trên thực tế, tình hình sau khi kết hôn lại trở nên tồi tệ hơn… Errol không chỉ đánh vợ mà còn bạo hành tinh thần con cái. Musk và anh trai Kimbal từng mô tả cha của họ là " chỉ có một phút thân thiện, và phút tiếp theo ông sẽ bạo hành không ngừng nghỉ trong một giờ hoặc hơn. Ông nghiêm khắc ra lệnh cho Musk và anh trai "im lặng". Ngồi trong bốn giờ và lắng nghe "bài giảng" của ông. Bất cứ khi nào Musk nhớ lại những bài thuyết giáo nặng nề và kéo dài của cha mình, anh đều nói đó là một kiểu “tra tấn tinh thần”…

Musk sau đó đã đến Mỹ, nhưng ngay cả sau khi thoát khỏi môi trường thời thơ ấu, chấn thương tâm lý khi còn nhỏ đã ảnh hưởng sâu sắc đến anh.

Musk cho biết anh mắc hội chứng Asperger và suy sụp tinh thần vào năm 2022. Thời điểm đó, Musk gặp phải hàng loạt rắc rối, gặp thử thách lớn sau khi mua lại Twitter (nay đổi tên thành “X”); rất lo ngại về danh tiếng và bị khán giả la ó khi tham gia một chương trình hài kịch. Con trai 2 tuổi bị mọi người bám theo một cách điên cuồng. Theo tác giả Ben Mozrich, Musk nhốt mình trong văn phòng và chán nản đến mức các nhân viên của ông gần như đã gọi cảnh sát vì sợ Musk sẽ làm hại chính mình. Ảnh hưởng của cha anh đối với Musk còn vượt xa điều đó, tính cách, thái độ đối với gia đình và cách làm việc của anh đều mang bóng dáng của cha ở một mức độ nhất định. Mối quan hệ giữa hai người có lúc căng thẳng, có lúc ấm áp. Cách đây 7 năm, Musk đã cắt đứt liên lạc với ông bố Errol Musk vì ông ta có con với cô con gái riêng Jana Bezuidenhout ít hơn 41 tuổi của mình. Tuy nhiên, cách đây không lâu, Musk đã gặp lại bố để nối lại mối quan hệ giữa hai người. 

Ơ, đang nói về lão PP sao lại xiên sang lão  Musk? Yes, lấy Musk để làm đệm cho PP. Lão đã nghĩ đến sự kiện bắt tay thần chết trên Thái Bình Dương trong lúc vượt biển và nghĩ, đến cái chết ta còn chẳng sợ, sợ chi thất bại? Đành phải chịu nhẫn nhục để làm lại từ đầu. Trước đây ra vào khách sạn 5, 6 sao giờ rút xuống 3, 4 sao. Trước đây 3 ngày một tiệc nhỏ, 4 ngày một tiệc lớn, giờ tự mình ra chợ mua rau về nấu nướng. Lão bắt đầu dùng máu con tim viết lên những kinh nghiệm thành bại, gian truân, đau đớn, cay đắng được tuôn trào ra từ ngòi bút. Lão lao vào viết báo thuê cho các tờ báo Hồng Kông, và rồi các quan hệ được xây dựng lên từ các bạn đọc yêu quý. Có người chủ động đến gặp và cho lão cơ hội đóng cổ phần vào một nhà máy sản xuất mỹ phẩm và thực phẩm chức năng. Từ đó, một trang mới huy hoàng mở ra. 

Thành công nhỏ nhặt không thể so sánh với tham vọng ban đầu, nhưng lão đã học được “Tri túc thường lạc” biết đủ là vui. Niềm vui không đến từ tiền bạc, vật chất. Mà niềm vui lão theo đuổi đã chuyển sang một vế khác. Niềm vui đến từ tinh thần, bạn bè, cộng đồng. Lão vui với bạn bè, với cỏ cây, với những nụ cười đến từ các cụ già, em nhỏ ở quê hương mình. Đấy chính là niềm vui thiêng liêng mà lão tìm thấy và tận hưởng những ngày cuối cùng của cuộc đời. Xin đừng luận anh hùng bằng thành bại. Lão chỉ muốn làm một chiếc lá 🍁 mùa thu rụng về cội nguồn của mình và hóa thành đất nơi sinh ra mẹ và các con của mẹ…

Peter Pho

Wednesday, December 13, 2023

Sự ngạo mạn sẽ dẫn đến đâu?

LUẬN VỀ NGẠO MẠN 

Đầu những năm 90 là những năm đỉnh cao của lão PP trong tiền tài và danh vọng. Sự nghiệp đang lên như diều gặp gió. Nhưng chính vì ngạo mạn mà dẫn đến sụp đổ thảm hại, như diều hâu đang dũng mãnh bách chiến bách thắng, ngạo nghễ làm chủ cả bầu trời, bỗng dưng bị trúng mưu hèn kế bẩn của loài chim sẻ rồi rơi bịch xuống đất. Quay đầu nhìn lại, cả lão PP và người cháu quản lý công ty đã mắc bệnh ngạo mạn. Ngạo mạn bởi tiền vào quá dễ, quá thuận lợi, và có quá nhiều quan hệ chống lưng, nên kiêu ngạo mất cả đề phòng. Đối phương đã dựa vào điểm yếu ấy của mình thiết kế ra một cái bẫy để mình rơi vào. Kết quả hơn nghìn tỷ VND lúc bấy giờ đi tong, đời lại quay lại từ đầu. Lúc ấy nếu biết khiêm nhường và chín chắn, doanh nghiệp của gia tộc lão có lẽ cũng chẳng thua kém gì Jack Ma. Bởi công nghiệp cồn, rượu là một trong những ngành nghề phát triển nhanh và vững vàng nhất Trung Quốc. Một kế hoạch thu mua hầu hết các xưởng sản xuất cồn trên đất Vân Nam và Tứ Xuyên đang sắp định hình. Nếu thành công, danh hiệu “Vua Cồn China” chắc thuộc về lão. 

Từ sự thất bại đau đớn này lão mới nhìn ra sự nguy hiểm dại dột của ngạo mạn. Ngạo mạn khiến mình chủ quan mù mắt, còn khiến các chư thần thánh ghét bỏ, dẫn đến rủi ro. Các bạn thấy bây giờ là một PP khác hẳn trước đây, một PP hạ mình sát đất, làm nô lệ cho chúng sinh, viết bài vui chơi cùng các nông hộ, không phân biệt giàu nghèo sang hèn…kkk

Tam Thể là cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của nhà văn người Trung Quốc Lưu Từ Hân. Tên sách phỏng theo Bài toán ba vật thể trong Cơ học. Tuy đây chỉ là cuốn đầu tiên trong bộ ba Chuyện cũ Trái Đất, nhưng người đọc thường gọi cả bộ sách là Tam Thể. Trong tiểu thuyết “Tam Thể”, dù xét về mặt trí tuệ hay công nghệ, con người trên trái đất không thể so sánh được với “Người tam thể”, một dạng sinh vật khác sống trong vũ trụ. Người tam thể có thể dễ dàng chiếm đoạt và ngự trị trái đất. Nhưng chỉ vì sự ngạo mạn khinh thường con người trên trái đất mà kết cục họ đã thất bại. Trong tiểu thuyết, tác giả đã đưa ra một kết luận rất đáng lưu tâm: Sự yếu đuối và thiếu hiểu biết không phải là trở ngại cho sự sinh tồn mà chính là sự kiêu ngạo.

Xuyên suốt lịch sử loài người, có quá nhiều câu chuyện thất bại do ngạo mạn. Napoléon bại trận ở Waterloo, Quan Vũ bất cẩn đánh mất Kinh Châu...

Thậm chí toàn bộ Kinh thánh cũng là một cuốn từ điển ghi lại những rắc rối ưu phiền mà con người tự chuốc lấy vì sự kiêu ngạo của mình. Adam và Eva ăn trái cấm và bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng. Họ có phải là người thiếu hiểu biết? KHÔNG. Họ biết rất rõ hậu quả của việc ăn trái cây đó, nhưng họ đã kiêu ngạo. Pharaoh, vua Ai Cập, đã trải qua mười thảm họa tàn khốc. Phải chăng do thiếu hiểu biết? KHÔNG. Ông biết rất rõ hậu quả của việc bắt bớ dân Israel sẽ rất thảm khốc.Tuy nhiên, ông ta đã quá kiêu ngạo. Kinh Thánh ghi lại: “Trái tim Pharaoh đã chai sạn”. Ý nghĩa ban đầu của sự cứng cỏi trong lòng Pharaoh bởi “nghĩ rằng mình mạnh mẽ và có thể làm chủ được”. Sự thật đó là do kiêu ngạo.

Và sự cố Tháp Babel nổi tiếng. Người ta cố gắng vươn tới bầu trời từ việc xây tháp Babel, họ không biết mình cân nặng bao nhiêu mà dám chạm đến trời xanh? Họ đương nhiên biết. Nhưng họ kiêu ngạo... Theo huyền thoại, các thế hệ loài người sau trận đại hồng thủy, nói cùng một thứ ngôn ngữ và di cư về phía tây, đến vùng đất Shinar (שִׁנְעָר). Ở đó, họ cùng nhau dựng lên một thành phố và một tòa tháp đủ cao để chạm tới thiên đường. Nhưng sự ngạo mạn của họ đã khiến Chúa tức giận. Chúa đã tạo ra rào cản trong tiếng nói của họ khiến họ không còn hiểu được lẫn nhau, và làm họ rải rác đi khắp thế giới.

Và Sau-lơ (Saul), Đa-vít (David), Sa-lô-môn (Salomon)... Sự kiêu ngạo giống như một loại ma túy khiến người ta choáng váng và không thể dừng lại. Họ chạy theo ham muốn của bản thân, họ trở nên tự cao tự đại vô cớ. Kinh Thánh là lịch sử cứu chuộc con người nhưng đồng thời cũng là lịch sử về sự kiêu ngạo của con người.

Vừa qua, bệnh viêm phổi Covid -19 Vũ Hán là một ví dụ, lúc bấy giờ đã có người đưa tin trên mạng rằng có một loại virus viêm phổi xuất hiện. Nếu khiêm tốn, mọi người nên nhanh chóng xác minh rằng đây là một vấn đề nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, Công an Vũ Hán đã xử lý người đăng tin theo pháp luật. Họ không biết hậu quả nếu bệnh dịch lây lan hay sao? tất nhiên là biết, nhưng họ ngạo mạn và nhắm mắt làm bậy. Cho đến khi dịch bệnh bùng phát, người ta mới nhận ra người đầu tiên báo tin không phải là dân thường mà là một bác sĩ chuyên nghiệp. Cảnh sát đã "xử lý" các bác sĩ với danh nghĩa "tung tin đồn về dịch bệnh", và truyền thông đã công khai việc này. Thật là kiêu căng và ngạo mạn.

Quyền lực đương nhiên có thể mang lại lợi ích cho nhân loại, nhưng gen của con người tự nhiên ẩn chứa yếu tố ngạo mạn. Nó dường như đang ẩn náu trong một cơ quan nào đó của con người, nó vô hình nhưng sẽ vô tình lọt ra ngoài để diễu võ dương oai. Vì vậy, một khi ngạo mạn gắn liền với quyền lực, nó sẽ ngay lập tức trở nên ngạo mạn và nhe nanh múa vuốt.

Thomas Hobbes gọi nó là đại quái thú Leviathan. (Leviathan, là một loài sinh vật biển thần thoại xuất hiện trong Kinh Thánh. Trong ngành khoa học nghiên cứu ma quỷ, Leviathan là một trong bảy hoàng tử của địa ngục, là tội đồ đố kỵ, ganh tỵ và canh giữ cổng địa ngục).

Montesquieu là một luật sư, nhà xã hội học, nhà văn và triết gia Pháp sống trong thời đại Khai sáng.  Ông đã nói trong cuốn “Tinh thần pháp luật” rằng: Quyền lực có xu hướng bị lạm dụng một cách tự nhiên. Nói cách khác, một khi đã nắm được quyền lực thì sẽ bị sử dụng đến mức vô giới hạn. Cho đến khi nó gặp phải một sức mạnh khác có thể kiềm chế nó. Đặc tính quyền lực này là do tính kiêu ngạo của con người thường bộc lộ ra ngoài để gây rắc rối. Hơn nữa, quyền lực đương nhiên không muốn bị giám sát và hạn chế.

Trong một cuộc họp báo, cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng một phóng viên CNN đã xúc phạm ông nên đã thu hồi quyền đưa tin của phóng viên này trong Nhà Trắng. Tuy nhiên, quyền tự do báo chí được bảo vệ bởi Hiến pháp Hoa Kỳ, phóng viên này ngay lập tức kiện tổng thống thông qua luật sư của mình về hành vi này, cuối cùng Trump phải mời phóng viên quay lại. Để ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực do bản chất kiêu ngạo của con người gây ra, các bậc tiền bối của Hoa Kỳ đã phát minh ra hiến pháp, phân quyền, tự do báo chí và tư pháp độc lập...

Cơ quan công an Vũ Hán có thể ngang nhiên “xử lý theo pháp luật” đối với các bác sĩ tuyến đầu, vụ việc này còn đáng sợ hơn cả chính bệnh dịch. Tuy nhiên, bệnh dịch ập đến đột ngột và rõ ràng, khiến mọi người nhanh chóng cảm nhận được sự nguy hiểm. Nhưng sự ngạo mạn của quyền lực thường được che giấu và có vẻ hợp lý. Cảnh sát Vũ Hán nhân danh luật pháp và chiêu bài lo ngại xã hội hỗn loạn để xử lý việc các bác sĩ “tung tin đồn”. Trông có vẻ đúng luật và cảm tính. Tuy nhiên, giống như con quỷ Bạch Cốt Tinh đã biến hình, nhưng đấy mới là yêu tinh thực sự. Ôn dịch đã khiến yêu tinh hiện nguyên hình, nhưng cả thế giới phải trả giá quá đắt cho sự ngạo mạn quyền lực này.

Sự ngạo mạn quyền lực sẽ lộ rõ ​​bản chất nếu dư luận xã hội giám sát kịp thời. Dư luận chính là đôi mắt lửa con ngươi vàng của Tôn Ngộ Không, chỉ cần được tự do biểu đạt, yêu quái vừa xuất hiện sẽ bị nhận ra tức thì, rất nhanh sẽ không nơi ẩn nấp. Tuy nhiên, sau khi công an Vũ Hán “xử lý” bác sĩ “theo pháp luật” thì truyền thông không giám sát quyền lực mà phụ thuộc vào quyền lực. Họ ủng hộ hành động của công an Vũ Hán và thổi phồng nó lên. Nếu cảnh sát, truyền thông và tòa án liên minh lại với nhau thành một khối thì họ gần như thiên hạ vô địch thủ,  nghĩa là có thể đánh bại bất cứ kẻ nào trên thế giới. Nếu cơ quan tư pháp không độc lập thì luôn có một trong hàng trăm tội danh trong luật hình sự phù hợp với bạn. Nói cách khác, nếu cảnh sát, giới truyền thông và tòa án kết hợp lại sẽ biến thành một con quái vật khổng lồ với sức mạnh vô song.

Plato nói: Công lý có nghĩa là “mọi người đều thực hiện đúng chức năng của mình, mọi người đều tôn trọng trật tự và mọi người đều ở vị trí của mình.” Nghĩa là, cảnh sát chỉ làm những việc của cảnh sát, bác sĩ chỉ làm những việc của bác sĩ, phóng viên chỉ làm những việc của phóng viên, và tòa án chỉ làm những việc của tòa án.

Leviathan, con quái vật khổng lồ này, cũng giống như Tôn Ngộ Không, nếu không kiềm chế, nó có thể đại náo thiên cung, mang tai họa cho đất nước và nhân dân. Nhưng nếu trói buộc nó bằng một vòng kim cô với một bùa chú hiệu nhiệm, nó có thể mang lại lợi ích cho dân chúng và thậm chí còn có thể tạo ra các thánh đồ.

Trong lịch sử, phần lớn những tai họa mà xã hội loài người phải gánh chịu không phải là sự kiện tự nhiên mà là những thiệt hại do ngạo mạn quyền lực gây ra. Hãy nhìn vào hai cuộc chiến tranh thế giới, một khi con người kiêu ngạo có sức mạnh vô hạn, họ có thể biến xã hội loài người thành địa ngục trần gian. Việc ngăn chặn thói ngạo mạn quyền lực không chỉ đòi hỏi sự sắp xếp của nhiều hệ thống khác nhau mà còn phải có sự bảo vệ cho những người tố giác trong xã hội.

Con tàu Titanic được cho là không thể chìm, nhưng số phận của nó thực ra lại thuộc về người thủy thủ quan sát phía trước bằng kính viễn vọng. Coi thường tiếng nói của “người thổi còi” là coi thường mạng sống của một thuyền người. (Người thổi còi hoặc người tố giác là một người làm rò rỉ, tiết lộ ra công cộng, các thông tin chung quan trọng được giữ bí mật với quần chúng).

Giáo viên, luật sư và bác sĩ là những người thổi còi trong xã hội. Những trường đại học đầu tiên trong xã hội loài người chỉ có ba chuyên ngành là thần học, pháp luật và y học. Nếu tinh thần của một người có vấn đề thì tìm đến thần học, nếu hành vi của một người có vấn đề thì tìm đến pháp học, nếu cơ thể có vấn đề thì tìm đến y học. Điều này cũng đúng với một xã hội: Giáo viên bảo vệ và truyền đạt lương tâm của xã hội. Luật sư bào chữa, điều chỉnh hành vi của xã hội. Các bác sĩ chăm sóc và chữa bệnh cho người dân. Một khi mất đi ba điểm này, giáo viên không được tự do bày tỏ, luật sư bị lệ thuộc vào quyền lực, và bác sĩ không thể đưa ra những phán đoán chuyên môn. Kết quả chắc chắn sẽ là thảm khốc. Nó dường như là một căn bệnh truyền nhiễm, nhưng nếu chúng ta không chữa khỏi căn bệnh này trong xã hội, chúng ta chỉ có thể né tránh trước những thảm họa khác nhau, và cuối cùng chúng ta sẽ không còn nơi nào để trốn tránh.

Khổng Tử nói: “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách”. (Khổng tử nói: Lãnh đạo dân bằng pháp luật dùng nhiều đến hình phạt, dân có thể tránh được sai phạm nhưng mất lòng tự trọng. Lãnh đạo dân bằng đức độ và lễ nghi khiến dân biết xấu hổ mà tự cảm hóa). Nói cách khác: Một quốc gia dựa vào chính trị và trừng phạt để cai trị thì chỉ nuôi dưỡng ra một đám bạo dân vô liêm sỉ, giống như cài đặt một quả bom nổ chậm, nhìn có vẻ yên tĩnh nhưng không ai biết khi nào nó sẽ nổ tung?

Sở dĩ thiên nhiên tràn đầy năng lượng, có sức sống mãnh liệt là nằm ở sự bao la, rộng lớn của nó. Bớt đi ngạo mạn quyền lực, chấp nhận những tiếng nói khác nhau, thậm chí cho phép những tiếng nói gay gắt khó nghe, xã hội mới có thể sôi động, đầy nhựa sống và tiến bộ nhanh chóng. Càng nhiều người thổi còi càng tránh được những tảng băng có thể làm đắm tàu phía trước. Mọi người cùng khiêm nhường và làm đúng chức năng của mình cho một xã hội hài hòa, nhân văn và tiến bộ.

Peter Pho

Tuesday, December 12, 2023

Thế giới onl (2)

Bài viết „ Cam tươi, Cam ảo…“ lại bị FB kiểm duyệt một cách thô bạo. Tuần trước FB cũng xóa hai bài của tôi với lý do "Vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng"

Bức ảnh „Censorship“ (Kiểm duyệt) bị che hôm qua vốn được đăng và trích dẫn hàng vạn lần trên mạng nhưng bị cấm trong bài của tôi (xem ảnh).

Lý do FB nêu ra: „Thông tin sai lệch. Theo những người kiểm tra thực tế độc lập, nội dung này không dựa trên sự thật. Bạn quyết định xem bạn có muốn xem chúng hay không. Thông tin sai lệch tương tự đã được xác minh tính xác thực trong một bài đăng khác. Có thể có sự khác biệt nhỏ. 

(Fehlinformationen. Laut unabhängigen Faktenprüfern basiert dieser Content nicht auf Fakten. Du bestimmst, ob du sie sehen möchtest. Die gleiche Fehlinformation wurde bereits in einem anderen Beitrag von Faktenprüfern geprüft. Es gibt möglicherweise geringe Unterschiede.)

Đây là lý lẽ của một cái máy (robot) mà tôi đã nói trong bài trước. Bức ảnh này chỉ lên án nạn kiểm duyệt, bịt miệng công chúng. Nó được sử dụng rất nhiều nơi, nhiều lần. Kiểm duyệt là một thực tế và viêc lên án nó cũng là việc không ai chối cãi. Vì thế robot sẽ không xử lý khi quét được bức ảnh.

Robot chỉ ra tay khi có nhiều tin báo trùng lặp về bức ảnh. Đúng là không não.

Nguyễn Xuân Thọ

Monday, December 11, 2023

Thế giới onl (1)

Cam tươi, CAM ảo, CAM không não

Mấy tuần rồi hắn rao bán CAM HD riết nên từ „Thọ Củi“ thành „Thọ CAM“. Thật ra thằng tiều phu từng bị mang tiếng là CAM từ lâu rồi.

Đó là vào những năm 2005-2009, khi Internet 2.0 mới ra đời. Công nghệ 2.0 cho phép tương tác, tạo ra tiền đề cho mạng xã hội hôm nay. Một số sinh viên Việt Nam ở nước ngoài liền lập ra các trang „Dân Luận“, „Tathy“, „Thanh niên xa mẹ“ để nói chuyện đời, chuyện học. Ở trong nước không thể thuê server hoặc lấy tên miền cho các trò này. Chỉ cần nghe thấy từ „Diễn đàn“, Forrum, „Mở cửa“ v.v. là bị cấm. Chỉ có sinh viên Việt nước ngoài  mới làm được. Sinh viên vì đám đó rỗi hơi và có nhiều nhu cầu trao đổi, bồ bịch. Tất nhiên những diễn đàn này thu hút người trong nước như ong ngửi thấy mùi đường. 

Tôi lúc đó đã ngoài 50, nhưng tò mò vào đọc và thấy hay nên nhảy vào làm thành viên nhóm nọ nhóm kia. Cũng đăng ký lấy Nickname để được còm, được pốt cho „bằng con, bằng cháu“. 

Hồi đó phải nói rằng những người trong nước vào internet để trao đổi, để chat chit đều là loại có sạn. Thứ nhất chưa ai có smartphone, có 3 G để ngồi toilet cũng rút từ túi quần ra là chát. Hồi đó không ai vào mạng chỉ để khoe áo khoe quần, để bán hàng xách tay. Tất nhiên cũng cóc có bò đỏ, bò đen, bò vàng mà chỉ có dân liều mạng và dân mất mạng.

Muốn lam công dân mạng ít nhất phải có máy tính, có net ổn định. Hoặc nếu không thì phải có tiền để ngồi cà phê internet. Bài viết dài, ảnh và link phải copy trước vào 1 cái USB-stick để khi lên mạng khỏi phải mất công mò tìm. Mạng yếu và tường lửa dày đặc khiến cho việc „cô-py-pat“ rất khó. Nếu không chuẩn bị trước mà khi lên mạng viết lâu, loạng quạng lỡ „mất mạng“ thì toi công. Đó chưa kể là khả năng bị bắt quả tang rất cao. Vì vậy hồi đó chỉ có dân thuộc loại elite (tinh hoa) ở trong nước mới chơi net. Họ không chỉ là tinh hoa mà còn tinh nhanh và láu cá. Ai biết cách vượt rào, biết cách giấu IP và có chút máu liều mới kham nổi trò chơi luxus (xa xỉ) này.

Phẩm chất đáng phục nhất của dân mạng trong nước thời đó là lòng dũng cảm. Năm 1848 Karl-Marx khởi đầu „Tuyên ngôn của đảng Cộng sản“ bằng câu „Một bóng ma đang truyền lan khắp châu Âu“ . (Ein Gespenst geht um in Europa). Năm 2005 toàn dân mạng nhập tâm câu „Một bóng ma đang rình rập khắp cõi mạng“. Bóng ma rình rập trên toàn mạng khi đó tên là CAM (Công An Mạng). 🙂

Lúc đầu mấy cậu học trò cũng chỉ nghĩ là lập diễn đàn để nói chuyện đời, chuyện học, chuyện tình chứ không muốn dính đến chính trị. Nhưng khổ cái khi kể về cuộc đời người Việt thì cái gì chả dính đến chính tri. Riêng chuyện anh gốc Mỹ Tho mà nay ở Cali thì đã là chính trị mẹ nó rồi, vì anh kể về cuộc đời thuyền nhân! Chỉ than phiền việc bị hành khi xin kéo dài hộ chiếu ở Đại sứ quán thì đã có bao thằng vào chửi bọn tham nhũng. Hơn cả chính trị! 

Ở đâu có chút mùi chính trị thì ắt có mùi CAM phảng phất xung quanh. Mấy bạn CAM thời 2.0 làm việc có nghiệp vụ và mẫn cán chứ không như đám AK-47 ngày nay. Các bạn không chửi bậy và có lúc còn tỏ ta „phản động hơn phản động“.  🙂

Cậu sinh viên nọ ở Đức dùng một cái nick rất là „phe phẩy“ và không để lộ bất cứ hình ảnh gì lên mạng. Cậu kể về những kỷ niệm thời bao cấp ở Hà Nội. Câu chuyện hé lộ cha mẹ cậu là công an. Thế là chỉ bằng vài câu hỏi được còm một cách thông minh, người ta khoanh vùng được gia đình cậu ở Hà Nội. Lập tức cậu được mẹ nắn gân ngay. Từ đó nick „phe phẩy“ không dám còm, dám pốt gì nữa. 

Sau vài vụ việc như vậy mọi người bắt đầu ngán CAM và nghi ngờ lung tung. Đã nghi ngờ thì ai quanh mình cũng đều có thể là CAM. 

Vì không có hình ảnh, thông tin về nhau, về bạn bè của nhau nên quan hệ đúng là ảo 100%, chứ không như ngày nay. Thế giới ảo có cái hay là nó làm cho con nguời ta rất dễ tìm ra kẻ tâm đắc với mình, nhưng nó cũng có thể là một cái bẫy rất tinh vi của những kẻ cố tình lợi dụng sự vô danh, vô hình trên mạng. Tôi đôi khi phải phì cười vì thấy cư dân mạng nghi ngờ nhau đến mức bệnh lý. Chống cộng cực đoan quá cũng sẽ bị nghi là CAM! Bênh vực chính quyền hoặc bảo vệ cái gì đó tích cực ở trong nước thì lại càng dễ ăn ...CAM! Lý luận sắc bén, lập luận có bài bản quá, cho đội mũ...CAM để yên chuyện! 

Khi các đợt biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trong những năm 2007-2011 nổ ra ở Hà Nội và Sài Gòn, các diễn đàn này đóng vai trò rất quan trọng trong việc phối hợp và tổ chức. Lúc đó không khí trên mạng sặc mùi CAM. Phần chính của cái uế khí là do CAM gây ra, nhưng phần không nhỏ là do dân mạng bị thần hồn nát thần tính “vãi ra”. Kể cả lúc tôi công khai mời cậu cháu, vốn là thủ lĩnh một diễn đàn từ Bắc âu qua Đức chơi với tôi, cũng có kẻ gièm: Cẩn thận đó! Có thể kẻ gièm pha kia nhìn thấy trong những bài viết của tôi một dấu hiệu nào đó để hắn ta tính ra được chỉ số „CAM-index“ của tôi. 

Vì ảo quá thì khó tin nhau nên mọi người hay tổ chức gặp mặt off-line, gọi nôm na là „Ộp Nai“ để còn biết thằng cha kăng chú kiết dưới cái nick nọ kia mặt mũi ra sao. Các cuộc Ộp-Nai ở nước ngoài thường rất hữu ích, vì đôi khi cái nick rất gái kia lại là một thằng điển trai, rất sát gái. Té ra xưa nay toàn anh anh em em với thằng gã. 

Nhưng Ộp-Nai ở Hà Nội hay Sài Gòn đôi khi thót tim. Đã có đứa kể bị CAM tóm và vắt ra nước như Trần Quốc Toản từng làm ở bến Bình Than. Có lẽ vì những con nai bị  công an chộp mà Offline thành Ộp Nai?

Năm 2009 tôi về Việt Nam cũng tìm cách ộp nai với mấy cái nick name mà tôi cảm thấy tin tưởng và hay trao đổi. Các vụ hẹn hò này diễn ra giống như các điệp viên trong phim tình báo „17 khoảng khắcmùa xuân“. Giờ đọc lại cười sặc ga.

Sau đó khi viết hồi ký chuyến về thăm quê, về các cuộc gặp gỡ bạn ảo tôi đã cẩn thận dùng nick của nick để giữ bí mật các bạn mình. Ví dụ „Trặc Trẹo“ thành „Trục Trặc“, „RollingThunder“ thành „Sét hòn“ v.v. nhưng vẫn bị mắng. 

Thế rồi tôi cũng được vài bạn gắn cái mác CAM. Hôm nào đẹp trời sẽ kể tiếp chuyện CAM ảo.

Ngày nay lên mạng không ai còn nhắc đến CAM nữa, chỉ còn nói đến DLV. Người ta còn „lai chim“ (Live stream) tại chỗ các cuộc ốp-nai, mặt ai cũng to phèn phẹt mà không phải sợ.

Thời thế đảo điên, nay các bạn tây giúp ta đóng vai CAM. Khắp thế giới, từ FB đến X (TWITTER) chỗ nào cũng có CAM tây đi xóa bài, treo nick. Hôm rồi tôi cũng bị CAM FB xóa liên tiếp 2 bài vì „Vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng“. 

FB cũng phải có tiền thì mới sống được. Muốn kiếm tiền thì ắt phải có thị trường. Muốn vào chợ bán hàng thì phải lụy ông gác chợ. Thế là bạn để mấy cái robot trên server thu nhận đơn tố cáo và quét từ khóa. Khi có nhiều đơn tố cáo (từ các bạn DLV) hoặc phát hiện ra các từ khóa có vấn đề thì bạn CAM robot không não cảnh cáo, xóa bài hoặc ban nick theo đúng qui trình thuật toán. Nếu bị khiếu nại lại thì Robot sẽ cử người „có não“ đọc lại và có thể xả cản. 

Nhưng được cái các bạn CAM tây không thù dai, không báo về phường, về cơ quan để ghi lý lịch. Nếu biết cãi, vẫn có lúc được "phục hồi nhân phẩm". 

Thế là bên cạnh CAM tươi, CAM ảo, giờ có thêm CAM robot (không não) 🙂

Nguyễn Xuân Thọ

Saturday, December 9, 2023

Đáng giá và mất giá

 THỨ ĐÁNG GIÁ NHẤT?

Đố bạn biết thứ đáng giá nhất trên đời này là gì? Tiền bạc, của cải, vật chất, nhà xe hay những thứ như bằng cấp, địa vị? Một số người thì lại trả lời rằng "thứ đáng giá nhất của tôi là gia đình những thứ khác có hay không, không quan trọng".

Có thể bạn đã từng rất nghèo khó, thứ đáng giá nhất lúc ấy của bạn chắc là một kỷ vật của cha mẹ để lại...

Có thể bạn đã từng rất yêu một người, thứ đáng giá nhất với bạn có thể là những món quà hay những kỷ niệm ở bên người ấy...

Có thể bạn đã từng rất cố gắng, thứ đáng giá nhất của bạn có thể là những món vật chất bạn mua được bằng chính đồng tiền của bạn làm ra. Chúng là một bộ quần áo mới, một chiếc điện thoại đời mới, một chiếc xe máy, một chiếc nhà chung cư hay đơn giản chỉ là một bữa cơm ngon đầy đủ thịt và cá...

Có thể bạn đã từng trải qua cảm giác đau khổ khi mất đi một người rất thân trong gia đình, thứ đáng giá nhất lúc này của bạn là những người còn ở lại, còn tồn tại, còn hiện hữu xung quanh bạn...

Có thể bạn đã năm lần bảy lượt thất bại với những dự án kinh doanh của mình, bạn hiểu rằng ai là những người đã mang lại thu nhập cho bạn, nhân viên và công ty của bạn, thứ đáng giá nhất với bạn mà bạn luôn trân trọng là những đơn hàng, những người khách hàng đã luôn luôn âm thầm ủng hộ bạn...

Có thể bạn đã nhìn thấy những người nổi tiếng, họ có hàng triệu người theo dõi, hàng tỷ lượt xem và tương tác, thứ đáng giá nhất với họ hình như chỉ là những con số vô hình trên mạng xã hội...

Có thể bạn đang ở trong một mối quan hệ tình cảm rất sâu sắc, say đắm, thứ đáng giá nhất - ngay lúc này của bạn có thể chỉ là một cái ôm, một câu nói yêu thương hay những cuộc trò chuyện ai thấy cũng bảo là vô tri mà những ngày tháng cô đơn bạn không có...

Ơ, nhưng mà khoan....

Đọc đến đây thì bạn có nghĩ rằng chúng ta có nhiều hơn một thứ đáng giá không? Liệu thứ đáng giá nhất có bị thay đổi theo thời gian hay theo những trải nghiệm của bạn không?

Đối với Hiếu, mình đã từng suýt ra đi, đã từng trải qua cảm giác cận kề sinh tử khi nằm trên giường bệnh, thứ đáng giá nhất với mình là sức khỏe, là con người, là từng bộ phận trên cơ thể mình.

Nhưng quan sát, phân tích tới tận cùng thì hình như, THỨ ĐÁNG GIÁ NHẤT CỦA MỖI CON NGƯỜI LÀ CẢM GIÁC CÒN ĐƯỢC SỐNG, CÒN ĐƯỢC TRẢI NGHIỆM, CÒN ĐƯỢC THOẢI MÁI TỰ DO VỚI NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA BẢN THÂN...

Bạn thoải mái với vật chất, coi vật chất là đáng giá thì bạn đừng nhìn những người coi giá trị tinh thần, coi tình yêu thương gia đình là những người không thực tế, chắc gì bạn kiếm tiền rồi đến lúc lên giường đi ngủ bạn đã thong thả đầu óc như họ?

Bạn thoải mái với giá trị tinh thần, bạn coi việc làm người tốt hay giúp đỡ người khác là quan trọng, là ý nghĩa thì bạn đừng bảo những người ngày đêm đi làm việc, kiếm tiền, trăn trở với công việc là ích kỷ. Biết đâu đằng sau công việc ấy lại có một ý nghĩa vô hình nào đó, biết đâu họ có áp lực về tài chính để chăm lo gia đình họ mà chúng ta chưa thấy hoặc đơn giản rằng, họ chăm chỉ kiếm tiền để họ đủ lo cho chính những bữa ăn hàng ngày, họ muốn không ai phải suy nghĩ, áp lực với họ.

Mỗi chúng ta sẽ thấy thoải mái với những thứ khác nhau. Ở mỗi giai đoạn chúng ta lại tôn thờ và coi một thứ hoặc nhiều thứ nào đó là đáng giá, một con người hoặc nhiều con người nào đó là cần được trân trọng, nhưng nói thẳng thắn rằng, chúng ta định nghĩa sự đáng giá cũng là để PHỤC VỤ CẢM XÚC CỦA CHÍNH CHÚNG TA, TA THOẢI MÁI VỚI NÓ THÌ NÓ ĐÁNG GIÁ, TA HẾT THOẢI MÁI THÌ NHỮNG THỨ ĐÁNG GIÁ DẦN TRỞ NÊN MẤT GIÁ...

Chỉ mong các bạn đọc bài viết này thực sự trăn trở với chính những suy nghĩ của chính mình, đừng thấy người khác cho một thứ là đáng giá, là giá trị mà chạy theo cái cao quý của người khác mà quên đi những thứ thoải mái thật sự cho bản thân...

☘️ ~ VŨ MINH HIẾU 227VN ~ ☘️

MỸ NHÂN

 Dreams make us wonder. Dreams open possibilities. Dreams make us believe in a better future.

 Ước mơ khiến ta trăn trở. Ước mơ mở ra nhiều cơ hội. Và ước mơ khiến chúng ta tin vào một tương lai tốt đẹp hơn.  

   Tác phẩm: Dream - 160x160 cm

   Acrylic painting by Công Quốc Hà 

Friday, December 8, 2023

Người SANG: là người tử tế có tấm lòng cao thượng và nhân đức

 1. Phỏng vấn một bạn trẻ vừa nghỉ làm. Hỏi lý do nghỉ việc, bạn xin phép được im lặng. Anh trưởng phòng ép khai cho được với câu đe nẹt như "nếu không nói thì chúng tôi không nhận". Bất ngờ bạn trẻ đáp lại "Dạ em quan niệm là, khi nói về người xưa chốn cũ, nếu không nói được những lời nào tốt đẹp thì em xin phép được im lặng ạ". Thông thường, khi người ta nghỉ việc, họ bực bội mà tuôn ra những lời không hay, để chứng minh rằng "công ty tệ quá nên tao mới dứt áo ra đi". Vì muốn được "có giá" hơn nên mình nhấn mạnh cái khuyết điểm (mà chưa chắc đã là) của chốn xưa để cùng nhau phê phán, nghe cho sướng tai vì..."ai cũng thấy vậy". Tâm lý học nói rằng, những người có cái tôi lớn thường hay nhìn điểm xấu của người khác để tự nâng họ lên, tự sướng tinh thần. Họ luôn đúng, luôn tốt, là nạn nhân, là bị hại, bị lùa gà. Người thực sự tử tế không nên vậy. Nhớ nhé các bạn, nói về người vắng mặt, kể cả trên mạng, nếu không nói được điều gì tốt đẹp, THÌ IM LẶNG, có thể nhún vai 1 cái, trề môi 1 cái, nó lạ giống Jose Mourinho. 

Còn khi mình kể, dù cho là sự thật thì cũng ít nhiều có cảm xúc trong đó mà nội dung câu chuyện sẽ lái theo ý mình. Người nghe ban đầu thấy thú vị vì tò mò, nhưng sau đó thì sợ, vì "biết đâu khi nói với người khác, nó cũng nói mình y rứa". Gần người ưa nói về khuyết điểm của người khác, ta sẽ bị năng lượng xấu, hạn chế tiếp xúc để không bị lây lan. Nếu bạn muốn nói khiếm khuyết của ai đó, trực tiếp gặp mặt góp ý luôn. Còn không dám thì thôi, góp ý thông qua người khác chính là nói xấu. Với người mà mình không thể chấp nhận được nữa, thì im lặng, không nhắc đến dù chỉ 1 lần, đã là một câu trả lời rồi. 

2. Hai bạn ly hôn nhanh chóng chỉ sau 1 năm chung sống, dù 10 năm yêu nhau. Khi gặp bạn bè, chỉ có thể nghe 2 bạn nói những điều tốt đẹp của người kia. Một số người khó chịu bảo "nếu toàn tốt đẹp thế thì sao không sống với nhau đi, bọn tôi muốn nghe cậu nói SỰ THẬT. Có phải là lý do X, Y, Z....không" . XYZ là cái muốn nghe của người tò mò (dưới  danh nghĩa quan tâm). Đáp lại là một nụ cười, và "mình xin giữ trong lòng, nói ra điểm không tốt của người cũ là người không tử tế". Đám bạn ngao ngán vì cần "moi tin tức" để loan truyền, mà "nó không nói điểm nào để có thể đi buôn chuyện". Người tầm thường, bé mọn chỉ toàn nhìn điểm tiêu cực, và khi chia tay (hôn nhân lẫn đối tác làm ăn, quan hệ bạn bè) là "nói cho đã, trút cho hết" thậm chí còn "thêm thắt vào để lấy thêm quân ủng hộ". Nhưng người cao thượng và tử tế họ khác. Họ không bao giờ nói điểm xấu của người họ từng có duyên gặp gỡ trong đời. Thấy họ không nhắc lại nữa, là biết. 

3. Trong thi đấu võ thuật, nguyên tắc là không được "đánh dưới thắt lưng", tức phần bụng dưới. Mặc dù đánh nhau là để giành chiến thắng, nhưng thắng phải vinh quang, phải cao thượng, có tư cách, không ai khen ngợi người dùng mưu hèn kế bẩn để thắng bằng mọi giá. Đánh lén, đánh úp bất thình lình, bắn tỉa, đánh dưới hạ bộ....đều bị xem là hèn, hạ đẳng. Hèn là từ 1 trái nghĩa với sang. Không được đánh khi người ta đã giơ tay xin hàng, hoặc phải dừng tay khi đối thủ đã ngã. Những quý tộc phương Tây hay Nhật Bản ngày xưa, nếu giải quyết mâu thuẫn có thể chọn đấu kiếm, đấu súng, chết trong kiêu hãnh. Chiến tranh, đánh đấm bao đời nay là chuyện của những người đàn ông, không nên lôi phụ nữ và trẻ con vào. Chuyện phụ nữ tham gia đánh giặc hay trẻ con anh hùng là sản phẩm lịch sử trong chiến tranh vệ quốc, tránh nhắc nhiều vì không phù hợp trong thế giới văn minh ngày nay. Phụ nữ đã phải hy sinh thời gian riêng của cuộc đời họ để làm nhiệm vụ duy trì nòi giống cho loài người, chăm sóc người già và trẻ em cho đàn ông ra trận, chăm lo sản xuất hậu phương, cần được nâng niu bảo vệ như ong thợ bảo vệ ong chúa (tức ong sinh sản), hãy cho họ được trân trọng, yêu thương và tự do sống cuộc đời như họ muốn. 

Thương trường là chiến trường. Cạnh tranh là tất yếu nhưng "đánh dưới thắt lưng" là điều mà một doanh nghiệp tử tế không ai làm. Một doanh nghiệp tử tế phải bắt đầu bằng người chủ tử tế, rồi văn hoá tử tế lan truyền dần xuống dưới các cấp quản lý, tới mọi nhân viên. Doanh nghiệp ngoài tích luỹ tài chính, cũng phải SANG THIỆT SANG để thế giới ngước nhìn. 

4. Một nhân vật nổi tiếng, khi bị sự cố, lập tức có nhiều tin đồn lan ra. Bản án chưa tuyên, những đã xuất hiện các từ "hắn, lão, y, tên, gã" (nếu phụ nữ là "ả, thị, mụ"). Ai cũng là quan toà dù chưa 1 ngày học luật. Thông tin về người đó dưới tựa để "đằng sau, chuyện chưa kể,..." được đám tò mò quan tâm nhất. Báo chí phương Tây họ có cụm từ "bầy kền kền" một loài chim chuyên ăn xác thối, chỉ lao vào rỉa rói khi con mồi đã bị thương không chống cự được, khác với đại bàng là kiêu hãnh chủ động và chỉ săn con mồi khoẻ mạnh. Phương Đông nhẹ nhàng hơn với cụm từ "giậu đổ bìm leo". Bìm là một loại cây yếu đuối, chờ "giậu đổ" thì mới dám leo lên. Đạp người đã ngã ngựa là cách hành xử tiểu nhân. Mình nên nhìn lại mình, nếu thấy hả hê trước sự cố của 1 ai đó (kiểu đáng đời, đáng kiếp, cho chừa....) thì mình vẫn còn tư duy tiểu nhược. Còn nhỏ bé tư duy, còn bình dân tâm hồn, còn nay ưa, mai ghét người khác thì mãi mãi chưa thể thành người SANG.

5. Người nông dân xưa với tầm nhìn hạn chế mới nghĩ ra các chuyện cổ tích lấy ác trả ác, lấy oán trả oán, vui mừng khi mẹ con Cám bị hành hạ thể chất lẫn tinh thần. Các chi tiết không văn minh trong truyện xưa (ví dụ cắt đầu dâng thủ cấp, nói dối, nuốt lời...trong Tam Quốc chẳng hạn) đều đã biên tập lại không cho xuất bản trên khắp thế giới vì không phù hợp. Ai còn mải mê tích tụ thêm đất thêm nhà (dù đã đủ cho nhu cầu cư ngụ), rồi ham ăn háu uống (bia dô dô cả thùng), ăn thịt cún thịt cẩu, lấy máu tươi làm súp (tiết canh) thì là hạng PHÀM PHU TỤC TỬ, một đời không sao trở thành người sang được. Bạn có thấy ai sang trọng quý phái mà ngồi gặm thịt chó thịt mèo, húp chén tiết canh dính máu động vật trên râu, lấy đũa cạy thịt giắt trong răng roài lủm lại chưa? 

Người SANG họ có tâm hồn thánh thiện nên thích ngồi đọc sách một mình bên 1 tách cà phê/trà/rượu vang nho nhỏ. Họ yêu thơ mến văn, yêu âm nhạc, hội hoạ, yêu thiên nhiên, yêu hoa và yêu con người, ưa du lịch và khám phá, luôn biết vừa đủ vật chất để nâng cao giá trị giải trí tinh thần, luôn có những nghĩa cử cao đẹp một cách âm thầm. Ai không lao động dù lành lặn, còn nhận tiền trợ cấp của người khác là không sang. Thơ văn xưa nay không ai ca ngợi các loại dây leo tầm gửi, mà người ta ca ngợi cây tùng, cây bách, cây thông. Hiên ngang và cô đơn giữa trời đất, vươn thẳng, chịu gió chịu tuyết chịu sương, chịu điều tiếng nhưng vẫn quý phái bình thản. "Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo" (Nguyễn Công Trứ). 

6. Để làm được người sang thì đầu tiên phải là người tử tế. Muốn có tử tế, thì phải có một văn hoá lớn, một triết học sâu, một bản lĩnh lớn, đủ trình độ chiến thắng được cảm tính của cá nhân, vượt qua lòng tham của người tầm thường. Mọi cảm xúc rồi sẽ qua, chỉ có hành động lúc đó là để lại hậu quả. Tôn trọng sự thật, logic, quý trọng người khác, thương yêu tha nhân như thân nhân...mới là đẳng cấp. Người giàu trong xã hội ngày càng nhiều nhưng người sang không tăng mấy. Ai sang thì chắc chắn đã khá giả, còn người giàu thì chưa chắc có được sự sang, tức sự quý phái toát ra từ cốt cách và tâm hồn, không phải do quần áo, xe cộ, nước hoa, ăn uống, tiền bạc địa vị bằng cấp mang lại. 

Để kết thúc bài viết, xin kể các bạn nghe về sự tích cây thông Noel. Ở nước Đức ngày xưa, có một tiều phu nọ rất nghèo, đi hái củi mỗi ngày. Đêm cuối năm, mùa đông lạnh tuyết trắng trời. Trên đường đi làm về nhà, ông thấy có một đứa trẻ đói lả nằm co quắp dưới một gốc thông. Ông mang về nhà, sưởi ấm, cho ăn uống. Sáng mai tỉnh dậy, không thấy đứa trẻ đâu, ông mở cửa ra tìm thì thấy một cây thông thật đẹp đặt trước cửa nhà, hôm đó là gần ngày giáng sinh. Có thể chú bé đã tỉnh dậy, đi tìm một cây thông đẹp tặng ông làm quà, hoặc Chúa trời (tức thượng đế tối cao theo tín ngưỡng của nhiều dân tộc) cải trang đứa bé để thử lòng nhân đức, tử tế trong đối xử với nhau của con người. Từ đó, cây thông Noel còn gọi là cây nhân đức, hoặc một số nước còn gọi là cây tử tế, thường được trang trí từ đầu tháng 12 cho đến hết năm mới dương lịch. 

Tháng 12, mùa giáng sinh, mùa nhân đức, mùa tử tế đang về.

My Lan Phạm (Sưu tầm onl)

Thursday, December 7, 2023

Câu chuyện của cò

 SUY NGHĨ VỀ MỘT BÀI CA DAO VÀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI DÂN TRƯỚC THỜI CUỘC

Hồi còn nhỏ tôi được học một bài ca dao:

'' Con cò đậu ở bờ tre,

Thằng Tây nó bắn cò què một chân.

Mai cò ra chợ Đồng Xuân,

Chú khách mới hỏi sao chân cò què.

Cò rằng tôi đứng bờ tre,

Thằng tây nó bắn tôi què một chân''

Bài ca dao này cứ ám ảnh tôi mãi, không phải vì nó có nội dung hay nghệ thuật đặc sắc gì mà vì thông điệp không rõ ràng của nó đối với người đọc. Tôi nhớ sách giáo khoa (không nhớ rõ lớp nào và năm nào) có giải thích: - qua nhân vật con cò tố cáo tội ác của giặc Pháp!

Tuy nhiên, ''con cò'' ở đây không hề có thái độ thù hằn gì "Thằng tây'' cả, thậm chí, cũng không thực sự đau buồn hay giận dữ!. Đổi lại, thái độ của ''cò'' hoàn toàn dửng dưng: ''- cò rằng tôi đứng bờ tre/ thằng tây nó bắn tôi què một chân''! Hết!

Thái độ dửng dưng này là một dấu hỏi lớn trong tâm trí tôi suốt thời đi học. Sau này được tiếp cận một khối lượng lớn thông tin và qua suy xét của bản thân tôi dần dần nghiệm ra ý tứ sâu xa mà tác giả vô danh muốn gửi tới người đọc.

Bài ca dao trên gắn với một giai đoạn đau buồn trong lịch sử dân tộc, đó là khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Xem lại lịch sử giai đoạn này, ngoài quyết tâm đánh pháp của Trương Công Định và các văn thân, sỹ phu với nhưng tấm gương hy sinh anh dũng (thực ra cả Triều đình Nhà Nguyễn cũng quyết tâm đánh Pháp) còn có các sự kiện khác mà người Việt Nam có lương tri nào khi xem lại cũng cảm thấy xấu hổ.

Chỉ có 120 binh lính Pháp do một đại úy chỉ huy cộng với vài chục lính mộ người Việt và người một số nước Châu Á khác đi theo hỗ trợ(10 người âu, 30 người châu á, 150 lính mộ Vân Nam) cùng với 08 khẩu pháo mà hạ thành Hà Nội do một vị đại tướng của Việt Nam chỉ huy với 7 ngàn quân, chỉ trong nháy mắt! (chưa đến 1 tiếng đồng hồ trong ngày 20/11/1873)

Đại úy Garnier yêu cầu nộp thành, ta không theo. Y ra lệnh công thành. Nên nhớ, quân ta đông gấp vài chục lần quân Pháp, lại là một dân tộc văn minh chứ không còn ở giai đoạn bán khai như người da đen ở châu Phi hay còn dùng công cụ đồ đá như người Azteca ở Mexico. Nếu xáp chiến thì chỉ cần dùng quả đấm cũng có thể đè bẹp quân Pháp. Nên nhớ vũ khí thời đó của quân Pháp cũng khá thô sơ. Tiếc thay, chỉ vài loạt đạn của quân Pháp quân ta vứt súng chạy như vịt còn trơ lại vị Tổng đốc bị thương. Con trai Cụ là Nguyễn Lân cũng bị bắn chết.

Các sự khiện tiếp theo còn bi thảm hơn. Ngày 05/12/1873, chỉ có 7 lính Pháp và 2 lính mộ đi ca nô đến thành Ninh Bình bắt quan tuần phủ và hạ thành; lúc đó trong thành có 1700 quân trấn giữ. Chỉ có 50 lính pháp và một số lính mộ tấn công thành Nam Định có hàng ngàn quân. Việc quân Pháp dùng ngay các thanh chướng ngại làm thang leo lên mặt thành cũng đủ thấy sức kháng cự của quân ta không đáng kể. Thành Hải Dương còn thất thủ một cách khôi hài hơn. Chỉ có hơn hai chục lính pháp tấn công thành; táo tợn đến mức đu người lên cánh cửa để nhòm vào trong thành. Sau vài loạt đạn, lãnh binh Vi Văn Đông vội vàng bỏ trốn, quan binh thấy thế cũng trốn sạch. Quân Pháp phá cổng vào thành, thành mất.

Tại sao một dân tộc đã từng đánh thắng hàng vạn quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh lại bạc nhược như vậy. Cũng vẫn dân tộc ấy thôi 80 năm sau, bằng vũ khí cũng kém hơn đã đánh bại chính đế quốc pháp trang bị tối tân hơn nhiều?!

Nhiều người cho rằng ta thua Pháp vì súng đạn ta không bằng Pháp. Điều đó không sai nhưng thực ra không hoàn toàn đúng. Súng đạn của quân Nhà Nguyễn cũng được nhập từ phương Tây và chỉ thua súng đạn của pháp một thế hệ. Thậm chí bằng lò rèn thủ công mà ông Cao Thắng ở núi rừng Vụ Quang còn chế tạo được gần giống súng của Pháp.

Ta thua pháp về tổ chức chiến tranh nhưng điều này có thể học hỏi và thay đổi được vì cuộc chiến tranh pháp - việt kéo dài 30 năm (1859 - 1888).

Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thất bại của người Việt Nam chính là sự thờ ơ của đa số người dân trước thời cuộc, trước vận mệnh của đất nước.

Trở lại bài ca dao, người dân ở đây được hình tượng hoá ở hình ảnh con cò. Cò ta đứng ở bờ tre để xem quan quân triều đình đánh nhau với Tây. Cò dửng dưng như người ngoài cuộc đứng xem một việc không liên quan đến mình. Không may ''thằng Tây'' nó bắn phải ''cò'', thế thôi!

Người dân dửng dưng trước thời cuộc, trước nguy cơ mất nước vì xã hội Việt Nam đã chia rẽ sâu sắc. Nguyễn Hàn Ninh có bài thơ vịnh đèn kéo quân rất hay nói lên thực trạng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là:

'' Một lũ ăn mày, một lũ quan/

Quanh đi quẩn lại chỉ một đoàn''

Thân phận người lính cũng vậy:

''ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan/ 

đẽo tre đẵn gỗ trên ngàn...''.

Các quan chỉ coi lính như lũ người hầu, làm việc không công: ''nước sông công lính''. Ngay các quan cũng chẳng quan tâm gì đến việc luyện tập, võ bị. Lực lượng vũ trang bị coi thường:

''Văn thì thất phẩm đã sang/ 

võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu''.

Tựu trung, quan lại là lũ người chỉ nghĩ đến mình, ra tay vơ vét, chiếm đoạt. Người dân đã nhìn rõ thực trạng này về hàng ngũ công chức bất tài, vô hạnh này:

''Khi bình làm hại dân ta/ 

Túi tham vơ vét chẳng tha thứ gì/

Đến khi hoạn nạn lâm nguy/ 

Mặt trông lơ láo, chân đi tập tềnh!''

rồi:

'' đồn rằng quan tướng có danh/ 

Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai''

Ông Ích Khiêm phải kêu lên:

'' Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu/ Đến khi đánh giặc phải nhờ Tầu...''

Trong tình hình quan chức như vậy, người dân vừa khinh vừa ghét. ''Cò'' không nói ra nhưng có khi còn hả hê trưóc cảnh quan quân bị Tây bắn, chạy như vịt: 

''- Cho chúng mày chết!''

Một dân tộc đã chia rẽ như vậy thì mất nước là tất yếu!

Khác hẳn 600 năm trước khi giặc mạnh phương Bắc lăm le cướp nước, chính quyền đã mở hội nghị Diên Hồng để tạo sự đồng thuận toàn dân; mở hội nghị Bình Than để thống nhất ý chí của quý tộc.

Điều đó cho thấy, đối diện với nguy cơ mất nước càng cần đối thoại để thống nhấ ý chí. Muốn có đối thoại cần có sự tôn trọng lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội. Điều này Nhà Nguyễn đã không làm được. Những vị vua dốt nát, yếu đuối và đội ngũ quan lại tham nhũng, bất tài, mua quan bán tước của nhà Nguyễn không thể nào trở thành hạt nhân đoàn kết dân tộc được nữa. Họ không làm được điều các quý tộc nhà Trần đã làm. Quý tộc Nhà Trần là những anh hùng, hào kiệt, con cháu của những người bình dân chài lưới mới chiếm được chính quyền từ tay Nhà Lý rệu rã bằng võ công và trí tuệ.

Giữa những trang hào kiệt:

'' Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn/ 

Hỏi rằng chi đó bảo rằng than!”

và lũ công chức tham nhũng, bạc nhược là khoảng cách rất xa về chất người.

Chúng ta vẫn có thể thua Pháp vì trình độ phát triển của họ lúc bấy giờ hơn hẳn ta nhưng thua như kiểu vua quan nhà Nguyễn là một nỗi nhục lớn lao mà không nên quên. Bởi vì nếu quên, nếu cố tình không sòng phẳng với lịch sử có thể dân tộc Việt Nam lại lặp lại sai lầm tương tự trong tương lai./. 

---------------------

St: GÓC NHÌN AN NAM

Wednesday, December 6, 2023

Câu chuyện trong mùa vọng Giáng Sinh

 Nguyễn Thị Hồng Ân

(Bài viết cách đây mấy năm,xin chia sẻ lại ở TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM. Chuyện thật không thêm bớt. Mong gởi bạn đọc chút niềm vui khi đến Mùa Giáng Sinh.)

Tên nghe ngộ, giống như cháu gái này là con cầu con khẩn. Hồng ân là ơn trên ban cho mình. Có thể là một ước nguyện đã thành theo ý nghĩ của người công giáo. Năm nay chắc cháu khoảng 18 tuổi và có một tương lai phía trước.

Cha của cháu là bạn thân với tui. Thời gian này tui đang ở nước Nhật . Nghề của tui là mua các đồ điện tử cũ về tân trang rồi bán lại cho các thủy thủ ngoài các bến cảng ở Tokyo và Yokohama. Còn nghề của cha cháu : anh K, là mua những máy móc công nghiệp cũ và bỏ vào thùng container, đem về VN bán lại. Cùng nghề đi kiếm đồ cũ nên tụi tui hay liên lạc để giúp nhau khi cần thiết. Thí dụ đi đâu gặp hàng hoá  thì thông báo cho nhau chẳng hạn.

Công việc của K cần một bãi đất rộng với các loại xe nâng lớn và cần cẩu mới đem các máy móc nặng vài tấn lên xuống hoặc đóng thùng được . Do đó vốn liếng phải nhiều, bãi đất rộng nên tiền thuê cũng tốn kém. Sở hụi mỗi tháng khoảng năm ngàn đô, nếu kiếm dưới số đó là phá sản. Còn việc của tui không cần vốn liếng cũng như các phương tiện nhiều nên đỡ lo nghĩ hơn. Chúng tôi hay gặp nhau mỗi tháng ở nhà thờ. Có một cộng đoàn giáo dân người Việt và linh mục Việt. Nhưng vị linh mục này phải đi dâng thánh lễ nhiều tỉnh, một tháng mới trở lại Yokohama một lần. Sau thánh lễ chúng tôi hay làm một tiệc nhỏ cùng ăn với linh mục rồi chia tay.

Khoảng năm 2003, công việc của Khôi có vẻ sa sút. Hàng bán về VN không lấy được tiền vì bị ... gối đầu nhiều. Có nhiều tháng ảnh không có thu nhập nhưng vẫn phải thanh toán mọi chi phí cho sinh hoạt gia đình ( rất mắc mỏ )và cho  bãi đồ cũ. Anh rất muốn sang lại cho ai đó để nghỉ nhưng không sang được, do đó cứ phải trả tiền thuê hàng tháng. Kiệt quệ. Anh phải tạm nghỉ nghề để xin vô hãng làm có đồng lương. Người vợ, đang nuôi hai con nhỏ, cũng phải xin gởi con để đi làm.

Giữa lúc khổ sở đó thì vợ K báo tin có.... bầu cháu thứ ba. Hai cháu trước chị ấy sanh phải mổ. Lần này đi khám, bác sĩ e ngại và khuyên không nên có thêm con, nguy hiểm cho mẹ và cả cho con. Có nghĩa là phải phá .... Hai vợ chồng bàn bạc rất lâu nhưng không đưa ra được quyết định. K mang chuyện của mình để hỏi vị linh mục xin ý kiến. Vị này nói trường hợp này không có tội lỗi nếu phải bỏ đứa con. Cả cộng đoàn ai cũng biết chuyện này nhưng không ai dám đưa ý kiến. Cuối cùng K nhất định giữ thai và vợ cũng đồng ý. Anh nói luôn tin vào sự sắp đặt của Thiên Chúa.

 Bệnh viện ...hết hồn, đón vợ K vào nằm viện từ tháng thứ năm để theo dõi. Bác sĩ nói hai vết mổ lần trước có nguy cơ rách nếu đầu của cháu bé xoay sao đó. Ai cũng hồi hộp. Chỉ còn biết dâng lời cầu nguyện.

Khỏi nói, lúc này K bi đát, tiền bạc không có. Lớp đi làm, lo trông coi hai cháu lớn,lo vào bệnh viện thăm vợ. Một tương lai phá sản không tránh khỏi . Bệnh viện họ có cách làm thai không quá lớn và đội ngũ bác sĩ thăm nom cẩn thận, báo chí cũng vào cuộc.

Cuối cùng vợ K cũng sanh cháu bé bình an. Ai cũng mừng rỡ. K đặt tên cháu là Hồng Ân là vậy. Ngày cháu chào đời ngập tràn hoa, hoa cho người mẹ dũng cảm, cho người cha luôn tin vào Thánh Linh, cho các bác sĩ , y tá tận tụy. Chúng tôi đã có một lễ mừng đầy tháng thật trang trọng và một tiệc nhậu tới bến.

Nhưng khó khăn về kinh tế của K vẫn còn đó. Giờ làm sao để nuôi một vợ ba con với một business sắp phá sản. Ảnh ít tuổi hơn tui nhưng tóc đã bạc màu.

Năm đó, internet đã phát triển, khách hàng mua đồ cũ có thể ngồi ở VN mà đấu giá được. Tuy nhiên cái bước chuyển hàng về VN rất khó vì người bán không bao shipping. Các bến bãi của người Việt rất nhiều nhưng họ không làm dịch vụ đó nếu không mua hàng của họ. May sao bãi của K không còn buôn bán nên anh có thể làm dịch vụ này được. Nghĩa là khi khách hàng VN mua được món hàng ở đâu đó, K sẽ đến chở về bãi của mình và tháo ráp, chuyển về VN. K chỉ lấy tiền công. Công việc dần ổn định, anh bắt đầu có thu nhập. Bây giờ tuy không gọi là giàu có nhưng cuộc sống không phải lo nghĩ. Tui cứ nói đùa : Trời sanh voi thì phải cho... cỏ chớ!

Trong cuộc đời mà tui trải qua, nhân quả là điều có thật. Nếu ai nói một vợ hai con cùng chuyện làm ăn đang thất bát thì bỏ đứa thứ ba là điều hợp lý, nhất là nó còn có thể làm người mẹ mất mạng. Nhưng rồi cái tình thương cũng như tôn giáo nó khiến con người ta chấp nhận nói hai tiếng : xin vâng. Chấp nhận mọi sự sắp đặt của Thượng Đế. Trời sinh rồi Trời dưỡng. Ấy vậy rồi cũng xong. Cháu Hồng Ân sẽ có chồng, sẽ sinh ra nhiều cháu khác... 

Trong mùa vọng Giáng Sinh, tui muốn chia sẻ với bà con một chuyện có thật trong tinh thần khiêm nhường: Tất cả theo thánh ý Chúa .( và tôn giáo khác cũng vậy, tôn giáo nào cũng có một đấng trên cao. ) Sống bằng tình thương yêu sẽ cảm thấy dễ chịu. Còn chuyện làm ăn, tiền bạc....Để giữ nó , một phần cũng phải có "ơn trên". Tui tin vậy!

Jimmy Nguyen Nguyen (Trang Văn Chương Miền Nam)

Tuesday, December 5, 2023

Chủ điểm Đàn ông & Đàn bà: Létezik vagy nem?

 Ham muốn, chiếm hữu, hôn nhân và tình yêu

Theo Krishnamurti, tình yêu xuất hiện từ sự thấu hiểu về các mối quan hệ. Sự sùng bái, hiến dâng không phải là tình yêu mà là một hình thức mở rộng cho cái tôi. 

Tình yêu là một trạng thái vắng mặt cái tôi và sự kết án, tình yêu không kết luận rằng tình dục là đúng hay sai. Khi tồn tại tình yêu thì tình dục không phải là một vấn đề, sự thiếu thốn tình yêu mới khiến nó trở thành một vấn đề. 

Ham muốn không phải là tình yêu. Ham muốn dẫn đến sự thỏa mãn, hoặc ham muốn chính là sự thỏa mãn. 

Khi bạn chiếm hữu một con người và từ đó tạo ra một xã hội ủng hộ việc chiếm hữu con người, thì đó đâu phải là tình yêu. Nơi nào đã chất chứa sự ghen tỵ, nỗi sợ hãi, thói chiếm hữu thì nơi đó không có tình yêu.

Cuộc sống của chúng ta bị cơ thể và tâm trí thống trị. Chúng ta không yêu thương, mà chúng ta thèm khát được yêu thương; chúng ta cho đi để được nhận lại, tức là tâm trí ta đang cho đi còn con tim ta thì không. Bản năng của tâm trí là tìm kiếm sự thỏa mãn. tình yêu không bao giờ xuất phát từ tâm trí. 

Cái mà chúng ta gọi là tình yêu, hóa ra lại là tâm trí. Chúng ta lấp đầy con tim mình bằng những thứ thuộc về tâm trí và do đó trái tim ta thật ra trống rỗng và khô cằn, bởi tâm trí thì không khi nào thôi bám víu, đố kỵ, kìm giữ và hủy hoại. 

“Khi bạn tận dụng tôi như một bậc thầy tâm linh và tôi tận dụng bạn như một môn đệ, đây chính là sự khai thác lẫn nhau.” – Krishnamurti phân tích – “Tương tự, việc bạn tận dụng vợ con bạn để trục lợi cho bản thân cũng là một sự khai thác, khi đó chắc chắn không tồn tại tình yêu. Sự tận dụng song hành cùng sự chiếm hữu, nuôi dưỡng nỗi sợ hãi và đưa đường dẫn lối cho sự đố kỵ, ghen tuông, hoài nghi”.

Nơi nào có sự chiếm hữu thì nơi đó không bao giờ tồn tại tình yêu thương. Nơi nào có sự ràng buộc, nơi đó có nỗi sợ hãi, không có tình yêu. 

Khi không có tình yêu thì khuôn vàng thước ngọc của hôn nhân trở nên cần thiết. Không có tình yêu, sự hài lòng trong mối quan hệ nhanh chóng dẫn đến sự chán nản và lối mòn của thói quen, với tất cả những hệ quả của nó. 

Hôn nhân mà không có tình yêu, chỉ vì sự thỏa mãn đơn thuần, thì thật đáng hổ thẹn. 

Tình yêu chỉ xuất hiện và tồn tại khi cái tôi vắng mặt. 

Khi biết cách yêu một người, bạn biết cách yêu mọi người và cả thế giới. Dù bạn không nói: “Tôi yêu cả thế giới” nhưng khi biết cách yêu một người, bạn cũng biết cách yêu mọi người và yêu thương thế giới.

copy từ First News Trí Việt

Monday, December 4, 2023

Hy vọng

 ĐÂY CHÍNH LÀ ĐIỀU KHIẾN CON NGƯỜI CẢ ĐỜI KHÔNG BAO GIỜ GẶP CHUYỆN VỪA Ý

Bạn có bao giờ nghĩ tại sao mình luôn gặp phải những chuyện phiền hà, bực dọc trong đời? Đó là vì bản thân chưa đủ những điều này!

1. Không đủ tu dưỡng

Tô Đông Pha là một thi nhân nổi tiếng thời Tống, được hậu thế xưng tụng là “Đường Tống bát đại gia” (8 đại gia văn học lớn thời Đường Tống). Ông có tài nhưng đôi khi cũng khá kiêu ngạo. Một hôm, Tô Đông Pha lên chùa, ngồi thiền cùng một lão tăng.

Một lúc sau, ông mở mắt ra hỏi: “Ngài thấy dáng ngồi thiền của tôi ra sao?“.

Lão tăng nhìn khắp một lượt rồi gật đầu khen ngợi: “Trông giống như một vị Phật vậy, cao quý và trang nghiêm“. Tô Đông Pha nghe thấy rất cao hứng.

Lão tăng lại hỏi: “Thế ngài nhìn tôi ngồi ra sao?“.

Vốn thích hay trêu chọc người khác, Tô Đông Pha nghĩ ngợi một lát rồi đáp: “Tôi nhìn thấy ngài quả giống như một đống phân bò“.

Lão tăng nghe xong ngửa mặt lên trời cười, cũng không phản bác lại gì. Về nhà Tô Đông Pha hào hứng đem câu chuyện kia kể lại với em gái Tô Tiểu Muội của mình. Không ngờ nghe xong, Tô Tiểu Muội phá lên cười, cho rằng anh trai mình thật ngốc nghếch.

Đông Pha không hiểu chuyện, liền gặng hỏi. Tô Tiểu Muội đáp: “Lão tăng ấy có tâm Phật nên mới nhìn huynh giống như Phật. Còn trong tâm huynh lại có đầy phân bò, rác bẩn nên mới nói lão tăng như vậy đó!“.

Đây chẳng phải chính là câu chuyện về cảnh giới tu dưỡng tâm hồn hay sao? Người đức cao vọng trọng thì trong tâm chứa đầy thiện tâm, từ câu nói, ánh nhìn đều toát ra vẻ thuần thiện, mỹ hảo, nhìn người khác đều bằng một lòng từ bi, hoà ái, trông thấy ai cũng giống như Phật, đều nhìn ra vẻ thánh thiện của người ta.

Còn người tu dưỡng không đủ, cảnh giới tinh thần thấp thì trong tâm chứa đầy rác của lòng đố kỵ, tâm oán ghét, thói tự phụ, sự khoe khoang, một khi nhìn người khác thì chỉ thấy cái xấu xa, thấp hèn, đáng phê phán, nhìn bằng một tâm đố kỵ dâng đầy.

Tâm thái của bạn như thế nào sẽ quyết định cách bạn đối nhân xử thế ra sao. Chỉ trích người khác, soi mói cuộc sống của người xung quanh kỳ thực thường là do sự tu dưỡng của bản thân không đủ.

Sở dĩ gặp quá nhiều điều không thuận mắt không phải là vì người ta bị ghét bỏ, mà chính bởi thái độ đối nhân xử thế của họ có vấn đề.

2. Không đủ tầm nhìn

Con ếch suốt đời chỉ ngồi đáy giếng, khoảng trời của nó chỉ nhỏ con con đúng bằng miệng giếng. Bảo nó rằng vũ trụ này bao la ra sao, có biết bao tinh tú thế nào, nó thực chẳng tin, còn cho là người ta nói chuyện viển vông, nhăng cuội.

Thấy người khác không thuận mắt kỳ thực chính là bản thân mình đang sống như ếch ngồi đáy giếng. Vì hiểu biết và tầm nhìn của cá nhân bị giới hạn nên tư duy cũng nhỏ hẹp, không thoát khỏi lớp vỏ do chính mình tạo ra.

Những người này hàng ngày chỉ thích quan sát cuộc sống của người khác, bình phẩm này nọ, bàn ra tán vào. Họ dùng tiêu chuẩn của cá nhân, quan điểm của bản thân mà đánh giá người khác. Kỳ thực làm sao mà đánh giá được đây?

Rất nhiều người bản thân đã không biết cố gắng, lại mang lòng ghét bỏ, oán hận khi thấy người khác quá nỗ lực, chế giễu người khác là kẻ ngốc chỉ biết vùi đầu làm việc, không hiểu cách hưởng thụ cuộc sống.

Lại có người cả cuộc đời ngồi rỗi, ăn không mà cứ thấy gai mắt khi nhìn thấy người khác dốc sức phấn đấu. Bản thân không đạt được còn muốn ngăn trở người khác giành lấy.

Rất nhiều chuyện không thuận mắt, kỳ thực xét tới tận cùng vẫn là vì cảnh giới nhận thức của bản thân còn thấp, kiến giải chưa nhiều.

3. Không đủ bao dung

Khi không đủ thiện tâm, bao dung, người ta nhìn gì cũng chẳng thấy vui. Chính là “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du), cũng lại là “Tướng tuỳ tâm sinh, cảnh tuỳ tâm chuyển” (Tướng mạo do tâm mà sinh ra, cảnh vật do lòng người mà thay đổi).

Nhìn một người không thuận mắt, thì người thấy khó chịu lại chính là bản thân mình. Không bao dung cho người hoá ra chính là không thể từ bi với bản thân, không cho bản thân một lối thoát.

Mỗi người có một cuộc đời, số phận đã được định mệnh an bài sẵn. Tiền tài, danh vọng, quyền lực… không phải do tranh giành mà có được, nếu có được cũng chẳng lâu bền. Phúc phận của người ta được quyết định bởi cách sống và thái độ ứng xử trên đời. Sống tốt thì có phúc báo, bao dung, lấy thiện đãi người thì ắt được thanh thản, thoải mái.

Không vừa mắt với người khác chính là do thấy họ khác mình quá xa, có thể hơn, có thể kém mình. Nhưng kỳ thực, mỗi người sinh ra đều có một cuộc đời khác biệt nhau từ đầu. Mọi sự khác biệt đều có thể bao dung, đều có thể dùng lòng từ bi mà dung chứa, đó mới là cảnh giới cao nhất của đạo làm người.

4. Phúc đức đến từ thiện lương

Walter Salles là đạo diễn phim nổi tiếng người Brazil. Trong một lần chuẩn bị cho bộ phim mới của mình, Walter đã tới vùng ngoại ô ở phía Tây thành phố. Và tại đây, khi đứng trên quảng trường trước nhà ga thì ông gặp một cậu bé đánh giày khoảng hơn 10 tuổi.

Cậu bé hỏi: “Thưa ông, ông có muốn đánh giày không ạ?”

Walter cúi đầu nhìn đôi giày da bóng loáng dưới chân mình rồi lắc đầu từ chối. Khi ông vừa quay người bước đi thì đột nhiên cậu bé gọi từ phía sau. Khuôn mặt cậu bé đỏ ửng, ánh mắt nhìn ông như đang van nài: “Ông ơi, cả ngày hôm nay cháu chưa được ăn gì cả, ông có thể cho cháu mượn chút tiền không ạ? Từ ngày mai cháu sẽ đánh giày chăm chỉ hơn, đảm bảo là sau một tuần cháu sẽ trả lại tiền cho ông!”

Walter động lòng trắc ẩn, ông bèn lấy ra vài đồng xu đặt vào tay cậu bé. Cậu bé rối rít nói lời cảm ơn rồi chạy vụt đi.

Walter lắc đầu, những đứa trẻ sành sỏi sự đời như thế ông đã gặp nhiều rồi. Và rồi ông lại cuốn vào vòng xoáy bận rộn với bộ phim mới nên cũng quên luôn chuyện cậu bé mượn tiền.

Bẵng đi một thời gian, ông lại có dịp đi qua nhà ga ở ngoại ô phía Tây thành phố. Bỗng nhiên một bóng dáng gầy guộc và nhỏ bé vẫy gọi ông từ xa: “Ông ơi, ông đợi một chút ạ!”

Tới khi cậu bé mồ hôi nhễ nhại chạy đến đưa cho ông vài đồng xu thì Walter mới nhận ra đó là cậu bé đánh giày ngày nào.

Cậu bé thở hổn hển: “Ông ơi, cháu đợi ông ở đây lâu lắm rồi, hôm nay cuối cùng cháu cũng trả lại tiền cho ông!”

Walter cầm đồng xu ướt nhẹp mồ hôi, đột nhiên trong lòng ông trào lên một luồng hơi ấm áp. Ông đặt các đồng xu vào tay cậu bé, cười và nói với cậu rằng: “Ngày mai cháu tới văn phòng công ty điện ảnh ở trung tâm thành phố tìm ông nhé, ông sẽ dành cho cháu một điều bất ngờ”.

Hôm sau, nhân viên công ty điện ảnh nói với Walter rằng trước cửa có một vài đứa trẻ mặc quần áo rách rưới đang đứng đợi. Cậu bé đánh giày nhìn thấy Walter bèn chạy đến và vui vẻ thưa rằng: “Thưa ông, các bạn ấy đều mồ côi lưu lạc giống như cháu, các bạn ấy cũng hy vọng có được niềm vui bất ngờ ạ!”

Walter không thể ngờ rằng một đứa bé vô gia cư nghèo khó lại lương thiện đến thế. Vì vậy ông đã quyết định chọn cậu bé đánh giày làm diễn viên chính trong bộ phim mới của mình. Ông đã giải thích lý do cậu được miễn thi tuyển như sau: “Vì sự lương thiện của mình, cháu không cần phải thi sát hạch!”

Tony Buổi Sáng Fan Club

Nguồn: st

Sunday, December 3, 2023

Rượu đỏ

 Chuyện rượu 

(Viết năm 2020, lúc này Úc và Trung Quốc đang "thương chiến".)

Mấy cha  "sùng"  Úc quá, không biết phải làm sao, cấm nhập thịt bò, luôn lúa mì, luôn quặng mỏ, hầm bà lằng.... mà thấy Úc vẫn tỉnh bơ. Kỳ này mấy ổng tăng thuế rượu nho của Úc. Tính cho Úc chết luôn.

Phải nói, Úc đất rộng người thưa, trồng cái gì ăn... cũng không hết. Chỉ có trồng nho rồi chế ra rượu là được. Rượu ế càng lâu thì càng ngon và càng có giá. Bữa nay nghe quảng cáo 30 đồng được 6 chai rượu luôn tiền phí giao hàng. Rẻ hơn mua chai nước khoáng. Định mua vài chục chai bỏ dưới gầm nhà để ủng hộ nông dân.

Có 16 quốc gia bè bạn cũng hè nhau mua về uống cho "xỉn" để "giải cứu"  rượu nho cho nước Úc. Tuy vậy, đông  bao nhiêu thì cũng không bằng bán cho ...tầu. Dân tầu bây giờ khá giả, uống rượu đế chịu không nổi. Nhất là phụ nữ cũng uống, nên nhu cầu rượu nho mới tăng vọt là vậy. Giờ cấm rượu thì họ chơi rượu đế vậy chớ sao. Ít bữa đủ kiểu ...ung thư ..., coi bộ lợi bất cập hại.

Phải công nhận phụ nữ mà "vô" vài ly rượu đỏ là ai cũng đẹp. Rượu làm bằng nho tươi xứ Úc, hưởng ánh nắng chói chang nơi khí hậu trong sạch. Ủ trong những thùng gỗ gum đặc biệt, Úc mới có. Mới lên men chừng hai năm là mùi thơm lừng. Uống một ly mà vẫn thèm ... thêm một ly nữa... Và có vài chị bạn ý hợp tâm đầu, thì xong chai này ta tiếp 1 chai nữa có sao đâu . Đàn ông khỏi cần . Nhiều chị làm bạn với ly rượu đỏ sau giờ làm việc là vậy. Một thống kê khá tin tưởng là mỗi ngày uống một ly rượu nho là không sợ ung thư ( nhưng phải điều độ và chừng mực). 

Vì vậy nhu cầu rượu nho giờ tăng rất mạnh. Mà đâu phải nơi đâu cũng có thể trồng nho. Trên thế giới này chỉ vài vùng thôi, nên mấy cha bên tàu "chê" rượu Úc là thất bại. Chỉ khổ dân, nhất là quý bà bên đó. Mấy bà không thể uống bia vì bụng sẽ bự, không thể uống rượu đế vì cái mùi. Trong khi uống rượu nho thì cái má nó hồng, hơi thở thơm tho... chậc chậc, nhìn là thấy thương liền.

Nước Úc là vậy! Người ta cần nó chớ nó chẳng cần ai. Hết bệnh dịch có cản thì các nơi cũng kéo đến. Đi khắp thế giới đâu còn nơi nào nói tiếng Anh mà dân hiền khô, an ninh bảo đảm, đồng tiền rẻ sình. Mấy ông tàu cương cho đã, chớ rồi sẽ năn nỉ xin huề cho mà coi. Ngứa cổ họng lắm rồi, chiều chiều cũng phải cho bà con vài ly chớ!

Jimmy Nguyen Nguyen

Saturday, December 2, 2023

Thế giới sau tháng 2-1972

HENRY KISSINGER 

Ngày 10-3-2006, tại Thư viện và bảo tàng John F. Kennedy, tôi phỏng vấn Henry Kissinger: “Ông có biết là từ mấy hôm nay, cộng đồng sinh viên vùng Boston, trong đó có cả những sinh viên đang học giáo trình ‘Ngoại Giao’ của ông, kêu gọi tổ chức biểu tình chống ông và gọi ông là ‘tội phạm chiến tranh’? Kissinger trả lời: “Tôi biết. Nhưng, liệu thế giới có như hiện nay nếu ngày ấy chúng tôi không làm như thế?”

Một trong những việc “làm thay đổi thế giới” của Henry Kissinger là thiết kế cuộc gặp giữa Nixon và Mao tháng 2-1972.

Tôi vừa được xem “Bản Tự Kiểm Điểm Về Việc Dự Buổi Chiêu Đãi Của Nixon” mà Lê Đức Thọ yêu cầu Trưởng phân xã TTXVN tại Bắc Kinh làm vào thời điểm ấy.

Đọc Bản Tự Kiểm mới thấy hết một thời ấu trĩ. Những hoạt động của các phóng viên TTXVN lúc ấy tại Bắc Kinh lẽ ra rất cần được khen thưởng vì nhờ những hoạt động như vậy mà những thông tin họ báo cáo về là rất có giá trị. 

Nhưng, không chỉ Lê Đức Thọ, theo ông Trần Phương, trợ lý ông Lê Duẩn: “Lê Duẩn nói, chúng ta đã bị bán rẻ cho Mỹ để người Trung Quốc thay Đài Loan ngồi vào chiếc ghế ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc”. 

Hà Nội chờ đợi Bắc Kinh giúp đỡ cuộc chiến của mình với “tinh thần quốc tế vô sản”, Bắc Kinh dùng cuộc chiến ấy để trả giá với người Mỹ. Washington không coi cuộc chiến ấy là chiến tranh Việt Nam mà là xung đột giữa hai phe và bàn cờ mà họ chơi với Bắc Kinh là bàn cờ thế giới.

Ngay sau “Thông Cáo Thượng Hải”[27-2-1972], Chu Ân Lai đến Hà Nội giải thích chính sách mới của họ với người Mỹ. Lê Duẩn kể với người vợ hai, bà Nguyễn Thụy Nga: “Chu Ân Lai sang gặp anh ở Hồ Tây. Ông đi dưới bậc thang lên đưa tay, anh không bắt. Anh nói: ‘Các đồng chí đã bán đứng chúng tôi. Các đồng chí lấy xương máu của dân tộc Việt Nam để trả giá với Mỹ. Chúng tôi biết nhưng chúng tôi không sợ, chúng tôi sẽ đánh đến cùng và nhất định chúng tôi sẽ thắng’”. 

Sau cuộc gặp này với Lê Duẩn, Chu Ân Lai tới nhà khách Lê Thạch để gặp Hoàng thân Sihanouk, khi ấy cũng đang ở Hà Nội. Theo Sihanouk: “Chu trông mệt mỏi và có vẻ bị kích động bởi cuộc thảo luận mà ông vừa tiến hành với các đồng chí Bắc Việt Nam của ông. Hình như ông đang cáu”. Theo Sihanouk, Chu đã nói với các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam “gay gắt và cứng rắn” rằng mối quan hệ mới đó sẽ dẫn tới hòa bình ở Đông Dương. 

Không chỉ phản ứng trong hội đàm, khi đưa tiễn Chu Ân Lai, thay vì đi cùng thầy trò Chu ra tận chân cầu thang máy bay, Lê Duẩn đã dừng lại ngay cửa nhà ga sân bay Gia Lâm. Các quan chức Việt Nam tất nhiên cũng phải đứng lại. Chu Ân Lai và người phiên dịch, Lương Phong, gần như phải lủi thủi bước lên máy bay đi về. Lương Phong, về sau nói với nhà ngoại giao Dương Danh Dy của Việt Nam rằng, hành động đó của ông Lê Duẩn là rất phản cảm. 

Người Việt Nam đã trả giá. Không chỉ bằng việc Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh xâm lược Biên giới phía Bắc 2-1979, kéo dài suốt 10 năm. Mà chế độ Pol Pot do Việt Nam giúp bằng xương máu, lên nắm quyền ở Campuchia, đã trở thành một lưỡi dao mà Trung Quốc nắm đằng cán đâm vào hông Việt Nam. Cuộc chiến từ phía Tây Nam kéo dài từ ngay sau 30-4-1975 cho tới cuối năm 1989.

“Thông Cáo Thượng Hải” là một trong các sự kiện bắt đầu tác động một cách sâu xa khiến cho Liên Xô và khối XHCN Đông Âu sụp đổ. “Thông Cáo Thượng Hải” là ví dụ điển hình trong cách hành xử của Bắc Kinh, “bất kể mèo trắng hay mèo đen”, nó đánh dấu một bước ngoặt giúp Trung Quốc bắt đầu những thập niên thịnh vượng.

Trung Quốc mạnh lên càng khiến cho Kissinger bị chỉ trích. Trung Quốc mạnh lên không chỉ tăng khả năng “bá quyền” cho Bắc Kinh mà còn mang lại thịnh vượng cho người dân, thế giới bớt được 1,3 tỷ người nghèo khổ. 

Trung Quốc luôn là một mối đe dọa, thế giới buộc phải lựa chọn, đối diện với mối đe dọa này từ một “thằng có tóc” như hiện nay hay từ một thằng khố rách áo ôm dưới thời Mao.

Khi xung đột Bắc Kinh - Hà Nội bắt đầu hầm hập nóng trên báo chí, trên hệ thống loa phóng thanh, có một giai thoại bắt đầu lan ra: 

Năm 1973, khi Kissinger tới Hà Nội, ông ta chỉ tay về phương Bắc, nói với Lê Đức Thọ, “Kẻ thù của Việt Nam ở phía này”. Ngày 10-3-2006, tôi đưa chuyện này hỏi Kissinger, ông bật cười trả lời: “Lê Đức Thọ dẫn tôi thăm Bảo tàng Lịch sử, ở đấy lúc đó có rất nhiều phần nói về cuộc chiến tranh của người Việt với người Trung Hoa, trong khi chưa có phần nào nói về cuộc chiến tranh với người Mỹ. Anh nghĩ, người Việt còn cần một lời khuyên từ tôi ư”.

Ông hỏi, "Are you from the North", rồi kéo tôi ra chụp ảnh.

MÙA HÈ ĐỎ LỬA 

[Phần phụ lục dưới đây khá dài, ai có thời gian thì hẵng đọc]

Trong quá trình đàm phán, Lê Đức Thọ không hề biết Kissinger bí mật đến Bắc Kinh và khi đã biết rõ nội dung cuộc gặp Nixon - Mao, Hà Nội đã không nhận ra “thế giới bắt đầu thay đổi”. 

Trước đó, đầu tháng 1-1972, Bộ Chính trị và Quân ủy quyết định điều chỉnh “Chiến lược 71-72”, lấy Trị Thiên làm chiến trường chủ yếu. Một tháng sau “Tuyên Bố Thượng Hải”, ngày 30-3-1972, Hà Nội vẫn không thay đổi bước đi chiến lược này, cho bắt đầu “Chiến dịch Quảng Trị”.

Theo tướng Ngô Quang Trưởng, người chỉ huy “tái chiếm Quảng Trị” của VNCH, các nhà phân tích không hiểu vì sao Hà Nội lại mở cuộc tấn công ở thời điểm này vì lúc đó quân Mỹ tại miền Nam vẫn còn 140 nghìn và theo kế hoạch của Washington thì tới tháng 4-1972 sẽ chỉ còn 40 nghìn.

Tướng Ngô Quang Trưởng cho rằng, có lẽ, “Lực lượng còn lại của người Mỹ trong năm 1972 rất hấp dẫn dưói con mắt của Hà nội, bởi vì nếu họ tạo được một thắng lợi quân sự nào đó thì dĩ nhiên người Mỹ cũng chia phần thất bại [với VNCH]”. 

Theo Kissinger, Tướng Abrams biết trước cuộc phản công từ đầu tháng Giêng, và việc sử dụng B-52 đã được tính tới. Nhưng Nhà Trắng cho rằng có thể sẽ can thiệp bằng chuyến đi Bắc Kinh. Nixon muốn rút khỏi Việt Nam trước kỳ bầu cử tổng thống năm 1972 mà không làm chính quyền Sài Gòn sụp đổ. 

Hà Nội mở chiến dịch Quảng Trị khi chuyến công du bí mật đến Bắc Kinh đã thành công, Nixon trở nên cứng rắn hơn. 

Ngày 4-4-1972, Nixon ra lệnh “không kích chiến thuật” ra đến Vinh bằng cách bổ sung 20 máy bay B-52, bốn phi đội máy bay ném bom F-4, thêm tám tàu khu trục được gởi đến Đông Nam Á. Trước đó một ngày, Kissinger gặp Dobrynin ở Phòng Bản đồ của Nhà Trắng, trách Liên Xô đã đồng lõa với cuộc tấn công của Hà Nội, và dọa: “Nếu cuộc tấn công tiếp tục, Mỹ có thể phải có biện pháp cho Moscow thấy những lựa chọn khó khăn trước cuộc họp thượng đỉnh”. 

Ngày 4-4, người phát ngôn báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ nói khi họp báo: “Cuộc xâm lược miền Nam của Bắc Việt Nam đã được thực hiện bằng vũ khí của Liên Xô”. Cùng lúc, Kissinger cử Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc để gửi một thông điệp bằng lời cho Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. 

Trước đó, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trong vòng 3 dặm, tức là trong phạm vi bao gồm lãnh hải Hoàng Sa của Việt Nam. 

Một cuộc họp kín giữa Lê Đức Thọ và Kissinger đã được đôi bên thỏa thuận vào ngày 2-5-1972. Tình hình chiến trường đã giúp Lê Đức Thọ đến Paris với một tư thế hoàn toàn khác với những lần trước đó. Sáng 1-5-1972, Quân đội miền Bắc chiếm cầu Quảng Trị và sân bay. Ngày 2-5- 1972, Quảng Trị rơi vào tay miền Bắc. 

Theo ông Lưu Văn Lợi, người phiên dịch cho Lê Đức Thọ: “Hôm đó người ta không thấy ở Kissinger - một giáo sư đại học sôi nổi nói dài dòng hay bông đùa, mà là một người ít nói có vẻ ngượng nghịu, suy nghĩ”. Còn Kissinger mô tả, “cuộc họp kín ngày 2-5 diễn ra rất thô bạo”.

Nhưng ông Thọ khi ấy không biết Nixon đã dặn Kissinger rằng, cho dù kết quả đàm phán thế nào, ông vẫn ra lệnh cho ba máy bay B-52 công kích Hà Nội và Hải Phòng vào những ngày cuối tuần, từ ngày 5 đến ngày 7-5-1972. Nixon nhấn mạnh với Kissinger ông chấp nhận hủy bỏ cuộc gặp thượng đỉnh ở Moscow trừ khi tình hình được cải thiện. Tại một trang trại ở Texas, Nixon cảnh báo: “Hà Nội đang chấp nhận nguy hiểm rất lớn nếu tiếp tục tấn công miền Nam”. 

Kissinger cho rằng trong ngày 2-5-1972, Lê Đức Thọ chỉ “giả vờ thương thuyết” vì “tin chắc rằng họ đang tới rất gần chiến thắng”. Theo Kissinger, “thái độ làm cao của Lê Đức Thọ” đã khiến cho Nixon trở nên “rất hùng hổ”. Thứ Sáu, ngày 5-5-1972, B-52 lại trút bom xuống Hải Phòng (B-52 bắt đầu ném bom Hải Phòng từ ngày 16-4-1972), đồng thời mìn ngư lôi được thả bao vây các cửa biển miền Bắc. 

Sau khi nhận được thư của Brezhnev trấn an thái độ bi quan của Mỹ về cuộc họp ngày 2-5 với Lê Đức Thọ là không hợp lý, Washington trở nên quyết tâm hơn khi nhận thấy thư của Brezhnev “không đưa ra lời đe dọa cụ thể nào”. Trong khoảng từ 25-4 đến 5-5-1972, Nixon đã đưa ra lệnh ném bom xuống đê Sông Hồng, tăng cường ném bom các trung tâm thành phố và dự định sử dụng cả “vũ khí hạt nhân”. Theo Kissinger: “Tôi kịch liệt phản đối các kế hoạch này, và Nixon thì đã không kiên quyết”. 

Washington cũng đồng thời nhận được “tín hiệu” từ Trung Quốc qua bài Xã luận đăng trên Nhân Dân Nhật Báo số ra ngày 11-5-1972. Đằng sau những ngôn từ to tát như: “Kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam”; “Vô cùng phẫn nộ và mạnh mẽ lên án” đế quốc Mỹ, Washington nhận ra thông điệp của Trung Quốc khi thấy “bài xã luận” xác định Bắc Kinh chỉ làm “hậu phương” của Việt Nam. Bên cạnh bài xã luận “lên án Mỹ” đó, Nhân dân nhật báo đã cho đăng nguyên văn diễn văn của Nixon công bố một ngày trước đó giải thích vì sao mà ông ta đã phải ném bom miền Bắc. 

Ở Quảng Trị, lúc bấy giờ, theo Tướng Lê Phi Long, sau hai đợt chiến đấu liên tục, sức khỏe của bộ đội miền Bắc đã giảm sút, quân số bị hao hụt, các đơn vị binh chủng thì thiếu khí tài, sức kéo, đạn dược. Nhưng không hiểu vì sao Lãnh đạo Bộ và Tư lệnh chiến trường lại chủ trương mở tiếp đợt tấn công thứ ba nhằm giải phóng Thừa Thiên - Huế. 

Sau Chỉ thị đó, dưới sự chủ trì của Tướng Giáp, các cuộc họp nối tiếp cuộc họp để hoàn chỉnh kế hoạch. Cơ quan Tác chiến làm việc tới 20 giờ/ngày. Vất vả nhất là khoảng từ 6 giờ tối đến 12 giờ đêm vì, theo Tướng Lê Phi Long, lúc này chiến trường mới điện báo cáo tình hình lên Bộ Tổng Tham mưu. Quảng Trị bắt đầu trở thành cối xay thịt khi Quân đội Sài Gòn, dưới sự phối hợp của không quân và pháo hạm Mỹ bắt đầu phản công, gây thiệt hại nặng nề cho quân miền Bắc. 

Một tuần sau, huyện Hải Lăng và một phần huyện Triệu Phong bị chiếm lại, quân đội Sài Gòn áp sát thị xã. Lực lượng miền Nam khi ấy gồm 3 sư đoàn được yểm trợ bằng hoả lực mạnh của không quân và pháo hạm Mỹ. Lực lượng miền Bắc, tuy có 5 sư đoàn nhưng đã mất sức chiến đấu, quân số của mỗi đại đội chỉ còn từ 20 đến 30 người mà phần lớn là cán bộ. Gạo, đạn tiếp tế kiểu ăn đong. 

Theo “Chủ nhiệm Hướng” Lê Phi Long: “Ngày 30-6, mười ngày sau khi mở đợt 3 tấn công không thành công, Tướng Văn Tiến Dũng trở ra Hà Nội vì lý do sức khỏe”. Ngày 20-7 Tướng Trần Quý Hai được cử vào thay Tướng Lê Trọng Tấn; Tướng Song Hào thay Tướng Lê Quang Đạo. Các vị tướng này sức khỏe đều giảm sút và mệt mỏi. 

Tình hình phát triển ngày càng xấu hơn, thế nhưng Bộ Chỉ huy chiến dịch vẫn chủ trương tiếp tục phản công và tiến công. Trong khi, theo Tướng Lê Phi Long, không đánh được một trận tiêu diệt nào dù là phân đội nhỏ. Thời tiết thì hơn nửa tháng liền, không mấy ngày được nắng ráo, nhiều trận mưa kéo dài, hầm hào lúc nào cũng ngập nước, trong khi B-52, pháo mặt đất, pháo hạm liên tục dội bom. Bộ đội phải chiến đấu liên tục không có thời gian làm công sự. Thương vong ngày càng tăng. 

Trong thời điểm nóng bỏng ấy, Văn Tiến Dũng đang đi an dưỡng ở Tam Đảo, Lê Trọng Tấn vừa ở chiến trường ra đang trong thời kì dưỡng bệnh, Tướng Giáp phải trực tiếp điều hành mọi công việc của Bộ Tổng tham mưu. Ông đọc cho Tướng Lê Phi Long viết bức điện gửi thẳng xuống đơn vị cho Nguyễn Hữu An, Sư trưởng Sư đoàn 308 và Hoàng Đan, Sư trưởng Sư đoàn 304B. 

Ngay ngày hôm sau, Nguyễn Hữu An gửi cho Tướng Giáp một bức điện dài bốn trang, nói rõ: “Tôi thấy không nên tiến công, và nên chuyển vào phòng ngự. Ở đây công tác chỉ đạo chỉ huy vẫn ham tấn công và phản công, trong tình thế địch mạnh hơn ta, ăn hiếp ta, lực lượng ta đã suy giảm và đang rơi vào bị động. Tôi nghĩ rằng sức ta yếu hơn địch, ta chuyển vào phòng ngự là cần thiết. Nhưng ở đây hễ nói đến phòng ngự cấp trên lại cho rằng đó là tư tưởng hèn nhát, thụ động. Đề nghị với Bộ quyết tâm dứt khoát chuyển sang phòng ngự. Tình hình này ta muốn tiêu diệt gọn một tiểu đội, một trung đội cũng khó”. 

Sư trưởng Hoàng Đan thì trả lời khéo léo hơn: “Theo kinh nghiệm của tôi thì một trung đoàn chủ lực của ta chỉ đánh được 2 trận tập trung là hết sức, nếu không được nghỉ ngơi củng cố thì không thể tiếp tục chiến đấu thắng lợi. Còn quân ta ở đây đã chiến đấu liên miên 2 đến 4 tháng rồi còn sức đâu mà đánh tiêu diệt”. Nhận được điện, Tướng Giáp rất lo lắng. Nhưng, lúc ấy không những giữa chiến trường và Đại Bản doanh có ý kiến khác nhau mà trong nội bộ Đại Bản doanh ý kiến cũng khác nhau. 

Tướng Giáp thận trọng lập một “Tổ nghiên cứu” do Tướng Vương Thừa Vũ đích thân hướng dẫn. Trong cuộc họp kết luận, Tướng Giáp sau khi giảng hòa mâu thuẫn giữa các sỹ quan tác chiến đã phải chỉ vào đống sách do ông tự tay mang đến: “Các nhà lý luận quân sự của chúng ta cũng đều nói có tiến công, có phòng ngự. Engels cũng đã nói điều đó. Thực tế chiến trường đòi hỏi chúng ta phải chuyển qua phòng ngự. Cục tác chiến hãy điện cho chiến trường tham khảo ý kiến của các đồng chí trong mặt trận xem sao”. 

Cục Trưởng Tác chiến lúc ấy là Tướng Vũ Lăng lệnh cho ông Long gửi một bức điện dài, theo Tướng Lê Phi Long: “Sau khi phân tích lý luận và thực tế, Điện gợi ý mặt trận nên chuyển sang phòng ngự”. Bức Điện ký tên Vũ Lăng phát đi hai hôm thì Cục Tác chiến nhận được trả lời. Trong điện trả lời, Tướng Trần Quý Hai dùng lời lẽ gay gắt phê phán Cục Tác chiến không giữ vững quyết tâm, không quán triệt tư tưởng làm chủ và tiến công... Rồi Bộ Tư lệnh Chiến dịch ra lệnh phản công mặc dầu đã trải qua ba cuộc phản công không kết quả. 

Theo Tướng Lê Phi Long, trong thời gian diễn ra Chiến dịch Quảng Trị: “Ông Lê Đức Thọ không hiểu bằng con đường nào, thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh. Kỳ quặc! 

Chúng tôi, cơ quan tham mưu, không đồng tình với cách làm này nhưng không biết than thở với ai, hình như anh Văn cũng cảm nhận được điều đó nên có lần đã nói với chúng tôi: Cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, nhưng mỗi lĩnh vực có quy luật riêng của nó, ví như về quân sự thì trước hết phải bảo đảm chắc thắng, nếu không diệt được địch, không phát triển lực lượng thì không phối hợp quân sự với ngoại giao được”. 

Tướng Lê Hữu Đức thừa nhận: “Cố đánh Quảng Trị là do nhu cầu đàm phán”. 

Tướng Lê Phi Long kể: “Sáng 17-9, Cục Tác chiến mới nhận được điện báo ‘Thành Cổ mất tối hôm qua’. Trong khi đó thì trên phòng họp, Quân ủy Trung ương vẫn đang bàn về ‘phối hợp đấu tranh quân sự chính trị và ngoại giao’ thông qua mặt trận Quảng Trị. Dự họp có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Trần Quốc Hoàn, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu và các vị trong thường trực Quân ủy. Lúc này Lê Đức Thọ đã có mặt ở Paris để hội đàm với Kissinger. Được tin dữ, anh Văn rời cuộc họp xuống chỗ Cục Tác chiến đích thân nói điện thoại với mặt trận qua xe thông tin tiếp sức đậu trước sân Cục Tác chiến”. 

Thành cổ Quảng Trị thất thủ khi quân miền Bắc đã gần như hoàn toàn kiệt sức. 

Theo Tướng Lê Phi Long: “Lực lượng chiếm giữ Thành Cổ khi đó nói là có mấy tiểu đoàn nhưng trên thực tế chỉ còn phiên hiệu, mỗi tiểu đoàn chỉ còn ba bốn chục người. Việc bổ sung quân số tiếp tế qua sông hết sức khó khăn. Nhiều sinh viên đã phải rời giảng đường để nhập ngũ. Nhiều tân binh chưa gặp mặt người chỉ huy đã ngã xuống. Nhiều cán bộ chỉ huy ngày đêm vất vả, râu tóc mọc kín mặt mà không có thời gian cắt cạo. Trong hầm phẫu ở ngay dinh Tỉnh trưởng cũ thường xuyên có trên dưới 200 thương binh, sặc mùi hôi thối. Các lực lượng trong Thành Cổ thì chiến đấu một cách tuyệt vọng, còn các đơn vị ở các hướng khác, tuy có cố gắng đánh vào cạnh sườn để hỗ trợ cho lực lượng ở trong Thành nhưng cũng không tạo được hiệu quả. Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Ta đã tung hết lực lượng, đã kiệt quệ. Có lúc tôi đã phải điều học viên trường Lục quân về gần Thủ đô lập một lữ đoàn để bảo vệ Trung ương, vì hết cả quân”. 

Ngày 26-9-1972, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lưu Văn Lợi đã mang các dự thảo Hiệp định tới Paris. 

Ngày 4-10-1972, Bộ Chính trị xem xét lại dự thảo Hiệp định, Ngày 8-10-1972 khi Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo các điều khoản hiệp định đề nghị ký kết, Kissinger viết: “Các đồng nghiệp và tôi đều hiểu ngay tầm quan trọng của những điều mình vừa nghe. Ngay lúc nghỉ giải lao, Winston Lord và tôi đã bắt tay và nói với nhau: ‘chúng ta đã thành công rồi’. Haig, người đã từng phục vụ tại Việt Nam, thốt lên đầy xúc động rằng chúng tôi đã bảo toàn được danh dự cho các chiến binh từng phục vụ, đã chịu đựng và hy sinh ở Việt Nam”. 

Điều quan trọng nhất mà miền Bắc muốn - Mỹ rút quân mà Hà Nội không rút quân - thì ở trên bàn đàm phán, Kissinger đã chấp nhận từ năm 1971. Trên thực tế, cho đến khi ký Hiệp định Paris, Nixon đã đơn phương rút quân: từ 545.000 quân năm 1968 xuống còn 27.000 quân năm 1972. 

Cuộc đàm phán tưởng như đã tới hồi kết thúc, Kissinger dự kiến sẽ quay lại Paris vào ngày 17-10 gặp Xuân Thủy, thống nhất nốt “hai tồn tại” về nhân viên dân sự bị giam giữ ở miền Nam và việc “thay thế thiết bị quân sự”, được ngầm hiểu như là một viện trợ quân sự cho Sài Gòn. Ngày 18-10, từ Paris, Kissinger sẽ bay đến Sài Gòn, và tối ngày 22, sẽ đến Hà Nội. Hiệp định dự định công bố vào ngày 24 và được ký ngày 31-10-1972. 

Nhưng những sự kiện sau đấy đã phá vỡ các kế hoạch này, hàng ngàn người Việt tiếp tục bị giết bởi bom đạn Mỹ.

[Phụ Lục Đánh & Đàm, BÊN THẮNG CUỘC, quyển II, Quyền Bính].

Trương Huy San

Friday, December 1, 2023

Nhận thức từ bậc chân tu

 TIỄN THẦY VỀ TRỜI , LANG THANG KHẮP CÕI HƯ KHÔNG….

Tôi nghe tin thầy viên tịch lúc cuối giờ chiều qua khi đang ở Cần Thơ giữa cơn mưa lạnh. Thầy Tuệ Sỹ, bậc chân tu, đại lão hòa thượng, thầy đã thành mây trời lang thang khắp cõi hư không rồi, (tôi đâu dám nói là nghe tin thầy đi, tôi buồn, mà sao tôi thảng thốt thấy lòng mình buồn thế?). Chợt nhớ rõ mồn một 4 câu thơ thuộc lòng đã chép trong tập, mấy chục năm trước, mở đầu bài Khung trời cũ. Và còn nhớ rõ hơn dáng thầy gầy nhom, áo xám thong dong đi lại trên sân trường Vạn Hạnh, nhẹ như gió như mây mà đôi mắt tinh anh, sâu thẳm, hiền, đẹp, đẹp lạ lùng khó tả...

Đám sinh viên nữ chúng tôi hồi ấy thua thầy chừng 5, 7 tuổi vẫn lén gọi thầy với một biệt danh “thầy Tuệ Sỹ mắt đẹp”. Giờ nói ra đây chắc bị mắng là lũ “thứ ba học trò” quỷ ma khùng điên bất kính mạo phạm. Nhưng hồi đó, thầy trẻ lắm, nụ cười dịu dàng, xa vắng, hơi ngượng nghịu khi bị lũ nữ sinh viên tinh quái cứ đi theo bạch thầy, bạch thầy. Tôi vào trường Vạn Hạnh năm 1969. Năm sau đã nghe tin thầy Viện trưởng Thích Minh Châu vừa bổ nhiệm một giáo sư uyên bác, cực giỏi mới 27 tuổi. Nghe lại thì đúng là “thầy hiền mắt đẹp” Tuệ Sỹ. Mà hồi đó, Vạn Hạnh qui tụ những ngôi sao trí lực siêu phàm, ngoài thầy Viện trưởng có nụ cười hiền như Phật Di Lặc còn có thầy cô như thầy Tuệ Sỹ, thầy Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện) và thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, ni sư Trí Hải...

Nhiều hôm học bài trên thư viện về khuya, tôi đứng trên lầu cao, nhìn dáng thầy Tuệ Sỹ, bấy giờ đã là Tổng thư ký tạp chí Tư Tưởng, gầy yếu mong manh in trên nền trời đêm trăng mờ như một bậc tiên hiền, lẩm nhẩm trong đầu các bài thơ  của thầy, nhớ những bài thầy giãng (tôi học phân khoa Khoa học Xã hội, nhưng cũng thường lén đi nghe thầy nói Pháp) mà kính phục vô song.

Đêm qua tôi thức đọc hầu hết các bài viết trên FB về thầy. Kinh ngạc, mỗi người một góc nhìn đều biết ơn thầy dạy dưỡng dù chưa lần gặp. Nhiều người là con Chúa sao hiểu và kính quí thầy Tuệ Sỹ sâu sắc đến vậy. Tôi cũng nhận được một tin nhắn thiết tha của một bạn trẻ là con Chúa, cô ơi, con muốn đến lễ tang để tưởng nhớ thầy mà con không quen ai hết, nếu cô có đi cho con đi theo với….

Đã có địa chỉ một trang web rất quí để mọi người vào đọc về thầy. Đã có bài rất cảm động và giàu thông tin của anh Mạnh Kim, một SV Vạn Hanh . Có bài về Bùi Giáng bình bài thơ “Khung trời cũ” của thầy.

Tôi nghĩ có viết một trăm trang ở đây cũng không nói hết tấm lòng kính nhớ tiếc thương bậc chân tu trong cuộc quốc tang thực chất trong tâm tưởng của người Việt đang diễn ra.

Viết bao nhiêu cũng không đủ. Tôi tạm ghi lại đây mấy điều …

-Điều 5 trong di chúc của thầy: “Nhục thân đưa đi hỏa táng. Tro bụi nhục thân đem rải ra Thái Bình Dương để được tan theo biển, bốc thành mây trời , lang thang khắp cõi hư không

Hư không hữu tận. 

Ngã nguyện vô cùng.…

-Nỗi buồn của bạn thân – nhà văn Đoàn Minh Phượng, như nói giùm tôi:..."Những người mà thế hệ chúng tôi yêu thương nương tựa đang dần từng người qua đời. Buồn bao nhiêu vẫn phải học quen với chuyện này. 

Mà sao lần này thảng thốt quá. Tôi như đứa nhỏ chưa học xong làm người ra làm sao đã chợt thấy mình mồ côi."

Lòng biết ơn thầy của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình. Anh Bình là người tôi rất biết ơn vì đã tặng tôi món quà quí vô biên là bộ sách của thầy Tuệ Sỹ.

Anh viết khi nghe tin thầy viên tịch:

Với nỗi buồn khôn tả ...

Có lẽ, thay đổi quan trọng nhất trong đời một người là "thay đổi nhận thức" !

Có nhiều nguyên nhân, nhiều lý do để nhận thức thay đổi ... và sự thay đổi cũng có nhiều mức độ khác nhau…

Giáo lý nhà Phật dạy rằng : chúng sinh, có người suốt đời ở ngoài sáng, có kẻ suốt đời ở trong tối, có người từ trong tối bước ra sáng, cũng có kẻ từ sáng bước vào tối.

…Từ sự hiểu hiện tượng một cách nông cạn, biến thành nhận thức sâu sắc là một quá trình dẫn đến thiện duyên : được gặp trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.

Có thể nói không ngoa rằng : Ôn Tuệ Sỹ là người khai sinh ra tôi lần thứ hai.

Ôn Tuệ Sỹ dạy : "... Một xã hội mà không có nơi nào để cho tín tâm an trụ, xã hội ấy dễ dàng rơi vào tà kiến điên đảo. Trong một xã hội mà phẩm giá con người không được tôn trọng, trong một xã hội mà quyền lực được dựng lên không còn mục đích hòa giải những mâu thuẫn tranh chấp giữa các thành viên, từ thuở loài người khởi đầu lịch sử đấu tranh vì lợi dưỡng, vì quyền lực. Mỗi con người chỉ là một cọng cỏ yếu ớt gấp mình trước những thế lực tham tàn hung bạo. Không còn nơi nương tựa vững chắc, ngoài những bóng ma chập chờn để bám víu ..."

Ngày 25 tháng 9 năm 2015, (ngày mà anh Nguyễn Thanh Bình được thầy Tuệ Sỹ truyền giới (tức qui y- KH ghi) thầy Tuệ Sỹ đã dạy: ”vì mình vẫn đang đi giữa thế tục, vẫn còn bươn chải với đời, nên khó tránh khỏi gặp chuyện này chuyện kia, nhưng đừng bao giờ quên mình là Phật tử ...!"

-Và cuối cùng, xin trích lời bình của nhà thơ Bùi Giáng về bài thơ mênh mông “khung trời cũ” của thầy.

Bài thơ tôi nhắc ở trên là bài “không đề” hay là “Khung trời cũ” hay là “Khung trời hội cũ” mà Bùi Giáng phân tích và bình quá tuyệt. Xin cho phép tôi dài dòng môt chút vì bài thơ trác tuyệt này của thầy và xin trích một số đoạn của Bùi Giáng.

Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…

Có ai ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia,lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ.

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.

Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho. Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

...Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ…

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh… Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều “phải nói” với mọi người “muốn nghe”, với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. 

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Cung trời hội cũ

Áo màu xanh

Không xanh mãi

Trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn.

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?

Mình là thân bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy gương mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

...Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng.

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche.

Thi nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa

Ngược nước

Xuôi ngàn…

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhoà ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.

✍️Nhà báo Kim Hạnh