Sunday, December 6, 2020

Bây giờ có công thức khác ko?

 CÔNG THỨC TOÁN HỌC TÍNH GIÁ TRỊ CON NGƯỜI

   Nhà toán học vĩ đại người Irắc, Muhammad Ibn Musa Al-Khwarizmi được xếp thứ 10 trong 19 nhà toán học vĩ đại nhất thế giới.Ông là người sáng tạo môn đại số, nhân tài lỗi lạc của toán học Ả rập, nămsinh/mất khoảng năm 780/khoảng năm 850, cách nay gần 1200 năm. Điều thú vị là ông đã lập ra công thức tính toán GIÁ TRỊ của một người như sau:

   Nền tảng con người là đạo đức. Nếu có đạo đức thì giá trị của bạn là 1.

   Nếu cũng thông minh, thêm một số 0 và giá trị của bạn là 10.

   Nếu cũng giàu có, thêm một số 0 nữa và giá trị của bạn là 100.

   Nếu trên tất cả bạn lại còn xinh đẹp, lại thêm một số 0 và giá trị tổng của bạn là 1000.

   Nhưng nếu bạn không có đạo đức, nghĩa là bị mất số 1, thì giá trị của bạn chỉ còn là con số 0.

Nghĩa là bạn đã mất tất cả các giá trị. Và giá trị con người bạn lúc này chỉ bằng 0 !

Nguyễn Minh st

Saturday, December 5, 2020

TRUYỆN VUI CUỐI TUẦN – HÉT VÉGI VICCEK (No. 251)

  Halló! Xin hỏi nhổ răng chỗ anh bao nhiêu tiền mỗi chiếc?

- Bảy nghìn forint.

- Có thể rẻ hơn được không?

- Ừ…ưm, bốn nghìn nếu không dùng thuốc tê.

- Đắt quá. Có phương án nào rẻ hơn không?

- Nếu thay cho bác sỹ, một bác sỹ thực tập nhổ thì chỉ hai nghìn.

- Tuyệt vời! Tôi xin đăng ký trước cho mẹ vợ tôi vào sang thứ hai nhé.

-----------

 Halló! mennyibe kerül Önöknél egy foghúzás?

- Hétezer forint.

- Nem lehetne olcsóbban?

- Hát, érzéstelenítés nélkül négyezer.

- Túl drága. Megoldható olcsóbban?

- Ha a doktor úr helyett az egyik gyakorló orvos csinálja, akkor csak kétezer.

- Nagyszerű! Szeretném, ha előjegyeznék az anyósomat hétfőre.

Nguyễn Ngô Việt (DEBRECEN.vidi73)

Friday, December 4, 2020

Ảnh & Ký ức @ NEI: M-9-es csoport NEI, 1972-73

Đỗ Bá Khang: Đây là lớp dự bị ở Budaorsi, chụp với thầy Osváth Gábor. Bạn nào thấy mình trong đó lên tiếng để tìm cách liên lạc nhau nhé.

Lớp M9

Wednesday, December 2, 2020

Chữ với nghĩa

 TIẾNG VIỆT NGÀY NAY RẤT LẠ

Một lần chờ xe buýt , tôi có dịp trò chuyện với một người rất trẻ , ăn mặc lịch sự , tóc hớt ngắn , đeo kính trắng nhìn có vẻ trí thức , áo chemise trắng  , tay manchette thắt cravats sọc careau thanh nhã ...

Bà già và Anh chàng này lại đi cùng tuyến đường , lên xe ngồi cạnh nhau .

 Qua giới thiệu tôi được biết anh này là sinh viên vừa tốt nghiệp khoa ngữ văn trường Đại học nhân văn , hiện anh được giữ lại trường làm trợ giảng cho các buổi dạy sinh viên ... Chắc chưa tới 25 tuổi

Tôi cũng tự giới thiệu mình là giáo viên đã về hưu gần 10 năm , lụm cụm nhưng có nhiều thắc mắc muốn hỏi , mà không biết hỏi ai , may mắn gặp được anh bạn trẻ này , tôi liền xin được trò chuyện , anh chàng rất nhiệt tình và lễ phép , tôi bắt đầu thẩm vấn :

 __ Con ơi ,  cô thấy tiếng Việt ngày xưa phong phú và cách ghép từ theo luật quy định , có phương pháp rõ ràng, sao tiếng Việt bây giờ nó nghèo nàn và thô thiển quá . Thằng nhỏ mắt sáng lên,  nhanh nhẹn

 __ Cô nêu ví dụ cụ thể đi cô ! Nếu con biết con sẽ giải thích cho cô rõ 

 __ Cô rất vui , cám ơn con ... Tôi mạnh dạn đặt câu hỏi :

 __ Ngày xưa cô có :

           + Từ thịnh soạn , linh đình ... Để nói về một bữa ăn , bữa tiệc ...

           + Từ tráng lệ , nguy Nga ... Để nói về ngôi nhà hay biệt thự đẹp .

           +  Từ lộng lẫy , sang trọng ... Để nói về  cách ăn mặc , những đồ vật , xe cộ ...

__ Ngày nay người ta chỉ xài có một từ  : 

       " HOÀNH TRÁNG " thí dụ :

+ Bữa tiệc       |[

+Biệt thự         |[. Hoành tráng

+ Cái xe hơi     |[

Là xong , không phải chọn lựa từ cho thích hợp ... Như vậy có phải làm cho tiếng Việt mình ngày càng nghèo nàn , thô thiển không ???

Mà Hoành tráng là cái gì ??? Từ này không có trong tự điển tiếng Việt 

Thằng nhỏ còn chưa kịp trả lời  , bà già tui bồi thêm :

Cô xem trên Tivi những game show , các giám khảo nghe và bình luận về giọng ca của thí sinh nào đó , họ nói : 

 ___ Giọng ca đẹp ... Cô rất khó chịu vì giọng ca mà đẹp là sao ??? Họ lặp đi lặp lại nhiều lần , mà nhiều giám khảo sử dụng từ đẹp cho một giọng ca  ... Là sao  ??? Thay vì nói một giọng ca truyền cảm , giọng ca trầm ấm , giọng ca du dương , hay trong trẻo ... 

Thêm một chưởng nữa bà già tui tiếp luôn :

Vẫn là xướng ngôn viên trên Tivi  đọc tin tức họ nói :

nào là đinh tặc , cát tặc , lâm tặc , hải tặc , không tặc , cáp tặc ... Chó tặc ... Họ đọc một cách hồn nhiên ... Cô nghe mà ... Muốn khóc cho tiếng Việt thời nay ....

Những từ như " động não , manh động , trẻ em hòa nhập ... Được nghe rất bình thường ...

Cô đồng ý là từ ngữ có ngày sinh , nó xuất hiện theo thời ... Và nó cũng có ngày mất do người ta quên không sử dụng nữa thì nó mất do không còn thấy xuất hiện nữa ...

Thằng nhỏ ngồi nghe mà không nói được câu nào , nó nhìn bà già tui có vẻ gì khó hiểu , một lúc sau nó mới mở lời :

__ Cô ơi , để con về trao đổi lại với Thầy con ... Mong hôm khác gặp lại cô ...

 Xe dừng  , không biết là nơi thằng nhỏ muốn đến , hay nó ngại ngồi nghe bà già chất vấn ... 

Cuối cùng ,  Thằng nhỏ xuống xe và đi như trốn chạy  ! Tội nghiệp quá  ! Thiệt tình thì bà già rất muốn biết tại sao Tiếng Việt ngày nay trở nên nghèo nàn như vậy thôi ...  vì không ai nhìn thấy hay do người ta luôn bị cuốn hút vào đời sống Công nghệ thông tin rồi quên mất ...

 Học trò của Bà Già tới nhà thăm cô , Bà Già tui làm bánh cho tụi nó ăn , vừa ăn , nó vừa xít xoa :

 __ Bánh cô làm hơi bị ngon ! 

 __ Ngon mà sao bị ??? Học ở đâu ra ?? 

Bà già tui bắt đầu giảng cho nghe một bài ... Tụi nó mở mắt nhìn mà không nói , chắc là do thói quen ...

 Thế nhưng ...  Có lẽ mình đã hết thời rồi , sắp lên núi mà cứ muốn ở !

NB Pham

Tuesday, December 1, 2020

Kỷ niệm mùa hè

Kỳ nghỉ ven hồ (1969. Balaton camping site)

Ảnh: Szocializmus hagyatéka

Saturday, November 28, 2020

Ảnh của Đỗ Bá Khang: Lớp M9

Đỗ Bá Khang:  Chia sẻ thêm với các bạn 1 tấm hình nữa của lớp chụp chuyến đi chơi Dunakanyar...

Friday, November 27, 2020

Tinh trang hoan hao

Duy trì tình trạng perfect/hoàn hảo, sung mãn cả tinh thần và thể chất là điều bình thường nhưng nay đã trở thành khó khăn cho thấy cuộc sống ko dễ dàng chút nào!

Thursday, November 26, 2020

Đồ ăn thời sinh viên: Bánh mì mỡ hành

 A delicious Hungarian bar snack, zsíroskenyér is an open-faced sandwich slathered with lard, rings of sliced onion, and a hint of paprika. Conveniently, it pairs really well with draft beer and it's also wallet friendly (I paid €1 for this one). A few places also serve a VIP version made with Mangalitsa lard.

When the hunger for zsíroskenyér arises, I usually go to Grinzingi, an old-school, unfussy neighborhood joint in downtown Budapest.

(Offbeat Budapest)

Wednesday, November 25, 2020

Hạnh phúc từ đâu... ?

 Nỗi bất hạnh làm nên con người, còn con người làm ra hạnh phúc.

Tục ngữ Ba Lan

Tuesday, November 24, 2020

Nghỉ hè

 1983. Siófok: Az üdülő 1981. március 13- án nyitott. A büfé blokk egy évvel később. Ez a fotó 1983--ban készült (Erika Horvath)

Ảnh: Szocializmus hagyatéka

Monday, November 23, 2020

1, 2, 3, ...từ lúc còn trẻ

 LÚC TRẺ VÀ BÂY GIỜ

1. Lúc trẻ, tưởng đóng đinh thì đóng đinh, không thích thì là có thể nhổ, bây giờ cảm nhận được đinh có thể nhổ nhưng vết sâu vẫn còn...

2. Lúc trẻ, tưởng khóc là buồn, bây giờ phát hiện buồn nhất là không thể khóc được, cứ trống rỗng, tỉnh táo và vô hồn.

3. Lúc trẻ, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm, chỉ đến ở những chỗ không người, đến giờ mới hiểu, lúc bên nhau, sự ấm áp mới thật mong manh, mà nỗi cô đơn sao lại gần gũi thế.

4. Lúc trẻ, tưởng thành người lớn là lớn, bây giờ đã thấy có nhiều người đã lớn mà vẫn chưa thành người lớn, và đến khi thật sự thành người lớn thì người ta sẽ biết không bao giờ bé trở lại được.

5. Lúc trẻ, tưởng mình có thể thay đổi cá thế giới, giờ thấy được ngay cả 1 người còn chẳng có khả năng thay đổi. Có chăng, vẫn chỉ là tự thay đổi mình.

6. Lúc trẻ, tưởng yêu một người thì dễ, quên một người mới khó. Giờ thấy mình quên đi nhiều người cũng dễ dàng, nhưng để yêu, mới khó làm sao.

7. Lúc trẻ, vẫn nghĩ rằng tình yêu là mãi mãi, tình yêu là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời. Giờ thì biết yêu đến đó, rồi đi đó, như mưa bóng mây, hay dù có như chớp bể mưa nguồn thì cũng vậy, có đó rồi mất đó. Và thật sự cũng chẳng biết thứ gì là quan trọng nhất.

8. Lúc trẻ, mẹ nói yêu thương cho đi là yêu thương nhận lại, giờ lớn lên chợt nhận ra, có những yêu thương chỉ cho mà không nhận.

9. Lúc trẻ, mong mình lớn, giờ đây lớn rồi sao mong mình bé lại quá chừng.

10. Lúc trẻ, tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm, giờ mới biết nó chỉ cách nhau một lằn chỉ mong manh.

11. Lúc trẻ, tưởng rằng trung thực là điều tốt,giờ mới biết sống trung thực với mình thôi cũng là điều khó biết bao.

12. Lúc trẻ, tưởng rằng những gì đến rồi sẽ đi, giờ mới biết niềm vui đến thi qua mau, còn nỗi buồn tưởng như dài vô tận.

13. Lúc trẻ, cứ nghĩ: “Tiền bạc, Tình yêu rồi mới đến Sức khỏe”, về già mới khám phá sự đảo ngược: “Sức khỏe,Tình yêu, Tiền bạc”. Lúc trẻ rất sợ phải chết, nhưng về già “Sự lãng quên còn đáng sợ hơn cái chết rất nhiều”.

14. Lúc trẻ, tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm, giờ mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị xung quanh ta, có chăng là mình đã không nhận thấy.

15. Lúc trẻ, tưởng nói quên là có thể quên được, giờ mới biết có những chuyện càng muốn quên thì nó lại càng ở mãi trong lòng.

16. Lúc trẻ, cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia. Về già mới biết: “được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất”.

17. Cuối cùng, lúc trẻ cứ tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm. Về già mới hiểu nó chỉ cách nhau một lằn chỉ mong manh. Và lúc đó chúng ta thanh thản ra đi để khởi đầu một cuộc hành trình cuối cùng: Bước Nhảy Vọt Vào Bóng Tối.

St

#ncctv

Sunday, November 22, 2020

3, 7 đường học

 Sáng nay thấy bà con cãi cọ trên mạng xem cho con học loại trường nào thì thành công. Học chuyên, học trường công, trường tư hay trường quốc tế thì thành công nhỉ? Đi du học thì vào trường oách xà lách hay trường thường thì thành công?

Túm lại cái này cãi nhau tới Tết Congo cũng chả hết cãi. Là vì thành công hay không nó có ba, bảy đường khác nhau. Và thành công của từng đứa con cũng khác nhau. 

Nhìn vào lớp trung học của mình là thấy. Vài bạn xưa học dốt nhất lớp nay rất thành công. Là vì các bạn ra trường một cái chả học lên gì hết. Hồi đó 1 lớp có vài bạn đậu đại học thôi, còn lại học cao đẳng, trung cấp và đi làm ngay. Nên các bạn này ra trường là đi buôn. Nói thẳng như vậy cho vuông. Và 17-18 tuổi đã lao vào thương trường, bắt đầu từ buôn bé ngoài chợ, ngoài vỉa hè cho tới khi buôn to bán nhớn. Và vì nếu không lao vào chăm chỉ buôn bán thì lấy gì mà cạnh tranh với đời khi học vấn không cao, thành ra các bạn thành công. Còn 1 số bạn học đại học, thì chủ yếu làm thuê, ít ai làm chủ. Và có lãnh lương cao đi nữa nhưng các bạn đã làm thuê thì không giàu có như các bạn đi buôn được rồi. Song đời sống cũng thoải mái, gia đình con cái phương trưởng.

Tóm lại, bài toán ở đây chỉ là may đo thôi. Có cháu thì học trường công hay trường chuyên sẽ thành công. Có cháu thì nên vào trường tư hay trường quốc tế mới thành công. Có cháu vào trường oách thì thành công mà có cháu chỉ học trường bình thường cũng thành công vang dội.

Làm gì có công thức như nhất cho mọi học sinh. Chỉ là cha mẹ phải lo tìm hiểu xem con mình là ai, năng lực thế nào, nó mong muốn gì và cha mẹ có hỗ trợ hay hợp tác với con được hay không. Từ đó tìm ra con đường định hướng phù hợp nhất cho con, cho điều kiện và túi tiền của gia đình.

Cái gì phù hợp thì sẽ bền vững và có thành tựu. Còn cái gì ở mức quá thấp hay quá cao thì đều có thể làm hỏng con. Một là cho nó chơi nhiều thành lười biếng. Và hai là áp lực quá nó cũng hóa rồ. Và đứa nào hợp đi làm thì cho đi làm, đứa nào hợp đi buôn thì cho đi buôn, đứa hợp học hành cao lên thì cho nó học cao lên. Nếu hợp là sẽ có thành công tùy sức của nó và công cha mẹ đầu tư vào nó.

Vấn đề là có bao nhiêu cha mẹ bỏ công ra suy nghĩ, tìm tòi, định hướng theo 1 con đường phù hợp  nhất cho con mà thôi. Vì nhiều nhà vẫn chạy theo phong trào, ai làm gì thì làm theo nấy cho đỡ phải nghĩ. Hoặc là một số khác chỉ cho con cơm ăn 3 bữa quần áo mặc cả ngày, sáng chở đi tới trường chiều rước về, còn lại thì con tự bơi trong trường, tới đâu thì tới được đâu thì được.

Gặp may thì cũng có con mà cha mẹ bỏ bẵng hay lo lắng rất ít mà nó vẫn thành công. Nhưng cái này ít thôi, hiếm lắm. Đa phần là do cha  mẹ phải nát đầu nghĩ cách và cố gắng không ngừng tìm đường cho con đi. Và làm sao để nó tự đi được sau khi đã có các kỹ năng tự lập và tự học.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Saturday, November 21, 2020

Friday, November 20, 2020

Thursday, November 19, 2020

NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI

 Người thầy vĩ đại của hạnh phúc, Epicurus, đã chia  nhu cầu của con người thành ba cấp:

- Thứ nhất, nhu cầu tự nhiên và cần thiết:  Đây là những cái gây ra đau khổ nếu không được thỏa mãn. Điều này chỉ bao gồm quần áo và thực phẩm. Để thỏa mãn nó không khó. 

- Thứ hai, nhu cầu tự nhiên, nhưng không cần thiết:  Đó là nhu cầu quan hệ tình dục .Để thỏa mãn  đã khó hơn rồi. 

- Thứ ba, nhu cầu không tự nhiên, cũng không cần thiết: Đó là sự xa hoa, giàu có, lộng lẫy. Số lượng của chúng là vô hạn và rất khó để thỏa mãn chúng.

FB-Ngô Mạnh Hùng

Wednesday, November 18, 2020

Về những đặc điểm vùng/miền

 “ Người Thanh-Nghệ-Tĩnh keo kiệt, cư xử thô lỗ, nóng nảy…”

“ Con đi học chớ có chơi với bọn Thanh- Nghệ -Tĩnh con nhé..”

“ Các Doanh nghiệp đua nhau tẩy chay lao động Thanh- Nghệ -Tĩnh…”

“ Bọn nó chó lắm..”

Tôi rất đau lòng khi vô tình nghe được, đọc được những câu nói, những đánh giá kiểu như thế trên xe bus hay trên những trang báo..

Ngày bé, tôi luôn háo hức khi nghĩ một ngày nào đó, tôi sẽ lớn lên, sẽ được ra thủ đô học tập. Thủ đô có Hồ Gươm, có phố cổ, có lăng Bác, có những con phố đêm sáng đèn tuyệt đẹp, và đặc biệt, tôi sẽ được gặp gỡ, học tập cùng bạn bè khắp mọi miền Tổ Quốc…Đâu có ngờ…

Mới đầu đi học, tôi có nghe một vài câu chuyện xa xôi về việc kì thị vùng miền, tôi không để tâm lắm vì tôi nghĩ chắc người ta cứ phức tạp hóa mấy vụ đánh nhau vớ vẩn thôi …Dạo gần đây, tôi nghe những câu chuyện từ những “nạn nhân” có thật của việc kì thị vùng miền, tìm hiểu thêm qua sách báo, internet, tôi mới thực sự sốc khi nhận ra kì thị vùng miền trở thành một trào lưu,một vấn nạn xã hội đang ngày càng trầm trọng.  ĐỪNG XEM NHẸ VẤN ĐỀ NÀY !

Người ta nói người Thanh- Nghệ -Tĩnh bủn xỉn, hay đánh nhau, hay bảo vệ cho nhau, quậy phá trong nơi làm việc…Thậm chí còn có những người lập nhóm những người ghét dân Thanh-Nghệ -Tĩnh và suốt ngày chửi bới thô thiển, tục tĩu, có những doanh nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai..còn thẳng thừng không nhận công nhân Thanh-Nghệ -Tĩnh, xóm trọ không cho Thanh-Nghệ-Tĩnh thuê, nhiều người còn cố tránh xa những con người vùng này như lánh người bệnh phong, bệnh hủi…

Có người từng chứng kiến cảnh gây lộn của người Thanh-Nghệ -Tĩnh, nhưng phần lớn còn lại chỉ ghét người 3 tỉnh này vì ….nghe người khác chứ chưa một lần tiếp xúc với họ. Các doanh nghiệp cũng truyền cho nhau những thứ được họ gọi là “ kinh nghiệm tuyển công nhân” theo kiểu cách tương tự. Thật là vô lí, thật nực cười và vô cùng bất công… Cái lối a dua, hùa theo, cách phán xét chủ quan, phiến diện, đánh đồng của họ đã khiến rất nhiều người Thanh-Nghệ -Tĩnh cảm thấy bị xúc phạm, nhiều lao động mất việc làm, rơi vào hoàn cảnh trớ trêu khi họ đã lặn lội đường xa, rời mảnh đất quê hương nghèo khó lên đường tìm miếng cơm manh áo để nuôi gia đình nhưng lại bị đối xử bất công, phải bán rẻ sức lao động, lại còn bị xúc phạm phũ phàng…

Phải, rất nhiều người dân Thanh-Nghệ-Tĩnh nóng nảy,hay bảo vệ nhau, hay quậy phá, tiết kiệm thái quá…nhưng những điều kiện khách quan đã khiến họ trở nên như vậy. Quanh năm phải oằn mình hứng chịu thiên tai, bão lũ, cái nắng gay gắt của mùa hè cùng gió lào rát bỏng khiến con người họ trở nên nóng nảy, hay gắt gỏng. Để chống lại sức mạnh tàn phá của thiên nhiên, họ phải cùng nhau hợp lực, giúp đỡ nhau để vượt qua những thời kì gian nan nhất của cuộc đời khi nhà cửa bị cuốn trôi, khi những đứa trẻ trở nên mồ côi sau một đêm giông bão…Trên mảnh đất cằn cỗi trơ sỏi đá ấy, để kiếm được đồng tiền, hạt gạo nuôi thân, họ đã phải trải qua những cuộc mưu sinh đầy gian nan và có phần nguy hiểm. Thế nhưng họ quật cường, họ không chịu khuất phục và cũng vì thế mà họ quý đồng tiền, họ tiết kiệm từng đồng xu, họ đau lòng khi thấy những đồng tiền mình chắt góp được bởi bao mồ hôi nước mắt bỗng chốc tiêu tùng trong một bữa tiệc xa xỉ hay một lần tham gia nhậu nhẹt cùng bạn bè (vì nể nang)…Cái đó bị coi là xấu xa, là đáng xấu hổ sao?

Cái nóng nảy, cương cường của con người Bắc miền Trung luôn đi kèm với sự thẳng thắn ,thật thà, ý chí sắt đá không dễ khuất phục. Con người nơi đây không ưa thích sự nịnh bợ, quanh co, hoa lá trong giao tiếp hay sự nhún nhường, nhượng bộ trong ứng xử, có lẽ vì thế mà họ không được lòng nhiều người và bị coi là thô thiển. Đứng trước khó khăn thử thách, họ không mấy khi nhụt chí bởi họ là những con người từng trải,ý chí của họ đã được tôi luyện ngay từ trong bụng người mẹ mang thai đập đá, trèo đèo, lội suối., hơn ai hết, họ ý thức được rằng nếu họ bị khuất phục, họ không thể tồn tại.

Ý chí quật cường ấy đã bao lần ghi danh trong lịch sử qua những chiến công hiểm hách của những vị anh hùng bất tử Lê Lợi, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện, Trần Can…đặc biệt là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, của quần chúng lao động trên toàn thế giới Hồ Chí Minh… Đó mãi là những bản anh hùng ca bất diệt của hàng ngàn thế hệ, những người con xứ Thanh-Nghệ-Tĩnh đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Con người Thanh-Nghệ -Tĩnh tôn trọng sự công bằng, họ dám đứng lên đấu tranh khi họ bị bóc lột sức lao động, khi công sức của họ bị rẻ rúng,và vô hình dung, họ bị coi là những phần tử phá rối trong doanh nghiệp, và họ bị tẩy chay trong tuyển dụng.

“ Người xứ Thanh-Nghệ -Tĩnh đoàn kết, hay bảo vệ nhau, đi đâu cũng hội đồng hương”…bạn không thích điều đó ư? bạn nghĩ điều đó là tiêu cực hạn chế ư? Chỉ khi người ta lợi dụng sự đoàn kết ấy cho những hành động sai lệch thôi bạn ạ. Nhưng phần lớn, tính đoàn kết đã phát huy tác dụng đúng chỗ, nó mang sự giúp đỡ, mang những buổi gặp mặt thân tình, mang cả quê hương đến với họ nơi chốn đất khách quê người, giúp họ được ấm lòng, được san sẻ, được cảm nhận những tình cảm thân thuộc đã ăn sâu vào máu, vào từng thớ thịt của họ.

Có thể bạn không may mắn khi đã gặp phải những người xấu từ xứ Thanh-Nghệ-Tĩnh nhưng xin đừng vì một vài người mà đánh giá gần 1/10 dân số Việt Nam là xấu xa. Thật ra, ở đâu cũng có người xấu, người tốt. Tôi đã không khỏi ngạc nhiên khi tận mắt trông thấy những “ nam thanh, nữ tú” Hà Thành buông những lời chửi thề tục tĩu nơi công cộng. Họ hồn nhiên buông thõng những câu nói không thể lọt tai mà không chút ngượng ngùng, nó trở thành những câu cửa miệng của một lớp người luôn tự hào là “ Tràng An thanh lịch” . Rồi biết bao vụ đâm thuê chém mướn giết người man rợ khắp nơi chả ai thèm để ý, nhưng hễ có một vụ người Thanh-Nghệ-Tĩnh ăn cắp hay đánh lộn thì y như rằng trở thành chủ đề cho các cuộc “hội thảo” ở chợ búa, quán trà đá vỉa hè hay thậm chí là trong công sở…

Với nhiều bạn trẻ hiện nay, sự cảm tính luôn chiếm một phần lớn trong thái độ yêu ghét một thứ gì đó: Đã ghét cái gì thì nhìn đâu cũng thấy xấu. Đó là cách nhìn nông cạn, phiến diện của những con người sống hời hợt, thiếu suy nghĩ. Rất mong các bạn suy nghĩ sâu xa, toàn diện một chút. Tất cả chúng ta là người một nhà, các thế hệ cha anh đã biết bao hy sinh xương máu để giành độc lập cho Tổ Quốc, để đất nước thống nhất, nhân dân 3 miền Bắc Trung Nam được sum vầy, thế mà chúng ta lại phụ lại sự hy sinh ấy, chia rẽ kì thị vùng miền, thử hỏi thế có đáng không? Mảnh đất bắc miền Trung là khúc ruột không thể tách rời của Tổ Quốc Việt Nam, con người bắc miền Trung là thành viên không thể thiếu trong đại gia đình dân tộc Việt Nam đoàn kết, hùng cường.

Nhân đây, để không phải chịu cảnh “ con sâu làm rầu nồi canh” , rất mong các bạn là người con của xứ Thanh- Nghệ -Tĩnh hào hùng, hãy cố gắng gìn giữ và phát huy những tinh hoa truyền thống tốt đẹp và loại bỏ dần những thói hư tật xấu của mỗi cá nhân.

Tôi viết bài này dựa trên sự hiểu biết của người con mảnh đất bắc miền Trung nhưng đứng trên lập trường khách quan của người con của dân tộc Việt Nam với một nỗi niềm đau đáu: mong sao cho những việc đáng buồn như thế này đừng bao giờ xảy ra đối với một đất nước mà triệu triệu đồng bào đã cùng nhau vượt qua bao sóng gió trong lịch sử dựng nước và giữ nước như đất nước Việt Nam mình.

Cao Huy Bình (Đại học Dược Hà Nội)

Tuesday, November 17, 2020

Lưu lại vài điểm: Thói hư tật xấu của ngưới VN

Dưới đây là lời dẫn trong loạt bài “Xét tật mình” của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên tờ Đông dương Tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút xuất bản năm 1913 tại Hà nội.

Sau hơn 100 năm ngẫm lại, hầu hết các tật xấu mà tác giả phê phán vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

LỜI TỰA

Các nết xấu, các hủ tục của người Việt Nam ta, cần nói hết ra, đừng có giấu diếm, ai cũng biết thì mới sửa được. Luân lý là phải dạy người ta biết gốc rễ điều ác để tự nguyện tránh, mầm mống điều thiện để tự giác làm điều thiện .Nếu cứ nói, cứ bắt buộc phải thế này, không được thế kia thì khó nghe, uổng công nói, mà phải biết cho rõ làm việc thiện lợi thế nào, làm điều xấu hại ra sao thì người ta dễ theo. Người có bệnh phải biết rõ bệnh, căn nguyên bệnh thì mới uống đúng thuốc mà khỏi. Trong xã hội có nhiều hủ tục, đã thành thói quen của cộng đồng, một người hay một thiểu số không đủ sức đấu tranh để sửa mà nên phô bày ra, rõ ràng cái xấu, căn nguyên cái hại để Nhà nước biết, để đa số nhân dân biết, khi đó lệnh của nhà nước hợp với ý dân thì mới sửa được.

Vì vậy mỗi số sau sẽ trình bày cụ thể một tệ hủ bại, phân tích rõ gốc rễ và điều hại cho dân cho nước để cùng nhau sửa .

Đông dương tạp chí số 6 – 1913.


TÍNH Ỷ LẠI

Dân ta có một nết xấu mà hầu như mọi người đều cho là hay đó là tính ỷ lại trong cuộc sống, sung sướng mà ỷ lại vào người, vui vẻ và hãnh diện mà cho người khác ỷ lại vào mình. Các nước văn minh người ta khinh ghét nhất sự ỷ lại. Trong cuộc sống, tự hào nhất là bằng lao động của đôi tay, khối óc mà tự mưu sinh, không nhờ vả vào ai. Đến mức, cha mẹ có nghề của cha mẹ, dù có vất vả cũng sống giản dị với nghề đó, thấy con ăn nên làm ra, giàu có thì mừng cho con mà chẳng nhờ cậy. Chỉ khi thật sự già yếu quá mới yêu cầu con cái giúp đỡ. Còn dân ta thì hoàn toàn ngược lại, coi việc được sống dựa vào sự giàu có của người khác là một vinh dự, đến độ thấy người sang bắt quàng làm họ, một người làm quan cả họ được nhờ, đến mức bỏ cả việc đang làm để bám vào người mà ăn không ngồi rồi. Cách nhờ vả này người nghèo càng nghèo mà chính người giàu cũng chẳng hay, phải tìm cách bất lương để có thêm tiền, làm quan thì phải ra sức ức hiếp dân mà ăn của đút… Quanh quẩn đất nước thêm nghèo, dân ta lún sâu trong lạc hậu.

Đông dương tạp chí số 8 – 1913.


TÍNH NÓI DỐI

Các quan Tây thường chê dân ta là hay ăn gian nói dối. Điều đó quả thật, nhưng chỉ với các quan Tây cũng như ta. Còn ở dưới nông thôn thì không thế. Đại đa số nông dân phân biệt rõ thiện, ác và tin rằng ăn ở thật lòng với nhau là quý, mới được bạn bè hàng xóm láng giềng yêu mến, giúp đỡ. Với nhau, họ rất chân thật. Vậy vì sao các quan Tây chê vậy?

Thưa rằng quả thực đối với các quan nói dối là cách tự vệ của dân đen .Các quan tự nêu hư danh là phụ mẫu của dân, vì dân mà cầm cán cân công lý. Sự thật đâu có thế! Quan chỉ vì tiền, ai đưa cho quan nhiều bổng lộc thì quan ra sức bênh, đè nén áp bức là việc hàng ngày của quan. Vì vậy đã tới cửa quan thì người đi kiện cố nhiên cũng phải nói dối để quan xử cho có lợi , người bị kiện tất nhiên cũng phải nói dối để mong đỡ bị hại, gặp quan: sợ quan nên nói dối mà nịnh quan cũng nói dối. Thế là với quan ta, ai cũng nói dối cả thì tránh sao khỏi nói dối với quan Tây, là quan của quan, nói thật sao được!

Đông dương tạp chí số 9 – 1913.


THÓI TRẢ NỢ MIỆNG

Ở chốn dân thôn, các thói xấu nên hổ thẹn nhất, nên lên án và bài trừ, là thói coi ăn uống là việc quan trọng hàng đầu trong quan hệ xã hội. Việc hiếu nghĩa mà không có mâm to bình lớn, ăn uống thỏa thuê thì bất thành hiếu nghĩa. Gia đình nếu không may có ông bà, cha mẹ nằm xuống, nỗi lo lắng nhất là làm sao đủ lợn, gà, rượu, gạo, để thết đãi các chức sắc và dân làng. Hàng mấy chục người quần quật, tíu tít vào việc này, đến nỗi lòng thương nhớ người chết cũng bị chìm đi trước nỗi lo đãi người sống. Mà không lo sao được? Nghe hơi có người chết đám Tổng Lý kỳ cựu đã chuẩn bị mồm chờ ăn, chờ uống gân cổ cười nói, bẹp tai hút sách. Thiếu một chút là dài mồm dè bửu, coi là bất hiếu. Tốn phí vô cùng, chỉ mấy ngày mấy chục vị chức sắc ưa thích và bảo vệ, nhân dân trong lòng đâu có muốn đến mức ấy, nhưng không ăn ai dám tự ý làm khác. Cũng chỉ vì, khi còn sống, ai cũng đã từng ăn uống như thế ở nhà khác, nay chết đi, con cháu phải tổ chức ăn uống để trả nợ miệng cho người chết. Hàng nghìn đời trả nợ miệng như thế, nước ta vẫn đắm mình trong nghèo khó, lạc hậu. Nếu cả nước đồng lòng, đem công sức của cải góp phần lo trả nợ nước thì văn minh, khoa học sẽ đến với chúng ta. Thói ăn uống hủ bại như trên đúng là miếng ăn là miếng nhục.

Đông dương tạp chí số 10 – 1913.


THÓI TỰ TY

Dân ta rất cần mẫn chăm chỉ , biểu hiện rõ ở nông thôn tấc đất tấc vàng, không một mảnh đất nhỏ nào để hoang chỉ hiềm một nỗi, không biết tự hào về sự cần mẫn này, không thấy sản phẩm do lao động mình làm ra quyết định sự tồn tại của xã hội. Có ai, dù là vua quan, những kẻ làm sĩ, những người buôn bán, những người làm thợ thuyền… Không ai có thể sống nổi nếu không có lương thực, thực phẩm do nhà nông sản xuất. Tất cả các nghề khác đều như vậy, mỗi nghề đều góp phần tạo điều kiện cho xã hội tồn tại và phát triển, đều vinh quang nếu họ biết vì lợi ích của xã hội trong đó có lợi ích của chính mình mà lao động.

Dù anh làm nghề gì, nếu anh không phục vụ tốt cho xã hội thì anh không được tôn trọng. Làm quan, một nghề nói chung được trọng vọng, nhưng nếu ông quan lại buôn quyền, bán chức, đàn áp nhân dân để kiếm lợi riêng thì có lợi gì cho ai, làm sao khỏi bị khinh ghét. Làm thợ mà biết tính toán khéo léo, làm ra những sản phẩm hoặc công cụ, có ích cho đời, vừa bền vừa đẹp thì làm sao mà không được yêu quý. Những người làm nghề buôn bán, làm nghề vận chuyển, hàng trăm nghìn nghề mà xã hội cần, không có nghề nào hèn. Mà chỉ cần ai làm nghề gì biết tự hào và lo học tập rút kinh nghiệm để phục vụ xã hội tốt mãi lên. Đó là con đường tiến bộ của cá nhân gắn liền với sự tiến bộ của xã hội, nghề nào cũng dẫn đến giàu có, vinh quang. Chớ có giầu rồi lại phụ nghề, đem tiền của do nghề làm ra mà đi mua chức vị nọ kia; ông hàn, ông bát, và coi thường nghề cũ.

Tóm lại cần mẫn phải gắn liền với lòng yêu nghề, với tinh thần vì cộng đồng xã hội trong đó có bản thân mà hành nghề, không ngừng rèn luyện để thạo nghề. Phục vụ xã hội và làm giàu song song phát triển, thúc đẩy lẫn nhau tiến lên mãi.

Đông dương tạp chí số 11 – 1913.


THÓI TIÊU TIỀN

Người nông dân cần mẫn có thừa, hàng ngày hai sương một nắng, quanh năm vất vả mà vẫn nghèo khó. Tại sao? Chung quy, họ là nạn nhân của điều kiện kinh tế xã hội kéo dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Sức người cộng với công cụ thủ công, cùng nhất là con trâu kéo cái cày cái bừa. Nhất nước nhì phân nhưng cả hai đều khó khăn mà con người không chủ động được. Cho nên làm ra nông sản, kiếm được tiền đã vô cùng khó khăn, làm sao giữ được tiền, làm sao chi ra hợp lý, phục vụ cuộc sống cũng khó khăn không kém.

Giữ được cũng cực kỳ khó. Người nông dân đủ bát ăn là đối tượng bị kỳ hào lớn nhỏ trong xã nhòm ngó, tìm cớ đục khoét; khá hơn thì được sự chú ý xét nét của cấp tổng, mà tương đối giàu có thì các quan trên huyện, phủ, tỉnh, dựa vào cấp tổng, xã thành một hệ thống đèn trời, soi vào túi dân vơ vét. Số tiền còn giữ được người dân cũng không làm chủ hẳn. Hủ tục ma chay, giỗ chạp đã buộc phải chi ra một phần lớn như bài trước đã nói, vì thế mang tiếng hoang phí, không biết tích lũy dự phòng. Số chi cho cuộc sống đã ít lại gặp nhiều khó khăn. Chỉ sửa chữa nhà cũng sợ các kỳ hào trông vào, kẻ gian dòm ngó, lòng tham nổi lên thì chết. Chi cho cái ăn mặc sang trọng một chút, ở nông thôn đâu có dễ, không biết mà mua, không có mà mua, nên số còn dư chút ít chỉ có cách nơm nớp lo cất dấu, khi có thời cơ thì mua ruộng, chuẩn bị chia cho con cháu. Đó là cách dự phòng mà người nông dân cho là chắc chắn nhất, thích hợp nhất với hoàn cảnh xã hội ở nông thôn, thích hợp với tâm lý; nhiều tiền chẳng những không biết tiêu gì, lại còn sinh nhiễu sự ra, kém vế thì nhiều khi tiền mất tật mang, bị kẻ khác ăn hiếp, mà có khi còn làm lụy tới thân.

Đông dương tạp chí cố 12 – 1913.


THÓI NGHI NGỜ

Dân ta lại có cái tật cái gì cũng bán tín bán nghi nên làm hay không làm; theo hay không theo, chẳng dứt khoát mặt nào. Lấy thí dụ điều này bộc lộ rõ trong vấn đề được các cha cố dạy kỹ về giáo lý; vẫn còn không ít người thường xuyên đi nhà thờ lễ, nhưng khi đến các điện phủ, chùa chiền có tiếng là linh thiêng thì vẫn lễ bái không kém ai, với quan điểm “bên cha cũng lễ, bên mẹ cũng vái”. Những người theo Phật giáo hoặc tin vào sự linh thiêng của các thánh thần thì khỏi nói, họ tụng kinh Phật, miệng không ngớt Nam mô A di đà Phật, nhưng có chút hiểu biết gì về phật lý đâu. Vì thế đền chùa họ thắp nhang lễ lia lịa ở khắp nơi, trừ chính diện ra nếu hai bên, ra góc cột đến gốc cây với ý thức đâu cũng linh thiêng, càng lễ nhiều càng được phúc, vừa lễ vừa xin đủ thứ. Sự lễ bái cầu lợi này tạo cơ hội cho các chùa chiền, đền đài biến thành nơi buôn thần bán phật.

Đông dương tạp chí số 13 – 1913.


THÓI BẮT CHƯỚC

Sự huyền hồ về nhận thức tư tưởng của dân ta không ngừng lại ở lĩnh vực tôn giáo mà nó chi phối rộng rãi mọi hoạt động tư duy, vay mượn của Trung Quốc nhiều, ít chất thực tiễn Việt Nam. Ví như làm thơ, viết văn đều xính xuất phát tự thiên nhiên Trung Quốc, từ phong cảnh đẹp đặc trưng, khí hậu băng tuyết, đến con người với tinh thần, tâm lý rất xa lạ… trong khi bầy ra trước mắt biết bao cảnh sông, núi, rừng đẹp tuyệt vời của chính quê hương, con người và điển tích Việt Nam diễn ra trong suốt mấy ngàn năm lịch sử thì bị quên lãng. Như vậy làm sao có được cảm xúc thực phù hợp với tâm hồn Việt Nam? Đều như vậy, trong hội họa, trạm khắc đúc tượng cũng lấy đề tài và rập khuôn Trung Quốc mà người nghệ sĩ chưa hề được chiêm ngưỡng tận mắt. Cho đến Pháp luật, một lĩnh vực phải quán triệt 100% Việt Nam, con người kinh tế, xã hội và chính trị Việt Nam thì cũng vẫn bị vua Gia Long bỏ luật Hồng Đức ban hành luật mới bằng cách sao chép của Tàu, luật mà như thế, làm sao mà cải tạo được thực tiễn Việt Nam. Phong tục Việt Nam phải là của người Việt Nam xây dựng trong mấy nghìn năm tồn tại thì cũng tìm trong “Thọ Mai Gia Lễ” hoặc “Văn Công Gia Lễ” xem ở bên Tàu con khóc cha như thế nào mà bắt chước. Thật buồn cười! Thật huyền hồ đã làm cho tư duy và bản sắc dân tộc Việt Nam không phát triển được. Chúng ta phải triệt bỏ.

Đông dương tạp chí số 15 – 1913.


THÓI LÃNG PHÍ TRÍ TUỆ

Lối học cổ hủ, lại thông qua tiếng Trung Quốc, kéo dài hàng nghìn năm, đã khoét sâu ảnh hưởng tai hại đến hoạt động trí tuệ của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Trung Quốc rất khó, gây ra nạn mù chữ trong tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, cũng có nghĩa là đại đa số này không được học hành, hoạt động tư duy bị trì trệ, hạn chế trong những lo nghĩ cho mình, cho gia đình, nhưng là lo nghĩ vẩn vơ, không dẫn đến hoạt động tích cực mà thường là ngồi ngẩn hàng giờ đầu óc trống rỗng, không đem lại một chút lợi ích cho bất cứ ai. Đó là thì giờ mất không, sống cũng khác chi chết. Ở đời, thì giờ phải phân làm 3 việc: làm lụng, nghỉ ngơi, giải trí, cả ba việc đều phải hết sức tích cực. Làm việc phải tập trung hết công sức, trí tuệ đạt hiệu xuất cần thiết, làm rồi tất nhiên phải giải trí, giải trí ra giải trí, hoạt động thể thao, văn nghệ, cầm kỳ thi họa đều là giải trí tích cực. Thứ ba là nghỉ ngơi thoải mái khôi phục lại sức khỏe để tiếp tục lao động. Làm như vậy cuộc sống từng giờ từng phút đều tích cực.

Đông dương tạp chí số 16 – 1913.


TÍNH VÔ CẢM

Khi trong nước có thiên tai, hoạn nạn thì dân tình đói khổ, nhà tan cửa nát, là dịp bộc lộ người tốt, kẻ xấu. Người tốt biết nhường cơm sẻ áo, góp sức cứu giúp nhau trong cơn hoạn nạn, Đông dương tạp chí đã đưa tên và khen ngợi. Nhưng thật buồn, số người lợi dụng đau khổ của đồng bào để trục lợi riêng vẫn rất đông. ĐDTC thấy cần phải vạch rõ và lên án.

Biết bao người từ đủ bát ăn, đến phong lưu, giàu có mà vẫn nhẫn tâm thực hiện triết lý ích kỷ “cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại”, vẫn ăn ngon ngủ yên, không hề động lòng. Thế thì làm sao gây được quỹ cứu tế lớn đủ sức cấp cứu dân. Nhưng giã man và vô liêm sỉ nhất, không những công luận vẫn lên án mà nhà nước cần nghiêm trị là những kẻ lợi dụng đục nước béo cò. Đó là những chức trách Nhà nước, từ quan lại đến Tổng Lý, được giao nhiệm vụ cứu tế, lại nhân cơ hội ấy mà xà xẻo làm hại dân, lại còn trị con buôn bất lương, nhất là tụi buôn gạo và lương thực đã đầu cơ tăng giá lúa cho nhân dân vô cùng khổ cực.

Nước ta nghèo, kinh tế còn lạc hậu, tai nạn xẩy ra nhiều, phải ra sức thực thi nhiễu điều phủ lấy giá gương, lá lành đùm lá rách, thì mới có điều kiện để dân nghèo đỡ khổ, trở thành nước tiến bộ văn minh.

Đông dương tạp chí số 17 – 1913.


TÍNH THỤ ĐỘNG

Hãy xét đến các khuyết tật trong hoạt động tri thức của dân ta.

Trước tiên là vấn đề học tập. Từ ngàn đời xưa chỉ tập trung vào nho học, các sách thánh hiền được coi là chân lý tuyệt đối, lại viết bằng tiếng Trung Quốc rất khó, nên số người hiểu được thấu đáo, và vận dụng, sáng tạo trong cuộc sống rất hiếm. Cách học thì không theo một chương trình hợp lý, không có trình tự đi từ dễ đến khó, từ gốc đến ngọn, mà phổ biến là gặp đâu học đấy, thiên về học thuộc lòng, lấy ngâm nga, trích cú làm giỏi. Chính vì vậy, hàng mấy ngàn năm trôi qua, cũng chỉ ngần ấy sách, không thêm bớt, cũng không có ông bà Thánh mới nào ra đời. Tưởng như nhân loại ngàn đời không biến động. Thực tế đâu có thế. Tri thức của nhân loại thời nay đã tiến bộ và cao hơn gấp bội tri thức thánh hiền xưa. Các môn khoa học mới ra đời phân nhánh rất phong phú. Muốn trở nên một dân tộc văn minh như ở các nước Âu Tây, chúng ta phải theo Tân học, phải cách tân cách học. Các môn khoa học đều phát triển từ các vấn đề cơ bản giản dị mà tiến dần lên cao hơn, phong phú hơn, các môn khoa học có liên quan mật thiết với nhau. Vì thế học tân học, đối với mỗi môn, phải học từ thấp, thật hiểu thấp mới chuyển lên cao, phải học các môn có liên quan với nhau, học phải gắn với hành.

Tổng hợp các mục lại bằng các bài bình luận về mọi mặt kinh tế, xã hội các bài phiên dịch các tác phẩm văn học, khoa học, kinh tế học, đạo đức học ở Âu Tây, ĐDTC sẽ kiên trì giúp bạn đọc đi dần vào tân học.

Đông dương tạp chí số 18 – 1913.


THÓI MÊ TÍN

Hãy đơn cử Hội Đền Kiếp bạc, vốn là ngày hội để tưởng nhớ đến công ơn cứu nước yêu dân của Hưng Đạo Đại Vương. Những công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc đó đã bị người ta không biết đến, lại còn lợi dụng lập ra Đạo Thánh Cả, biến Hưng Đạo Đại Vương thành ông Thánh nhận lễ của dân ngu, cho thầy đồng nhảy múa để kiếm con cầu tự, để người ốm không uống thuốc mà khỏi bệnh… thật là tin bậy làm càn, sự dị đoan đồng bóng phát triển ở khắp nơi, phỉ báng mọi tín ngưỡng, làm cho nhục thần tủi thánh. Chúng ta hãy bảo nhau chữa đi.

Đông dương tạp chí số 19 – 1913


TÍNH YẾU KÉM TRONG GIAO TIẾP

Vụng nói chuyện cũng là một hiện tượng phổ biến ở rất nhiều người Việt Nam mà nguyên nhân cũng là do hoạt động tư duy kém. Không theo dõi được diễn biến tình hình về mọi mặt, không có nhận thức cụ thể về hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học đương thời, ở trong nước và trên thế giới thì làm sao có đề tài nói chuyện hay? Vì vậy khi gặp nhau, trong mọi hoàn cảnh, dù nói nhiều hay nói ít, thường câu chuyện chỉ trao đổi vụn vặt về các vấn đề tầm thường trong cuộc sống. Chuyện lý thú nhất, được mọi người nói một cách hể hả là chuyện khoe khoang hơn người, chuyện ăn chơi, chuyện cờ bạc… những câu chuyện không rút ra được điều gì hay. Ở các nước Âu Tây văn minh thì khác xa, qua học tập tìm hiểu và tích lũy trong đầu những tình hình mới, có những nhận xét đặc biệt, câu chuyện trở nên sự trao đổi tri thức lý thú, có ích cho mọi người và thường gợi ra nhiều cách giải quyết thỏa đáng công việc.

Đông dương tạp chí số 21 – 1913.


GÌ CŨNG CƯỜI

Dân ta rất nhiều người có thói lạ thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, chê cũng cười, hay dở, phải, quấy đều cười. Cười vốn là biểu hiện vui tươi hữu nghị trong xã giao, nhưng ở đây nó trở thành vô duyên, vô nghĩa, nhiều khi nó như là biểu hiện khinh người, không thèm đối đáp, trao đổi. Trong giao dịch mà gặp cái kiểu gì cũng cười này thì thật tức như bị bò đá. Dân ta với nhau đã tức, nếu quan hệ với người nước ngoài thì người ta không thể chịu nổi, cuộc nói chuyện không thể tránh khỏi thất bại. Ta cần rút kinh nghiệm; trong xã giao tươi cười hữu nghị là cần thiết, nhưng điều quan trọng hơn vẫn là thái độ đối đáp, ngôn ngữ rõ ràng, lịch sự và tạo điều kiện cho đối phương nói rõ ý họ, hiểu rõ ý mình. Kể cả mức độ nông sâu chưa nên vượt qua. Điều gì chưa muốn tiết lộ thì tránh nói tới chứ không nên nói dối, nói sai sự thật.

Đông dương tạp chí số 22 – 1913.


TÍNH CỜ BẠC

Trong muôn vàn cái tật của dân ta, tật ham mê cờ bạc là phổ biến nhất, từ thành thị đến thôn quê, miền xuôi, miền ngược, từ các quan cấp tỉnh huyện đến Tổng Lý, các thầy tham phán, kỷ lục, thừa phái, từ các phú gia đến các bậc trung lưu, đến cả người còn túng thiếu. Động cơ chính là tham tiền, muốn qua con bài sóc đĩa nhờ thần rủi may mà móc tiền trong túi người bỏ vào túi mình. Lòng tham thì như thế thật đáng hổ thẹn, nhưng có ai đánh bạc mà nên giàu có? Được thua do may rủi, được thì tiêu hoang phí, thua thì mất của, càng thua càng khát nước lao vào đánh to, gỡ được thì ít mà phá sản thì nhiều. Trên bàn bạc, cay cú với nước bạc, kẻ được người thua ghen ghét nhau, chẳng còn gì là tình cảm bạn bè, anh em, lời lẽ bốp chát thô tục. Từ bậc thượng lưu, trung lưu đến người hạ đẳng, giàu nghèo đều giống nhau, có khác chăng là ở bề ngoài ăn nói, ở cách che dấu lòng tham.

Cái hại của cờ bạc là vô cùng to lớn, hại nhất là lãng phí không biết bao nhiêu thì giờ đáng ra dùng để làm lợi cho bản thân, gia đình và xã hội. Đã mê cờ bạc thì mất lương tâm đạo đức, quên mọi nhiệm vụ, buông trôi công việc, học hành. Quan phụ mẫu trị dân thì quên mất dân đang mong chờ quan dạy dỗ bảo vệ mà chỉ nhớ đến việc đục khoét dân để có tiền đánh bạc. Người có tài cao học rộng mà đã ham mê cờ bạc thì tài cao cũng bằng thừa, vùi đầu vào đánh bạc rồi thì còn đâu thì giờ mà nghĩ đến việc, mà thi thố tài năng. Cái hại thứ hai là sinh ra một nghề chỉ làm hại xã hội, đó là nghề gá bạc lấy hồ, sống bằng cách khuyến khích và tạo điều kiện cho tệ cờ bạc ngày càng mở rộng khắp nơi, khắp chốn. Cho nên xã hội muốn phát triển cần bảo nhau, giúp nhau chừa thói đánh bạc, cần tố cáo để Nhà nước nghiêm trị cả người đánh bạc lẫn tụi gá bạc đổ hồ.

Đông dương tạp chí số 29 – 1913