Sunday, October 17, 2021

Trở về ký ức với cảnh hồ từng gắn với nhiều kỷ niệm thời sv

 Feneketlen tó - Hồ Không Đáy- những kỷ niệm Năm đầu học tiếng ở NEI-Zsomboly- Nándorfehérvári út... rồi BME và sau này.

Hồ... không đáy, ko phải vì không có đáy! Hồ sâu chỉ 4-5 m, nhưng tù xưa đã nhiều chuyện lạ đồn thổi...sâu tới 3-40 m, cả bài báo "về nhiều xe tăng chìm nghỉm" ở đây! 

Xưa là một nhà máy gạch, vét đất đủ xây xong Nhà Thờ...thì nước ngầm tràn lên.. thành hồ ko đáy!

Từ Kör Tér tản bộ đến đây thư dãn, ngẩn ngơ, từ đây dạo tiếp đến Hanoi Park  ngắm tượng Bác Hồ từ sau Quốc khánh 1970..

Tất cả...thành dĩ vãng...Nắng cuối Thu vẫn ươm vàng ..như Xưa!

Anh Khuê (Gépész.BME)

Saturday, October 16, 2021

Thơ Thu

 ĐI DẠO THÁNG MƯỜI (dịch thơ Áprily Lajos)

Đây rồi em,

Thế giới thần tiên của sự lụi tàn

Cái Chết đẹp ngỡ ngàng em muốn thấy

Điệu hát bi ai của rừng thu đâu đấy

Đẹp như là Cái Chết với Tình Yêu


Tiếng thở dài tan ra giữa rừng chiều

Cây từng cây tay vô hình giũ lá

Đàn chim giật mình túa ra hối hả

Trong nắng vàng chụm lại ở ngoài xa


Cành vẫy nhẹ nhàng tiễn lá rời xa

Chỉ nay thôi, mai gió về gió giật

Mấy ngày sau chẳng còn gì tang vật

Lá vàng kia từng chống lại tử thần.


Như những cọng nến tàn đã hết lửa xuân

Cây gẫy ngổn ngang khắp nơi trên mặt đất

Mùa Hè Rớt - anh chiến binh bị bắt

Tóc vàng ươm đi lên đoạn đầu đài


Ven bờ sông hàng liễu tóc rủ dài

Cành xơ xác rung rinh trong gió lạnh

Lưỡi câu tôi chập chờn theo sóng đánh

Ở ngoài kia con cá nhảy giữa dòng


Nắng chiều rơi xa tít ở ngoài đồng

Sông sóng sánh thành đường biên lấp loáng

Bờ bên kia nở nụ cười thấp thoáng

Hè dẫu qua bừng lên nữa một lần


Đồng cỏ xa, cây trơ trọi trụi trần

Gió thu thổi lùa lá bay khắp hướng

Tơ nhện phất phơ dập dềnh những tưởng

Nhảy rung rinh theo điệu nhạc chiều


Tiếng nhạc nhẹ nhàng trong gió phiêu diêu

Nàng tiên mùa thu chơi đàn dây trên cỏ

Nàng sắp đến rồi bóng nàng dài đó

Cây thông cao vời bóng ngả chiều thu


(Phan Anh Sơn dịch, 07/10/2014)

Thảm kịch xảy đến với Hoàng gia Vương quốc Lào

 chuyện còn ít ai được biết

Hàng chục năm trôi qua, chính quyền Lào không đưa ra được một câu trả lời thỏa đá...ng về sự biến mất của vua Savang Vatthana.Lào - nạn nhân thua thiệt trong Cuộc chiến Đông DươngTrong cuộc chiến tranh giữa Mỹ - Việt Nam, đúng nghĩa hơn là chiến tranh Đông Dương, Lào đã cho Hà Nội xây dựng tuyến đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam trên lãnh thổ Lào, vẫn được gọi là 'Đường mòn Hồ Chí Minh'.Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã trực tiếp mở chiến dịch 'Lam Sơn 719' đánh thẳng sang Lào từ Quảng Trị. Mỹ cũng đã tiến hành 550.000 phi vụ tấn công trên lãnh thổ Lào, trung bình cứ 8 phút có một phi vụ rải boom, nã tên lửa trong suốt 9 năm.Chừng 260 triệu trái boom đã dội xuống đất Lào, nhiều hơn dân số của nước này (6,4 triệu/2015). Lào là đất nước hứng chịu boom đạn nặng nề nhất thế giới so với số dân.Bắc Việt Nam đã thành công trong việc sử dụng Lào như một chiếc khiên chắn đạn cho VNDCCH, để hậu phương miền Bắc không bị hứng chịu toàn bộ gánh nặng của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.Nội chiến ở Lào giữa quân đội Hoàng gia được người Hmong ủng hộ chống lại Pathet Lào và quân đội Bắc Việt kéo dài từ tháng 11/1953 tới năm 1973, dài hơn chiến tranh Việt Nam. Một triệu người Lào đã bị giết, tương tự cứ 6 người thì có một bị thiệt mạng.Sau chiến tranh 69.000 người Hmong phải chạy từ Lào sang Thái Lan tỵ nạn rồi một số họ được Hoa Kỳ nhận.Đóng góp của Lào về sức người, sức của cho Bắc Việt Nam chiến thắng không thể phủ nhận.Nền quân chủ 622 năm bị truy trốc tận gốcNằm cạnh những đế chế hùng mạnh trên bán đảo Đông Dương, Lào luôn giữ một thái độ khiêm nhường.Ở Lào đạo Phật được mến chuộng, người dân vẫn tôn thờ ngai vàng, coi biểu tượng của Vua ứng với thần linh và họ nợ Đức Vua lòng trung thành.Khôn ngoan là xoá bỏ vĩnh viễn biểu tượng tinh thần đó. Những người Cộng sản nghĩ thế, họ quen với cái gọi là 'chuyên chính vô sản' hơn công việc xây dựng đất nước.Trong nhiều năm, số phận của vua Savang Vatthana, Thái tử kế vị SayVongsavang, cùng Hoàng hậu Khamphoui là đề tài của những tin đồn trái ngược nhau. Một viên chức Lào cho hay rằng, gia đình Hoàng gia sống trong một biệt thự nhỏ, bao quanh là vườn hoa xinh xắn.Đến năm 1987, sự thật tàn nhẫn mới được tiết lộ. Nhà Vua đã bị giam giữ và bắt buộc phải làm lụng trên cánh đồng tám giờ một ngày, sáu ngày trong một tuần ở tuổi 70. Cả ba đều bị chết sau đó vài năm.Những nhân chứng thoát khỏi nơi đầy ải đã kể những bi kịch như bản Requiem của triều đại đáng kính này.Ngày 11/3/1977, cả gia đình Hoàng gia gồm vua Savang Vatthana, Thái tử kế vị SayVongsavang, cùng Hoàng hậu Khamphoui bị áp giải ra khỏi Hoàng cung ở Luang-Prabang dẫn giải về nhà tù khét tiếng ở Viengsay. Sau đó họ bị giải đến Hua Phang, thành lũy lịch sử của Pathet Lào. Một vùng biệt lập hoàn toàn với dân cư, bao bọc bởi rừng núi.Họ bị giam giữ trong khu vực dành cho những thành phần nguy hiểm. Khu trại được xây dựng vào năm 1974, biệt lập bởi những hàng rào tre, nứa vót nhọn, và dây thép gai kín đặc, được dựng nên cũng bởi những phạm nhân của chế độ mới. Trại nằm cách Sam Neua về phía Bắc, cách biên giới Việt-Lào 72 km.Song chưa yên tâm, để che mắt dư luận thế giới, sợ những người tù cùng ở 'quần đảo Gulag' tại Viengsay phát hiện thân thế gia đình Hoàng gia, ba tháng sau, vua Savang Vatthana và gia đình bị dẫn đi tiếp đến Sam Neua, nhốt trong Trại tù số 1.Hoàng hậu KhamPhoui bị tách khỏi gia đình và giam riêng trong khu dành cho nữ giới. Những người cộng sản Pathet Lào quy định nghiêm ngặt như phạm nhân nam ngước mắt nhìn nữ giới chịu phạt ba ngày nhịn ăn, thậm chí bị nhục hình.Tháng 9/1977, đại diện cuối cùng của đất nước Triệu Voi được nghe tuyên cáo số 17 của trại: tất cả những phạm nhân bị bắt đều bị coi là kẻ thù của nhân dân và dân tộc Lào, không quyền công dân, giam không xét xử.Những ngày cuối cùng của Nhà vuaKhi nhập trại, vua Savang Vatthana đã 69 tuổi. Ông không có một đặc quyền lợi nào khác các bạn tù. Ông cùng Thái tử SayVongsavang và ba người cùng trại giam phải lao động ngoài đồng, xay xát lúa gạo. Mỗi ngày, nhà vua nhận từ tay quản giáo hai bát cơm gạo hẩm, lẫn phân chuột. Không quen lao lực, ăn uống thiếu thốn, tuổi cao, Đức vua nhanh chóng suy sụp, sức khỏe xấu đến mức không còn làm việc được.Nội quy' số 9 'của trại ghi rõ, kẻ nào không lao động sẽ bị cắt khẩu phần ăn. Nhà vua bị liệt vào hạng tù chống đối, bị bỏ đói.Thái tử SayVongsavang chia phần cơm của mình cho cha, khăng khăng bắt ông phải ăn.Vào ngày 2/5/1978, Thái tử nối dõi ngai vàng Vương quốc Lào qua đời, nạn nhân của lòng hiếu thảo. Cơm và muối theo khẩu phần khốn khổ cho một người tù không đủ nuôi sống cả hai.Tự coi mình chịu trách nhiệm về sự hy sinh của con trai, vua Savang Vatthana buông xuôi.Ngày 13/5/1978, ông nằm trên giường, nói ''Tôi ngủ đây'' và trăn trối ''Tôi hiến dâng linh hồn, giọt máu và thân thể của tôi cho mảnh đất mầu mỡ, tươi đẹp của đất nước Lào và có thể cho tất cả dân tộc Lào''.Ông thở nặng nhọc và ra đi. Ông mất 11 ngày sau cái chết của con.Vài giờ sau khi ông mất, ba người nấu bếp đào một hố chôn ông không nghi lễ, ảm đạm, thương tâm như mai táng Thái tử Say Vongsavang không lâu trước đó. Họ không được khóc thành tiếng. Lính áp tải vội về ăn cơm tối.Mộ phần của vua nằm dưới chân cây Kok Leuang (cây đa vàng), khoảng 100m về phía bắc Trại tù số 1, ở rìa con suối Houy Nor Kok trên bản đồ địa phương. Vua an táng đầu hướng về phía Bắc. Con trai ông nằm quay đầu về phía Nam, chôn không xa Tổng tư lệnh cuối cùng Quân lực Hoàng gia Lào, tướng BounPone Makthepharak. Không có bia mộ nào được phép đặt trước nơi an nghỉ cuối cùng của họ.Hoàng hậu KhamPhoui chịu thân phận tù đầy cũng không được dự phút khâm liệm cả chồng và con trai. Mà chữ khâm liệm cũng xa vời, họ chỉ ném xác những người đại diện cuối cùng Hoàng gia Lào xuống những hố nông đào vội.Hai năm sau, bà vẫn không biết là chồng và con đã ra đi. Nhân chứng nhìn thấy bà lần cuối không còn nhận ra Hoàng hậu của nước Lào. Tóc bạc trắng và đôi mắt buồn rầu, bà nhai trầu cả ngày để chìm vào quên lãng. Ánh mắt đó cuối cùng cũng tắt vào ngày 12/12/1981. Mộ của bà nằm cách khoảng một km nơi chồng an táng và cũng không có bia.

Phạm Cao Phong (Paris, Pháp)

Nguồn: BBC

Friday, October 15, 2021

MÓN KHO QUẸT MIỀN TÂY NAM BỘ VÀ VĂN CHƯƠNG.

 1

   Con cá sặc bổi có khá nhiều ở đồng bằng miền Tây Nam Bộ. Cuối hay gần cuối mùa khô (nghĩa là qua Tết Nguyên đán, khoảng tháng 2, tháng 3 âm lịch), người ta gạn ao hồ. Ăn không hết. Làm khô ăn chơi, ăn dần. Nói ăn chơi thứ thiệt là vì mấy ông già miền Tây Nam Bộ khề khà uống trà thứ thiệt (kiểu trà tàu Tân Cương - móc câu Thái Nguyên, ô long Lâm Đồng) với khô bổi nướng thứ thiệt luôn. Thú ăn chơi thứ thiệt, ăn cho biết mùi với người ta này, xin để dịp khác, dành thời gian tôi sẽ viết riêng. 

   Đây tôi đang nói đàn ông đi chợ, bếp núc với món kho quẹt chế biến từ con khô sặc, tôm khô, hành phi, da, mỡ heo là món ăn dân dã của nhà nghèo (nghèo tới mức đeo vàng 24, 18K đỏ tay trong đồng trong ruộng xứ công tử Bạc Liêu hay tuốt luốt dưới miệt Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp thì tôi không chắc). Cụ Hồ Biểu Chánh, Nhà văn Lê Xuyên, cây khảo cổ nổi tiếng Vương Hồng Sển hay nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,... Ở xứ Nam kỳ lục tỉnh cũng không thấy viết về món ăn dân dã này (rất có thể là tôi chưa nghe qua hoặc chưa đọc tới, chưa đụng tới). Lại nữa, món kho quẹt kể như món chân quê, món ăn trong nhà, ăn dưới bếp, không tiếp khách trên nhà lớn. Chỉ thân thiện lắm, mới được mời dùng thử (?!). 

   Hãy hình dung 6 tháng mùa khô, ngày xưa nơi vùng sâu vùng xa, trong đồng trong ruộng mấy khi đi chợ (chợ với người miền tây là thành phố, thị xã, thị trấn). Không phải muốn là đi. Kinh tế tự cấp tự túc vẫn chủ đạo. Các điền chủ, thầy bang biện, nhà khá giả, giàu có; sẵn heo gà, cá mú, tôm cua từng bầy từng đàn, tôi tớ, người ăn kẻ ở trong điền trong thổ làm việc quanh năm suốt tháng, suốt đời. Đương nhiên, người chủ tài ba tổ chức đời sống gọi là phù hợp với hoàn cảnh, có thể nói là rất khoa học, chuẩn mực, chi tiết theo mùa, lại tiện dụng, lâu bền. Kể ra món kho quẹt là một ví dụ. Còn như nghèo khổ quá thì trái chuối chát, nắm lá xoài, ít muối cục với con khô mặn cũng là. Tôi muốn nói tới cái sự phù hợp. Không nói chuyện hoàng tử cưới Lọ Lem, thuyền rồng thuyền chài hay vua chúa tắm sông tìm thấy hạnh phúc như tá điền vừa cày xong thửa ruộng. Đơn giản, phù hợp như nồi tròn đậy vung tròn, nồi méo khéo đậy vừa vặn vung méo vậy. 

  Bạn, người Hanoi hỏi con cá sặc là con cá mực? cũng vì chưa vô sạp bán đồ khô, cá khô trong nhà lồng chợ miền Tây Nam Bộ hay chợ lớn trên Saigon hay hoặc là đi ngang qua mà không để ý! Tuy nhiên thời nay, chợ Đồng Xuân, Bắc Qua (Hanoi) thượng vàng hạ cám, không gì là không thể. Không thiếu thứ gì. Giống như ở Saigon, khu Tân Định sau 1954, người bắc giàu có di cư quần tụ. Bước vô chợ Tân Định thấy đầy đủ hương vị quê cha đất mẹ cùng lời ăn tiếng nói, câu cười chính gốc Tonkin (Bắc Kỳ) hơn cả dân Hà thành cố cựu (36 phố phường). 

   Lại nói, 2 con khô bổi mà chừng 150 gr mỗi conlà khô loại một, tương đối lớn. Cỡ đó mới có thịt, nhiều thịt, ngọt thịt, gắp được, tách thịt lìa khỏi xương được. Thứ cá đó được nắng, đủ gió đụng đũa vô, rẽ thịt ra đỏ au, trắng bạc, có dầu, thơm đặc trưng mùi mắm mà không hôi, không tanh không thâm đen. 

   Tôm khô cũng vậy. Phải là tôm sông, chắc con, rắn thịt, màu đỏ nâu hay tía tím. Sợi chỉ còn dính trên lưng cũng tế nhị, khéo léo, kỳ vọng vô cùng. Phải là tôm tươi vớt lên sàn, búng lách tách, nhảy đành đạch, rào rào, vui tai vui mắt là cho vô nước sôi, hòa muối vừa miệng luộc liền; vớt ráo, phơi nắng, đập, sàng sảy vỏ, đóng bao, vô chum vại sành, sứ da lươn nữa. 

   Phải là da heo. Bởi da heo tạo chất keo dính. Dính khi chấm đậu bắp, rau luộc mà không trơn tuột. Không thể hay không nên thay mỡ heo bằng dầu ăn dù là dầu cải, dầu cọ hay dầu ô liu. Vì thiển nghĩ như thế chẳng khác nào nấu xôi không có nếp thay bằng gạo thường; không có đậu xanh thay bằng đậu nành, sống nhăn, vô duyên, không ra giống gì.

2

   Nhân tâm tuỳ bạng mỡ. Kho quẹt cũng tùy cảnh tuỳ người. Cũng như văn chương chữ nghĩa, có kẻ ưa bồi bút, bồi báo, bồi thơ, bồi giấy, bồi bàn, tiếng bồi, tiếng Tây, tiếng U. Nghĩa là bồi đủ thứ chỉ thiếu liêm sỉ. Tuy nhiên, tôi viết về món kho quẹt không phải để khen nịnh hay trao giải ăn tiền cao nhất của hội nhà thơ cho "tác phẩm" kiểu mẹ chửi mất gà của ai đó, cho ai đó. Lại còn thần thánh, khoe chức tước, ngôi vị; vào hùa với nhau, bảo vệ nhau, bảo rằng thơ hay nhiều ý tưởng, giàu cảm xúc, tứ đẹp,... Đành rằng, người cùng hội cùng thuyền thì vuốt ve, che đậy; dù là bãi phân ngựa cũng phải làm cho nó bóng lên. Nhưng phân ngựa phải mưa thì thật là,...! 

   Tuy nhiên, tôi tôn trọng cái tôi. Cũng giống như sầu riêng ngon là nhờ hơi nhặng đắng, múi ướt ướt mà không mấy dính tay, hạt lép cơm vàng chứ không trắng; ngọt mát, ngọt thanh mà béo chứ không ngọt sắc như đường. Người mê, để vô miệng từ từ cho thấm đầu lưỡi, thịt sầu riêng tan dần, thấm dần, thơm ngon béo bùi tới tận mang tai. Ăn 2 ký lô chưa đã thèm (?!). Ngược lại, người không quen mùi, nhăn mũi, lắc đầu lè lưỡi, chạy làng,... Bởi cái mùi thum thủm, sền sệt mắm tôm. Ai mà chịu cho thấu. Nhưng sau trước sầu riêng vẫn là sầu riêng. Trái thơm. Quả quý. Đấy là câu chuyện tinh tế, thú vị. Thế giới loài người khác muôn loài vật khác ở tư duy, khác biệt rất lớn, rất đời. Không thể nhầm lẫn! 

   Xin nói trước. Kho quẹt phải đậm đà, mặn mà mới ngon, mới ra kho quẹt. Phải là nước mắm nhĩ Phú Quốc hay Phan Thiết,... Nói theo hiện đại phải là nước mắm thứ thiệt trên 40 độ đạm.

   Nhất định phải có ớt sắt lát. Ớt hiểm (ớt chỉ thiên) chín tới (hườm hườm) mới tê lưỡi, nhớ đời. Ớt sừng bò cũng được nhưng không bằng. Đương nhiên, không bao giờ dùng ớt tàu hay ớt Dalat, loại ớt thay rau; ớt không cay như người Hoa ở khắp đâu đó hay chợ Lớn (Saigon) dùng để xào mực, xào tôm, xào mực nhồi thịt. 

3

   Món ngon ngoài chất liệu làm nên thương hiệu còn có tình người. Đôi khi chẳng cao lương mỹ vị, sơn hào hải vị mà đầy đủ, tươm tất như món kho quẹt của người miền Tây Nam Bộ, Miền Nam trọng nghĩa khinh tài./. 

... 

Chiêm Lưu Huy (TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM)

Sài Gòn19.4.2020 -  11.10.2021

Thursday, October 14, 2021

Hai thế giới

Hai thế giới: Thế giới thứ nhất gồm những kẻ phá hoại và thế giới thứ 2 là thế giới gồm những người tôn trọng cuộc sống của tự nhiên.

Từ lâu con người vốn sống gắn liền với Mẹ Thiên Nhiên. Người tử tế và văn minh là người ko hưởng thụ một cách tùy tiện/ích kỷ mà có suy xét trong mọi việc và hành động của mình, làm sao để giữ gìn tốt nhất môi trường xung quanh, vì hiểu rằng: Tàn phá/triệt hạ cội nguồn tự nhiên là đẩy chính mình vào hiểm họa huỷ diệt do xúc phạm Thiên Nhiên.

Cứ nhìn những khoảng xanh và mặt nước được bảo tồn và phát triển như thế nào ở Singapore, Bắc Âu... và nhìn đất nước trơ trụi và lũ lụt hiện nay để thấy cái nước mình nó là gì.

Wednesday, October 13, 2021

N G U Y Ễ N K H Ả I

 1

Yaroslavsky Vokzal là một ga lớn ở Moskva. Nó nối liền miền đông nước Nga mênh mông với Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam cùng hệ thống, thêm Vương quốc Lào có phớt qua tí nước sơn xã hội chủ nghĩa. 

Đứng ê càng trên ke mới thấy con tàu Bắc Kinh-Moskva lừng lững hiện ra, đèn pha sáng quắc, còi hú điếc tai, chậm một giờ.

Tôi nhận ra ngay dáng lộc ngộc của Nguyễn Khải trong đoàn người lỉnh kỉnh hành lý từ trên tàu bước xuống. Tôi chạy lại, ôm lấy anh. Tháng trước, ở Hà Nội, chúng tôi đã ngoắc tay hẹn gặp nhau ở Moskva. Ngoắc thì ngoắc chứ tôi không mấy tin lời thì thào với giọng quan trọng của Khải, rằng chuyến này chắc chắn anh sẽ được đi.

Tôi không tin là phải. Không tin là thường. Tin là hiếm, rất hiếm.

Lão trượng Nguyễn Tuân cũng từng ghé vào tai tôi mà thì thào về một chuyến xuất ngoại không thành của ông. 

Vào những năm xa xưa chuyện đi ra nước ngoài cực khó. Ấy là nói về cán bộ thôi, chứ dân thường chả ai phát rồ để đầu đơn xin xuất ngoại. Đi đã chẳng được, mà hậu quả thì không biết sẽ thế nào - xấu là cái chắc, khác nhau ở chỗ xấu nhiều hay xấu ít mà thôi. Được trên cho đi rồi cuối cùng đi trót lọt là nhờ cái số. Ai không ngu cũng hiểu: đất nước mình là cái cũi, dân lúc nhúc bên trong, “trên” thả đứa nào ra biết đứa ấy. 

Vì thế, người biết tin mình được mời đi dự một hội nghị quốc tế chẳng hạn thường chỉ để bụng thôi, không dám hé răng. Nói ra miệng rồi mà phải ở lại thì ê cái mặt. Không hiếm trường hợp đã xách va li ra cửa rồi, chân đã bước lên xe rồi, thế mà đùng một cái, đúng lúc ấy, lại có lệnh: Hoãn! 

Hoãn là hoãn, có thể tạm, mà cũng có thể là không bao giờ. Chưa kể những lời bình luận về của thứ lý do về sự hoãn ấy. 

Một lần, mấy độc giả người Việt ở Paris mê tác giả của Chùa Đàn, Vang Bóng Một Thời đã mua vé mời Nguyễn Tuân qua chơi. Được lời như cởi tấm lòng, nhà văn vui lắm lắm. Là đảng viên, ông không đầu đơn, nhưng phải báo cáo lên “trên”, xin cho ông đi. Ở tầm cỡ Nguyễn Tuân mà xin thì “trên” đây trên cùng, không còn cái “trên” nào cao hơn. 

Ông hào hứng thì thào với tôi: Các anh ở “trên” bảo ừ, được đấy, hay đấy, ông cũng nên đi Paris một chuyến cho vui. 

Thế mà đúng hai ngày trước khi lên đường, chủ tịch Hội nhà văn Nguyễn Đình Thi đến tận nhà, ghé vào tai ông: “Các Anh Ấy bảo thôi, ông ạ, đi bây giờ không có lợi”. Các Anh Ấy ấy là ai, không có lợi là thế nào, Nguyễn Tuân không cần Nguyễn Đình Thi phải giải thích. Cái chức mà Nguyễn Đình Thi có được nghe thì to, nhưng chả có kí lô nào trong chuyện này. “Các Anh Ấy” đã phán thế rồi, là xong, là chấm hết. 

Nguyễn Tuân đành vuốt bụng thoái thác: “Tôi hồi này không được khoẻ. Thôi, để khi khác vậy”. Cái khi khác ấy rồi không bao giờ có. Rốt cuộc, văn gia họ Nguyễn đành mang xuống tuyền đài ước muốn được thấy Paris một lần. Chẳng bao giờ ông được thấy Paris. 

Bức điện xin kiếu được đánh đi miễn phí.

Tôi lo Khải không được đi vì lý lịch – anh là con quan. 

Người nào ở miền Bắc Việt Nam thời ấy đều biết lý lịch là cái gì, nó quan trọng đến thế nào. Khải không giấu anh là con quan, lại là quan tuần phủ thì phải, tuy anh chẳng phải con chính thất. Khốn nỗi, anh được ông quan nuôi trong nhà, cho ăn cho học, không phải con quan là con gì. 

Nhưng Khải đã đi được. Nhưng là chỉ đi tới nước anh cả trong “phe ta” mà thôi.

Không hiểu sao khi nhớ tới những kỷ niệm với Nguyễn Khải thì cuộc gặp gỡ này lại hiện ra đầu tiên. Cái đó hẳn có cái lý của nó. Thôi thì đã viết về Nguyễn Khải thì cứ viết, nhớ gì viết nấy, chẳng so đo lựa chọn chuyện này chuyện kia làm gì.  

Kỷ niệm là kỷ niệm, có thiếu có đủ, có sai có đúng. Nhớ gì ghi nấy, vậy thôi.

Khải không nằm trong danh sách đoàn đại biểu Việt Nam đi dự Festival thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ sáu tổ chức tại Moskva. Khải không phải đoàn viên thanh niên, không phải sinh viên, danh chính ngôn thuận anh không có chân trong đoàn. Nguyễn Khải đi được là do tờ Văn nghệ Quân đội cử đi. Nhiệm vụ của anh là viết phóng sự. 

Về khách sạn, Khải bảo tôi ngủ lại đấy, sáng mai dẫn Khải đi chơi thành phố. 

- Hỏi chúng nó một tiếng đã – tôi ngần ngại - Mình ở lại không tiện.

- Kệ mẹ chúng nó, mình có phải đoàn viên đâu – Khải nói – Cứ ở lại. 

Dẫn đoàn là hai tay tai to mặt lớn của tổ chức thanh niên. Trưởng đoàn là Vũ Quang, tôi không nhớ chắc. Phó là Ngô Vĩnh Viễn, một trí thức cao lớn, quan dạng, tiếng Tây làu làu, được đảng tín nhiệm, một ngoại lệ hiếm hoi. 

Thấy tôi ở lại đêm, mặt Viễn sa sầm, nhưng không nói. Chẳng gì Viễn cũng biết tôi từ Đại hội Thanh niên Cứu quốc năm 1950.

Đêm ấy tôi ngủ không ngon – hai thằng đàn ông nằm trên cái giường cho một người vừa chật vừa khó chịu – Khải ôm tôi suốt đêm, tay lại hay mó máy. Người Nga thấy sẽ tưởng là hai thằng đồng tính.

Sáng sớm hôm sau tôi dẫn Khải ra quảng trường Đỏ, được thiên hạ quen gọi là Hồng Trường. Khải tiếc hùi hụi - không có cái máy ảnh nào để chụp vài pô kỷ niệm. 

Bù vào đấy, khi được tôi giải thích rằng trong tiếng Nga, cổ cũng như kim, chữ “hồng” (đỏ) chỉ trần xì nghĩa là đẹp, là mỹ miều, chứ chẳng dính dáng tới cách mạng cách miếc gì hết thì Khải khoái lắm: “Thế mà màu đỏ được coi là màu của riêng cách mạng đấy, ông ạ – Khải nói - Không màu nào được tranh chỗ của nó. Một thứ priorité (ưu tiên) độc quyền. Thối kinh! ” 

Buổi sáng mát rượi. Chúng tôi lang thang trong dòng người tấp nập trên phố phường thủ đô nước anh cả phe xã hội chủ nghĩa. No nê con mắt rồi, Khải chợt nhớ ra, hối tôi dẫn tới Kuznetsky Most (phố Cầu Thợ Rèn). Đây là nơi duy nhất có nhiều cửa hàng bán sách cũ bằng tiếng nước ngoài. 

Nguyên Ngọc đã tới Moskva vài lần, có kinh nghiệm, khuyên Khải đến đấy ngay lập tức khi tới Moskva kẻo sau không có thời giờ. 

Hôm ấy, Khải tiêu sạch số tiền được phát cho đoàn viên, còn lấy thêm ít rúp của tôi nữa mới đủ mua số sách tìm được. Về đến khách sạn Khải lập tức tót lên giường, giở hết cuốn này đến cuốn khác, đọc nhảy cóc. Cái cách đọc này rất chi là Khải. Chỉ sau khi bị cuốn hút vào một cuốn nào đấy anh mới đọc nó thật kỹ.

2

Trước ngày khai mạc Festival, Khải kéo tôi ra chỗ vắng, im lặng một lúc, tần ngần một lúc lâu, rồi bảo:

- Mình tính thế này, cậu ạ: mỗi đại biểu được phát một huy hiệu, một thẻ. Cậu đeo huy hiệu, mình cầm thẻ, cậu tìm cách nhập vào các đoàn mà xem Festival, mình nằm nhà đọc sách. Có thẻ, mình không đói, nhà ăn thì ở ngay khách sạn.

Tôi ngớ ra:

- Sao lại thế? Cậu được phân công viết về Festival cơ mà. Cậu không xem thì sao viết?

- Mình không viết thì cậu viết – Khải tỉnh bơ - Miễn có bài.

Tôi không hiểu tại sao Khải xử sự như thế, cả lúc ấy, cả bây giờ. 

Hẳn đã xảy ra chuyện Ngô Vĩnh Viễn cự nự chuyện tôi ngủ lại, chuyện Khải đi chơi không báo cáo. Tức khí, Khải không thèm đi nữa, quyết định nằm nhà. Cái tính lì, sau mới biết, là một tính cách đặc biệt ở Khải. Không bằng lòng cái gì, Khải câng câng cái mặt, không nói không rằng.

Sáng kiến của Khải thế mà hay – với huy hiệu trên ngực, tôi chặn xe bus chở đoàn Nhật trên đường vào sân vận động Lenin. Lái xe Nga tưởng tôi là người Nhật, các bạn Nhật tưởng tôi là người một đoàn châu Á nào đi lạc, lôi tuột tôi vào xe, hô rầm rĩ “Druzba! Mir!” (“Hữu nghị! Hoà bình!”). 

Một cái may bất ngờ khác - các bạn ở Xưởng phim Tài liệu trung ương Moskva mừng rỡ túm được tôi – một cameraman bất thần bị đau ruột thừa phải cấp tốc chở đi bệnh viện. Với máy quay Konvas trên vai, tôi đi lung tung trong sân vận động. Người trong đoàn Việt Nam trợn mắt – sao tôi lại có mặt? Số là khi chọn đại biểu sinh viên Việt Nam ở Moskva đi dự đại hội thì tôi đang ở trong nước quay phim “Ánh Sáng Tháng Mười”. 

Festival to, có tới 131 quốc gia với 34.000 đại biểu tham dự. Khách nhan nhản, khoác quần áo dân tộc đủ kiểu đủ màu sặc sỡ, đi đâu cũng gặp. Thành phố đêm cũng như ngày, đèn đuốc sáng trưng, loa to loa nhỏ oang oang, ồn ào kèn trống ồn ào, góc phố nào cũng có tiết mục nghệ thuật của các đoàn giới thiệu văn hoá nước mình, cái nào cũng đáng xem, cái nào cũng độc đáo. 

Moskva trong những ngày ấy biến thành Babylon không có mâu thuẫn ngôn ngữ. 

Tôi chạy như đèn cù, thế mà cũng chỉ xem được một phần những gì tôi muốn xem. Mấy lần về  khách sạn tôi thấy Nguyễn Khải vẫn nằm yên, sách ngổn ngang dưới chân giường.

Hay là thế, vui là thế, mà Khải bỏ, không xem. Anh chàng này thật kỳ cục. Chèo kéo mãi Khải mới chịu rời những cuốn sách để đi coi một buổi diễn của nhà hát múa rối Obraztsov. Nhà hát này không chỉ nổi tiếng ở Moskva. Nó nổi tiếng khắp thế giới. 

- Hay! Nhưng bớt hay đi một tí thì tuyệt – Khải nhận xét – Những con rối quá khéo, quá tài tình, đến nỗi khán giả quên bẵng vở diễn, muốn vỗ đùi cái đét mà khen: “Thằng nào con nào điều khiển những con rối ở hậu trường sao mà giỏi thế, sao mà tài thế! Lần sau đến đây mình phải xem vài buổi nữa mới đã. Rối đấy, giả đấy, nhưng còn hơn nhiều diễn viên người thật biết đọc thuộc lòng đài từ không cần người nhắc vở. Bớt khéo đi một tí thì hay hơn.

 Hóa ra Khải là một khán giả khó tính. Nghệ thuật là cái vừa phải. Thiếu không được. Quá thì hỏng. 

Festival rồi cũng bế mạc. Trước ngày đoàn về, tôi phải thức đêm để hoàn thành cấp tốc bài ký về festival thay cho Khải. Khải thản nhiên đút nó vào túi dết, bước lên tàu, vẫy tay chào tôi. 

3

Trưa hè. 

Tôi đang nằm khàn ở nhà đọc Erich Maria Remarque thì nghe tiếng bước chân chạy nhanh trên thang gác. Nguyễn Khải đẩy cửa, xộc vào, mặt đỏ gay:

- Ê, dậy, dậy, thằng lừa đảo!

Tôi trợn mắt nhìn Nguyễn Khải. 

Ngồi phịch xuống bên tôi, Khải cười toác:

- Ngạc nhiên hả? Cậu là thằng lừa đảo có hạng.

- Lừa ai? Lừa cái gì? 

- Mình đọc Đêm Mất Ngủ của cậu. Cậu viết: “Những viên cuội tròn lẩn tránh chân anh và khi anh đi qua chúng lại chen chúc nhau nằm vào chỗ cũ”. Là cậu tả cái thằng mất ngủ của cậu lang thang ở trước viện bảo tàng lịch sử ấy… Đúng không nào?

- Ừ, thì sao?

- Còn thì sao nữa. Cậu bịp. 

- Nói tiếp đi.

- Mình nhớ: trước viện bảo tàng không có sỏi. Mới nghĩ: hay là mình nhầm? Phóng ngay ra xem lại thì đúng phóc, ở đấy sỏi đâu mà sỏi, phẳng lì. Rõ to đầu còn mắc lỡm.

Hiểu ra, tôi bật cười:

- Đáng kiếp!

- Lão Hoàng Xuân Nhị phang cậu: “Vũ Thư Hiên phất cao ngọn cờ ấn tượng chống lại đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa” là đúng lắm. 

Tôi không tưởng tượng Khải chịu khó đọc kỹ đến thế.

- Mình không có ý định. Câu văn tự nó nhảy vào – tôi nói – Ấn tượng chủ nghĩa là một cái mũ chụp lên đầu kẻ viết phi chính thống. Chẳng có cái thòng lọng của bất cứ chủ nghĩa nào tròng được vào cổ mình đâu. 

- Thế mới phải! – Khải tán đồng.  

Chúng tôi ồn ào kéo nhau đi “Lâm Toét”. 

Đó là một quán cà phê nổi tiếng. Chủ quán tên Lâm, mắt có hơi kèm nhèm, nhưng không toét. Toét là biệt hiệu phóng đại, cho vui. Lâm Toét đặc biệt quý khách thuộc giới hoạ. Họ có thể đến quán ông uống cà phê, ăn sáng ghi sổ, bao giờ có tiền trả cũng được. Không có tiền thì mang tranh đến gán, Lâm Toét vui vẻ nhận, không so kè bẻ măng. Nhờ thế, ông có một bộ sưu tập tranh phong phú không kém gì Đức Minh, nhà sưu tập danh tiếng từ thời Pháp. 

Tôi cũng khách quen của Lâm Toét. Tôi đến đấy ăn sáng, uống cà phê thường xuyên, nhưng là đi “che tàn”, người trả tiền là các hoạ sĩ. Túi tiền của tôi không rủng rỉnh, tôi không có gì để gán cho Lâm Toét. 

Với Lâm Toét tranh có giá, văn thì không. Người bao tôi nhiều nhất là hoạ sĩ Nguyễn Sáng. Anh thường đến tận nhà kéo tôi theo, réo ầm ầm dưới đường: “Đi Lâm đi!”. Từ tầng hai, tôi hét xuống “Đợi tí!”. Con người độc thân lôi thôi lếch thếch, sơ mi ngoài quần, ống thấp ống cao, ghếch xe bên hè, kiên nhẫn đợi. 

“Đi Lâm đi!” là cách gọi tựa ngày xưa thiên hạ hè nhau “Đi Trô đi”, tức là đi hút thuốc phiện ở tiệm ông Trô. Nguyễn Tuân đã ghi lại cách bè bạn gọi nhau ấy, không nhớ ở tuỳ bút nào.

Uống cà phê xong, tôi và Khải bất ngờ được Lâm Toét mời lên gác. 

Vinh dự này chỉ có khi Lâm Toét đặc biệt cao hứng. Mà Lâm Toét chỉ đặc biệt cao hứng khi mới có những bức tranh ông ông thấy là tuyệt đẹp, nhất thiết phải khoe. 

Phòng trên của Lâm Toét hẹp, trần thấp, thiếu ánh sáng, nhưng đầy tranh – chúng được treo la liệt trên tường, thiếu chỗ thì cho tựa lưng vào tường. Lâm Toét có con mắt tinh đời trong thẩm tranh. Ông phân biệt rõ ràng tranh sáng tạo với tranh đường mòn. Lâm Toét không khi nào  đánh giá tranh theo diện tích như XUNHASABA (tên tắt của công ty Xuất Nhập Khẩu Sách Báo) – tranh càng to thì giá càng cao.

Chúng tôi được uống cà phê tự tay Lâm Toét pha, được hút Gold Flake, thứ thuốc lá ngoại hiếm hoi không rõ xuất xứ từ đâu, phải biết luồng mới mua được. Đồn rằng nó được tuồn ra từ lãnh sự quán Indonesia.

Lâm Toét lẳng lặng dõi theo cái nhìn của khách. Thấy khách dừng lại lâu ở một bức tranh nào đó, gật gù, nghiêng ngó, là Lâm Toét sướng. 

Ra về, đang đạp chậm bên tôi, Khải đột ngột lái vào vỉa hè, buộc tôi phải dừng theo.

- Làm tí chè chén đã.

Ngồi ở quán nước vỉa hè đầu đường Tràng Tiền rẽ sang Phan Chu Trinh, Khải vừa thổi chén trà nóng hổi, vừa lơ đãng nhìn người qua lại, trầm ngâm:

- Này, cậu nghĩ thế nào? Người ta sai, hay người ta ngu, khi bắt chúng ta nhất nhất phải tuân thủ nguyên tắc sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa?

Tôi im lặng. Như mọi người, tôi ngại, tôi tránh chuyện chính trị và mọi thứ dính dáng tới nó. Hiện thực xã hội chủ nghĩa, với tư cách đường lối, phương pháp sáng tác, là thứ thời thượng, được trương lên như ngọn cờ dẫn đường cho văn nghệ sĩ. Gắn hai chữ chủ nghĩa vào đấy, nó không phải chính trị còn là cái gì. 

Tôi còn ngại Khải nữa. Dù sao thì Khải cũng là người của đảng, còn tôi đã không ở trong đảng thì chớ, lại còn là kẻ bị đảng lườm. Chả thế mà khi ghi danh ra đảo Cồn Cỏ thời chiến tranh, người ta cho Khải đi, nhưng tôi bị gạt. Hẳn họ sợ nếu bất thình lình Cồn Cỏ bị chiếm thì tôi sẽ chạy theo Mỹ.

Khải tiếp tục triết lý: 

- Hiện thực là hiện thực, phải không nào? Không có hiện thực xã hội chủ nghĩa thì Balzac vẫn sáng tác, vẫn sống nhăn cho tới tận bây giờ. Không thể hiểu được người ta dính cái chủ nghĩa vớ vẩn vào đấy làm gì. Mà ông Gorky viết được Trái Tim Danko với Bà Lão Izerghin hay không tả cũng tán thành nó mới kỳ chứ.

Tôi thận trọng:

- Mình may mắn, chẳng được chủ nghĩa nào ngó đến – tôi nói – Viết, theo mình, chẳng qua là vẽ vào giấy điều mình muốn nói, sao cho nó có hình hài, để mình thấy được nó và người khác cũng thấy được nó, chung quy chỉ là sự chia sẻ tâm tư không nói ra không được. Không biết cậu thế nào, chứ với mình nó đơn giản là thế, không hơn. Mình cóc cần chủ nghĩa nào. 

Lại chủ nghĩa rồi, dù là chủ nghĩa văn chương, tôi né. Người sở hữu chủ nghĩa này nhìn người theo chủ nghĩa kia như kẻ thù. Họ lăn xả vào nhau, choảng nhau chí chết, chỉ để chứng tỏ lẽ phải thuộc về mình. Có mà điên mới dính vào những của nợ ấy.

Không phải tôi không tin Khải. Nhưng tôi phải giữ mình. Như mọi người, ai cũng thế, vào cái thời đầy hiểm hoạ. 

- Xem tranh Bùi Xuân Phái mình hiểu ra: cái quan trọng số một của nghệ thuật là nghệ sĩ phải nhìn sự vật bằng con mắt của mình, thể hiện nó theo cách của mình. Hoạ sĩ không thể nhìn bằng con mắt vay mượn của người khác - Khải không dừng được cơn bùng nổ triết lý – Nói thật: trong lĩnh vực hội hoạ hiểu biết của mình là zero. Mình không biết và cũng chẳng hiểu cái đẹp của các thứ trường phái lập thể, nguyên sơ, dada, dã thú, vị lai là cái cóc khô gì. Cái mình biết là sức mạnh của nghệ thuật không ở cái gì khác ngoài sự phải gây được ấn tượng, để lại ấn tượng trong người đọc, người xem. Bùi Xuân Phái đem cái ấn tượng cá nhân lên khung vải, bằng màu sắc, bằng đường nét, gây ra một ấn tượng mạnh mẽ có sức lan tỏa không cưỡng nổi. Mái nhà Hà Nội đâu có xiêu vẹo, nhấp nhô đến thế, đâu có màu nâu đậm đến thế, phố xá đâu có đìu hiu đến thế. Nghệ sĩ trước hết phải có tình yêu với cái mình miêu tả. Tình yêu phố xá, bến sông, cánh đồng, bầu trời… cũng là tình yêu chứ, sao không? Gọi Bùi Xuân Phái thuộc trường phái nào cho đúng? Ấn tượng đi, được chứ? Mà thôi, cũng giống cậu, mình chả chơi cái thói ghép nghệ sĩ vào chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ. Nghệ thuật là nghệ thuật. Làm chó gì có thứ nghệ thuật phản ánh sự vật “trong chiều hướng phát triển của nó” như cái hiện thực xã hội chủ nghĩa ấm ớ kia đòi hỏi. Văn cũng thế. Theo cái chủ nghĩa được quảng cáo là tuyệt vời ấy mà viết ắt nhà văn phải kiêm nghề thầy bói để đoán sự vật sẽ là như thế nào trong tương lai. Mà phải là tương lai trong cái chiều hướng phát triển tích cực kia, khốn nạn là thế. Dễ bói nhầm lắm.

Nguyễn Khải cố ý nói bậy với hai chữ bói nhầm.

Về sau, cũng là phải về sau kia, nhớ lại những mẩu tâm sự vụn giữa hai chúng tôi, Nguyễn Khải cho tôi thấy một Nguyễn Khải khác với Nguyễn Khải trên văn đàn, nơi Nguyễn Khải được nhìn nhận như một nhà văn “lãng mạn cách mạng” với niềm tin sắt đá vào một tương lai sán lạn của chủ nghĩa xã hội. Và những câu nói ngược với niềm tin Khải nói ra, xét cho cùng, chỉ là sự bộc bạch những suy tư không thể không nảy ra trong một cái đầu thông minh.

4

Một lần khác, sau khi đọc truyện ngắn Ghi Chép Bên Phà của tôi, Khải bảo:

- Cậu có cái tài - ấy là trong bất cứ hiện tượng nào, sự vật nào, cậu cũng nhìn thấy, cũng tìm ra mặt tốt trong đó. Tớ thì ngược lại – tớ nhìn thấy cái xấu trước đã. Rồi tớ có viết về cái xấu ấy hay không là chuyện khác.

Khi nào có bầu tâm sự, hoặc buồn phiền, thì Khải đột nhiên tìm tôi, cố ý tìm, chứ không phải ngẫu nhiên đến. Và không cậu tớ nữa, mà ông ông tôi tôi, cứ như thể muốn gây sự.

Ghi Chép Bên Phà chưa từng xuất hiện trong nguyên bản tiếng Việt. Nó được in thẳng bằng tiếng Pháp trong một tập truyện ngắn của nhà xuất bản ngoại văn. Nó rồi mất tăm mất tích.  Việc Khải đọc nó đối với tôi là chuyện bất ngờ. Trong số bạn bè cùng thế hệ, tôi biết hai người rất chịu khó đọc và đọc nhiều nhất bất cứ cái gì để trở thành uyên bác là Nguyên Ngọc và Nguyễn Khải. Bên cạnh hai trái núi ấy, tôi là con chuột.

Ghi Chép Bên Phà là chuyện một anh trưởng bến trong thời gian chiến tranh ác liệt đã vượt mọi quy tắc, dám cho một chuyến xe không thuộc bất cứ dạng ưu tiên nào được đi trước cả một đoàn xe ưu tiên đang xếp hàng dài chờ sang sông. Nó là chuyến xe chở búp bê và sách vở cho học sinh vào vùng đang có chiến sự.  

Gần Nguyễn Khải, tôi hiểu ra nét đặc thù trong cách nhìn của anh. 

Con mắt mỗi người do trời sinh. Hoặc do hoàn cảnh xã hội tác động vào quá trình trưởng thành. Chuyện này khó lý giải. Tôi từng gặp những người có xu hướng thấy phần xấu ở người khác trước khi biết đến phần tốt. Theo tôi, họ là những người không may. Với cái nhìn ấy, họ để mất rất nhiều cái đáng lẽ họ có được, tình bạn chẳng hạn. Tôi không khẳng định Khải là một người như thế, nhưng hao hao thế có lẽ đúng. 

Khải ít có bạn thân. Tình bạn giữa hai chúng tôi là thế nào tôi cũng không dám nói chắc – thân không thân mà sơ cũng không sơ, hoặc lúc thân lúc sơ, khó xác định. Giữa đám đông anh có bộ mặt khác - đàng sau nụ cười vô nghĩa với bất cứ ai và với mọi người, là một cái gì đó không thể biết, dưới cử chỉ vồ vập kia rất có thể là tâm trạng lạnh lùng. 

Khải hay tìm tôi để tâm sự là có thật. Trong những lần gặp ấy, tôi biết một Khải không màu mè, không vờ vĩnh. Những cuộc gặp như thế không bao giờ có thể biết trước, Khải đến như một cơn gió, ào tới rồi ào đi. Anh đến với tôi có lẽ vì tôi là người chịu chuyện, với tôi anh có thể trút bầu tâm sự. Anh nghĩ tôi hiểu anh hơn người khác chăng, tôi không dám chắc. Nhưng điều Khải biết chắc là tôi không có thói đưa chuyện. Nói với tôi, anh không cần thận trọng. Vào thời ấy mọi người đều sợ kẻ đưa chuyện, kể cả kẻ đưa chuyện vô tâm. Mọi lời nói qua nói lại vô tình bay đến những cái tai chăm chú dễ mang đến tai vạ. Khải không ngoại lệ. Anh cũng biết sợ. 

Cái đặc điểm nhìn thấy cái xấu trước cái tốt, người tinh đọc anh vẫn thấy. Trong những tác phẩm của mình, thỉnh thoảng anh lại điểm vào chân dung nhân vật chính diện vài nét không ra gì. Khải viết theo thời, là điều ai cũng biết. Nhưng anh không đừng được để thỉnh thoảng lại lộ ra cái mà anh thấy. Chính anh về sau cũng thú nhận: “Cái buồn cười là sự trái nghịch trong cùng một người, kẻ vô luân nói chuyện đạo đức, tên ăn cắp dạy dỗ phải bảo vệ của công, người hống hách lại là tên nịnh bợ bậc nhất”.

Viết về vùng Thiên Chúa Giáo, Chu Văn có “Bão biển”, Nguyễn Khải có “Xung đột”, “Mùa lạc”. Bão Biển của Chu Văn bị người ta bỏ quên, Nguyễn Khải được giới phê bình khen lấy khen để. Biết tôi trong thời thơ ấu sống trong một làng công giáo toàn tòng, anh muốn nghe tôi nhận xét. 

- Ông tả hay – tôi nói - Nhưng đúng thì không. Chẳng có người đi đạo nào cứ mở miệng là kêu Chúa như ông viết. Ông không thể không biết trong Mười Điều Răn thì điều thứ hai là: “Chớ kêu tên Đức Chúa Lời vô cớ”.

- Ông tưởng tôi không biết à? Tôi phải tả thế mới được - Khải nheo mắt trong nụ cười tinh quái - Để sau này người ta phán cho một câu: “Chẳng biết đếch gì về đạo Chúa cũng viết”. Để cho người ta nhìn ra cái sự viết theo thời của tôi nó là thế nào. 

Hiểu được cái láu cá của anh chàng này thực không dễ.

Một lần khác, tôi thấy cái nhìn xấu trước, tốt sau của Khải.

- Ông có thấy Thanh Tịnh trả tiền lần nào khi đi với chúng mình chưa? – dắt xe ra khỏi nhà hàng Phú Gia ở Bờ Hồ sau một chầu bia có mặt Thanh Tịnh, Khải nhận xét – Chưa, phải không nào? 

Tôi ngỡ ngàng:

- Ờ…, quả có thế. Mình không để ý.

Khải cười hì hì:

- Ông là thằng lơ lửng trên mây. Ông chẳng để ý đến cái đếch gì hết. Ông khoái viết cái ông nghĩ ra, ông bịa ra, ông không chịu chú mục quan sát cái chỉ riêng ông thấy. Mà ông thấy ít lắm, nói ông đừng giận.

- Ông tinh, tôi công nhận. 

- Tay này chúa ăn chạc, uống chạc. 

- Ai cơ.

- Tôi đang nói về Thanh Tịnh mà.

Nhận xét của Khải sao mà lặt vặt, sao mà ác. 

- Làm gì đến nỗi thế - tôi nói – Ông ấy cũng vô tâm thôi. 

Chúng tôi thường có những bữa tụ hội tình cờ, tan cuộc thì một người nào đó sẽ trả tiền cho cả bọn. Người nào đó ấy là người vừa lĩnh nhuận bút một cuốn sách, hoặc một bài báo. Túi chúng tôi thường rỗng, mọi người đều rách như nhau trong một xã hội cào bằng, nhưng chúng tôi sống hào sảng, không keo kiệt. 

- Tại anh em mình tranh trả trước đấy chứ - tôi nói – Đàn em trả cho đàn anh, có sao.

Nguyễn Khải nhìn vào mặt tôi mà cười tiếp. 

Nụ cười chê bai, nụ cười khinh khi, ra cái điều tôi ngây thơ, tôi ngớ ngẩn. Nụ cười ấy là cái tôi không thích ở Khải. 

5 

Tôi có một ông bạn văn già, tiên phong đạo cốt, khinh và ghét Nguyễn Khải lắm:

- Anh em mình chẳng thằng nào bén gót nó. Này nhé: khi còn sống nó được đảng tin cậy, chiều như chiều vong, viết cuốn nào in cuốn ấy. Chẳng bù lũ chúng mình. Nó còn hèn nữa. Anh em bị đánh, nó không hó hé nửa lời.

Vơ tôi vào với ông trong hai chữ “chúng mình” là ông chiếu cố. Ông có sách in, tuy không nhiều. Về tiếng tăm. ông thua rất xa Nguyễn Khải. Các nhà phê bình gạt sách của ông sang một bên. Tôi nói ông chiếu cố chơi với tôi là ý này: tôi hoạ hoằn lắm mới được đăng một truyện ngắn trên báo, còn ông là người có sách, sách có gáy. Văn của ông không công không phạt, như vị cam thảo trong thuốc bắc, ông viết chuyện người tốt việc tốt, bút pháp trơn tru, câu chữ mượt mà, phải tội hơi dây cà ra dây muống. Để in ông, các biên tập viên không mất công săm soi. Đã là nhà xuất bản thì phải có sách ra, sách của ông tiện lợi, sách của ông không có vấn đề, không đụng đến ai, không đụng đến cái không được phép đụng. Người như ông nhiều. Người khác ông ít. Người khác ông hoặc bị đánh cho bầm giập, bị dìm xuống bùn, hoặc tìm cách giấu mình trong quên lãng, giả câm giả điếc. Trong việc xuất bản người ta sợ nhất thứ văn nhiều ẩn dụ, mọi câu chữ đều có thể suy ra sự nói cạnh nói khóe, được các nhà điểm sách bảo hoàng hơn vua sẵn sàng khoác cho cái tội “biểu tượng hai mặt” có kèm tiếng tây “symbole équivoque” trong ngoặc kép. Săm soi kỹ là thế, từng câu, từng chữ, thế mà thỉnh thoảng nhà xuất bản này nhà xuất bản khác vẫn bị đánh, sách bị thu hồi vì mất lập trường. Lập trường là thứ dễ đánh mất, luôn bị đánh mất ở mọi nơi. Với nhà xuất bản thì cái sự đánh mất nó là đại họa. 

Tôi cũng nghĩ như ông - đảng không tin Nguyễn Khải, không yêu Nguyễn Khải thi còn tin ai, còn yêu ai? 

Hoá ra sự đời không đơn giản. Nó rắc rối. 

Tôi vào tù. Trong tù người ta hỏi tôi đủ thứ: ai, ở đâu, làm sao, thế nào? Trong một buổi hỏi cung, câu chuyện lan man tới lĩnh vực văn chương, viên chấp pháp già có dáng một thày ký còm thời thuộc Pháp đột nhiên đặt câu hỏi:

- Anh chơi với Nguyễn Khải, anh thấy anh ta là người thế nào?

Tôi ngạc nhiên. Tôi không chờ câu hỏi này. Tôi nhún vai:

- Còn thế nào nữa? Anh ta là người của đảng, hoàn toàn. Người như Nguyễn Khải mà đảng còn nghi ngờ sao?

Viên chấp pháp ngả người, cười khẩy:

- Cho đến nay thì chưa. Nhưng cảnh giác thì vẫn có, bao giờ cũng có – văn nghệ sĩ các anh, nói thật, là lũ sáng đầu tối đánh, không thể tin được. Anh thấy Nguyễn Khải có gì đáng để anh báo cáo với cơ quan an ninh chúng tôi không? Quan điểm khác với đảng lộ ra trong những lời tâm sự chẳng hạn…

Tôi lắc.

- Cứ nói, nếu thấy có. Đừng ngại. Đừng vì nể nang mà tránh. Thành khẩn là điều chúng tôi muốn nghe ở các anh. Nó cũng là điều quyết định anh ở đây lâu hay mau.

Tôi nhún vai:

- Về Nguyễn Khải tôi chẳng có gì để nói.

Người nhà nước nhìn chòng chọc vào mặt tôi, lại cười khẩy:

- Anh không nói cũng chẳng sao. Anh không nói người khác sẽ nói. Chúng tôi có trăm tai nghìn mắt, chúng tôi biết hết. Chẳng có gì lọt qua mắt cơ quan an ninh chúng tôi. Nói chứ?

Tôi không hiểu y còn muốn gì nữa ở tôi: 

- Tôi không có gì để nói về Nguyễn Khải. Nếu có cái cần phải nói thì đó là: cơ quan an ninh các người chỉ tin ở chính mình, ngoại giả kẻ nào cũng đáng ngờ.

Dường như thấy mình đi quá xa, y chữa: 

- Tin Nguyễn Khải thì chúng tôi vẫn tin. Tin, nhưng có giới hạn. Nói để anh biết, loại như Nguyễn Khải không thể ở trong cơ quan chúng tôi lấy một ngày. Tin là tin thế đấy. Anh ta sẽ bị loại ra đầu nước.

Nhìn vẻ mặt ngơ ngác của tôi, y nói thêm:

- Ngay cả Nguyễn Đình Thi cũng vậy.

Nguyễn Đình Thi đang là chủ tịch Hội nhà văn. Trước khi bị bắt tôi còn tản bộ với anh ở đường Bà Triệu. Chúng tôi nói chuyện nhiều, chuyện văn, chuyện đời, không chính trị. Chẳng lẽ do tôi bị theo dõi mà cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên ấy đã làm anh mất điểm với đảng của anh, anh cũng bị nghi ngờ?

Thì ra trong chế độ công an trị, công an chỉ tin chính họ mà thôi. 

Mà cũng có thể còn hơn thế nữa, theo tôi nghĩ - họ cũng chẳng tin nhau.

Trở về xà lim, tôi buồn rượi. 

Khi bọn chấp pháp ép tôi phải nói ra những gì chúng muốn khai thác ở tôi về những người mà tôi có quan hệ quen biết, từ phó chủ tịch nước cho tới các quan chức lớn, các văn nghệ sĩ, thì đó là dấu hiệu rất xấu – tôi khó lòng ra khỏi nơi này. Quả nhiên vậy. Đời tù của tôi kéo dài chín năm.

6

Năm 1981 hay 1982 không nhớ, tôi đến thăm Nguyễn Khải ở đường Nguyễn Tất Thành. Nhà không to, không bé, nhưng là nhà riêng, không chung chạ với ai. Vào thời gian ấy nhiều cán bộ được phân nhà. Nhà được phân thường là của người vượt biên để lại. Cơ quan nào phân cho anh tôi không biết, không hỏi. Có thể là quân đội, mà cũng có thể là cơ quan đảng, là ủy ban, là sở nhà đất, hoặc do người được phân nhượng lại. Cái sự có nhà riêng linh tinh lắm, rối rắm lắm - đôi khi chỉ là nhờ những mối quan hệ ruột thịt hay bạn bè, hoặc bằng cách nào khác, chẳng thể nào biết, chẳng thể nào tưởng tượng ra. Căn phòng anh tiếp tôi tuềnh toàng, sàn gạch hoa nhớp nhúa, đồ đạc cũ mèm.

Chúng tôi đang vui chuyện thì nghe tiếng trẻ con léo nhéo ngoài cửa. Khải đứng lên:

- Ông ngồi chơi. Mình bán mấy viên đá cho tụi trẻ - anh nói, với một chút bẽn lẽn – Nhanh thôi.

Tôi đợi. Khải chạy đi lấy cái rá và xô nước, mở cái tủ lạnh to đùng, lấy ra những cái cốc nhôm, nhúng vào xô nước, thảy những cục đá vào rá, rồi mở cửa chạy ra ngoài. 

Lát sau, anh trở lại,một tay thọc tiền lẻ vừa thu được vào túi quần:

- Vẫn phải làm lặt vặt một chút để cải thiện, ông ạ - anh cười bẽn lẽn - Chúng mình đang nói chuyện gì ấy nhỉ?

Tôi ái ngại nhìn Khải. Tôi không ngờ được chứng kiến cảnh vừa rồi. Nó là chuyện bình thường với mọi gia đình cán bộ bình thường. Hồi ấy đá cục là một mặt hàng bán chạy, được nhiều nhà làm. 

Về sau này Khải đã có cuộc sống khá hơn trước nhiều, khi những bài báo, những truyện ngắn ở anh được trả những khoản nhuận bút cao ngất ngưởng, không nhà văn nào sánh được. 

Hôm ấy tôi rất muốn kể cho Khải nghe điều tôi được nghe từ miệng viên chấp pháp. Nó là lời nói thật, tôi tin. Nó cũng là lời khẳng định cái nhìn của đảng đối với văn nghệ sĩ. Là cái nhìn bình thường của chủ nhà với đầy tớ.

Nhưng tôi đã giữ cho nó không buột ra. Tôi e làm Khải đau.

Tôi lầm. Sau khi đọc “Đi tìm cái tôi đã mất” tôi mới hiểu Khải không phải không biết. Nhưng anh đã giữ kín những gì mình thấy, che khuất chúng dưới màu hồng của những dòng tụng ca. 

Chính Nguyễn Khải đã từng viết thế này:

“ …Bỗng nhiên có một nhà chính trị, cũng là dân làm văn làm báo của Đảng từ trước cách mạng, nhưng đã mất ngôi mất quyền, liền đứng ra tổ chức tờ báo cho những nghệ sỹ ham chuộng tự do được tự do bày tỏ nỗi niềm. Mình thì nói tự do về nghệ thuật, họ thì nói tự do về chính trị, họ muốn giành quyền, muốn đòi quyền. Nhưng họ không thể làm được những chuyện đó. Thân phận họ tầm thường, tài nghệ thì vớ vẩn , tập hợp thế nào được dư luận và công chúng, nhất là công chúng của chúng ta, mượn cả tiếng kêu thống thiết và cảm động đòi tự do để sáng tạo của chúng ta nữa. Nhà chính trị ấy là ông Nguyễn Hữu Đang, ông đó mới thật là linh hồn, kẻ xúi giục và tổ chức ra mọi sự của cái thời ấy. Mưu mô bị vỡ lở, kẻ chủ mưu phải ngồi tù, anh em mình không đi tù nhưng bị treo bút những mấy chục năm còn đau khổ cực hơn cả đi tù. Mấy ông chính trị thất thế, lắm tham vọng, lắm mưu mô có đi tù tôi cũng không thương. Đã theo cái nghề ấy ắt phải chịu cái nghiệp ấy. Chỉ thương anh em mình lòng trong dạ thẳng, nông nổi thơ ngây, cứ nghĩ bụng dạ họ cũng như mình, nào ngờ họ lại nghĩ ngợi sâu xa như thế. ”

Cũng trong bức thư đó Nguyễn Khải tiếp lời trần tình của mình:

“Lại thêm một kinh nghiệm nữa của riêng tôi thôi. Năm 74 một nhà chính trị đương quyền có nhờ tôi viết một loạt bài chống cách sống tiêu cực, góp phần xây dựng một cách sống thật cộng sản. Tôi nhận lời ngay, và đã viết một loạt bài trong tâm trạng hào hứng và xúc động. Vì nó cần thiết, vì nó thỏa lòng. Bỗng dưng bài gửi tiếp không được đăng nữa. Những bài được đăng được các cơ quan có trách nhiệm duyệt xét lại, và tôi trở thành tên cầm đầu của một nhóm “Nhân văn giai phẩm” gì đó, nhưng nguy hiểm hơn là đã lấy chính báo Đảng làm diễn đàn để truyền bá tư tưởng chống đối của mình. Người phê phán tôi gay gắt nhất là người đã yêu cầu tôi viết bài. Tôi không nói lại một lời nào, cũng không oán hận một ai cả… Nhưng tôi tự thề với mình là từ nay chỉ viết bằng vài suy nghĩ độc lập của chính tôi, không nghe lời dẫn dụ của bất cứ ai, cho dầu là người mình rất quý mến. 

Mình là người tử tế chẳng lẽ suy nghĩ riêng lại không tử tế hay sao?  Tôi không thích lại một lần nữa Hội nhà văn và lĩnh vực văn nghệ lại trở thành trận địa quyết chiến của mấy ông lắm mưu tranh bá đồ vương. Tôi không nói vu đâu, cái sự chửi bới bôi nhọ vu khống tất cả ai dám nói ngược, đe dọa ra mặt hoặc bắn tin đe dọa bất cứ ai tỏ vẻ lạnh nhạt, hoài nghi cái sự tàn sát tận diệt, gây một không khí căng thẳng hung bạo ấy là sặc mùi chính trị …Một lần nữa , với mấy anh muốn mượn nhà văn để xây mộng công hầu , tôi xin có lời kêu gọi khẩn thiết: “Hãy buông tha chúng tôi, đừng xúi giục anh em tôi đánh nhau lần nữa , đừng quấy rầy chúng tôi, đừng lợi dụng chúng tôi.”

Nguyễn Khải là người có tài. Tài là cái không chịu bị chìm lấp. Nó đòi được biết đến, đòi được phơi mình dưới ánh sáng mặt trời. Với người này là toán học, người kia là hội hoạ, không trừ cả nghề bói toán. Khải có con mắt quan sát sắc sảo, có tài viết ra những gì mắt anh thấy. Anh đã chiều theo cái tài của mình để cho nó được thiên hạ biết đến. Anh viết, bắt đầu bằng những bài báo tường, rồi báo giấy, rồi những cuốn sách. 

Anh sinh ra trong một thời đặc biệt khe khắt với mọi sản phẩm chữ nghĩa. Mọi thứ viết đều phải nhất nhất tuân theo ý kẻ cai trị. Viết khác ý nó thì nó đập cho kỳ chết. Anh muốn phô cái tài của mình thì anh phải làm ra những cái mà nó muốn. Thế là người đọc có một nhà văn Nguyễn Khải như ta biết. Một thằng nịnh, một thằng hèn, một văn nô, như nhiều người nghĩ.

 Khải thèm được viết để chiều cái tài thiên phú. Dần dà cái sự thèm ấy trở thành một bản năng được cấy ghép vào người. Nói cách khác, nó là một thứ ma tuý, không có nó không sống được. Đã bập vào nó khó dứt ra lắm. Khải đã bập vào, đã vật vã, đã không dứt ra được. Mãi cho tới cuối đời. 

Nguyễn Khải đã từng lầm đường. Như rất nhiều người, trước khi tỉnh ngộ.

“Đi tìm cái tôi đã mất” đến với tôi khi Khải không còn. 

Tôi đã ở rất xa, cả quá khứ lẫn địa lý. Với bài viết này Khải bộc bạch những suy nghĩ được giấu kín trong lòng. Không thể tưởng tượng nổi nhà văn được coi là con yêu của đảng lại có thể nói toạc về đảng của mình đến thế này: “Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ…”

Người ta thường nói về “cái quan định luận”. Khi chiếc đinh cuối cùng được đóng xuống tấm ván thiên cho một kiếp người, chúng ta mới có thể, mới có quyền nói lời nhận xét chung cuộc về người đã khuất. 

Nguyễn Khải đã nằm yên dưới ba tấc đất. Mọi điều thiên hạ bình phẩm về mình anh chẳng còn biết, chẳng còn quan tâm. Chúng ta sẽ phải nói về anh, như sản phẩm của một thời thế nào đây, cho đúng? Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này. Nói thế nào mới phải, mới công bằng đây? Cho anh, và cho cả một thế hệ cầm bút. 

Chẳng lẽ Nguyễn Khải không để lại được chút gì cho lớp người sau? Chẳng lẽ chúng ta không rút ra được bài học nào từ Nguyễn Khải? Chí ít thì cũng ở văn chương, bút pháp. 

Nói về một con người sao mà khó thế!   

“Bất cứ nhà nước nào lấy học thuyết xã hội hoặc tôn giáo thay cho hiến pháp thì trước sau sẽ chuyển đổi thành nhà nước chuyên chế”. Và “Những gì mà chủ nghĩa cộng sản hứa sẽ thành hiện thực trong tương lai thì cái hiện thực ấy sẽ giết chết cả loài người”. 

Khái quát được đến thế, không một nhà văn Việt Nam nào làm được. 

Không sự ly khai nào có thể rốt ráo hơn.

Paris, 2015

Tuesday, October 12, 2021

Thơ thời đại dịch

 Biết bao người đã vĩnh biệt ra đi

trong mùa dịch..

Mà không một lời trối trăn.. 

Chẳng được nhìn mặt người thân.

Chẳng ai vuốt mắt, chia tay lần cuối..

Và ngày về chỉ còn là tro lạnh tàn canh.!

           CÁT BỤI  TÀN TRO

          ( Kỷ Vật  Trần Gian )

Hôm nao  đi nhận tro tàn..

Hành trang  kỷ vật nhân gian.

Bao năm dấu chân địa đàng.?

Còn chăng vành khăn hoa trắng.!

Cánh chim.. xa đồi  ái ân..

Hoa rơi.. ngỡ ngàng gối chăn.

Võ vàng  di ảnh nến tàn..

Người đi  bẽ bàng xuân xanh.!

Còn đây khói hương Trầm nhang

Mắt cay  lệ nhòa hợp tan.

Giờ đây  giấc mơ úa tàn..

Môi nồng  nỗi nhớ chứa chan.!

Còn chăng  tro lạnh tàn canh.?

Không lời  cuối cùng trối trăn.

Thôi đành xuôi miền  tử sanh..

Chuông ngân ngậm ngùi thế nhân.!

Nguyện cầu.. Cánh Nhung thiên thần

Trăm năm  cố nhân thiên đàng,

Chim bay chốn ấy vĩnh hằng..

Rừng xanh mây trắng bâng khuâng.!

Người về  Cố quận mù tăm..

Long lanh  nước mắt cuối đàng

Tro tàn  gởi lại quan san..

Mộng vàng sao đành sang ngang.!

Thuận Hào

Tranh : Hs Lê Sa Long

Monday, October 11, 2021

Về nhà

 

CHUYỆN TƯỞNG CHỈ CÓ TRONG TIỂU THUYẾT 

Tiền không, xe máy không, xe đạp cũng không, nhóm người Đan Lai quyết định đi bộ. Họ biết rõ hành trình 1.400km không hề dễ dàng, có thể mất một tuần, một tháng hay nhiều hơn thế nữa, nhưng rồi họ vẫn quyết lên đường.
Hành trang mang theo của mỗi người là những gói mì, những chai nước lọc, xoong nồi và vài bộ quần áo. Xuất phát từ sáng sớm, song đến chiều tối họ vẫn chưa thể ra khỏi địa phận Bình Dương.
"Tụi tui tính đi bộ nửa tháng là về đến nhà. Một gói mì tôm 3 nghìn, mỗi ngày ăn 2 gói, 15 ngày 30 gói là hết 90 nghìn. Thêm tiền nước và phát sinh nữa, tụi tui tính tất cả hết khoảng 300 nghìn mỗi người. Về nhà, ăn thì có lúa tự gieo, rau tự trồng, không phải trả tiền nhà trọ. Không giàu nhưng không mắc nợ", chị Lý nói.

VTC

Sunday, October 10, 2021

Hoạ sĩ của thủ đô

Cố họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920 - 1988) một danh họa của Việt Nam ngang tầm thế giới, đặc biệt nổi tiếng với các tác phẩm về phố cổ Hà Nội (phố Phái).Ông được giải thưởng Hồ Chí Minh  về văn học nghệ thuật năm 1996. Tên ông được đặt cho giải thưởng Bùi Xuân Phái - vì tình yêu Hà Nội. 

Ảnh do phó đại sứ Anh John Ramsden chụp năm 1980

Nước Đức: Đông và Tây (7)

 Bức tường Berlin (7) – Bức tường trong đầu

(tiếp theo)
Giữa các vùng miền nước Đức cũng có những khác biệt về văn hóa, lich sử. Trước khi đế chế Đức ra đời năm 1871, đây từng là nhiều vương quốc, công quốc khác nhau. Người Hanseat giỏi kinh doanh ở Bắc Đức từng coi người vùng Rheinland (nơi tôi đang sống) là bọn thợ mỏ lam lũ và người Bavaria (Bayern) là đám nông dân cục mịch. Nay sự phân biệt đó bị xóa nhòa.
Hiện tại các danh từ lóng “Ossi” hay “Wessi” vẫn được dùng để ám chỉ người Đông hay Tây (như người Việt vẫn kêu “Thằng Nam kỳ” hay “ Con mẹ Bắc kỳ”). Lúc đầu tôi nghĩ sự phân biệt này sẽ sớm mất đi. Nhưng 31 năm rồi, nó vẫn còn đó, mặc dù phần lớn người dân Đông Đức hiện nay sinh ra sau năm 1989, hoặc chỉ biết đến CHXH vào tuổi thiếu nhi.
Đông và Tây Đức có những cách biệt từ ngôn từ [1], tôn giáo [2] đến lịch sử, vì Đông Đức chính là trung tâm của nước Phổ, như tôi đã nêu trong bài 1 của loạt bài này, so với phần còn lại của nước Đức. Thêm vào đó sự tụt hậu về kinh tế, xã hội khiến cho phân biệt Đông Tây không dễ xóa nhòa như phân biệt giữa người Hanseat với dân Rheinland cùng ở miền Tây.
Có người cho là nếu Đông Đức chọn liệu pháp „mềm“ như Tiệp, Ba-Lan... sẽ bớt đi nhiều sụp đổ, vì tư bản phương Tây dễ nhảy vào sử dụng nhân công rẻ ở đó. Nạn thất nghiệp và các bi kịch trong những năm 1990 đã không xảy ra.
Việc gì cũng có cái giá của nó.
Sau hơn 30 năm, dân tộc Đức đã chứng tỏ bản lĩnh của mình. Đông Đức ngày hôm nay đã không trở thành sân sau để gia công hàng hóa cho công nghiệp Phương Tây, mà là bộ phận cấu thành của một nền kinh tế hàng đầu thế giới. Thành phố dệt Chemnitz đã chứng kiến sự đổi thay này. Ngành dêt truyền thống đã teo đi, chỉ còn các nhà máy sản xuất thiết bị dệt may cao cấp. Thay vào đó chính phủ đưa nhiều cơ quan liên bang (Bundesanstalt) cùng 3 viện nghiên cứu khoa học Fraunhofer về đây. Kéo theo đó là hàng loạt Startup về IT và AI ra đời. Trường đại học kỹ thuật Chemnitz được nâng cấp để nhận 11.000 sinh viên, trong một thành phố 245.000 dân (Thị xã Quảng Ngãi có 265.000 dân).
Chemnitz bỏ qua giai đoạn phục hồi công nghiệp, tiến thẳng vào hậu công nghiệp là một trong nhiều ví dụ của Đông Đức.
Cùng với việc dời thủ đô từ Bonn sang Berlin để kéo trọng tâm về miền Đông, nhiều cơ quan liên bang và các viện nghiên cứu được chuyển về đây. Đầu tư mới 100% vào hạ tầng đã tạo cho miền Đông hệ thống đường cao tốc tốt hơn, mạng điện năng lượng xanh dày đặc hơn và trang bị ở các trường đại học, bệnh viện hiện đại hơn. Từ năm 1998, nhà nước đã thành lập cơ quan „Đặc ủy xây dựng miền Đông“ mà chủ nhiệm luôn là Đông Đức [3]. Từ 2005 nước Đức được lãnh đạo bởi một phụ nữ từ miền Đông.....
Bất chấp tất cả những cố gắng trên, khoảng cách Đông-Tây vẫn tồn tại. Thu nhập ở miền Đông vẫn dậm chân ở mức 85 % miền Tây. Nguyên nhân nằm ở cấu trúc dân cư (demography).
Thế hệ trẻ Đông Đức hầu như không dính dáng đến quá khứ „CHDC Đức“. Họ hoàn toàn hòa nhập và có mức sống ngang, thậm chí cao hơn bạn bè miền Tây. Nhưng quanh họ là rất nhiều người già thuộc thế hệ cũ. Những người này hưởng lương hưu hoặc trợ cấp xã hội, chỉ đủ sống. Người sống bằng trợ cấp tất phải ăn tiêu tằn tiện. Vì vậy, dù lương của giáo sư, hay bác sỹ miền đông cao bằng miền tây, nhưng cấu trúc dân số này đã tạo ra sức mua thấp ở đó (Biểu đồ 1). Sức mua quyết định phát triển kinh tế. Đó là một quy luật khắc nghiệt, không chính sách nào thay đổi được.
Tỷ lệ người già ở miền Đông khá cao vì trong nhiều năm liền, giới trẻ bỏ sang phía tây làm ăn. Nạn „Chết làng“ (Dorfsterben) cũng là một vấn đề trầm trọng ở Đông Đức. Do thanh niên kéo bỏ đi nên rất nhiều làng chỉ còn người già. Trường học, nhà trẻ đóng cửa. Sức mua giảm khiến vài làng chung nhau một siêu thị. Các cô bảo mẫu, giáo viên, bán hàng lại vào thành thị kiếm sống. Vòng luẩn quẩn này chưa dừng lại. Trong khi ở miền tây, người giàu đổ về sống ở nông thôn để hưởng môi trường trong lành thì ở miền đông, không khí sạch không ai mua….
Tôi có thể đưa ra nhiều dẫn chứng khác về những tồn đọng ở Đông Đức, từ sự gần gũi của dân chúng với các đảng phái cực đoan, đến sự thờ ơ của họ trong các hoạt động chính trị. Chắc chắn là phân biệt Đông Tây rồi sẽ biến mất như phân biệt giữa người Hanseat ở Bắc với người Bayer ở miền Nam Đức. Có điều cái hố sâu cần nhiều thời gian hơn để lấp.
Nhưng cuộc đời đâu chỉ bị cản trở bởi bức tường vùng miền. Cản trở lớn nhất là bức tường giam hãm con người trong sự hèn hạ nhưng ngạo mạn, là bức tường của sự tự ti nhược tiểu. Người Đức đã thống nhất được đất nước một cách rất văn minh, vì đa số vượt qua chính cái bóng của họ.
Phẩm chất đó không phải của chế độ nào.
30 năm sau ngày thống nhất có đến 75% người Đức coi qua trình thống nhất đất nước là một thành công, chỉ 23% coi đó là thất bại. Ở một xã hội tử tế thì 75% hạnh phúc này cảm thấy có trách nhiệm phải làm sao hiểu và giúp đỡ 23% bất hạnh kia. Không ai coi họ là phản động hay bất mãn.
Người Đông Đức không bao giờ phải trả lời câu hỏi rất đểu trong lý lịch: Trước ngày 03.10.1990 ông, bà hoặc bố mẹ ông bà làm gì?
Tôi đã viết nhiều về đề tài này, lần nào cũng có người phán: Nhờ Mỹ, hoặc nhờ Liên Xô buông tay mà Đức mới được như thế. Người ta quên đi yếu tố nội lực. Vào lúc CNXH sụp đổ ở Liên Xô, có bao nhiêu nước bước vào kỷ nguyên dân chủ? Nhiều nước thuộc Liên Xô cũ dù thay đổi thể chế, nhưng độc tài vẫn tồn tại, như ở Belaruss hay các nước Trung Á. Ở Trung Quốc và Việt Nam CNXH biến tướng theo CNTB hoang dã…
Những khác biệt đó là do nội lực.
Nhiều người coi các thói xấu của đồng bào mình là do cộng sản giáo dục. Nhưng trong các cộng đồng Việt Nam ở Úc ở Mỹ, đa số ra đi từ 1975 cũng không thiếu trò tệ hại. Cách hành xử của họ còn kém những người Đông Đức, Tiệp hay Ba-Lan được giáo dục dưới chế độ XHCN. Chỉ riêng chuyện giữ trật tự và vệ sinh công cộng, về cách tranh luận, người Việt còn phải học dài dài nữa. Người Việt là quán quân thế giới về khôn lỏi, nấp nhìn người khác hy sinh hộ mình....
Hãy thôi tìm các cái cớ để mình khỏi phải thay đổi.
Một dân tộc có bản lĩnh luôn tự giải phóng được mình khỏi các gọng kìm của lịch sử, vì họ luôn biết vượt qua bức tường tự bao vây mình.
Tự nhốt mình trong tự mãn, u tối, chỉ trông chờ vào nước ngoài, chờ vận may thì cơ hội tốt mấy cũng bỏ lỡ. Dân tộc nào thì cũng chỉ được hưởng nền kinh tế, nền văn hóa, hệ chính trị mà nó xứng đáng được hưởng.
Đó là bài học về những bức tường.

Cuộc gặp gỡ giữa các học sinh Việt Nam và các thầy cô giáo Đức năm xưa tại Königs Wusterhausen hôm 1.9.2019. Đối với chúng tôi, họ là những công dân CHDC Đức tử tế

Màu đậm là tỷ lệ người Đức không thỏa mãn với công cuộc thống nhất đất nước. Màu xanh là tỷ lệ người thỏa mãn
----
[1] Vài ví dụ: “Con gà quay” ở Đông Đức gọi là Broiler, Tây Đức gọi là Brathähnchen. “Nhựa” ở Đông Đức gọi là Plaste, ở Tây Đức = Plastik. Món Grilletta của Đông Đức, bên Tây gọi là Hamburger : https://de.wikipedia.org/wiki/Sprachgebrauch_in_der_DDR#W
[2] Tôn giáo chính ở Đông Đức là Tin lành, ở Tây Đức là Thiên chúa
2 comments
Like
Comment
Share