Saturday, September 7, 2019

Vấn đề Biển Đông ko thể khác

TRAO ĐỔI NHANH VỀ CHUYỆN BIỂN ĐÔNG
Vũ Ngọc Hoàng
1. Âm mưu của Trung Quốc về việc cưỡng chiếm Biển Đông của VN đã có từ lâu. Âm mưu đó có nguồn gốc từ bản chất Đại Hán của đế chế Phương Bắc này.
Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, đến nay cảm thấy đủ điều kiện nên họ đang quyết tâm thực hiện một bước nhảy vọt đáng kể để thực hiện âm mưu này.
Việc tàu Trung Quốc vào ra vùng biển chủ quyền của VN vài tháng nay không phải là một cuộc “dạo chơi” mà là một bước leo thang ngoạn mục.
Thế mà phía VN ta cũng có ý kiến cho rằng “nó vào rồi nó ra chứ đã làm được gì đâu”. Nghĩ vậy thật đơn giản và thơ ngây quá! Nó vào rồi nó ra, nó ra rồi nó lại vào. Nó muốn vào thì vào, muốn ra thì ra, vào nhà người ta mà cứ nhà của nó.
Một đất nước có chủ quyền mà sao có thể chịu vậy. Kiểu này thì có ngày nó bảo “hai nhà là một”, nhập chung thôi, rồi lấy tiếng Trung làm tiếng phổ thông vì đại đa số dân chúng đang nói thứ tiếng này. Thế là nó hoàn thành âm mưu thôn tính và đồng hóa, đạt mục đích mà hơn 4000 năm nay họ chưa làm được. Thật nhẹ nhàng, ít tốn công tốn sức.
Biển của VN mà họ bảo của họ, yêu cầu cùng khai thác. Theo luận điệu đó thì VN mất biển. Mà mất Biển Đông là mất nước. Phần còn lại nhỏ hẹp, không gian sinh tồn của dân tộc mất đi hơn một nửa, lục địa bị bao vây tứ bề, phần tài nguyên khoáng sản lớn và quý giá nhất bị cướp hết, không còn cửa để ra đại dương - cái mà rất nhiều quốc gia đều cần đến để thành cường quốc, hàng không cũng mất tự do, con cháu muôn đời sẽ bị o ép và lệ thuộc họ đủ điều, mất lần này là mất hẳn, mãi mãi không bao giờ đòi lại được, niềm tự hào về lịch sử bất khuất của một dân tộc văn hiến cũng sẽ mờ nhạt và bị tan biến, đất nước anh hùng chỉ còn lại một cái xác như một mảnh nhỏ vô hồn, một dân tộc sẽ mãi tụt hậu, tủi nhục và đau đớn.
Vào lúc này công việc lớn lao nhất, quan trọng nhất, hơn bất cứ thứ gì, là bảo vệ Đất nước, trước mắt là Biển Đông. Tổ Quốc trên hết! Có thể đình hoãn nhiều việc khác, kể cả việc quan trọng, để tập trung suy tính kỹ cả chiến lược, sách lược và giải pháp cụ thể (đừng chủ quan nói đã tính kỹ hết rồi). Đây mới chính là “đại cục” chứ còn cái đại cục gì nữa? Đây là nội dung quan trọng nhất và là cốt lõi, chính yếu của Đại hội lần nầy, chứ không thể nội dung nào hơn được. Đây là phương hướng và quan điểm để chọn nhân sự chứ không có bất cứ tiêu chí gì quan trọng hơn vào lúc vận mệnh đất nước như thế này. Theo đó, tiêu chí đầu tiên để chọn cán bộ lãnh đạo các cấp các ngành là thái độ rõ ràng, mạnh mẽ và tư duy mạch lạc trong vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia ở Biển Đông.
Vừa qua, Chính phủ, Bộ Ngoại giao VN và các lực lượng cảnh sát biển, hải quân…đã có nhiều cố gắng, và lần này thái độ ta có mạnh mẽ hơn các lần trước. Chúng tôi xúc động khi được biết tình hình các sĩ quan và chiến sĩ của quân đội ta lúc xung trận húc nhau với các tàu xâm lăng của Trung Quốc ở khu vực bãi Tư Chính đã thể hiện một tinh thần rất dũng cảm xứng đáng là con em của một dân tộc anh hùng.
Tuy nhiên, nhìn chung thái độ tổng thể bộ máy lãnh đạo quản lý đất nước thì thấy sự thể hiện rất chưa đủ, chưa tương xứng với tính chất nghiêm trọng của tình hình.
Và tất nhiên, muốn bảo vệ được Biển Đông thì không chỉ có tinh thần, bản lĩnh, trách nhiệm với Tổ Quốc (mặc dù phải bắt đầu từ các yếu tố ấy), mà quan trọng hơn nữa là phải đổi mới cách tiếp cận vấn đề, đổi mới tư duy, quan điểm, kể cả chủ trương và hành động. Bảo vệ Biển Đông và đổi mới là hai yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay, cần được thực hiện đồng thời.
2. Có ý kiến bảo phải kiện Trung Quốc ngay, công khai chủ trương và thúc đẩy nhanh công việc, ý kiến khác lại không đồng ý vì nhiều lẽ khác nhau. Ý kiến khác nhau trong quá trình thảo luận là việc bình thường. Nhưng cần phải có phương pháp tiếp cận tốt và khả năng quyết đoán sắc sảo, kịp thời, nhất là khi có tình thế nghiêm trọng đối với vận mệnh đất nước (xin nhắc lại để nhớ lần này không phải họ “dạo chơi”, mà là quyết tâm tạo ra một bước nhảy vọt đáng kể để thực hiện âm mưu lớn lâu dài).
Trong đọan ý kiến này, tôi xin có đôi lời góp phần trao đổi để tham khảo về việc kiện Trung Quốc.
Kiện là giải pháp hòa bình. Kiện chẳng những không phải là chiến tranh mà còn là một giải pháp ngăn chặn chiến tranh. Sử dụng luật pháp và dư luận quốc tế khi có mâu thuẫn giữa các bên là biện pháp cần thiết và đúng đắn trong một thế giới văn minh và hội nhập. Đó cũng là tư tưởng pháp quyền tiến bộ. Vì sao ta lại sợ kiện, trong khi chính nghĩa thuộc về ta.
Sợ kiện hay là sợ Trung Quốc?
Đặt câu hỏi như vậy là vì tôi nghe có ý kiến cho rằng, nếu ta kiện thì Trung Quốc sẽ làm căng hơn nữa, trong khi ta phải sống bên cạnh họ lâu dài, nếu để họ thù vặt thì rất khó ở. Đó cũng là một cách suy nghĩ. Mà họ cũng dọa ta như thế. Dọa để ta đừng kiện. Họ không muốn ta quốc tế hóa vấn đề mà chỉ để riêng họ và ta với nhau nhằm dễ bề ức hiếp. Đó là cách đấm người ta mà muốn bịt miệng không cho la. Tôi nghĩ không thể đồng ý với cái lý lẽ cho rằng vì sợ họ ép ta (hơn nữa) nên thà rằng cứ để cho họ ép dần dần như thế mà không cần phải kiện. Họ sẽ chèn ép ta ngày càng nhiều thêm là quy luật tất yếu, vì mục đích của họ là độc chiếm Biển Đông, và vì thấy ta yếu mềm nên có thể chèn ép được.
Các loài cá lớn ăn thịt sở dĩ không nuốt hết những loài cá nhỏ là vì không nuốt được, sợ bị gai nhọn đâm hoặc sợ nọc độc và còn sợ bị phản công của các nhân tố khác từ môi trường chung quanh, chứ hoàn toàn không phải nó thương cảm vì sự mềm yếu của đối phương.
Trung Quốc to làm vậy nhưng đâu có dễ cưỡng chiếm Đài Loan.
Ý kiến khác lại nói rằng, kiện cũng chẳng được gì, nó không chấp nhận, không chấp hành, chẳng có chế tài nào để cưỡng chế. Cách tiếp cận ấy theo tôi là không đúng. Khi lãnh đạo nước ta tuyên bố khởi kiện Trung Quốc thì tập họp cả một dân tộc, cả kiều bào khắp nơi trên thế giới, tập họp thêm nhiều bạn bè quốc tế, bản thân chúng ta cũng nhanh chóng trưởng thành về sự hiểu biết luật pháp quốc tế, đồng thời cũng là lên tiếng để nhân dân Trung Quốc biết thái độ rõ ràng của VN chứ không phải như lâu nay nhà cầm quyền Trung Quốc cứ tuyên truyền một chiều, còn ta thì im lặng hoặc ít nói nên dân Trung Quốc nhiều người đang hiểu sai bản chất của vấn đề. Vậy thì kiện là được chứ, sao lại không được gì. Được dân và được bạn bè quốc tế chẳng phải là cái được lớn sao.
Mặt khác, hãy tin rằng, với nhận thức của thế giới ngày nay, chân lý không không dễ bị chà đạp đâu. Khi chân lý rõ ràng và thuộc về ta chẳng phải là cái được lớn hay sao. Một mình ta nói với họ không xong vì họ coi thường ta, không thèm nghe ta mà lại còn dùng mọi thủ đoạn để áp đặt. Cần phải dựa vào luật pháp và thông lệ quốc tế để đối mặt với họ là một giải pháp không thể khác trong tình thế này. Nếu không kiên quyết như thế hãy coi chừng sẽ mất Biển Đông. Mà mất Biển Đông là mất nước như đã trình bày trong điểm 1.
Còn việc ta phải sống cạnh họ lâu dài là tất nhiên, và cũng chính vì thế mà phải đứng lên nói thẳng, phải biết tôn trọng lẫn nhau để có thể sống cùng theo đúng nghĩa là sống. Đây cũng là mục tiêu độc lập dân tộc mà Hồ Chí Minh đã chiến đấu suốt đời.
3. Quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm để chống nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ Quốc của mình. Cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này.
Vì mục đích bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của đất nước thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập chủ quyền của VN. Không thể tự trói mình bởi những quan điểm bất lợi mỗi khi Tổ Quốc có nguy cơ bị xâm lăng.
Nhân dịp này cần nhìn nhận đánh giá lại các đối tác của chúng ta để mà hiểu cho đúng bạn bè. Tiêu chí quan trọng nhất để chọn bạn lúc này là ai thật sự tôn trọng và ủng hộ sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của VN.
Trong số các đối tác chiến lược của VN thì một “đối tác” đã lộ diện rõ ràng là kẻ có âm mưu cưỡng chiếm Biển Đông của nước ta.
Trong khi đó lại có nước tuy chưa gọi là đối tác chiến lược nhưng chính họ đã lên tiếng sớm nhất và mạnh mẽ nhất để ủng hộ chủ quyền của VN.
Theo tôi, với thực tế đó họ xứng đáng là đối tác chiến lược của chúng ta, kể cả trường hợp trước đây họ có lúc đã không phải với ta. Ít nhất là họ xứng đáng hơn nhiều so với “đối tác chiến lược toàn diện” kia đang xâm lăng đất nước ta. Thực tiễn đã kiểm nghiệm ai tốt ai không tốt. Một dân tộc biết điều không thể quay lưng lại với thực tế trong văn hóa ứng xử với bạn bè.
Nước có chủ quyền phải biết tự chủ trong chọn bạn mà chơi, không phải sợ gì ai bất bình hay quở trách.
Cái Phương Bắc bá quyền ấy có động cơ và âm mưu xấu với ta, họ luôn tìm mọi cách để giữ ta trong vòng kiểm soát của họ, không muốn và không cho ta thoát ra khỏi họ để quan hệ thân thiết với các cường quốc khác. Ta không gây thù hận với ai và luôn thật lòng mong muốn sống hòa hiếu với lân bang, nhưng đồng thời ta cũng phải biết cảnh giác và có bản lĩnh tự cường.
Hãy đừng bao giờ quên mà ngược lại phải luôn nhớ đến bài học cay đắng thuở ông cha ta vì nhẹ dạ mất cảnh giác mà bị Phương Bắc cướp nước để cho cả một dân tộc phải sống nô lệ lầm thang điêu đứng trong cảnh “chim lồng cá chậu” đầu rơi máu chảy suốt một nghìn năm mới thoát ra được.
Các nước Đông-Nam-Á về cơ bản là tốt, không có chuyện gì mâu thuẫn lớn với nhau, nhưng chưa phải đã đoàn kết một lòng cùng nhau thành một khối thống nhất vững mạnh, mà cá biệt đôi khi cũng có chuyện “đồng sàn dị mộng”. Mặt khác thì Phương Bắc lại tác động vào, kể cả bằng tiền và bằng các thủ đọan chính trị, tranh thủ lôi kéo dụ dỗ nước này nước khác, để khu vực này không thành một khối được, không có sức mạnh chung, cho họ dễ bề chi phối. Thực chất là “tách ra từng chiếc đũa” chứ không để “một bó đũa”, không để cho khu vực này chụm lại thành một khối.
Thực tế ở khu vực Trường Sa mặc dù của ta là chính nhưng vẫn đang có nhiều nước quản lý một số đảo, mà việc này đã có từ trước, chỉ riêng Trung Quốc thì đến sau, bắn giết người của VN ta để chiếm đảo, rồi đồn trú ở đó đến nay, lại còn muốn lấy tiếp, lấy hết. VN cần phải có cách ứng xử phù hợp thực tế ở đây trong mối quan hệ với các nước Đông-Nam-Á, thừa nhận và bảo đảm quyền lợi chính đáng của các nước nhỏ, đừng để họ bị xuyên tạc mà suy nghĩ rằng Trung Quốc là đại bá còn VN cũng là tiểu bá mà dẫn đến phân tâm.
4. Còn có ý kiến khác cho rằng, ta với Trung Quốc là anh em đồng chí, cùng XHCN với nhau, cùng một hệ tư tưởng và còn có quan hệ giữa hai đảng cộng sản đang cầm quyền, vì vậy cần kiên trì trao đổi ý kiến, đối thoại với nhau, không nên kiện ra quốc tế, không nên tỏ ra căng thẳng…
Tinh thần hữu nghị với mọi người nói chung là tốt, nhưng nếu nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác, để cho những người có tâm địa và âm mưu xấu lợi dụng làm hại đến chủ quyền quốc gia thì sẽ là sai lầm lớn, thậm chí là có tội lớn với dân tộc mà lịch sử không thể tha thứ. Đồng chí anh em gì mà vô cớ bất ngờ đem 60 vạn quân sang VN để bắn giết dân chúng và đốt phá các làng mạc, nay lại quyết dùng mọi thủ đoạn để độc chiếm Biển Đông.
XHCN gì mà đi xâm lược VN. Nhân dân ta chắc không ai cần cái kiểu XHCN xâm lược ấy. Đừng có nhân danh XHCN để lừa phỉnh nhau. Không có CHXH chân chính nào lại như thế cả (chuyện XHCN và TBCN cũng cần có cách tiếp cận khác căn bản so với cách hiểu, cách nghĩ lâu nay - sẽ nói sau ở bài khác).
Đó chỉ là một đế chế phong kiến trá hình và biến tướng. Một quốc gia bảo vệ độc lập chủ quyền và một quốc gia khác đi xâm lăng sao lại cùng tư tưởng?
Đảng cộng sản VN từ khi ra đời đã lấy mục tiêu dân tộc và dân chủ làm mục tiêu phấn đấu. Đến nay chưa hoàn thành xong mục tiêu ấy thì phải tiếp tục chiến đấu nữa. Xa rời mục tiêu dân tộc và dân chủ như ngày mới ra đời đã nêu lên thì Đảng sẽ không còn là đảng chân chính vì dân. Đảng CSVN quan hệ với các đảng khác không thể và không bao giờ được gây tổn hại cho mục tiêu độc lập chủ quyền của dân tộc. Còn kiên trì trao đổi, đối thoại? Trung Quốc đâu có cần trao đổi đối thoại với ta. Họ không tôn trọng và không coi VN là đối tác bình đẳng. Họ chỉ áp đặt và chèn ép. Còn VN ta đâu có tỏ ra căng thẳng gì. Sự căng thẳng là do họ chủ ý gây ra đấy chứ. Sao lại đổ vấy cho ta.
Còn việc ta buộc phải kiện họ chính là do họ đẩy ta đến đó, không còn con đường nào khác. Lòng tự trọng dân tộc không cho phép ta nhân nhượng thêm nữa, vì ta càng nhân nhượng thì họ càng lấn tới. Đó cũng là tư tưởng chống ngoại xâm của Hồ Chí Minh.
5. Chỗ dựa vững chắc và đáng tin nhất chính là cộng đồng nhân dân Việt Nam.
Lịch sử đã chứng minh qua nhiều nghìn năm nay rằng dân tộc này không bao giờ biết đầu hàng. Thuở xưa có lúc triều đình đã đầu hàng hoặc không đủ sức chiến đấu với quân giặc, nước đã mất và sau đó nhân dân đã tập họp nhau lại, đứng lên chiến đấu với quân thù, giành lại độc lập cho đất nước. Thời chiến tranh vệ quốc trước đây, có nơi, có lúc không còn tổ chức Đảng, không còn đảng viên, thì nhân dân đã tự mình lập ra chi bộ, một chi bộ của dân, để tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến đấu, sau này tổ chức Đảng cấp trên phải công nhận các đảng viên và tổ chức đảng đó.
Nhân dân ta từ thuở xưa đã là vậy. Ngày nay ta càng nhận thức sâu sắc rằng, nước là nước của dân. Dân là chủ nhân của đất nước. Chính người chủ ấy phải lo giữ lấy nước của mình.
Nhà nước là của dân, do dân lập ra, có nhiệm vụ bảo vệ và phục vụ nhân dân, trong đó có công việc bảo vệ tổ quốc. Nhà nước phải làm theo ý dân, phải dựa vững vào dân mà bảo vệ tổ quốc, phải thường xuyên và kịp thời thông báo đầy đủ cho nhân dân biết thực chất tình hình xung quanh vấn đề Biển Đông.
Không có bất kỳ ai, không có bất cứ đối tác nào, dù họ tốt đến bao nhiêu, cũng không thể thay được nhân dân. Nhân dân ta muôn đời nay thật anh hùng. Luôn mang trong mình dòng máu và khí phách của Bà Trưng, Bà Triệu, của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung và Hồ Chí Minh. Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm thì triệu người như một, tha thứ, xóa bỏ hoặc gát lại tất cả các bất đồng, các mâu thuẫn trong nội bộ, để một lòng cùng nhau quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh.
Tất nhiên, với tư cách là những người tham mưu cho nhân dân, nhà nước thỉnh thoảng cũng cần nhắc nhân dân phải bình tĩnh, không để nóng đầu, quá bức xúc. Cuộc chiến đấu thuở xưa đã vậy và ngày nay càng phải vậy, lòng dũng cảm là vô cùng đáng quý, đáng trân trọng, nhưng để bảo đảm chiến thắng nhất định phải cộng với sự bình tĩnh, trí tuệ và mưu lược.
Có nhân dân thì Đảng và Nhà nước sẽ có tất cả. Dân chủ hóa là con đường nhất định phải tiếp tục tiến lên.
Có nhân dân, có bạn bè và luật pháp quốc tế nước ta nhất định bảo vệ được Biển Đông./.
---------------
CÂY NGAY KHÔNG SỢ CHẾT ĐỨNG.
( Nói phải củ cải cũng nghe?)
Chu Hảo
1. Tôi hoàn toàn tán thành những ý kiến rất xác đáng , thẳng thắn và có tính thuyết phục của tác giả Võ Ngọc Hoàng. Đã đến lúc chúng ta cần có rất nhiều những bài viết như thế này được công bố công khai , rộng rãi. Đây cũng có thể là bước đầu tiên như kiến nghị tha thiết của ông Nguyễn Trung: ĐCSVN phải vượt qua chính mình và toàn dân phải có trách nhiệm, để cứu nguy dân tộc. Hãy lên tiếng, đừng sợ, để góp ý cho đảng cầm quyền "vượt qua chính mình" bằng cách nào? Và hướng dẫn quần chúng thể hiện trách nhiệm của mỗi người bằng cách nào?
2. Ba nút thắt liên quan đến vấn đề Biển Đông Nam Á ( Biển ĐNÁ ) hiện nay, như được vạch ra trong bài của ông Võ Ngọc Hoàng là : Kiện TQ ra tòa án Luật pháp quốc tế, Ký Hơp tác chiến lược( thực lòng, thực chất ) với Hoa Kỳ - nước duy nhất "bênh " VN trên Biển ĐNÁ , và Hóa giải "chính sách ba không" hoàn toàn bất lợi trong tình hình mới. Chắc chắn đã có "một bộ phận không nhỏ" trong giới cầm quyền cản trở việc tháo gỡ các nút thắt này, nên lãnh đạo VN mới lúng túng và chần chừ đến như vậy. Có một Trần Ích Tắc dân tộc đã khổ , nếu có một bầy Trần Ích Tắc thì nhân dân ta khó lòng giữ được truyền thống quật cường, không khuất phục của Dân tộc ta đã được hun đúc từ khi dựng Nước. Họa mất Nước đang đe dọa dân ta! Phải vạch mặt bọn Trần Ích Tắc này, đừng sợ!
3. Có nhiều việc cấp bách, nhưng hãy coi việc "có thể mất Nước đến nơi rồi" là việc cấp bách nhất. Nên chăng dồn sức cho việc này trước mà chủ động làm chậm tiến độ các việc khác kẻ cả việc Chuẩn bị ĐH 13 của ĐCSVN, Chống tham nhũng... Nếu Dự án Đường cao tốc Băc Nam lại chủ yếu rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc thì liệu chừng ta không chỉ mất Biển mà còn mất nốt cả Đất. Đường về nô lệ đang hiển hiện, phải cùng nhau góp sức làm cho toàn dân thấy rõ nguy cơ này, đừng sợ!
4. Hoa Kỳ đã tỏ rõ thiện chí đối với VN trong vấn đề Biển Đảo, nhưng tôi tin là Hoa Kỳ chỉ hành động trong khuôn khổ Luật pháp quốc tế để bảo vệ quyền lợi cốt lõi trước hết là của chính họ, đặc biệt là quyền lợi kinh tế, chứ không sẵn sàng làm thay ai trong việc bảo về chủ quyền lãnh hải cũng như lãnh thổ của mình, trừ phi là đồng minh của họ và có yêu cầu chính thức từ phía đối tác đang bị đe dọa. Không biết lực lương yêu nước thức thời trong giới cầm quyền của ta có đủ bản lĩnh và điều kiện khắc chế "khuynh hướng Trần Ích tắc" này chưa? Có cách nào thể hiện được lòng dân đứng bên cạnh họ một cách hết sức kiên quyết nhưng ôn hòa? Chẳng hạn vận đông tham gia thực hiện Lời kêu gọi đối thoại của GS Nguyến Đình Cống gửi ông Trưởng ban BTG TW cuối thàng 8 vừa qua? Hãy ủng hộ những chủ trương đối thoại trên nguyên tắc thấu đàm, không có vùng cấm, và tương kính. Tham gia vào một cuộc đối thoại như vậy, đương nhiên không có gì phải sợ!
Chu Hảo
Viện Phan Châu Trinh-Hội An
Ngày 7 tháng 9 năm 2019
---------
Ba Sàm chú thích thêm:
- Ông Vũ Ngọc Hoàng là cựu Phó trưởng ban thường trực, Ban Tuyên giáo trung ương, cựu Ủy viên trung ương đảng.
Ngay khi đương chức, ông cũng đã có một số bài viết, phát biểu khá tiến bộ.
Gần đây, ông bị một số thông tin không lợi về bản thân và gia đình quanh chuyện nhà đất.
- Ông Chu Hảo, cựu Thứ trưởng Bộ Bộ Khoa học và Công nghệ, giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức.
Trong gần một năm nay, ông bị báo Nhân dân, Đài truyền hình VN - VTV1 ... đưa nhiều bài chỉ trích nặng nề, coi như một phần tử "tự diễn biến", rồi bị kỷ luật, ...
Ông tuyên bố, bằng văn bản, từ bỏ đảng CSVN. Sau đó ít ngày, người ta vội vã khai trừ ông.
Xem thêm:
Nhìn thẳng sự thật để phát triển đất nước https://tuoitre.vn/nhin-thang-su-that-de-phat-trien-dat-nuo…

TRUYỆN VUI CUỐI TUẦN – HÉTVÉGI VICCEK (No. 183)

- Cậu có biết không, vợ tớ ngoại tình, lại còn nói dối nữa chứ!
- Sao cậu biết?
- Sáng nay cô ấy về nhà và nói rằng đêm qua ngủ ở chỗ chị cô ấy.
- Thế làm sao cậu biết là vợ cậu nói dối?
- Là vì đêm qua tớ ngủ ở chỗ chị cô ta.
-----------
- Képzeld, a feleségem megcsal, és még hazudozik is!
- Honnan tudod?
- Ma reggel jött haza, és azt mondta, hogy a nővérénél aludt.
- És, honnan tudod, hogy hazudik?
- Onnan, hogy én aludtam a nővérénél.

Nguyễn Ngô Việt (Debrecen.VIDI73)

Vui cuối tuần

CHUYỆN TÂY PHI
Các phóng viên nươc ngoài ở Tây Phi khi phỏng vấn người dân cái gì làm họ tự hào nhất, đều nhận được câu trả lời như nhau.
Phóng viên:
- Thưa ông, cái gì ông thấy tự hào nhất ở đất nước Tây Phi xinh đẹp này?
Người dân Tây Phi nào cũng mỉm cười rất tươi, họ là dân tộc hay cười nhất thế giới, và nhẹ nhàng khiêm tốn trả lời:
- Cái làm chúng tôi tự hào nhất là đất nước chúng tôi hơn hẳn Ấn độ?
- Hơn như thế nào, thưa ông?
Với một dáng điệu đầy tự tin, người dân Tây phi lại mỉm cười thêm cái nữa, rồi mới trả lời:
- Ở Ấn độ người ta cho bò đi thoải mái ngoài đường, còn chúng tôi cho bò ngồi thoải mái trong công sở. Ở Ấn độ người ta gọi bò là thần, còn chúng tôi gọi bò là cán bộ.

copy từ FB-Hung Ngo Manh

Chuyện bác Tuyền


“KỲ QUÁI"
"Kỳ quái" Bộ trưởng có một không hai của Việt Nam, công cực to đưa đất nước vào WTO nhưng khi được cho nhà thì nằng nặc từ chối: "Tôi có nhà rồi…"
Nhắc đến nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, người dân ai cũng nhớ hình ảnh ông tại những phiên đàm phán gia nhập WTO với tuyên ngôn: "Việt Nam không thể vào WTO với bất cứ giá nào!".
Bộ trưởng Trương Đình Tuyển là "tư lệnh" Việt Nam trong 14 phiên trường kỳ đàm phán kéo dài 11 năm, trực tiếp là 8 năm 2 tháng và 26 ngày ròng rã. Công lao và tâm huyết đó nhất định sẽ được lịch sử ghi nhận.
"Chất quan" Trương Đình Tuyển là chất ham học, ham đọc. Một lần tôi về sân bay Phú Bài đón ông từ Nam ra Huế. Khi xuống máy bay, ông một tay xách cặp, một tay ôm vào ngực một tập dày tài liệu, báo. Hình như trên máy bay ông mải đọc tài liệu, đọc báo, nên khi máy bay dừng, ông quên sắp xếp vào cặp.
Thấy đoàn Huế ra sân bay đón, ông quên mất là mình đang ôm chồng tài liệu, liền giơ tay chào, thế là tài liệu bay tung toé khắp nơi. Ông tranh thủ đọc và đọc chăm chú từng phút một.
Khi ngồi chủ trì cuộc họp, ông ít khi cà vạt, comple, kể cả khi đón thủ tướng hay phó thủ tướng về làm việc với hội nghị của Bộ, hình như ông không thích loại y phục lễ lạt gò bó này.
Ngồi họp, tay ông chống má, mắt lim dim như ngủ. Mặt ông hốc hác, phong trần. Nhưng khi có đại biểu nào đó nói ý gì đó "có vấn đề", ông ngồi bật dậy, mở cuốn sổ trước mặt ghi ghi, rồi lại ngồi lim dim lắng nghe.
Ở một cuộc họp nọ tại Quảng Trị, khi thấy giám đốc một doanh nghiệp đọc bản báo cáo viết sẵn, ông bỗng rời vị trí đến vỗ vai, ngắt lời:
- Anh là giám đốc hay cán bộ công ty?".
Giám đốc mặt tái mét, run như cầy sấy:
- Dạ, báo cáo Bộ trưởng, em là giám đốc ạ!
- Giám đốc sao không nhớ việc công ty mà phải đọc báo cáo viết sẵn. Đưa bản này cho nhà báo Ngô Minh. Tôi hỏi gì anh trả lời nấy, được không? Anh xem, tôi là Bộ trưởng, công việc cả ngành mà họp với các anh tôi có đọc bài viết sẵn bao giờ đâu!
Ảnh: L.G.
Ông Tuyển là người không thích quan cách. Hồi ông làm Bí thư Nghệ An, tôi đến phòng Bí thư của ông, thấy góc phòng có bếp ga, xoong nồi, chén bát. Tôi ngạc nhiên hỏi: "Thế không có ai phục vụ cho anh à?".
Ông cười: "Làm sao phải có thêm một người phục vụ! Mình ăn được thì nấu được chứ". Ông tự đạp xe đạp đi chợ Vinh mua thực phẩm về nấu lấy ăn. Nấu một bữa, ăn cả ngày.
Ngày nghỉ cuối tuần, không họp hành gì, ông nhảy tàu hỏa ra Hà Nội với vợ con. Tôi nghe anh em cán bộ Tỉnh ủy Nghệ An kể, văn phòng tỉnh uỷ trang bị cho ông cái tủ lạnh, nhưng ông không nhận. Ông chỉ đề nghị mua cái bình gas, hết bao nhiêu tiền ông trả.
Trong lúc bí thư, chủ tịch nhiều tỉnh, huyện, giám đốc các sở đi xem bóng đá phải là xe con, dù nhà chỉ cách sân vận động cây số thì Bí thư Tỉnh uỷ Trương Đình Tuyển vẫn đạp xe đạp ra sân vận động mua vé xem bóng đá.
Ông Tuyển là người thẳng thắn và liêm khiết. Khi ông làm Bí thư Nghệ An, lãnh đạo tỉnh bàn nhau định phân phối một mảnh đất và xây nhà cho ông. Ông liền từ chối với lý do: "Tôi đã có nhà ở Hà Nội rồi".
Dịp Đại hội Đảng bộ các huyện, văn phòng Tỉnh uỷ Nghệ An bố trí xe con cho Bí thư, các phó bí thư, các Trưởng ban, còn anh em chuyên viên thì đi chung xe 16 chỗ ngồi. Đó là "tập tục" xưa nay, nên họ không cần hỏi ý kiến Bí thư mới.
Đến giờ xuất phát, thấy xe con, xe ca đỗ san sát trong sân, ông Tuyển ngạc nhiên hỏi: "Xe đi đâu mà nhiều thế này?". Một ông văn phòng thưa: "Thưa anh, xe đi Đại hội huyện…". Ông đỏ mặt phán: "Các xe con về. Còn tất cả lên xe ca. Tiền đâu mà xe cộ rầm rầm thế?".
Lần khác, ông nhận được giấy mời dự Đại hội Đảng bộ huyện nọ. Đúng giờ ông nhờ một anh cán bộ chở xe máy xuống huyện. Toàn cán bộ huyện ủy vì không biết mặt bí thư mới, nên cứ ra cổng để đón đoàn xe của tỉnh ủy về. Chờ mãi, đến khi thấy chiếc xe ca chở cán bộ tỉnh, hỏi ra mới chưng hửng: Bí thư tỉnh uỷ mới đang ngồi đọc tài liệu trong hội trường đại hội từ lâu rồi!
Lên dự Đại hội Đảng bộ một huyện miền núi, sau khi bầu bán xong, kết thúc hội nghị, huyện uỷ chiêu đãi rất thịnh soạn.
Cuối bữa tiệc, Bí thư tỉnh uỷ hỏi Bí thư huyện uỷ mới: "Ông làm sao có nhiều tiền mà chiêu đãi nhiều người thịnh soạn thế này?". Ông bí thư huyện tái mặt: "Dạ thưa anh, bốn năm năm mới có một lần".
Ông Tuyển nghiêm sắc mặt: "Tiền là tiền thuế của dân, miền núi lại nghèo, dân đang đói, ông không xót sao? Còn đi dự đại hội xã thì họp xong là ông về rất nhanh, vì ngại xã phải mời cơm. Rủ anh em cùng đi về dọc đường ăn quán. Khi ăn quán ông thường giành "quyền" trả tiền vì "Lương tôi cao hơn các cậu".
Bà con tiểu thương bán thực phẩm chợ Vinh do xem tivi nên biết mặt ông Tuyển. Khi mua rau, cá, ông hỏi bà con "có bán đắt không đấy?". Bà con trả lời ngay: "Làm bí thư tỉnh uỷ mà tự đi chợ nấu ăn, là bà con biết rồi. Bà con thương lắm, tin lắm, không bán đắt mô!".
Ông Tuyển về làm bí thư Nghệ An chưa trọn nhiệm kỳ, mà có huyện miền núi như Tân Kỳ ông đến thị sát tới 3 lần. Ông đi cơ sở không bao giờ báo trước. Không bao giờ để huyện hay nông trường, nhà máy lo chỗ ngủ, đãi đằng cơm nước, mà tất cả đều do Văn phòng tỉnh uỷ chuẩn bị theo sự chỉ đạo của ông.
Người dân Nghệ An còn kể nhiều giai thoại nữa, như chuyện ông Tuyển cứ sau mỗi cái Tết lại nộp vào ngân quỹ của tỉnh hàng tỷ đồng. Đó là tiền mà các quan chức Nghệ An mang ra Hà Nội "chúc Tết" gia đình Bí thư khi ông không ở nhà. Ông bắt vợ nhận và cho vào một cái hòm, như "hòm công đức"...
Một lần Đoàn công tác bộ Thương mại từ Huế ra Quảng Trị. Sở thương mại tỉnh cho hai chiếc xe đến chở đoàn. Một chiếc xe con 4 chỗ và một chiếc xe 22 chỗ ngồi.
Bộ trưởng Trương Đình Tuyển ra khỏi khách sạn, lên thẳng chiếc xe ca ngồi vào vị trí thứ hai sau lưng lái xe. Lãnh đạo tỉnh thiết tha đề nghị Bộ trưởng xuống đi xe con.
Ông cười bảo: "Các ông vẽ chuyện. Đây ra Đông Hà xe này chở đoàn còn rộng, đi thêm xe con làm gì cho tốn!". Từ Quảng Trị ra Quảng Bình cũng vậy. Lần này thì Bộ trưởng nổi nóng đuổi anh lái xe con: "Em đưa xe về ngay!".
Còn có cả một bộ trưởng Trương Đình Tuyển rất yêu văn chương và quý mến các nhà văn. Ông hay đàm đạo văn chương với các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương…
Khi ông mới lên bộ trưởng, cái tên Phùng Quán vẫn gây "sợ sệt" đối với nhiều người. Thế mà ông dám mời nhà văn Phùng Quán đến cơ quan Bộ Thương mại đọc thơ. Vào Huế, dù họp hành cấp tập, tối đến ông vẫn bảo tôi rủ mấy anh chị nhà thơ Huế đến chỗ ông để gặp gỡ và đọc thơ cho vui.
Trong những cuộc như thế, ông chăm chú nghe thơ anh em và say sưa đọc những bài thơ mới của mình cho đến tận khuya. Thơ ông rất tâm trạng và rất mới. Trong chuyến đi thăm lăng mộ Taj Mahal, Di sản thế giới ở Ấn Độ, ông có bài thơ "Viết ở lâu đài Batmahal":
Bátmahan sừng sững giữa trời
Pho sử đá ghi cảnh đời nghịch lý
Vua khóc vợ xây đền đài kỳ vỹ
Tôi khóc người thợ đá
Đá ơi!
Sang Nga, đi bên sông Nê Va gặp cô gái Hồi choàng khăn che mặt, ông viết: "Mắt mồ côi anh gặp mắt em rồi". Có lần một số Tết báo Thương mại có in một bài thơ ông viết tặng vợ nhưng ký một bút danh khác. Bài thơ ghi công vợ bao năm chăm lo việc họ, việc nhà, "Còn anh năm tháng hành nghề phiêu diêu".
Tôi hỏi: "Sao anh làm Bộ trưởng lại gọi là "hành nghề phiêu diêu?". Ông cười: "Luật pháp, chính sách mình chưa chặt, còn nhiều kẽ hở để bọn xấu lợi dụng, nên làm bộ trưởng bây giờ "chết" lúc nào không biết, không phiêu diêu là gì nữa!".
Ông Tuyển có cả một tập thơ tình. Toàn những bài không có đầu đề. Đó là những bài thơ "khóc" một cuộc tình thời trai trẻ. Ông có câu thơ họa rất đúng chân dung của mình:
Tôi khảo cổ chính tôi và thấy
Một xấp dày ngu ngơ…
Có lần tôi hỏi ông: "Sao anh không xuất bản thơ mình? Ông cười nheo mắt: Mình in thơ bây giờ thiên hạ sẽ bảo Bộ trưởng lấy "tiền chùa" in thơ à! In thơ thì vội gì. Nàng thơ bỏ mình mới sợ...
MỌI NGƯỜI CÓ THỂ CHIA SẺ RỘNG RÃI
—————-
( C ): Ngô Minh

Friday, September 6, 2019

Lọ Lem, chuyện thời @,

chàng vk pháp về VN chơi sau khi hưu. Sáng sáng, anh ta hay ăn vặt các món những gánh trên vỉa hè trước khách sạn
Có một cô bán hàng gánh rất vui vẻ, hay trò chuyện cùng anh ta.
Lần hồi, tình cảm anh ta và cô bán gánh thắm thiết hơn
Anh ta bạo dạn đề nghị cô ta đi pháp sống với anh ta. Cô ta suy nghĩ, bâng khuâng không trả lời
Không trả lời vì một phần muốn đi, để vượt qua cảnh nghèo, con gái có cơ hội học và tương lai không mịt mờ như ở VN.
Mặt khác
cô ta suy nghĩ lời anh ta nói, chân thật : súng ống đã gác, giã biệt vũ khí từ lâu. Nhưng tình cảm vẫn dồi dào
Chàng độc thân, tham dự các cuộc chơi với bạn, tennis, du lịch, ăn, v.v. Nhưng đôi khi cảm thấy cô đơn, trong những đêm ngày Paris. Anh ta cảm thấy chia sẻ đđược vui buồn làm ấm những ngày không có bè hay bạn.
sau vài lần ̣đề nghị, tặc lưỡi, dù sau đi vẫn không tệ hơn hiện tại. Hiện tại cô cũng chả có súng. Tuy xấp xỉ U40, nhưng cô ta cũng còn đủ duyên quyến rũ nhiều đàn ông. Nhưng đàn ông cô gặp lại trăng hoa, hay vất vả vật lộn với cuộc sống
Thế là cô ta theo chàng đi Paris, sau thời gian làm thủ tục
Sau một thời gian ở Paris, không làm gì khác hơn những công việc nhà, cô ta cảm thấy buồn. Dù cô ta không nói gì, nhưng anh ta biết. Anh ta ̣đề nghị sang lại một tiệm cho cô ta vui với công việc, và cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với cộng đồng
Quán cô ta trên Choisy, tấp nập. Vừa do những món ngon. Vừa do cô chủ quán
Tôi thích món hủ tiếu nhất
Nhiều chàng U40, và hơn nữa, thả câu. Nhiều chàng đánh cả lưới. Lượn hoa
Trong số đó, có một chàng quyết liệt nhất
Và bạn của chàng quyết liệt cũng là bạn thân anh ta. Người bạn nầy nói cho anh ta biết
Anh ta làm thinh. Nhưng khi sống với nhau vài năm, đàn bà chỉ nhìn là biết tâm hồn nửa kia.
Cô ta cũng phân vân. Cuộc sống ổn định. Kinh tế giờ tự lập. Tuy không cố ý tìm chiến tranh, nhưng có súng cũng vui
Một ngày, cô ta nói với anh ta
em biết vì sao anh buồn thời gian gần đây. Anh cho em biết trước khi theo anh qua Paris việc anh không đáp ứng được nhu cầu bình thường của người đàn bà như em. Nhưng anh có những đức tính mà đàn ông bình thường không có. Và cũng không kém quan trọng cho nhu cầu của em. Em sẽ bên anh đến cuối cuộc đời của một trong hai đứa mình
Một thời gain sau, có chàng tây, có vẻ du khách đến quán. Rồi chàng ta trở lại hầu như mỗi ngày. Và mỗi ngày càng lân la lâu hơn. Với con gái cô ta hay phụ mẹ phục vụ khách.
Rồi chàng tây đi. Hai tuần sau chàng trở lại. Nói thẳng với anh ta là chàng muốn cưới con gái anh ta. Anh ta nói chàng nên nói với mẹ cô gái và cô gái.
Cô con gái giờ xong ĐH. Cũng muốn đi Anh. Chàng cũng lịch lãm. Cũng có tình cảm. Dù sao, dân Vk cũng ảnh hưởng lối suy nghĩ dân Âu Tây : không thử, chắc chắn không đạt, không được.
Thế là cô gái theo chàng qua Anh gặp cha mẹ chàng
Choáng.
Lâu đài, xe sang, người giúp việc, vườn bao la, ....
Về kể cho mẹ và anh ta nghe mà vẫn còn choáng. Lưỡng lự rất lâu. Cô gái biết dân anh càng giàu, càng bảo thủ. Như chim trong lồng vàng.
Chàng phải cố gắng thuyết phục cô ta cứ tiếp tục cuộc sống bình thường. Chính là nét quyến rũ chàng ta. Diana và Charles có cuộc sống song song lãng mạn bình thường như dân bình thường. Giới phong lưu không còn như xưa.
Đám cưới hoành tráng được tổ chức bên Anh
Đôi khi tôi phân vân kg biết trời có hay không ? và có mắt hay không ?
vì nếu cô ta bỏ anh ta, bỏ tiệm, theo người yêu, con gái cô ta không bao giờ gặp " hoàng tử "
từ cô bé cấp ba, cuộc sống và tương lai bấp bên, mòn dép vì đi bộ hàng ngaỳ, lên xe bí trong quảng thời gian khá ngắn, so với cuộc đời, mà không bị thời gian điểm 12g khuya
.
PS: tôi gặp anh ta nhiều lần, nói chuyện với cô ta. Ai ghé Paris, đến Choisy, hủ tiếu rất ngon.

Nguyễn Quang Qúy

Thursday, September 5, 2019

VẤN ĐỀ CHỈNH ĐỐN VIỆT NGỮ - Ngô Tùng Phong (Lược thuật)

Dịch, thuật ngữ và chỉnh đốn tiếng Việt Ngô Tùng Phong đã nói kỹ. Có lẽ bắt đầu từ đó hơn là từ vỡ lòng.
---------
Tây phương hóa không phải mà mục tiêu cuối cùng mà là để
"rèn luyện hai đức tính chính xác về lý trí và ngăn nắp, minh bạch trong tổ chức". Có "hai lợi khí sắc bén là việc tổ chức đời sống hằng ngày và việc sử dụng một ngôn ngữ được chỉnh đốn".
Việc tổ chức đời sống hằng ngày cho ngăn nắp, trật tự chúng ta có thể hình dung nên thế nào không khó khăn lắm. "Bởi vì ngay trong truyền thống Á Đông của chúng ta, việc tổ chức đời sống hằng ngày cho ngăn nắp là một việc đã có. Ngày nay chỉ cần thích nghi hóa những tập quán đã có sẵn với nhu cầu đặt ra bởi một nhịp sống thúc dục hơn và một xã hội máy móc hơn. Vấn đề chỉnh đốn Việt ngữ phức tạp hơn nhiều."
"Giai đoạn đầu của công cuộc Tây phương hóa là giai đoạn nặng về sự hấp thụ các sáng tạo kỹ thuật của Tây phương. Sau đó mới đến giai đoạn chế ngự kỹ thuật Tây phương. Khi này, một ngôn ngữ có khả năng của một dụng cụ suy luận tinh vi, mới thiết yếu hơn." Tuy nhiên, "điều mà chúng ta đòi hỏi nhiều nhất ở một ngôn ngữ chỉnh đốn là cái ảnh hưởng của nó đối với sự rèn luyện sự chính xác về lý trí. Như vậy thì ngay trong lúc đầu của công cuộc Tây phương hóa, chúng ta phải đặt ngay vấn đề chỉnh đốn Việt ngữ."
"Vì sao phải chỉnh đốn Việt ngữ? Vì Việt ngữ nghèo và không đủ chữ để diễn tả hết các tư tưởng khúc chiết và trừu tượng, như nhiều người đã nghĩ chăng? Vấn đề Việt ngữ nghèo không thành vấn đề, bởi vì nếu chúng ta thiếu chữ để diễn tả một ý mới thì chúng ta đặt chữ mới. Chẳng những Việt ngữ mà bất cứ sinh ngữ nào cũng không sợ nghèo chữ. Trong phạm vi này, có lẽ việc cần đƣợc chú trọng là các quy củ để tạo chữ mới.Tuy nhiên, quy củ để tạo ra chữ mới mà sinh ngữ nào cũng có, thì Việt ngữ chưa hề có. Nhưng đây là phương pháp làm giàu thêm Việt ngữ chớ không phải việc chỉnh đốn Việt ngữ."
"Nguyễn Văn Vĩnh nói rằng: “Việt Nam sau này hay, hay dở là nhờ ở Quốc ngữ” là ông nghĩ đến sự Việt ngữ, nhờ phuơng pháp ghi âm, đã thoát khỏi trở lực mà chúng ta còn thấy cho Hoa ngữ. Nhưng trong lối hành văn, Việt ngữ còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Hoa ngữ, nghĩa là của các sinh ngữ biểu ý. Lối hành văn của các sinh ngữ này đặc biệt ở tính cách “khiêu ý” và không chú trọng đến kiến trúc của câu văn. Lối hành văn “khiêu ý” có nhiều ưu điểm và nhiều khuyết điểm Người đọc câu văn khiêu ý, nhìn thấy ngay những hình ảnh mà tác giả muốn diễn tả, không bị những giây ràng buộc của kiến trúc câu văn làm mất thông ứng giữa tác giả và độc giả. Văn “khiêu ý” chỉ cần nêu lên những hình ảnh, bằng những chữ rời rạc, không cần phải liên lạc với nhau trong một kiến trúc nào. Người đọc câu văn “khiêu ý” tự mình tưởng tượng lấy cách bố trí các hình ảnh. Như vậy thì mỗi người đọc có một lối bố trí khác nhau. Đó là cái khuyết điểm thiếu chính xác của lối văn “khiêu ý”. Làm sao có thể cùng nhau thảo luận được về một vấn đề gì, nếu cùng đọc một câu văn, mà mỗi người hiểu một cách khác nhau. Nếu muốn thảo luận được thì sự bố trí các hình ảnh hay ý thức, nêu ra trong câu văn, không phải chỉ để cho óc tưởng tượng của người đọc, mà phải nằm ngay trong câu văn. Nghĩa là câu văn phải có kiến trúc, nghĩa là những chữ nêu lên những hình ảnh phải đƣợc nối liền với nhau bằng những chữ, tự nó, không có nghĩa và đương nhiên làm nặng câu văn. Nhưng sự chính xác về lý trí phải được trả bằng cái giá đó. Hoặc chúng ta, suốt đời thả hồn theo thơ mộng, hoặc chúng ta phải bắt buộc câu văn có kiến trúc để diễn tả tư tưởng một cách chính xác."
"Làm thế nào để kiến trúc hóa Việt ngữ? Ít lâu nay, có nhiều quyển sách về văn phạm Việt ngữ, trong đó cũng có sự phân tích câu văn Việt ngữ thành mệnh đề, và sự phân tích mỗi mệnh đề thành chủ từ, động từ và bổ sung từ, v.v... Cũng có sự phân biệt các loại từ ngữ. Như thế có phải là đã kiến trúc hóa Việt ngữ chăng? Chắc là không. Những quyển sách trên biểu hiện cho sự tự ti mặc cảm của tinh thần quốc gia. Nhiều người nhận thấy sự thiếu kiến trúc của câu văn Việt. Nhưng sau khi đã nhận thấy khuyết điểm đó, thì thay vì tìm cách kiến trúc hóa câu văn, lại tìm cách chứng minh rằng câu văn đã có kiến trúc."
"Việc kiến trúc hóa Việt ngữ phải được xét từ các căn bản sau đây: 1.- Câu văn có kiến trúc khi nào giữa các loại từ ngữ, có sự phân biệt về hình thức (thể loại), chớ không phải chỉ về vị trí (vị trí của từ ngữ trong câu văn). 2.- Câu văn có kiến trúc khi nào các từ ngữ chính trong câu đƣợc nối liền với nhau, bằng những phụ từ, tự nó không có nghĩa, nhƣng đóng một vai trò rất quan trọng. 3.- Câu văn có kiến trúc khi nào một mệnh đề chính được nối liền với một hay nhiều mệnh đê phụ, bằng những phụ từ được đặt để ra với nhiệm vụ đó. Nhƣ vậy thì muốn kiến trúc hóa câu văn, chúng ta phải: 1.- Quy củ hóa sự phân biệt bằng hình thức các từ ngữ. 2.- Đặt các phụ từ cho những từ ngữ của mệnh đề. 3.- Đặt những phụ từ cho những mệnh đề. Và phổ thông hóa sự áp dụng kiến trúc câu văn."
" Và câu văn, một khi đã được kiến trúc hóa, Việt ngữ đương nhiên sẽ trở thành một dụng cụ suy luận sắc bén và tinh vi. Lúc bấy giờ Việt ngữ vừa là một dụng cụ phổ biến thông dụng và đại chúng, vừa là một dụng cụ suy luận sắc bén và tinh vi, sẽ là một dụng cụ hữu hiệu cho nền văn hóa Việt Nam. Sánh với Hoa ngữ, ưu thế lại càng rõ rệt hơn nữa. Lúc bấy giờ, chẳng những văn hóa Việt Nam hoàn toàn không còn lệ thuộc văn hóa Tàu, mà sự phát triển văn hóa của chúng ta sẽ lên đến một trình độ ước mong, khả dĩ góp một phần đáng kể vào di sản của văn minh nhân loại, nhờ sinh lực dồi dào mà một dụng cụ ngôn ngữ hữu hiệu sẽ tạo ra cho văn hóa chúng ta. Triển vọng về ngôn ngữ, dụng cụ văn hóa đã như vậy, thế hệ của chúng ta không có một lý do nào để không vận dụng tất cả nỗ lực, nắm lấy cơ hội đưa đến cho chúng ta để thực hiện trong lĩnh vực văn hóa, ý chí của tiền nhân: cởi bỏ ách tâm lý thuộc quốc đối với nƣớc Tàu, cho dân tộc. Và thế hệ của chúng ta, không có một lý do nào, để từ bỏ sự phát triển văn hóa dồi dào mà chắc chắn, Việt ngữ chỉnh đốn sẽ dành cho chúng ta, để cam chịu một sự lệ thuộc, đối với một văn hóa, mà Hoa ngữ không bảo đảm sự phát triển. Và các nhà lãnh đạo, vì vô tình hay cố ý, làm cho cộng đồng quốc gia của chúng ta lỡ cơ hội này, chẳng những sẽ phản bội quyền lợi dân tộc mà còn phải mang hết trách nhiệm của một cuộc sống lệ thuộc, không vùng vẫy nổi, mà các thế hệ trong tƣơng lai, vì lầm lỗi của họ, sẽ phải quy phục trong nhiều ngàn năm nữa."


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72) trích dẫn
05.Sep.2016

ĐÂU MỚI LÀ MẤT MÁT THỰC SỰ?

Đọc tin cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông Nguyễn Bắc Son nhận hơn 66 tỷ đồng chỉ qua một dự án, thấy nặng trĩu, như vừa mất mát thứ gì đó, rất lớn lao!
Đồng tiền lên ngôi đã xô đổ quá nhiều giá trị. Đến linh hồn người ta cũng bán.
Một ông hiệu trưởng ngang nhiên đứng trên bục phát biểu “chống xâm hại tình dục trẻ em”, lại bị khởi tố vì quấy rối chính học sinh của mình!
Một ông thầy tu hằng ngày giảng giáo lý đạo Phật ngang nhiên phản bội Phật để kiếm tiền trên những vong linh người chết.
Sao ngang nhiên thế? Đến thánh thần, đến ông Trời mà cũng không biết sợ sao?
Hai ông cựu bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn mới khiếp. Người thì chỉ đạo cả nền báo chí, định hướng truyền thông lại mượn nghị quyết, chỉ thị để che đậy những ý đồ đen tối. Chỉ một dự án mà nhận hối lộ hơn 66 tỷ đồng, một con số khủng khiếp, nếu đem so sánh với lương nhà báo, lương giáo viên, lương công nhân và những đồng tiền còm cõi của dân nghèo chỉ có một cơ hội là bán sức lao động để sinh nhai. Khủng khiếp hơn là viết cả sách để chống diễn biến hòa bình, chống tham nhũng, dạy thiên hạ. Dưới trời lồng lộng, họ đã cho mình suy nghĩ thế nào khi viết ra những thứ nghĩ là có thể che được mắt thiên hạ?
Mất tiền, có thể lại có tiền. Mất cán bộ thì sẽ có cán bộ khác thay thế. Mất niềm tin là mất nhiều, rất nhiều và đôi khi mất tất cả. Đừng tưởng không đo đếm được bằng tiền thì không mất mát, xót xa.
Cái đáng sợ nhất, không ít sự giả dối lại xảy ra ở những người rao giảng đạo lý, những người đứng trên bục phát biểu, chỉ đạo.
Và, cái sợ khủng khiếp nhất, là nếu sự giả dối này không được ngăn chặn, nghiêm trị thì đến một lúc nào đó, ngay cả nói thật, nói rất thật, mang cả lòng dạ ra nói, người ta cũng không tin.
Đó mới là sự mất mát thực sự. Đau đớn, xót xa thật sự! Và đó mới là hậu quả thật sự mà những kẻ tham nhũng gây ra cho đất nước này! 
Ảnh: Hai cựu bộ trưởng Nguyễn Bắc Son (phải) và Trương Minh Tuấn

Câu chuyện từ cà phê

TÔI KHÔNG KHIẾN ÔNG CỨU TÔI
Trần Mạnh Hảo
“Café Trung Nguyên sẽ cứu thế giới”
( Lời ông Đặng Lê Nguyên Vũ – chủ café Trung Nguyên)
Dù nhỏ bé hơn cả hạt bụi, nhưng tôi – kẻ mang tên cha mẹ đặt cho là Trần Mạnh Hảo, cũng đang là một phần của thế giới này. Thưa ông chủ café Trung Nguyên có tên là Nguyên Vũ, ông có thể cứu cả thế giới thì mặc ông; nhưng riêng phần tôi, tôi không khiến ông cứu !
Tôi công nhận, về chuyện buôn bán café, ông Đặng Lê Nguyên Vũ là một thiên tài. Chỉ có trong tay 200.000 đ VN khởi nghiệp, mà trong vòng ít năm, từ con số không, ông đã tạo ra một đế quốc café như hôm nay, thì nước Việt ta ít có ai bì được với ông về tài buôn bán.
Nhưng từ chuyện con buôn tuyệt giỏi đến chuyện thành triết gia, thành nhà tư tưởng, thành giáo chủ một giáo phái hay đấng cứu thế là chuyện hoàn toàn khác, thưa ông !
Theo truyền thuyết xứ Ả Rập, cây café do anh chăn cừu Kaldi xứ Abyssinia tìm ra. Kaldi vĩ đại như thế cũng chẳng dám xưng là đấng cứu thế, huống hồ ông Nguyên Vũ mới ti toe café cà pháo tí ti đã vội biến mình thành nhà café học để lập đạo café !
Nhưng theo sách vở chép lại, thì cây café xuất hiện ở xứ Kaffa nước Ethiopia vào thế kỷ thứ IX. Thế kỷ thứ XIV người ta mang cây café sang Ả Rập. Đến thế kỷ thứ XV người Ả Rập mới biết rang hạt café làm thứ uống.Năm 1875, người Pháp mang cây café từ đảo Bourton về trồng tại Quảng Trị, tại Bố Trạch Quảng Bình.
Tôi công nhận, trên thế giới này, chỉ có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Chúa Jesus là hai đấng cứu thế chân chính, cứu thế toàn diện, cứu thế mãi mãi…
Ngoài ra, có vô vàn kẻ điên cuồng tuyên bố cứu thế giới ví như Hitler, Marx, Engels, Lenine, Stalin, Mao Trạch Đông…tuyên bố cứu thế giới nhưng đã đẩy thế giới vào địa ngục trần gian, đã giết hại hàng trăm triệu người vô tội.
Tôi rất khiếp sợ kẻ nào tuyên bố sẽ cứu thế giới, trừ Phật và Chúa !
Ai, kẻ nào đã bơm vào đầu một doanh nhân tài ba Đặng Lê Nguyên Vũ cái ý tưởng ngông cuồng dùng café cứu thế giới ?
Có phải là bọn ễnh ương cầm bút ( bồi bút) đã được ông chủ café Trung Nguyên bơm vào chúng quá nhiều tiền để chúng phình ra thành con bò mà rống lên lời ca ngợi ông Nguyên Vũ là đấng cứu thế ?
Bọn bồi bút vô lương tâm kia đã vì tiền mà làm hại ông Vũ, làm hại vợ con ông Vũ, biến ông thành kẻ hoang tưởng điên rồ, tự nhận mình có vai trò cứu thế giới .
Xin ông Nguyên Vũ cứ tiếp tục sứ mạng cứu thế giới, trừ tôi ra, tôi không khiến ông cứu tôi ./.
Sài Gòn ngày 15-8-2018
Ảnh : nhân viên cty café Trung Nguyên gập mình chào ông vua café cứu thế giới

Wednesday, September 4, 2019

Thuật ngữ mới và dịch

Trước kia tôi cho rằng bản dịch chỉ dùng cho những người có yêu cầu tri thức giản đơn. Những người có nhu cầu hiểu sâu sắc cần phải đọc bản gốc. Có thể ở mức độ phát triển trước kia điều đó phần nào đúng: có khối điều hiển nhiên cần tiêu hoá bởi đám đông trước khi các phần tử elite có thể đẩy xã hội tiến xa hơn.
Ngày nay tôi thấy các bản dịch có vai trò quan trọng để hoà vào kho tri thức của dân tộc. Ngay cả đối với những người có thể đọc bản chính, tri thức kết tinh bằng tiếng mẹ đẻ có khả năng kết nối và kích hoạt các suy nghĩ liên quan tới Việt Nam nhiều hơn. Một mặt các thành ngữ dịch sẽ giúp bổ túc các khiếm khuyết, nhác nhớm trong suy nghĩ và thiếu quả cảm trong hành động của người Việt. Tôi thấy các thành ngữ như “vượt sông Rubicon”, “vinh quang trần gian đã trôi qua như vậy” sẽ giúp cảnh tỉnh thói bảo thủ và kiêu căng của dân Việt. Ai bảo ngôn từ không ảnh hưởng tới tư duy?
Điều thứ hai là dịch sẽ hình thành việc đưa các khái niệm mới, mà người Việt còn mơ hồ vào Việt Nam do môi trường sống hiện tại của họ chưa có sẵn điều đó. Người Việt hay cãi nhau chuyện vô bổ như Lý Toét Xã Xệ cãi nhau khi ra tỉnh nhìn thấy những cái không có trong làng. "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nhân sinh" là một ví dụ. 
Các khái niệm mới phần lớn đòi hỏi từ mới, đa số là thuật ngữ chưa có sẵn trong tự vựng Việt. Tôi thực sự phân vân với các cụm từ “platform”, “paradigm” hay “thể chế”, “bất khả quy” người Việt dùng đã thoả đáng chưa và dùng có đúng với nghĩa mà chúng cần có hay không. Hiện nay có một số phe nhóm vẫn cãi nhau chí choé về việc tạo thuật ngữ, thay vì bắt tay tạo thuật ngữ thực sự bằng các bản dịch thật tốt. Người thì cho là cần Việt hoá, thực chất là dùng từ Hán Việt theo quy tắc tự tạo ra theo chủ quan. Người thì cho là phải dùng thuật ngữ Tây, và sa vào tranh luận Tây là Pháp, Anh, Đức hay Nga và phải đọc thế nào. Cãi nhau hồi lâu người ta quên phắt mục đích và biến phương tiện thành mục đích duy nhất. Thực ra, trong tiếng Việt có từ Pháp, Anh, Hán, Thái, Mã Lai, Chiêm Thành và từ học được từ hầu hết các dân tộc thiểu số. Túm lại đi lâu thì thành đường, từ mới chế theo nguyên tắc gì cũng được miễn là được dùng nhiều. Muốn dùng nhiều trước hết phải dịch thật nhiều. Các bản dịch sử dụng tốt các từ mới sẽ có giá trị lâu dài hơn và ngược lại bản dịch tốt sẽ làm chuẩn mực cho các từ mới.
Tôi phản đối việc mạo danh “sáng tạo”, “mềm mại” hoặc “Việt hoá” để giản lược các khái niệm, tư tưởng, ý niệm mới thành các đối tượng quen biết với người Việt. Đó là một sự phản bội đối với tác giả, giống như dịch pizza thành bánh xèo, Dianna thành Nam Phương hoàng hậu, Homere thành Cuội... hoặc còn tệ hơn thế. Không có gì đảm bảo dịch giả hiểu hết ý tác giả, và trong trường hợp không chắc chắn, dịch giả phải tra cứu thật kỹ điển tích, văn hoá, điều đó không đơn thuần là hỏi một người bản ngữ rồi nói "tao đã hỏi Tây". 
Ngược lại không ít dịch giả mượn cớ dịch “sát” để che dấu thiếu am hiểu về thành ngữ, phương ngôn, điển tích là những cái không thể dịch chỉ bằng từ điển và ngữ pháp, cũng như không có tri thức về vấn đề đang dịch. Dịch phải vừa “tín” vừa phải “đạt”. Có lý nào không tín lại đạt, hay không đạt mà tín được. Vì thế tôi rất ngờ các dịch giả đối lập hai mặt "tín" và "đạt". "Tín" trước hết phải đúng ý tối thiểu, đó cũng là "đạt" ở mức tối thiểu. Sau đó "tín" phải đúng ở ẩn ý, ngụ ý ở các tầng sâu hơn, vì thế dịch giả phải sống cùng tác giả, đọc kỹ văn cảnh, hoàn cảnh ra đời, thậm chí các điển tích của văn bản và đối chiếu với mạch logic của văn bản. Đó cũng là "đạt" ở mức cao hơn. Sau đó "tín" lại phải truyền đạt được "hơi thở", "tình cảm" của mạch văn. Mạch văn trơn tru uyển chuyển, thì bản dịch không thể gồ ghề, nhát gừng. Nhà hùng biện như nước chảy không thể dịch thành giọng cắm cảu như chó cắn ma. Đó lại là "đạt" hơn mức. Văn Tây, Tàu đều có nhịp điệu, ngắt ở đâu, trọng âm ở đâu đều quan trọng. Tôi tán thành ông Thái Bá Tân dịch Sonnet của Shakespear thành các câu thơ 9 chữ hơn là quan điểm của Xuân Diệu dịch thơ Tây thành thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn hay lục bát, cho rằng thế mới có hồn thơ Á Đông. Cụ Nguyễn Trãi viết Quốc Âm đã dùng các câu 5, 6 chữ chèn vào giữa các đoạn thất ngôn, nghe rất thú vị, cũng là một hơi thở, mạch tư duy khác, tươi trẻ hơn nhiều so với các nhà Thơ Mới nhưng cổ hủ. Đọc thơ Shakespeare dịch ra thể 8-9 chữ tiếng Việt, thấy có một phong vị khác thơ Đường hay ca dao Việt. Đó chính là "tín" vừa "đạt" ở mức cao. 
Tất nhiên không có bản dịch hoàn hảo, và cơ hội sáng tạo của dịch giả là vô tận. Nhưng điều đó không có nghĩa không có một chuẩn mực tối thiểu nhất định cho các bản dịch. Điều đó cần trở thành đạo đức nghề nghiệp dịch thuật. Tôi cho rằng dịch giả có lương tâm cần tìm hiểu cho đến khi không còn ngờ vực về cả từ ngữ lẫn ý tưởng, bản dịch không được còn những điểm vô lý, mù mờ. Tất nhiên hiểu biết của dịch giả có hạn, ngay cả khi thông suốt vẫn có thể còn vấn đề, nhưng dịch giả phải chắc chắn là đã dốc hết tâm huyết. Tôi đã thử dịch thử lại một số đoạn trong sách kinh điển bằng chữ Hán là ngôn ngữ tôi không hề thông thạo. Nhưng kiên trì tra cứu, sử dụng công nghệ tôi phát hiện vô khối đoạn dịch sai và dịch ẩu, tạo ra ngộ nhận của dân tộc.
Quay trở lại việc chế tác thuật ngữ mới, tôi lại có quan điểm dễ dãi hơn. Dùng từ nguyên gốc tiếng phương Tây có ưu điểm là chính xác, dễ hội nhập, nhưng cũng có khó khăn về từ nguyên nên sức khêu gợi ngữ nghĩa không sâu. Bên cạnh đó lại khó đọc và nhớ mặt chữ với giới bình dân. Không thể phủ nhận việc có tới hơn 80% (nếu không hơn) từ tiếng Việt có gốc hoặc cấu thành bởi âm vị Hán Việt, mỗi âm vị lại có sức khêu gợi ý tưởng rất mạnh, không phải là vô ích. Ví dụ như clever trong tiếng Anh chỉ là một ý niệm, “thông minh” là từ Hán Việt gồm hai âm vị “thông” và “minh” cho ta thấy tiêu chí và thành phần cấu thành sự thông minh, cho ta nhiều ý tưởng mới. Tất nhiên tiếng Anh, Pháp cũng có từ nguyên, nhưng chúng không nằm trong từ vựng Việt nên người Việt không thể khai thác.
Tôi cho rằng có thể tạo thuật ngữ mới bằng nhiều cách khác nhau, dùng nguyên bản, dùng Hán Việt, pha chế lấy, phiên âm, dùng tiếng bồi, miễn là không sai lạc sang nghĩa khác (quan trọng nhất) và dễ dàng phổ biến (được chấp nhận) Không có gì ngăn cấm và cũng không hại gì nếu có nhiều từ khác nhau cho một thuật ngữ. Chúng ta có thể dùng Internet hoặc mạng (liên mạng) mà không cần dùng từ Hán Việt như “võng lạc”. Tôi nghĩ xà phòng là một từ du nhập tuyệt vời dù qua tiếng bồi. Vì vậy tôi thích cách các bạn trẻ dùng chữ “loát” hơn từ “tải về” hay “load”. Trong khi đó click hay hơn nhiều so với “kích” sai hoàn toàn về nghĩa tiếng Việt. Tôi không tán thành gọi nước kvax là xá xị Nga, hay ragout là bò kho Tây hoặc rựa mận Pháp, thắng cố là hổ lốn Hmong. Không có lý gì món ăn Hungari, Thổ Nhĩ Kỳ lại phải dịch ra tiếng Việt hoặc qua một thứ tiếng khác. 
Spagetti, salami, pizza, mozzarela, genoa hãy cứ là nguyên nghĩa hoặc thêm một từ Việt như mì spagetti, giò salami, bánh pizza, pho mai mozzarela, giò genoa.
Dịch là con đường cải cách ngôn ngữ Việt là một đề tài khác sẽ bàn sau.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Phát xít - CS và bọn khủng bố (3)

Chiến tranh

Cho đến năm thừa kế gia sản của cha để lại (24 tuổi), Hitler vẫn là 1 anh chàng xanh xao, yếu ớt, (trước đó có lúc hắn còn nhịn ăn để trốn quân dịch), tuy vậy, khi hòa vào đám đông giữa những người Đức, Hitler cũng coi các dân tộc Slavơ, Anh, Pháp.. là kẻ thù, ngoài nước Đức, các nước còn lại đều xấu xa. Mặc cho giáo điều của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi làm cho con người trở nên mù quáng và lý lẽ dài dòng, Hitler bất chấp tất cả để theo đuổi mục đích, kể cả chấp nhận chủ nghĩa hoài nghi: phê phán ngu ngốc về những người trí thức, chân lý... tất cả chỉ có nước Đức tối thượng.

Đứng trong hàng ngũ của những kẻ gần như điên cuồng vì khao khát chiến thắng của nước Đức, Hitler lao vào chiến tranh như 1 chiến binh ko phải dạng tầm thường. Tình yêu chiến tranh của Hitler là bản chất của con mãnh thú thức giấc khiến hắn cho rằng: chiến tranh là bản chất của sự tồn tại.

(còn nữa)

Tuesday, September 3, 2019

MỎ TOÁN

Đào hoa, đào quả, đào củ không bằng đào mỏ.
---------

Việt Nam có một cái mỏ toán. Tuy chất lượng, độ pha tạp thế nào không biết, nhưng trữ lượng lớn. Cũng không bàn vi sao trữ lượng lại lớn, chỉ biết kết quả là nó lớn. Từ năm 66 mỗi tỉnh ở miền Bắc có 1 lớp Toán, ba trường Đại học cũng có chuyên Toán, chưa kể chuyên toán của trường. Mỗi năm rẻ rúng cũng xuất xưởng nghìn chú. Từ năm 75 công suất còn tăng gấp 2. Sau đúng nửa thế kỷ số lượng qua lò luyện toán, cỡ 10 vạn chú bằng nửa số quân Thanh xâm lược nước ta do chính sử ghi lại hoặc 12 lần đạo kỵ binh của Tôn Sĩ Nghị đánh ta do Thanh Sử ghi lại.
Có thế chi phí để tạo ra đạo quân này lớn hơn nhiều so với ích lợi của nó. Nhưng dù sao đã có mỏ thì cũng nên đào. Nói cho cùng than đá là do cháy rừng, mỏ than bùn ở đáy Hồ Trúc Bạch là do thằng Tây thiết kế nhà máy điện Yên Phụ ngu, xả thằng xỉ than ra hồ. Tuy nhiên, than tổ ong, than quả bàng lấy ở đáy hồ Trúc Bạch cũng nuôi khối nhà.
Tóm lại việc sử dụng xỉ than toán học rất đáng làm, vừa có ích nấu nướng, vừa làm nước hồ trở nên trong sạch.
Chỉ có một điều nguy cơ là mỏ này phải khai thác nhanh nhanh, vì sắp về vườn cả rồi.


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

Chửi

Mùa thu lại về. Những người chửi năm ngoái vẫn chửi như thể họ chưa hề ngừng phút nào. Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ.
----------
Nhân tiết mưa ngâu, mùa thu cách mạng và phong trào chửi bùng phát, nhìn gió heo may, nhớ các cô hồn, cảm nỗi đau nhân thế, bất giác cầm bút...
Tính cách mạng của chửi 
“Hắn vừa đi vừa chửi.” Thầy giáo dạy văn của tôi, một thương binh giải ngũ, gầy gò nhỏ bé, nhưng ý chí cứng như thép, phảng phất Pavel Kortsaghin, nói rằng việc Chí Phèo chửi biểu thị điều kiện cách mạng đã chín muồi. Như vậy có nghĩa chửi là nhà tiên tri cách mạng. Chí ít nó cũng có hơi thở của cách mạng và hồn phách của tính giai cấp.
Không được nhầm lẫn chửi với phê phán, một tàn tích của bọn tư sản như Descartes, Voltaire, Russeau. Phê phán quá nhiều lý sự, lằng nhằng mất thì giờ của bọn ăn không ngồi rồi, vạch vôi tìm lá, nói chuyện viển vông, vòng vo vu khoát, không đi vào vấn đề. Về mặt tu từ học, phê phán cũng rất thiếu sáng tạo, chỉ một lối tam đoạn luận chán ngắt. Chửi sử dụng các thể ngoa dụ, so sánh, hình ảnh phong phú, âm thanh, mùi vị khá mạnh mẽ, xóc óc và sặc sụa. Trong khi phê phán không có một tý nhiệt huyết nào, chửi cho thấy hừng hực khí thế như nước triều dâng, như sắp thành dòng thác cuốn phăng bọn dám cả gan giơ càng bọ ngựa chống trời. Văn chương chửi cũng biểu lộ khí thế hào sảng, mời đủ món ăn lạ, nem công chả phượng tay gấu gân hổ quá thường. Chửi lại mang tính duy vật lịch sử, đến mấy thế hệ cụ kị tổ tiên cụ tiên của người ta cũng không quên mời về dự tiệc.
Cũng không được nhầm chửi với lối văn grotesque của bọn văn sĩ bế tắc phương Tây hậu hiện đại, nhằm gây những ấn tượng cho những ý niệm thối tha của chúng. Chửi dùng các khái niệm phồn thực bắt đầu từ văn hoá dân gian, có tư tưởng nguyên khôi, chỉ có chửi mới có thể động tới tim óc của công nông và cốt cán.
Tuy hung hăng nhưng chửi có nguồn gốc rất nhân bản là nỗi sợ hãi từ các nguyên nhân khác nhau kể cả sợ thấy là mình sai, không chắc ở điều mình đang theo đuổi. Khoa học đã chứng minh khi con chó sủa, sự sợ hãi và tính hung hãn đều tăng vọt cộng hưởng với nhau phá vỡ quan hệ nhân quả đến mức không thể xác định hung hãn và sợ hãi cái nào là nguồn cội chính. Và cả hai cái đó thường xuất hiện trong trạng thái vô ý thức, hoặc do dùng chất kích thích để lu mờ ý thức hoặc vốn hoàn toàn không có tý ý thức nào.
Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

THEO ĐA SỐ CÓ PHẢI LÀ DÂN CHỦ

Có đa số ngu và đa số thông minh. Đa số thông minh thì đất nước đã đi lên cần gì suy nghĩ.
----------

Vấn đề này tôi đã bàn tới hơn một lần. Có những vấn đề cần quyết định bằng phổ thông đầu phiếu. Đó là những vấn đề cơ bản, ai cũng hiểu, cố nhiên là theo những cách khác nhau.
Có những vấn đề chuyên môn, hoặc quyết định có độ phức hợp cao, thuộc về trách nhiệm quyết định của một số cá nhân. Việc đưa các vấn đề thuộc loại này ra bỏ phiếu để quyết chính là vô trách nhiệm và phản dân chủ.
Nếu đa số luôn đúng thì đã chẳng có cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, đã không giết Socrates, không đưa Jesus lên đinh câu rút. Khi đó đất nước cần gì có chính phủ, quốc hội, mỗi người sắm một smart phone, khi có vấn đề gì cần quyết định, như xử bắn một ai đó, hay tha bổng cho một tên giết người, chỉ cần đếm số nhấn nút là xong. Chắc chắn là oan sai còn nhiều hơn các vụ báo chí đang làm om sòm hiện nay. Nếu một chị lao công có quyền bỏ phiếu về hướng nghiên cứu của một Viện ngang như các nghiên cứu viên, đã bỏ hàng chục năm nghiên cứu, thì đó mới thực là bất công.
Thượng Nghị Viện ra đời là một cơ chế kiểm soát dân chủ, đảm bảo ý chí của đám đông ngu dốt không luôn luôn thắng thế đè bẹp các ý tưởng khai phóng đang mới manh nha.
Năm 1945, Hồ Chí Minh ký pháp lệnh Bình dân học vụ,cưỡng ép xóa mù chữ là đúng. Không thể trưng cầu ý kiến đa số khi đa số đang mù chữ và chưa thể thấy được sự cần thiết của chữ nghĩa.
Chương trình dạy toán phổ thông có tích phân, số phức hay xác suất không, không phải là chuyện đưa ra phổ thông đầu phiếu. Cũng như bắn hay không bắn địa chủ trong cải cách ruộng đất, không thể trao quyền cho nông dân. Đám đông dù sao cũng không thể nào quan trọng bằng khế ước xã hội. Ba ông lập hội với nhau bằng một thỏa thuận tự nguyện, hai ông không thể lấy đa số xé thỏa ước ăn thịt ông kia. Sở dĩ cần lãnh đạo là để quyết định trong trường hợp có nguy cơ đám đông muốn lấy thịt đè người chà đạp khế ước xã hội. Lãnh đạo sử dụng đám đông để chà đạp khế ước xã hội thì không còn gì để nói.
Mặc dù xác suất chọn bừa chọn láo về lý thuyết là 50%, đa số các vấn đề chuyên môn hoặc quyết định quan trọng bằng đầu phiếu là sai lầm thảm hại, ở các nước dân trí thấp lại càng tồi tệ hơn. 
Trở lại chuyện học chữ Hán. Tôi nghĩ rằng về chuyện này, tôi bỏ thời gian và công sức nhiều hơn so với 90% dân nước Nam, có thể có ý kiến có đôi chút giá trị khả tín, nhưng vẫn không đủ tư cách ra quyết định, thậm chí bỏ phiếu. Đây không phải là chuyện để bỏ phiếu, mà phải quyết định từ các học giả về ngữ văn, văn hóa và giáo dục. Đám đông biết gì về chuyện này mà bi bô. Tôi không hoàn toàn tán thành ý kiến cho rằng không học chữ Hán thì tiếng Việt sẽ sụp đổ. Nhưng ý kiến này sai không có nghĩa là không nên dạy chữ Hán. Thực ra phe chống dạy chữ Hán nói sai, nói dốt nát cũng vô khối, thực không đáng tốn bút mực. Những người nói rằng tiếng Việt đã trong sáng, hoàn chỉnh, chắc chắn ra chưa hề nghiên cứu tiếng Việt, đang lẫn tiếng sột soạt "bóng chữ" là nhà thơ Lê Đạt đã từng cố mò mẫm với ngôn ngữ. Tiếng Việt đang manh mún, chưa hoàn thành, đang nát như tương, cần chấn chỉnh và cải cách gấp. Nhưng đó là một việc khác, không liên quan tới học chữ Hán.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)
03.Sep.2016

"Điệp viên hoàn hảo" PXA


Đối với Phạm Xuân Ẩn, "Điệp viên may mắn là điệp viên chưa bị bắt". Ông luôn tự cho mình là một điệp viên may mắn. Phạm Xuân Ẩn có một số lần suýt bị lộ nhưng đặc biệt có hai lần ông không bao giờ quên. Lần thứ nhất xảy ra khi Phạm Xuân Ẩn mới từ Mỹ trở về nước và đang làm việc chỗ bác sĩ Trần Kim Tuyến. Thời gian đó, ông Minh "Lớn" là Trung tá thuộc Sư đoàn 3. Phạm Xuân Ẩn đã tiến cử một phụ nữ thuộc Đội quân phụ nữ (WAC) vào làm việc tại văn phòng của Trần Kim Tuyến. Phạm Xuân Ẩn hoàn toàn không hề biết rằng người phụ nữ này mặc dù làm việc trong văn phòng của Minh "Lớn", nhưng vẫn đang bí mật làm việc cho Mặt trận (Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam). Nhờ sự tiến cử của Phạm Xuân Ẩn, người phụ nữ này được chuyển sang làm việc tại văn phòng của Trần Kim Tuyến. Cơ quan An ninh quân đội (MSS) liền đến hỏi Trần Kim Tuyến rằng ai đã tiến cử cô gái đó vào vị trí này. Tất nhiên sau đó, Phạm Xuân Ẩn bị triệu lên để làm rõ. Phạm Xuân Ẩn lập tức cự cãi: "Làm sao tôi có thể biết được cô gái đó là Việt Cộng? Tôi là người chưa kết hôn, cô ấy xinh đẹp lại có khả năng đánh máy chữ, thì tôi giới thiệu việc làm cho cô ấy thôi. Ngoài ra, tôi chẳng biết gì khác".
Theo cuốn: Điệp viên hoàn hảo
Ảnh: Phạm Xuân Ẩn và chú chó của mình.

Phát xít - CS và bọn khủng bố (2)

Tôi ko đi sâu vào phân tích cuộc đời của Chủ tịch HCM vì đã có rất nhiều người biết và viết về Cụ. Chỉ tìm hiểu thêm về Hitler, 1 nhân vật lịch sử bị cả thế giới lên án, kẻ cầm đầu bóng ma Đức Quốc Xã gây nên cái chết của hàng chục triệu người, tàn phá nhiều quốc gia trong một cuộc chiến vô cùng tàn bạo mà ngay từ bé tôi đã hết sức căm ghét và sợ hãi.
-------------
Là 1 người gốc Áo (cha mẹ quốc tịch Áo, sinh ra ở Áo), anh chàng Hitler vốn là 1 người có bản chất lương thiện và thuần khiết. Hitler thích opera và triết học, là người có đức tin và rất yêu thương người mẹ đã mất của mình. Cuộc sống khó khăn do ko thi đậu vào Học viện Mỹ thuật Viên, buộc Hitler phải kiếm sống một cách nhọc nhằn bằng sức lao động của mình.
Sống dưới đáy xh với 1 cuộc sống của tầng lớp bần cùng, Hitler dần dần trở nên vô cảm: như 1 kẻ mù/điếc và quay lưng với Chúa...
Biến đổi
Trong lúc cùng quẫn, sự xuất hiện của dấu hiệu Svastica/chữ vạn cùng với các vấn đề bài Do Thái và ca tụng chủng tộc siêu việt đã biến Hitler thành 1 người khác: hắn tỏ tình chỉ vì ko muốn bị coi là kẻ biến thái/bệnh hoạn và sẵn sàng lừa lọc... chỉ sống bằng ảo tưởng của mình. Từ ý thức đó, Hitler muốn trở thành người Đức.
Theo đuổi chính trị
Lý tưởng của Hitler và những thanh niên cùng thời khi ấy là mẫu người phấn đấu vì mục đích của nước Đức: sống độc thân đến 25 tuổi (để giữ sức khỏe và sức mạnh tinh thần), ko gần đàn bà, ko ưa thịt và ko uống rượu. Về phẩm hạnh là người ko bị sa ngã, ko bị cám dỗ kéo vào cuộc sống sa đọa.
(còn nữa)

Monday, September 2, 2019

Lục lại quá khứ nhân ngày QK.

Đọc phân tích của Uỷ ban Tình báo Quốc gia Mỹ về viễn cảnh Đông Dương sau Hiệp định Geneve thấy không phải Mỹ không nắm được tình hình thực tế hay thiếu tôn trọng đối phương.
Thực tế họ nắm rất vững tình hình và tính đến những nước đi tốt nhất cho Việt Nam và đề ra đối sách cho từng trường hợp. Thí dụ họ phân tích được VN sẽ chôn súng và ém cán bộ nằm vùng lại là phương án “xấu” ( có nghĩa là tốt cho ta) Thực tế đó là quyết định sáng tạo tự phát của anh Ba, trái với chủ trương chung. Ngược lại tính toán của Mỹ trật lất là VN sẽ tiết chế các hoạt động như cải tạo công thương, cải cách ruộng đất, uýnh trí thức TTS để tập hợp toàn dân. Các cụ mình cứ uýnh thả dàn (không biết ai xui). Nhưng cuối cùng thắng được là hay rồi. Chịu anh Ba là suy nghĩ tầm cỡ.


Nguyễn Ái Việt (Debrecen.VIDI72)

GIÂY PHÚT NGƯỜI RA ĐI !


Buổi chiều, ngày 28/8/1969, tại nhà H67, Bác thiếp đi một lúc vì quá mệt, tỉnh dậy đã thấy vợ chồng đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đặng Bích Hà đứng bên cạnh, trên tay là một bó hoa huệ 10 bông. Một nụ cười rất tươi nở trên môi Bác.
Có lẽ đây là nụ cười cuối cùng của Bác dành cho hai con người mà Bác rất mực yêu quí.
...
Bác ra hiệu gọi đồng chí Vũ Kỳ và bảo rằng Bác muốn uống một ngụm nước dừa ở cây dừa đầu nhà. Các bác sĩ tỏ ý không muốn Bác uống nước dừa vì không thích hợp với bệnh tình hiện nay của Bác. Bác đã nói:
- Biết vậy! Nhưng đây là dừa miền Nam.
Ai cũng biết đây là cây dừa do đồng bào miền Nam tặng Bác và suốt 15 năm qua Bác đã chăm sóc với tất cả tình thương yêu tha thiết.
Tối 30/8, Bác lại phải trải qua một cơn đau và sau đó đi vào hôn mê. Những biện pháp tốt nhất được hội đồng bác sĩ khẩn trương sử dụng để cấp cứu. Bác dần dần tỉnh lại. Thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang đứng bên cạnh, Bác hỏi ngay:
- Các chú chuẩn bị lễ kỷ niệm quốc khánh đến đâu rồi?
Sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo, Bác dặn:
- Các chú nhớ phải bắn pháo hoa để cho nhân dân và các cháu nhỏ vui mừng đón ngày độc lập của đất nước.
Tiếp đó, Bác lại hỏi tình hình lũ lụt và nói ngay:
- Các chú phải tích cực tìm mọi biện pháp bảo vệ cho được đê điều để bảo vệ dân.
Ngày 1/9 là một ngày căng thẳng đầy lo âu của mọi người đang túc trực quanh Bác. Lần đầu tiên những người phục vụ nghe tiếng rên của Bác. Điện tâm đồ luôn xuất hiện những ký hiệu xấu. Các đồng chí trong Bộ Chính trị hầu hết đều có mặt, vẻ đau buồn hiện rõ trên từng ánh mắt. Cả dân tộc đang sắp phải gánh chịu một mất mát lớn không gì bù đắp được.
Ngày 2/9/1969, cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Quốc khánh. Không ai biết người khai sinh ra ngày độc lập của dân tộc đang chuẩn bị lên đường đi xa mãi mãi. Trời mưa, bộ phận phục vụ đã căng bạt ngoài sân, kê thêm nhiều ghế. Mới tờ mờ sáng, hình như có mối tâm linh mách bảo, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chính trị đều có mặt đông đủ.
Khoảng 9 giờ, một cơn đau đột ngột làm cho Bác phải quặn nghiêng người và cứ thế lịm dần. Máy điện tim chỉ còn thoi thóp và chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô yếu ớt. Lúc này, các thầy thuốc Trung Quốc từ từ lần lượt lui ra ngoài.
Bộ phận hồi sức cấp cứu chủ yếu của Viện 108 tập trung làm các động tác hô hấp nhân tạo. Tất cả những người có mặt trong nhà H67 như nín thở, chờ đợi, hi vọng...
Đồng hồ chỉ đúng 9 giờ 47 phút.
Nhiều tiếng khóc bỗng òa lên rồi cố nén. Các đồng chí Bộ Chính trị và lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đứng xếp hàng quanh giường Bác mặc niệm, rồi lần lượt bước ra ngoài theo yêu cầu của chuyên môn.
Riêng ba đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cố nán lại, đặt tay lên trán Bác, lên ngực Bác, nước mắt lưng tròng. Đồng chí Trần Quốc Hoàn phải giục lần nữa mời rời khỏi giường Bác. Nhưng sau đó vài phút, đại tướng Võ Nguyên Giáp lại một mình quay trở lại, đứng nhìn Bác một lúc lâu nữa.
Đúng 11h, đoàn xe đặc biệt có mặt ở trước cổng Phủ chủ tịch.
Xe Bác đi như bao chiếc xe khác đang di chuyển trên đường. Không ai biết, không ai ngờ trong chiếc xe đó có một con người vĩ đại, Bác Hồ yêu quí của toàn dân tộc đang đi về cõi vĩnh hằng....
"Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!
...
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!
...
Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi
Năm canh bớt nặng nỗi thương đời
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người.
Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau...
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già
Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến
Lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa.
...
Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều
Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu?
Ra đi, Bác dặn: “Còn non nước...”
Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều"./.

Nguồn : copy từ FB Hải Nguyễn Huy